Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 31 Tháng Năm, 2020, 03:29:17 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn  (Đọc 87234 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #170 vào lúc: 25 Tháng Hai, 2009, 11:36:23 pm »

- Mặc dù mất đi nhiều ưu thế khi không còn đóng vai trò là trung tâm chính trị của đất nước, mảnh đất Đại La - Thăng Long - Hà Nội vào cuối thế kỷ X đã tự tìm cho mình một con đường phát triển mới. Dáng vẻ của một đô thị đang trên đường hình thành. Sự phồn thịnh của kinh tế đã làm cho khu vực này ngày càng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhà nước Đại Cồ Việt thời Tiền Lê. Mặt khác, Đại La cũng tự tích luỹ cho mình nguồn nội lực cần thiết làm tiền đề cho quá trình phát triển ở một tầm cao mới khi trở thành kinh đô của một quốc gia tự chủ dưới thời Lý.

- Bên cạnh đó, có thể thấy những dấu ấn của Lê Hoàn ở Đại La cũng như các chính sách mà ông thực hiện đã phần nào thể hiện vị thế của mảnh đất này đối với triều đình và nhà nước thời Lê. Vậy phải chăng vị thế ấy chính là tiền đề cho quyết định dời đô của Lý Công Uẩn?

Xét ở một khía cạnh khác thì chúng ta phải thừa nhận rằng lịch sử của Hà Nội trong suất quá trình tồn tại và phát triển của mình luôn gắn liền với vận mệnh của dân tộc. Do đó, quá trình dời đô từ Hoa Lư đến Đại La- Thăng Long cũng không thể nào tách rời khỏi sự phục hưng đất nước kể từ khi giành quyền tự chủ sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc.

Như vậy, sự kiện định đô Thăng Long là kết quả tất yếu của dòng chảy lịch sử, của một quá trình phát triển qua các triều đại Ngô - Đinh và Tiền Lê, của xu thế vươn lên của cả dân tộc mà Lê Hoàn chính là một trong những người góp phần to lớn vào quá trình ấy. 

Dẫu biết rằng việc tìm lại diện mạo của khu vực Đại La cuối thế kỷ X qua việc khảo sát các di tích, tiềm thức dân gian là công việc vô cùng khó khăn bởi trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, những dấu tích xưa giờ đây đã trở nên phai nhạt. 

Những hiểu biết trên đây mới chỉ là những nhận thức ban đầu về bối cảnh Đại La trước thời kỳ định đô. Điều đó đòi hỏi cần có những nghiên cứu sâu sắc và kỹ lưỡng hơn nữa. Có như vậy thì việc hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó.
Các di tích liên quan đến thời kỳ Tiền Lê ở Hà Nội:

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #171 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:30:54 pm »


HOA LƯ VÀ THĂNG LONG QUA TƯ LIỆU KHẢO CỔ HỌC

PGS. TS. Tống Trung Tín
Viện Khảo cổ học. Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Hoa Lư là kinh đô của Đại Cồ Việt dưới thời Đinh và thời Tiền Lê trong 42 năm (968 - 1010).

Thăng Long là kinh đô của Đại Việt kể từ khi Lý Thái Tổ dời đô Hoa Lư ra năm 1010 đến hết thời Hậu Lê.

Như vậy là kinh đô Hoa Lư có trước, kinh đô Thăng Long có sau và tiếp liền với kinh đô Hoa Lư. Theo các phát hiện mới về khảo cổ học, mối quan hệ khăng khít giữa hai kinh đô ngày càng nhìn nhận rõ hơn. Có thể phác ra một vài nét cơ bản như sau :

1. Cả hai khu vực Hoa Lư và Thăng Long, đều là những trung tâm lớn của đất nước dưới thời thuộc Đường.

Ở Hoa Lư, theo ý kiến của một số nhà địa lý học lịch sử, đó là lỵ sở của Trường Châu. Các phát hiện khảo cổ học đã tìm thấy dấu tích các kiến trúc lớn được xây cất bằng gạch trong đó có loại gạch phổ biến in chữ “Giang Tây quân” tiêu biểu được sản xuất khoảng đầu thế kỷ IX.

Còn Thăng Long, trước khi trở thành kinh đô, vốn là An Nam đô hộ phủ của nhà Đường. Các dấu tích kiến trúc và gạch “Giang Tây quân” được phát hiện rất nhiều tại địa điểm 18 Hoàng Diệu. Đó chính là vết tích của thành Đại La.  Như vậy, cả hai khu vực trước khi trở thành kinh đô đều là những trung tâm lớn của đất nước.

2. Khi Hoa Lư là kinh đô của thời Đinh - Tiền Lê, các vua Đinh - Lê đã chú trọng đặc biệt tới khu vực thành Đại La, và khi đã chuyển đô ra Thăng Long, Lý Thái Tổ tiếp tục chú ý xây dựng Hoa Lư.

Sử ghi rằng các vua Đinh và vua Lê khi lên ngôi ở Hoa Lư đã đặc biệt chú ý xây dựng kinh đô Hoa Lư. Đinh Tiên Hoàng dựng đô mới, đắp thành, đào, xây dựng cung điện. Lê Đại Hành cũng làm rất nhiều cung điện lớn. . .

Khảo cổ học đã tìm thấy ở đây vết tích các tường thành, các nền móng kiến trúc, vật liệu xây dựng khá phong phú đặc biệt là loại gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên”.

Trước đây, giới nghiên cứu hầu như chỉ biết đến kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở Hoa Lư mà chưa biết đến một nơi nào khác kể cả Thăng Long.

Bây giờ thì khảo cổ học đã tìm thấy vết tích văn hoá vật chất thời Đinh : Tiền Lê ở Thăng Long. Tại 18 Hoàng Diệu; đã tìm thấy gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, ngói có tượng uyên ương, gạch hoa sen, các loại gốm thế kỷ X. . .

Về loại hình, các loại di vật này tương tự như ở Hoa Lư và đều là những loại vật liệu dùng để xây dựng các kiến trúc rất lớn.

Việc phát hiện các dấu tích. kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở Thăng Long đã chứng tỏ trong khi đặc biệt chú trọng kinh đô Hoa Lư, các vua Đinh - Lê vẫn hết sức chú ý tới khu vực Thăng Long (khi đó vẫn là thành Đại La).

Hẳn rằng, dưới thời Đinh - Tiền Lê, Đại La vẫn tồn tại tiếp tục như một trung tâm lớn nhất của đất nước với thế đất bằng phẳng, cao ráo, sáng sủa, thuận tiện cho việc hội tụ bốn phương. Bởi thế, khi có điều kiện, ngay lập tức Lý Thái Tổ đã cho dời đô từ Hoa Lư về Đại La đổi tên là Thăng Long.

Khi đã chuyển đô ra Thăng Long, Lý Thái Tổ cũng thể hiện sự quan tâm tới Hoa Lư bằng việc cho con là Khai quốc vương Bồ trấn giữ. Hoa Lư lúc này được đổi là Trường Yên.

Di tích lớn thời Lý đã được phát hiện ở khu vực động Thiên Tôn.  Tại đây đã tìm thấy các khối vật liệu trang trí rất Lý như đầu rồng, tượng uyên ương, các khối trang trí sóng nước, các khối trang trí chạm rồng . . .
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #172 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:32:12 pm »

Sau thời Lý, ít thấy có các công trình kiến trúc lớn đặc sắc như thời Lý ở Hoa Lư. Quan hệ Hoa Lư - Thăng Long thời Lý rất rõ có lẽ bởi vì khi mới ra Thăng Long, ảnh hưởng của Hoa Lư vẫn còn rất lớn do đó Lý Thái Tổ đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc như vậy.

3. Nghệ thuật Hoa Lư - thời Đinh - Tiền Lê đã tạo những tiền đề vững chắc cho sự phát triển rực rỡ của nghệ thuật Lý nói riêng, nghệ thuật Đại Việt nói chung ở Thăng Long.

Có thể thấy rõ điều đó qua so sánh hệ vật liệu trang trí ở Hoa Lư với Thăng Long.

Gạch lát nền trang trí hoa sen ở Hoa Lư có 3 loại chính.  Sang thời Lý, loại gạch này phổ biến ở Thăng Long. Bố cục và phong cách thể hiện hoa sen trên mặt gạch lát nền ở Thăng Long đã được thể hiện tương tự như gạch lát hoa sen thời Đinh Tiền Lê ở Hoa Lư.

Uyên ương Đinh - Tiền Lê hình dáng to khoẻ. Sang thời Lý, uyên ương có dáng thon thả hơn và phát triển khá đa dạng. Hoa cúc dây thời Đinh - Tiền Lê đơn giản, chưa phổ biến.

Sang thời Lý, hoa cúc dây phát triển mạnh.

Ngói âm dương và loại đầu ngói trang trí hoa sen tròn thời Đinh - Tiền Lê khá đa dạng. Sang thời Lý, loại ngói này là chủ yếu nhưng các kiểu mẫu trang trí hoa sen có nhiều kiểu loại, trang trí đầu ngói hoa sen thu lại một vài kiểu nhưng lại phát triển nhiều kiểu loại khác.

Ngói mũi lá thời Đinh - Tiền Lê chưa thấy trong thời Lý nhưng lại thấy rất nhiều vào thời Trần - Lê sơ. Ngói mũi sen hớt cong thời Lý cũng được bắt nguồn từ ngói mũi sen có kích thước tương tự ở Hoa Lư.

Có thể nói, những loại hình vật liệu xây dựng và vật liệu xây dựng trang trí kiến trúc thời Lý ở Thăng Long chủ yếu bắt nguồn từ Hoa Lư thời Đinh - Tiền Lê. Chỉ có điều là loại hình thời Lý đa dạng hơn, hình tượng nghệ thuật trau truốt và tỉa tót hơn, kỹ thuật chế tác cao hơn.

Về kỹ thuật, xây dựng thời Lý ở Thăng Long đạt tới đỉnh cao. Nó được thể hiện ở kỹ thuật xây dựng các loại móng trụ hết sức công phu và kiên cố bằng sỏi, gạch ngói vụn và sành vụn. Tuy nhiên, kỹ thuật này đã được thấy trong thời Đinh - Tiền Lê ở chùa Nhất Trụ. Ở đây, người Đinh - Tiền Lê đã xây dựng loại móng rất lớn bằng móng bè kết hợp với đá. Chắc chắn, kỹ thuật xây dựng móng trụ như vậy đã được sử dụng ở Thăng Long thời Lý.

Qua vài so sánh sơ bộ trên đây, có thể thấy thời Đinh - Tiền Lê đã tạo ra một loạt tiền đề cho nghệ thuật Lý phát triển. Tiền đề đó không những là các mẫu mã cụ thể mà còn là cả hệ thống công nghệ sản xuất Đại Việt sau đó dường như cũng là được bắt đầu từ thời Đinh- Tiền Lê.

Một ví dụ: nếu như hệ vật liệu xây dựng trước Đinh - Tiền Lê thường có màu xám là chủ yếu kết hợp với màu đỏ. Sang thời Đinh - Tiền Lê, vật liệu xây dựng hoàn toàn là màu đỏ. Thời Lý, thời Trần, thời Lê sơ, vật liệu xây dựng hoàn toàn theo truyền thống chế tác loại gạch ngói thuần màu đỏ. Rõ ràng, đó là một truyền thống được bắt đầu từ thời Đinh - Tiền Lê ở Hoa Lư.

Mở rộng hơn, có người còn liên hệ tới việc quy hoạch kinh đô Thăng Long cũng có ảnh hưởng nhất định của các quy hoạch Hoa Lư. Ví dụ ở cả hai kinh đô cùng có chùa Nhất Trụ.

Có thể là đã có ảnh hưởng nào đó của quy hoạch Hoa Lư đối với quy hoạch Thăng Long. Tuy nhiên, trên thực tế khảo cổ học vẫn chưa thấy rõ ảnh hưởng của Hoa Lư với Thăng Long chỉ được thấy rõ trên các loại hình vật liệu xây dựng, kỹ thuật xây dựng và có thể là một số công trình kiến trúc bởi Lý Thái Tổ khi dựng đô vẫn trên cơ sở những con người của thời Đinh - Tiền Lê chuyển sang. Nền nghệ thuật dân tộc, nghệ thuật Đại Việt đã phát triển rực rỡ và đạt tới đỉnh cao dưới thời Lý ở Thăng Long trên thực tế đã bắt nguồn từ nghệ thuật Hoa Lư.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #173 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:35:30 pm »

NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT THỜI TIỀN LÊ

TS. Vũ Văn Quân
Khoa Lịch sử, Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Dù còn có một vài điểm khác biệt, nhưng đến nay chúng ta đã nhất trí cơ bản về phạm vi lãnh thổ nước Văn Lang - Âu Lạc thời đại Hùng Vương- An Dương Vương. Đó là không gian tương đương với vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ của Việt Nam ngày nay. Trong thời Bắc thuộc, các chính quyền phong kiến Trung Hoa, dù thống nhất hay cát cứ, cũng buộc phải tôn trọng thực tế này, thể hiện qua việc tổ chức các khu vực hành chính.

Nhà Triệu chia đất đai Âu Lạc cũ thành hai quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (Thanh - Nghệ - Tĩnh). Nhà Hán đặt thêm quận Nhật Nam (từ Đèo Ngang đến Quảng Nam). Cuối đời Ngô, chia làm sáu quận là Giao Chỉ (phần lớn quận Giao Chỉ đời Hán), Tân Xương (một phần phía tây quận Giao Chỉ đời Hán), Vũ Bình (một phần phía tây quận Giao Chỉ đời Hán), Cửu Chân (phần lớn quận Cửu Chân đời Hán), Cửu Đức (một phần quận Cửu Chân đời Hán), Nhật Nam. Đời Tống (cuối thế kỷ V) đặt thêm quận Tống Bình (một phần quận Giao Chỉ).

Nhà Tuỳ, ban đầu bỏ quận đặt châu, sau lại bỏ châu đặt quận, gồm Giao Chỉ (Bắc Bộ), Cửu Chân (Thanh Hoá), Nhật Nam (Nghệ Tĩnh) và các quận Tỳ Ảnh, Hải Âm, Tượng Lâm (vùng Đèo Ngang trở vào).

Nhà Đường đặt Giao Châu đại tổng quản (sau đổi làm An Nam đô hộ phủ) gồm Giao Châu (đất quận Giao Chỉ đời Tuỳ), Lục Châu (một phần Quảng Đông của Trung Quốc và duyên hải Quảng Ninh của Việt Nam), Phong Châu (vùng đất ngã ba Bạch Hạc, phần dưới các thung lũng sông Chảy, sông Thao, sông Đà), Trường Châu (Ninh Bình), Ái Châu (Thanh Hoá), Diễn Châu (Bắc Nghệ An), Hoan Châu (Nam Nghệ An) và Phúc Lộc Châu (Tây Hà Tĩnh) và bốn châu Thang Châu, Chí Châu, Võ Nga Châu và Võ An Châu thuộc đất Trung Quốc và hai châu Lâm Châu và Ảnh Châu ở phía nam Hoành Sơn.

Đối với những tộc người vùng núi, nhà Đường không đặt châu quận để thống trị trực tiếp được thì đặt những phủ, châu ki mi.  Lệ vào An Nam đô hộ phủ có 40 châu như vậy, đại khái là vùng núi phía Bắc và đông Bắc nước ta hiện nay  (1).

2. Buổi đầu độc lập, Khúc Hao (907 - 917) đã tiến hành một số cải cách hành chính, lấy lộ thay cho châu, lấy phủ, châu thay cho huyện, đổi hương (đơn vị dưới huyện) làm giáp, dưới giáp là xã. Tuy nhiên, qua sử biên niên và các tài liệu thư tịch khác, không thấy nhắc đến các đơn vị hành chính mới. Trong khi đó các địa danh như Giao Châu, Ái Châu, Phong Châu, Đằng Châu lại vẫn thấy được dùng.

Thời Đinh, sử chép chia nước thành mười đạo. Nhưng danh sách và diên cách mười đạo đó như thế nào, biên niên sử và hầu hết các thư tịch cổ không thấy nhắc đến. Đào Duy Anh nhận xét: Sử chép rằng Đinh Tiên Hoàng chia nước làm mười đạo hiện nay không rõ danh hiệu và vị trí các đạo là thế nào (2).

Sách Đại Nam nhất thống chí và một số sách địa chí đời Nguyễn như Dư địa chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Phương Đình địa dư chí của Nguyễn Văn Siêu . . . , rải rác có nhắc đến đơn vị đạo đời Đinh, Tiền Lê.

Cụ thể:

Tỉnh Hà Nội: Đại Nam nhất thống chí chép thời Đinh gọi là đạo.

Tỉnh Lạng Sơn: Đại Nam nhất thống chí chép thời Đinh chia làm đạo. Phương Đình địa dư chí cũng chép như vậy.

Tỉnh Bắc Ninh: Lịch triều hiến chương loại chí chép nhà Đinh đặt làm đạo Bắc Giang, Lê Đại Hành mới đem đổi làm phủ, châu, đầu đời Lý đổi châu Cổ Pháp làm phủ Thiên Đức, cùng với Vũ Linh, Lạng Châu đều gọi là lộ cả. Đại Nam nhất thống chí chép tỉnh Bắc Ninh thời Tiền Lê là Bắc Giang.  Phương Đình địa dư chí chép tỉnh Bắc Ninh thời Đinh gọi là đạo Bắc Giang.

______________________
(1) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qna các đời. Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994.  
(2) Đào Duy Anh: Đất  nước Việt Nam qua các đời. Sđd tr. 113
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #174 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:37:27 pm »

Tỉnh Nam Định: Đại Nam nhất thống chí chép đời Thái Bình nhà Đinh đặt làm đạo.

Tỉnh Quảng Yên: Lịch triều hiến chương loại chí chép ba đời Đinh, Tiền Lê, Lý gọi là đạo Hải Đông.

Thời Tiền Lê, năm 1002, Lê Hoàn đổi mười đạo làm lộ, châu, phủ. Khâm định Việt sư thông giám cương mục chua: thay đổi và sắp xếp các lộ, châu, phủ thế nào không rõ. Đào Duy Anh cũng nhận xét: “Lê Hoàn cướp ngôi, nhà Lê đổi mười  đạo làm lộ, phủ. châu. Hiện nay không rõ danh hiệu và vị trí các lộ phủ. châu ấy là thế nào”. (1)

Các sách địa chí đời Nguyễn có nhắc đến một số lộ đời Tiền Lê. Cụ thể:


Tỉnh Hà Nội: Đại Nam nhất thống chí chép đầu đời ứng Thiên nhà Tiền Lê gọi là lộ.

Tỉnh Nam Định: Đại Nam nhất thống chí chép đầu đời ứng Thiên nhà Tiền Lê đặt làm lộ.

Tỉnh Lạng Sơn: Đại Nam nhất thống chí chép nhà Tiền Lê, nhà Lý gọi là lộ. Phương Đình địa dư chí cũng chép tỉnh Lạng Sơn đời nhà Tiền Lê, nhà Lý gọi là lộ.

Tỉnh Sơn Tây: Đại Nam nhất thống chí chép các đời Đinh, Tiền Lê, Lý gọi là lộ.

Về đơn vị phủ, Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1005 Lê Long Đĩnh đổi Đằng Châu làm phủ Thái Bình, Phương Đình địa dư chí cũng chép lại như thế.

Có vẻ các sách địa chí thế kỷ XIX căn cứ vào việc nhà Đinh tổ chức đất nước thành mười đạo, nhà Tiền Lê đổi mười đạo làm phủ, lộ, châu mà sau này đoán định vậy. Trong hầu hết biên niên sử và thư tịch trước đó gần như không thấy nhắc đến các đơn vị này. Trong khi đó, đơn vị châu lại vẫn được dùng phổ biến.

Dưới đây là danh sách các châu thời Đinh, Tiền Lê đượcập trên cơ sở ghi chép của biên niên sử và một số thư tịch cổ khác:

1. Ái Châu: Đại Việt sử ký toàn thư (dưới đây gọi tắt là Toàn thư) chép các sự kiện dưới hai triều Đinh. Tiền Lê gắn với Ái Châu: Lê Đại Hành người Ái Châu; Lê Hoàn đánh nhau với Đinh Điền, Nguyễn Bặc ở Tây Đô. vì Lê Hoàn là người Ái Châu nên sau khi lên ngôi đóng đô ở Hoa Lư mới gọi Ái Châu là Tây Đô; năm 989 Dương Tiến Lộc làm phản ở Hoan Châu và Ái Châu; năm 1009 Lê Long Đĩnh cho đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Khâm định Việt sử thông giám cương mục (dưới đây viết tắt là Cương mục) chua: Ái Châu là đất Thanh Hoa. Đại Nam nhất thống chí chép: tỉnh Thanh Hoá, đời Vũ Đế nhà Lương lấy Cửu Chân làm Ái Châu tên Ái Châu có từ đây), đời Đường gọi là Ái Châu, các đời Đinh, Tiền Lê cũng gọi như vậy.

2. Ám Châu: Toàn thư chép năm 1003 Lê Hoàn đi Hoan Châu, vét kênh Đa Cái (vùng Hưng Nguyên, Nghệ An) thẳng đến trường Tư Củng thuộc Ám Châu. Không rõ cụ thể, nhưng theo ghi chép trên thì chắc Ám Châu cũng thuộc vùng Nghệ An.

3. Cổ Pháp châu: Toàn thư chép năm 995 Lê Hoàn phong cho hoàng tử thứ mười một là Đề (tức Minh Đề) làm Hành Quân vương, đóng ở Bắc Ngạn châu Cổ Lãm, lại chép Lý Công Uẩn người hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp. Cương mục chua: châu Cổ Pháp, từ đời Đinh về trước là châu Cổ Lãm, nhà Tiền Lê đổi làm châu Cổ Pháp, nhà Lý đổi làm phủ Thiên Đức, nay là huyện Đông Ngàn, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy, tên châu Cổ Pháp mới có sau năm 995.

4. Đại Hoàng châu: Toàn thư chép Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng. Cương mục chua: Đại Hoàng là tên châu, nay là huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

______________________
(1) Đào Duy Anh: Đất  nước Việt Nam qua các đời. Sđd tr. 113
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #175 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:40:39 pm »

5. Đằng Châu: Toàn thư chép năm 992 Lê Hoàn phong cho hoàng tử thứ năm là Đĩnh làm Khai Minh vương đóng ở Đằng Châu, năm 1005 Lê Long Đĩnh đổi Đằng Châu làm phủ Thái Bình. Lịch triều hiến chương loại chí chép: Đằng Châu thời Đinh Lê thuộc về Sơn Nam - tương đương với Khoái Châu đời Lý, Khoái Lộ đời Trần, Khoái Châu đời Lê, gồm hầu hết tỉnh Hưng Yên sau này. Đại Nam nhất thông chí chép: tỉnh Hưng Yên, đầu đời Ngô là châu Đằng. Phương Đình địa dư chí chép: cương vực tỉnh Hưng Yên, cũng như tỉnh Nam Định, xưa gọi là Đằng Châu, nhà Tiền Lê gọi là phủ Thái Bình.

6. Định Biên châu: Toàn thư chép năm 999 Lê Hoàn thân đánh Hà Động, tất cả gồm 49 động, phá được động Nhật Tắc, châu Định Biên. Nguyễn Thiên Túng chú Dư địa chí của Nguyễn Trãi có ghi mỏ vàng ở Định Biên thuộc Cao Bằng, có thể là châu này. Cương mục lại chua: Hà Động là động Hà Man, thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

7. Đô Lương châu: Toàn thư chép năm 1008 Lê Long Đĩnh đánh hai châu Đô Lương, Vị Long, bắt được người Man.  Đào Duy Anh đoán Đô Lương có lẽ là Đô Kim, là châu ở đất Tuyên Quang (1).

8. Hoan Châu: Toàn thư chép năm 989 Dương Tiến Lộc làm phản ở Hoan Châu và Ái Châu. Cương mục chua: Hoan Châu là Nghệ An. Đại Nam nhất thống chí chép: tỉnh Nghệ An, đời Tuỳ Khai Hoàng đặt châu Hoan, đời Đại Nghiệp đổi làm quận Nhật Nam, đời Đường đặt làm ba châu Hoan, Diễn, Đường Lâm, đời Đinh và Tiền Lê là châu Hoan. Phương Đình địa dư chí chép: châu Hoan và Diễn đời Đường, đời Đinh và Tiền Lê gọi là Hoan Châu. Sau có lẽ lại tách thành hai châu Hoan và Diễn (Toàn thư chép năm 1012 Lý Thái Tổ thân cầm quân đi đánh Diễn Châu).

9. Hoan Đường châu: Toàn thư chép tháng 7 năm 1009 Lê Long Đĩnh thân đi đánh các châu Hoan Đường và Thạch Hà. Cương in!lc chua: châu Hoan Đường là thuộc đất Hoan Châu, nhà Đinh. Tiền Lê gọi là châu Hoan Đường. nhà Lê sư đổi là huyện Nam Đường. nay thuộc đất các huyện Nam Đàn, Anh Sơn. Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Đào Duy Anh cho châu Hoan Đường là thuộc đất Hà Tĩnh. (2)

10 Lạng Châu: Toàn thư chép mùa thu năm Canh Thìn (980), quan Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, làm tờ tâu báo về triều đình. Cương mục chua: Lạng Châu đời nhà Lê, nhà Lý đặt làm lộ: nay là Lạng Sơn.

11. Phong Châu: Toàn thư chép năm 981 phong hoàng tử thứ tư là Đinh làm Ngự Man vương đóng ở Phong Châu, năm 1000 xuống chiếu đánh giặc ở Phong Châu. Lịch triều hiến chương loại chí chép: đặt Phong Châu, Phúc Lộc Châu, sau biệt ra làm Phong Châu, Tam Đới Châu, các đời Đinh, Lê, Lý gọi là lộ. Đại Nam nhất thống chí chép: tỉnh Sơn Tây, đời Tuỳ là Phong Châu, đời Đinh, Tiền Lê, Lý gọi là châu (sử chép có Phong Châu, Quốc Oai Châu, Chân Đăng Châu).  Phương Đình địa dư chí chép: nhà Đinh, Lê, Lý đặt làm châu, có Phong Châu, Quốc Oai Châu và Chân Đăng Châu (tức vùng Lâm Thao).

12. Thạch Hà châu: Toàn thư chép tháng 7 năm 1009 Lê Long Đĩnh thân đem quân đi đánh châu Hoan Đường và Thạch Hà, năm 1005 Đông Thành Vương bị giết ở châu Thạch Hà.  Cương mục chua: nhà Đinh, Tiền Lê gọi là châu Thạch Hà, nhà Lý đổi là huyện Thạch Hà, nay là huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Đại nam nhất thống chí chép: đạo Hà Tĩnh, đầu đời Đường là Minh Châu và Trí Châu, sau sáp nhập vào huyện Việt Thường thuộc Hoan Châu: đời Tiền Lê là châu Thạch Hà.

13. Thiên Liễu châu: toàn thư chép năm 1008 Lê Long Đĩnh tự làm tướng đi đánh Hoan Châu, Thiên Liễu châu. Đào Duy Anh đoán châu Thiên Liễu có lẽ là miền nam hay miền tây Hoan Châu. (3)

14. Tô Mậu châu: Toàn thư chép năm 995 dân châu Tô Mậu xâm lấn Ung Châu. Nay là vùng Nà Dương, Đình Lập, An Châu thuộc tỉnh Lạng Sơn.

15. Trường Châu: Việt sử lược chép Lê Đại Hành người Trường Châu. Toàn thư chép năm 990 đoàn thuyền đưa Tống Cảo đến Hoa Lư qua trạm Nại Chinh ở Trường Châu, nay là đất Hà Nam.


_____________________
(1) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Sđd, tr.115
(2) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời. Sđd. tr. 116
(3) Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời. Sđd. tr. 116
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #176 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:43:44 pm »

16. Trường Yên châu: Toàn thư chép Lê Hoàn mất chôn ở sơn lăng châu Trường Yên. Đại Nam nhân thống chí chép: tỉnh Ninh Bình là châu Trường Yên được đặt từ cuối đời Lương. Phương Đình dư địa chí chép tỉnh Ninh Bình nhà Đinh gọi là Hoa Lư, nhà Tiền Lê vẫn theo, nhà Lý gọi là phủ Trường Yên, lại là châu Đại Hoàng.

17. Vị Long châu: Toàn thư chép năm 1006 châu Vị Long nay là châu Đại Man) dâng ngựa trắng bốn chân có cựa.  Cương mục chép sự kiện năm 1013 châu mục Vị Long làm phản và chua: Vị Long là tên châu, nhà Đinh, Tiền Lê gọi là Vị Long, nhà Lý, nhà Trần cũng thế, nay là đất Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang.

18 . Vũ Lung châu: Toàn thư chép năm 994 phong hoàng tử thứ mười là Mang làm Nam Quốc vương đóng ở châu Vũ Lung. Cương mục chua: Vũ Lung là tên châu, thuộc về Thanh Hoá, nhưng nhiều lần phân chia thế nào không khảo được. 

Ngoài các đơn vị châu, sử biên niên và các sách địa chí còn nhắc đến một trấn: trấn Triều Dương. Toàn thư chép năm 996 bọn Văn Dũng người trấn Triều Dương làm loạn. Cương mục chua: xưa là bộ Ninh Hải; nhà Đinh: Tiền Lê gọi là trấn Triều Dương, nhà Lý gọi là châu Vĩnh An, nay đất châu Tiên Yên và Vạn Ninh, tỉnh Quảng Yên. Đại Nam nhân thống chí chép tỉnh Quảng Yên; đời nhà Đinh, Tiền Lê về trước gọi là trấn Triều Dương. Phương Đình dư địa chí chép tỉnh Quảng Yên thời Tiền Lê là trấn Triều Dương, nhà Lý đổi làm châu Vĩnh Yên.

Như vậy, đơn vị châu được sử sách nhắc đến nhiều nhất trong biên niên sử, trong đó, phần nhiều là những châu có từ đời Đường. Danh sách các châu trên có thể chưa đầy đủ so với thực tế, những cơ bản đã phủ đầy vùng lãnh thổ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, tức cương vực nước Đại Cồ Việt thời Tiền Lê. Cũng có thể đạo thời Đinh và lộ thời Tiền Lê là những đơn vị hành chính vùng rộng lớn nên khi chép về các sự kiện sử biên niên không nhắc đến. Dưới đạo - lộ vẫn là các châu được đặt từ đời Đường. 

3. Trên lãnh thổ đó, dấu ấn hoạt động của triều đình Hoa Lư thể hiện ở khắp mọi nơi, tuy mức độ nhiều ít có khác nhau. Theo ghi chép của biên niên sử, có ít nhất 53 địa danh được nhắc đến gắn với hoạt động của nhà Tiền Lê, nhiều nhất là châu, một số là các cấp phối thuộc. Khu vực được nhắc đến nhiều nhất là vùng Thanh Nghệ Tĩnh và vùng núi phía Bắc.

Hoạt động của nhà nước phần nhiều là đánh dẹp các cuộc nổi dậy chống lại chính quyền. chủ yếu là của các tộc thiểu số miền núi. Điều này cho thấy nhà Tiền Lê đã rất nỗ lực trong việc khắc phục các khuynh hướng phân tán, cát cứ, thống nhất quốc gia. Nhưng cũng chính thực tế này chứng tỏ rằng khả năng kiểm soát đất nước của nhà Tiền Lê vẫn còn hạn chế.

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #177 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:46:01 pm »


Nhà Tiền Lê đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng nền hành chính mới cũng như tăng cường khả năng kiểm soát đất nước. Tiên địa bàn truyền thống vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, ý thức về sự toàn vẹn lãnh thổ được thể hiện rất rõ trong quan hệ với nhà Tống (ở phía Bắc) và với Chăm pa (ở phía nam).

Việc tổ chức lại các đơn vị hành chính đã được tiến hành, đặt thêm cấp mới (đạo, lộ) đồng thời với việc duy trì các cấp hành chính đã có từ trước, nhất là hệ thống các châu vốn có từ đời thuộc Đường.

Đặc biệt, nhà Tiền Lê, từ Lê Hoàn đến Lê Long Đĩnh, thể hiện thái độ kiên quyết trong việc trấn áp các hoạt động chống đối chính quyền, các mưu đồ cát cứ.

Những nỗ lực đó đã củng cố ý thức của người Việt về chủ quyền lãnh thổ quốc gia, tăng cường khả năng và hiệu quả về tổ chức và quản lý đất nước, tạo tiền đề giúp Lý Công Uẩn vững tin rời Hoa Lư chật hẹp nhưng hiểm yếu ra Đại La rộng rãi nhưng trống trải để tính kế cho con cháu muôn đời, cũng là tạo tiền đề cho Đại Cồ Việt bước sang một trang mới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

1. Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960.

2. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998.

3. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1994.

4. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam nhất thống chí (5 tập), Nxb Thuận Hoá, Huế, 1993 .

5. Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập l Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.

6. Nguyễn Văn Siêu: Phương Đình địa dư chí, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2001.

7. Đại Việt sử lược, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
« Sửa lần cuối: 06 Tháng Ba, 2009, 11:49:13 pm gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #178 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:50:07 pm »

PHẬT GIÁO THỜI TIỀN LÊ VÀ VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO
TRONG QUÁ TRÌNH KHỞI LẬP VƯƠNG TRIỀU LÝ

Nguyễn Ngọc Phúc
Khoa Lịch sử. Trường Đại học KHXH&NV. Đại học Quốc gia Hà Nội

So với thời Lý - Trần, nguồn sử liệu Việt Nam ghi chép về tình hình Phật giáo thời Tiền Lê còn lại không nhiều, tản mạn trong các sách: Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Thiền uyển tập anh, Việt sử tiêu án, Khâm định Việt sử thông giám cương mục...

Nhưng qua thông tin từ các nguồn thư tịch cổ này, kết hợp với việc tìm hiểu các loại hình văn bản bia ký, thần tích, truyền thuyết địa phương.., bức tranh Phật giáo cùng vai trò, ảnh hưởng của Phật giáo đối với xã hội Việt Nam thời Tiền Lê nói chung ngày càng được nhận thức rõ ràng hơn.

Phật giáo, thông qua đội ngũ tăng lữ, cũng chính là một bộ phận quan trọng của tầng lớp trí thức đương thời đã có những ảnh hưởng khá sâu sắc tới đời sống chính trị - xã - hội, không chỉ trong dân gian mà còn đối với cả triều đình.

Xem xét nguyên nhân bối cảnh lịch sử - xã hội thời kỳ này, căn nguyên của thực tế trên đây có thể lý giải được. Thời Ngô, Đinh và Tiền Lê, trải qua gần 10 thế kỷ Bắc thuộc, sau những chiến công vang dội chống quân Nam Hán và quân Tống, nền độc lập còn non trẻ của dân tộc được bảo vệ và củng cố càng thêm vững chắc.

Nhưng, đứng trước yêu cầu quản lý, duy trì ổn định xã hội, bảo vệ quốc gia lãnh thổ thống nhất, đối phó với các thế lực ngoại xâm, triều Tiền Lê, và trước đó là cả triều Ngô, Đinh đều nhận thấy tầm quan trọng của việc tập hợp và sử dụng sự hiểu biết của đội ngũ trí thức đương thời.

Tuy nhiên, lúc này, có thể do nhà Ngô, Đinh và Tiền Lê đều tồn tại không lâu dài, lại phải đặt mối quan tâm nhiều hơn đến công cuộc chống ngoại xâm và nạn cát cứ nên khoa cử chưa thể và cũng chưa có điều kiện để được thực thi, đội ngũ quan lại trí thức phục vụ cho công việc điều hành đất nước tuyển lựa thông qua con đường thi cử chưa hề có. Triều đình do đó phải chọn lựa, sử dụng nhân tài nhờ vào phương cách tiến cử và phần nào bằng việc xem xét khả năng của cá nhân bộc lộ qua việc tham gia tư vấn hay trực tiếp giải quyết công việc, qua vai trò và tầm ảnh hường trong xã hội...

Trong xã hội Việt cổ truyền, Nho và Phật là hai hệ tư tưởng đóng vai trò chủ đạo góp phần đào tạo nên tầng lớp trí thức. Đối với Nho học, được truyền bá vào Việt Nam từ khá sớm, nhiều trường Nho học do người Hán lập và trực tiếp tham gia giảng dạy ở Việt Nam đã xuất hiện ngay từ những thế kỷ đầu sau Công nguyên.., tuy vậy, dấu ấn của Nho giáo trong lòng xã hội Việt qua gần 7 - 8 thế kỷ truyền bá dường như còn rất mờ nhạt, mà một trong những biểu hiện của nó chính là đội ngũ nho sĩ người Việt còn yếu và thiếu, hầu như chưa có tiếng nói và vị trí trong xã hội.

Còn Phật giáo, du nhập vào Việt Nam cũng từ khá sớm, gần như cùng thời kỳ với Nho giáo, nhưng khác với Nho giáo, ngay trong thời Bắc thuộc, Phật giáo đã phát triển khá mạnh, hình thành nên những trung tâm Phật giáo nổi tiếng và tiêu biểu lúc bấy giờ là Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh).

Các hệ phái Phật giáo từ bên ngoài khi du nhập vào Việt Nam ít nhiều đều sớm được bán địa hoá, tích hợp vào trong nó những yếu tố văn hoá cổ truyền của người Việt đặc điểm này làm cho sức sống, sức lan toả và tồn tại của Phật giáo càng bền chặt hơn trong dân gian.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #179 vào lúc: 06 Tháng Ba, 2009, 11:55:30 pm »

Chùa chiền ngoài chức năng thờ Phật. tổ chức các hoạt động tín ngưỡng còn đóng vai trò là trung tâm văn hoá, giáo dục của làng xã. Giữ vai trò trường học và đảm nhận công việc giáo dục dân gian chính là nhà chùa và đội ngũ sư tăng. Nhiều vị sư ngoài việc thông hiểu giáo lý Phật giáo (thậm chí cả tư tưởng Nho giáo) còn là những người hiểu biết xã hội và thời cuộc, có ảnh hưởng trong đông đảo dân chúng.

Thời Đinh, Tiền Lê, sư Khuông Việt “thuở nhỏ theo học Nho, lớn lên theo đạo Phật, cùng bạn đồng học Trụ Trì đến chùa Khai Quốc thụ giới cụ túc với thiền sư Vân Phong, nhờ đó được đọc rộng kinh điển Phật giáo. . . năm bốn mươi tuổi, danh tiếng vang dội đến triều đình”, sư Vạn Hạnh: “thuở nhỏ thông minh khác thường, học thông ba giáo, đọc kỹ trăm nhà” (1).

Đây có lẽ là những lý do cơ bản để nhiều vị vua thời Đinh và Tiền Lê quyết định lựa chọn và trọng dụng các nhà sư nhiều hơn là các nho sĩ. Chính nhờ sự trọng dụng này, giới tăng lữ trí thức Phật giáo Việt Nam đã có tầm ảnh hưởng không nhỏ, tác động tới hướng giải quyết nhiều vấn đề quan trọng của triều đình và quốc gia. Sử cũ ghi nhận nhà Đinh “vua tôn sùng đạo Phật, mới đặt phẩm cấp cho tăng nhân và đạo sĩ” (2), “bắt đầu quy định cấp bậc văn võ, tăng đạo. 

Lấy Nguyễn Bắc làm Định quốc công, Lưu Cơ làm Đô hộ phủ sĩ sư, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, Tăng thống Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, Trường Ma Ni làm Tăng lục, đạo sĩ Đặng Huyền Quang được trao chức Sùng chân uy nghi”. (3)

Tăng thống mà triều đình ban cho Ngô Chân Lưu là chức quan đứng đầu hàng Phật giáo còn Tăng lục là chức quan trông coi Phật giáo dưới chức Tăng thống, đây đều là những chức vụ quan trọng trong hàng tăng quan, do đó, việc làm này chính là một minh chứng nói lên vai trò ảnh hưởng của giới tăng lữ đối với triều đình.

Về nội dung giáo lý, đặc điểm của Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ là chủ yếu tiếp nhận ảnh hưởng từ các hệ phái thuộc dòng Thiền tông, nhưng cũng không phải là Thiền tông thuần nhất, nhiều nhà nghiên cứu qua những phát hiện gần đây đã chứng minh rằng ngoài việc tiếp thu, hoà trộn với tín ngưỡng dân gian bản địa, Thiền tông Việt Nam - ít nhất từ thế ký X - đã có những biểu hiện của sự ảnh hưởng, dung nạp ngay chính một số yếu tố của hệ phái Phật giáo khác trong đó có Mật tông (4).

Mật tông là hệ phái chú trọng đến các nghi lễ tôn giáo mang tính thần bí, sử dụng nhiều câu thần chú huyền bí bằng chính tiếng Phạn (gọi là chân ngôn hay đà-la-ni) để tụng niệm trong tu hành. Ở Việt Nam, nhiều vị sư dòng Thiền tông do chịu ảnh hưởng của Mật tông cũng đã tu hành bằng việc sử dụng thần chú đà-la-ni, chính sư Vạn Hạnh - tổ thứ 12 của phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) dòng Thiền tông cũng đã từng chuyên tâm tu tập kinh Tổng trì tam ma địa, lấy đó làm sự nghiệp”. (5)

Với khả năng trí tuệ cùng uy tín, ảnh hưởng xã hội của bản thân, nhiều vị đại sư danh tiếng đương thời như Khuông Việt, Pháp Thuận, Vạn Hạnh... đều được vua Lê Hoàn rất tin cậy, Vạn Hạnh “nói ra điều gì. thiên hạ đều coi như lời sấm ngữ”, được Lê Hoàn “đặc biệt tôn kính” (6).


________________________
(1) Thiền uyển tập anh. Nxb Văn học. HN. 1990. tr. 42 và tr. 188. 
(2) Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Tập 1. Nxb. Giáo dục. HN. 1998. tr. 239.
(3) Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều Lê : đại Việt sử ký toàn thư.  Tập 1. Nxb. KHXH. HN. 1993. tr.212.
(4) Xem Hà Văn Tấn: Từ một cột kinh Phật năm 973 mới phái hiện ở Hoa Lư. T/c NCLS. số 76 (1965) và cột kinn Phật thời nhà Đinh thứ hai ở Hoa Lư. T/c Khảo cổ học. số 5-6 (1970). in lại trong: Theo dấu các văn hoá cổ.  Nxb KHXH. HN. 1997. tr. 786-832 .
(5), (6) Thiền uyển tập anh. sđd. tr. 188.
« Sửa lần cuối: 07 Tháng Ba, 2009, 12:27:33 am gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM