Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Mười Hai, 2019, 02:27:09 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm?  (Đọc 216533 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #40 vào lúc: 02 Tháng Một, 2008, 06:33:42 PM »

Ông Nhu thì coi thường giai cấp quan lại cũ, ông Tổng thống vẫn hoài nhớ dĩ vãng xa xưa cho nên ông mới tái lập Kim khánh bội tinh. Lập lại cả chức vụ Chánh phó Tổng tại địa phương. Ông lại hay quan niệm gọi cấp bậc của thuộc viên từ thời Pháp. Chẳng hạn ông Tá X. ông Tổng thống lại thường nói: "à ông Đội phẩm" (ông này vốn thuộc hàng xuất đội) ông Y, ông Tổng thống quen biết từ xưa nên lại thường gọi : " à ông Huyện. . . "Không phải cứ quen thân ông bà Nhu là được Tổng thống Diệm tín nhiệm, nhiều khi lại ở thế kẹt. Ngô Đình Diệm là người nóng tính nhưng cả nể.

  Cũng vì sự cả nể nên bao nhiêu tai tiếng về vụ Trần Văn Khiêm đến tai ông, ông đều bỏ qua, chỉ vì Khiêm là em ruột bà Nhu (sau đảo chính 1963 Khiêm bị khép tội mật vụ).

  Lương Khải Minh xác nhận, Khiêm chả có chức vụ gì cả, không một ai giao cho anh ta công việc gì. Nhưng dựa vào thế của người chị, Khiêm đã ra ngoài lộng hành, nhân danh người này người kia. Khi vào dinh thì chạy lăng xăng. Nể bà Nhu nên không ai để ý. Có mấy khi Khiêm đượcgặp Tổng thống Diệm đâu. Có một lần sĩ quan tuỳ viên Lê Công Hoàn ghi nhận: Hôm ấy Khiêm được Tổng thống Diệm cho gọi vào. Khiêm tưởng Diệm ban phát chức vụ bổng lộc, nên mặt mũi quan trọng, hất hàm bảo Đại uý Lê Công Hoàn “Nè, ông Đại uý ông đưa tôi vào gặp Tổng thống", ông Hoàn nhã nhặn: "Thưa ông, Tổng thống đang bận, xin ông chờ". Nhưng Khiêm ra vẻ quan trọng. "Tôi cần vào gặp Tổng thống ngay" . Nói xong Khiêm kéo tay nhìn đồng hồ rồi tiếp: "10 giờ tôi có hẹn gấp Tôi không thể chờ được lâu”, Hoàn đáp thủng thẳng: 'Được xin ông cử chờ". Đáng lý ra Lê Công Hoàn đưa Khiêm vào gặp Diệm ngay sau đó nhưng "trả thù” cho bõ ghét, nên Hoàn cứ để cho Khiêm ngồi chờ đến 11 giờ trưa mới dẫn vào yết kiến ông Diệm. Sĩ quan tuỳ viên vừa khép cửa đã nghe thấy tiếng ông Diệm la mắng quát tháo Khiêm thật dữ dội. Một lát sau Khiêm đi ra mặt tái xám, tiu nghỉu, cắm đầu rảo bước.

  Khiêm không có một chức vụ, một vai trò nào, ấy thế mà ở ngoài ai nghe thấy Khiêm cũng ngán. Khiêm chỉ là thứ cáo mượn oai hùm. Dưới chế độ Ngô Đình Diệm không thiếu những kẻ cáo mượn oai hùm như Khiêm.

  Nhưng bọn họ có khả năng tạo nên sự nghẹt thở trong các khối quần chúng, reo rắc thêm hoang mang trong dân gian, đi đến đâu chúng cũng nhân danh ông này, ông nọ để lấy le và để lường gạt cũng có . . .

  Bất cứ một chế độ nào muốn vững vàng, muốn dân chúng tín nhiệm thì phải sáng suốt trừ ngay những thành phần cáo mượn oai hùm, nhất là chúng con cáo đó lại là bà con anh em của người cầm quyền thì sự tác hại của nó đối với chế độ không phải là nhỏ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #41 vào lúc: 03 Tháng Một, 2008, 05:36:16 PM »

Gần những năm cuối cùng của chế độ, gia đình Tổng thống Diệm cũng bắt đầu phân hoá và mâu thuẫn lớn dần trong mấy anh em. Ông Nhu càng ít gặp ông anh Tổng thống. Nhiều việc ông anh tự quyết định mà không cần hỏi "chú Nhu”.

  Ngoài miền Trung, Cẩn bắt đầu uống rượu.Trước kia Cẩn chỉ nhấm nháp chút đỉnh rượu lễ. Từ năm 1961,1962 Cẩn đã uống cả ly lớn. Mỗi lần say ngất ngư, ông ta lại thét, chửi mắng. Cố vấn thì càng thêm say mê săn bắn. Đại uý Thạp, tuỳ viên của ông cho biết rằng, có khi ông Nhu nằm dưới hầm săn cọp hai đêm liền. Có khi phải theo ông ta đi bộ cả ngày trong rừng già Phan Rang. Đó cũng là dấu hiệu báo trước sự thay đổi lớn trong nội tâm của những cột trụ chế độ đang ở giai đoạn suy tàn.

  Trong năm 1963, giới thân cận Ngô Đình Cẩn cho biết: ông Cẩn ức mà thổ huyết ít nhất cũng ba lần.

  Một lần ngồi ăn cơm với các anh, không biết anh em "xào nấu” nhau ra sao (người ngoài không thể biết được) Cẩn mặt đỏ gay rồi thổ huyết ngay trong bữa ăn (nói nôm na là tức giận mà hộc máu).

  Cố vấn Nhu cũng như Ngô Đình Diệm bắt đầu bị ám ảnh nặng nề bởi tổ chức CIA. ông Nhu vẫn cho rằng CIA thuộc loại "..."thứ đó hết xài nổi". Dạo ấy muốn dèm pha ai, hại ai chỉ cần cấp báo với ông Nhu "người ấy hoạt động cho CIA”, đương sự kể như tan tành công danh, mất chức nghiệp.

  Thế giới của anh em Ngô Đình Diệm bắt đầu xa cách nhau. Xin đưa ra một thí dụ đã nói lên sự xa cách đó. Tháng 10-1963, Tổng thống Diệm với sự góp ý của Nhu đã ra lệnh giải tán ngay Văn phòng Cố vấn chỉ đạo miền Trung của Ngô Đình Cẩn, Diệm cho rằng mọi công việc đều do toà Đại biểu Chính phủ giải quyết. . .Đại uý Nguyễn Văn Minh rời khỏi chức vụ Chánh văn phòng Cố vấn chỉ đạo miền Trung. Đại uý Minh qua lời giới thiệu của cha Bửu Đồng (khi ông Minh còn đóng ở đồn Cửa Tùng) đã trở thành nhân vật cốt cán của Cẩn từ tháng 5-1954. Trong 9 năm sống ở bên cạnh Ngô Đình Cẩn, hầu hết trong gia đình họ Ngô từ Tổng thống đến Đức Cha không còn xa lạ gì Đại uý Minh... Minh trở thành người trong gia đình và rất được tin cẩn.

  Tháng 10- l963, bỗng dưng Đại uý Minh bị gọi vào Sài Gòn qua thủ tục hành chánh. Một thủ tục chưa bao giờ áp dụng đối với người trong nhà.Bộ Nội vụ theo lệnh Tổng thống đánh công điện cho Toà Đại biểu chỉ thị cho Minh vào trình diện Tổng thống. Mà Cẩn không được hỏi ý kiến. Điều ấy làm Cẩn tức giận không ít.

  Khi vào gặp Tổng thống Diệm, Tổng thống vẫn vui vẻ hỏi: "Tôi nghe nói ở ngoài đó anh liên lạc với người Mỹ nhiều lần hỉ? " Đại uý Minh trình bày sự liên lạc của ông với Lãnh sự và Phó Lãnh sự Mỹ tại Huế. Đại cương ông Minh nói: "Con có gặp gỡ họ luôn. Đây là theo chỉ thị của ông Cậu ông Cậu bảo con nên tìm cách tiếp xúc người Mỹ và tìm hiểu xem thái độ của họ ra sao" - Tổng thống Diệm gật đầu không nói gì. Khi Đại uý Minh trở lại Huế vào gặp Cẩn và đưa cho ông ta xem sự vụ lệnh thuyên chuyển Minh lên trường Võ bị Đà Lạt thì vẻ mặt Cẩn lúc ấy đăm chiêu và lộ vẻ buồn rất sâu đậm. Ngô Đình Cẩn bảo Đại uý Mình: "Thôi thì anh cứ đi. ông Cụ làm thế này là ông Cụ đập vào mặt tôi." Hôm ấy là ngày 28-10-1963. Đại uý Minh sau 9 năm phục vụ bên cạnh Ngô Đình Cẩn phải xếp hành trang rời bỏ cố đô Huế. Có điều đáng nhớ: Đại uý Minh sinh trưởng tại miền Bắc, khi trở thành Chánh văn phòng của Ngô Đình Cẩn mới trên 26 tuổi...Một số người vẫn cho rằng Cẩn không ưa người miền Bắc, nhưng trường hợp Đại uý Minh cũng như nhiều cộng sự viên thân cận của ông Cẩn gốc miền Bắc đã đủ nói lên đây chỉ là "dư luận", có thể dư luận ấy xuất phát từ ngôn ngữ của Cẩn mỗi khi la hét những người gốc Bắc.

  Đại loại sự xa cách trong gia đình họ Ngô là như vậy. Chỉ có thể nói là xa cách còn sự bất hoà không mấy ai biết được ngoại trừ người thân thiết của ba anh em ông.

  Ông Tổng thống nóng nẩy chửi ai thì chửi thẳng vào mặt. ông Nhu không ưa ai nhưng vẫn cười nửa miệng, lạnh lùng khó hiểu. Ông Cẩn hay quát tháo, xử dụng ngôn ngữ bình dân với thái độ hách dịch kiểu Đổng lý thời xưa.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #42 vào lúc: 05 Tháng Một, 2008, 03:54:42 PM »

UY QUYỀN

  Đáng lý ra, những tiểu tiết thuộc vấn đề nhân sự không nên trình bày, song có một điều: Chính những tiểu tiết vụn vặt nhiều khi lại làm hỏng đại sự. Ngô Đình Diệm có cái uy của người lãnh đạo tối thiểu, nhưng ông lại luôn luôn bị chi phối bởi những chi tiết vụn vặt do cá tính của ông cũng như sự dị biệt trong cá tính của anh em ông.Về Ngô Đình Nhu, ai cũng phải công nhận rằng ông ta rất giỏi, thông minh, am tường và thông suốt nhiều vấn đề, nhưng lại quá kiêu ngạo, tính tình lại lạnh lùng khép kín.

  Tổng thống Diệm là một người giữ chữ Lễ, chữ Nghĩa theo tiết độ của nho gia đã trở thành cái khung chắc nịch nhốt ông vào trong đó. Do đó mà cái tôi tình cảm ( le moi sensible) của ông không thể hiện được ra ngoài để thâu phục nhân tâm và hỗ trợ cho cái uy sẵn có của ông. Sau 1963, phải nhìn nhận rằng, trong hàng lãnh đạo quốc gia tại miền Nam, chưa có một nhà lãnh đạo nào chứng tỏ có cái uy như ông. Đó là ưu điểm và là điều cần thiết số một của một ông Quốc trưởng. Không có uy thì quốc gia còn gì phép tắc, thể thống và uy quyền ?

  Những người thân cận đều xác nhận rằng: Phải sống lâu với Tổng thống mới nhận ra con người thực của ông. Con người ấy lại luôn luôn bị tình cảm chi phối, ông cả nể và cả nghe. Năm 1959 là năm ông đang say mê với công cuộc khẩn hoang và phát triển đồn điền. Cho nên nếu ai khéo nói, khéo trình bày hợp lý, là Tổng thống đều chấp thuận cho khai thác rừng để lập đồn điền. Tướng Xuân là một trong những người được ông cho phép khẩn hoang hàng trăm mẫu rừng tại Phước Long để trồng cao su. Có một báo cáo mật của địa phương cho rằng, ông Xuân chỉ giả vờ lấy cớ trồng cao su mà thực ra là để phá rừng lấy gỗ bán. Sau đó Ngô Đình Diệm có xem xét lại rồi gạt bản báo cáo đi, mắng một ông Bộ trưởng: "Bậy bạ. Người ta làm cho quốc gia mà mình cử phá " . ông Tổng thống tin mọi người cũng ngay thẳng như ông. . .Nên đã bao nhiêu giấy phép cho cúp rừng để lập đồn điền khai hoang nhưng "đồn điền" chỉ là cái cớ để loè Tổng thống mà thôi.

ĐỊNH MỆNH AN BÀI

  Khoảng năm 1956-1960 có tin đồn Đại tướng Thái Quang Hoàng sẽ thay Đại tướng Tỵ. Cũng như năm 1961, có tin tướng Khánh sẽ thay tướng Tỵ. Theo Lương Khải Minh, Đại tướng Tỵ là cánh tay mặt của Tổng thống Diệm. Nếu tướng Tỵ không đi Mỹ chữa bệnh thì chẳng bao giờ tướng Đôn trở thành quyền Tổng Tham mưu trưởng, như đã an bài, không ai lúc đó có thể ngờ rằng sự thay đổi chức vụ Tổng Tham mưu trưởng lại trở thành một trong những yếu tố làm chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ.
  Tổng thống Diệm được một bác sĩ Mỹ cho biết: Bệnh ung thư phổi của tướng Tỵ không thể nào chữa khỏi và chỉ còn chờ ngày chết. Những người thân xin để Đại tướng Tỵ qua Pháp điều trị, ông Tổng thống gạt đi và quyết định đưa Đại tướng qua Mỹ. Từ bao lâu rồi, ông Tổng thống yên trí chỉ có Mỹ mới giỏi về khoa học, Tổng thống muốn tự tay ông lo cho tướng Ty.
  Trước ngày Đại tướng Ty lên đường sang Mỹ chữa bệnh, có đến cáo biệt Diệm. Hai người tâm sự một lúc lâu. Tổng thống hỏi: "Bà thân mẫu của Đại tướng còn không ? " Rồi Tổng thống tâm tình: “Tôi thì thân mẫu còn sống, thân mẫu tôi đã già rồi, tôi cũng phải cố giữ gìn thân thể để còn trả chữ hiếu cho mẹ ".
  Tổng thống Diệm quý mến tướng Tỵ, trước hết vì tướng Tỵ thật thà lại hay hàn huyên tâm sự với Tổng thống. Tướng Tỵ có thể tiếp chuyện Tổng thống hàng nhiều giờ không phải là chuyện quốc sự hay quân cơ, mà thường là chuyện tình cảm. Tướng Tỵ là một trong mấy tướng chỉ xưng "tôi" mà không dùng tiếng "con" với Ngô Đình Diệm. Đại khái tướng Ty thường nói: “Thưa Tổng thống tôi… Tôi xin trình Tổng thống . . . Tôi xin thưa Tổng thống “. Tướng Tỵ ăn mặc rất chỉnh tề, đúng quân phong quân kỷ. Mỗi lần vào phòng Tổng thống tướng Tỵ đều chào theo đúng quy cách, đó là điều Tổng thống rất thích. Một ưu điểm khác nữa là tướng Ty không "xin xỏ" lôi thôi...không kéo phe kết đảng. . . ông nói năng dõng dạc, nhưng với Tổng thống lại tỏ ra rí rỏm, tâm tình tỏ ra tương đắc.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #43 vào lúc: 06 Tháng Một, 2008, 04:55:28 PM »

Tổng thống Diệm tin cẩn tướng Tỵ từ năm 1954 trong vụ tướng Hinh. Lúc ấy tướng Tỵ đang làm Tư lệnh đệ nhất quân khu khi mà Tổng .thống Diệm không có hơn một đại đội phòng vệ dinh, thì chính tướng Tỵ đã âm thầm tìm mọi cách ủng hộ Ngô Đình Diệm. Tháng 9-1954, tướng Hinh dựa vào lực lượng quân đội viễn chinh Pháp quyết liệt hạ cho bằng được ông Diệm, thì tướng Tỵ bên ngoài vẫn giữ tư thế quân nhân thuần tuý, không đứng về phe tướng Hinh cũng không công khai ủng hộ Tổng thống Diệm, nhưng trong bóng tối ông đã có thái độ dứt khoát ủng hộ ông Diệm . Từ đó, ông Diệm cảm kích tấm lòng trung kiên của tướng Tỵ. Ông Nhu không ghét tướng Tỵ nhưng cũng không có nhiều thiện cảm đối với vị tướng xuất thân từ thế hệ lính Pháp. Giao lưu tình cảm và công việc giữa tướng Tỵ và ông Nhu gần như không có. Cả năm, tướng Tỵ mới gặp ông Nhu vài ba lần và mỗi lần đôi bên chỉ chào hỏi xã giao.Riêng tướng Tỵ, tỏ ra khâm phục ông Nhu và dành cho ông một sự kính trọng đặc biệt.

  Sau vụ đảo chính hụt 2-2-1960, Tổng thống Diệm lại càng thương yêu tướng Tỵ và hai con người cùng lớp tuổi đã trở thành đôi bạn tri kỷ.Cũng sau cuộc đảo chính hụt ấy, một số nhân vật cao cấp có ý tìm cách để Tổng thống Diệm thay thế tướng Tỵ. Nhưng tướng lãnh lúc ấy xem ra cũng không còn ai hơn tướng Tỵ - người được điểm này lại mất điểm kia - ông Tỵ là loại "chung chung" tuy vậy ông cũng bị một số tướng tá trẻ gièm pha, nhất là một số tướng tá thuộc hàng con cưng của ông Cẩn.

  Thời Đệ nhất Cộng hoà, uy quyền tập trung vào một ông Tổng thống, do đó chức Phó Tổng thống của ông Thơ vẫn ở tư thế một viên chức cao cấp hơn là một Phó Tổng thống. ông Thơ không có huy hiệu riêng - ngoại trừ những lần đại diện Tổng thống tham dự những buổi lễ lớn - Xe của Phó Tổng thống không có hiệu kỳ cũng không cắm quốc kỳ. ông đi làm bình thường như một công chức: ngồi cạnh tàixế và cũng không có xe Harley hộ tống.

  Riêng Đại tướng Tỵ là người thứ hai của Đệ nhất Cộng hoà được chia sẻ quyền uy với Tổng thống. Mỗi lần ông vào dinh là một sự uy nghi...hơn cả ông Bộ trưởng Quốc phòng. Tư dinh của tướng Ty ở đường Cường Để, được xây dựng trên một ngọn đồi, chính là do chỉ thị đặc biệt của Tổng thống Diệm. Từ năm 1956, gần như không có một cuộc kinh lý nào của Tổng thống Diệm mà không có mặt Đại tướng Tỵ.

  Khi biến cố Phật giáo bùng nổ thì Đại tướng Tỵ lâm trọng bệnh. Khi tiễn chân Đại tướng Tỵ, Tổng thống Diệm tặng cho ông một chuỗi hạt và nói “Đại tướng nhớ cầu nguyện cho tôi. . . Tôi cầu xin ơn trên phù hộ cho Đại tướng" - Tướng Tỵ là một thứ tín đồ công giáo trong tâm hồn – ông thuộc nhiều kinh Công giáo và có lòng sùng mộ Đức Mẹ rất đặc biệt. Mặc dầu gia đình tướng Tỵ là Phật giáo thuần thành. Tổng thống Diệm ngậm ngùi phàn nàn với Đại uý Bằng: ' Đại tướng khó qua khỏi. . . bệnh của Đại tướng không biết. sống chết thế nào, khó qua khỏi năm nay”. Tổng thống Diệm đỡ vai tướng Tỵ và đi cùng ông xuống đến tận thềm dinh Gia Long. Cánh cửa xe đóng lại, tướng Tỵ cúi đầu chào, Tổng thống vẫy tay với một vẻ ngậm ngùi.

  Tổng thống Diệm chỉ định cho Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng phải tổ chức nghi lễ tiễn chân Đại tướng Tỵ một cách trọng thể đặc biệt. Ngày Đại tướng Tỵ ra phi trường Tân Sơn Nhất đáp máy bay đi Hoa Kỳ, ông đã được hưởng đầy đủ nghi lễ dành cho vị Thống soái. Cửa phòng khách danh dự (VIP) của phi trường được mở rộng. . .Đây là một vinh dự đặc biệt vì chỉ có Tổng thống mới đi qua cửa này . . .Trước năm 1963, phòng khách danh dự phi trường Tân Sơn Nhất được xem như là nơi tiêu biểu cho uy quyền và thể thống quốc gia. Dù là ông Ngô Đình Nhu, Đức cha Thục, Phó Tổng thống Thơ, Chủ tịch Quốc hội vẫn đi vào phi trường theo ngả thông thường. Năm 1961, vợ chồng ông Nhu công du qua Ma Rốc với tư cách đại diện chánh thức của Tổng thống Diệm thì lần ấy phòng khách danh dự mới mở cửa đón tiếp.

  Tuy là Tổng Tham mưu trưởng nhưng Đại tướng Ty có uy thế rất nhiều so với Bộ trưởng phụ tá Quốc phòng, đó là một ưu đãi đặc biệt của Tổng thống Diệm đối với ông.

  Tại Mỹ, khi nghe tin Tổng thống Diệm bị sát hại, Đại tướng Tỵ bàng hoàng rồi ôm mặt khóc. Sau này hồi hương, mỗi lần nghe ai nhắc đến Tổng thốngDiệm thì Đại tướng Tỵ lại than thở: "Hồi ông tiễn chân tôi qua Mỹ, ông Cụ tưởng tôi chết. . .Ai dè ông lại chết trước tôi". Trước giờ phút lâm chung, tướng Tỵ vẫn giữ trong tay chuỗi hạt của Tổng thống Diệm, ông coi đó như là một kỷ vật thiêng liêng.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #44 vào lúc: 07 Tháng Một, 2008, 05:27:55 PM »

MỐI TÌNH BÍ MẬT CỦA TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

  Có một sự thực đã như thứ hoả mù bao trùm miền Nam từ hơn chục năm qua: Đó là sự hiểu lầm, nghi quẩn lo quanh và dư luận.

  Dư luận bao giờ cũng chỉ là dư luận. Thế nhưng dân chúng vốn dễ tin, dễ nghe cho nên dư luận về một người này hay một chuyện kia được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, dư luận mặc nhiên trở thành sự thực. Hay ít ra cũng như thực. Rồi dân chúng sống trong sự thực đó mà phản kháng, mai mỉa hay bằng lòng với nó. Về sự hiểu lầm, nghĩ sai cũng thế, ngày này qua ngày khác, tích luỹ lại rồi bộc phát tuỳ theo hoàn cảnh mà trở nên ân oán nhau.

  Những người trong Chính phủ "quốc gia" miền Nam, tuy đứng cùng trong một chiến tuyến, nhưng rồi vì ngộ nhận, vì chính kiến dị biệt, về đường lối và cách thể...trong hơn 10 năm qua, những con người "quốc gia" ấy đã quay lưng lại nhau "ra lườm vào nguýt và đánh đấm" nhau rất "chí tình".

  Nói về sự ngộ nhận thì có cả trăm hình thức ngộ nhận. Từ đó dân chúng sẵn sàng "thêu hoa dệt gấm" cho nhau bằng cả cái gia tài tiếu lâm vô hạn.Về Tổng thống Ngô Đình Diệm chẳng hạn. Trước đây có dư luận truyền trong dân chúng là ông Diệm bất lực. Do đó Tổng thống Diệm không lập gia đình và cứ đứng gần đàn bà thì ông ta hay thẹn thùng. Nhiều người, kể cả những người gần gũi Tổng thống nhất cũng như trong hàng ngũ đối lập,đều thắc mắc về tiểu tiết mà họ cho là hấp dẫn, ly kỳ cần phải tìm hiểu: "Tổng thống có như một người bình thường về cơ quan sinh dục không" ? Cái quan hệ gấp trăm ngàn lần thì chả để ý, song cái "tiểu tiết" đó xem ra thiên hạ thắc mắc lắm. Rồi ngườí ta sáng tác ra nhiều giai thoại rất ly kỳ và rất phù hợp với bản chất ưa trào phúng và tiếu lâm của dân chúng. Ông Phạm Văn Nhu, nguyên Chủ tịch Quốc hội thời Tổng thống Diệm trong buổi trà đàm cho biết rằng, ông và Tổng thống Diệm thân nhau từ năm 11, 12 tuổi ở xứ Huế. Những năm thơ ấu đó trong lúc hai người sống rất tự nhiên theo sự tự nhiên của tuổi trẻ, Phạm Văn Nhu không thấy có gì khác lạ nơi con người NgôĐình Diệm, nghĩa là Tổng thống Diệm hoàn toàn bình thường về cơ thể như tất cả mọi người. Điều này thiết tưởng cũng nên tìm hiểu vì ai cũng hiểu rõ rằng, yếu tố sinh lý trong một con người đã rất quan hệ đến đời sống tâm lý con người đó.

  Năm 1948, cựu Thượng thư Ngô Đình Diệm vào miền Nam, khi thì ở Vĩnh Long với anh là Ngô Đình Thục, khi thì lên Sài Gòn lưu ngụ tại khu Thánh đường Saint Pierre. Có một thời gian ông Diệm đã sống tại nhà Cha Tam ở Chợ Lớn.

  Khu Thánh đường ấy, 15 năm sau (1948-l963) ông Diệm trở lại lần cuối cùng rồi vĩnh viễn ra đi về cõi thiên cổ. Ông Diệm thích tâm sự hàn huyên với cha Tam, nên dù di đâu xa, ông vẫn lưu nhớ. Khi ở Vĩnh Long về Sài Gòn ông Diệm thường đến làm việc, họp với nhóm Tinh thần và Hoa Lư tức là hai tờ báo hoạt động theo khuynh hướng xã hội Công giáo, trụ sở của nhóm Tinh thần và Hoa lư đặt một phòng trên tầng lầu hai của cư thất luật sư Lê Văn Kim (vị luật sư đậu nhiều bằng cấp khác nhau. Năm 1945 bị Nhật giết vì cho rằng luật sư Kim là gián điệp của quân đội Đồng minh). Ông Diệm hằng ngày đến trụ sở này để làm việc với một số cộng sự, trong số đó có Giáo sư Phạm Văn Nhu vừa từ Huế vào.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #45 vào lúc: 08 Tháng Một, 2008, 07:29:40 PM »

  Giáo sư Nhu cho biết, anh em ông vẫn "tiếu lâm" với nhau sau những giờ làm việc mệt nhọc và cũng là cách để đỡ nhớ vợ con.

  Nhưng mỗi khi ông "Thượng thư" đến thì anh em ông lại phải bắt tay vào làm việc hội họp. Ông Diệm không thích chuyện tếu.

  Nhưng ông có thể ngồi nói chuyện liên miên hằng hai, ba giờ hết chuyện đất nước đến chuyện tây chuyện Mỹ, chuyện trên trời dưới biển.Những lúc tâm sự như thế, ông Diệm cười rất có duyên và yêu đời hơn cả những dân có "tình ái" yêu đời.

  Năm 18, 19 tuổi, khi ông Diệm còn đang là sinh viên trường Hậu bổ, vào một buổi sáng mùa hè nọ, ông đang ngồi đọc sách trên lầu tại nhà chị gái tức bà Cả Lễ, thì ba bốn cô gái Huế đến chơi nhà bà Cả. Vốn là những tiểu thơ khuê các trong một thời mà làn sóng lãng mạn phương Tây đang đổ xô vào tâm hồn giới trẻ (tiểu thuyết Tố Tâm năm 1922 là một thí dụ).

  Các nàng tiểu thơ kia đã tìm mọi cách chọc ghẹo, chài mồi cậu ấm Diệm, tuy lùn nhưng có bộ mặt điển trai. Vào một thời đại “phi cao đẳng bất thành phu phụ”, và ở giữa đất kinh thành của vua chúa quan quyền thì tất nhiên là cậu ấm Diệm trở thành đối tượng cho lòng say mê của biết bao nhiêu tiểu thơ. Nhưng hôm ấy, trước sự chài mồi,chọc ghẹo của các cô, cậu ấm Diệm bỗng nhiên nổi nóng, đứng trên lầu mà mắng các cô, những rằng “con gái gì mà hư thân trắc nết như rứa".

   Thêm vào đó, cậu ấm Diệm khi còn học ở trường Pellerin đã từng nuôi mộng đi tu để trở thành một sư huynh sau này. Từ buổi cậu bất thần nổi giận với mấy cô, cả vùng Phú Cam các cô rỉ tai nhau: "Cậu Diệm sợ đàn bà con gái". Cũng từ đó khi trở thành Tri phủ Hoà Đa, Tuần vũ Phan Thiết, ông Diệm đã "ở vậy" dù có rất nhiều gia đình “đường quan vị vọng” đánh tiếng gả con gái cho.

  Cho đến năm 1948, khi ông Diệm đã gần ngũ tuần, giới thân cận của ông không ai nghe thấy ông nói về chuyện đàn bà con gái.

  Phần vì nể ông, cho nên trong những lần trò chuyện với ông cũng chẳng ai đề cập làm chi. Lại có một số người "đạo đức giả" mỗi khi gặp ông chỉ nói toàn chuyện đạo đức tu hành thánh hiền. Hoá cho nên trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày, ông Diệm đã không có dịp nào sử dụng ngôn ngữ về thế giới đàn bà và tình ái. Rồi dần dần, mỗi khi nhắc đến ông Diệm, người thân và cộng sự của ông đã chỉ coi ông như một người đàn ông đứng riêng trong một thế giới không vướng mắc mùi " tục luỵ ".
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #46 vào lúc: 12 Tháng Một, 2008, 01:40:44 PM »

BÍ MẬT CỦA NHỮNG ĐIỀU THẦM KÍN

  Sau này khi ông Diệm chấp chính cho đến năm 1963, người ta lại càng hồ nghi, rồi trở nên tin tưởng ông "bất thường sinh lý". Quanh cái tiểu tiết đáng tò mò này giới có ăn học lại thường đem ra phân giải theo sự ăn học. Giới bình dân thì lại rỉ tai nhau theo cái máu trào phúng của giới bình dân. Về điều gì chứ cái sự liệt của một người không đi tu dân Việt ta coi bộ không chịu và người đó bị coi là dân khó tính, dân không chịu chơi, dân mất thăng bằng và hay quan trọng hoá. Sau vụ 2-2-1960, một luật sư - người của chế độ cũ - lúc ấy đã phẩm bình trong hơi men chếnh choáng, đại ý rằng “ông Diệm thì liệt, ông Nhu thì coi bộ "lãnh cảm " nên bà Nhu mới tha hồ không chế tung hoành, theo cái luật âm thịnh dương suy”.

  Như trên đã viết, ông Diệm là một người bình thường trong phần "cơ cấu quan trọng của thân thể ", giáo sư Phạm Văn Nhu kể lại như sau:

  Vào một buổi sáng đẹp trời, năm 1948, ông Diệm từ nhà thờ Cha Tam đến tìm ông Nhu ở trụ sở nhóm Hoa Lư Tinh thần (nhà luật sư Lê Văn Kim). Hôm ấy, ông Diệm vui tươi lắm, mất hẳn sự ưu tư khắc khổ. ông Nhu nghĩ trong bụng: Có lẽ,”Cụ Thượng thư" mới nhận được tin gì tốt lành đây ông Diệm bảo ông Phạm Văn Nhu: "Mọi công chuyện hãy xếp lại đó sáng nay bọn mình đi chơi sở thứ'. ông Nhu đi mượn một chiếc xe hơi Limousine của một vị tướng Cao Đài, rồi hai người "thả ga" lên dọc sở thú. Dọc đường ông Diệm đề nghị "Bọn mình ghé tiệm nào đấy uống ly café chơi". Và đó cũng là một điều lạ khiến ông Nhu thắc mắc: "Hẳn ông ấy phải có một chuyện chi quan hệ lắm đây" . . . Sau tuần café sữa , hai người lên sở thú, đi một vòng thưởng ngoạn cỏ cây hoa lá chim muông. Nhưng xem chừng ông Diệm có điều gì “nao nức" khác hơn là chuyện đi chơi sở thú. Ở sở thú ra, ông Diệm có vẻ ngần ngại, đắn đo một lúc lâu rồi bảo ông Nhu: "ông cho tôi lên đường Pasteur nơi ngã tư Pasteur và đường Legland De Lahraye (tức Phan Thanh Giản hiện nay). Đến nơi, ông Diệm bảo ông Nhu khoá xe rồi đi theo ông..Hai người vào một căn nhà trên tầng lầu hai (một dãy nhà dài, gồm nhiều căn và hầu hết đều là nhà công chức người Pháp) . ông Nhu chỉ hỏi: "ông vào nhà ai ở đây?". ông Diệm vẻ mặt tươi hẳn lên và đáp: "Tôi vào đây thăm con mệ nó" . Lần đầu tiên ông Nhu nghe thấy ông Diệm nói đến "con mệ nó", ông đi thăm "con mệ nó". Trước khi vào nhà ông Diệm nói: "Con mệ nó hiền đức lắm" - ông Diệm gõ cửa, một người đàn ông trạc 50 tuổi ra mở cửa, vừa trông thấy ông Diệm, ông ta đã cúi đầu kính cẩn thưa: “Mời cụ lớn vào". Ông Diệm hỏi ngay “Bà có nhà không “ Người đàn ông thưa: “Bẩm cụ lớn, bà con mới ra Nha Trang, mời cụ lớn vào nhà dùng nước đã " - Vẫn theo lời giáo sư Phạm Văn Nhu, ông Diệm đang tươi vui bỗng nhăn mặt lại, không vui. ông nói trống không "lạ chi hè, đi Nha Trang mà không cho biết hỉ". ông Diệm đứng bần thần một lúc rồi hỏi người dàn ông: "ông có biết bà ra Nha Trang ở nơi mô không, ông có địa chỉ không”  Người đàn ông đáp là có biết. Ông Diệm bỗng vui hẳn lên rồi líu tíu quay sang phía ông Nhu: "ông có mang giấy bút, ông ghi lại cho tôi ngay".

  Ông Nhu thì nghĩ bụng hẳn ông Diệm hay lui tới căn nhà này luôn cho nên gia nhân mới thân mật, mời chào như vậy.

  Căn nhà đó lần đầu tiên ông Phạm Văn Nhu đến thăm và ông cũng là người duy nhất được ông Diệm tin cẩn cho đi theo. Khi đã có địa chỉ trong tay rồi, ông Diệm rất mừng trở về và bảo ông Nhu phải sửa soạn hành lý đi ra Nha Trang ngay để thăm "cho biết".

  Dọc đường trở về nhà ông Diệm đã tâm tình với ông Nhu là “con mệ nó" tuy lấy Tây, tuy là hạng đàn bà bị người khinh rẻ, nhưng lòng dạ tốt lắm và rất thương đồng bào. Nhờ "Con mệ nó" (ông Diệm nhắc đi nhắc lại nhiều lần) ông ñaõ cứu được nhiều người quốc gia (1) bị mật thám bắt. ôngDiệm cho biết thêm, chồng "con mệ nó " là người Pháp tòng sự tại Sở Mật thám liên bang Bót Catinat (Surreté Fédérale) mỗi khi có bạn bè hay người quen thuộc phe quốc gia bị mật thám bắt ông Diệm lại nhờ "con mệ nó " lập tức, chồng "con mệ nó”, can thiệp trả tự do ngay”.

  Sau này cũng vì một vụ can thiệp như vậy do ông Diệm cậy nhờ qua trung gian là "con mệ nó" người chồng Pháp của bà ta bị thải hồi sau phải lên Đà Lạt làm cho một hãng sửa xe hơi. Rồi người chồng của bà ta bị chết trong một tai nạn máy bay trên không phận Sài Gòn.

  Ngày hôm sau hai ông đã có mặt tại Nha Trang. ông Nhu đi kiếm địa chỉ trước, để về cấp báo cho ông Diệm "con mệ nó" của ông đang ở nơi mô. Khi gặp mặt bà ta, ông Nhu mới ngã ngửa người kinh ngạc. Người đàn bà này không ai khác hơn là cô gái Huế mới thuở nào hai người từng quen mặt biết tên và cô gái Huế xinh tươi thuở ấy cũng đã từng biết mặt, nghe tên "cậu ấm Diệm".

  Qua bao nhiêu năm xa cách, ông Nhu không hiểu từ một duyên cớ nào cô ta đã phải đem thân lưu lạc đến tận đất Sài Gòn và trở thành vợ một người da trắng. ông Nhu cho biết thêm: "Đây là người đàn bà thuộc loại sắc nước hương trời, ăn nói lại duyên dáng mặn mà". ông Diệm đã tâm tình với ông Nhu: "Tôi thương con mệ nó hiền đức, tuy lấy Tây mà nó vẫn còn tình, còn nghĩa với người đồng bào ".

  Bà ta ra Nha Trang lần ấy để thăm xứ Thuỳ Dương lần cuồi cùng, trước khi sang Pháp sống lưu lạc nơi quê chồng. Một nhà thơ Pháp từng than thở cho nỗi đoạn trường ân ái "Mon coeeur à son secret, mon amour à son mystère. . ."(2) Biết đâu ông Diệm đã chẳng từng nuôi cơn mộng sầu nhớ thiên thu của tình trường. Chỉ biết rằng, vẫn theo lời giáo sư Nhu từ đấy rồi...thôi, riêng ông không bao giờ còn nghe thấy ông Diệm nhắc lại,ba tiếng “con mệ nó” với bao nhiêu nao nức như lần đi thăm sở thú và đến Nha thành. ...

  Một số người có khuynh hướng thần thánh hoá Ngô Đình Diệm (mà cựu bộ trưởng Trần Chánh Thành là một), nên đã dựng lên những câu chuyện đầy bí ẩn về đời riêng của ông ta.

-------------------------------------------------------
1, Chỉ người của Ngô Đình Diệm
2, Trái tim tôi thuộc về điều bí mật của ông ta, tình yêu tôi thuộc về sự huyền bí của ông ta.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #47 vào lúc: 13 Tháng Một, 2008, 09:48:49 AM »

CHƯƠNG IV

TỔNG THỐNG DIỆM VÀ CÔNG GIÁO

  Chúng tôi đơn cử một thí dụ về "mặc cảm Công giáo" đối với Tổng thống Diệm. Vào lần cải tổ Chính phủ năm 1961 . ông Nhu được uỷ thác tìm một nhân vật giữ chức vụ Bộ trưởng Tư pháp.
 
  Ông cho mời bác sĩ Tuyến bàn luận và ngỏ ý:
- Tôi muốn mời một luật sư

  Suy nghĩ một lát, ông nói :
- Giới thẩm phán thì có chuyên môn nhưng “Sans caractère politique". Bác sĩ Tuyến đáp: Trong hoàn cảnh này, ông Cố vấn nên chọn người trong giới thẩm phán .

  Ông Nhu băn khoăn:
- Khó lắm. ông Sĩ đó cũng là thẩm phán!

  Bác sĩ Tuyến trình bày:
- Giới thẩm phán có nhiều người rất khá .

  Ông Nhu hỏi:
- Ai đấy? Liệu có làm được gì không hay cũng chỉ như ...gagner quelque chose!

  Bác sĩ Tuyến đề nghị:
- Phía nguời Bắc tôi thấy có ông toà Nguyễn Văn Lượng. Phía người Nam tôi thấy có ông toà Trần Minh Tiết.
 
  Ông Nhu không ngần ngại chấp nhận để ông toà Trần Minh Tiết giữ Bộ Tư pháp vì ông Tiết có ba ưu điểm: Người Nam, thẩm phán cao cấp và ở tuổi tráng niên.

  Vì biết tính ông Diệm nên "chú Nhu” đưa cả Trần Minh Tiết và Nguyễn Xuân Lượng để tuỳ ý ông Diệm lựa chọn. Trước đó ông Nhu đã hết lời khen ngợi nồng nhiệt ông toà Trần Minh Tiết trước Tổng thống Diệm. ông Tổng thống chọn Trần Minh Tiết theo đề nghị của "chú Nhu”. Ông Nhu biết tâm lý ông anh nên đề nghị mà như không đề nghị. Muốn tiến cử ai, ông Nhu thường dùng lời nói khéo léo, gián tiếp khen ngợi nhân vật này. Trường hợp ông Trần Minh Tiết ông Nhu nói đại cương: "Tiết tương đối trẻ, tôi nghĩ giới thẩm phán tín nhiệm ông ta lắm. . . Tiết làm việc hăng hái...". ông Nhu chỉ cần nói như vậy là coi như ăn chắc. Nhưng nếu ông Nhu đề cử đích danh ai và có tính cách chỉ định thì coi như thất bại, ông Tổng thống sẽ lờ đi luôn. Nhưng sau một đêm thì ông thay đổi ý kiến ngay và gọi ông Nhu vào cho biết ông chọn thẩm phán Nguyễn Văn Lượng. Ông Nhu trở về phòng gọi bác sĩ Tuyến vào cho hay: "Tổng thống nói cái gì cũng công giáo...công giáo ". Thẩm phán Trần Minh Tiết có ưu điểm là người Nam điều mà ông Tổng thống lưu ý trước nhất, nhưng ông Tiết lại là tín đồ Thiên Chúa giáo. ông Nguyễn Văn Lượng là một Phật tử, được trao chức Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #48 vào lúc: 14 Tháng Một, 2008, 05:11:46 PM »

Theo Lương Khải Minh, trong 9 năm chế độ Ngô Đình Diệm, mọi sự bổ nhiệm cao cấp đều căn cứ theo hai yếu tố địa phương và tôn giáo vì ông Diệm muốn như vậy. Một trong mấy cộng sự thân tín của ông Tổng thống lại là một Phật tử như trường hợp ông Võ Văn Hải. ông Hải theo ông Diệm từ hồi còn thiếu niên, Bộ, Sở nào mà nhiều viên chức cao cấp người Bắc, ông Tổng thống cũng không chịu hoặc nhiều tín đồ Thiên Chúa giáo ông cũng không ưng. Cuối cùng Bộ Tham mưu của Nhu đưa ra một giải pháp:
 
  Nếu Bộ trưởng là người Nam thì ông Đổng lý sẽ là người Bắc, ông Tổng Giám đốc sẽ là người Trung. Trên thực tế, giải pháp này rất khó thực hiện vì vấn đề địa phương nếu có kỳ thị thì chỉ linh cảm thấy sự kỳ thị chứ thực ra làm gì có kỳ thị. Trước sau chỉ có mặc cảm và thành kiến địa phương do địa vị, quyền lợi tạo nên mà thôi.Vấn đề tôn giáo cũng vậy. Trong cuộc sống chung giữa cộng đồng dân tộc từ trước đến nay không có vấn đề kỳ thị tôn giáo, song trên phương diện quốc gia nhiều cái vụn vặt và tầm thường lại dễ dàng tạo nên những hiện tượng như là kỳ thị tôn giáo.

  Những cuộc rước xách với cờ xí rợp trời của tôn giáo cũng là những lý do vụn vặt từng tạo nên ngộ nhận. Tín đồ Thiên Chúa giáo lại hay tổ chức rước xách như vậy.

  Tuy là việc thiêng liêng và phải được chính quyền tôn trọng, nhưng nó cũng dễ dàng tạo nên sự khó chịu của những người không cùng tôn giáo.Mỗi khi có cuộc rước xách đồng bào Thiên Chúa giáo lũ lượt kéo đi và có khi kéo dài cả hàng cây số, giao thông bị tắc nghẽn. cũng dễ dàng gây nên sự khó chịu cho người không cùng tôn giáo.

  Linh mục X đến thăm Lương Khải Minh ông Minh phàn nàn:
- Cho đến nay, tôi cũng không hiểu sao mối bất đồng giữa cha Lê Hữu Từ và Linh mục Hoàng Quỳnh lại như vậy. . . Chính quyền này là một chính quyền chống cộng mà đức cha Lê cũng như cha Quỳnh đều là những chiến sĩ chống cộng.

  Linh mục X đáp:
- Thực ra thì có nhiều nguyên nhân. Theo tôi, điều mà làm cho Tổng thống Ngô Đình Diệm giận nhất là  dạo cuối năm 1954, cha Hoàng Quỳnh lại uỷ cho Trần Thiện tổ chức một trung đoàn Bắc tiến tại Bình Tây do Bình Xuyên tài trợ.

  Lương Khải Minh biết vụ đó và cho rằng, trong tình thế nguy nan lúc ấy, cha Hoàng Quỳnh uỷ cho Trần Thiện làm như vậy chỉ vì cha có ý nếu chính quyền Ngô Đình Diệm bị Pháp lật đổ thì ít ra công giáo di cư còn có lực lượng để tự vệ.

  Linh mục X cho biết Linh mục mới vào yết kiến Tổng thống Diệm, Linh mục phàn nàn về việc Tổng thống Diệm có vẻ cấm đoán giáo dân treo cờ giáo hội. Lương Khải Minh cho biết:

- Cách đây không lâu tôi cũng đề cập đến vấn đề này. Nhưng xử ta ở trong một tình trạng chậm tiến thì cái gì nó cũng chậm tiến cả..

  Linh mục X nói:
- Cờ giáo hội là cả một sự thiêng liêng, cấm đoán sao được.

  Lương Khải Minh đáp :
- Sự thục thì như vậy nhưng trên phương diện quốc gia thì cờ giáo hội Công giáo trước hết là quốc kỳ của Vatican. Tổng thống cũng có lý. Thời gian du học tại Pháp lại không thấy giáo dân Pháp treo cờ Vatican đầy đường như tại Việt Nam.

  Linh mục X nói:
- Pháp là một chuyện, Việt Nam là chuyện khác. Trên phương diện bang giao quốc tế thì Vatican đối với Việt Nam là hai quốc gia. Nhưng Vatican tiêu biểu cho cho thần quyền đối với chúng tôi.

  Linh mục X băn khoăn:
- Nếu tôi trình việc này với Đức Tống Giám mục Nguyễn Văn Bình thì chỉ tạo thêm sự hiểu lầm giữa Chính phủ với hàng giáo phẩm. Sau vụ bất hoà giữa Tổng thống Diệm và Đức cha Simone Hoà Hiền tôi nghĩ giới Công giáo cũng buồn lòng không ít.

  Lương Khải Minh góp lời bàn :
- Cha nên gặp ông bộ trưởng Bùi Văn Lương. Theo tôi, tổng thống nói thì nói thế thôi nhưng mai một là quên ngay. Tôi nghĩ cũng cha nên gợi lại.

  Đề cập đến vụ đất tại khu vườn cao su Phú Thọ, Linh mục X nói:
- Hai bên còn đang giằng co, chúng tôi ở giữa bị kẹt. Nhưng khu vườn cao su Phú Thọ trên giấy tờ hợp pháp là tài sản của giáo khu Sài Gòn. Đức cha Nguyễn Văn Bình ngài quá hiền lành nên không quyết liệt đấy thôi. Tại sao Tổng thống lạ ingăn cản không cho giáo khu Sài Gòn được phát triển, chỉnh trang khu vục này mặc dù giáo khu SàI Gòn là sở hữu chủ.

  Lương Khải Minh đáp:
- Tôi cũng biết vụ đó. Mới hôm qua, tôi đưa các cháu đi dạo qua khu này. Khu đất rộng bao la. Nhưng Cha nghĩ coi Tổng thống đã quyết định thì không cách nào ngăn nổi. Nhưng đã thấy nhiều gia đình đến chiếm ngụ. Hình như đã có chương trình phân lô.

  Linh mục X nói:
- Giả dụ, Giáo khu cứ cho giáo dân đến xây dựng nhà cửa và phát triển, ông nghĩ sao?

  Lương Khải Minh đáp :
- Theo tôi ông Nhu chả dám nói với Tổng thống về tôn giáo, chỉ có Phó Tổng thông Thơ có thể nói với Tổng thống thì Tổng thống mới tin. Tôi nhớ từ dạo 1959-1960, Tổng thống đã cho lập chương trình chỉnh trang khu đất này. Chắc là chưa có ngân khoản nên chưa thực hiện.
  Nếu Tổng thống làm thế thì gặp phản ứng lớn. Tài sản của Giáo khu Sài Gòn chứ đâu phải của Quốc gia mà Tổng thống cho chỉnh trang sát nhập vào đô thành.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #49 vào lúc: 15 Tháng Một, 2008, 04:04:19 PM »

Tổng thống Diệm rất ghét những chuyện “Áp phe xin xỏ". ông là người Quốc gia cực đoan, cho nên cứ cái gì dính với Tây là ông không chịu. Nếu ai hay tổ chức nào dùng áp lực đòi ông giải quyết thì không giải quyết được gì cả. Vụ cờ "Giáo hội Vatican" chỉ một ngày sau là êm rồi không ai nhắc tới nữa.

  Nhưng đến ngày Phật đản năm 1963 thì vụ cờ quạt lại nổ tung. Chính quyền ra lệnh cấm treo cờ vào dịp này.

  Sáng ngày 5-8-1963 ông Đổng lý Quách Tòng Đức vào phòng Tổng thống để nhận chỉ thị, bỗng dưng Tổng thống Diệm có thái độ giận dữ. ông la mắng vu vơ: 'Đã ra chỉ thị mà không thi hành, quốc gia này còn chi là thể thống ". Tổng thống Diệm trong giây phút nóng giận như thế đã chỉ thị cho Đổng lý Đức đánh công điện về thể thức cấm treo cờ tôn giáo. Thực ra không có chuyện cấm treo cờ Phật giáo mà chỉ ấn định lại thể thức treo cờ tôn giáo tại nơi tôn nghiêm. ở nơi tôn nghiêm thì quốc kỳ phải được tôn trọng trên hết. Điều này rất đúng; mặc dầu tôn giáo là thiêng liêng nhưng trong cộng đồng dân tộc với nhiều tôn giáo khác biệt thì quốc gia phải trên hết. Quốc gia đứng trên tập thể. ông Đổng lý vốn là một công chức gương mẫu lại có tính nhẫn nại và bao giờ cũng tuân hành đúng y lời chỉ của Tổng thống nên ngày hôm sau, bức công điện được gởi đi. Trong Phủ Tổng thống không một ai hay kể cả ông Ngô Đình Nhu.

  Tại Huế, cố đô của những lăng tẩm chùa chiền, ngày lễ Phật đản mỗi năm đều như đại hoa đăng. Đồng bào Phật giáo ở đây chiếm đại đa số. Huế từ bao nhiêu năm vẫn là một hình ảnh của Thuận Hoá, của Phú Xuân, của tiếng chuông Thiên Mụ và ấp ủ trong chiếc nôi ru bằng từng hồi kinh chùa Báo Quốc, Diệu đế, Từ đàm . Cho nên, lễ Phật đản là một dịp thiêng liêng trọng đại. Trước ngày lễ, từ nhà đến chùa chiền đã tấp nập và cờ xí rợp trời. Phật kỳ tung bay nơi nơi. Mọi năm vẫn như thế.

  Bỗng dưng chỉ vì một cái công điện, Huế bắt đầu đổi thay và chuyển mình. Ngọn lửa nào đó gặp cơn gió lớn bắt đầu bốc cao.

Sinh viên và Phật tử Huế biểu tình chống chính phủ Ngô Đình Diệm.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM