Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Tám, 2019, 06:12:02 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm?  (Đọc 210928 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #130 vào lúc: 12 Tháng Tư, 2008, 03:35:28 PM »

  Qua ngày 20-5, chính quyền địa phương đành thúc thủ đợi lệnh thượng cấp. Chính quyền trung ương vẫn không có một đường lối dứt khoát trong việc giải quyết vì không dựa vào sự phân tích thực tế khách quan mà chỉ dựa vào ý kiến và xúc cảm chủ quan của mình.

  Những ngày đầu của biến cố, phía Cộng sản mới chỉ lên tiếng chiếu lệ (tuyên truyền có lợi cho mình) nhưng Cộng sản đã bắt đầu điều khiển và phân tích thực tại khách quan của nội vụ để có thể nếu điều kiện thuận lợi nhất cho phép thì họ nhảy vào vòng. Trong khi đó, mấy ông CIA Mỹ "chìm" cố kết với báo chí Mỹ, Pháp qua các thông tấn và ký giả tại Sài Gòn để đóng vai trò hoạt náo viên có lợi nhất cho "đối phương" hành động.

  Tại Sài Gòn ngày 21-5 một cuộc lễ cầu siêu tổ chức tại chùa Ấn Quang với sự tham dự của 5, 6 trăm tăng ni, cuộc rước linh từ rất trọng thể từ Ấn Quang qua Xá Lợi. Đó là dấu hiệu đầu tiên liên kết giữa các vị lãnh đạo Phật giáo ba miền Trung - Nam - Bắc. Trước đó, giới Phật giáo miền Nam vẫn còn e dè thận trọng tối đa. Theo giới thân cận tại chùa Xá Lợi cho biết, cư sĩ Mai Thọ Truyền là chỗ tâm giao với thượng tọa Thiện Hoà (Ấn Quang) mà Thượng tọa Thiện Hoà được coi là vị tu hành không có tham vọng thế tục, bản chất rất hiền hoà phước hậu và ghét chính sự đa đoan.

  Cư sĩ họ Mai vốn là bạn thân của Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, ông lại là cựu Tổng thanh tra Hành chính Tài chính phủ Tổng thống ,ông không muốn dính dáng chính trị với Phật sự. Đã từ lâu cư sĩ họ Mai không "hoan hỉ" cho lắm về mấy thầy tại chùa Từ Đàm. Có lẽ do kết quả từ những bất đồng ngấm ngầm qua một lần tham dự hội nghị Phật giáo quốc tế.

  Trước biến cố 8-5, phía Xá Lợi tỏ ra thận trọng. Sau khi tiếp xúc với ông Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương (với tư cách riêng và tâm tình) giới đầu não Hội Phật học Nam Việt "cảnh giác" với một số bằng hữu ở chùa Xá Lợi nên họ cho rằng hãy coi chừng, chớ có nhẩy vào vòng không rồi mắc mưu ông Ngô Đình Cẩn. Họ đề cao cảnh giác như vậy vì vẫn hoài nghi và có mặc cảm với một số tổ chức do ông Cẩn đỡ đầu. Biết đâu từ biến cố 8-5 lại không có người của ông Cẩn nhân dịp biến cố này sẽ lợi dụng để tung một mẻ lưới lớn ? Kinh nghiệm chính trị cho phép hoài nghi như vậy, vì trong những biến cố chính trị chính quyền biết đâu không cho những người nằm vùng để khuấy động.

  Những ngày đầu của biến cố, Phó Tổng thống Thơ vẫn đứng ngoài lề có lẽ ông muốn tránh tiếng và có lẽ cũng không muốn dây dưa đến một vấn đề có liên hệ đến miền Trung (thuộc phạm vi ông Ngô Đình Cẩn).

  Ngoài ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ có phận sự thu xếp Tổng thống Diệm còn uỷ thác cho bác sĩ Võ Vinh Hoa tìm cách dàn xếp riêng với trục thượng tọa Thiện Hoà và cư sĩ Mai Thọ Truyền, bác sĩ Hoa cũng là một y sĩ riêng của Tổng thống Ngô Đình Diệm (sau bác sĩ Bùi Kiện Tín) bác sĩ Hoa có nhiều liên hệ tình cảm với Thượng tọa Thiện Hoà cũng như cư sĩ Mai Thọ Truyền. Gia đình ông lại quen biết với Thượng tọa Trí Quang (qua gia đình ông Võ Văn Hoàng - Phòng Thương mại Sài Gòn). Bác sĩ Hoa sau những lần thăm dò đã trình rõ là cư sĩ Mai thọ Truyền vẫn giữ lập trường ôn hoà. Sở dĩ phải có thái độ với chính quyền vì không thể không chứng tỏ trong đoàn kết tương thân với Phật giáo miền Trung. Hơn nữa, cư sĩ Mai Thọ Truyền cũng là một thành phần lãnh đạo của Tổng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Cộng hoà.

  Về phía ông Ngô Đình Nhu thì như thế nào? Ông Nhu chỉ thực sự dấn mình vào biến cố sau khi Hoà thượng Quảng Đức tự thiêu (11-6-1963)và từ đó ông càng trở nên quyết liệt chơi ván bài "được ăn cả ngã về không". Trước đó gần như ông không tỏ một thái độ nào rõ rệt. Sau vụ Huế 2 ngày, hôm ấy hình như là thứ sáu, ông Nhu lên Đà Lạt. Lương Khải Minh có điện thoại cho ông Cao Xuân Vỹ nhờ ông Vỹ trình bày nội vụ cho ông Nhu hay "Toa tìm cách nói thêm nào cho ông Cố vấn rõ chuyện và nên tìm cách thu xếp cho êm đẹp không sẽ là một vấn đề nguy hiểm ".

  Trên đường từ dinh ra phi trường trên xe chỉ có ông Nhu và Cao Văn Vỹ. Dịp này ông Vỹ đã tường trình cho ông Nhu rõ đầu đuôi sự cố. Ông Nhu tỏ vẻ buồn bực và nói: "Quyết định một việc vô chính trị như vậy mà không hỏi ý kiến ai (ý nói Tổng thống Diệm đơn phương quyết định một mình)". Nhưng thật lạ lùng, thứ hai tuần sau khi trở lại Sài Gòn ông Nhu bỗng dưng thay đổi thái độ và trở nên cương quyết. Quả là khó hiểu. Có nhẽ ông bị bà vợ chi phối quá nhiều. Khi ở Sài Gòn một mình, thái dộ của ông ôn hoà và bực tức với biến cố mà ông cho rằng "thất chính trị". Sau khi lên Đà Lạt với bà vợ 3 ngày bỗng dưng thái độ của ông thay đổi từ cực này đến cực kia.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #131 vào lúc: 13 Tháng Tư, 2008, 04:42:44 PM »

  Ngày 25-5 Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo đưa ra bản tuyên ngôn đặt trên hai căn bản chính yếu :

  1- Ủng hộ 5 nguyện vọng của Phật giáo qua bản tuyên ngôn 10-5-1963 (xuất phát từ chùa Từ Đàm).

  2- Thề nguyền đoàn kết trong cuộc tranh thủ hợp pháp và bất bạo động để tranh thủ cho đến khi đạt được 5 nguyện vọng ấy.

  Một loạt lễ cầu siêu được tổ chức theo giây chuyền từ chùa Xá Lợi đến Giác Minh và các chùa khác trong đô thành.

  Trụ sở của Uỷ ban Liên phái đặt tại chùa Xá Lợi vì đây là một chùa lớn đồng thời cũng là trụ sở của chi hội Tổng hội Phật giáo miền Nam vì chùa Ấn Quang lúc ấy còn quá nhỏ. Chùa Từ Quang (nơi Thượng tọa Tâm Châu trụ trì) lại ở trong con hẻm (đường Phan Thanh Giản). Thượng tọa Tâm Châu trở thành Chủ tịch của Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo vì Thượng tọa được coi là một trung dung giữa "trục" Phật giáo miền Trung và các "phái" Phật giáo khác trong Nam. Sự xuất hiện của Thượng tọa Tâm Châu được coi là nhân vật thuận lợi cho nhịp cầu thông cảm giữa các tôn giáo phái lúc bấy giờ. Vả lại, trước năm 1963 và trong 9 năm chế độ Ngô Đình Diệm Thượng tọa Tâm Châu được coi là vị tu hành theo đúng tôn chỉ của Đức Thế Tôn. Thượng tọa trụ trì trong một ngôi chùa nhỏ, hàng ngày dịch kinh sách và tu đạo Thượng tọa Tâm Châu không có liên hệ với chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng Thượng tọa cũng không phải là người chống lại chế độ đó. Trong chín năm, chính quyền Ngô Đình Diệm không có hoài nghi về Thượng tọa Tâm Châu. Trong kỳ bầu cử Tổng thống, ông Diệm có theo bác sĩ Tuyến đến thăm Thượng tọa Tâm Châu. Dịp này bác sĩ Tuyến ngỏ ý thỉnh cầu Thượng tọa chỉ ủng hộ liên danh Ngô Đình Diệm - Nguyễn Ngọc Thơ. Thượng tọa hoan hỉ nhận lời. Thích Tâm Châu trở thành Chủ tịch uỷ ban Liên phái Phật giáo, đạt được một lợi điểm đối với chính quyền, vì Thượng tọa cũng từng đứng trong phong trào liên tôn chống Cộng sản (năm 1945-1946). Thượng tọa lại là chỗ quen biết của Đức cha Lê Hữu Từ cũng như Linh mục Hoàng Quỳnh.

  Tuy vậy sự xuất hiện của hai thầy Tâm Châu và Đức Nghiệp đã làm cho một số người tại Huế không vừa ý, vì vậy hiển nhiên là tiếng nói của Phật giáo miền Trung không được tôn trọng theo đúng tư thế (vì Huế mới là khởi điểm của biến cố) . Nhận biết được cái lợi cho chính quyền nếu tìm cách đưa được các thầy Từ Đàm vào Sài Gòn và đích thân tham dự Uỷ ban Liên phái hòng có thể cân bằng "cán cân ảnh hưởng và thế lực", Lương Khải  Minh tìm cách thuyết phục Tổng thống Diệm chấp thuận đưa các thầy Huế vào Sài Gòn để tham dự cuộc nói chuyện trực tiếp với chính quyền. Ai cũng có thể làm được việc giao liên móc nối này? Lương Khải Minh đề nghị bác sĩ Trương Khuê Quan (Giám đốc Xã hội thuộc Bộ Quốc phòng) đảm nhận công việc.

  Ngày 30-5 các cấp lãnh đạo 6 tập đoàn Phật giáo thi hành chỉ thị của Hoà thượng Hội chủ Tổng hội Phật giáo miền Nam Việt Nam tuyệt thực 48 giờ kể từ lúc 4 giờ cùng ngày. Tổng đoàn sinh viên Phật tử từ Huế gởi tâm thư cho các Sinh viên toàn quốc hô hào ủng hộ cuộc tranh đấu cho tự do tín ngưỡng, đồng thời gửi một bản kiến nghị lên Tổng thống Ngô Đình Diệm sau một phiên họp khoáng đại tại chùa Từ Đàm sáng ngày 31-5. Điều 4 trong bản kiến nghị có ghi : "Yêu cầu chính quyền ra lệnh triệt để đình chỉ những mánh lới trẻ con, thiếu trí thức của cán bộ đối với tín đồ Phật giáo trong cuộc tranh đấu. Vì chính những mánh lới đó không lừa bịp được ai mà chỉ làm mất uy tín của cán bộ và Chính phủ ". (Bản kiến nghị, có chữ ký của Đại diện 6 phân khoa và các trường như Cộng Đồng Mỹ thuật, Cán sự Y tế, Nữ hộ sinh quốc gia - Quốc gia âm Nhạc) . Bản kiến nghị trên đây là dấu hiệu đầu tiên cho biết tập thể sinh viên và học sinh bắt đầu nhập cuộc. Đây cũng là lời phản kháng thứ nhất của giới sinh viên trong suốt 9 năm chế độ Ngô Đình Diệm và cũng là lời lẽ xúc phạm nặng nề nhất vì trong 9 năm cầm quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm chưa hề nhận được một kiến nghị nào công khai bày tỏ sự phản kháng như vậy.

  Trên thực tế, bất cứ một phong trào phản kháng nào của tập thể sinh viên dù lởn mạnh và rộng lớn đến đâu cũng không thể xoay chuyển được thế cuộc, không thể lật đổ được chế độ nếu như phong trào đó không gắn liền với một thái độ chống đối định hình khác. Nhưng đây lại khác, tập thể sinh viên, học sinh đã dễ dàng bị lôi kéo và phát động mạnh mẽ trong cuộc tranh thủ của Phật giáo và Phật giáo miền Trung lại có sẵn một khối vận động trong tập thể sinh viên Huế. Khối ấy tuy nhỏ bé (là tổng đoàn sinh viên Phật tử)nhưng lại có đủ yếu tố khích động và gợi cảm hứng tranh đấu cho tất cả tập thể. Sinh viên Huế nhận thức được tầm quan trọng của tập thể sinh viên nếu tập thể này nhập cuộc cho nên một vài nhân vật cận thân của Tổng thống Ngô Đình Diệm tìm mọi cách để thuyết phục Tổng thống giải quyết nhanh chóng.

  Tập thể sinh viên trước năm 1963 tương đối thuần tuý. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thành công trong việc "ổn định" Đại học. Qua Tổng hội sinh viên Sài Gòn, tuy không phải là một thực lực nhưng chính quyền lúc ấy bằng cách này hay cách khác có thể nói đã "nắm" được Tổng hội. Tập thể sinh viên Huế không được tổ chức như Tổng hội sinh viên Sài Gòn nhưng lại quy tụ quanh uy tín của Linh mục Cao Văn Luận.

  Sinh viên Huế trước 1963 được coi là chăm học, kỷ luật và hoạt động thuần tuý học đường. Bỗng dưng sinh viên hứng lên phản kháng, nhập cuộc. Lý do dể hiểu là họ bị xúc động qua biến cố 8-5, lại bị mặc cảm thụ động vì bấy lâu nay đã ỷ lại chính quyền, đồng thời người dẫn đạo sinh viên như Linh mục Cao Văn Luận thì nay Linh mục Luận "buông xuôi" không có ý kiến gì trong việc sinh viên phản kháng (dù là sinh viên Phật tử, mà Đại học Huế theo thành phần tôn giáo đa số là Phật giáo). Lý do sự buông xuôi của Linh mục Cao Văn Luận cũng dễ hiểu vì Linh mục luận tuy là chỗ thân tình sâu xa với ông Ngô Đình Cẩn và Tổng thống Diệm, nhưng Linh mục lại có nhiều mâu thuẫn "cá tính" với Đức Cha Thục (nhất là từ khi Đức cha Ngô Đình Thục trở về Huế trọng nhậm giáo hội tỉnh Thừa Thiên Huế). Lý do khác nữa là vì những mâu thuẫn giữa Công giáo và chính quyền. Đồng thời cũng vì "liên đới thiện cảm" với Phật giáo cho nên Linh mục viện trưởng Đại học Huế thế tất không thể chống lại những hành động phản kháng chính quyền và ủng hộ Tổng hội Phật giáo Nam Việt Nam của tập thể sinh viên. Cho nên sinh viên được "buông thả" dễ nhảy vào vòng.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #132 vào lúc: 15 Tháng Tư, 2008, 09:11:49 AM »

  Khi tập thể sinh viên nhảy vào vòng chiến, chính quyền nào cũng không thể không quan tâm đặc biệt. Vấn đề căn bản lúc ấy là phải giải quyết vụ phật giáo thì mới có thể làm xẹp được "phong trào" (lúc ấy hãy còn giới hạn) phản kháng của sinh viên.
 
  Trong khi các khối quần chúng kể cả quần chúng Phật tử đang trong tình trạng thụ động, do dự hoặc tê liệt, giới lãnh đạo Phật giáo khó lòng có thể tạo dược một cuộc vận động lớn dù cho một đối tượng thiêng liêng tôn giáo. Vậy thì chỉ còn sinh viên là một khối "quần chúng" chọn lọc, tuy vô định hình trên lý thuyết nhưng trên thực tế sinh viên trở thành một khối có khả năng vận động nhờ môi trường sinh hoạt, nếp sống hàng ngày tương đối thuần nhất lại hiếu động, dễ tin, đầy nhiệt huyết .

  Ngay từ đầu biến cố, chính quyền Ngô Đình Diệm đã có lợi điểm là tập thể sinh viên không tham dự, họ gần như bàng quan. Ở Huế từ ngày 8 đến 30-5, sinh viên Phật tử chỉ tham dự lẻ tẻ với tư cách Phật tử.

  Khởi đầu từ tháng 6, vì không giải quyết mau chóng và quá kéo dài biến cố cho nên chính quyền mất lợi điểm trên khi tập thể sinh viên đứng vào hàng ngũ tranh đấu của Phật giáo, đồng thời phía những người Cộng sản thì muốn thâm nhập tranh thủ trong cuộc tranh đấu này một cách hợp pháp và thuận lý cho nên họ đã lanh tay bố trí kế hoạch và khởi điểm của kế hoạch ấy là đi vào cửa ngõ bao giờ cũng bỏ ngỏ theo đúng tinh thần đại học.

  Tiên liệu những khó khăn ấy và cái sức mạnh phức tạp vạn nan của khối sinh viên học sinh cùng với khối quần chúng "định hình " Phật tử (một khi hai khối này liên kết) cho nên khởi đầu từ 22 tháng 5, một vài nhân vật thân cận của Tổng thống Diệm tìm cách "ổn định". Mà ổn định trong một biến cố tế nhị và phức tạp như vậy thì phương thức chính trị phải được đặt thành trọng tâm hoạt động.

  Ổn định trong trường hợp này không có nghĩa là tìm cách đối phó và chiếu lệ. Ông Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần "hoàn toàn" đồng ý với ý kiến và lập trường trên. Ông Thuần trình bày lại với Tỏng thống Diệm, ông Tổng thống không do dự gì cả và chấp thuận ngay nguyên tắc thương nghị và hoà hoãn với Uỷ ban Liên phái.

  Vào một buổi sáng đầu tháng 6 khoảng 8 giờ 30 bác sĩ Tuyến được Tổng thống gọi điện thoại bảo vào dinh có việc gấp. Linh tính cho ông biết là đề nghị hoà giải chắc chắn đã được Tổng thống chấp thuận.

  -Bây giờ anh tính sao ?

  Lời hỏi đầu tiên của Tổng thống Diệm. Bác sĩ Tuyến suy nghĩ ít phút rồi trình bày :

  - Thưa Cụ bên phía Phật giáo cũng muốn hoà giải. Chuyện này cũng không có gì...kéo dài mãi sẽ bất lợi. Cộng sản nó sẽ len lỏi vô.

  Tổng thống Diệm trầm ngâm. Vẻ mặt ông có vẻ lao lung lắm. Trong căn phòng quen thuộc ấy chỉ có ông Ngô Đình Thuần, bác sĩ Tuyến. Bẵng đi một dạo đã năm bảy tháng trời bác sĩ Tuyến mới vào dinh gặp Tổng thống cùng mục đích như ông Thuần. Tổng thống Diệm quay sang hỏi bác sĩ Tuyến:

  - Ý anh thế nào ?

  Bác sĩ Tuyến trình bày thẳng vấn đề và những lợi hại của nó. Tổng thống yên lặng chừng năm bảy phút. Sau đó, bác sĩ Tuyến đưa ra đề nghị :

  - Chính phủ nên chính thức cử người đại diện để nói chuyện trực tiếp với họ.

  Tổng thống Diệm hỏi :

  - Ai có thể đại diện cho Chính phủ ? ôngThuần làm đi ?

  Ông Ngô Đình Thuần từ hồi nãy giờ vẫn ngồi yên im lặng.

  - Để gìữ thể thống cho bên Phật giáo và cũng là cách tạo thông cảm dễ dàng cho việc thu xếp xin đề cử một người nào đó bề thế đại diện cho Tổng thống.

  Tổng thống Diệm băn khoăn :

   - Ai đại diện được bây giờ ?

  Ông Nguyễn Đình Thuần :

  - Tôi thấy chỉ có Phó Tổng thống Thơ là có thể đủ uy tín để đại diện cụ.

  Tổng thống Diệm đồng ý ngay :

- Ừ, ông Phó được đấy. Ông ( tức ông Thuần) cũng phụ vào.

  Bác sĩ Tuyến trình bày qua một vài phương thức thành lập một Uỷ ban hoà giải. Tổng thống Diệm lại hỏi :

  - Ai nữa chứ, chỉ có một ông Phó thôi à?

  Đến đây thì bác sĩ Tuyến cũng như ông Thuần đều không dám đưa ra ý kiến đề cử ai. Tổng thống Diệm cũng như hai ông đều yên lặng lo âu đến 10 phút. Ông Tổng thống cũng không tự ý cắt cử ai.

   Tổng thống Diệm bấm chuông gọi ông Ngô Đình Nhu qua để tham khảo ý kiến rồi cùng quyết định.

  Vẫn một vẻ "lừng khừng" muôn thuở. Ông Nhu vào phòng Tổng thống hút thuốc lá, vẫn yên lặng. Tổng thống Diệm hỏi :

  - Chú nghĩ sao về việc này ?

  Ông Nhu thủng thẳng đáp :

  - Như thế cũng đuợc ?

  Tổng thống Diệm lại hỏi :

 - Có ông Phó còn phải kiếm thêm ai nữa chớ ?

  Ông Nhu vẫn yên lặng, mãi một lúc lâu ông mới đáp :

- Việc này thuộc Bộ Nội Vụ thì đặt ông nội vụ vô.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #133 vào lúc: 16 Tháng Tư, 2008, 05:53:16 PM »

  Tổng thống Diệm đồng ý ngay. Thế là thành phần đại diện Chính phủ đã có ba người. Ông Phó Tổng thống Thơ, ông Nguyễn Đình Thuần và ông Bùi Văn Lương. Trong lúc đang bàn tính thì ông Nguyễn Đình Thuần được báo tin là Phó Đại sứ Mỹ xin gặp rất gấp. Đó là ông Phó Đại sứ Truhert. Vì Đại sứ Nolting đi vắng nên ông Phó thay mặt chuyển giao đến Chính phủ Việt Nam Cộng hoà 1 bức công điện của Chính phủ Hoa Kỳ. Bức công điện đó cho biết dư luận bên Mỹ rất bất lợi cho Việt Nam Cộng hòa và gây khó khăn cho Chính phủ Mỹ qua vụ Phật giáo cho nên Chính phủ Mỹ hối thúc Chính phủ Việt Nam Cộng hoà phải sớm giải quyết cho xong cơn khủng hoảng này.

  Ông Thuần trở vào phòng, trình Tổng thống bức công điện kể trên. Đọc xong vẻ mặt ông Tổng thống trở nên đăm chiêu. Mọi người lại trở về vấn đề cũ để quyết định thành lập một Uỷ ban đại diện Chính phủ nói chuyện với Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo.

  Ông Thuần với tư cách Bộ trưởng Phủ Tổng thống lo trách nhiệm thảo các văn kiện chính thức liên quan đến việc thành lập uỷ ban Liên bộ này.

  Về phía chính quyền như vậy đã xong. Bây giờ là đến tìm cách nào để đưa mấy thầy từ Huế vào để nói chuyện với chính quyền trong Uỷ ban Liên phái. Bác sĩ Tuyến đã trình bày những lợi điểm của việc này như sau : 1) Đưa mấy thày chùa Từ Đàm vào đây để thương nghị với Chính phủ trên một cấp bậc cao nhất (qua Phó Thơ) tức là xoa dịu tự ái địa phương của mấy thầy. 2) Huế mới là trung tâm của biến cố, nếu chữa được tận gốc thì mọi sự sẽ êm. 3) Mấy Thượng tọa như Thích Trí Quang, Thiện Minh được coi là thành phần nòng cốt của Tổng hội Phật giáo miền Trung. Khi đưa mấy Thượng tọa đó vào Sài Gòn tức là đã biệt lập được mấy Thượng tọa chủ chốt đó với quần chúng Phật tử.

  Nhưng ai đi tiếp xúc cho tiện. Nhân vật này thật quan trọng vì phải hội đủ nhiều điều kiện mới có thể thành công trong sứ mạng. Tổng thống và ông Nhu dể tuỳ bác sĩ Tuyến và ông Thuần lựa chọn, bác sĩ Trần Kim Tuyến đề nghị bác sĩ Trương Khuê Quan và ông trình bày với Tổng thống và ông Nhu :

  “Ông Quan quen biết nhiều phía ngoài đó. Ông lại thuộc Bộ Quốc phòng nên mọi sự đi lại, di chuyển dễ dàng hơn mà lại không ai để ý”.

  Đề nghị này được chấp thuận và sau đó ông Nguyễn Đình Thuần ký lệnh để bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế tiếp xúc với chùa Từ Đàm. Tổng thống Diệm thoả mãn với quyết định này lắm. Theo Lương Khải Minh, nếu không có những ngộ nhận và những cái vụn vặt tạo ra ngộ nhận và một vài "tai nạn" đáng tiếc thì Uỷ ban Liên bộ đã thành công và vụ Phật giáo không đến nỗi nổ to như vậy. Nhưng lịch sử chuyển vần lại không có chữ "nếu”, nếu như thế này, nếu như thế kia, những chữ nếu đó đều ở bên lề biến cố lịch sử. Nếu lịch sử là một sự tái diễn không ngừng thì người đời sau có thể suy ngẫm rất nhiều và có ích rất nhiều khi đặt mình vào lịch sử đã qua để tự vấn "nếu như thế. . .nếu như thế ta sẽ phải làm như thế nào".

  Bước qua năm 1963 , thế lực Mỹ mỗi ngày một lớn thì đồng thời uy thế của các tướng tá Việt Nam Cộng hòa lúc ấy cũng bắt đầu lớn dần, tham vọng cũng không nhỏ và bắt đầu hướng qua một chân trời mới lạ khác, tức chính trị. Khi một số tướng tá đã có tham vọng chính trị thì tình trạng càng rối loạn, càng kéo dài bao nhiêu càng là một cơ hội tốt nhất để họ nhẩy vào vòng. Lịch sử năm 1963 đã chứng minh như vậy và lịch sử còn tái diễn nhiều lần như vậy nữa khi mà xứ sở này còn bị mê hoặc bởi thứ dân chủ loè loẹt son phấn.

  Lúc bấy giờ, phía toà Đại sứ Mỹ, Đại sứ Nolting hoàn toàn ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm. Ông giữ vững lập trường là không thể lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm trong hoàn cảnh sôi động lúc bấy giờ. Phái đoàn Anh Quốc của Robert Thompson (một nhà chiến lược về chiến tranh du kích) cũng giữ một lập trường ủng hộ tích cực chế độ Ngô Đình Diệm. Robert Thompson tin tưởng vào sự thành công của ấp chiến lược và ấp chiến đấu (nhất là ở vùng 2 và ở vùng 1). Đại tá Richarson, Trưởng phòng CIA cũng như Đại tướng Harkins (Tư lệnh MACV) đều là những người cùng lập trường như Đại sứ Nolting. Tuy nhiên một số viên chức khác bị chi phối bởi lập trường và thái độ của Harriman, Mac Namara, Hilsman đã không ngừng chống chế độ Ngô Đình Diệm và họ đã tìm cách móc nối với tướng lãnh, mua một số nhân vật Mỹ hoạt động chìm. Thí dụ như trục liên lạc Lu Coner và Trần Văn Đôn. ông Lu Coner vẫn thường bình phẩm chế độ Ngô Đình Diệm là độc tài, gia đình trị. Ông ta thúc đẩy thực hiện một chủ trương dân chủ hoá Việt Nam Cộng hòa- Việt Nam Cộng hòa phải có một thể chế dân chủ như nền dân chủ Hoa Kỳ.

  Dạo ấy, các chính khách đối lập thật khó lòng liên lạc được với Mỹ vì không thể lọt qua dược cặp mắt của giới an ninh chìm nổi. Riêng các tướng tá được tự do gặp gỡ giới chức Mỹ mà ít ai lưu tâm, với lý do họ là những cố vấn về quân sự và an ninh.

  Biến cố Phật giáo kéo dài trong một hoàn cảnh bất lợi cho chế độ Ngô Đình Diệm như vậy, cho nên, khi Tổng thống Diệm quyết định dàn xếp ngay thì mọi người đều tin tưởng là mọi chuyện sẽ êm đẹp. Nhưng bất trắc phi lý của lịch sử thì không một ai có thể ngờ tới.

  Việc lựa chọn bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế tiếp xúc như vậy sẽ dễ dàng đạt được sự cảm thông tín nhiệm. Trong một biến cố thì phe tranh đấu ở đâu và ở thời nào cũng vậy không mấy khi tin tưởng nơi thiện chí của chính quyền.

  Cho nên trước khi công khai dàn xếp thì phải có sự vận động dàn xếp ngầm. Người tiếp xúc vận động không thể là một ông Tổng Bộ trưởng và tuyệt đối không để cho mấy giới chức an ninh cảnh sát dính vào. Người đi tiếp xúc phải hội đủ 3 yếu tố : 1) Người của chính quyền (ở một địa vị lu mờ). 2) Phải có sự thâm tình tri giao với phe đối lập. 3) Phải có đức tính của người mai mối, nghĩa là khéo léo, linh động. Cuộc tiếp xúc diễn ra càng âm thầm bí mật càng dễ dàng có kết quả tốt. Bác sĩ Quan đã hội đủ được mấy yếu tố đó.

  Về phía Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông tín tưởng mọi việc sẽ êm xuôi và trao trách nhiệm giải quyết cho bộ ba Thơ, Thuần, Lương đều là "cỡ nặng" của chính quyền.

  Ông Ngô Đình Nhu không có một thái độ rõ rệt.

  Nhưng bà Nhu bắt đầu hung hăng và tìm mọi cách nhẩy vào vòng. Qua những biến cố lớn như vụ Tướng Minh năm 1954, cuộc đảo chính 11-11-1960 bà Nhu tỏ ra một người có tài ứng biến mau lẹ và có nhiều sáng kiến tổ chức. Nhưng qua hai biến cố trước, bà Nhu vẫn trong bóng tối, nay thì bà tự cho là mình đã có lực lượng lớn, tức là Phong trào Phụ nữ Liên đới. Trên thực tế phong trào này hữu danh vô thực, nhưng với bà Nhu với lòng kiêu hãnh và thái độ nghênh ngang của bà thì Phụ nữ Liên đới là một đoàn thể mà chính quyền phải kiêng nể. Đoàn thể ấy phải có tiếng nói tham dự vào diễn tiến của lịch sử.

  Trong một buổi họp vào trung tuần tháng 7-1963 (vào cuối tháng năm âm) Phong trào Liên đới với đầy đủ thành viên Ban Chấp hành Trung ương bà Nhu với lời nói "chanh chua" gay gắt cho rằng, nếu chính quyền nhượng bộ thoả mãn yêu sách của Phật giáo thì phong trào của bà cũng sẽ làm áp lực, đưa ra một số yêu sách buộc chính quyền phải thoả mãn và nhượng bộ. Trong phiên họp đó, bà Nhu chỉ trích gay gắt mấy nhà sư với những ngôn ngữ không được mềm mỏng.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #134 vào lúc: 17 Tháng Tư, 2008, 05:52:12 PM »

CUỘC HOÀ GIẢI ÂM THẦM


  Cuộc tranh đấu của Phật giáo đã biến chuyển mau lẹ. Đầu tháng 6, riêng tại Huế và miền Trung phong trào tranh đấu đã lan rộng đến các tỉnh, quận, xã. Thành phần sinh viên, học sinh cũng bắt đầu nhảy vào cuộc, chính quyền Sài Gòn cũng vẫn lạc quan, tin là có thể giải quyết êm đẹp.

  Nhưng cái đinh của biến cố vẫn là Huế và chùa Từ Đàm trở thành Tổng hành dinh của cuộc tranh đấu.

  Điều rõ rệt là các thượng tọa miền Trung muốn nói chuyện trực tiếp với chính quyền. Khi thấy chính quyền kể từ 8-5 đến 30-6 chỉ tìm cách điều đình với các nhà lãnh đạo Phật giáo tại miền Nam thì các Thượng tọa chùa Từ Đàm bắt đầu lo lắng.

  Đầu tháng 6, Thượng tọa Thiện Minh vào Sài Gòn tìm một con đường riêng để trực tiếp nói chuyện với chính quyền. Nhưng về phía ông Ngô Đình Nhu thì cho rằng : Không thể nào điều đình với mấy ông Thượng tọa như Thượng tọa Thiện Minh và Trí Quang được. Trước đây, ông Nhu không quan tâm đến các Thượng tọa vì mọi việc đã có "chú Cẩn" lo liệu. Từ lúc biến cố bùng nổ, ông Nhu bắt đầu mới tìm hiểu nhân sự về Phật giáo. Ông Nhu có định kiến rằng mấy Thượng tọa có hồ sơ khả nghi và có nhiều liên hệ với giáo sư Lê Đình Thám. Qua báo cáo ông Nhu lại có định kiến thêm rằng : Những phương thức tranh đấu từ ngày 8-5 đến đầu tháng 6 đều là những phương thức của một chiến lược trường kỳ tranh đấu với xuất xứ rất khả nghi.

  Tại Huế ngày 30-5 chùa Từ Đàm bị cô lập ít ngày sau điện nước cũng bị cúp luôn. Một số đông thanh niên Phật tử rút vào chùa rồi võ trang bằng gậy gộc, đá. . . để lo việc bố phòng. Số lương thực trong chùa lúc đó chỉ có thể kéo dài được hai tháng. Ngày 4-6 lại có biểu tình xô xát tại Huế, lực lượng an ninh phải dùng lựu đạn cay giải tán, một số chỉ bị thương nhẹ, nhưng vài ngày sau báo chí Mỹ lại làm um lên. Tại Sài Gòn dư luận lại được dịp lan truyền mau chóng và rất khích động như tăng ni bị bắn, bị thương và bị cầm tù bằng những hình thức dã man của nhà cầm quyền địa phương.

  Quả thực lúc đó chính quyền Thừa Thiên quá yếu. Trước kia nhận lệnh trực tiếp từ nơi ông Cẩn thì nay phải đợi lệnh từ Trung ương. Ông Nguyễn Văn Hà người thay thế Nguyễn Văn Đẳng lại ôn hoà và có rất nhiều tình cảm với các Thượng tọa bên chùa Từ Đàm cho nên ông không thể mạnh tay đàn áp, dù cuộc biểu tình ngày 4-6 cũng không đông đảo bao nhiêu.

  Dư luận báo chí ngoại quốc như thế nào, tờ Công luận tại Đài Bắc liên tiếp đăng tải những bài bình luận lên án chính quyền Ngô Đình Diệm và cho rằng chính quyền này kỳ thị tôn giáo, đã đặt Thiên chúa giáo lên hàng đầu và vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc. "Trước khi băng hà Đức giáo hoàng Jean XXIII đã lên tiếng. Nhân loại không thể có quyền kỳ thị: Nhưng đối với tín ngưỡng của anh em Tổng thống Diệm thì lời nói của Đức Giáo hoàng trở thành vô nghĩa" (Công luận l-6-1963). Những tờ báo có uy tín như Express News, China Post, China News đều đăng những hình ảnh bình luận tin tức hoàn toàn bất lợi cho chính quyền Ngô Đình Diệm. Báo chí Thái Lan tỏ ra dè dặt hơn nhưng báo Thái ngữ (ngày 23-5-1963) đã lên tiếng nghiêm chỉnh cảnh báo “Biến cố Phật giáo nếu không sớm giải quyết sẽ bất lợi lớn cho chính quyền, vì chắc chắn Cộng sản sẽ nhảy vào lợi dụng sự bất mãn của Công giáo để làm to chuyện ". Tại Miên, Sihanouk lợi dụng ngay vụ Phật giáo để gây rắc rối. Báo chí Miên từ thiên tả đến thiên hữu đều lên tiếng công kích chính quyền Ngô Đình Diệm. Từ tờ thiên tả La Depêche du Cambodge đến Campuchia và tờ Neak Cheat Niyum (của chính quyền) đều nhất loạt công kích chính quyền Ngô Đình Diệm.

  Từ đầu tháng 6 tại Nông Pênh liên tiếp tổ chức những cuộc mít tinh tại ngôi chùa lớn Onnlum để lên án chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo.

  Báo chí Mỹ lại càng công kích mãnh liệt hơn nữa như tờ NewYork Times, Washington Post, NewYork Herald Tribunne, đã đứng hẳn về phía Phật giáo. Tờ NewYork Times 31-5 thì cho rằng cuộc tranh đấu của Phật giáo Việt Nam đã chứng tỏ dân chúng đã bất mãn sâu xa với chế độ. Ảnh hưởng và uy tín của Hoa kỳ sẽ bị tổn thương và Mỹ không thể đứng ngoài vòng cuộc tranh chấp (có nghĩa là Mỹ phải nhúng tay vào).

  Tầm nhìn của báo chí Mỹ cũng không khác bao nhiêu lập luận của các hãng thông tấn UPI, AP, CBS News có nghĩa là hoàn toàn chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm và như tờ US News và World Report lại cả quyết rằng : "Các nhà lãnh đạo Phật giáo chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm chấm dút sự kỳ thị tôn giáo nhưng ngược lạiTổng thống Ngô Đình Diệm đã đàn áp mạnh các nhà lãnh đạo Phật giáo. Do đó chính quyền của ông đã tách rời Thiên chúa giáo ra khỏi tập thể đại đa số phật giáo đồ tại miền Nam ( 24-6-196)". Tờ báo trên còn lên tiếng : "Qua cuộc tranh chấp giữa chính quyền và Phật giáo, Cộng sản sẽ tuyên truyền với dân chúng rằng Diệm tiêu diệt Phật giáo để mở đường cho Đế quốc Mỹ xâm lăng miền Nam Việt Nam ".

  Báo chí Mỹ thì như vậy. Giới chức Mỹ tại toà Đại sứ luôn luôn áp lực với Ngô Đình Diệm phải điều đình với Phật giáo, phải mở rộng nội các, phải ban hành dân chủ rộng rãi. Vấn đề quan trọng hơn nữa là phải đẩy vợ chồng Nhu ra khỏi nước.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #135 vào lúc: 18 Tháng Tư, 2008, 05:19:27 PM »

  Khi được biết Tổng thống Diệm tìm cách điều đình trực tiếp với mấy Thượng tọa miền Trung thì ông Nhu không đồng ý. ông cho rằng không thể nhượng bộ được và mấy vị thượng tọa này không “thuần tuý tu hành".

  Tuy vậy Tổng thống Diệm vẫn quyết định theo ý riêng của ông.

  Ngày 5-6, bác sĩ Trương Khuê Quan được gọi vào dinh để gặp Tổng thống. Giới thân cận cho biết không khí hôm đó thật nặng nề khó thở.

  Trong căn phòng Tổng thống, ông Nhu ngồi riêng trên một ghế bành, nét mặt đăm chiêu khó chịu. Ông mặc chiếc áo sơ mi Hong kong ngắn tay im lặng không nói một lời. Bộ trưởng Bùi Văn Lương đứng bên Tổng thống Diệm, bác sĩ Trương Khuê Quan bước vào chào theo lối nhà binh (ông là một bác sĩ Trung tá). Tổng thống Diệm gật đầu rồi chỉ, cho ông ngồi đối diện với Tổng thống rồi hỏi ngay :

  - Tôi nghe Trung tá quen biết với mấy thầy ở chùa Từ Đàm phải không?
   
  Bác sĩ Quan đáp :

  - Dạ thưa có, gia đình tôi quen biết các thầy từ lâu.

  Tổng thống Diệm nói tiếp :

  - Trong lúc khó khăn như  thế này tôi muốn nhờ Trung tá giúp cho qua cơn khó khăn với các thầy ngoài đó. Ở ngoài đó mấy thầy ấy cứ tuyệt thực rồi biểu tình này khác. Được biết Trung tá có quen biết, tôi nhờ Trung tá liên lạc với mấy thầy không biết Trung tá có khả năng dàn xếp cho êm được không ?

  Bác sĩ Quan chưa kịp trả lời thì Tổng thống Diệm nói tiếp :

  - Nhờ Trung tá giúp và giải thích xem họ muốn gì ?

  Bác sĩ Trương Khuê Quan trả lời :

  - Thưa Tổng thống, tôi có quen biết với mấy thầy, có làm việc chung với mấy thầy từ năm 1946 cho đến khi nhập ngũ (1956) chuyên lo Phật sự và Hoằng Pháp.

  Từ khi nhập ngũ đến nay tôi không có dịp để hoạt động với mấy thầy ấy nữa. Việc giải thích và dàn xếp không biết mấy thầy ấy có nghe không, nhưng Tổng thống đã ra lệnh thì tôi sẵn sàng thi hành.

  Bác sĩ Trương Khuê Quan ngừng lời, Tổng thống Diệm bất thần hỏi :

  - Người ta nói ông Trí Quang thân Cộng, ông vẫn thường xuyên hoạt động cho Cộng sản có đúng vậy không ?

  Bác sĩ Quan đáp:

  -Thưa Tổng thống tôi không dám trả lời là có hay không.

  Sau đó bác sĩ Quan trình bày đại ý rằng, Thượng tọa Trí Quang có là Cộng sản hay không vấn đề này thực sự quan trọng. Điều cần nhất là phải tìm hiểu sự tiến triển của Hội Phật giáo như thế nào và nhất là kiểm điểm những hình thức và môi trường nào đã đào tạo ra Thượng tọa Trí Quang ngày nay. Tóm lại bác sĩ Quan hoàn toàn dè dặt và không trả lời thẳng vào câu hỏi của Tổng thống Diệm.

  Tổng thống Diệm yên lặng suy nghĩ lao lung.Sau đó, hỏi về môi trường đã đào tạo nên một Thích Trí Quang. Bác sĩ Quan đáp :

  - Thầy Trí Quang cũng như một số thầy khác được đào tạo trong một lớp Phật học tại chùa Bảo Quốc mà bác sĩ Lê Đình Thám lúc ấy (1940) là Chủ tịch Hội nghiên cứu Phật học Trung Việt.

  Tổng thống Diệm đáp ngay :

  - Tôi biết, Lê Đình Thám hiện thời đi ra đằng kia.

  - Thưa Tổng thống, có lẽ như vậy e không được rõ. Xin Tổng thống cho tìm hiểu thêm một chút nữa may ra có thể giải quyết được.

  Ông Nhu ngồi lim dim, từ nãy giờ ông vẫn im lặng không nói một câu. Khi nghe nhắc đến Lê Đình Thám, ông Nhu nhăn trán rồi bỗng đứng lên với vẻ giận dỗi nói trống không :

  - Phải chứ ! điều đình với họ phải chắc, nếu không như vậy thì người ta lại đổ thừa cho mình đàn áp.

  Đây chỉ là lời nói giận lẫy của ông Nhu, mọi người đều cảm thấy không khí thật nặng nề khó thở. Ông Nhu đứng lên đi thẳng một mạch, không nói thêm một câu. Trong phòng Tổng thống Diệm chỉ còn lại Nguyễn Đình Thuần, Bùi Văn Lương, bác sĩ Quan và bác sĩ Tuyến.

  Tổng thống Diệm vẫn bình tĩnh và như không để ý đến thái độ giận lẫy của ông Nhu. Tổng thống Diệm bảo bác sĩ Quan :

  - Tôi nhờ Trung tá ra ngoài đó coi xem như thế nào. Trung tá nói với các thầy ấy ngưng tuyệt thực đi và dân chúng đừng có làm gì phiền nhiễu quá đáng. Cứ từ từ rồi mọi việc sẽ được thu xếp ổn thoả.

  Cuộc yết kiến Tổng thống Diệm kéo dài trên 40 phút. Sau buổi chiều đó, Bộ Quốc phòng lo giấy tờ cho bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế. Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần trao cho bác sĩ Trương Khuê Quan hai lá thư viết tay phong kín - lá thư gởi riêng cho đại biểu Chính phủ Nguyễn Xuân Phương. Một lá yêu cầu trao tận tay Đại tá Đỗ Cao Trí Tư lệnh sư đoàn I - Nội dung lá thư đó vừa giới thiệu bác sĩ Quan vừa chỉ thị một số điểu căn bản về việc giải quyết vụ Phật giáo tại Huế và Quảng Trị.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #136 vào lúc: 19 Tháng Tư, 2008, 07:54:24 AM »

  Ông Ngô Đình Nhu chống lại phương thức giải quyết của Tổng thống Diệm. Ông vẫn có định kiến : Mấy tay đó tu hành khi được cái này sẽ đòi cái khác. . . có chiến lược trường kỳ mà. . .Ai còn lạ gì Lê Đình Thám...Hắn là marxiste mà...Phật giáo nhà nuộc Cộng sản mà". Tuy vậy ông Nhu không thể chinh phục được Tổng thống Diệm. Tổng thống Diệm cũng có biết ít nhiều về giáo sư Lê Đình Thám. Nhưng có lẽ không được hiểu rõ lắm.

  Khoảng năm 1956, trong một cuộc hành quân tại mật khu Mặt trận Dân tộc giải phóng tại Thừa Thiên (phần đầu đã viết) quân đội có bắt được một tài liệu mật thuộc loại "tài liệu chiến lược". Tài liệu liên quan đến công tác tôn giáo vận tại miền Nam và những dự định tổ chức những hội đoàn Phật giáo theo công thức và chủ đích của Đảng Cộng sản. Tài liệu này được trao cho ông Cẩn và nó lại dính dáng tới Thượng tọa Trí Quang cũng như Thượng tọa Thiện Minh, sau đó ông Cẩn mời quý thày tới tư thất để tìm hiểu và thông cảm. Ông Cẩn giữ tài liệu này như một bảo bối. Trường hợp ông Cẩn người ta nói rằng “chơi dao có ngày đứt tay" thì quả có đúng như vậy.

  Thượng tọa Trí Quang, được Phật giáo miền Trung nhất là Phật tử giới trẻ tôn sùng như thần tượng. Trước vụ Phật giáo 1963, không có một dấu hiệu khả nghi nào về hoạt động chính trị của Thượng tọa Trí Quang. Riêng Thượng tọa Thiện Minh lại có những giao hảo rất tốt đẹp với ông Cẩn.

  Bỗng dưng biến cố bùng nổ và mỗi ngày một lớn dần càng lan rộng tại Huế. Giới chức an ninh lại có báo cáo gửi về Sài Gòn cho biết Lãnh sự và Phó Lãnh sự Mỹ tại Huế đã liên lạc mật thiết với các thầy tại chùa Từ Đàm. Sở dĩ biết được như thế vì giới an ninh ở đây đã móc nối với một nhà sư trẻ ở An Cựu, đệ tử của thầy Thiện Minh về sống gần các thầy. . .cho nên nhiều kế hoạch của Từ Đàm đã bị phát giác trước khi thực hiện.

  Chính quyền trung ương mắc một lỗi lầm lớn là chỉ nhìn tình hình qua thông báo của địa phương mà báo cáo của giới chức an ninh thời nào cũng vậy đều bị méo mó nghề nghiệp và bị ám ảnh nặng nề bởi cái bóng ma Cộng sản. Có nhẽ ông Ngô Đình Nhu có định kiến với mấy thầy Trí Quang và Thiện Minh qua những báo cáo của địa phương chăng ?

  Dù ông Nhu không tán thành việc dàn xếp với mấy Thượng tọa chùa Từ Đàm nhưng ông cũng không ngăn cản (ông Nhu chỉ quyết liệt vào trung tuần tháng 7).

  Ngày 6-6-l963, bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế đi chuyến máy bay đầu tiên. Không khí Huế lúc ấy nặng nề lắm. Chùa Từ Đàm bị phong toả thành phố mang vẻ ốm đau. Ông Nguyễn Xuân Khương đã chính thức nhận đại biểu Chính phủ vào ăn ở ngay trong căn phòng thuộc lầu 2 của toà Đại biểu. Cho đến ngày bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế thì ông Nguyễn Xuân Khương có vẻ lạc quan cho rằng chính quyền sẽ thắng thế. Nhất là nhờ biện pháp cúp điện nước và phong toả, chùa Từ Đàm bắt đầu mệt mỏi. Nhưng ông Khương lại không hiểu quy luật tranh đấu và phương thức giải quyết đó phù hợp với những đòi hỏi xuất phát từ quy luật này. Giả như cúp điện nước và phong toả chùa có thể giúp chính quyền thắng thế nhưng chỉ là cái thắng thế nhất thời và chỉ tạo thêm cho phía tranh đấu có cớ để hào quang hoá đối tượng tranh đấu.

  Từ đầu tháng 6, Phật tử Sài Gòn càng thêm nôn nao bất mãn về việc chính quyền cúp điện nước và phong toả chùa Từ Đàm. Từ đó, dư luận lại càng thêm sôi nổi và càng được bi đát hoá, báo chí Mỹ-Pháp lại có dịp khai thác và thổi phồng. Nhưng tình hình tại chỗ lại không bi đát như vậy.

  Các Thượng tọa chùa Từ Đàm bắt đầu muốn nhượng bộ, nhưng dù sao vẫn còn tự ái và không thể làm mất hào quang cho cuộc tranh đấu được. Trong cái thế kẹt dó thì sự thành lập Uỷ ban Liên bộ để cùng với Uỷ ban Liên phái giải quyết song phương, được coi như một lối thoát tốt đẹp, mà không còn lối thoát nào khác hơn ngoài việc sử dụng biện pháp mạnh.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #137 vào lúc: 20 Tháng Tư, 2008, 06:36:35 PM »

  Bác sĩ Trương Khuê Quan ra Huế thi hành sứ mạng móc nối cho đường lối giải quyết này. Bác sĩ Trương Khuê Quan khi đến Huế thì vội vã gặp ngay ông Nguyễn Xuân Khương. ông Khương còn đang trong phòng riêng với bộ quần áo ngủ tiếp "sứ giả" Sài Gòn. Theo Lương Khải Minh thuật lại thì bác sĩ Quan trao thư của Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần cho ông Khương, ông Khương vừa xem xong đổi sắc mặt, thái độ tức giận, ông đập mạnh lá thư xuống bàn nói với sự đau khổ của người thất bại "Thế này thì Chính phủ thua họ rồi còn gì" . Ông Khương nhăn nhó rồi nói với bác sĩ Trương Khuê Quan : "Ở đây đã giải quyết gần xong rồi, họ đã chịu thua rồi. Họ đã chịu điều kiện tổ chức một buổi lễ mời Tổng thống ra để họ tạ tội rồi.

  Bây giờ thế nầy thì Chính phủ thua rồi...chúng tôi còn làm gì được nữa".

  Bác sĩ Quan chỉ có nhiệm vụ thi hành chỉ thị của Tổng thống Diệm. Ông không góp thêm một ý kiến nào. Khi Bác sĩ Trương Khuê Quan đến gặp Đại tá Đỗ cao Trí trao thư của ông Thuần, Đại tá coi thư xong cũng lộ vẻ giận dỗi, hoàn toàn không đồng ý. Đại tá Trí than trời: "Thế này thì làm sao mà dẹp cho êm được". Ông Trí tâm sự với bác sĩ Trương Khê Quan: "Anh nghĩ coi...khó lắm anh ơi. Mấy cái ông thày đó ngang ngược còn hơn...anh ơi” Ông Trí lại than vắn thở dài: “Nhưng thôi mình là nhà binh thì thượng cấp chỉ đâu làm đó, biết sao bây giờ”. Đại tá Đỗ cao Trí hứa với bác sĩ Quan: “Trong khả năng của tôi, tôi xin giúp cho anh mọi phương tiện mà anh cần”. Vẫn theo Lương Khải Minh sau đó Đại tá Đỗ cao Trí tự tay lái xe đưa bác sĩ Quan đến chùa Từ Đàm và tự tay ông nhắc hàng rào kẽm gai để bác sĩ Quan vượt qua “bức tường” phong tỏa.

  Bên trong các thanh nữ Phật tử đang lo phận sự bố phòng canh gác. Không khí rất yên tĩnh. Các tu sĩ vẫn sinh hoạt bình thường.

  Khi vào nhà trai thì Thượng tọa Trí Quang đang ngồi đánh cờ. Vừa trông thấy bác sĩ Quan Thượng tọa Trí Quang đã tươi cười “ À chào sứ giả Hòa Bình và từ Sài Gòn ra”. Sau khi thi lễ vấn an bác sĩ Quan đi thẳng vào câu chuyện. Ông trình bày thiện chí giải quyết của Tổng thống Diệm với Thượng tọa Quang và mấy Thượng tọa chủ chốt khác. Không khí thật vui vẻ hòa hoãn. Thượng tọa Trí Quang yêu cầu bác sĩ Quan can thiệp để nhà cầm quyền ngưng cúp điện nước, nhưng lúc đó thì ông Nguyễn Xuân Khương đã ra lệnh giải tỏa vấn đề điện nước, bây giờ chỉ còn hàng rào kẽm gai phong tỏa.

  Buổi tối hôm ấy, bác sĩ Trương Khuê Quan lưu lại chùa Từ Đàm sau khi từ Quảng Trị trở về. Đây là một sứ giả duy nhất của Sài Gòn có dịp gần mấy Thương tọa trong thời gian 2 ngày để tìm sự thông cảm từ hai phía. Bác sĩ Quan cho Thượng tọa Trí Quang biết rõ ý của Tổng thống Diệm là muốn các sư sãi ngưng ngay tuyệt thực và trở về nếp sống bình thường, sau đó Phật giáo sẽ cùng chính quyền giải quyết. Thượng tọa Trí Quang yên lặng một cách khó hiểu. Tuy nhiên ông cũng viết một lá thư trao cho bác sĩ Quan đưa ra Quảng Trị chỉ thị cho chùa Tỉnh Hội ở đây ngưng tuyệt thực.

  Từ Huế ra Quảng Trị, Đại tá Đỗ Cao Trí phải cho xe gắn đại liên hộ tống bác sĩ Quan mặc dù đường Huế-Quảng Trị lúc ấy vẫn còn an ninh, xe cộ có thể đi lại suốt ngày đêm nhưng chuyến hành trình của bác sĩ Quan có vẻ gian nan và ông cũng linh cảm thấy sự ngột ngạt, khó chịu, khi đến Quảng Trị không khí còn ngột ngạt hơn.

  Tại Quảng Trị, tình hình trong mấy ngày 4, 5, 6 càng trở nên sôi bỏng. Chùa Tỉnh Hội cũng như tại Từ Đàm Huế đều bị phong toả. Các tăng ni vẫn tiếp tục tuyệt thực. Không khí hết sức dao động.

  Nhưng khi bác sĩ Quan trao thư tay của Thượng tọa Trí Quang thì cuộc tuyệt thực được chấm dứt ngay. Sứ giả Sài Gòn đã làm xong nhiệm vụ. Nhưng tình hình có thay đổi không chỉ là tạm thời an bình để sửa soạn cho một kế hoạch mới ?
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #138 vào lúc: 21 Tháng Tư, 2008, 04:31:17 PM »

  Giới chức Huế lúc bấy giờ không tin rằng phía các Thượng tọa có đủ lực lượng để làm lớn chuyện và cũng tin rằng có thể thu xếp xong bằng biện pháp mạnh. Tất cả đều chú ý đặc biệt đến Thượng tọa Trí Quang vì cho rằng vị Thượng tọa này mới là người chủ động, là linh hồn của cuộc tranh đấu. Nhưng sự thực Thượng tọa Thiện Minh mới là người chủ chốt hành động. Thượng tọa Trí Quang chỉ là khuôn mặt có tính cách tiêu biểu cho lãnh đạo Phật tử về mặt nổi, mặt chìm với phương tiện và người hành động đều do Thượng tọa Thiện Minh với tất cả phương thức tranh đấu của một người thâm sâu, bí hiểm lãnh đạo.

  Khi được Tổng Thống Diệm chấp thuận hoà giải trực tiếp với các Thượng tọa Từ Đàm, phía Thượng tọa Thiện Minh đã thắng được hiệp đầu và gỡ được lối thoát cho các nhà lãnh đạo Phật giáo tại Huế đang bị bế tắc.

  Khi Bác sĩ Trương Khuê Quan từ Quảng Trị trở lại Huế, ông ngủ lại chùa Từ Đàm một đêm. Trước đó, đại biểu Nguyễn Xuân Khương có đưa ông lại tư thất Đức Cha Ngô Đình Thục, ông Quan ngồi đợi tại phòng khách.

  Đại biểu Khương vào trình bày với Đức Cha Thục đến 2 giờ đồng hồ về những chỉ thị hoà giải của Sài Gòn. Nhưng ông Quan vẫn không được Đức Cha Thục tiếp kiến và cũng không cho biết ý kiến của Đức Cha Thục như thế nào. Sau đó bác sĩ Quan cùng Đại biểu Khương đến tư dinh ông Cẩn và ở đây ông Quan cũng phải chờ đợi lâu cả giờ đồng hồ mà vẫn không được ông Cẩn tiếp.

  Tuy vậy, cho đến lúc ấy ông Cẩn vẫn một lòng bênh vực giải pháp điều đình trực tiếp với Huế.

  Điều mà trước đây ông đã thỉnh thị với Sài Gòn và chính ông đã cho chuyển lá thư tay của Thượng tọa Trí Quang lên Tổng Thống Diệm, lá thư ấy được viết ngay tại nhà ông Cẩn với lời lẽ hết sức khiêm nhường và chỉ yêu cầu giải quyết hai nguyện vọng mà thôi. Đến nay, Tổng thống Diệm chấp thuận điều đình thẳng với Thượng tọa Từ Đàm tức là ông Cẩn đã toại nguyện, vì từ 7, 8 năm qua, ông Cẩn tự hào về mối liên hệ chặt chẽ giữa ông và các Thượng tọa Trí Quang, Thiện Minh cho nên biến cố xảy ra ngoài ý muốn của ông, ông cũng một lòng bênh vực các Thượng tọa cũng là điều dễ hiểu.

  Bác sĩ Quan đã thành công một phần nhiệm vụ nhưng Sài Gòn lại đánh điện gọi ông Quan về gấp.

  Trong thời gian bác sĩ Trương Khuê Quan ở Huế có nhiều truyền đơn được tung ra "tố cáo một Trung tá từ Sài Gòn đã âm mưu với các Thượng tọa chùa Từ Đàm".

  Không khí thật ngột ngạt. Ông Quan nhờ chiếc xe Cammontette của Chi cuộc quân tiếp vụ để ra phi trường Phú Bài cùng với Thượng tọa Thiện Minh về Sài Gòn. Viên Thượng sĩ chỉ cho ông mượn xe mà không dám tự lái xe vì trên xe có Thượng tọa Thiện Minh, ông cho mượn xe rồi chuồn lẹ. Lúc ấy, kể cả xe đò, xe ca của Air Việt Nam đều không chịu chở các Thượng tọa nhất là Thượng tọa Thiện Minh. Tình cờ, bác sĩ Quan gặp ông Cao Xuân Vỹ và Trung tá Huỳnh (Phó Giám đốc Nha An ninh quân đội) ra công cán tại Huế và cùng về Sài Gòn một chuyến với ông Quan. Hai ông đi nhờ xe của quân tiếp vụ ra Phú Bài. Nhưng mặc dù cùng phục vụ một chế độ nhưng mỗi người lại thi hành cho một đường lối khác nhau.

  Trên chuyến xe đó có cả Thượng tọa Thiện Minh. Nhịp cầu Phật giáo Huế và Sài Gòn bắt đầu bắc nhịp.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #139 vào lúc: 22 Tháng Tư, 2008, 02:52:00 PM »

  Khi trở  về, bác sĩ Quan mới giật mình về chuyến đi quá nguy hiểm của ông mà chính Bộ Quốc phòng cũng không tiên liệu được. Không hiểu những tính toán như thế nào của giới chức tại Huế nhưng đã hoàn toàn bất lợi cho bác sĩ Quan.

  Do đó, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần phải đánh điện khẩn cấp gọi bác sĩ Quan về ngay, vì e ngại "có thể nguy đến tính mạng".

  Riêng Thượng tọa Thiện Minh, khi vào Sài Gòn lần này ông lại tiếp xúc một lần nữa với Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần. Bác sĩ Tuyến cũng đến thăm Thượng tọa Minh tại nhà một người quen. Qua cuộc mạn đàm với bác sĩ Tuyến, Thượng tọa Minh tỏ ra rất cởi mở và ôn hoà, có thể nói Thượng tọa Minh đã mềm dẻo ngoài sự mong đợi của chính quyền.

  Ngày 5-6- 1963, Uỷ ban Liên bộ cùng Uỷ ban Liên phái bảo vệ Phật giáo nhóm họp lần thứ nhất tại hội trường Diên Hồng. Về phía Chính phủ có Phó Tổng thống Thơ, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần và Bùi văn Lượng. Về phía Phật giáo có các Thượng tọa Tâm Châu, Thiện Minh, Thiện Hoa, Huyền Quang, Đức Nghiệp, Đại đức Đức Nghiệp là phát ngôn viên của phái đoàn Phật giáo.

  Phiên họp đầu tiên mới chỉ có tính cách giới thiệu và nghi lễ cùng thảo luận một số vấn đề liên quan đến thủ tục và phương thức thảo luận.

  Cho đến ngày 5-6, hiệu lực của Uỷ ban Liên phái chưa có gì đáng kể, nếu không muốn nói là quá lỏng lẻo. Ngay trong Uỷ ban Liên phái cũng có 3 khuynh hướng. Khuynh hướng Phật giáo trong Nam vẫn còn dè dặt, e ngại vì sự hiện diện của Thượng tọa Thiện Minh, mà khuynh hướng này vẫn có định kiến là “Người của ông Cẩn".

  Khi Thượng tọa Thiện Minh vào Nam lãnh một vai trò quan trọng như vậy nhưng vẫn chưa có hậu thuẫn quần chúng, chưa có cán bộ, phần lớn cán bộ trong giai đoạn này đều thuộc ảnh hưởng của các Thượng tọa Châu, Thượng tọa Tâm Giác, Đức Nghiệp. Mà những cán bộ này ( nói cán bộ không đúng danh nghĩa) hầu hết thuộc thành phần đảng phái Quốc gia có kinh nghiệm hành động và vốn bất mãn với chính quyền. Tuy không phải là Phật tử thuần thành nhưng cũng vẫn có danh nghĩa Phật tử và nhân cơ hội ngàn năm có một này thì họ tạm thời đứng cùng với Phật giáo để tranh đấu.

  Đáng kể nhất là một số cán bộ thuộc Việt Nam Quốc dân Đảng (thuộc thế hệ trẻ) miền Bắc di cư, cũng như hai miền Nam Ngãi, giai đoạn đầu đã góp công không nhỏ làm hậu thuẫn cho các Thượng tọa trong Uỷ ban Liên phái. Sau nữa là một số nhỏ trong hàng ngũ Đảng Duy dân.

  Lớp cán bộ trẻ này, vì nhiệt huyết vì lòng trung kiên với lý tưởng và đồng thời cũng bị thúc đẩy bởi khát vọng làm thay đổi tình hình (họ có biết đâu đó chỉ là ảo tưởng) . . .cho nên nhân cơ hội “biến cố Phật giáo" thì vùng dậy.

  Hầu hết lớp trẻ đã hết tin vào lãnh tụ Việt Nam Quốc dân Đảng, tan tác mỗi người một nơi không tổ chức nhưng vẫn còn truyền thống để kết hợp. Mà Phật giáo với hình ảnh một Tiêu sơn tráng sĩ cũng là động cơ làm sống động truyền thống của Đảng. . .Với những lãnh tụ già nua hủ bại, đã không kết hợp được giới trẻ cho một công trình tranh đấu lớn lao. Bỗng nhiên một số Thượng tọa đứng lên lãnh đạo tranh đấu lần thứ nhất trong lịch sử Việt Nam sau nhà Lý. Chính các Thượng tọa này đã trở thành thần tượng thu hút hầu hết các đảng viên trẻ của Việt Nam Quốc dân Đảng cũng như Đại Việt (nhóm Tư Quyết và Ba Lòng) và một số nhỏ đảng viên Đảng Duy dân.

  Giới đảng viên kỳ cựu cũng tích cực dấn mình vào cuộc tranh đấu như nhóm Việt quốc của cụ Bạch Vân (Công giáo) nhóm ông Đĩnh (tự Đĩnh cụt Công giáo) nhóm Việt quốc miền Nam, nhóm Đại Việt Nguyễn Tôn Hoàn, nhóm Việt quốc Như Phong , Nguyễn Hoạt (từ Tự Do).

  Ngoại trừ mấy nhóm đảng viên kỳ cựu như đã viết ở trên còn các nhóm khác, hoạt động lẻ tẻ ủng hộ cuộc tranh đấu bằng tinh thần và hỗ trợ theo cách riêng. Hầu hết thành phần trẻ tạm thời tự động thoát ly Đảng để tự đặt mình trong công cuộc tranh đấu với hy vọng cuộc tranh đấu thành công thì họ sẽ là những thành phần cốt cán chủ động phục hồi đảng.

  Vốn lãng mạn từ bản chất, tinh thần cách mạng tự lực, lớp trẻ này lại không được đào tạo theo một kỹ thuật đấu tranh, cũng không biết về quy luật đấu tranh, cho nên vô hình họ trở thành con tốt trong một ván cờ, mặc dầu khi dấn thân vào cuộc họ dâng cả trái tim, cả bầu nhiệt huyết, cả cuộc đời. Những Uyên, Thao, Vy, Ý là một thí dụ.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM