Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 28 Tháng Hai, 2020, 07:06:02 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Tập 2  (Đọc 91983 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #130 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 01:25:18 PM »


Hồi đầu công nguyên, sau khi thất bại ở Lãng Bạc, thất thủ ở Cổ Loa và Mê Linh, Trưng Vương đưa lực lượng kháng chiến của mình về chiến đấu cầm cự với quân Đông Hán tại vùng rừng núi Cấm Khê (Sơn Tây - Ba Vì). Cấm Khê đã trở thành một căn cứ kháng chiến của Hai Bà Trưng.

Đây là một vùng đất có thế thiên hiểm, tựa vào vùng rừng núi hiểm trở (Hoà Bình) và có đường thượng đạo vào Cửu Chân (Thanh Hoá) và gần với ba dòng sông lớn là sông Đà, sông Hồng và sông Đáy. Cấm Khê là một căn cứ phòng ngự khá tốt của nghĩa quân Trưng Vương và Hai Bà Trưng đã cầm cự với quân Mã Viện trong hai, ba năm liền. Dựa vào căn cứ rừng núi có địa thế hiểm yếu, nhưng Hai Bà Trưng lại không có cơ sở sức người, sức của lợi hại như Triệu Quang Phục ở vùng Dạ Trạch. Lúc đó, quân Đông Hán còn rất mạnh, còn lực lượng quân đội của Trưng Vương đã bị tổn thất quá nhiều, lại không có cơ sở để phát triển, không thể tiến hành đánh du kích lâu dài được nên đã bị hao mòn và thất bại.

Nghệ thuật đánh lâu dài và tiến hành chiến tranh du kích của tổ tiên ta xuất hiện từ cuộc kháng chiến chống Tần cuối thế kỷ III TCN đã được kế thừa và phát triển một bước trong kháng chiến chống Lương thế kỷ VI.

Trước kẻ thù lớn mạnh, quân đông và tàn bạo, tổ tiên ta trong quá trình đấu tranh giành độc lập đã biết dựa vào dân và phát huy sức mạnh của đông đảo dân chúng ở các xã thôn, lợi dụng địa hình hiểm trở, với chiến lược đánh lâu dài và cách đánh thiên biến vạn hoá của chiến tranh du kích, từng bước làm suy yếu quân giặc, tạo điều kiện có lợi để phản công giành thắng lợi ở thời cơ thích hợp.
 
Tuy đang trong giai đoạn bước đầu hình thành và phát triển, song nghệ thuật đánh giặc của người Việt cổ đã tỏ rõ trí thông minh sáng tạo, biết tìm ra cách đánh phù hợp với điều kiện cụ thể của mình nhờ đó đã có những lần giành được thắng lợi.

Cách đánh đó là cơ sở ban đầu rất quý báu, đặt nền móng cho một nền nghệ thuật đánh giặc độc đáo mang sắc thái riêng của người Việt Nam - nghệ thuật đánh giặc của một dân tộc nhỏ phải thường xuyên đương đầu với những kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần trong suốt quá trình đấu tranh giữ nước.
 
Tuy rằng, nghệ thuật chiến tranh du kích buổi đầu còn đơn giản thô sơ, còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế, nhưng nó đã thể hiện tài nghệ của người Việt cổ; về mặt quân sự đã biết dựa vào cấu trúc xã hội hạ tầng, phát huy sức mạnh truyền thống để tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh “nhỏ đánh lớn, ít địch nhiều” trong quá trình chống xâm lược và đồng hoá, bảo vệ những giá trị thiêng liêng của người dân Việt.

Suốt trong thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, sau các cuộc khởi nghĩa thắng lợi, trong quá trình xây dựng bộ máy chính quyền của mình, tổ tiên ta đã chuyển các tổ chức nghĩa binh thành quân đội thường trực. Nhưng do trình độ phát triển kinh tế còn thấp, tổ chức chính quyền còn sơ khai, tính chất phân tán của các địa phương còn nặng, nên tổ chức quân đội thường trực còn rất đơn giản, trình độ trang bị, huấn luyện và tính chất chính quy còn rất thấp.

Chính quyền Trưng Vương, nhà nước Vạn Xuân hay nền độc lập do Phùng Hưng giành được tồn tại chưa được bao lâu thì các cuộc xâm lược mới của các đế chế Đông Hán, Lương và Đường đã ập đến với những đội quân thường trực rất đông, được trang bị và huấn luyện đầy đủ.

Các cuộc chiến tranh giữ nước tiêu biểu của thời kỳ này như kháng chiến chống Đông Hán của Hai Bà Trưng (42-44), kháng chiến chống Lương của Lý Bí - Triệu Quang Phục (545-550), kháng chiến chống Tuỳ của Lý Phật Tử (602) đều đã diễn ra trong sự hạn chế về mặt trình độ phát triển của tổ chức và trang bị quân đội.
 
Mặt khác, trong điều kiện nền kinh tế nước ta lúc bấy giờ là nền kinh tế nông nghiệp mang tính chất tự cung tự cấp các công xã cổ truyền mang nặng tính chất khép kín địa phương, nên sau mỗi lần khởi nghĩa thắng lợi thì xu hướng phân tán về chính trị lại bộc lộ rõ rệt và các cuộc xung đột tranh giành quyền lợi giữa các thủ lĩnh, thổ hào địa phương lại trỗi dậy, phân chia phạm vi thế lực. Điển hình là việc tranh đoạt quyền bính và phạm vi cai trị giữa Lý Thiên Bảo và Triệu Quang Phục sau kháng chiến chống Lương thắng lợi, việc tranh đoạt vương quyền giữa Phùng Hải và Phùng An sau khi Phùng Hưng mất.

Sự phân tán chính trị đó là trở ngại lớn trực tiếp ảnh hưởng đến việc biên chế, trang bị và chỉ huy chiến đấu của các lực lượng vũ trang.  Chính những hạn chế nói trên đã ảnh hưởng rất lớn đến phương thức tiến hành và hiệu quả chiến đấu trong các cuộc chiến tranh giữ nước giai đoạn này.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #131 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 01:26:47 PM »

Các hình thức đánh lớn, đánh tập trung đối địch với quân xâm lược trong các cuộc kháng chiến của Hai Bà Trưng, của Lý Bí hay Lý Phật Tử đều dẫn đến thất bại. Nghệ thuật quân sự chiến -tranh cứu nước của tổ tiên ta thời đó nổi bật và có hiệu quả là nghệ thuật đánh du kích. Do am hiểu địa hình sông nước, dựa vào làng xã, đầm lầy và núi non hiểm trở, đặc biệt là dựa vào sức mạnh của nhân dân, người Việt đã vận dụng cách đánh phục kích và tập kích từng bước tiêu diệt giặc.

Tuy cách đánh du kích trong giai đoạn chống Bắc thuộc còn đơn giản và là bước đầu của một truyền thống đánh giặc, nhưng đó là những khởi đầu rất quan trọng để các thế hệ sau kế thừa và phát triển thành một nền nghệ thuật quân sự độc đáo của chiến tranh nhân dân ở Việt Nam.

3. Sự xuất hiện bước dầu nghệ thuật tổ chức và thực hành khởi nghĩa toàn dân.

Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, nghệ thuật khởi nghĩa giành chính quyền đã bắt đầu hình thành với nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ, mà tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa chống Đông Hán thời Hai Bà Trưng (năm 40) và cuộc khởi nghĩa chống Lương thời Lý Bí (năm 542-543), những phong trào quật khởi của toàn dân giành thắng lợi oanh liệt nhất.

Tính chất toàn dân đã biểu hiện khá rõ rệt và thể hiện trên các mặt chủ yếu: tổ chức lực lượng, xây dựng địa bàn và phương thức tiến hành khởi nghĩa.
 
a) Về tổ chức xây dựng lực lượng và xây dựn địa bàn khởi nghĩa:

Sau khi bị nhà Triệu thôn tính và sáp nhập vào Nam Việt (năm 179 TCN), Âu Lạc bị chia thành hai quận Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (bắc Trung Bộ). Trong 70 năm cai trị Âu Lạc, nhà Triệu chưa áp đặt ở đây một bộ máy cai trị như ở Nam Việt, chỉ mới đặt hai viên thứ sử trông coi hai quận, bên cạnh có một bộ máy quan lại giúp việc và một số quân đồn trú nhất định để bảo vệ. Dưới cấp huyện, các Lạc tướng người Việt vẫn nắm quyền cai quản các địa phương như cũ.
 
Từ khi đế chế Hán thôn tính Nam Việt (năm 111 TCN) , Giao Chỉ và Cửu Chân cũng bị sáp nhập luôn vào lãnh thổ của đế chế Hán và là hai quận trong số bảy quận thuộc châu Giao Chỉ do nhà Hán mới lập ra. Trụ sở của châu buổi đầu đặt ở Mê Linh, sau dời về Luỵ lâu (thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) .
 
Nhà Hán đặt tại các quận trực thuộc Giao Chỉ một bộ máy cai trị mới: đứng đầu cả châu là một viên thứ sử, đứng đầu mỗi quận là một thái thú (quan trông coi dân sự) và một viên đô uý (quan trông coi việc quân sự); bên cạnh đó là nhiều quan lại, chức sắc người Hán giúp việc và một lực lượng lớn quân đội được điều từ khắp miền Kinh, Sở (miền nam Trung Quốc) sang trấn trị.

Hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân cũng giống như những quận khác, được chia thành nhiều huyện. Tuy ở cấp huyện không có bộ máy người Hán trực tiếp cai trị, các Lạc tướng vẫn nắm quyền cai quản như trước, nhưng bọn thái Thú, đô uý đóng ở quận trị đã dùng “pháp luật” của Trung Quốc để kiềm chế, trói buộc các Lạc tướng và khống chế, áp bức dân chúng ở các địa phương. ở mỗi huyện đều xây một thành, trại để quân Hán trấn giữ.

Cả Giao châu có 56 thành thì riêng Giao Chỉ có 12 thành và Cửu Chân có 5 thành. Ngoài bộ máy cai trị và lực lượng quân sự trấn giữ và đàn áp nói trên, ở Giao Chỉ và Cửu Chân còn có một số đông bọn quý tộc, quan lại, đại địa chủ Hán tộc mới tới và đương nhiên chúng là chỗ dựa đáng kể làm tăng thêm thế lực cho bộ máy cai trị và lực lượng quân sự nhà Hán trên đất nước ta.

Kể từ những năm 40 trở đi, nhà Hán càng ra sức khống chế, áp bức dân ta, như bãi bỏ chế độ Lạc tướng, đặt quan lại trực tiếp cai trị đến cấp huyện, xây thêm thành lũy và bổ sung quân đội chiếm đóng. Từ đó về sau, trải qua các thời thuộc Đông Hán, thuộc Ngô, thuộc Tấn, thuộc Tề và thuộc Lương, các triều đại phong kiến phương Bắc thống trị nước ta đều có xu hướng tăng cường bộ máy áp bức và dùng lực lượng quân sự làm công cụ đàn áp các phong trào khởi nghĩa.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #132 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 01:31:43 PM »

Sử ký của Tư Mã Thiên cho biết nhà Hán “cách hai năm lại phải điều hàng vạn người” (1) đi đánh dẹp các quận phía nam của đế chế. Sách Diêm thiệt luận của Viên Khoan cũng viết: “Quân sĩ miền Kinh, Sở (Hồ Quảng) mỏi mệt vì Âu Lạc” (2).

Dưới ách thống trị của một thế lực ngoại xâm nằm sát liền biên giới, với một bộ máy đô hộ bằng bạo lực như trên, người Việt thuở đó một khi nổi dậy đấu tranh giành quyền tự chủ tất yếu sẽ gặp khó khăn bởi sự đàn áp khốc hệt của chúng. Đó là sự trấn áp của ngay bộ máy đô hộ bạo ngược ở khắp các quận huyện, đồng thời có sự chi viện nhanh chóng lực lượng từ chính quốc.

Trong tình hình đó, muốn giành thắng lợi phong trào khởi nghĩa không chỉ bao gồm một vài thành phần xã hội nhỏ bé nào, hoặc không chỉ có dân chúng ở một vài địa phương riêng lẻ, mà phải thu hút, lôi cuốn được cả dân tộc, được dân chúng cả nước tham gia. Nói cách khác, để có thể đánh đuổi được kẻ thù xâm lược to lớn và tàn bạo đang thống trị trên đất nước ta, lực lượng khởi nghĩa phải là lực lượng của toàn dân liên kết lại dưới sự lãnh đạo thống nhất của một bộ chỉ huy nghĩa quân có đủ tài năng và uy tín.
 
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là điển hình đầu tiên về một cuộc khởi nghĩa toàn dân chống xâm lược, cởi ách đô hộ ngoại bang. Ngay trong buổi đầu của lịch sử khởi nghĩa chống xâm lược, Hai Bà Trưng đã biết cách tập hợp, tổ chức lực lượng và xây dựng địa bàn khởi nghĩa.

Hai Bà Trưng Trắc và Trưng Nhị, là con gái Lạc tướng Mê Linh, một thủ lĩnh kiệt thiệt của người Việt, thuộc dòng dõi vua Hùng. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng Chu Diên. Chính sách cai trị thắt buộc của nhà Đông Hán với sự tàn bạo của tên thái thú Tô Định đã thôi thúc hai bà hiệp mưu tính kế nổi dậy chống Hán.
 
Hành động anh hùng của con gái được người mẹ hết lòng cổ vũ và giúp đỡ để giao thiệp rộng rãi với nhiều quan lang, phụ đạo, thủ lĩnh các vùng chung quanh, chiêu mộ nghĩa quân chống giặc.

Việc Tô Định giết Thi Sách trước khi khởi nghĩa nổ ra, càng khiến Trưng Trắc cùng em gái thêm quyết tâm tiến hành cuộc đấu tranh đánh đổ chính quyền đô hộ, rửa nợ nước, trả thù nhà, dựng lại cơ nghiệp của vua Hùng thuở trước. 

Lời thề chính nghĩa dân tộc bên sông Hát (Hát Môn) là nền tảng tư tưởng là mục tiêu chiến đấu để hai bà động viên tập hợp nhân dân khắp nơi đồng lòng hiệp sức đánh giặc.  Cũng nhờ mục đích chính nghĩa, hợp lòng người ấy mà khởi nghĩa Mê Linh đã lập tức được sự hưởng ứng của nhiều lạc tướng, Lạc dân trong toàn lưu vực sông Hồng (quận Giao Chỉ).

Đặc biệt cuộc khởi nghĩa này có đông đảo phụ nữ tham gia. Trong đội ngũ nghĩa quân có nhiều phụ nữ được lịch sử suy tôn anh hùng dân tộc và được nhân dân thờ làm thần, có những bà mẹ già như Man Thiện, Diệu Tiên, có những người vợ như Bát Nàn, Đào Kỳ, Lê Thị Hoa, có những cô gái trẻ như Lê Chân, Thánh Thiên, Thiều Hoa, Xuân Nương, Liễu Giáp, Việt Huy, Ả Di, Ả Lã, Nàng Đê, v.v.. Tham gia nghĩa quân cũng có nhiều nam tướng như ông Đống, ông Nà, ông Cai, Đỗ Năng Tế, Hoàng Đạo, Đông Bảng, Đô Chinh, Đô Dương, v.v..

Từ Mê Linh, từ Giao Chỉ, phong trào nổi dậy chống Đông Hán thống trị đã nhanh chóng toả lan ra toàn miền Nam Việt và Âu Lạc cũ.

Tính chất toàn dân, cả nước của khởi nghĩa Hai Bà Trưng được ghi chép trong sử sách của Việt Nam và Trung Quốc, được phản ánh cả trong chính sừ và truyền thuyết dân gian lưu giừ muôn đời.

Chính sử của ta Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: úc bấy giờ thái thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng em gái là Trưng Nhị dấy quân, đánh hãm chỗ châu lị. Tô Định phải chạy về Nam Hải. Quân bà đi đến đâu như gió lướt đến đấy. Các tộc Man Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Lấy lại và dẹp yên được 65 thành  đất Lĩnh Nam. Bà tự lập làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Các thứ sử, thái thú ở quận Giao Chỉ đều chỉ bảo toàn được mình mà thôi” (3) .


(1)  Sử ký, q.30 (Bình chuẩn thư); Tiền Hán thư, q.24.
(2) Viên Khoan: Diêm thiệt luận, q.14.
(3)  Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Sđd, tr. 83.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #133 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 01:34:03 PM »


Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là sự kết tinh của cả một quá trình đấu tranh yêu nước khi thầm lặng, khi công khai của toàn dân. Nó vừa mang tính quy tụ vừa mang tính toả rộng; vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do hai bà lãnh đạo, vừa toả rộng trên toàn cõi Âu Lạc cũ, đạt tới một phong trào nổi dậy nhất loạt trên quy mô cả nước.
 
Từ chỗ quy tụ ở trung tâm Mê Linh, sau đó tiến xuống Tây Vu đánh chiếm thành Cổ Loa, rồi từ Cổ Loa thủy binh của hai bà vượt sông Hoàng, sông Đống, xuôi dòng sông dâu đánh chiếm Luỵ lâu, nơi châu trị và quận trị Giao Chỉ. 

Đòn tiến công chiến lược của nghĩa quân đập ngay vào trung tâm đầu não của chính quyền đô hộ nhà Hán ở phương Nam.  Hoảng sợ trước khí thế nổi dậy ngút trời của quần chúng Âu Lạc, bọn đầu sỏ địch không kịp và không dám chống cự, bỏ chạy tháo thân về nước. Khí thế của khởi nghĩa Mê Linh đã toả rộng vào Cửu Chân, Nhật Nam, sang tận Uất Lâm, Hợp Phố. . . Dân chúng Âu Lạc kẻ trước người sau theo thủ lĩnh địa phương đều tuyên bố theo phục Hai Bà Trưng và suy Tôn Trưng Trắc làm vua.

Đúng năm thế kỷ sau trên đất nước ta lại một lần nữa diễn ra một sự kiện điển hình về sức mạnh quật khởi chống ngoại xâm của toàn dân, đó là cuộc khởi nghĩa Lý Bí những năm 542-543.

Nhân lòng oán giận của nhân dân đối với quân xâm lược, Lý Bí đã hên kết với hào kiệt các châu trên đất nước ta đồng thời nổi dậy. . . Tinh Thiều là người đồng hương giỏi văn chương bất mãn vì sự đối xử bất công của nhà Lương, thủ lĩnh Chu Niên là Triệu Túc và con là Triệu Quang Phục cùng với Phạm Tu, một nhân vật nổi tiếng lúc đó đã sớm tham gia nghĩa quân Lý Bí. Đứng trước khí thế của cuộc khởi nghĩa lớn, có sự liên kết giữa hào kiệt và dân chúng các địa phương, Tiêu Tư khiếp hãi, chạy trốn về Quảng châu. Nghĩa quân đã nhanh chóng chiếm được thành Long Biên, trị sở của chính quyền đô hộ.

 Chính do sức mạnh nổi dậy của đông đảo các tầng lớp nhân dân trên khắp các châu huyện cùng nổi dậy, cuộc khởi nghĩa Lý Bí thành công nhanh chóng và sau đó đánh tan hai đợt phản công của quân Lương, giành toàn quyền làm chủ đất nước. Nhà nước Vạn Xuân độc lập ra đời và tồn tại trong 60 năm.

Ngoài hai cuộc khởi nghĩa điển hình nói trên, khởi nghĩa Mai Thúc Loan (năm 722) cũng là một phong trào nổi dậy chống đô hộ rộng lớn của nhân dân ta. Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đê) là một dân phu có tài trí và khoẻ mạnh, do yêu nước, căm thù quân xâm lược đã kêu gọi những người anh em từng cùng ông phải đi gánh vải quả nộp cho chính quyền nhà Đường nổi dậy khởi nghĩa.
 
Hàng trăm người từ các phường săn quanh vùng và sau đó là nhân tài khắp các châu Hoan, Diễn, Ái (Thanh Nghệ Tĩnh) cũng đến tụ hội dưới cờ nghĩa của ông. Sử nhà Đường cho rằng Mai Thúc Loan đã liên kết được dân chúng trong 32 châu (Cựu Đường thư).  Mai Thúc Loan lợi dụng địa thế vùng Sa Nam xây dựng căn cứ chống giặc.

Đấy là vùng rừng núi rậm rạp nằm cạnh sông Lam ở khúc hiểm sâu. ông lấy Vệ Sơn làm trung tâm, đóng đại bản doanh. ở đấy có thành Vạn An và một hệ thống đồn trại nương dựa vào nhau, có thung lũng rộng làm nơi đóng quân và dự trữ lương thực, vũ khí. Chung quanh có Đụn Sơn, Biểu Sơn, Liêu Sơn, Ngọc Đái Sơn và sông Lam vây bọc, bảo vệ... 

Từ Vạn An, nghĩa quân hoạt động toả rộng khắp các vùng. Người Việt ở miền xuôi cũng như tù trưởng và dân chúng miền núi thuộc các châu kim của “Hoan châu đô đốc phủ’ đều nhiệt tình hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Thế lực của nghĩa quân càng thêm mạnh khi Mai Thúc Loan cử người đi giao thiệp, liên kết với các nước Chăm pa ở phía nam, Chân Lạp ở phía tây và cả nước Kim Lân ngoài biển (Malaixia). 

Trước khí thế ngút ngàn của cuộc khởi nghĩa, bè lũ đô hộ đã khiếp hãi bỏ thành, chạy tháo thân về nước. Đất nước được giải phóng, nhân dân khắp nơi nô nức theo Mai Hắc Đế, lực lượng nghĩa quân phát triển tới hàng chục vạn người.
 
Nghệ thuật tổ chức lực lượng và xây dựng địa bàn khởi nghĩa đã biểu hiện rõ nét trong các cuộc khởi nghĩa nói trên.  Tham gia khởi nghĩa Hai Bà Trưng có đông đảo thành viên các tầng lớp người Việt, từ Lạc tướng, thủ lĩnh địa phương, đông đảo dân chúng và đặc biệt có cả phụ nữ.

Tham gia khởi nghĩa Lý Bí cũng có các hào trưởng, những nhân tài người Việt yêu nước và mọi tầng lớp nhân dân nổi dậy. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan đã tập hợp được đông đủ các thành phần xã hội. Từ những người dân phu, phường săn, nông dân và hào kiệt khắp các vùng đều tham gia nghĩa quân đánh giặc.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #134 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 01:35:52 PM »


Tính chất toàn dân vì thế đã được thể hiện đậm nét. Địa bàn và không gian khởi nghĩa mở rộng khắp nơi. Phong trào Hai Bà Trưng nổ ra trên khắp 65 huyện, thành: từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Uất Lâm, Hợp Phố, v.v. . Khởi nghĩa Lý Bí nổ ra từ đất Thái Bình, rồi mở rộng ra khắp các địa phương, trên nhiều châu huyện cả nước. Khởi nghĩa Mai Thúc Loan không bó hẹp ở các châu huyện miền Trung mà còn mở rộng ra vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ lưu vực sông Lam đến lưu vực sông Hồng, từ Vạn An tiến ra bắc, bao vây phủ thành Tống Bình (Hà Nội). Tình hình đó khiến kẻ thù không thể tập trung được lực lượng để đàn áp các phong trào khởi nghĩa.
 
b) Về phương thức khởi nghĩa: Có thể chia khởi nghĩa Hai Bà Trưng thành hai giai đoạn:

- Giai đoạn thứ nhất, từ khi khởi nghĩa bùng nổ ở đất Mê Linh đến khi đánh đổ được chính quyền đô hộ, cơ quan đầu não của chúng ở Luy lâu.

- Giai đoạn thứ hai, từ sau khi hạ thành Luy lâu cho đến khi giành được quyền làm chủ trên cả 65 huyện thành.
 
Cả hai giai đoạn nói trên đều tiến triển rất nhanh chóng, do đó cuộc khởi nghĩa đã đi đến toàn thắng trong một thời gian ngắn. Giai đoạn đầu diễn ra trong vòng tháng hai năm Canh Tý, tức trong khoảng tháng 3-40. Giai đoạn hai của cuộc khởi nghĩa cũng chỉ trong vài ba tuần lễ; như vậy, toàn bộ quá trình khởi nghĩa từ khi bùng nổ cho đến khi giành toàn thắng chỉ diễn ra trong vòng hai tháng.
 
Có thể nêu ra một số nét đặc sắc trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng như sau:

Là cuộc khởi nghĩa toàn dân với đủ mọi thành phần tham gia. Từ Lạc tướng (những thủ lĩnh người Việt, trước thuộc đẳng cấp thống trị nay đương nhiên quyền lợi bị tước đoạt bị chèn ép, có tinh thần dân tộc, căm ghét bọn thống trị ngoại bang) cho đến Lạc dân (những người dân công xã bị bóc lột khổ cực trăm bề, vốn có truyền thống yêu nước nên càng căm thù giặc hơn).

Kết hợp giữa tiến công và nổi dậy: Dân chúng nổi dậy kết hợp với lực lượng vũ trang (nghĩa quân) tiến công vào thành lũy địch (thời kỳ này, người dân với giáo mác, gậy gộc cũng đã có thể biến thành người chiến binh, dân binh, sát cánh cùng nghĩa quân chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu).
 
Nhất tề nổi dậy đánh thẳng vào cơ quan đầu não của địch. Sau khi đập tan “đô uý trị” (kiểu như căn cứ quân sự quan trọng nhất của địch) liền lập tức đánh vào Luỵ lâu, trung tâm đầu não của bọn đô hộ, khiến chúng như “rắn mất đầu’, nhanh chóng tê liệt, rối loạn, tan rã... Trong khi đó nhân dân các quận huyện, nơi trước, nơi sau cùng nổi dậy giành chính quyền.

Từ căn cứ buổi đầu là Mê Linh, nghĩa quân được các Lạc tướng, các thủ lĩnh có uy tín và dân chúng các huyện nhất tề nổi lên hưởng ứng. Việc phát triển từ cuộc nổi dậy ban đầu ở Mê Linh thành cuộc đồng loạt nổi dậy ở khắp các quận Giao Chỉ, Cửu Chân rồi lan khắp Nhật Nam ở phía nam, đến cả Uất Lâm, Hợp Phố ở phía bắc là một quá trình không phải ngẫu nhiên, tự phát mà nó phản ánh kết quả của phương thức tiến hành khởi nghĩa của tổ tiên ta thuở ấy.
 
Lúc đầu, lực lượng nghĩa quân có độ vài ngàn; nhưng do ảnh hưởng của nó, do uy tín và khả năng tổ chức động viên của Bộ tham mưu, lực lượng nghĩa quân cũng như địa bàn hoạt động ngày một toả rộng. Quần chúng vốn rất hận thù xâm lược, như “tức nước vỡ bờ”, ào ào tham gia nghĩa quân.
 
Lực lượng nghĩa quân chắc chắn không được tổ chức rèn luyện và trang bị đầy đủ như lực lượng quân sự đô hộ của chính quyền Đông Hán, nhưng với tinh thần quật khởi mạnh mẽ của cả một dân tộc quyết tâm đứng lên đánh giặc giành quyền độc lập tự chủ và với sự liên kết cùng nổi dậy đánh địch trên khắp các quận, huyện, cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã làm cho địch không sao có thể tập trung được lực lượng đối phó với một nơi nào; còn ta thì hoàn toàn nắm được quyền chủ động, liên tục tiến công và quy mô tiến công ngày một lớn, có hiệu quả.

Cuộc khởi nghĩa phát triển với các bước nhanh chóng và vững chắc. Sau khi giải phóng Mê Linh, nghĩa quân rầm rộ tiến về giải phóng Tây Vu, đánh chiếm thành Cổ Loa. Truyền thuyết kể rằng, quân của hai bà “voi đi nườm nượp trên bộ, thuyền bè tấp nập dưới sông” và theo mô tả của sách Đại Nam quốc sử diễn ca: “Ngàn Tây nổi áng phong trần, ào ào binh mã xuống gần Long Biên” . . . đã thể hiện khí thế hào hùng, mãnh liệt của đòn tiến công của nghĩa quân.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #135 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 01:37:13 PM »

Từ Cổ Loa, nghĩa quân đánh chiếm Luỵ lâu, quận trị Giao Chỉ, giáng một đòn chí tử vào đầu não chính quyền đô hộ. Các cuộc nổi dậy tiếp theo ở mấy huyện còn lại ở Giao Chỉ và khắp các huyện khác thuộc Cửu Chân, Nhật Nam, Uất Lâm, Hợp Phố là những đợt tiến công dồn dập trong thế trận khởi nghĩa toàn dân, rộng khắp, giành chính quyền trên các quận, huyện; khiến cho bọn quan cai trị đô hộ nhanh chóng đầu hàng hoặc chạy tháo thân về nước. Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:

“Họ Trưng giận thái thú nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục ...” , tức là muốn ca ngợi sự thành công mau chóng của nghĩa quân. 

Như vậy, từ một địa bàn ban đầu, tổ tiên ta đã tổ chức lực lượng nghĩa quân làm nòng cốt, nổi dậy từ địa phương rồi nhanh chóng vận động và liên kết với dân chúng khắp nơi cùng nổi lên, tiến công dồn dập và mãnh liệt khiến cho chính quyền đô hộ hoang mang rồi sụp đổ. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng là sự biểu hiện đầu tiên trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta đi từ khởi nghĩa từng phần tiên lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi. Thành công của cuộc khởi nghĩa chứng tỏ hiệu quả to lớn của phương thức thực hành tiên công của một cuộc khởi nghĩa toàn dân chống xâm lược.

Cuộc khởi nghĩa Lý Bí giữa thế kỷ VI có những điểm khác với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng buổi đầu công nguyên. Khởi nghĩa Lý Bí không chấm dứt bằng việc đánh đuổi bọn quan lại đô hộ về nước, mà kết thúc toàn thắng lúc đánh bại hoàn toàn hai cuộc phản công tiếp ngay sau đấy của quân Lương.

Tính chất toàn dân được thể hiện không đậm nét bằng khởi nghĩa Mê Linh, nhưng quá trình khởi nghĩa cũng cho ta biết rõ, Lý Bí đã từng bước phát động nhân dân tiến hành đánh giặc. Cũng có thể hình dung cuộc khởi nghĩa Lý Bí thành ba giai đoạn: giai đoạn đầu nổi dậy ở Thái Bình, giành thắng lợi ở một địa phương nhỏ; giai đoạn hai là sự nổi dậy đồng loạt của nhân dân khắp các châu, huyện, cùng nghĩa quân tiến công quân địch và chiếm thành Long Biên; giai đoạn ba là giai đoạn củng cố thắng lợi bằng hai lần đánh thắng các cuộc phản công của quân Lương. 

Cuộc khởi nghĩa bùng nổ đầu năm 542, khi Lý Bí đã tổ chức được lực lượng nghĩa quân nòng cốt do mình trực tiếp chỉ huy tại căn cứ ở Thái Bình. Tiếp đó, phong trào đã động viên và liên kết với các hào kiệt, thủ lĩnh ở nhiều châu và thông qua các hào trưởng ấy mà tổ chức nhân dân các châu, huyện cùng sẵn sàng nổi dậy phối hợp.

Như vậy, từ chỗ quy tụ ở một địa phương, phong trào đã toả lan ra các châu, huyện khác, rồi mở rộng phạm vi trên cả nước. Trước cuộc khởi nghĩa ngày một lớn, Tiêu Tư không dám chống cự, vội vàng mang vàng bạc của cải đút lót Lý Bí rồi chạy về nước. Trong vòng chưa đầy ba tháng, nghĩa quân cơ bản đã làm chủ được đất nước.

Bản thân Lý Bí từng đã trải qua chức giám quân ở Đức châu (Đức Thọ, Hà Tĩnh) nên đã có kinh nghiệm về tổ chức quân sự. Các thủ lĩnh địa phương theo về với Lý Bí ngày một đông, như cha con Triệu Túc, Triệu Quang Phục ở Chu Diên đã đem theo cả quân bản bộ của mình, như Phạm Tu hay Tinh Thiều là những người giỏi có uy tín. Nếu so sánh với lực lượng chiếm đóng của quân Lương tại Giao châu và các châu khác trên đất nước ta được tổ chức chặt chẽ, trang bị đầy đủ và huấn luyện quân sự thường xuyên thì lực lượng nghĩa quân ban đầu ấy không thể đông và mạnh bằng.

Thế nhưng lực lượng khởi nghĩa đã chủ động tiến công, liên tục đánh đổ chính quyền đô hộ của địch hết nơi này đến nơi khác, đã từng làm tan rã lực lượng chiếm đóng tại chỗ của địch chuyển lên đánh thắng các cuộc phản công lớn của quân Lương từ Trung Quốc sang. Phát động cuộc khởi nghĩa tại một căn cứ buổi đầu rồi nhanh chóng chuyển thành phong trào nổi dậy đồng loạt hầu khắp các châu, huyện, đánh đuổi bọn quan lại đô hộ và cuối cùng là kết thúc thắng lợi bằng đánh thắng các cuộc phản công của giặc, đó là một đặc điểm nổi bật trong phương thức tiến hành khởi nghĩa của Lý Bí.

Cũng như Hai Bà Trưng, thắng lợi của Lý Bí là thắng lợi của phương thức khởi nghĩa toàn quốc, là thắng lợi của một nghệ thuật khởi nghĩa truyền thống đang bắt đầu hình thành và phát triển trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong thời chống Bắc thuộc, các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm như khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa chống Lương dưới sự lãnh đạo của Lý Bí, khởi nghĩa Mai Thúc Loan và khởi nghĩa chống Đường do Phùng Hưng lãnh đạo đều là những cuộc khởi nghĩa hoặc chiến tranh giải phóng mang tính toàn dân.

Và, đương nhiên nghệ thuật quân sự trong các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh ấy là nghệ thuật quân sự toàn dân đánh giặc của dân tộc Việt Nam. Đó là những mốc son đầu tiên đánh dấu sự ra đời và phát triển của loại hình nghệ thuật quân sự mới, mang đậm sắc thái Việt Nam.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #136 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 02:02:05 PM »


4. Mở đầu truyền thống thủy chiến Bạch Đằng 

Truyền thống bơi tài, lặn giỏi, thạo thủy chiến đã hình thành sớm trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trong nhiều cuộc chiến tranh ở giai đoạn trước thế kỷ X, tổ tiên ta đã lợi dụng khả năng chiến đấu trên sông nước để đánh giặc. Từ thời An Dương Vương bảo vệ thành Cổ Loa, Hai Bà Trưng khởi nghĩa và kháng chiến chống Đông Hán hoặc khi Lý Bí - Triệu Quang Phục đánh quân Lương. . . , quân và dân ta đã sử dụng thuyền chiến và tiến hành tác chiến trên sông nước, ao hồ, đầm lầy.

Nhờ những cuộc khởi nghĩa nổ ra liên tục, truyền thống đó thường xuyên được thử thách và tiếp tục đóng vai trò tích cực trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc. Những biểu hiện cụ thể của truyền thống đánh giặc trên sông nước là quân thủy Hai Bà Trưng đánh quân Đông Hán trên sông Bạch Đằng và hồ Lãng Bạc, quân thủy Vạn Xuân đánh quân Lương ở sông Tô Lịch và hồ Điển Triệt; đặc biệt là đội quân du kích với thuyền độc mộc chiến đấu trên sông nước khu vực đầm Dạ Trạch dẫn đến cuộc phản công lớn đại phá quân Lương (năm 550).
 
Đó cũng là những trận đánh của đội quân của ông “Vua Đen” họ Mai (Mai Hắc Đế) trên dòng sông Lam hồi thế kỷ thứ VIII.  Truyền thống và nghệ thuật thủy chiến của dân tộc ta không ngừng trưởng thành, đã chuẩn bị vật chất cho cuộc nổi dậy có tính chất quyết định của nhân dân ta hồi đầu thế kỷ X, với những thắng lợi của họ Khúc, họ Dương trong lần kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán lần thứ nhất (931).

Và cuối cùng, truyền thống đó được kết tụ và phát huy cao độ trong kháng chiến chống Nam Hán với trận quyết chiến chiến lược trên sông Bạch Đằng. Năm 938, Ngô Quyền cùng quân dân ta đã mở đầu một truyền thống đánh giặc mới: truyền thống thủy chiến Bạch Đằng.

Bấy giờ nhân dân ta mới giành được độc lập. Chính quyền tự chủ họ Khúc mới xây dựng còn non trẻ và những hậu quả nặng nề của hơn 1.000 năm Bắc thuộc vẫn chưa dễ gì khắc phục được. Nhà Nam Hán tuy chỉ là một tiểu quốc ở miền đông nam Trung Quốc trong thời Ngũ đại thập quốc, nhưng lại là một nước mạnh đủ sức hùng cứ một phương, trấn giữ một vùng dồi dào về nguồn lợi kinh tế và đặc biệt là về quân sự, có một lực lượng thủy quân khá hùng hậu, trang bị nhiều thuyền chiến lớn chắc chắn, và một đội quân cung nỏ rất lợi hại.
 
Vua Nam Hán hết sức cay cú vì đã bị Dương Đình Nghệ đánh bại trong lần xâm lược năm 930-931, nên cuối năm 938, cha con Lưu Cung quyết tâm chiếm bằng được nước ta. Cuộc kháng chiến thống Nam Hán vì thế diễn ra trong một tình thế hết sức khó khăn. Ngô Quyền với một đội “quân mới họp của nước Việt” (1) mà phải chống lại hàng vạn quân thiện chiến của nhà Nam Hán, đó quả là một thử thách có ý nghĩa quyết định trên bước đường giành lại độc lập hoàn toàn của nhân dân ta.

Thế nhưng đoàn binh thuyền Nam Hán do thái tử Hoàng Thao chỉ huy vừa tiến vào cửa sông Bạch Đằng đã bị chặn lại  và bị đánh tan tành. Quân giặc vừa mới xâm phạm vào địa đầu Tổ quốc chưa kịp gây tội ác đã bị trừng trị đích đáng.

Cả cuộc kháng chiến được giải quyết bằng một trận quyết chiến chiến lược. Toàn bộ đạo quân xâm lược Nam Hán cùng chủ tướng đều bị nhấn chìm trong sóng nước Bạch Đằng.  Có thể nói trận Bạch Đằng năm 938 là trận quyết chiến chiến lược lớn nhất, có ý nghĩa to lớn nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam từ thế kỷ X về trước.

Trận đánh đã kế thừa và phát huy có hiệu quả cao truyền thống thủy chiến của dân tộc ta. Cả cuộc chiến tranh chỉ giải quyết nhanh gọn bằng một trận quyết chiến, chỉ diễn ra trong vòng một ngày, bắt đầu từ lúc nước triều lên và kết thúc vào lúc nước triều xuống thấp. Đó là một trận tiêu diệt nhanh, gọn, triệt để nhất, đánh tan quân xâm lược ngay từ cửa ngõ của đất nước. 

Chiến thắng đó chứng tỏ sự trưởng thành của ý thức dân tộc Việt Nam, sự lớn mạnh của dân tộc Việt Nam về cả tinh thần và trí tuệ đánh giặc. Nó được ghi vào lịch sử như một võ công chói lọi, đời đời bất diệt vì nó khẳng định một cách chắc chắn sự toàn thắng của nhân dân ta trên chặng đường dài lịch sử chống Bắc thuộc, chống đồng hoá, quyết giành lại non sông đất nước, vì độc lập tự chủ. Chiến công năm 938 đã rửa sạch nhục mất nước hơn một ngàn năm, tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập và phát triển.

Trong mưu kế của quân Nam Hán khi xâm lược nước ta, ngoài đoàn binh thuyền của thái tử Hoàng Thao giữ vai trò chủ công và đạo quân do đích thân vua Nam Hán chỉ huy áp sát biên giới sẵn sàng tiếp ứng khi cần thiết, còn có lực lượng nội ứng của tên Việt gian Kiều Công Tiễn ở La Thành.

Do đó, để phá kế hoạch phối hợp của địch, Ngô Quyền đã chủ trương trước hết phải diệt trừ lực lượng phản bội, sau đó tập trung lực lượng đánh trận thủy chiến quyết định tiêu diệt đạo quân của Hoàng Thao thật nhanh gọn, khiến vua Nam Hán không kịp tiếp ứng, phải chấp nhận thất bại.


(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, t.1, tr.204.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #137 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 02:03:13 PM »


Lần đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, Ngô Quyền đã lợi dụng thế “thiên hiểm” của sông Bạch Đằng để bố trí trận địa phục binh, kết hợp ém binh mai phục với bãi cọc ngầm vạt nhọn bịt sắt và lợi dụng nước triều lên xuống để đánh giặc. Sông Bạch Đằng sâu và rộng, núi rừng san sát ven bờ, trên bãi sông và trên các kênh rạch, lau lách và cây cối um tùm, có nhiều nhánh sông và nước triều lên xuống rất mạnh. Việc xác định không gian và thời gian quyết chiến của Ngô Quyền đều nhằm triệt để lợi dụng địa hình, phát huy cao độ ưu thế thủy chiến của quân dân ta trong điều kiện thiên thời, địa lợi và nhân hoà để đánh địch. Trận địa cọc ngầm đã có tác dụng to lớn; lối đánh nghi binh lừa và nhử địch vào trận địa phục binh đã thực hiện chính xác, đúng với ý định của Bộ tham mưu.

Trong lịch sử, kẻ thù của dân tộc ta chủ yếu là các thế lực phong kiến Trung Hoa ở sát liền biên giới. Trong nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, quân giặc thường tiến vào nước ta theo hướng bắc và đông bắc của Tổ quốc. Chúng kết hợp tiến công cả đường bộ và đường thủy, trong đó trên đường thủy, quân giặc lại hay theo hướng Vân Đồn - Bạch Đằng tiến vào nội địa nước ta.

Chính vì thế, trận Bạch Đằng của Ngô Quyền năm 938 có ý nghĩa mở ra truyền thống đánh giặc trên sông nước Bạch Đằng. Nghệ thuật thủy chiến của Ngô Quyền đã để lại những bài học kinh nghiệm lớn mà ông cha ta trong các thế kỷ kế tiếp đã vận dụng thành công.

Năm 981, Lê Hoàn kế thừa kinh nghiệm của Ngô Quyền đã cho đóng cọc trên sông Bạch Đằng và dùng thủy quân chặn đánh giặc Tống. Đặc biệt năm 1288, nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn đã kế thừa phát huy tuyệt vời truyền thống Bạch Đằng bằng một trận quyết chiến chiến lược vĩ đại kết thúc cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên. Trận quyết chiến đó cũng lợi dụng địa hình “thiên hiểm” Bạch Đằng, cũng bố trí trận địa cọc ngầm, cũng dùng quân mai phục nhử định và lợi dụng con nước thủy triều.

Trận Bạch Đằng năm 1288 cũng kết thúc thắng lợi nhanh gọn như trận Bạch Đằng năm 938. Cả đoàn thuyền chiến lớn hơn 600 chiếc với khoảng sáu vạn quân Nguyên cùng tất cả các tướng soái chỉ huy đều bị tiêu diệt hoặc bắt sống. Đó là một chiến công oai hùng của quân dân thời Trần dưới tài năng tổ chức, chi huy của Trầu Quốc Tuấn. Đó cũng là một đỉnh cao của sự kế thừa kinh nghiệm truyền thống Bạch Đằng được mở đầu từ thời Ngô Quyền đánh giặc Nam Hán.

Như vậy, nếu như chính cậu bé làng Gióng xưa đã vươn mình thành người khổng lồ lập nên chiến công đánh tan giặc ngoại xâm, nếu như nước Việt ta thời Văn Lang - Âu Lạc đã vươn tới trưởng thành một Đại Việt thời phục hưng, thì truyền thống thủy quân và nghệ thuật thủy chiến Đại Việt cũng là sự tiếp nối truyền thống từ thời dựng nước và sau hàng ngàn năm Tôi luyện, trưởng thành trong ngọn lửa đấu tranh giành độc lập dân tộc.
 
Tuy nhiên, quá trình trưởng thành của sức sống dân tộc trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc cũng đồng thời là quá trình dân tộc ta dưới những hình thức mới, tiếp tục trao đổi văn hoá với các dân tộc xung quanh, tiếp thu những thành tựu văn hoá mới để làm cường tráng thêm sức sống của dân tộc ta.

Thủy quân Đại Việt từ thế kỷ X, một mặt đã kế tục duy trì được truyền thống căn bản thời dựng nước, mặt khác đã trưởng thành với nhiều yếu tố mới được tiếp thu trong quá trình tiếp xúc hay đấu tranh với ngoại bang.

Đó là những kinh nghiệm về mặt tổ chức, biên chế, cả trang bị thuyền bè, vũ khi, thậm chí cả nghệ thuật thủy chiến trong nghệ thuật quân sự Trung Quốc, mà thời bấy giờ - chủ yếu là nghệ thuật chiến đấu trên sông nước của các dân tộc Việt sống ở hạ lưu và phía nam sông Dương Tử, thông qua những cuộc đụng độ quân sự trực tiếp hay qua con đường sách vở. Sau hơn 1.000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, dân tộc ta đã xây dựng và khẳng định thêm nhiều truyền thống mới, trong đó có truyền thống thủy chiến Bạch Đằng.

Tóm lại, sức sống của nền văn hoá, sự phát triển của ý thức dân tộc, tài nghệ tổ chức và thực hành khởi nghĩa và chiến tranh của tổ tiên là những nhân tố quan trọng thúc đẩy cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ta trong quá trình cởi bỏ ách đô hộ của các triều đại phong kiến Trung Hoa từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ X.

Từ trong đêm trường nô lệ, với sức sống mãnh liệt của nền văn hoá dân tộc, với truyền thống quật cường của mình, nhân dân ta đã tạo ra một sức mạnh vô đích Việt Nam, đó là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Khởi nghĩa chống Bắc thuộc là khởi nghĩa toàn dân, có tinh thần quần chúng rộng rãi, mau chóng phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc.
 
Đối với lịch sử quân sự Việt Nam, giai đoạn trước thế kỷ X là giai đoạn bước đầu hình thành và phát triển của nghệ thuật quân sự, trong đó chủ yếu là nghệ thuật quân sự của khởi nghĩa về chiến tranh giải phóng, đồng thời cũng là bước đầu hình thành nghệ thuật quân sự của chiến tranh giữ nước.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #138 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 02:18:36 PM »

KẾT LUẬN

Năm 179 TCN, cuộc chiến đấu giữ nước của nhân dân Âu Lạc dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương chống quân xâm lược Triệu Đà thất bại, từ đó nước ta bị phong kiến phương Bắc qua nhiều triều đại như Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần, Tuỳ, Đường đô hộ. Sử sách trong nước gọi đó là thời B ắc thuộc .

Thời Bắc thuộc kéo dài hơn một ngàn năm (từ 179 TCN đến năm 938); trên thực tế gồm cả Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, cả đồng hoá và chống đồng hoá; chủ yếu đó là một đêm trường nô lệ, bị áp bức, nhưng cũng có những giai đoạn nhân dân ta đã đứng lên đấu tranh thắng lợi, giành được quyền tự chủ tạm thời. Nhìn tổng thể, đấy là một thời kỳ đau thương của đất nước, một giai đoạn lịch sử đầy thử thách hiểm nguy đối với sức sống của dân tộc ta, một trở ngại tưởng chừng không thể vượt qua được.

Nguy cơ lớn nhất không phải chỉ là thời gian mất nước quá dài mà là mưu đồ, là quốc sách đồng hoá của kẻ xâm lược Quân thù thật nham hiểm, muốn phế bỏ tất cả những truyền thống, bản sắc văn hoá riêng của dân tộc ta đã được xây đắp từ thời dựng nước. Bọn cướp nước không chỉ dừng lại ở sự áp bức, bóc lột nhân dân, vơ vét của cải, mà thâm độc hơn là muốn xoá bỏ vĩnh viễn đất nước này, sáp nhập hẳn vào lãnh thổ của nhà nước quân chủ phương Bắc.

Thống trị trên một quốc gia đất rộng người đông, có trình độ văn minh cao, với bao kinh nghiệm Nô dịch và đồng hoá, kẻ thù hoàn toàn có khả năng thực hiện âm mưu nham hiểm đó. Lịch sử cho thấy, lúc bấy giờ, trong hoàn cảnh tương tự như Âu Lạc, một số quốc gia đã thành lập hoặc trên đường thành lập, cuối cùng đã bị đồng hoá thực sự, vĩnh viễn không còn lãnh thổ và bản sắc riêng của mình; mà chỉ còn lại là những bản sắc địa phương của văn minh Trung Hoa (Giang Đông, Giang Nam, Tây Nam, Lưỡng Quảng).

Để thực hiện dã tâm đồng hoá, bọn đô hộ đã dùng mọi thủ đoạn nhằm khuất phục và làm mai một ý chí đấu tranh giành quyền tự chủ của nhân dân ta, làm mất đi những truyền thống tốt đẹp vốn có, làm suy yếu và tan rã sức mạnh cố kết của dân tộc ta. Tất cả cơ sở tạo nên sức mạnh thống nhất của dân tộc từ lãnh thổ - giang sơn gấm vóc đến ngôn ngữ cộng đồng và thành quả lao động, xây dựng của nhân dân ta trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá - tư tưởng đều bị chúng tìm cách phá huỷ. Sự cố kết cộng đồng được xây đắp từ bao đời đang trải qua một phen thử thách gay go.  Vận mệnh của đất nước đứng trước những mối đe doạ ghê gớm về nhiều mặt. Đó là nguy cơ bị diệt vong, nguy cơ bị đồng hoá và nền văn minh Âu Lạc - Việt cổ đứng trước nguy cơ tàn lụi. Sự trường sinh của nước nhà khác nào ngàn cân treo sợi tóc!

Tuy nhiên, sống trên một lãnh thổ đã được tổ tiên dựng xây từ sớm, nhân dân ta luôn ý thức sâu sắc về quê hương đất tổ, về làng - nước của mình. Trước cảnh nước mất nhà tan, mỗi một cơ dân người Việt thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều đứng lên đấu tranh để cứu nước, cứu nhà. Bất chấp mọi thủ đoạn chia rẽ, chia năm xẻ bảy và những hành động sáp nhập bằng bạo lực của kẻ thù, phong trào đấu tranh của nhân dân vẫn diễn ra liên tục và đã từng bước làm thất bại âm mưu của bọn cướp nước.

Mưu đồ biến nước ta thành “nội địa” của chúng không thực hiện được. Bằng lao động và đấu tranh bền bỉ, cộng đồng người Việt cổ đã tạo ra những bước phát triển nhất định trên các lĩnh vực đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội. Với tinh thần tự lực tự cường, nhân dân ta không những phát huy kinh nghiệm cổ truyền của mình, giữ vững được những yếu tố truyền thống cơ bản, mà còn hấp thụ được nhiều nhân tố văn hoá tích cực ngoại sinh, kể cả từ nước đi xâm lược.

Qua hơn ngàn năm Bắc thuộc, nền văn hoá dân tộc với bản sắc, bản lĩnh riêng và những truyền thống tốt đẹp của nó vẫn được nhân dân ta bảo lưu và phát triển từng phần. Những thành quả đấu tranh trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá đã góp phần tăng thêm tiềm lực cho sự nghiệp đánh giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước. 

Dưới ách thống trị của ngoại bang, đứng trước nhiều mối đe doạ và thử thách hiểm nghèo, sức sống của dân tộc mà cội nguồn cơ bản là tinh thần yêu nước, ý chí tự chủ, sự cố kết cộng đồng được tôi luyện và phát huy sức mạnh phi thường của nó. Ngọn lửa yêu nước không bao giờ bị dập tắt; lúc ngấm ngầm âm ỉ nơi xóm làng, lúc bùng cháy dữ dội khắp cả nước.  Phong trào đấu tranh thể hiện rõ quyết tâm giành độc lập và sức mạnh đoàn kết của toàn dân ta.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #139 vào lúc: 04 Tháng Hai, 2009, 02:20:36 PM »

Tinh thần độc lập tự chủ kiên cường và chí khí đấu tranh bất khuất đã lôi cuốn thế hệ này đến thế hệ khác đứng lên chiến đấu chống kẻ thù chung.  Hai Bà Trưng Trắc, Trưng Nhị cùng Bà Triệu tiêu biểu cho khí phách dân tộc, cho ý chí quật cường, quyết tâm đánh tan giặc “giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ”. Hình ảnh của các bà lẫm liệt hiên ngang trên mình vòi chiến, chỉ huy nghĩa quân đánh giặc đã mãi mãi khắc sâu trong tâm trí người Việt Nam và trở thành những ngọn đuốc soi đường rực sáng tinh thần yêu nước, với ý chí không gì và không bao giờ lay chuyển được, là quyết tâm giành lại, giữ gìn đất nước của tổ tiên.

Từ đó các cuộc khởi nghĩa nổ ra ngày càng nhiều với quy mô và hiệu quả ngày càng lớn. Lý Bí đánh tan quân Lương, lập nước Vạn Xuân, tự xưng là Nam Đế (vua nước Nam, 544) .  Kháng chiến chống Tuỳ (602) cùng các cuộc khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ nhà Đường của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), của Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế, 722), của Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương, 766 - 791), của Dương Thanh (819 - 820) . . . là những minh chứng cho sự trưởng thành của ý thức dân tộc, của tinh thần quyết chiến đấu vì độc lập tự do.

Khúc Thừa Dụ khởi nghĩa thành công, xây dựng chính quyền tự chủ họ Khúc (905 - 930), rồi chuyển sang chính quyền tự chủ họ Dương (Dương Đình Nghệ, 931 - 937); dẫn đến chiến thắng Bạch Đằng, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán 938), kết thúc thời kỳ bị mất nước kéo dài hơn một thiên niên kỷ.

Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh nói trên là những biểu tượng hào hùng của ý chí tự cường, tinh thần quật khởi và khí phách anh hùng của dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Trong đó có những cuộc khởi nghĩa toàn dân quy mô lớn cả nước, như khởi nghĩa Hai Bà Trưng khởi nghĩa Lý Bí; có những cuộc khởi nghĩa địa phương phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộc, thường là xây dựng căn cứ địa ở một vùng nhất định rồi chớp thời cơ tiến công vào sào huyệt của địch, giành thắng lợi trên cả nước, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan, khởi nghĩa Phùng Hưng; có những cuộc binh biến hay khởi nghĩa của sĩ quan và binh lính yêu nước trong chính quyền đô hộ như khởi nghĩa Triệu Chỉ, khởi nghĩa Dương Thanh. . .

Các cuộc khởi nghĩa đó sau khi giành được chính quyền đều phải bước vào cuộc chiến đấu giữ nước hết sức ác liệt; như thời Hai Bà Trưng, Lý Bí, Phùng Hưng. . . Ngay cả trong hoàn cảnh đặc biệt thuận lợi, khi ở Trung Quốc nhà Đường đang hấp hối và ở nước ta chính quyền đô hộ cũng đã bị lung lay dữ dội, nhân dân ta, do họ Khúc cầm đầu đã vùng lên giành chính quyền một cách nhanh gọn, hầu như không đổ máu. Nhưng sau đó, phải bằng đấu tranh kéo dài 33 năm (905 - 938) với hai cuộc chiến tranh chống Nam Hán mới đi đến độc lập hoàn toàn.  Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn Bắc thuộc và chống Bắc thuộc nói trên chứng tỏ:

1. Trong hơn một ngàn năm, kẻ xâm lược và đô hộ nước ta là một nước lớn, có khi phát triển thành đế chế lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông như đế chế Hán - Đường. Cùng với nhà Tần (221 TCN - 206 TCN), nhà Hán (206 TCN - 220) đã chinh phục Bắc Triều Tiên, chiếm đất đai các bộ lạc du mục phía bắc, mở rộng lãnh thổ về phía Trung á, xâm lược nước Dạ Lang, Điền ở tây nam, diệt các nước Nam Việt, Âu Lạc ở phía nam. Nhà Đường (618 - 907) mở rộng lãnh thổ về mọi phía, đặt An Tây, [Đông, Bắc, Nam] đô hộ phủ, xây dựng chính quyền xâm lược đến tận cấp hương, xã. Tuy nhiên, từ thế kỷ II TCN cho đến thế kỷ X, Trung Hoa cổ đại trải qua biết bao biến thiên. Khi thì thống nhất, khi thì phân tranh, các tập đoàn phong kiến liên tiếp xâu xé lẫn nhau, tranh bá đồ vương, ngự trị trên xương máu nông dân và nô lệ. Đối với các dân tộc mà chúng gọi là “Man Di’ thì quốc sách của chúng vẫn quán triệt tư tưởng bành trướng và xâm lược, buộc phải triều cống khuất phục, cuối cùng biến thành lãnh thổ của “thiên triều”.

Đối với nước ta, các triều đại phong kiến phương Bắc đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp nhằm đồng hoá nhân dân ta. Âm mưu đồng hoá của kẻ thù vô cùng thâm độc. Chúng xoá bỏ tên nước, chia Âu Lạc thành quận huyện, sáp nhập vào lãnh thổ Trung Quốc như một số bộ tộc và nước Việt khác ở vùng Hoa Nam. Chúng phá trống đồng, huỷ hoại di sản văn hoá dân tộc, bắt dân ta phải từ bỏ lối sống của mình, phải thay đổi phong tục tập quán, theo pháp luật và lễ giáo phương Bắc.

Tất cả những gì là cơ sở tồn tại và sức mạnh phục hồi nền độc lập của một quốc gia, dân tộc đều bị chúng tìm mọi cách, dùng mọi thủ đoạn để huỷ hoại. Chúng dùng ưu thế sức mạnh nhiều mặt về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá để thống trị, áp bức và đồng hoá dân ta.  Chúng liên tiếp dùng binh đao để xâm lược, giết chóc và đàn áp cướp sạch của quý, triệt hết người tài, làm cho nền kinh tế kiệt quệ, làm biến đổi bản sắc văn hoá dân tộc. Đất nước, cơ đồ của các vua Hùng, vua Thục, mà người Việt đã xây đắp nên qua bao thế hệ lâm vào thảm hoạ diệt vong; cuộc sống của nhân dân ta thật đau thương, tủi nhục, khốn khổ trăm bề.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM