Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Sáu, 2020, 05:30:03 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lý Thường Kiệt-Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý  (Đọc 54162 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #20 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 04:59:16 pm »


3- Họ Nùng và châu Quảng Nguyên

Quảng nguyên là địa phận Cao Bằng bây giờ. Nay châu Quảng Uyên là tên cũ đổi ra (theo ĐNNTC, cuối đời Hồng Đức đổi; nhưng có lẽ đời Mạc tránh tên húy Mạc Phúc Nguyên). Tuy châu ở cách xa Thăng Long, ít ruộng, rừng núi hầu khắp nhiều thú dữ, khí độc, nhưng sẵn vàng bạc. Vùng Ngân Sơn (nghĩa núi bạc). Nguyên Bình, Thạch An (ĐKĐD và ĐNNTC), xưa có lò vàng bạc. Phía tây thông với vùng Tuyên Quang, Hà Giang ngày nay; chính đó có nhiều mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ đồng, mỏ chì và thiếc (nhất là ở vùng Tụ Long, bị mất vào Trung Quốc từ hồi thuộc Pháp, nay ở vào hơn 20 cây số trong tỉnh Quảng Tây về phía tây bắc Hà Giang). Vùng này có giống Nùng (lấy họ Nùng), là một dân tộc đông và mạnh, ở rải rác từ Hữu Giang và Tả Giang thuộc Quảng Tây cho đến châu Quảng Nguyên.

Trước khi Tống lập quốc, họ Nùng đã mạnh. Có Nùng Dân Phú được vua Nam Hán phong làm thủ lĩnh mười châu ở Quảng Nguyên. Sau khi Tống Thái Tông lên ngôi, Dân Phú lại xin qui phụ (977) và được phong chức kiểm hiệu tư không. (TB 18/4a và TS 495).

Đầu đời Lý, có Nùng Tồn Phúc (theo TT, còn TS chép Toàn Phúc) quê ở động Tượng Cần, châu Thạch An thuộc Cao Bằng bây giờ (CM), làm thủ lĩnh châu Thảng Do (có lẽ ở miền Trung thẳng thuộc Cao Bằng). Tồn Phúc giết em là Tồn Lộc thủ lĩnh châu Vạn Nhai (Vũ Nhai ở Thái Nguyên bây giờ, CM) và em vợ là Đương Đạo thủ lĩnh châu Vũ Lặc (ở Cao Bằng), thuộc tả giang (TS 495 và TTh 13). Tồn Phúc nhờ các lò vàng, trở nên giàu có, chiêu tập dân các động chung quanh; tự xưng đế và không chịu cống vua Lý. Y bèn dời nhà ra chỗ đất gọi là nước Trường Sinh, xây thành, luyện binh; quyết chí độc lập. Theo ĐNNTC, thành Na Lữ, phía tây thành Cao Bằng, chính là kinh thành của họ Nùng ngày xưa. Có lẽ kinh đô nước Trường Sinh là ở đó.

Tháng hai năm Mậu Dần (1038), Lý Thái Tông tự cầm quân tới đánh, bắt được Tồn Phúc và con cả là Tri Thông; vợ là Ả Nùng và. con thứ là Trí Cao chạy thoát qua động Lôi Hỏa. Trí Cao bấy giờ mới 14 tuổi (theo Tiêu Chú, lời dẫn của Tư Mã Quang trong sách TTh 13).

Năm Tân Tị (1041), Ả Nùng và Trí Cao trở về chiếm lại châu Thảng Do, rồi đổi ra nước Đại Lịch. Lý Thái Tông sai quân đánh, bắt được Trí Cao; nhưng thương tình cha và anh đã bị giết, cho nên tha cho về, và cấp thêm đất ở vùng châu Tư Lang (TT). Theo một thoại, Lý Thường Kiệt (23 tuổi) cố can vua đừng tha vì sợ có hậu hoạn. Nhưng vua không nghe. (I/2). Rồi hai năm sau (1043), vua lại sai sứ đến tận nơi phong hàm thái bảo. (TT)

Thế mà năm Mậu Tý (1048), Trí Cao lại làm phản. Tiêu chú (TTh 13) nói Trí Cao thông với người xung quanh vua Lý, định cướp nước (có lẽ cướp vùng Quảng Nguyên). Vua sai tướng đánh. Trí Cao thua chạy sang đất Tống; cướp châu An Đức ở phía bắc vùng Bảo Lạc ngày nay. Trí Cao lại lập nước, đặt tên Nam thiên quốc, lấy hiệu Cảnh Thụy, và xin phục dịch Tống (TB, TT, TTh, TS). Nhưng Tống sợ mất lòng vua Lý, nên khước từ. Trí Cao chạy tới Văn Thôn thuộc Hữu Giang (TT 13), ở đó do thám tình hình Ung Châu. Bấy giờ có Kỵ Mân làm quan Tống bị biếm, phải đi tuần thú ở Ung. Mân muốn lập công, bèn đưa quân đi tuần sâu vào man địa gần nơi Trí Cao đóng. Bị Trí Cao bắt, Mân nói dối rằng được triều mệnh sai tới chiêu dụ. Trí Cao mừng, sai bộ hạ đi theo Mân về Ung, dâng biểu cầu phong. Lại dâng vật báu: ngà voi, vàng, bạc. Vua Tống lại từ khước, viện lẽ Trí Cao thuộc nước ta.

Trí Cao rất tức giận. Trong bị ta đánh, ngoài bị Tống từ. Mới định tâm nổi loạn. Lại có tiến sĩ Hoàng Sư Mật thường qua lại Quảng Nguyên buôn vàng, trở nên quen thuộc. Sư Mật vốn người Quảng Châu. Y tỏ bày tình hình, trong hạt mình cho Trí Cao nghe và nhận làm mưu chủ. Sau khi kết đảng với bộ hạ của viên coi châu Ung, Trí Cao ngầm đốt hủy sào huyệt mình, rồi hội quân mà nói rằng: “Của cải chúng ta, tích trữ cả đời, nay bị thiên tai, đã hóa ra tro. Chúng ta không còn kế gì sinh sống nữa. Chỉ còn cách đánh lấy Ung Châu để tự lập”. Quân chúng đều nghe theo. (TS 495)

Tháng tư năm Hoàng hữu thứ ta (Nhân Thìn, 1052), Trí Cao đem 5.000 quân, dọc sông Hữu Giang mà xuống miền đông, lấy trại Hoành Sơn (Điền Châu bây giờ) vào tháng tư; rồi xuôi Uất, xuống đánh thành Ung. Vì có nội công, Ung mất ngày mồng một tháng năm (A tị, DL 31-5-1052 TB 172/12a).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #21 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 04:59:43 pm »


Trí Cao đặt quốc hiệu Đại Nam, tự xưng Nhân huệ hoàng đế, cải nguyên Khải lịch, rồi dọc theo sông Tầm, xuống sông Tây mà tiến tới Quảng Châu các châu lị không có thành trì; quân Tống lại hèn nhát. Còn quân Trí Cao là quân vong mạng, cho nên đến đâu được đó. Các châu dọc sông đều lần lượt mất. Trong khoảng mười ngày, Trí Cao phá các châu Hoành (9-5), Quí (12-5), Củng (16-5, nay là Bình Nam), Tầm, Đằng (17-5), Ngô (17-5, nay là Thương Ngô), Phong (17-5), Khang (18-5, nay là Đức Khánh), Đoan (19-5, nay là Triệu Khánh). Vừa trong hai tuần, mà từ Ung Châu, quân Trí Cao đã đến Quảng Châu (22-5). Quân và tướng Tống đều sợ hãi. May có Vương Hãn đóng thành chống lại. Trí Cao đánh suốt ngày đêm, trong 57 ngày, không hạ được, (TS 495); bèn rút quân lui. Ấy là ngày 18 tháng bảy (N.Tu, DL 16-8-1052; TB 173/1b).

Trong các trận, Trí Cao giết hơn 3.000 tướng tá Tống, bắt hàng vạn người. Qua đâu đốt phá đó. Vua Tống rất lo. Bèn sai các quan sở tại là bọn nho thần Dư Tĩnh, Dương Điền, Tôn Miễn ra dẹp, nhưng không ngăn nổi thế giặc.

Vua Lý Thái Tông rất quan tâm đến việc Trí Cao đánh bại Tống. Thấy quân Tống bị đại bại, biết binh lực Tống ở miền nam rất kém, vua muốn nhân cơ hội, thử thách. Bèn xin đem hai vạn quân đi đường bể tới Khâm Châu tiếp viện (TT). Vua Tống chưa dám bằng lòng. Dư Tĩnh nói rằng: “Trí Cao là nghịch thần của Giao Chỉ. Ta nên nhận lời cho Giao Chỉ xuất quân; chớ trái ý tốt của nó”. Rồi nhiều lần, Tĩnh dâng sớ về bàn. Cuối, Tĩnh tâu: “Ung Châu và Giao Chỉ tiếp đất. Nay nếu ta không nhận lời, Giao Chỉ giận, sẽ giúp Trí Cao”. Vua Tống bèn ưng thuận cho phép Tĩnh tự liệu (ĐĐSL 75)

Nhưng ngày Canh Ngọ tháng 9 (DL 23-10), tướng Tống là Địch Thanh được chuẩn lời tình nguyện đi đánh Trí Cao (TB 173 11b). Địch Thanh là một vũ tướng có nhiều mưu kế. Thanh sợ trúng mưu ta, nên tâu cùng vua Tống rằng: “Mượn binh ngoài dẹp giặc trong không lợi cho ta đâu. Chỉ vì một Trí Cao mà sức Lưỡng Quảng không chống chế nổi, đến phải mượn quân ngoài; thì hoặc giả quân ấy nhân đó làm loạn, ta lấy gì để ngăn?”. Vua Tống bèn hạ chiếu ngăn không cho quân Lý vào cõi. (Đ. Vì tháng giêng năm Quí Tị, DL 28-1-1053; TB 174/1a)

Sau khi rút khỏi Quảng Châu, Trí Cao tới đánh Hạ Châu, nhưng cũng không phá được; bèn rút về phía tây. Dọc đường, Trí Cao đánh bại nhiều tướng Tống rồi kéo đánh Tân Châu. Dư Tĩnh bỏ chạy về Ung. Lần lượt Tân (DL 30-10-1052) và Ung (DL 6-11-1052) đều mất. Tĩnh sai tướng Trần Thự đem một vạn quân đón giặc. Thự chù chừ, nên bị thua to ở trạm Kim Thành, trên đường Tân tới Ung. Ấy là ngày mồng một tháng chạp (N. Ta, DL 24-12-1052; TB 173/18a).

Tháng giêng năm Quí Tị (1053), Địch Thanh đến Tân Châu, hội chư tướng. Vì các tướng đều có ý khinh Thanh, nên Thanh ra lệnh chém Trần Thự. Ai nấy đều khiếp. Trước đó, Thanh cầm quân ở vùng Diên Phu chống Hạ (vùng Thiểm Tây). Thanh đem nhiều quân kỵ ở vùng ấy theo xuống. Có kẻ bảo Trí Cao phải chặn ải Côn Lôn, trong núi trên đường Tân Ung, đừng để Thanh xuống đồng bằng, vì ở đồng bằng dùng kỵ binh rất lợi. Nhưng Địch Thanh muốn hành quân gấp, nên không đợi lương thực tới, ra lệnh biện tại chỗ lương thực ăn mười ngày. Trí Cao tưởng là Thanh còn đóng quân lại nghỉ, nên không nghe lời bày mưu: lại còn nhân hãy thượng nguyên (rằm tháng giêng) trường đến đặt hội. Thanh cho quân tiến gấp qua ải Côn Lôn, thẳng tới thành Ung. Đang đêm, Địch Thanh mặc áo thường lẩn vào tiền quân mà vượt ải. (TB 174/2b)

Trí Cao được tin báo, lật đật đem quân chặn lại. Hai quân gặp nhau ở phố Qui Nhân. Ấy là ngày 17 tháng giêng (M.Ng, DL 8-2-1053). Thanh cho bộ binh ra trước, dấu kỵ binh ở sau. Còn Trí Cao thì trái lại, cho quân kiêu dũng cầm trường thương ra trước, để quân hèn ốm ở sau. Lúc giáp trận, quân tiền phong Tống thua. Nhưng Thanh nghiêm hiệu-lịnh; các tướng sĩ không dám lùi. Rồi Thanh trèo lên cồn cao, cầm cờ ngũ sắc, ra hiệu cho kỵ binh hai cánh đổ ra, đánh vào sau quân kiêu dũng của Trí Cao. Quân tả tiến sang hữu, quân hữu tiến sang tả. Rồi tả lại về tả, hữu lại về hữu (TS, TB), cắt quân địch ra hai đoạn. Quân Trí Cao tan vỡ, chết mất ba nghìn.

Trí Cao rút quân về thành. Đang đêm, đốt thành bỏ chạy. Quân Thanh đuổi đến Điền Châu, nhưng không kịp nữa. (TTh)

Trí Cao đem tàn quân về đóng ở trại Đặc Ma (phủ Quảng Nam, miền đông Vân Nam), đồ tâm trở lại Ung Châu. Một mặt, Trí Cao kết thân với thủ lĩnh trại ấy là Nùng Hạ Thành để mua ngựa và mộ quân, vì Đặc Ma là nơi sản xuất rất nhiều ngựa tốt. Một mặt sai Lương Châu tới nước ta xin quân giúp (VSL).

Ý chừng vua Lý Thái Tông cũng muốn tiếp tục thử thách sức Tống, và muốn trả thù sự vua Tống đã không giữ lời hứa cho quân mình tới Khâm Châu (TT), bèn sai viên chỉ huy Vũ Nhĩ đem quân đi giúp (VSL và TT). Nhưng sau khi thấy Trí Cao đã thua và thế Địch Thanh mạnh, Lý thôi không phái quân đi nữa.

Hai năm sau, Dư Tĩnh cho quân vào Đặc Ma, bắt được mẹ, em và con Trí Cao. Còn Trí Cao, thì chạy vào nước Đại Lý thuộc Vân Nam ngày nay phía tây Còn Minh; rồi chết ở đó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #22 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 05:37:11 pm »


4- Phủ dụ.

Trên đây lược kể lại chuyện Nùng Trí Cao. Tả thấy rõ ràng hồi bấy giờ, biên giới miền bắc nước ta thật chưa định, mà Tống cũng thường bỏ không phòng bị. Vua Lý, trái lại rất có chủ kiến muốn nhân sự bất định ấy mà bành trướng lãnh thổ về phía Bắc. Muốn vậy, chỉ cần hoặc phủ dụ man dân, hoặc uy hiếp chúng để chúng theo mình; vì hễ chúng theo tức thì lãnh thổ chúng cũng sáp nhập về mình. Đến lúc người Tống biết ra, thì thường đã chậm rồi. Nếu không muốt sinh sự, Tống ắt phải nhận. Nói tóm lại, đối với man dân ở bắc thùy, Lý đã dùng chính sách chiêu dụ hoặc uy hiếp để đi đến chính sách “làm trước cãi sau” đối với Tống.

Mà thật vậy, khác những triều khác, các vua Lý đã không chia rẽ hoa, di, và đã lợi dụng sự hôn nhân để kết thúc các dân tộc biên thùy. Các sách sử VSL và TT còn chép nhiều việc vua gả công chúa cho châu mục, nghĩa là người miền núi cầm đầu một châu.

Trong các châu ở biên giới, Lạng Châu là quan trọng hơn cả, vì vừa ở gần kinh kỳ, vừa ở trên đường bộ từ Tống sang ta. Lạng Châu tức là nay thuộc vùng Bắc Giang và phần nam Lạng Sơn. Lạng Châu có động Giáp, rất to, chúa động họ Giáp, sau đổi ra họ Thân, đã nhiều đời làm phò mã. Động Giáp ở phía nam ải Chi Lăng1. Sách MKBD chép rõ ràng rồi “Giáp động là một bộ lạc lớn. Chủ động tên là Giáp Thừa Quí, lấy con Lý Công Uẩn rồi đổi ra họ Thân. Con Thừa Quí là Thiệu Thái lại lấy con gái Đức Chính (Thái Tông). Con Thiệu Thái là Cảnh Long lại lấy con Nhật Tôn (Thánh Tông).

Tống sử cũng chép Giáp Thừa Quí lấy con gái Lý Công Uẩn (TS 488). Xem như vậy, đủ biết họ Giáp này đã có thanh thế từ trước. Chắc từ đời Lê, đã mạnh, mới có sự Lý Thái Tổ kén phò mã trong họ như vậy. Có lẽ muốn xóa vết tích man động nên đã đổi họ ra họ Thân.

Con Thừa Qúi là Thiệu Thái, nối cha làm mục Lạng châu. Năm Kỷ Tị (1029), vua Lý Thái Tông gả công chúa Bình Dương cho Thân Thiệu Thái (TT và VSL).

Con Thiệu Thái và công chúa Bình Dương là Thân Cảnh Nguyên (VSL 1059), hay Đạo Nguyên (VSL 1066), hay Cảnh Long (MKBD2), hay Cảnh Phúc (TB 297/11a), cũng được kén lấy công chúa Thiên Thành năm Bính Ngọ, 1066, đời Lý Thánh Tông.

Nhờ vậy họ Thân đã rất trung thành với nhà Lý, và là một phên giậu rất kiên cố ở trên đường sang Tống. Trong những cuộc dụng binh đối Tống, họ Thân sẽ có công nhiều.

Năm Bính Tý (1036), vua Thái Tông lại gả công chúa Kim Thành (theo TT; VSL chép Khánh Thành) cho châu mục Phong Châu (vùng Sơn Tây, Phú Thọ bây giờ) tên là Lê Thuận Tông, và công chúa Trường Ninh cho châu mục Thượng Oai (có lẽ vùng Hòa Bình ngày nay) là Hà Thiện Lãm.

Vua Thái Tông lại chọn con gái Đào Đại Di ở châu Chân Đăng (vùng Hưng Hóa) đưa về cung làm hoàng phi (1033, TT). Vua Thánh Tông gả con nuôi là công chúa Ngọc Kiều2 cho châu mục Chân Đăng họ Lê (TUTA và TT)

Nhờ chính sách ấy, lòng dân miền trung du tây và bắc đều qui hướng về nhà vua.

Cho đến Nùng Trí Cao, tuy cha con đã phản lại ta, mà vua Thánh Tông không những tha cho, lại còn hậu đãi nữa3.
____________________________________
1. Các sách TS và TB chép nhiều lần họ Thân kéo quân vào đánh trại Vĩnh Bình ở Tống. Vậy động Giáp, tức là quê họ Thân không xa biên giới Vĩnh Bình. Ta lại biết rằng họ Thân từng làm châu mục Lạng Châu (VSL: Thân Thiệu Thái làm châu mục Lạng Châu năm 1060). Động Giáp thuộc Lạng Châu. Lạng Châu gồm tỉnh Bắc Giang (Phủ Lạng Thương ngày nay) và phần nam tỉnh Lạng Sơn, Động Giáp ở về phần nào?
    Sách VSL có phép: năm 1059, vua Lý Thánh Tông đi săn vùng sông Nam Bình, thuộc Lạng Châu; nhân đó tới chơi nhà phò mã Thân Cảnh Nguyên. Ta biết rằng Cảnh Nguyên là con Thiếu Thái và công chúa Bình Dương: lấy công chúa Thiên Thành năm 1066 (VSL). Vả lại, nhờ chuyện Trương Hống, Trương Hát chép ở sách VĐUL, ta cùng biết rằng sông Nam Bình là sông Thương ngày nay (xem phụ lục ở cuối). Với những điều tham khảo trên, ta thấy rằng: năm 1059, Lý Thánh Tông đi săn vùng Bắc Giang, gần sông Thương lắm, và nhân đó vua tới nhà Thân Cảnh Nguyên ở động Giáp. Ta có thể kết luận rằng động Giáp không xa sông Thương lắm, và chắc ở trong hạt tỉnh Bắc Giang ngày nay. Vả phía bắc ải Chi Lăng, có huyện Quang Lang, đất đai rất hiểm trở, và ít ruộng đất cày cấy được; một cự tộc như họ Thân chắc cai quản địa hạt giàu có hơn.
    Ngày nay, trong vùng Lạng Giang, còn có nhiều làng có tên Kép, như phố Kép trên đường xe lửa Phủ Lạng Thương đi Lạng Sơn là một, Kép chắc là bởi chữ Giáp mà ra và đó là những làng họ Giáp ở ngày xưa, theo TB, ta có thể đoán (XI/1) rằng ải Chi Lăng có tên là Giáp Khẩu. Tuy chữ Giáp đây là gần nhau, khác chữ giáp là họ Giáp, nhưng ta cũng có thể ngờ rằng động Giáp ở kề phía nam ải ấy.
    Về đời sau, còn có họ giáp, như Giáp Hải đậu trạng nguyên đời Mạc, họ Giáp này người huyện Phượng Nhãn cũng ở Bắc Giang. Cho đến các họ Thân hiển đạt đời Lê Thánh Tông (Thân Nhân Trung) cũng vậy.
    Phụ Lục. - VĐUL chép chuyện Trương Hống và Trương Hát hiện lên giúp vua Ngô Nam Tấn. “Hai thần hội quân ở cửa hù Lan (Lục đầu) Anh (Hống) đóng binh trên sông Vũ Binh, kéo tới sông Như Nguyệt, rồi lên nguồn sông Phú Lương (mấy khúc sông Cầu). Em (Hát) đóng binh ở sông Lạng, kéo vào sông Nam Bình.
    Nay Hát có đền thờ ở “cửa sông Như Nguyệt” tại làng Như Nguyệt ở Nam Ngạn sông Cầu; và Hống có đền thờ ở “cửa sông Nam Bình”, ở làng Phượng Nhãn ở Bắc Ngạn sông Thương.

2. Ngày nay ở làng Hương Nộn, kề tỉnh lỵ Hưng Hóa, còn có một chùa bên cạnh đền thờ “Lê phu nhân”. Trước đền có tấm bia rất cũ, dựng đời Lý, vì còn chữ niên hiệu Chính Long Bảo Ứng, là khoảng 1163-1174 đời Lý Anh Tông. (theo Hưng Hóa Phong Thổ Phú của Vũ Phạm Hàm). Sách TUTA (59b) và Tt (3/16a) chép: Ngọc Kiều góa chồng, bèn đi tu, Vua ban hiệu ni sư, và mất năm 1113, chắc Lê Phu Nhân này là công chúa Ngọc Kiều ấy, tuy rằng cũng có thể là công chúa Kim Thành vợ Lê Thuận Tông, người Phong Châu.
3. Năm 1041, Lý Thái Tông tha cho Nùng Trí Cao và ban các động Lôi Hỏa, Bình, Bà, Tần và châu Tư Lang. Năm 1043, vua Lý sai Ngụy Trưng đến tận Quảng Nguyên ban cho Trí Cao ấn thái bảo. Đời sau, sử gia không hiểu thâm ý vua Lý Thái Tông. Lê Văn Hưu cho rằng vua nhu nhược, bị đạo Phật mê hoặc, cho nên “thiên về việc nhỏ mà quên nghĩa lớn của nước” (TT 2/33a).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #23 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 05:39:30 pm »


5- Chinh phạt

Tuy vậy, ở vùng thượng du, uy quyền trung ương có khi bị các tù trưởng khinh miệt. Hoặc chúng không nạp thuế, hoặc chúng tự lập một nước nhỏ, hoặc chúng theo lời dụ dỗ của quan Tống, mà bỏ ta theo Tống.

Các vua quan triều Lý, tuy chịu ảnh hưởng đạo Phật, thường tỏ thái độ khoan hồng; nhưng về chính trị, họ rất tin rằng muốn ràng buộc các phiên thần, phải dùng cả uy lẫn đức. Xem như việc đời Lý Thái Tông, khi Chiêm Thành không tới cống, vua hỏi quần thần: “Tiên đế mất đã mười sáu năm, mà không có một sứ Chiêm Thành nào tới cả, vì sao vậy? Ấy vì trẫm không gia uy đức sao, hay vì nó cậy có sông núi hiểm trở?” Các quan trả lời: “Chúng tôi cho rằng tuy Bệ hạ có gia đức, nhưng uy chưa trương rộng. Ấy vì cớ đó. Từ khi Bệ hạ lên ngôi, nó trái mệnh không tới chầu. Tuy Bệ hạ thi bố đức huệ để tỏ lòng yêu, nhưng chưa từng trương vũ uy mà đánh nó. Không phải là làm như vậy mà kẻ ở xa sợ”. (TT)

Cũng vì lẽ ấy, mỗi khi có biên biến, các vua thường sai đại tướng, hoặc các hoàng tử đánh dẹp. Nhiều lần vua tự thân chinh1. Chuyện họ Nùng vừa kể trên là một bằng chứng. Vùng thường hay có biến nhiều nhất là vùng Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng ngày nay. Nhưng các châu ở vùng Đà Giang và Thao Giang cũng có lần phải dẹp.

Với hai chính sách đức và uy, nhà Lý đã kết thúc được dân vùng bắc thùy. Nhờ vậy, cương vực được mở mang dần dần sang địa phận tả và hữu Giang; và lúc Tống định tiêu diệt nước ta, quân các phiên trấn đã giúp ta được phần lớn.
_____________________________________
1. Sau đây, kể những việc dẹp loạn can hệ trong đời Lý Thái Tổ, Thái Tông và Thánh Tông.
    Năm 1013, Lý Thái Tổ thân chinh giặc Hạc Xác (Vân Nam) ở Kim HoaVĩ Long (huyện Kim Anh và châu Chiêm Hóa ngày nay).
    Năm 1014. Dực thánh vương đánh Dương Trường Huệ cũng ở vùng ấy.
    Năm 1015, Dực thánh vương và Vũ đức vương đánh Hà Trắc Tuân ở các Đô Kim (huyện Hàm Yên), Vĩ Long (Châu Chiêm Hóa), Thường Lân (?), Bình Nguyên (Châu Vĩ Xuyên), thuộc vùng Tuyên Quang, Hà Giang bây giờ.
    Năm 1022, Dực Thánh Vương đánh Đại quang lịch, đốt kho tàng ở trại Như Hồng (khoảng giữa Mông Cái và Khâm Châu).
    Năm 1021, Thái tử (sau là Lý Thánh Tông) đánh châu Phong Luân (?) và Khai quốc vương đánh châu Đô Kim (xem trên, 1015)
    Năm 1029, Thái tử (sau là Lý Thánh Tông) đánh châu Thất Nguyên (châu Thất Khê), Đông chinh vương đánh châu Văn (châu Văn Uyên, Văn Quan vùng tây nam Lạng Sơn).
    Năm 1033, Lý Thái Tông than chinh châu Đinh Nguyên (có lẽ vùng Yên Bái) rồi thân chinh châu Trễ Nguyên (?).
    Năm 1036, Khai hoàng vương đánh dẹp các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên (xem trên. 1015) Quảng Nguyên (Cao Bằng), Lạng (nam Lạng Sơn và bắc Bắc Giang), Tô Mậu (phía đông Bắc Giang), vì dân các châu này đánh Tống. Về việc này, chắc là chính vua Lý sai các châu ấy đánh Tống. Vì Tống trách, nên giả vờ sai quân dẹp.
    Cũng năm ấy, Thái Tông thân chinh Lâm lây (vùng Hưng Hóa, Thanh Sơn ).
    Năm 1039, Thái Tông thân chinh Nùng Tồn Phúc ở Quảng Nguyên (Cao Bằng).
    Năm 1041, vua sai tướng đánh Nùng Trí Cao cũng ở đó.
    Năm 1042, Khai hoàng vương đánh châu Văn (xem 1029)
    Năm 1048, Vũ uy hầu và Quách Thịnh Di đánh Nùng Trí Cao ở Quảng Nguyên (Cao Bằng).
    Năm 1061, Thánh Tông thân chinh động Sa Đảng (?)
    Năm 1064, Thánh Tông thân hành động Ma Sa (Đà Bắc, Hòa Bình ).
    Năm 1065, Thánh Tông thân chinh châu Mường Quán (vùng Sơn La).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #24 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 06:22:01 pm »




Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #25 vào lúc: 29 Tháng Ba, 2009, 06:23:06 pm »


Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #26 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2009, 10:46:41 am »


CHƯƠNG V
BANG GIAO LÝ TỐNG

1. Giao thông - 2. Giao dịch - 3.Tu cống. 4. Biên-sự buổi châu - 5.Can thiệp trực tiếp -6.Việc động Tư Lẫm - 7. Việc châu Tây-Bình. Thân Thiệu Thái. - 8.Việc động Lôi hỏa. Nùng Tông-Đán. - 9. Kết luận.


1 - Giao thông

Giao Chỉ tiếp đất với Tống, dọc theo biên-thùy đầy núi rừng hiểm trở. Đường giao thông bằng bộ khó khăn. Đường bể dễ dàng hơn nhiều, vì các cửa bể Khâm, Liêm cách biên giới chung chỉ một vài ngày. Và từ cửa sông Bạch Đằng đến châu Vĩnh An giáp hải phận Khâm Châu, có rất nhiều đảo (ở vùng Hạ Long và vịnh Đàm Hà ngày nay). Những đảo lớn, như đảo Cát Bà, Vân Hải, Kế Bào (tên ở địa đồ Đông Dương ngày nay) và vô số đảo nhỏ ngăn một dải nước khá yên lặng trước bờ bể; người ta và Trung Hoa vẫn coi giải nước ấy là một con sông, nối Bạch Đằng với Khâm Châu (Thủy kinh chú). SáchTB (288/13b) có nói đến sông Đông kênh (kênh ở phía đông), có lẽ chỉ dải nước này (XI/5).

Theo sách LNĐĐ đời Tống, đường thủy từ Khâm Châu vào nước ta như sau: từ Khâm Châu, thuyền đi hướng tây nam, một ngày đến châu Vĩnh An; theo trại Đại Bàn (đảo Kế Bào ngày nay) thuộc Ngọc Sơn, tới Vĩnh Thái, Vạn Xuân (vùng Vạn Kiếp, sông Lục Đầu), liền tới Thăng Long, thuyền đi mất năm ngày.

Còn đường bộ từ Ung Châu tới Thăng Long, thì đường tiện nhất là đường ngày nay còn dùng: đường qua Ninh Minh, Bằng Tường, Lạng Sơn, Bắc Giang và Bắc Ninh (tên ngày nay). Theo LNĐĐ, đời Tống, đường ấy từ trại Vĩnh Bình thẳng xuống phía nam, vào huyện Quang Lang thuộc Giao Chỉ. Đường qua hai sông nhỏ Ô Bì và Đào Hoa, đến sông Nam Định, tức là sông Phú Lương. Theo địa thế thì ba sông ấy tức là sông Kỳ Cùng, sông Thương và sông Cầu ngày nay1. Đường đi bốn ngày đến Thăng Long. Đó là đường Quách Quì đem quân Tống xâm ta.

Ở phía tây đường chính lộ ấy, còn có hai đường. Một đường từ trại Thái Bình vào, qua sông La thuộc động Đan Đặc thì tới Lạng Châu. Đường ấy đi mất sáu ngày mới tới Thăng Long. Một đường từ trại Ôn Nhuận thuộc đạo Hữu Giang vào địa phận Cao Bằng ngày nay. Tức là đường Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên. LNĐĐ chỉ nói rằng đường ấy quanh co, chứ không nói đi mất mấy ngày. Nhưng theo lời Triệu Tiết (TB 279/21b), từ Cao Bằng đến Thăng Long có mười hai trạm, tức là đi mất mười hai ngày.

Các đường giao thông này từ đời Đường đã từng dùng. Đến đời Tống, đã có lúc sao lục lại. Năm 1046, khu mật viện kiểm các đường thủy lục dùng từ đời Đường vào Giao Chỉ. Cả thảy có mười sáu chỗ. (TB 158) Mười sáu chỗ ấy gồm phần lớn những ải quan khó đi. Chỉ có bốn đường kể trên là quan hệ. Từ năm 1006, Thiệu Dục sau khi đi sứ Giao Chỉ về đã hiến các bản đồ vẽ bốn đường thủy lục từ Ung vào Giao Chỉ (ĐĐSL 112 và TB 63). Chắc là bốn đường kể trên.2.
_______________________________________
1. Về sông Phú Lương, sẽ có nhiều chứng cớ ở chương X. Về sông Đào Hoa, có những chứng sau này: Trong sứ bộ vua Thanh phái sang nước ta năm N.Tu 1682, có một người quản gia tên Lư Anh Nhân để lại mười bài thơ tả cảnh từ Lạng Sơn đến Thăng Long. Bài tả sông Thương có những câu (Theo sách Nhâm Tuất Thanh sứ):
    “Xôn xao ngựa vá qua sông Thương,
    Áp nước hoa đào ánh bóng gương.”
    Thơ vịnh sông Thương của Nhan Nhữ Tu, sứ Thanh làm năm Tân Tị (1761) cũng có câu: “Nhị hoa nở ực đỏ như son) (Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn).
    Chắc rằng từ xưa, ở bờ sông Thương có nhiều hoa đào, cho nên đã gọi tên sông là Đào hoa. Sử ta đời Lý chép tên sông Nam Bình (IV/cth6).

2. Đời Minh, các đường từ Trung Quốc vào nước ta còn được ghi một cách rõ ràng. Đại loại cũng có bốn đường nói trong LNĐĐ, nhưng còn thêm đường qua Lộc Bình, đường qua Tuyên Quang, đường theo sông Thao. Các đường ấy có thể chia ra ba loại: từ Quảng Tây, từ Quảng Đông. Và từ Vân Nam.
    A) Từ QUẢNG TÂY có ba lối, đều đi đến phía bắc sông Thị Cầu:
       a/ Từ BẰNG TƯỜNG khởi hành qua cửa Nam Quan, 1 ngày đến trạm Pha Lũy (Đồng Đăng); qua châu Văn Uyên và phía bắc châu Thoát Lang, 1 ngày đến Lạng Sơn vệ; 1 ngày đến hẻm ở phía bắc Ôn Châu (đèo Kháo Mẹ và Kháo Con, tức là ải Quyết Lý); nửa ngày đến Quỉ môn quan (bầu Chi Lăng, tức là ải Quyết Lý); nửa ngày đến thôn Tân Lệ (Tiên Lệ) ở phía nam Ôn Châu; 1 ngày đến huyện Bảo Lộc; nửa ngày đến sông Xương Giang (sông Thương); 1 ngày đến bắc ngạn sông Thị Cầu (sông Cầu). Cộng 7 ngày.
       b/ Từ TƯ MINH khởi hành qua núi Ma Thiên 1 ngày đến châu Tư Lăng; qua ải Biện Cường Châu Lộc Bình (có thể đi về tây đến Lạng Sơn), 1 ngày đến sông Xa Lý (sông Lục Nam); 1 ngày rưỡi đến châu An Bạc (An Châu); 1 ngày rưỡi đến động Hao Quân; 1 ngày đến huyện Phượng Nhãn; 1 ngày đến huyện Bảo Lộc; qua đò Xương Giang 1 ngày đến phủ Lạng Giang; 1 ngày đến bắc ngạn sông Thị Cầu. Cộng 9 ngày.
       c/ Từ LONG CHÂU khởi hành 1 ngày đến ải Bình Nhi; 1 ngày đến châu Thất Nguyên; 2 ngày qua xã Bình Gia. Từ đây có thể đi hai ngả:
            1o. đến châu Văn Lan (Văn Quan); theo đường núi phía bắc châu Hữu Lũng, ra đồng bằng cách Quỉ Môn quan 40 dặm, 1 ngày đến thượng lưu sông Thương, qua sông rồi theo nam ngạn đến đồng bằng huyện Yên Thế, nửa ngày đến huyện Yên Dũng, 1 ngày đến giữa huyện Yên Việt, ở bắc ngạn sông Thị Cầu.
            2o. đến phía tây xã Bình Gia, 1 ngày rưỡi đến đường núi châu Vũ Nhai; 2 ngày đến đất bằng huyện Tư Nông, 1 ngày rưỡi đến phía bắc huyện Yên Việt, và bắc ngạn thượng lưu sông Thị Cầu.
    Cả bốn đường trên đều đến Thị Cầu. Từ đó đi Giao Châu (Thăng Long) mất 1 ngày, phải qua phủ Từ Sơn, huyện Đông Ngạn, huyện Gia Lâm, sông Phú Lương (muốn nói sông Nhị Hà).
    B) Từ VÂN NAM có hai lối, một lối dọc sông Lô, một lối dọc sông Thao.
       a/ Từ MÔNG TỰ qua thác Liên Hoa, thạch lung quan, động Trình Lan đến hữu ngạn nguồn sông Thao, 4 ngày đến châu Thủy Vĩ; 8 ngày đến châu Văn Bàn; 5 ngày đến huyện Trấn Yên; 5 ngày đến huyện Hạ Hoa; 3 ngày đến huyện Thanh Ba; 3 ngày đến phủ Lâm Thao; 3 ngày đến huyện Sơn Vi; 2 ngày đến phủ Hưng Hóa, 1 ngày đến ngã ba miếu Bạch Hạc; 4 ngày đến huyện Bạch Hạc, qua sông và đến Giao Châu.
       b/ Từ ải HÀ DƯƠNG (Hà Giang) khởi hành 10 ngày đến Bình Nguyên, 5 ngày đến huyện Phúc Yên (Hàm Yên); 1 ngày đến phủ Tuyên Quang; 2 ngày đến phủ Đoan Hùng; 5 ngày đến Ngã ba Bạch Hạc.
    C) Từ QUẢNG ĐÔNG. thuyền khởi hành từ núi Ô lôi, theo bờ bể, đi 1 ngày đến núi Bạch Long Vĩ thuộc châu Vĩnh An; 2 ngày đến cửa Ngọc Sơn; 1 ngày đến châu Vạn Ninh, 1 ngày đến Miếu Sơn; 1 ngày đến tuần ti Đồn Tốt; 2 ngày đến phủ Hải Đông; 2 ngày đến xã Kinh Thục; 1 ngày đến cửa Bạch Đằng, tuần Thiên Lâu.
    Vào nội địa có thể qua những cửa Bạch Đằng, An Dương, Đồ Sơn, Đa Ngư, hay Thái Bình. Các lối vào, kê như sau:
       a/ Cửa Bạch Đằng, huyện Thủy Đường (Thủy Nguyên), huyện Đông Triều, phủ Hải Dương, huyện Chí Linh, sông Hoàng Kênh, sông Bình Than, phía bắc Nam Sách, phía bắc Thượng Hồng, Giao Châu.
       b/ Cửa An Dương (cửa Cấm) huyện An Dương, phủ Kim Môn, sông Hoàng Kênh, sông Bình Than, phía bắc Nam Sách, phía bắc Thượng Hồng, Giao Châu.
       c/ Cửa Đồ Sơn, Cổ Trai, phía bắc huyện Nghi Dương, phía bắc huyện An Lão, huyện Bình Hà, phía nam huyện Nam Sách, phía nam Thượng Hồng, Giao Châu.
       d/ Cửa Đa Ngư (cửa Văn Úc), huyện An Lãi, huyện Tân Minh (Tiên Lãng), sông Sóc Hồng thuộc huyện Tứ Kỳ, Hàm Tử Quan thuộc Khoái Châu, Giao Châu.
       e/ Cửa Thái Bình, phủ Thái Bình, phủ Tân Hưng (Tiên Hưng), phủ Khoái Châu, sông Phú Lương (muốn nói sông Nhị Hà trước thành Thăng Long).
    Tài liệu trên chắc về đời Mạc, vì cớ các tỉnh đều gọi là phủ, và nói đến làng Cổ Trai, tức là quê họ Mạc, mà Mạc đã tôn thành một kinh đô.
    Tuy đời Mạc cách đời Lý hơn bốn trăm năm, các đường thông lộ Trung Việt qua bể và qua rừng núi chắc không thay đổi. Trước khi có những máy móc và tổ chức vĩ đại, thì các đường sá, nhất là qua những vùng khó khăn, chỉ theo đường thuộc, nghĩa là đường mòn đã có người dùng trước. Cho nên ta có thể tin rằng đời Tống Lý, đường qua lại giữa hai nước cũng như trên, chỉ có những đường Vân Nam thì Lý chưa dùng, mà thôi. Còn như những tên đất thì tự nhiên phần nhiều đổi khác.

Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #27 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2009, 10:49:43 am »


2- Giao dịch

Ngoài sự bang giao chính thức bằng các sứ bộ, hai nước Tống Lý có sự giao dịch hằng ngày ở biên thùy. Trên những chỗ đường thông lộ lớn, qua biên giới, sự buôn bán khá thịnh, và có tổ chức.

Tống, cũng như Lý, sợ người ngoài giả mạo vào buôn bán để do thám. Cho nên lúc thường, tuy cho đi lại thông thương, nhưng chỉ được tụ họp tại một nơi nhất định, gọi là bạc dịch trường (chợ quốc tế).

Một nơi quan trọng thuộc trại Vĩnh Bình. Sách LNĐĐ chép: “trại Vĩnh Bình kề Giao Chỉ, chỉ cách bằng một sông con mà thôi. Phía bắc sông có trạm Giao Chỉ (ở đất Tống). Phía nam sông có đình Nghi Hòa. Đều là chỗ để buôn bán trao đổi, do chúa trại Vĩnh Bình cai quản, người Giao Chỉ đem các vật quí (vì đường bộ khó chở) như các thứ hương, nhà, sừng tê, vàng, bạc, tiền, đến đổi lấy các thứ vải, vóc. Chỉ có muối là hàng nặng. Muối chỉ dùng đổi lấy vải thường mà thôi. Muối đóng thành sọt, mỗi sọt 25 cân. Vải dệt ở huyện Vũ Duyên, khổ hẹp”. Có lẽ trạm này là chợ Kỳ Lừa ngày nay.

Trên biên giới Sách nam giang (thuộc trại Cổ Vạn) và châu Tô Mậu, cũng có một “bạc dịch trường” nhỏ. Thường, thổ dân hai bên tới buôn bán ở đó.

Một “bạc dịch trường” quan trọng khác ở trại Hoành Sơn, vì đó là chỗ tụ tập các nhà buôn ở xa đến, từ Quảng Nguyên (Cao Bằng) và từ các đạo Đặc Ma, nước Đại Lý (Vân Nam). Châu Quảng Nguyên sản xuất nhiều vàng, bạc, đồng, chu sa, diêm tiêu. Ấy là những hóa vật rất được chuộng. Các nhà lái buôn lớn, quê ở Quảng Châu, cũng tới đó cất hàng Quảng Nguyên. (Xem chuyện Nùng Trí Cao, VI/3).

Bạc dịch trường lớn nhất gần biên thùy ta là ở Khâm Châu. Trường ấy ở ngoài thành, tại trạm Giang đông. Người nước ta đi thuyền đến đó buôn bán. Lái buôn hạng nhỏ có các phường chài, đem cá, sò đến đổi lấy vải; có hàng xén tới mua giấy bút, gạo. Sự buôn nhỏ ấy, hằng ngày vẫn có, không cần xin phép riêng.

Đến như việc buôn to, thì phải có viên coi châu Vĩnh An ở nước ta thông điệp cho viên coi Khâm Châu trước, rồi kẻ phú thương mới được đem hàng hóa vào. Cũng có lúc, chính phủ ta sai sứ tới Khâm Châu buôn bán. Các hàng của ta có: vàng, bạc, tiền đồng, trầm hương, thục hương, sinh hương, trân châu, ngà voi, sừng tê. Về mặt Tống, các đại thương ở vùng Thục (Tứ Xuyên) một năm tới một lần, đem gấm Thục tới đổi lấy hương chở về Thục. Buôn như vậy rất to, mỗi lần trao đổi kể có hàng nghìn quan tiền.

Trên đây chép theo Chu Khứ Phi (LNĐĐ) là người đã chứng kiến những sự giao dịch ấy (Sách chép xong năm 1188). Khứ Phi còn nói rõ cách buôn bán bấy giờ, chẳng khác ngày nay bao nhiêu. Hai bên đem hàng mặc cả cùng nhau. Hồi lâu mới định giá. Lúc định giá rồi, thì không được thương nghị với ai nữa. Đó là một lệ ai cũng theo. Lời Khứ Phi nói: “giá người mặc cả đầu đã định, thì trời đất cũng không bằng”,nghĩa là ai trả cao bao nhiêu, cũng không được bán. Nếu có ai xấu bụng, muốn bán thầm cũng không làm được; vì lúc ngã giá, phải nhờ quan cân hương và giao gấm. Hình như các hàng ấy phải để sẵn ở công sở. Quan thuế đánh hàng Tống mà thôi, cứ một quan tiền thu ba mươi đồng.

Lúc hai nhà buôn gặp nhau, mời nhau uống rượu làm vui; lâu rồi mới nói đến buôn bán. Trong lúc mặc cả, những tùy tùng trả thêm dần dần đến lúc giá gần bằng nhau, rồi đến ngang nhau. Người Tống thường găng giá. Họ sai người nhà làm nhà ở, buôn bán lặt vặt để tự cấp, rồi họ ở đó mãi, cứ ngâm giá cho người ta mỏi mệt, phải bán rẻ. LNĐĐ chép tiếp: “Nhưng phú thương kia (Việt) ngoan cố, nó không nhúc nhích, cầm vững giá lâu, làm cho ta khốn đốn”.

Theo Khứ Phi, người Giao vốn thực thà. Chắc vì vậy, người Tống cân hàng một cách gian trá, tuy rằng Khứ Phi chép lại. Cho nên Lý đã ba lần sai sứ sang Khâm Châu để thử lại cân. Vì hay bị lừa, nên người nước ta cũng trở nên dối trá. Khứ Phi nói tiếp: “ Gần đây, người Vĩnh An rất gian giả. Vì nhà buôn ta (Tống) bán cho chúng thuốc giả, chúng đúc lẫn đồng vào vàng bạc; hương thì tẩm muối cho nó chìm (để giả trầm hương) hoặc đổ chì vào những lỗ hổng trong hương. Nhà buôn ta đều bị lừa”.

Nói tóm lại, đời Tống Lý, hai nước giao dịch nhiều; không những chỉ giữa dân biên thùy mà thôi, mà cả đến những cự phú từ phương xa tới dự. Hàng hóa như ngà, hương, đạt tới miền kinh đô và Thục; và hàng tơ, vải, gấm, giấy của Tống được dùng ở xứ ta.

Chắc từ đời bắc thuộc đến Đinh, Lê, sự buôn bán ở biên thuỳ đã có rồi. Sử chép rằng: năm 1009 Lê Chí Trung (Ngọa triều) xin buôn bán với Ung Châu (TB 72/19b). Lại chép: năm 1012, Lý Công Uẩn xin cho thuyền tới Ung Châu buôn bán. Vua Tống Chân Tông chỉ bằng lòng, theo lệ cũ, cho tới buôn bán ở Quảng Châu và ở trại Như Hồng (Khâm Châu) mà thôi.

Sự giao dịch với Tống có lợi nhiều cho nước ta về nhu cầu của dân cũng như về quốc dụng. Vả đó cũng tiện cho việc do thám tình hình trong nước Tống. Sau này quan Tống cấm ta sang buôn bán, và vì đó ít nhiều mà đã có cuộc Lý Tống chiến tranh.

Còn ở nước ta, ngoài những trạm biên thùy như trạm Nghi Hòa ở huyện Quang Lang đã nói trên, có một trường bạc dịch lớn tập ở Vân Đồn. Đảo Vân Đồn ở trong nhóm đảo mà bản đồ Đông Dương đề: đảo De la Table. Ấy là đảo lớn ở ngoài hết nhóm ấy. Hình dài, hướng đông bắc tây nam. Phía nam đảo ấy có một đảo nhỏ ngăn thành một lối vào, gọi là cửa Vân Đồn. Đời xưa, đó là một căn cứ hải quân quan trọng, và cũng là một hải cảng duy nhất mở cho thuyền ngoại quốc đến buôn bán. Sách TT chép rằng “năm Kỷ Tị 1149, có thuyền ba ngoại quốc Qua qua (Java), Lô Lạc (?) và Tiêm La tới Hải Đông (miền Quảng Yên) xin ở lại buôn bán. Vua Lý Anh Tông bèn lập những trang ở trên các đảo, đặt tên là Vân Đồn, để mua bán châu báu, hàng hóa và dâng phương vật”.

Tuy năm 1149 mới đặt lệ, nhưng trước đó đã có ngoại quốc đến buôn bán rồi. Có lẽ Vân Đồn là nơi thuyền từng ghé mà LNĐĐ gọi là Đố Sơn. Ngày nay, một nhà khảo cổ Nhật Bản có tìm thấy ở đó nhiều tiền đời Tống và các mảnh sứ đời Tống. Xem vậy thì các thuyền Tống cũng từng ghé buôn ở đó. (sách An Nam mậu dịch cảng Vân Đồn)

Địa vị Vân Đồn rất lợi. Người ngoại quốc ở trên đảo ấy không thể thám thính trong nước ta một cách dễ dàng. Mà ở đó bể lặng, nước sâu, thông với Khâm, Liêm, Quảng ở Tống, và với các nước miền đông và nam rất tiện.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #28 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2009, 10:58:56 am »


3. Tu cống

Từ khi quân Tống bị thất bại bởi tay Lê Hoàn, nước ta được ghi nhận là một phiên quốc. Lại nhờ các vua Tống trước đời Thần Tông khá hiền từ nhu nhược, cho nên dẫu trong nước ta có lúc biến, mà quân Tống cũng không lợi dụng thời cơ.

Từ lúc Lý lên ngôi, ta cố giữ lễ phiên thần để kết tinh hòa hảo. Hơn hết các triều đại khác, đời Lý đã luôn luôn sai phái bộ đi cống. Không quản đường sá khó khăn, nhiều lần ta đem cả đàn voi, tê đến tận kinh đô Tống, gần Khai Phong, ở sát sông Hoàng Hà. Mỗi lúc ở triều Tống có việc vua thăng hà hay đăng cực, ta có sứ sang điếu hay sang mừng. Mỗi lúc ở triều ta có việc hay hỉ, cũng có sứ ta sang Tống báo tin, hay cầu phong. Mỗi lúc được phong, vua ta lại sai sứ sang tạ ơn.

Ngoài sự bang giao theo điển nghi một phiên thần đối với nước thiên tử, vua Lý thường sai sứ sang xin kinh Phật. Bấy giờ đạo Phật rất thịnh ở nước ta, mà các tàng viện, tự quán, chắc vì loạn lạc, không còn đủ kinh dùng. Sự đồng tôn giáo là một cớ để gây tình hòa hảo.

Sau đây, sẽ kê các phái bộ cống sứ của triều Lý sang Tống, trước khi có việc Lý Tống chiến tranh. Bản kê lập theo TT, VSL, TB và TS. Khi nào sử ta và sử Tàu chép tên và năm hơi khác nhau, tôi theo sử ta. (Một phái bộ thường gồm hai sứ: tên đầu là chánh, tên sau là phó).



Xét qua bản thống kê trên, ta thấy trong khoảng 63 năm, các vua Lý đã sai hơn 23 bộ sang cống vua Tống. Mỗi lúc sứ ta tới, vua Tống rất ưu đãi, ban chức tước cho sứ, và nhân đó gia phong cho vua Lý, từ tước quận vương đến tước vương, và tăng lệ thực ấp và mỹ tự công thần1.

Sứ ta vào nước Tống hoặc bằng đường Khâm Châu, hoặc bằng đường Vĩnh Bình. Mỗi lúc đem voi cống thì đi đường Vĩnh Bình. Quan Tống, Chu Khứ Phi, còn cho ta biết một vài chi tiết về việc cống.

Trước lúc sứ ta tới biên giới, có phái bộ tới trước xin phép cho sứ tới kinh (ở gần Khai Phong ngày nay). Phải có trả lời của triều đình Tống ưng thuận mới được đi. Mỗi phái bộ ta gồm có đến năm mươi người, có lúc đến trăm người. Nhưng số người được đến kinh cũng phải tùy Tống chấp nhận.

Ngoài các tê, tượng, những cống vật thường rất quí. Sau lúc Tống đã phải dời kinh xuống phía nam, vua Lý vẫn cống hiến rất hậu. Năm 1156, Lý Quốc đem cống đồ kim khí nặng hơn 1.200 cân, nạm châu báu nặng phần nửa. Lại thêm 100 hạt trân châu đựng trong bình vàng (3 hạt lớn như quả cà, 6 hạt lớn như hạt mít, 24 hạt lớn như hạt đào, 17 hạt lớn như hạt mận và 50 hạt lớn như hạt táo). Lại thêm 1.000 cân hương trầm, 50 đôi lông thúy, 850 tấm đoạn màu vàng thắm, hoa rồng cuốn, 6 ngựa vua cưỡi đủ cả yên cương, 8 ngựa thường, 5 voi. Phái bộ gồm có 100 người (LNĐĐ 2)



Xem đó biết đời Lý, nước ta giàu biết là bao nhiêu. Những lần khác, tuy cống lễ không hậu như trên, nhưng các đồ vàng, bạc, ngà và hương trầm, cũng trị giá đến vài ba vạn quan. Muốn biết giá trị một lễ như vậy, ta có thể so sánh với tiền ban cho các nhân viên phái bộ dọc đường, mỗi ngày 10 đồng tiền ngoài gạo !

Sứ bộ được ưu đãi dọc đường và lúc tới kinh vua Tống ân cần phủ dụ.

Sứ thần được chọn trong các hàng quan cao cấp biết ứng đối, biết làm thơ. Khứ Phi còn ghi một câu thơ của Lý Bang Chính. Sau khi vua Tống đổi tên nước Giao Chỉ ra nước An Nam (1164), Bang Chính về; dọc đường có đề thơ ở một bưu đình. Trong thơ có câu “Thử khứ ưu thanh tứ quốc danh” (Đi lần này thành công là được ban tên nước).

Đáp lễ lại, vua Tống ít sai sứ đến sứ Thăng Long. Chỉ lúc ở nước ta có quốc tang và tự quân lên ngôi, vua Tống thường sai một viên quan ở Quảng Tây tới điếu ai và phong vua mới: như năm 1029, viên chuyển vận sứ Quảng Tây Vương Duy Chính (T và TB 107) tới tế Lý Thái Tổ và phong Lý Đức Chính (Thái Tông); năm 1055, viên chuyển vận sứ Quảng Tây Tô Yên Thế (TB 181) tới điếu Lý Thái Tông và phong Lý Nhật Tôn (Thánh Tông); năm 1072, viên chuyển vận sứ Quảng Tây Khang Vệ (TB 231) tới điếu Lý Thánh Tông và phong Lý Càn Đức (Nhân Tông).
_______________________________________
1. Các vua Lý chịu Tống phong, thường theo lệ sau:
    Sau khi vua cha mất, Thái tử lên ngôi vua và tự xưng hoàng đế. Nhưng đối với Tống thì chỉ coi là quyền tri lưu hậu, nghĩa là tạm coi những việc còn dở dang. Rồi sai sứ sang Tống báo tin: gọi là Cáo ai, Tống sai sứ (viên chuyển vận sứ Quảng Tây) sang làm hai việc: Điếu tặng nghĩa là điếu vua mất và tặng tước cao nhất, THỊ TRUNG NAM VIỆT VƯƠNG; và tấn phong cho vua mới.
    Bắt đầu, chỉ phong chức KIỂM HIỆU THÁI ÚY, tước GIAO CHỈ QUẬN VƯƠNG. (Chức tước hoàn toàn là: Kiểm hiệu thái úy, Tĩnh hải tiết độ sứ, An Nam đô hộ Giao Chỉ quân vương)
    Sau phong thêm mỹ tự công thần, nghĩa là ban cho những chữ tán tụng những đức tính tốt trong khi giúp vì Thiên tử. Những mỹ tự ấy gồm hai chữ liền. Ban nhiều cặp chữ như vậy bao nhiêu là hậu đãi bấy nhiêu: ví dụ như dực đái, bảo tiết, thủ chính công thần.
    Lại phong THỰC ẤP bao nhiêu hộ, nghĩa là cho ăn lộc của bao nhiêu họ phải nộp. Nhưng đó chỉ là hư hàm. Cho nên, còn ban THẬT PHONG hay THẬT THỰC ẤP bao nhiêu hộ.
    Mỗi lúc sứ ta sang Tống, hay ở Tống có việc khánh hỉ gì, thì vua Tống gia phong cho vua Lý, gia phong hoặc bằng thêm mỹ tự, hoặc thêm thực ấp. Còn gia phong chức tước thì thường theo thứ tự sau:
    ĐỒNG BÌNH CHƯƠNG SỰ, nghĩa là cùng bàn việc nước.
    ĐỒNG TRUNG THƯ MÔN HẠ BÌNH CHƯƠNG SỰ (Trung thư là một ti thảo các chiếu chỉ cho vua; môn hạ bình chương sự là bàn việc với vua).
    KHAI PHỦ NGHỊ ĐỒNG TAM TI (được quyền mở phủ ở riêng, cùng tam ti tức là ti tài chánh bàn việc nước).
    KIỂM HIỆU THÁI SƯ
    NAM BÌNH VƯƠNG
    Tước Nam bình vương là tột bậc khi vua Lý còn sống. Nếu muốn gia phong, vua Tống chỉ ban thêm mỹ tự hay là thực ấp.
    Chỉ sau khi mất, mới tặng chức tước cao nhất; THỊ TRUNG NAM VIỆT VƯƠNG.
    Thứ tự trên này phần lớn đúng như vậy, và tuần tự theo. Nhưng cũng có đời vua Tống phong vượt thứ tự, cũng có lúc bắt đầu chỉ cho chức THÁI PHÓ, nhỏ hơn Thái úy, như đời Lý Thái Tổ. Ấy vì bấy giờ, Lý mới cướp ngôi Lê.
    Riêng từng triều đại một, sử ta không chép sự phong và gia phong tường tận; vì vua ta không lấy sự được phong làm hân hạnh, nhưng phải nhận, để ngoại giao với Tống cho yên ổn mà thôi. Còn Tống sử (Lễ chí, Giao Chỉ truyện chép rất rõ ràng.
    Ví dụ:
    LÝ THÁI TỔ
    1010 Kiểm hiệu thái phó, Tĩnh hải tiết độ sứ, quan sát sứ, xử trí sứ, An Nam đô hộ, Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc Giao Chỉ quận vương, thực ấp tam thiên (3.000) hộ, thật phong nhất thiên (1.000) hộ, suy thành thuận hóa công thần. 
    1010, thêm: Đồng bình chương sự, thực ấp 1.000 hộ, thật phong 400 hộ.
    1012, thêm: Khai phủ nghị đồng tam ti, thực ấp 700 hộ, thật phong 300 hộ, dực đái công thần.
    1014, thêm: Bảo tiết thủ chính công thần, thực ấp 1.000 hộ, thật phong 400 hộ.
    1017, tiến: Nam bình vương; thêm: thực ấp 1.000 hộ, thật phong 400 hộ.
    1018, thêm: Kiểm hiệu thái úy, thực ấp 1.000 hộ, thật phong 400 hộ.
    1022, thêm, Kiểm hiệu thái sư.
    1028. tặng: Thị trung Nam Việt Vương.

    LÝ THÁI TÔNG
    1028, tự xưng: quyền tri lưu hậu sự.
    1028, ban: Kiểm hiệu thái úy, Tĩnh hải quân tiết độ sứ, An Nam đô hộ Giao Chỉ quận vương.
    1032, thêm: Đồng trung thư môn hạ bình chương sự
    1034, thêm; Kiểm hiệu thái sư.
    1038, tiến: Nam bình vương.
    1055, tặng: Thị trung Nam Việt Vương.

    LÝ THÁNH TÔNG
    1055, ban: Kiểm hiệu thái úy, Tĩnh hải quân tiết độ sứ, An Nam đô hộ, Giao Chỉ quận vương.
    1064, gia: Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.
    1068, tiến: Nam bình vương.
    1072, tặng (?) TS không chép, nhưng chắc là Thị trung nam việt vương.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 11383



« Trả lời #29 vào lúc: 08 Tháng Tư, 2009, 11:00:48 am »


4- Biên-sự buổi đầu

Tuy giữ đạo phiên thần tu cống, nhưng các vua Lý gìn giữ cẩn thận bắc thùy. Mỗi lúc các biên lại Tống dụ thổ dân, lấn đất đai, vua Lý liền phản kháng. Khi thì sai quan sang biện bác, khi thì sai tướng sang chống cự. Có lúc tướng ta giết quan Tống, đốt đồn trại Tống, mà chung quy, Tống cũng phải làm ngơ.

Sau này, ta sẽ kể những chuyện lớn xẩy ra trên biên thùy, trong 40 năm đầu triều Lý, nó tỏ rõ những mối bất hòa giữa Lý và Tống, và nó chứng tỏ rõ tính cách hoạt động của chính sách bắc thùy của các vua Lý.

Năm 1022, đời Lý Thái Tổ, các dân Đại Nguyên Lịch thuộc Khâm Châu, và châu Như Hông tới quấy trấn Triều Dương (Hải Ninh, Quảng Yên). Vua sai Dực Thánh Vương đi đánh. Vương đem quân vào sâu trong đất Khâm Châu, đốt phá trại Như Hồng, rồi mới trở về (TT). Trại Như Hồng ở liền phía đông biên giới ta, và bên cạnh có động Như Tích. Ngày nay động Như Tích còn khoảng cách giữa Tonghinh (Đông Hưng) và Kintcheou (Khâm Châu). Năm 1028, có việc gì bất bình ở biên giới, phò mã Thân Thừa Quí đem quân và đất Tống. Tại chúa châu Thất Nguyên (Thất Khê) Lý Tự bị chết. Thừa Quí bắt dân Tống đem về. Viên coi Ung Châu bàn hòa. Lý Thái Tổ ưng thuận. (TB 106)

Năm 1034, đời Lý Thái Tông, có dân ta là bọn Trần Công Vĩnh đưa hơn 600 người vào theo Tống. Thái Tông sai hơn 1.000 quân tới biên giới đuổi bắt. Vua Tống Nhân Tông sợ sinh sự, hạ chiếu trả bọn đào vong ấy cho ta, nhưng dặn đừng giết chúng. (TS 488 và TB 114/16b)

Hai năm sau (1036), lại xảy ra một việc lôi thôi rất lớn. Số là dân ở các châu giáp đất Tống như Lạng, Môn, Tô Mậu, Quảng Nguyên, động Đại Phát, huyện Đan Ba (TS 488), và các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên (TT) đều nổi lên đánh Tống, quấy các châu Tư Lăng, Tây Bình, Thạch Tây thuộc Ung Châu. Chúng cướp dân gian, gia súc và đốt nhà cửa, rồi rút lui (TS 488 và 495). Cầm đầu là họ Thân ở động Giáp. Dân động ấy kéo vào cướp châu Tư Lăng và động Bằng Tường, và giết tướng coi trấn Đăng Uyển (TB 118/4b theo Thực lục). Về việc này, vua Tống cũng chỉ bàn hòa. Hai bên cho rằng duyên cớ bởi man dân có đứa sinh sự mà thôi. Thật ra đó là triệu chứng của họ Nùng nổi loạn sau này.

Năm 1050, viên coi Ung Châu lại dụ hơn 3.000 dân cùng các tù trưởng Vi Thiệu Tự, Vi Thiệu Khâm ở châu Tô Mậu. Lý Thái Tông đòi lại. Vua Tống liền trả và dặn ta phải ước thúc biên dân, kẻo chúng xâm phạm nhau. (TS 488).

Sau cuộc loạn Nùng Trí Cao (1052-1053), Tống mới quan tâm đến biên cảnh phía nam; cắt quan canh phòng cẩn mật, và có ý dòm ngó nước ta. Vì vậy, sự xích mích ở biên giới càng sinh nhiều và mạnh.


5- Can thiệp trực tiếp

Chính sách bắc thùy triều Lý trong 40 năm bắt đầu có kết quả. Tuy Tống vẫn coi châu Quảng Nguyên như thuộc châu Ung của mình, nhưng thật đã hoàn toàn theo vua Lý (TS 495).

Viên coi Ung Châu là Tiêu Chú cũng phải tâu về triều rằng: “Giao Chỉ tuy có triều cống, thật thì ngầm ngấm họa tâm, thường dùng cách tâm thực mà lấn vương thổ. Ví dụ, về đời Thiên Thành (1023-1031), quan ta là Trịnh Thiên Ích có trách Giao Chỉ tự tiện thu thuế ở động Vân Hà (vậy khi ấy Vân Hà thuộc Tống, có lẽ ở vùng Lạng Sơn, hoặc là sau đổi ra Vân Mịch, tức là phố Van Mit trên địa đồ Đông Dương); thế mà nay động Vân Hà đã ở sâu vào đất Giao Chỉ vài trăm dặm. Ấy thật vì, năm này qua năm khác, nó lấn dần cho đến ngày nay...” (TS 334 và TB 150/15b).

Tiêu Chú là một viên quan đời Tống, am hiểu tình hình nước ta vào bậc nhất. Chú là một nhà nho học có tiếng, xuất thân tiến sĩ, mà lại rất thích việc binh. Coi huyện Phiên Ngu (Quảng Châu ngày nay) lúc Trí Cao tới đánh. Trong khi các quan to đều hoang mang sợ hãi, Chú đã lập kế hoạch du kích quân Nùng. Chú lại vào các man động kết thúc dân chúng. Sau khi Trí Cao thua chạy về đạo Đặc Ma, Chú đã thân hành đem quân đến nơi do thám và bắt được mẹ và con Trí Cao. Chú lại sai người vào tận nước Đại Lý tìm Trí Cao nữa. (TS 334).

Đối với Giao Chỉ, không những mục đích Chú là lấy lợi thu phục lại Quảng Nguyên (TS 334 và TB 150), mà Chú còn tham vọng đánh lấy đất Lý nữa. Nói lời tâu trên, Chú nói: “Tôi nay đã rõ chỗ quan yếu, thấu chỗ lợi hại. Nếu không đánh bây giờ mà lấy Giao Chỉ đi, thì sau sẽ có điều lo cho Trung Quốc”.

Lời tâu ấy thật là xác đáng và tiên tri. Từ năm Trí Cao bị thua (1053), Tiêu Chú được coi Ung Châu, tức là chỗ cuống họng vào đất nước ta. Một mặt, Chú xin về triều để bày tỏ phương lược; một mặt, ngầm thi hành ý định; lấy lợi nhử dân Quảng Nguyên, bảo ngầm chúng soạn binh giáp, trữ lương tiền, tuyển lính mán, dạy cưỡi ngựa, bắn cung; dung nạp dư đảng của Nùng Trí Cao và chiêu tập các du sĩ. (TS 334 và TB 150)

Nhưng những quan trên Chú, như Lý Sư Trung, Tiêu Cố coi giữ Quảng Tây, cho Chú hay sinh chuyện, nên thường gạt bỏ lời trình của Chú.

Với chính sách mưu chiến của Tiêu Chú, sự xích mích giữa Tống và Lý ngày càng nhiều. Cho nên những biên sự, ngày trước chỉ vì biên lại gây nên, sắp trở thành việc xung đột lớn giữa hai nước.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM