Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 03 Tháng Tư, 2020, 06:01:13 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: An Nam Chí Lược - Lê Tắc  (Đọc 29444 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1243


« Trả lời #60 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 08:39:49 PM »

Những kẻ tiềm thiết thời Ngũ-Đại

Vua Hiếu-Vũ bỏ nước Nam-Việt, chia làm quận ấp, đặt quan cai-trị, trải mấy triều đều noi theo. Cuối đời nhà Đường, các thổ-hào châu Giao, châu Ái là các họ Khúc, Dương, Kiểu, Ngô nối nhau soán đoạt, trong thời-gian chừng năm, sáu mươi năm. Đầu đời nhà Tống, Đinh-Bộ-Lĩnh cướp ngôi họ Ngô, Thái-Tổ phong tước vương cho Đinh-Thị.

Khúc-Hạo:

Chiếm cứ Giao-Chỉ. Lúc ấy, Lưu-Ẩn chiếm cứ Phiên-Ngung, Ẩn chết, con là Lưu-Nghiễm kế lập, xưng quốc-hiệu là Nam-Hán. Khúc-Hạo khiến con là Thừa-Mỹ qua làm Khuyến-Hảo-Sứ, đến Quảng-Châu để dò xét hư thực. Hạo chết, Thừa-Mỹ kế ngôi cha; năm Kỷ-Mão, niên-hiệu Trinh-Minh nhà Lương năm đầu (915) (1), khiến sứ tiến cống, cầu lãnh tiết việt, nhà Lương nhân trao cho. Lưu-Nghiễm cả giận, tháng chín năm Đại-Hữu thứ 3 (930) đời Ngụy-Hán, khiến tướng mạnh là Lương-Khắc-Chính đem binh đến đánh, bắt Thừa-Mỹ đem về. Khắc-Chính lưu giữ Giao-Chỉ, sau bị Dương-Đình-Nghệ đuổi.
(1) Theo "Thế giới niên biểu" thì năm Trinh Minh nguyên niên là năm Ất Hợi (915), còn năm Kỷ Mão là năm Trinh Minh thứ 5 (919).


Thừa-Mỹ:

(Đã chép ở đoạn trên).

Dương-Đình-Nghệ:

Người châu Ái, tướng của Khúc-Hạo. Khi Lưu-Nghiễm đã bắt Khúc-Thừa-Mỹ rồi, phong tước cho Đình-Nghệ, khiến Lý-Tấn làm Thứ-Sử Giao-Châu, cùng với Lý-Khắc-Chính giữ thành. Nghiễm bảo kẻ tả hữu rằng: "Dân Giao-Chỉ ưa làm loạn, chỉ nên lung lạc họ mà thôi". Quả nhiên, năm sau, Điình-Nghệ làm phản, đem quân vây thành. Khắc-Chính thua chạy. Đình-Nghệ chiếm cứ bờ cỏi, sau bị Kiều-Công-Tiễn giết.

Kiều-Công-Tiễn:

Nha-tướng của Dương-Đình-Nghệ, giết Đình-Nghệ mà thay thế. Niên-hiệu Thiên-Phúc nhà Tấn năm thứ 2 (Ngụy-Hán Đại-Hữu thứ 10), (937), Ngô-Quyền cử binh Ái-Châu vây Công-Tiễn. Tiện sức kém, xin viện binh với Lưu-Nghiễm. Nghiễm cho con là Vạn-Vương Hoằng-Thao làm Giao-Châu Tiết-Độ-Sứ, đem binh qua cứu. Vừa đi đến sông Bạch-Đằng, thì Quyền đã giết Công-Tiện, đem binh đón đánh, làm cho toàn-quân của Thao đều bị hãm.

Ngô-Quyền:

Người Châu Ái, nha-tướng của Đình-Nghệ, giết Công-Tiện, tự lập làm vua. Con là Xương-Ngập, em là Xương-Tuấn nối ngôi. Ngụy-Hán năm Càn-Hoà thứ 12, (954), Xương-Tuấn xưng thần với Lưu Thành, khiến sứ vào cống, lãnh tiết việt. Thành khiến Cấp-Sự-Trung Lý-Dự đem sinh-tiết qua phong. Dự đi đến Bạch-Châu, Xương-Tuấn khiến người đón lại bảo rằng: "Giặc biển làm loạn, đường sá chẳng thông". Dự bèn không đi. Xương-Tuấn mất, em là Xương-Văn kế lập. Văn chết, tham-mưu của Văn là Ngô-Xử-Bình, Thứ-Sử Phong-Châu Kiều-Tri-Tả, Thứ-Sử Ninh-Châu Dương-Huy và nha-tướng Đổ-Cảnh- Thạc, dùng binh tranh lập, rồi đều bị Đinh-Bộ-Lĩnh dẹp yên, mà chiếm cứ đất nước.

Ngô-Xương-Ngập Ngô-Xương-Tuấn Ngô-Xương-Văn
(Đều có chép ở đoạn trên).

Gia-Thế họ Đinh

Đinh-Bộ-Lĩnh

Người động Hoa-Lư, Giao-Châu. Cha là Công-Trứ, làm nha-tướng của Đình-Nghệ. Cuối thời Ngũ- Đại, Đình-Nghệ đi trấn Giao-Châu, lấy Công-Trứ quyền Thứ-Sử Hoan-Châu. Trước đây, Ngô-Quyền giết Kiều-Công-Tiện, cha con Bộ-Lĩnh về với Ngô-Quyền, Quyền nhân khiến Công-Trứ về nhiệm chức cũ. Khi Công-Trứ mất, Bộ-Lĩnh kế tập chức cha. Kịp đến lúc Ngô-Xương-Văn mất, bọn bộ-hạ nổi loạn, Bộ-Lĩnh cùng con là Liễn đánh dẹp yên hết, lĩnh việc cai-trị Giao-Chỉ, xưng hiệu Vạn-Thắng-Vương, riêng phong chức cho Liễn làm Tiết-Độ-Sứ, được mười năm thì Bộ-Lĩnh mất.

Đinh-Liễn:

Kế lập được bảy năm, năm Tân-Vị Khai-Bửu thứ 4 (971), Thái-Tổ nhà Tống khiến đại-tướng Phan-Mỹ qua đánh Lĩnh-Nam. Liễn sợ, dâng biểu-văn, khiến sứ vào cống, xin nội-phụ, Thái-Tổ xuống chiếu phong Liễn làm Tiết-Độ-Sứ An-Nam đô-hộ. Tháng 5 năm thứ 8, (975), Liễn tiến cống vàng lụa, sừng tê, ngà voi, trà thơm. Ngày mồng 7 tháng 8, Thái-Tổ xuống sắc-chế, phong cha Liễn là Bộ-Lĩnh làm Giao-Chỉ Quận-Vương; thực ấp 1.000 hộ. Tháng 12, khiến Cao-Bảo-Chư làm Quan-Cáo-Sứ (Sứ thần đi tuyên phong.). Năm Thái- Bình Hưng-Quốc thứ 2 (977), Liễn sai sứ qua cống mừng vua Thái-Tông lên ngôi. Năm thứ 5 (980), Liễn mất, em là Truyền lên ngôi.

Đinh-Truyền:

Truyền còn nhỏ, xưng Tiết-Độ Hành-Quân Tư-Mã, quyền lãnh việc quân phủ. Tháng 4 năm Canh-Thìn, Thái-Bình-Hưng-Quốc thứ 5 (980), khiến Lư-Tập đi sứ Giao-Chỉ. Đại-hiệu Lê-Hoàn chuyên- quyền, hiếp dời Truyền ở một nhà riêng, bắt giam cả họ và thay thế quản lãnh binh-quyền. Thái-Tông giận, khởi binh tiến đánh. Hoàn giả làm biểu-văn của Triều dâng lên. Qua tháng 11, khiến sứ tiến cống những đồ báu, như khí-mãnh bằng vàng, bằng bạc, sừng tê, ngà voi và dâng một tờ trạng-văn, nói rằng tất cả tướng hiệu, quân lính, kỳ-lão trong nước, đồng xin cho Truyền làm chức Tiết-Độ-Sứ, nối ngôi của cha, anh. Lúc ấy nhà Tống đã dấy binh, biểu văn tâu vào không được trả lời. Mùa đông tháng 11, quan binh đánh bại quân Giao-Chỉ ở Bạch-Đằng. Năm sau, binh nhà Tống thất lợi rút về. Năm thứ 7 (982), Hoàn lại trá xưng Truyền khiến sứ tiến cống, vì sợ quân Tống tiến đánh vậy. Truyền bị Hoàn sát hại.

Họ Đinh nối nghiệp ba đời, cộng được 17 năm.
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1243


« Trả lời #61 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 08:45:17 PM »

Gia-Thế họ Lê

Lê-Hoàn

Người Châu Ái, có chí-lược, được lòng quân-sĩ, được Đinh-Liễn giao-phó binh-quyền, nhân soán ngôi họ Đinh, tự xưng Giao-Châu Tam-Sứ Lưu-Hậu, khiến sứ tiến cống nhà Tống, dâng biểu nói: "Đinh- Truyền cùng mẹ là Dương-Thị suất lại, dân, tướng hiệu, ba quân, nài xin thần thống lĩnh việc phủ". Và giả làm một tờ biểu của Đinh-Truyền dâng lên. Thái-Tông yên-vỗ dụ rằng: "Họ Đinh đã truyền nối ba đời. Trẫm muốn cho Truyền làm Thống-Soái, nhà ngươi làm phó. Nếu Truyền không có tướng tài, còn tính trẻ con, thì nên khiến mẹ con vào chầu, sẽ được ưu-đãi, ta tức thì trao tiết-việt cho nhà ngươi. Trong hai điều ấy, nhà ngươi nên xét chọn lấy một". Thái-Tông khiến bọn Trương-Tôn-Quyền đi sứ, đem chỉ-dụ ấy qua. Nhưng Hàm đã chuyên cứ đất nước, chẳng phụng mệnh. Sau Hoàn dâng sớ nói: "Nước Chiêm-thành đem mấy vạn voi ngựa vào cướp An-Nam, đã bị tôi đánh đuổi chạy". Năm Thái-Bình Hưng- Quốc thứ 8 (983), Hoàn khiến cống các vật vàng bạc, tê-ngưu và voi. Năm Ung-Hy thứ 2 (985), Hoàn khiến cống rùa vàng, hạc, lư-hương, ngà voi và một vạn cây lụa trắng để mừng tiết Càn-Minh. Vua Tống cho sứ-giả một bộ áo, đai bạc, yên cương và năm con ngựa. Hoàn cống vàng bạc và các vật thổ-sản. Tháng 10 ngày Canh-Thân, vua Tống khiến Lý-Nhược-Chuyết làm Quan-Cáo-Sứ, đem chế-sắc phong Hoàn làm Kim-Tử Quang-Lộc đại-phu, Kiểm-Hiệu Thái-Uý, Sử-Trì-Tiết, Đô-Đốc Chư-Quân-Sự, An-Nam đô-hộ, sung Tĩnh-Hải-Quân Tiết-Độ, Giao-Châu Quản-Nội Quan-Sát-Sử-Trí Đẳng Sứ, Thượng-Trụ-Quốc, Kinh-Triệu-Quận, Khai-Quốc-Hầu, thực ấp ba ngàn hộ, vẫn ban hiệu là Thôi-Thành Công-Thần. Tháng 4 năm đầu hiệu Đoan-Củng (988), vua Tống khiến bọn Ngụy-Tường làm Quan-Cáo-Sứ đem chế-sắc tiến phong Hoàn tước Khai-Quốc-Công, cho thêm thực ấp ngàn hộ. Tháng 5 nhuận, Hoàn khiến sứ tiến cống. Năm đầu Thuận-Hoá (990), vua Tống khiến bọn Tống-Cảo làm Quan-Cáo-Sứ, gia phong cho Hoàn. Tháng 10, Hoàn cống một cái ghế khảm thất-bửu và các vật voi tê-ngưu. Tháng 3 năm thứ 4 (993), vua Tống khiến bọn Vương-Thế-Tắc làm Quan-Cáo-Sứ, đem chế-sách phong Hoàn tước Giao-Chỉ quận- vương. Tháng 3 năm thứ 5 (994), Hoàn khiến sứ tiến cống, về sau Hoàn cậy thế nước hiểm trở, thường vào đánh cướp, không giữ đúng lễ phiên-thần. Mùa xuân năm đầu Chí-Đạo (995), Chuyển-Vận-Sứ Quảng-Tây Trương-Quan tấu rằng: "Hoàn cho quân vào trấn Như-Hồng thuộc Khâm-Châu, đánh phá cư- dân, cướp bóc lương thực, rồi bỏ đi". Mùa hạ năm ấy, 5.000 binh Tô-Châu dưới quyền chỉ-huy của Hoàn vào cướp Lộc-Châu, thuộc huyện của Ung-Châu, bị Tuần-Kiểm Dương-Văn-Kiệt đánh đuổi. Thái-Tông chú ý yên-vỗ cõi xa, chẳng muốn hỏi tội. Trương-Quan lại nói nghe đồn Hoàn bị họ Đinh truất đuổi, nay kéo tàn-quân ra ở vùng hải-đảo, chưa biết lập căn-cứ nơi nào, cho nên lấy sự cướp bóc để tự túc. Nay Hoàn đã chết, Quan dâng biểu mừng. Thái-Tông bèn khiến quan Thái-Thường Trần-Sĩ-Long làm Thể-Phỏng-Sứ để dò xem hư thực, mới biết rằng Lê-Hoàn vẫn còn sống, tin trước chỉ là lời truyền-văn sai lầm. Năm thứ 2 (996), vua xuống chiếu hạch tội Trương-Quan, Quan đau chết, lại ra chỉ-dụ chém Vệ-Chiêu-Mỹ ở trấn Như-Hồng. Mùa hạ năm ấy, vua Tống khiến Trần-Nghiêu-Tẩu nhiệm chức Quảng-Tây Chuyển-Vận-Sứ, nhân làm chiếu-thư khiến Lý-Kiến-Trung đem qua cho Lê-Hoàn. Nguyên Khâm-Châu có ba trấn ở gần bờ biển là Như-Hồng, Xy-Bộ và Như-Âm, trước đây có bọn Văn-Dõng, dân Triều-Dương, thuộc quận Giao- Châu, bị án giết người rồi đem cả gia-quyến trốn qua Như-Âm, được trấn-tướng bọn Hoàng-Lệnh-Đức che giấu. Hoàn khiến trấn-tướng triều-Dương Hoàng-Thành-Nhã theo bắt. Lệnh-Đức không giao trả, Thành-Nhã bèn đánh cướp rồi đi. Nghiêu-Tẩu đến Như-Âm, cật vấn biết được duyên-do việc che giấu, bèn bắt hết tất cả nam nữ già trẻ, một trăm ba mươi người, giao trả cho nhà đương cuộc Triều-Dương. Thành-Nhã bắt lại được người, làm thư tạ ơn Nghiêu-Tẩu. Hoàn cũng dâng biểu-chương tạ ơn và nói đã ước thúc các khê động, từ nay không còn việc quấy rối nữa. Tháng 7, Thái-Tông lại khiến Lý-Nhược- Chuyết đem chiếu thư và đai-ngọc ban cho Hoàn. Nguyên trước Kiến-Trung đến Giao-Châu, Hoàn tiếp đãi rất sơ-sài, nhân dâng biểu-văn lên tâu rằng: trước kia đánh cướp Như-Hồng chỉ là quận ngoài bờ cõi, mà thôi vậy. Nhân bắt 27 tên dân mọi, bọn không hiểu tiếng Tàu, giải giao cho Chuyển-vận-sứ. Triều đình tiếp được biểu-văn của Lê-Hoàn, bèn khiến Nhược Thuỷ qua đi sứ. Thoạt mới đến, Lê-Hoàn ra ngoài thành tiếp đón, chào hỏi rất khinh rẽ; Hoàn bảo Nhược Thuỷ rằng: "Xưa đánh cướp Như-Hồng, chỉ là quân ngoại cảnh mà thôi, Hoàng-Đế có biết không? Nếu Giao-Chỉ làm phản thì chúng tôi vào Quảng- Châu trước, rồi đánh đến các quận ở Mân-Trung, há chỉ đánh trấn Như-Hồng mà thôi đâu?". Nhược- Khuyết khoan thai trả lời rằng: "Chúa Thượng nghe Như-Hồng bị cướp, chưa rõ thực hư thế nào; nghĩ rằng Túc-Hạ xuất-thân từ hàng nha tướng, đã được trao cho tiết-việt, lẽ nên tận trung đền đáp, há còn manh lòng gì khác nữa sao? Đến lúc Túc-Hạ bắt quân giặc biển giải nạp, thì sự trạng đã rõ ràng. Nhưng các đại-thần bàn rằng: "triều-đình trao tiết việt cho Túc-Hạ để trấn an hải-ngoại, nay đã có loạn giặc biển, ấy là Giao-Châu một mình không đủ sức chế-ngự, nên phát vài vạn tinh binh, hội với quân bản- châu, đồng đánh giặc biển để dứt hậu loạn. Hoàng-Đế sợ Giao-Châu không hiểu ý của triều-đình, rồi sinh ra hoảng sợ, chi bằng chuyên uỷ việc dẹp giặc cho Túc-Hạ là hơn, bởi thế không khiến binh đi nữa". Hoàn ngạc nhiên nói rằng: "Giặc biển xâm phạm bờ cõi, ấy là tội của kẻ thủ-thần, (bầy tôi có trách nhiệm phòng thủ), thánh-nhân khoan-hồng, chưa hề trách phạt, ơn ấy quá hơn cha mẹ, từ nay xin kính vâng đức-hoá triều-đình, dẹp yên bờ cõi". Nói xong, trông về phía bắc, cúi đầu chúc mừng. Tháng 4 năm thứ ba (997), nhân dịp Tống-Chân-Tông lên ngôi ban ơn, gia-phong Hoàn làm Nam-Bình-Vương kiêm chức Thị-Trung. Tháng 9, Hoàng cống một cái ghế khảm vàng bạc thất bửu, sừng tê, ngà voi và lụa mịn. Vua Tống xuống chiếu khiến bày các đồ phương vật ấy ở Linh-Toạ đền Vạn-Tuế, cho sứ làm lễ lạy dâng. Năm ấy, Chiêm-Thành vào cướp biên-thùy, Hoàn đánh đuổi quân Chiêm rồi dâng biểu vào nhà Tống, đại-lược rằng: "Quốc-cảnh tôi tiếp giáp với Chiêm-Thành, khoảng vài năm nay, lân-bang ấy xáo động, cướp thuế má ở hương-thôn, quấy dân lành ở biên-cảnh, bởi thế, tôi phải phát quân ngăn chống, đến đổi trễ nải công việc triều-cống không giữ đúng quy-chế". Vua Tống xuống chiếu khen ngợi, phúc đáp và ban cho các thứ đai giáp và ngựa. Tháng 9 năm đầu Hàm-Bình (998) vua Chân-Tông, Hoàn cống một con voi thuần thục. Tháng 12 năm thứ 4 (1001), vua Tống ban sắc-chế gia-phong Hoàn làm công-thần. Năm thứ 4, để tạ ơn vua, Hoàn cống voi thuần, tê-ngưu và một bình thất-bửu nạm vàng. Tháng 11 năm thứ 5 (1002), gia phong Hoàn làm Phụng-Tiết công-thần. Tháng 3 năm thứ 6 (1003), Khâm-Châu tâu rằng: "dân trường (cũng như đạo, lộ, tỉnh) Hiệu-Thành thuộc Giao-Châu và Đầu-Mục Bát Châu-Sứ là bọn Hoàng-Khánh-Tập đem bộ-thuộc hơn 450 người, vào ở thôn Ô-Thổ, sông Dũng-Bộ thuộc địa-giới Khâm-Châu". Vua xuống chiếu khiến sứ-thần đến an-ủi và khiến trở về quê cũ. Bọn Hoàng-Khánh-Tập sợ tội không dám trở về, bèn dời ra ở vùng bờ biển Khâm-Châu. Tháng 6 năm Cảnh-Đức (1004) Lê-Hoàn khiến con là Lê-Minh-Đế vào cống, ngày 27 vào tâu dối ở đền Sùng-Chính, vua lại vời vào tiện-điện an-ủi và cho Minh-Đế làm chức Kim-Tử Quang-Lộc đại-phu, kiểm-hiệu Thái-Bảo, Hoan-Châu Thứ-Sử, Thượng-Trụ-Quốc. Tháng giêng năm thứ hai (1005), nhân ngày tiết Thượng-Nguyên, xuống chiếu cho Minh-Đế tiền, khiến cùng các sứ- thần Đại-Thực và Chiêm-Thành xem rước đèn, ăn yến uống rượu. Tháng ấy, theo lời thỉnh-cầu, ban cho Hoàn một bộ Kinh Đại-Tạng. Tháng 3 năm thứ 3 (1006), Lê-Hoàn mất.


Long-Việt

Con giữa của Lê-Hoàn, nối ngôi làm vua, bị em là Long-Đĩnh giết.

Long-Đĩnh
Con út của Lê-Hoàn, giết Long-Việt mà tự lập làm vua. Anh là Long-Kim (?) nổi giận, cướp của kho chạy trốn và Long-Hộ đem binh trại Phù-Lan đánh nhau để giành ngôi. Trước đây Lê-Minh-Đế vào cống, vì nước loạn không về được, phải lưu lại ở Quảng-Châu. Tri-Châu Cao-Nhật không cấp cho nhà ở nữa. Chân-Tông xuống chiếu cho tiền 50 vạn, gạo 150 hộc và khiến tiếp tục cấp cho nhà ở. Tháng 6, quan cai-trị Quảng-Châu Lăng-Sách tâu rằng: "vâng lời chiếu-chỉ, vì Giao-Chỉ có binh loạn, khiến tôi cùng với Trị-Biên An-Vũ-Sứ Thiệu-Diệp đi kinh-lý xem việc tiện-nghi tâu về vua nghe. Chúng tôi tới Bạch-Châu, gặp Quảng-Châu-Bộ giải giao dân Giao-Chỉ bọn Hoàng-Khánh-Tập hơn 1.000 người, chúng nói Lê-Hoàn đã chết, mấy người con đều tụ tập binh mã, chia đặt trại sách, quan thuộc ly tán, nhân dân lo sợ, bọn Khánh-Tập tình nguyện xin làm tiền phong. Chúng tôi hội nghị: Nếu Triều đình y theo lời thỉnh cầu trên đây, xin lấy binh các đồn Quảng-Nam, thêm vào 5.000 quân Kinh-châu, Hồ-nam; quân thuỷ quân bộ tề tiến, có thể lập tức bình định được". Chân-Tông nói rằng: "Lê-Hoàn đã lo cống lễ, cũng thường khiến con vào chầu, bờ cõi yên ổn, vẫn giữ lòng trung thuần; nay nghe Hoàn chết, ta chưa cho người tuất điếu, lại thừa lúc có tang mà gia binh, há phải việc làm của Vương-Giả". Bèn xuống chiếu khiến bọn Sách cứ y theo lời chiếu trước, thi-hành việc an-vũ, sao cho trong nước yên tĩnh là được. Còn bọn Khánh-Tập, cứ tính theo nhân-khẩu, cấp phát lương-thực, y-phục, cho được bổ-dụng, lập thành điều-lệ, tâu lên cho vua nghe, sẽ có ân-mệnh ưu-đãi. Mặt khác, đưa thơ cho Giao-Châu dụ cho biết oai-đức của triều-đình, nếu cứ đánh giết lẫn nhau, lâu ngày không định được vương-vị, sẽ khiến một đạo quân qua hỏi tội, họ Lê sẽ tiêu-diệt không còn một người vậy. Long-Hộ sợ, bèn tôn Long-Đĩnh lên chủ việc quân. Tháng 7 Thiệu- Diệp tâu nói có công-điệp của Long-Đĩnh đến, tự xưng Tịnh-Hải-Quân Tiết-Độ Quan-Sát, Xử-Trí-Đẳng- Sứ, Kiểm-Hiệu Thái-Uý Khai-Minh-Vương; xin đến tháng 8, sẽ sai em vào cống. Tôi nghĩ Long-Đĩnh chưa chịu Chân-mệnh của nhà vua, dám tự xưng hô như thế, nên không dám phúc đáp. Vua cho là cõi xa vựa lạ, không biết thể-thống triều-đình, bèn xuống chiếu giao Thiệu-Diệp dụ khiến tước bỏ ngụy-quan, mới cho vào cống. Về việc Lê-Minh-Đế, lúc ấy còn lưu-trú ở Quảng-Châu, chiếu khiến Thiệu-Diệp cho Đế biết việc nước, nhất là tờ tâu của Long-Đĩnh và tờ dụ của triều-đình khiến bỏ xưng hiệu, và nếu muốn về, sẽ cấp tiền lương cho về. Ngày 23, Diệp dâng một bức học-đồ, chỉ rõ đường thuỷ-lục từ Ung-Châu đến Giao-Châu. Vua Chân-Tông đưa cho cận-thần xem và nói rằng: "Giao-Châu lam chướng độc địa, nếu ra binh đánh dẹp, tử-thương ắt nhiều, vả lại tổ-tông mở mang bờ cõi, rộng lớn nhường ấy, chúng ta chỉ nên giữ gìn cẩn thận mà thôi, hà tất nhọc dân động chúng, tham chỗ đất vô-dụng làm gì? Nếu trong vòng ảnh-hưởng của ta, có kẻ phản loạn, ta mới cần phải tiễu-trừ mà thôi". Thiệu-Diệp lại tâu: "Bọn Hoàng- Khánh-Tập ở Giao-Châu trước đây tránh loạn qui-thuận, thuộc dân nhiều giống, nay nếu khiến trở về, e bị sát hại, mong ban cho chúng nó ân-huệ". Vua bèn khiến làm tam ban tả chức Liễu-Châu Giám-thuế. Tháng 7 năm thứ 4 (1007) quyền An-Nam Tịnh-Hải-Quân Tiết-Độ Quan-Sát Xử-Trí lưu hậu Lê-Long-Đĩnh khiến em là Lê-Minh-Vĩnh cùng Chưởng-Thư-Ký Hoàng-Thành-Nhã vào cống. Long-Đĩnh dâng biểu xin sách Cửu-Kinh (tức là Ngũ Kinh và Tứ Thư) và một tạng Kinh-Phật. Vua y cho. Ngày 17 tháng 8, vua sắc phong Long-Đĩnh làm chức Kiểm-Hiệu Thái-Uý Tịnh-Hải-Quân Tiết-Độ-Sứ An-Nam đô-hộ, Giao-Chỉ quận-vương, Thôi-Thành công- thần, ban tên là Chí-Trung. Lại tặng Cố-Tịnh-Hải-Quân Tiết-Độ-Sứ Nam-Bình-Vương Lê-Hoàn chức Trung-Thư-Lệnh, truy phong làm Nam-Việt-Vương, ban vải, lụa, dê, rượu, làm lễ phúng điếu. Theo nghi- chế phong Giao-Châu, ban đầu chỉ trao tiết-việt, chưa cho tước vương, Chân-Tông cho rằng đối với xứ xa, cần có ân-mệnh của triều-đình, mới trấn phục được, bởi thế, xuống chiếu-mệnh đặc-cách gia-phong. Ngày 18, phong Minh-Vĩnh làm Trì-Tiết Giao-Châu Chư-Quân-Sự Phó-Sứ, Hoàng-Thành-Nhã làm Triều- Tấn đại-phu, Điện-Trung-Thừa, Tri-An-Nam-Sứ. Minh-Vĩnh lãnh chế-mệnh của anh, xin đến đền Sùng- Chính cáo tạ, vua vời vào điện, hỏi han vỗ về. Tháng 9, đúc ấn Giao-Chỉ Quận-Vương, xuống chiếu khiến Chuyển-Vận-Sứ Quảng-Nam đem qua ban cho. Tháng giêng năm đầu Đại-Trung Tường-Phù (1008), sắc- chế gia phong Chí-Trung làm Dực-Đái Công-Thần. Tháng 9, Giao-Châu-Vương tâu nói có hai người lái buôn Chân-Lạp, bị Giao-Châu-Sãnh trục xuất, trốn đến xin nhập-tịch làm dân bản châu. Chân-Tông nói: "người phương xa vì cùng đường phải chạy đến qui phụ", xuống chiếu cấp y phục, tiền bạc và khiến sứ dẫn về nước.

Tháng 12, sắc phong Chí-Trung làm Kiểm-Hiệu Thái-Uý như trước, Đồng-Bình-Chương-Sự, An- nam đô-hộ, Giao-Chỉ Quận-Vương, sung Tịnh-Hải-Quân Tiết-Độ, Quan-sát Xử-Trí-Đẳng-Sự. Tháng 12 năm thứ 2 (1009) Chí-Trung cống phương-vật, đồ vàng bạc và tê ngưu. Chân-Tông cho rằng: "tê-ngưu ở xa đem đến, không hạp tính, muốn trả lại, nhưng sợ mích lòng Chí-Trung, nên khiến sứ-giả về, rồi đem thả ra bờ biển". Chí-Trung dâng biểu cầu xin một bộ áo giáp và mão-trụ khảm vàng, vua y cho. Chí- Trung lại gửi điệp-văn cho Chuyển-Vận-Sứ cầu xin mua bán tại Ung-Châu. Chân-Tông nghĩa rằng dân bờ biển thường bị Giao-Chỉ cướp phá, theo lệ cũ chỉ cho thông thương với Liêm-Châu và trấn Như-Hồng, vì chỗ ấy là nơi khống-chế biên-thuỳ, nay nếu cho thông-thương trực-tiếp vào nội-địa thực là bất tiện. Bèn xuống chiếu khiến bản-châu cứ việc theo lệ cũ mà hiểu dụ. Tháng 3 năm thứ 3 (1010), Chí-Trung mất, có con mới mười tuổi, bị Lý-Công-Uẩn soán ngôi. Lúc ấy, sứ-thần của Chí-Trung còn ở Kinh-sư, Chân- Tông cho biết tin và nói nếu muốn để tang cũng cho phép. Sứ-giả chỉ che mặt than khóc mà thôi.

Họ Lê 3 đời, cộng được 30 năm.

An-Nam Chí-Lược Quyển Đệ Thập Nhất Chung
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1243


« Trả lời #62 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 09:00:46 PM »

An-Nam Chí-Lược
Quyển Đệ Thập Nhị
Cổ - Ái Đông-Sơn Lê-Tắc Biên

Gia-Thế Họ Lý

Lý-Công-Uẩn (tức Lý-Thái-Tổ)

Người Giao-Châu (có kẻ bảo là người Phúc-Kiến, không đúng), có tài thao lược, Lê-Chí-Trung dùng làm đại-tướng, rất thân tín. Năm Canh-Tuất, niên hiệu Đại-Trung-tường-phù thứ 3 (1010), Chí- Trung mất, con đương nhỏ, em là Minh-Vĩnh tranh ngôi, Công-Uẩn đuổi và giết Minh-Vĩnh, tự lĩnh công việc Giao-Châu, xưng An-nam Tịnh-Hải-quân quyền lưu-hậu. Chuyển-vận-sứ Quảng-tây Hà-Lượng tâu nói rằng: "Công-Uẩn có đưa giấy nói xin đưa phương vật tiến cống, xin vua xuống chiếu chỉ. Tống-Chân- Tông nói rằng: "Chí-Trung bất nghĩa mà được ngôi, nay Công-Uẩn bắt chước làm bậy, lại càng đáng ghét". Tức thì xuống chiếu khiến Hà-Lượng yên vỗ dân biên thùy, xem xét sự cơ để tâu lên. Tháng 10, sắc phong Lý-Công-Uẩn quyền chức Tịnh-hải-quân lưu-hậu; được đặc cách tiến chức Kiểm-hiệu Thái- phó, An-nam đô-hộ, tiết-độ quan-sát, sử-trí đẳng sứ, Giao-Chỉ quận-vương, thực ấp 3000 hộ, thiệt phong 1000 hộ, kiêm Ngự-sử đại-phu, Thượng-trụ-quốc, đặc biệt ân tứ cho hiệu là Suy-thành Thuận-hóa công- thần, lại cho áo cùng đồ bằng vàng và tiền tệ. Tháng 12, Công-Uẩn khiến sứ mừng lễ tế Phần-âm hậu- thổ, lại dâng biểu xin Kinh Đại-Tạng và tám thể ngự-bút. Vua y ban cho Kinh Đại-Tạng cùng Thái-Tông ngự thư, (nghĩa là chữ của vua Thái-Tông viết), một trăm bức, và ban chiếu thư khen ngợi. Tháng giêng năm thứ 4 (1011), ban tước cho bọn Lương-Nhiệm-Văn, Tiến-phụng-sứ An-nam, và khiến theo dự lễ phần-âm; ân-chế gia phong Lý-Công-Uẩn chức Đồng-Trung-Thư-Môn-hạ Bình-Chương-Sự. Tháng 4 năm thứ 5 (1012), Công-Uẩn khiến Lý-Nhân-Mỹ cống các vật vàng bạc, the lụa, sừng tê, ngà voi, được vào tâu đối ở đền Sùng-Chính. Nhân-Mỹ xin phép đi các chùa đền hành hương xem lễ và xem sư-tử của nước Thiên-Trúc tiến cống. Vua y cho và cho người đi theo. Tháng 5, ban tước cho Nhân-Mỹ. Tháng 11, ban chế-sắc gia-phong Công-Uẩn tước Bảo-tiết-thủ-chính công-thần. Mùng 10 tháng 7, xuống chiếu khiến từ nay các nước Giao-Chỉ, Chiêm-Thành, Đại-Thực, Đồ-Bà và Tam-Phật-Tề, sai sứ tiến cống, các nơi sở tại phải khiến người đón tiếp sứ-thần và các trạm quán, quan ải, phải cung cấp cho đầy đủ. Vì lúc ấy sứ- thần Giao-Chỉ tiến cống, quán trạm dọc đường, cung cấp rất sơ sài, nên mới có lệnh ấy. Ngày mồng 10 tháng 7, năm thứ 7 (1014), Công-Uẩn dâng thơ nói có quân Mán Hạc-Thác (theo Minh Sử: Nam-Chiếu cũng có tên là Hạc-Thác.)  30.000 người, từ biên giới bản-châu đến đóng trại, toan dòm ngó bản đạo, tôi đem quân mã cùng giao chiến ở Mao-Lâm, quân giặc cả thua, bắt được chủ-quân họ Dương và người ngựa của man-động. Nay khiến sứ đến cửa quyết cống 60 con ngựa, để dâng cống thắng trận. Vua vời sứ-giả đến đền Sùng-Đức, ban cho đai mão, đồ dùng theo thứ bậc. Tháng 8, Công-Uẩn tiến cống đồ thổ-sản, cầu xin giáp trụ và Kinh Đại-Tạng. Vua y cho. Tháng 12, Chuyển-Vận-Sứ Quảng-Tây Cao-Huệ-Liên dâng thơ nói Giao-Châu vào cướp trại Như-Hồng thuộc châu Khâm, bắt người và súc vật rất nhiều. Vua xuống chiếu khiến Huệ-Liên tư điệp-văn cho Giao- Châu và sai sứ theo đòi lại. Nguyên trước đây có dân Mường là Trương-Phố, lánh tội chạy đến đầu ngụ, quan cai trị Khâm-Châu là Mục-Trọng vời vào, đi đến nửa đường lại ngăn không cho vào. Đô-Tuần-Kiểm Tàng-Tự bèn khiến trại Như-Hồng khao đãi trâu rượu. Giao-Châu dò biết được việc ấy, bèn nhân đuổi bắt dân Mường, đánh cướp luôn trại Như-Hồng. Vua xuống chiếu-thư bảo các châu từ nay không được dụ vời quân mán rợ và khao đãi yến tiệc, đến đỗi sanh sự. Tháng 3 niên-hiệu Thiên-Hy năm đầu (1017), lễ Thượng-Kim-hiệu xong, phong Công-Uẩn tước Nam-Bình-vương, gia thực-ấy 1000 hộ. Tháng 5 năm thứ 2 (1018), theo lời thỉnh cầu, cho Công-Uẩn Kinh Đại-Tạng. Năm thứ 3 (1019), Công-Uẩn khiến em tên Hạc vào cống. Tháng 12, gia phong Công-Uẩn chức Kiểm-hiệu Thái-uý. Càn-hưng năm đầu, xuống chiếu gia phong Công-Uẩn chức Thái-sư, Sùng-nhơn công-thần. Vì vua Nhân-Tôn mới lên ngôi nên mới có ân- chiếu ấy. Công-Uẩn khiến Lý-Khoan-Thái vào mừng, vua thưởng cho rất hậu, rồi khiến về. Tháng 12, năm Thiên-Thánh thứ 2 (1024), gia phong cho Công-Uẩn thực-ấp, công-thần. Tháng 3 năm thứ 6 (1028), Tam-ty tâu nói: lúc làm kho vật-liệu, định giá cho người Giao-Châu, tiến nạp thuốc thơm, trị giá tiền 2760 quan. Vua xuống chiếu khiến trả cho 5000 quan, tỏ ý cưu mến người xa. Tháng 5, Chuyển- vận-sứ Quảng-Tây tâu nói: "Công-Uẩn tự tiện khiến con em và rể là bọn Thân-Thừa-Quý đem quân vào bản đạo, cướp bóc dân biên thùy. Chúng tôi nhiều lần cho theo tìm, đều không chịu thả về những người đã bị cướp đi, e lâu dần sẽ trở nên việc đáng lo cho biên cảnh. Nay chúng tôi muốn tăng thêm binh sĩ đã huấn luyện cho Bản-lộ, cùng quân sĩ Bộ tuần-kiểm, hội hợp với tráng đinh các khe động, lấy tiếng đi đòi hỏi các người bị cướp, thừa tiện kiểm tra trừ khử ác đảng. Nên hạ lệnh cho Bản-lộ thiết thực hợp sức đánh giặc, nếu bọn Thừa-Quý ra mặt kháng-cự, cố-ý giữ những người đã cướp đi, không chịu trả lại, tức thì cùng với Ung-Châu, cũng đồng phái số binh như Bản-lộ, hiệp binh tiểu trừ. Về các người bị cướp đi, chúng tôi cho bí mật dò xét trước, để sau nầy quân cướp khỏi chống chế. Nếu lời tâu thỉnh được y, chúng tôi xin lập tức thi hành.
Ngày mồng 3 tháng 3 năm thứ 6 (1028), Công-Uẩn mất, con là Đức-Chính khiến sứ đến báo tang và tự lĩnh chức Lưu-Hậu.

Lý-Đức-Chính (tức Lý-Thái-Tông)

Tên cũ là Khai-Thiên, kế tập ngôi của cha. Lúc ấy, Chuyển-vận-sứ Quảng-Tây tâu nói: "Em Khai- Thiên là Khai-Quốc triệu-tập binh-mã, thế ắt tranh ngôi, xin khiến các châu Ung, Khâm, Quảng, Huệ, tăng binh phòng thủ để ngừa việc phi thường. Vua xuống chiếu khiến Ty Quảng-Tây tạm phái tuần-kiểm các Châu Quế, Nghi, bọn Trương-Bân đem binh-sĩ bản bộ ra gần biên thuỳ phòng thủ, chờ yên tĩnh, lại về chỗ cũ. Tháng 4 năm Thiên-Thánh (Tống-Nhơn-Tông) thứ 7 (1029), Lĩnh An-nam Tịnh-Hải-quân lưu- hậu-sứ Lý-Đức-Chính tâu nói cha đã mất, tham-tá tướng-sĩ, kỳ-lão toàn trấn yêu cầu tôi quyền lĩnh châu trấn và khiến sứ vào cống. Vua xuống chiếu khiến Chuyển-Vận-sứ Quảng-Tây Chương-Tần qua điếu-tế, tặng Công-Uẩn chức Thị-Trung, truy phong Nam-Việt-Vương, phong quan cho Đức-Chính cũng như Công-Uẩn. Năm Cảnh-Hựu thứ 3 (1036), Giao-Chỉ đánh các châu Tư-Lăng, cướp ngựa trâu, đốt nhà cửa, rồi bỏ đi. Vua xuống chiếu trách hỏi, khiến bắt kẻ cầm đầu trị tội. Mùa đông tháng 12, niên hiệu Bửu- Nguyên năm đầu (1038), phong Đức-Chính làm Nam-Bình-Vương. Mùa thu tháng 9, năm đầu niên hiệu Hoàng-Hựu (1049), mán Lĩnh-Nam là Nồng-Trí-Cao đánh cướp biên thùy, Giao-Chỉ xin đem binh đánh giúp. Ban đầu Dư-Tỉnh cho thế là tiện lợi, đem vấn đề ra bàn ở triều đình. Đến lúc Địch-Thanh làm đại- tướng bèn tâu rằng: "Mượn binh ngoài để trừ giặc bên trong, chẳng phải là việc có lợi cho ta. Vì Trí-Cao giày phá hai Châu, không chế ngự nỗi, phải nhờ binh ngoại viện, giả thử binh ấy nhân đó mà dấy loạn, thì ta biết lấy gì mà chế ngự. Vậy xin bãi viện binh của Giao-Chỉ". Tháng giêng năm thứ 5 (1053), xuống chiếu đình chỉ viện binh của Giao-Chỉ theo lời thỉnh-cầu của Địch-Thanh. Năm Chí-Hoà thứ 2 (1055), Đức-Chính mất, con là Nhật-Tông nối ngôi.

(Đức-Chính ở ngôi 30 năm thì mất, thuỵ-hiệu Thái-Tông).

Nhật-Tông (tức Lý-Thánh-Tông): lên ngôi.

Nhân-Tông nhà Tống xuống chiếu phong làm Tịnh-Hải-Quân Tiết-Độ-Sứ, Giao-Chỉ quận-vương. Năm Gia-Hữu thứ 3, (1058), tiến cống một con dị-thú, gọi là lân trắng. Anh-Tông nhà Tống lên ngôi, gia phong Nhật-Tông chức Đồng-Bình-Chương-Sự. Thần-Tông tiến phong tước Nam-Bình quận-vương, gia chức Khai-Phủ-Nghi-Đồng-Tam-Ty. Năm Hy-Ninh thứ 4 (1071), Nhật-Tông mất, con là Càn-Đức khiến sứ báo tang với nhà Tống.

Càn-Đức (tức Lý-Nhân-Tông): lên ngôi.

Nhà Tống gia phong làm Giao-Chỉ quận-vương. Năm Hy-Ninh thứ 8 (1075), mùa đông tháng 11, Giao-Chỉ cướp biên cảnh, đánh hãm mấy châu Khâm, Liêm. Vua Thần-Tông nhà Tống khiến Triệu-Tiết và Nội-Thị Lý-Hiến ra đánh. Nguyên trước quan coi Quế-Châu là Trầm-Khởi, Lưu-Di nối nhau khiến quan vào hải-động, hợp thổ-binh, đặt quân bảo-giáp từng làng, lại khiến họp binh thuyền ở bờ biển, chuẩn bị tập thủy chiến, ra lệnh cấm chỉ các châu huyện không cho mua bán với người Giao-Châu. Người Giao-Châu sinh nghi, bèn cất quân chia đường vào đánh cướp, quân số 8 vạn người, tiến vây Ung-Châu. Tháng 10, hãm Khâm-Châu, đến nay lại hãm Liêm-Châu. Đánh phá thành ấp nào cũng làm tờ bố-cáo niêm yết dọc đường nói rằng: "Quân bộ hạ của ta làm phản chạy về Trung-Quốc, bọn quan lại che giấu, ta đã bố cáo với Quế-Quản, không trả lời, cho nên quân ta đuổi theo, để bắt kẻ làm phản". Lại nói rằng: "Quế-Quản điểm duyệt dân binh các khê động, có ý muốn đánh Giao-Châu". Lại nói rằng: "Trung-Quốc lập phép "thanh-miêu trợ-địch (1) làm cho nhân dân đau khổ, ta nay ra quân, muốn cứu dân khỏi khổ". An-Thạch nổi giận, sai Triệu-Tiết làm An-nam Chiêu-Thảo-Sứ điều khiển chín viên tướng tiến đánh, Lý-Hiến, Yên-Đạt làm phó. Nhưng An-Thạch lại tự tay thảo lời chế-dụ. Lời chế có câu rằng: "Thiên thị trợ thuận, ký triệu bố tân chi tường. Nhân tri hối vong, hàm hoài địch khái chí khí". Nghĩa là: "Trời tỏ lòng giúp kẻ thuận lý, đã cho thấy điềm lành. Người biết ăn-năn sự bại vong, đều quyết chí đánh giặc". An-Thạch vẫn không tin thuyết tai dĩ trong thiên Hồng-Phạm, nhưng nay thấy sao chổi, bèn suy toán cho đây là điềm dữ chiếu về Giao-Chỉ vậy. Tháng giêng, Ung-Châu bị hãm, Đô-Giám Quảng-Tây Trương-Thủ-Tiết đem quân cứu Ung- Châu đánh thua ở ải Côn-Lôn, bị tử trận. Châu bị vây 40 ngày, Tri-Châu Tô-Giam ngày đêm thân hành an ủi quân lính. Giam lấy cung Thần-tý bắn chết người Giao-Châu chẳng biết bao nhiêu mà kể. Người Giao- Châu muốn kéo đi, gặp có người dạy chất bao cát mà lên thành, thành bèn bị hãm. Tô-Giam nói rằng: "Ta giữ nghĩa chẳng chịu chết vào tay giặc". Bèn về doanh, khiến gia nhơn 36 người đều tự tử trước, giấu thây vào hầm, rồi phóng hoả tự đốt mình. Giặc đến tìm Giam không được, giết quan lại, quân dân, hơn 5 vạn người. Còn số người chết ở Châu Khâm, Châu Liêm cộng 10 vạn, thành trì đều bị phá huỷ. Lúc đầu Ung-Châu bị vây đã lâu, lương thực hết ráo, giếng ao đều cạn; đói khát sinh tật bệnh, người chết nằm gối vào nhau, thế mà dân không có ý làm phản. Sau vua phong tặng Tô-Giam chức Phụng-quốc- quân tiết-độ, đặt tên Thụy là Trung-Dũng, ban cho một khu nhà lớn ở Kinh-thành, ruộng thượng-hạng 10 khoảnh và cho bảy mươi người thân tộc làm quan, con là Tô-Nguyên làm Các-Môn-Chi-Hậu,... Châu- Sư phó-tướng, cho vào tâu chuyện nơi tiện-điện. Vua vỗ-về an-ủi rất mực và nói rằng: "Ung-Châu, nếu chẳng có cha nhà ngươi ngăn giữ, như hai châu Khâm, Liêm, giặc vừa đến đã bị phá, giặc thừa thắng ruỗi tiến, thì Tượng-Quận, Quế-Lâm đều đã thất-thủ cả rồi. Xưa Trương-Tuần, Hứa-Viễn lấy quân bì-tệ thành Thư-Dương ngăn giữ sông Giang, sông Hoài, so với cha của ngươi còn thua xa vậy".
Lúc đầu Vương-An-Thạch cầm chính-quyền, muốn lập chiến-công ở biên-thùy, lúc ấy có kẻ dâng lời bảo rằng: "Giao-Chỉ đã bị Chiêm-Thành đánh bại, binh chúng còn không đầy vạn người, có thể khắc kỳ thâu phục". An-Thạch bèn cho Trầm-Khởi ra coi Quế-Châu. Khởi ở phương nam thường làm quấy, tự chuyên chiêu họa, bị tội phải bãi chức. An-Thạch lại dùng Lưu-Dy ra thay thế. Dy đến, lại sanh sự, rồi thì người Giao- Châu vào đánh cướp. Bèn đày Khởi đi Trình-Châu, Di đi Tuỳ-Châu. Ngày mồng 2 tháng 9, lấy Quách-Quỳ làm An-nam Chiêu-Thảo-Sứ, Triệu-Tiết làm phó. Mùa đông, tháng 11, Giao-Chỉ nạp khoản (nạp lễ xin hoà-hảo).
Mùa thu tháng chín, năm đầu hiệu Nguyên-Phong (1078), Giao-Chỉ vào cống.

Triết-Tông lên ngôi, gia phong Càn-Đức chức Bình-Chương-Sự, khoảng niên hiệu Nguyên-Hựu (1086-1096), tiến tước Nam-Bình-Vương. Càn-Đức ở triều Thần-Tông hằng xâm phạm biên-cảnh. Sau trải hai triều Triết-Tông và Huy-Tông mới thôi quấy nhiễu.

Năm Tuyên-Hoà thứ 9 (2), đời vua Huy-Tông, gia-phong chức Tư-Không. Đầu niên hiệu Tĩnh- Khương (1126), Càn-Đức còn mạnh khỏe. Năm đầu hiệu Thiệu-Hưng (1131), đời vua Cao-Tông, Càn-Đức mất.

(Ở ngôi 59 năm, thụy hiệu là Nhân-Vương).

Dương-Hoán (tức Thần-Tông):

Con của Nhân-Vương, lập lên làm vua. Mùa xuân tháng 3 năm Thiệu-Hưng thứ 2 (1132), phong tước Giao-Chỉ quận-vương. Năm thứ 7, (1137) Dương-Hoán mất, ở ngôi 7 năm, thụy hiệu Thần-Vương.

--------------------------------------------------------

(1) Tân pháp của Vương An-Thạch cho dân vay lúa non.
(2) Theo "Thế Giới niên biểu" thì niên hiệu Tuyên-Hoà chỉ có 7 năm (1119-1125).

Thiên-Tộ (tức Anh-Tông).

Con của Thần-Vương, lập lên làm vua. Mùa xuân tháng 3 năm Thiệu-Hưng thứ 8 (1138), phong tước Giao-Chỉ Quận-vương. Mùa thu tháng 7 năm thứ 25 (1155), gia phong Nam-Bình-Vương, cho hai bộ áo và 6 món đồ: hoa ngự-tiên, đai vàng, trắp bạc, đồ bằng vàng thếp bạc hai trăm lượng, vải để may áo mặc 200 cây, yên cương một bộ, ngựa 2 con. Vì Thiên-Tộ tiến cống, cho nên có lệnh ban thưởng như vậy. Năm thứ 26 (1156), Thiên-Tộ khiến sứ vào cống. Mùa thu tháng 8, gia phong Kiểm-hiệu Thái-sư. Mùa đông tháng 12 năm thứ 30 (1160), dâng thuần tượng. Cao-Tông bảo các quan đại-thần rằng: "Ta chẳng muốn vì con thú lạ mà phải làm nhọc người xa, nên khiến suý-thần ra hiểu dụ: từ nay về sau, chớ đem vật ấy vào cống". Năm Long-Hưng thứ 2 (1164), đời vua Hiếu-Tông, Giao-Chỉ vào cống, được cho tên là nước An-nam (An-nam xưng quốc bắt đầu từ đó), gia phong Nam-Bình-Vương. Năm thứ 3 (1165), Thiên-Tộ mất. (Ở ngôi 39 năm, xưng Thụy-hiệu Anh-Vương).

Long-Trát (tức Cao-Tôn):

Con của Anh-Vương, lập lên làm vua. Mùa đông tháng 10 năm Thuần-Hy thứ 6 (1179), Tống-đế phong làm An-nam quốc-vương. Ngày Ất-Mão tháng 8 mùa thu năm Thiệu-Hy thứ 5 (1194), đời vua Quang-Tông, gia phong Tư-trung công-thần. Ngày Giáp-Tý tháng 12 mùa đông năm ấy, lại gia phong Tế-Mỹ công-thần. Sau oai thanh họ Lý sa sút, giặc trộm nổi dậy khắp nơi, hợp vây La-Thành, Long-Trát chạy qua Quy-Hóa-giang, nương tựa nhà Hà-Vạn. Nhờ ngoại-thích anh em họ Trần hộp hương-binh dẹp loạn, rước vua về cung. Ngày quí-dậu mùa hạ, tháng 5 năm Gia-Định thứ 5 (1212) đời vua Tống-Ninh- Tông, Long-Trát mất, nhà Tống khiến sứ qua điếu. (Long-Trát ở ngôi 30 năm, thụy-hiệu Cao-Vương, con là Hạo-Sám nối ngôi).

Hạo-Sám (tức Huệ-Tông)

Lúc ấy tướng giặc châu Quốc-Oai là Nguyễn-Niên, xưng hiệu Kim-Thiên Đại-vương, cùng với người Hồng-Lộ là Đoàn-Ma-Lôi nổi dậy làm phản. Trần-Thừa cùng em là Kiến-Quốc đánh không yên được, bèn giảng hoà với Ma-Lôi, hộp sức đánh Niên, bị Niên đánh bại. Sau Niên chết, loạn mới yên, Thừa có công đánh giặc, xin cho con kết hôn với công-chúa Chiêu-Thánh. Vương bằng lòng. Hạo-Sám không có con trai, lập Chiêu-Thánh nối ngôi, lui ở chùa Chơn-Giáo học phật rồi mất. Ở ngôi 16 năm, thụy-hiệu Huệ-Vương.

Chiêu-Thánh:

Lên ngôi được một năm, năm Canh-Dần (1230) trao quốc-chính cho chồng là Trần-Nhật-Cảnh. Tất cả tôn-thất nhà Lý và bình-dân họ Lý đều khiến đổi ra họ Nguyễn để dứt lòng dân trông nhớ.

Lúc nhà Lý truyền ngôi được ba đời, Vương-Võ-Xứng nhà Tống làm sách Đông-đô-sự-lược Giao- Chỉ phụ-lục có nói rằng: "Lê-Hoàn cướp họ Đinh, truyền ba đời thì nước mất. Công-Uẩn cướp họ Lê đã mấy đời còn được yên, há chẳng phải may hay sao?". Nay họ Lý truyền ngôi tám đời hơn 220 năm. Huệ- Vương không con, truyền nước cho rể. Đến nay họ Lý vẫn được tế-tự luôn luôn, kể sứ may thì may biết bao nhiêu?.

An-Nam Chí-Lược Quyển Đệ Thập Nhị Chung
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1243


« Trả lời #63 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 09:18:28 PM »

An-Nam Chí-Lược
Quyển Đệ Thập Tam

Cổ - Ái Đông-Sơn Lê-Tắc Biên

Gia-Thế Họ Trần
Đời thứ nhứt (tức Trần-Thừa)

Người Giao-Chỉ, ngoại-thích của nhà Lý. Cuối cuộc loạn đời Lý, Trần-Thừa cùng em là Kiến-Quốc đánh giặc có công, được phong chức Thái-Uý; Kiến-Quốc được làm đại-tướng-quân. Con trai lấy con gái của Lý-Huệ-Vương là Chiêu-Thánh, nhân đó được truyền ngôi (Thừa chết, truy tặng Thái-Tổ).

Đời thứ hai (tức Trần-Cảnh)

Con giữa của Thái-Tổ, tính người khoan nhân thông tuệ, văn võ toàn tài, lấy tư cách con rể nhà Lý kế vị quốc-vương. Chiêu-Thánh-Hậu không con. Cảnh lại lấy người em vợ (1) sinh được ba người con trai. Đầu đời Thiệu-Định (1228-1233) nhà Tống khiến sứ tiến cống, Lý-Tông phong làm An-nam quốc- vương chức kiểm-hiệu thái-úy, kiêm Ngự-sử đại-phu, Thượng-trụ-quốc, cho hiệu là Hiệu-Trung Thuận- Hoá, bảo-tiết thủ-nghĩa, hoài-đức qui-nhân, Tịnh-hải-quân tiết-độ, quan-sát xử-trí đẳng sứ, thực ấp 11.000 hộ, thật phong 4200 hộ. Năm Bửu-Hựu thứ 6 (1258), dâng biểu xin kế vị. Năm Cảnh-Định thứ hai (1261), lại khiến sứ tiến cống. Vua Tống xuống lời dụ chiếu khen và sai sứ-thần đem cho vàng và pháp- cẩm (2).

Tháng 12 năm Đinh-Tỵ (1257), đời Đại-Nguyên, đại-súy Ngột-Lương-Hộp-Đãi đem binh từ Vân- nam đi qua biên-ấp An-nam. Người trong nước kháng cự, bị quan quân đánh phá, sợ phải đầu hàng. Qua năm Mậu-Ngọ (1258) Vương đổi tên là Quang-Bính, khiến bồi-thần (3) dâng biểu nạp khoản, xin giữ chức phận phụng công. Năm ấy, Vương nhường ngôi cho con tức Thánh-Tông. Năm Trung-thống thứ 6 (4), sắc- chế phong làm An-Nam Quốc-Vương và ban cho hổ-phù quốc ấn. Năm Chí-Nguyên thứ 8 (1271) khiến sứ tiến cống. Triều-đình khiến sứ đem chiếu-thư, dụ khiến An-nam phải ba năm một lần tiến cống, sẽ cho lễ-vật hồi đáp và dụ Trấn-Vương vào bệ kiến. Vương lấy cớ đương đau từ chối. Năm Chí-Nguyên thứ 14 (1277), Trần-Vương mất. Ở ngôi 18 năm (5) thọ 60 tuổi, thụy-hiệu Thái-Vương.

Đời thứ ba (tức Trần-Hoảng):

Trần-Hoảng tức Trần-Thánh-Tông, trước đặt tên là Thế (6), con thứ vua Thái-Vương, dáng người khôi ngô có nhã lượng. Năm Mậu-Ngọ (1258) thay cha già lên làm vua, khiến sứ tiến cống nhà Tống. Khoảng niên hiệu Bửu-Hựu (1253-1258) Tống-Lý-Tông phong làm An-nam quốc-vương. Lúc đầu cha con đều thần-phục thiên-triều, đến lúc cha mất, Thế-Tử tự lập làm vua, chẳng xin mệnh lệnh của Thiên-Tử.

Năm Chí-Nguyên thứ 15 (1278), vua (vua nhà Nguyên), khiến Lễ-Bộ Thượng-thư Sài-Thung dụ vào bệ kiến. Thế-Tử lấy cớ đau từ chối và truyền ngôi cho con. Năm thứ 17 (1280), vua lại khiến Sài-Thung đem chiếu-thư qua dụ. Thế-Tử sợ, khiến người chú là Trần-Di-Ái thay mình vào chầu, bèn lập Di-Ái làm An- nam quốc-vương. Năm thứ 19 (1282) phong Sài-Thung làm An-nam Tuyên-uý-sứ Đô-nguyên-soái, khiến đem 1000 quân, hộ tống Di-Ái về nước và xuống chiếu hiểu dụ dân An-nam, các hàng tôn-thất và quan lại. Thế-Tử không vâng theo chiếu-chỉ, truất Di-Ái làm thứ dân. Năm thứ 19 (1282), lại khiến sứ dụ Thế- tử vào triều kiến và mượn đường tiến binh đánh Chiêm-Thành, khiến An-nam phải giúp quân, cung cấp lương thực. Thế-Tử từ chối, nói đau lâu ngày, không thể vào chầu và nước nhỏ không có quân để giúp. Mùa đông tháng 12 năm thứ 21 (1284), đại-quân của Trấn-Nam-Vương áp đến biên cảnh. Thế-Tử đem cả nước nghênh địch, đánh thua, bèn bỏ thành trốn, cận-thần bọn Trần-Ích-Tắc, Trần-Kiện, Trần-Tú- Viên, Trần-Văn-Lộng đều đầu hàng. Tháng 4 năm sau (1285) quốc-dân thừa lúc viêm nhiệt, đánh thâu phục La-Thành. Tháng 5, Trấn-Nam-Vương, vì cớ nước lụt, rút quân về. Năm thứ 21 (1284) Thế-Tử dâng biểu tạ tội. Triều-đình giam sứ-thần lại và khiến Trấn-Nam-Vương đem quân qua đánh một lần nữa. Tháng 12 đại-binh đến, Thế-Tử đánh thua, chạy trốn ra hải-đảo, sau lại thừa tiện trở về tập kích. Tháng 3 năm sau Trấn-Nam-Vương, vì cớ trời nắng, ẩm thấp, rút quân về. Thế-Tử khiến con thay mình vào tạ tội (7) , tiến cống thổ-sản. Năm thứ 27 (1290), lại khiến sứ tiến cống, vua khiến đề-hình án-sát ty bọn Lưu- Đình-Trực đem chiếu-thư qua hiểu dụ. Năm sau (1291) Thế-Tử mất. Ở ngôi 31 năm, thọ 51 tuổi, thụy-hiệu Thánh-Vương.
--------------------------------------------------------------------------------
1 Chị vợ chứ không phải em vợ, tức bà Thuận-thiên Công-chúa, vợ của Trần Liễu.
2 Gấm để may y phục theo pháp-chế.
3 Sứ thần thuộc quốc gọi là bồi thần.
4 Trung Thống chỉ có 4 năm (1260-1263).
5 Trần Thái Tông chỉ làm vua từ năm Ất Dậu (1225) đến năm Mậu Ngọ (1258), cộng 33 năm, ở đây chép 18 là sai.
6 "Thế" có lẽ sai nhầm, các sử sách về Việt Nam chép là "Hoàng".
7 Theo sử ta, thì việc nầy không có.
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1243


« Trả lời #64 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 09:19:20 PM »

Đời thứ tư (tức Nhân-Tông)

Năm Chí-Nguyên thứ 15 (1278), lấy cớ cha già thoái-vị, dâng biểu xin kế tập, vua không cho. Năm thứ 28 (1291) vua khiến Lễ-Bộ Thượng-thư Trương-Lập-Đạo dụ vào triều kiến. Năm sau, (1292) Nhân-Vương khiến bồi-thần đến cửa khuyết tạ lỗi và xin chờ hết tang cha sẽ vào chầu. Năm thứ 30 (1293) vua khiến bọn Lương-Tăng, Binh-Bộ Thượng-thư, dụ vào bệ-kiến, Nhân-Vương lấy cớ đau từ chối, khiến tướng-thần Đào-Tử-Kỳ tiến cống. Triều-đình giữ Tử-Kỳ ở Giang-Lăng, lập An-nam hành-tỉnh, khiến bọn Bình-Chương Lưu-Nhị Bạt-Đô đem binh đóng Tĩnh-Giang, chờ ngày tiến đánh. Mùa xuân tháng giêng năm thứ 31 (1294), Thế-Tổ băng hà. Tháng tư mùa hạ, Thanh-Tông hoàng-đế lên ngôi, xuống chiếu bãi binh, khiến Lễ-Bộ Thị-Lang Lý-Hãn đem chiếu-thư tha tội, thả bồi-thần Đào-Tử-Kỳ về nước. Năm Nguyên-Trinh thứ hai (1296), Nhân-Vương khiến sứ tiến cống, dâng biểu xin phong vương-tước. Triều- đình không y thuận, chi cho một bộ Kinh Đại-Tạng theo lời xin. Năm Đại-Đức thứ 5 (1301), vua khiến bọn Thượng-thư Ma-Các-Ma đem sứ An-nam bọn Đặng-Nhữ-Lâm về nước, dụ An-nam theo lệ trước, ba năm một lần tiến cống, đến kỳ cứ tự vào, Triều-đình không sai sứ qua nữa. Mùa xuân năm sau (1302), Nhân-Vương khiến Lê-Khắc-Phục vào cống. Năm đầu Chí-Đại (1308) lại khiến sứ vào cống, triều-đình khiến bọn An-Lỗ-Oai, Lễ-Bộ Thượng-thư, ban chiếu lên ngôi của Vũ-Tông Hoàng-đế. Sứ-thần đến, Nhân- Vương đã mất. Ở ngôi 15 năm, thọ 53 tuổi, thụy-hiệu Nhân-Vương. Lúc đầu học đạo Phật, thình lình một ngày, thoạt giác-ngô.

Đời thứ năm (tức Anh-Tông):

Anh-Tông kế lập, khiến sứ vào cống, chúc mừng Võ-Tông Hoàng-Đế lên ngôi. Năm Chí-Đại thứ 4 (1311) lại khiến sứ vào cống. Mùa đông năm ấy, triều-đình khiến bọn Nãi-Mã-Thái, Lễ-Bộ Thượng-thư, qua tuyên dụ tờ chiếu lên ngôi của vua Nhân-Tông Hoàng-Đế. Sứ thần đến, Anh-Vương đương đem binh đi đánh Chiêm-Thành và bắt được vua nước ấy. Đến tháng 6 năm Nhâm-Tý (1312) niên-hiệu Hoàng- Khánh, quân mới trở về, bèn nghênh bái chiếu-thư, khiến sứ cống mừng và dâng biểu xin lỗi. Đầu năm Diên-Hựu (1314) triều-đình cho lễ-vật hồi đáp. Năm Diên-Hựu thứ 6 (1319) Vương tạ thế, thụy-hiệu Anh- Vương.

Đời thứ sáu (tức Minh-Tông):

Minh-Tông nối ngôi. Năm Diên-Hựu thứ 7 (1320) khiến sứ tiến cống. Năm đầu hiệu Chí-Trị (1321), Anh-Tông Hoàng-đế lên ngôi. Minh-Vương khiến sứ tiến cống, mừng lễ đăng-quang. Năm đầu hiệu Thái-Định (1324), khiến Lại-Bộ Thượng-Thư Mã-Hiệp-Mưu, Lang-Trung Dương-Tông-Thụy đem chiếu thư qua dụ. Minh-Vương khiến sứ tiến cống. Năm đầu hiệu Chí-Thuận (1330), lại tiến cống. Năm sau (1331), triều-đình khiến bọn Sát-Chỉ-Ngoả, Lại-Bộ Thượng-thư, qua tuyên chiếu-thư lên ngôi của Văn-Tông Hoàng-đế. Năm sau (1332), khiến sứ tiến cống, mừng lễ đăng-quang. Năm đầu hiệu Chí- Nguyên (1335), triều đình khiến bọn Thiết-Trụ, Lại-Bộ Thượng-thư, qua tuyên chiếu-thư lên ngôi của Hoàng-đế hiện nay. Lúc ấy, Anh-Vương đã truyền ngôi cho con, lui về học đạo, xưng hiệu Thái-Hư-Tử. Phàm những biểu-chương tiến cống còn vẫn dùng tên cũ. Năm Chí-Nguyên thứ 5 (1339) lại khiến sứ tiến cống.
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1243


« Trả lời #65 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 09:22:13 PM »

Các Vương-Hầu Nội-Phụ


Trần-Ích-Tắc:

Con thứ 5 của Thái-Vương, thông minh tuấn-tú, có tính hiếu học. Lúc ở nước nhà, được phong tước Chiêu-Quốc-Vương, kiêm chức Đại-tướng-quân, trấn giữa lộ Đà-Giang. Mùa đông, năm Giáp Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), đại-binh của Trấn-Nam-Vương tiến vào biên-giới, anh là Thế-Tử, đem cả nước chống địch, bị thua chạy. Năm sau, (1285) Ích-Tắc đem gia-quyến đầu hàng Trung-Quốc. Tháng 5, theo Vương sư về Tàu. Mùa thu vào bệ kiến. Mùa xuân tháng 2, năm Bính-Tuất hiệu Chí-Nguyên (1286), vua Thế-Tổ thương Tắc có lòng trung hiếu, đặc ân phong cho tước An-nam-vương, quang-lộc đại-phu, ban cấp phù ấn, cho tiền 5.000 quan. Con trưởng tên Bá-Ý, được phong chức Gia-Nghị đại-phu, lĩnh An-Vũ- Sứ lộ Đà-Giang (hư chức), ban cho áo mũ, cung tên, yên cương và ngựa. Năm Đinh-Hợi (1287) được chi cấp nguyệt-bổng, mùa đông theo quân về nước. Tháng giêng năm sau (1288), đại-binh đánh quốc-đô, Thế-Tử chạy trốn, quan quân tìm đánh không được. Tháng 3, Trấn-Nam-Vương vì viêm-nhiệt và ẩm- thấp rút về. An-nam quốc-vương (tức Ích-Tắc) theo đại-quân về đất Ngạc. Mùa thu vào bệ kiến, được cấp áo nệm và cho tiền một vạn quan. Đến năm Nhâm-Thìn (1292), lại được gia chức Hồ, Quảng Đẳng- xứ Hành-Trung-Thư-Sảnh, Bình-Chương Chính-Sự. Năm Quý-Tỵ (1293), mới khiến sứ dâng biểu, mừng tiết Thiên-Thọ. Mùa xuân năm Giáp-Ngọ (1294), đem quân qua đánh nước Nam, nhưng lại bãi binh, về ở Ngạc-Châu. Mùa hạ tháng 4, Thành-Tông hoàng-đế lên-ngôi, vào bệ-kiến, được cho tiền 5 vạn quan. Năm Tân-Sửu (1301), hiệu Đại-Đức lại vào bệ-kiến, được ban tiền 5 vạn và cho các quan tùy thuộc 5.000 quan. Tháng giêng mùa xuân năm Ất-Tỵ (1305), khiến sứ đến Kinh-đô, dâng thỏ bạch. Vua vời sứ vào đến Ngọc-Đức uỷ-lạo và cho của nội-phủ đại-tử-kim-đoạn hai cây để đáp lễ. Năm Bính-Ngọ (1306) vua ban cho Ích-Tắc 200 khoảnh ruộng và các thuộc quan bọn An-Phủ-sứ Vương-Nghị 200 khoảnh ruộng. Mùa thu năm Đinh-Tỵ (1307), Trần-Ích-Tắc khiến Lại-Ích-Qui và Lê-Tắc dâng biểu mừng Vũ-Tông Hoàng-đế lên ngôi. Lúc Hoàng-Thái-Thử chính vị đông-cung, Ích-Tắc có vào yết-kiến. Năm Mậu-Thân, niên-hiệu Chí-Đại (1308), Ích-Tắc được gia-phong chức Ngân-Thanh-Vinh-lộc đại-phu và được ban cho 150 lượng bạc. Tháng ba mùa xuân năm Tân-Hợi (1311), Nhân-Tông hoàng-đế lên ngôi. Mùa thu Ích- Tắc dâng biểu mừng. Năm Nhâm-Tý (1312) hiệu Hoàng-Khánh, Ích-Tắc vào bệ-kiến được gia-chức Kim- tử quang-lợi đại-phu, cho tiền 50.000 quan, đai vàng một chiếc, kim-đoạn bốn cây. Năm Mậu-Ngọ (1318) hiệu Diên-Hựu, vào bệ-kiến được gia chức Nghi-đồng tam-ty. Tháng ba mùa xuân năm Canh-Thân (1320) Anh-Tông Hoàng-đế lên ngôi; Ích-Tắc khiến sứ dâng biểu mừng, được ban lễ vật hồi đáp. Năm Mậu-Thìn (1328), hiệu Thiên-Lịch, Văn-Tông hoàng-đế lên ngôi, dâng biểu mừng, được ban thưởng rất hậu. Tháng 4 năm sau (1329) Ích-Tắc qua đời, hưởng thọ 76 tuổi, an-táng ở núi Hạ-Gia, đất Hán-Dương. Hồ-Quảng Hành-Tỉnh tâu lên triều-đình, Hoàng-đế thương lòng trung-nghĩa, truy tặng thụy-hiệu Trung- Ý-Vương, cho tiền 5.000 quan làm lễ phúng điếu. Ích-Tắc tính ưa đạo Phật, Lão, làm thơ hay, có cho ra đời tập thơ Củng-Cực-Lạc-Ngâm (1). Năm Giáp-Tuất (1334), hiệu Nguyên-Thống, con là Tuyên-vũ-sứ Trần-Đoan-Ngọ, vào bệ-kiến, Hoàng-đế đương-kim khiến tập tước cha làm An-nam quốc-vương, được ân sủng rồi trở về.

----------------------------------------------------------
1 Củng Cực nghĩa là triều cũng ngôi. Hoàng cực, tức qui thuận Hoàng đế nhà Nguyên.
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1243


« Trả lời #66 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 09:25:17 PM »

Trần-Tú-Viên:

Cháu gọi An-nam quốc-vương bằng bác, con của Vũ-Đạo-Hầu, dáng người thanh tú, có tài văn- chương. Mùa đông năm Giáp-thân, niên-hiệu Chí-Nguyên (1284), đại binh đến An-nam. Mùa xuân năm sau (1285), Tú-Viên khuyên cha mẹ qui thuận. Tháng 4 vào bệ kiến. Lúc bỏ nước ra đi, dọc đường gia- quyến bị tử-vong hết tám người, làm thơ ai-điếu có câu:

"Tam thế bát tang thiên-cổ thống,
Nhất thân vạn lý bách niên cô".
nghĩa là:

Ba đời chịu tám tang, đau thương nghìn thuở,
Một mình ngoài muôn dặm, cô quạnh trăm năm.

Tháng 9 đến Kinh-Sư, Hoàng-thượng ngợi khen và xuống chiếu phong làm Phụ-Nghĩa-Công, Tư- Thiện-Đại-phu, cấp hổ-phù, cho tiền 5.000 quan, cho người con là Đứ-Tiệm làm chức Tuyên-vũ-Sứ An- nam Phủ-Lộ, Gia-Nghị đại-phu. Người em cô cậu là Lại-Ích-Qui làm chức An-vũ-sứ Nam-Sách Giang-Lộ, Gia-Nghị đại-phu. Năm Ất-Hợi, hiệu Chí-Nguyên (1335), các người đều được cho cung tên, tiền bạc, yên ngựa để đi theo quân qua đánh An-nam. Năm sau, (1336), trở về Hán-Dương. Trấn-Nam-Vương cưới người em gái làm thứ-phi, sinh được hai con. Tháng 5 năm Ất-Sửu (1) hiệu Chí-Nguyên, Tú-Viên mất ở Túy- Sơn? Viên có tập ngâm-cảo truyền đời, lúc đầu ngụ ở Vũ-Xương.

Trần-Văn-Lộng:

Con của Nhân-Thành-Hầu, Trần-Duyệt, cháu nội của quốc-thúc thái-sư Trần-Thủ-Độ, ở nước nhà được phong tước Chương-Hoài-Thượng-Hầu, tính người khiêm tính ôn hoà, được quốc-vương dùng làm đại-tướng, trấn thủ sông Tam-đái. Mùa đông năm Giáp-Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), đại binh của Trấn-Nam-Vương đến An-nam. Năm sau, (1285), Văn-Lộng đem gia-quyến nội-phụ Thiên-triều, được cho làm chức Gia-Nghị đại-phu, Tuyên-Vũ-Sứ Qui-Hoá Giang-Lộ, cho tiền, lụa, cung tên, yên ngựa, theo quân đánh dẹp, hiệu lực có công. Năm Tân-Mão, hiệu Chí-Nguyên (1291), vào triều-kiến được tuyên mệnh thăng Trung-đại-phu, Tuyên-Úy-Sứ Quảng-Tây-đạo, cho tiền 25.000 quan, kim-đoạn hai cây. Năm Bính- Ngọ, hiệu Đại-Đức (1306), đình chỉ cấp lương tháng cho thuộc-liêu, cho ruộng 100 khoảnh để tự dưỡng. Năm Nhâm-Tý hiệu Hoàng-Khánh (1312), vào yến-kiến, chuyển qua ngạch Chánh-Phụng đại-phu, chức như cũ. Tháng 2 năm sau, (1313), Văn-Lộng mất, chôn ở hồ Mã-Gia đất Hán-Dương, con cháu phụng thờ chẳng dứt.

Trần-Kiện

Con của Tịnh-Quốc-Vương, cháu nội của Thái-Quốc-Vương, ở bản quốc được phong Chương- Hiến Thượng-Hầu, tướng mạo khôi ngô, đọc thuộc binh-thư, giỏi việc bắn cung, cỡi ngựa, thay cha lĩnh chức Tịnh-hải-quân Tiết-Độ-sứ, cưới nàng Quỳnh-Huy, con gái Thái-Sư Chiêu-Minh-Vương, sinh con là Mặc-Hầu. Năm Giáp-Thân, hiệu Chí-Nguyên (1284), nhân cùng con của Thế-Tử là Tá-Thiên-Vương có hiềm khích, giả thác theo học đạo Trang, Lão, về làng Nhân-Mục ẩn-cư. Mùa đông năm ấy, đại-quân Trấn-Nam-Vương vào nước, Thế-Tử đánh thua. Hữu-Thừa Toa-Đô lại từ Chiêm-Thành đánh tập hậu, Thế-Tử hoảng hốt, không tính được chước gì, bèn khởi phục Trần-Kiện, khiến đem quân cự Toa-Đô. Sức yếu, không có viện binh, Thế-Tử thì mất còn chưa biết, Kiện bảo với bọn Lê-Tắc rằng: "Thế-Tử bị Thiên- Tử chỉ triệu, chẳng chịu vào chầu, đến đỗi gây việc binh đao, nguy-cơ sắp đến, thế mà còn chấp mê, chẳng tỉnh ngộ, nỡ để cho nhà tan nước mất hay sao?". Tháng giêng năm sau (1285), Kiện đem bọn Lê- Tắc vài vạn người, dâng binh-khí xin hàng. Trấn-Nam-Vương khen ngợi và ban thưởng xiêm áo, yên cương. Mùa hạ tháng 4, Vương khiến Minh-Lý-Tích-Ban dẫn bọn Chương-Hiến vào ra mắt Thiên Tử.

Ngựa trạm đến ải Chi-Lăng, bị quốc dân ngày đêm vây đánh. Bọn Chương-Hiến cùng các quan bồi-bạn phá vòng vây chạy ra đàng trước, lại bị chúng đón đánh, xe cộ chở lương-thực đều bị cướp phá sạch. Chương-Hiến tính người khiêm cung nhã-lượng, đãi kẻ dưới rất có ơn, nhân dân ai cũng thương mến, chẳng may giữa đường tử nạn, không đem được việc mình tâu với triều-đình, chẳng được hưởng ơn điển sinh phong tử tặng. Lúc ở nước ra đi, có bà quốc-mẫu-cô Lê-Thị và mấy người thân quyến cùng đi, đều bị quốc-dân bắt giết, đau đớn biết chừng nào. Chỉ có ông ngoại là thân-huynh của Thế-Tử được thoát chết.
------------------------------------------------------------------
(1) Niên hiệu Chí Nguyên không có năm Ất Sửu, có lẽ là năm Kỷ Sửu (1349) mà chép sai, vì chữ "Ất" và chữ "Kỷ" hơi giống nhau.


An-Nam Chí-Lược Quyển Đệ Thập Tam Chung
Logged
lonesome
Moderator
*
Bài viết: 1243


« Trả lời #67 vào lúc: 20 Tháng Ba, 2009, 01:53:22 AM »

An-Nam Chí-Lược
Quyển Đệ Thập Tứ
Cổ - Ái Đông-Sơn Lê-Tắc Biên

Học Hiệu

Triệu-Đà làm vua Nam-Việt, mới lấy thi, lễ giáo-hóa nhân-dân một ít. Cuối đời Tây-Hán, Tích Quang cai-trị Giao-chỉ Nhâm-Diên cai trị Cửu-Chân, dựng nhà học-hiệu, dạy dân noi theo nhân nghĩa. Thời Hán, Đường, thường cống những người tiến-sĩ minh-kinh (những người học hành thông-thái) như bọn Lý-Cấm, Trương-Trọng, Khương-Công-Phụ,... Đến đời Tống, An-nam lập thành Quốc-Gia, họ Lý đặt phép khoa-cử ba năm một kỳ thi, lấy trạng-nguyên, bảng-nhãn, Thái-hoa-lang, thành ra điển-lệ. Những người thi đậu được ban cấp áo mão, võng ngựa vinh-qui.

Quan-Chế

Từ nhà Đinh trở về sau, mới chịu vương-tước của nhà Tống gia-phong. Nhưng ở trong nước tự đặt danh-hiệu, bắt chước việc cũ của Triệu-Đà, tự phong trong nước có vương, hầu; đặt quan có "chánh", có "tiếp", cũng giống như "phẩm" và "tòng" vậy.

Vương                                        Tự-vương

Thượng-Hầu                                 Hầu

Tiếp hầu (sau tước Hầu một bậc)

Nội-Minh-Tự (các quan hầu cận thêm chữ "Nội" lên trên)
Minh-tự                                        Tiếp-Minh-Tự
Nội-đại-liêu-ban                             Đại-liêu-ban

Đại-liêu

Thân-vương-ban (danh tước của thân thuộc vua)
Nội-ký-ban                                     Ký-ban
Nội-Chư-Vệ                                    Chư-Vệ

(trên đây xen lẫn cả văn cả võ)

Văn   : Nội-viên-ngoại-lang   Viên-ngoại-lang
Võ   : Nội-lang-tướng   Lang-tướng
Văn   : Nội-lệnh-thư-gia   Lệnh-thư-gia
Võ   : Nội-thượng-ban   Thượng-ban
Võ   : Nội-thượng-chế   Thượng-chế
Võ   : Nội-Cung-phụng   Cung-phụng
Võ   : Nội-Thị-Cầm   Thị-Cầm
Văn   : Hiệu-thư-lang, quyền miễn cung-hậu thư-xá. (chữ "xá" có chỗ viết chữ "gia").
Võ   : Nội-trực-điện   Trực-điện
Văn   : Cung-hậu xá-nhân   Thư-Xá
Văn   : Xá-nhân   Sư-Ông
Võ   : Tá-chức   Tá-chức-quan
Văn   : Đô-tào   Binh-tào

Tể-thần tiếm-hiệu.

Thái-Sư   Thái-uý-bình-chương-sự

Thái-phó   Thái-bảo
Phụ-quốc   Thiếu-sư
Thiếu-bảo   Thiếu-phó
Tả, Hữu-bộc   Tham-tri-chính-sự

Võ-Soái

Đô-Nguyên-Soái   Tiết-Độ-sứ

Đại-tướng-quân   Phó-nguyên-soái

Phó-Tiết-độ   Phó-tướng-quân

(Mấy chức trên nầy, chỉ dùng người tông-tộc nhà vua) Nội-điện-tiền-chỉ-huy-sứ   Chiêu-thảo-sứ
Thiên-tướng   Tỳ-tướng

Văn-Chức
Ngự-sử-đài-quan         Hàn-lâm-viện-quan
Kiểm-pháp-quan          An-Vũ-Sứ
Thượng-Thư               Đông-Thượng-Các-Môn
An-Vũ-phó-sứ                                         sứ
Tam-ty-viện quan-nhân:
1. Tuyên-thanh
2. Túc-hiến
3. Hình-chánh
(tức là nơi xử kiện tụng)
An-Vũ-Ty quan-nhân.

Cận-Thị-Quan

Nhập-nội phán-thủ-hầu (quản lãnh các quan hầu cận).

Thượng-phẩm-hầu.

Thượng-phẩm minh-tự.

Thượng-phẩm đại-liêu-quan-ban.

Thượng-phẩm phụng-ngự

Trung-phẩm phụng-ngự

Hạ-phẩm phụng-ngự       Thị-vệ-nhân hỏa-đầu

Thị-vệ-nhân dũng-thủ     Thị-vệ-nhân

Phân-quyền-nhân

Thái-sư Thái-uý nha đô-quan (tức là những chức phụ, lấy các viên Minh-tự sung vào).
Vương-hầu-gia-hành-khiển (quyết-vệ, nội-thị)
Vương-hầu-nha-quản-giáp (cũng giống chức hành-khiển, một văn-chức, một vũ-chức, đều có đặt quản-hầu).

Phương-Trấn

Thượng-lộ trại-chủ (lấy các quan hầu và Minh-tự làm chức ấy).

Phó trại-chủ (tục gọi là Hành-Khiển hay Thượng-thư, lấy các quan Minh-Tự, Đại-liêu làm chức ấy).

Tri-châu   Quan-sát

Sát-hải   Áp-ngục-quan

Trấn-Át

Thể-tập hương-ấp quan (quan làng, đời đời kế tập)

Quản-giáp (Có thượng, trung, hạ, ba bậc, lấy các quan đại-liêu, lang-tướng làm chức ấy).

Đại-Toát   Tiểu-Toát

Chủ-đô

Phán-cung

(Học-quan, dùng các học-sĩ thi hỏng làm, để dạy học-trò).

Tăng-quan (Chức sắc nhà chùa)

Quốc-sư   Tăng-thống Tăng-lục   Tăng-chính Đại-hiền-quan

Đạo-quan (Chức sắc các thầy pháp)

Đạo-Lục   Uy-nghi      Đô-quan
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Ba, 2009, 02:02:53 AM gửi bởi lonesome » Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM