Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 06 Tháng Mười Hai, 2019, 05:46:11 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Vũ khí Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến.  (Đọc 634011 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« vào lúc: 15 Tháng Sáu, 2007, 09:41:28 PM »

Đây là tài liệu từ một cuốn sách của Trung tướng Trương Khánh Châu chủ biên. Trong khi đưa lên có đôi phần tôi đã lược bỏ và chỉnh sửa, tuy nhiên những phần này đều không ảnh hưởng gì đến nguyên tác.

Vũ khí trang bị kỹ thuật của quân đội nào cũng có đặc trưng công nghệ riêng. Đặc trưng đó hình thành và phát triển từ học thuyết quân sự, chiến lược quân sự, chiến lược trang bị của từng nước. Ví dụ : vũ khí trang bị của quân đội Mỹ có đặc trưng nổi bật là nhiều chức năng, nhiều tác dụng, dựa vào ưu thế chất lượng. Đặc trưng đó xuất phát từ quan niệm chiến lược trang bị dùng ưu thế chất lượng công nghệ áp đảo ưu thế số lượng của đối phương.
Đất nước ta có diện tích đất liền khoảng 32 vạn km vuông, nhỏ hơn so với một bang của Mỹ và chỉ xấp xỉ một tỉnh của TQ. Nhưng VN lại có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả về mặt kinh tế và quân sự. Vì lẽ đó ngay từ xa xưa, công cuộc dựng nước của dân tộc ta luôn gắn bó với quá trình giữ nước. Trải qua bao thế kỷ chống kẻ thù xâm lược, người VN đã sớm biết chế tạo và sử dụng vũ khí để chống thù trong giặc ngoài và từ đó tạo nên một đặc trưng riêng của vũ khí trang bị VN. Đặc trưng này càng nổi bật trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vừa qua.

Chương 1 : Ra đời trong bão táp


Ngày 7 tháng 5 năm 1954, khi tiến vào hầm chỉ huy của tướng Đờ Cát ở ĐBP, bộ đội ta thu được một tài liệu quan trọng của Bộ chỉ huy quân đội Pháp. Đó là bộ sưu tập tra cứu về các loại vũ khí quân giới VN chế tạo từ năm 1945 đến 1954 do Pháp biên soạn được viết bằng tiếng Pháp, dày 64 trang, mô tả chi tiết 9 loại súng đạn, mìn, lựu đạn gồm các kiểu khác nhau, được xếp loại như sau :
1, Súng ngắn và tiểu liên : 15 kiểu
2, Súng cối và súng phóng bom : 13 kiểu
3, Súng phóng lựu và lựu đạn phóng
4, Ba-zô-ka hoặc hoả tiễn : 5 kiểu
5, Súng không giật SKZ : 3 kiểu
6, Súng không giật SS : 7 kiểu
7, Lựu đạn : 7 kiểu
8, Mìn : 7 kiểu
9, Thuỷ lôi : 2 kiểu
Trong lời mở đầu của bộ sưu tập có nhận xét rằng Việt Minh đã có " một cố gắng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu kỹ thuật, một quyết tâm rõ rệt ..., đã bắt chước hoặc áp dụng có sửa đổi lớn những vũ khí nhẹ cổ điển, hầu như lúc nào cũng có nhiều sãng chế và đạt được một số công trình hoàn thiện".
Có thể nói, đó là một phần sự thú nhận thất bại của quân Pháp trong 9 năm đối đầu quyết liệt với nhân dân ta trong lĩnh vực vũ khí trang bị.
Vũ khí tự tạo ra đời cùng với các lực lượng vũ trang nhân dân, tiếp tục phát triển trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất, đã góp phần quan trọng giữ vững chính quyền cách mạng còn non trẻ trong thế bị bao vây cô lập bốn bề và về sau đã góp phần quan trọng hạn chế thế mạnh tăng thiết giáp của Pháp, đánh sập các hệ thống hầm ngầm, lô cốt kiên cố, đánh chìm các đoàn tàu chiến của quân viễn chinh Pháp, làm thất bại chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh", " chiến thuật giao thông ", " chiến thuật bình định " của các tướng tá Pháp, cuối cùng góp phần đưa tới thất bại của họ ở Điện Biên Phủ.
Những ngày cuối tháng 12/1946 Bộ chỉ huy Pháp đã có lý khi đánh giá tương quan của hai phía vào thời điểm sau ngày CM tháng 8, đặc biệt so sánh lực lượng Việt-Pháp trong lĩnh vực công nghệ quân sự lúc bấy giờ quả là " châu chấu đá voi ".
Hãy nhìn lại khả năng công nghệ của chúng ta ngày đó :
- Về khả năng công nghiệp : trước CM người Pháp có xây dựng một số xí nghiệp cơ khí ở vùng mỏ, thành phố lớn và bến cảng như SG, HN, HP, NĐ. Họ cũng xây dựng một số nhà máy nhiệt điện nhỏ. Mạng lưới điện chuyển tải chủ yếu cho các thành phố lớn. Tổng công suất phát không quá 50MW khả dụng. Hầu hết các cơ sở công nghiệp mỏ, cơ khí, điện lực của Pháp đều được trang bị máy móc, thiết bị cơ giới trình độ thấp. Trong ngành cơ khí sửa chữa từ khâu rèn, dập, tiện, nguội, hàn và lắp ráp chỉ sử dụng các máy công cụ và khí cụ thông thường, công suất nhỏ không hợp thành dây chuyền công nghiệp hoàn chỉnh.
- Trong công nghiệp hóa học : người Pháp chỉ tập trung chủ yếu vàp các ngành hóa thực phẩm và xây dựng.
- Về các cơ sở nghiên cứu phát triển : vào thời điểm 1945 chúng ta không có một cơ sở nào có thể huy động vào mục đích chế tạo trang bị vũ khí.
- Riêng các cơ sở công nghiệp quân sự : phục vụ họat động chinh phục thuộc địa của Pháp vốn đã ít ỏi, lạc hậu, lại bị đình đốn kiệt quệ trong thời gian Nhật Bản thế chân ở Đông Dương. Nhà máy sản xuất đạn súng trường của Pháp ở Phú Thọ ngừng sản xuất từ năm 1942, hầu hết máy móc thiết bị đều bị tháo dỡ. Cơ sở lắp bom đạn của Pháp ở Đình Án (Vĩnh Yên) bị quân Nhật chiếm làm kho. Hãng thuốc nổ Đông Dương và cơ sở kỹ nghệ quân khí của Pháp chuyên sản xuất cloratkali, diêm sinh tuy vẫn còn họat động nhưng sản lượng không đáng kể. Xưởng Ba Son (sài Gòn), xưởng Sa-ta-ca (Đà Nẵng) sửa chữa tàu hải quân Pháp chỉ còn họat động cầm hơi. Số quân Pháp đặt trong thành Hà Nội chuyên sửa chữa súng, pháo, thiết bị điện-quang bị đảo lộn họat động từ sau ngày Nhật đảo chính Pháp. Quân đội Nhật cũng có vài cơ sở sửa chữa vũ khí, ô tô, tàu thuyền ở Hà Nội, Sài Gòn nhưng chỉ có hãng A-ta-ca là đáng kể.

Đánh giá về trình độ công nghệ, người Pháp-hơn ai hết-hiểu rõ rằng người Việt Nam ở thời điểm đầu những năm 40 còn ở thời kỳ tiền sử hoá công nghệ, nghĩa là trước năm 1500. Vào thời kỳ này, công nghệ chưa có được cơ sở lý luận vững chắc. Trong khi đó, nước Pháp và nhiều nước tư bản Âu-Mỹ đã trải qua ba giai đoạn tiếp theo trong quá trình tiến hoá công nghệ. Giai đoạn thứ nhất từ năm 1500: tiến bộ công nghệ chủ yếu dựa vào kinh nghiệm tích luỹ được, nền tảng lý luận công nghệ đã phát triển nhưng còn hạn chế. Giai đoạn thứ hai ở vào thế kỷ XIX, công nghệ tiến triển nhanh chóng nhờ dựa vào lý luận khoa học và công nghệ và cơ sở hạ tầng khá phát triển. Giai đoạn thứ ba diễn ra trong thế kỷ XX, trong đó sự tiến hóa công nghệ diễn ra theo một quá trình có tổ chức, có định hướng rõ ràng dựa trên cơ sở lý luận khoa học vững chắc, một hệ thống nghiên cứu phát triển toàn diện, được sự ủng hộ mạnh mẽ của các chính phủ và giới công nghiệp. Trong lĩnh vực quân sự, có ba loại công nghệ sau đây được phát triển ở các nước tư bản:
1.Các công nghệ có quan hệ đặc thù quân sự như công nghệ thuốc phóng, thuốc nổ; công nghệ các hệ thống điều khiển, v.v…
2.Các công nghệ dân dụng như giao thông vận tải, truyền thông, y tế có ý nghĩa quan trọng đối với chiến tranh.
3.Công nghệ hệ thống được dùng để chuẩn bị tiến hành chiến tranh như công nghệ ra quyết định, công nghệ huấn luyện, v.v…
Như vậy, trên bậc thang tiến hóa công nghệ, nước Pháp đã vượt xa Việt Nam gần ba thế kỷ. Biểu hiện cụ thể về ưu thế công nghệ quân sự của Pháp năm 1945 ở Đông Dương qua các con số nói lên sinh động và rõ ràng hơn cả.
Hồi đó, quân đội Pháp có hàng ngàn xe tăng, xe bọc thép, trọng pháo, tàu chiến, v.v… Tất thảy đều là sản phẩm của một nền công nghiệp đại cơ khí, bắt đầu từ cuộc cách mạng công nghiệp vào cuối thế kỷ XVIII và phát triển đến đỉnh cao vào thập kỷ 30-40 của thế kỷ này. Đặc biệt, Pháp đã huy động vào cuộc chiến tranh Đông Dương hàng trăm máy bay vận tải và máy bay ném bom, được lắp bom nổ chậm, bom na-pan, rocket nổ lõm, bom phóng móc câu sát thương sinh lực, v.v…
Máy bay ra đời là một trong những thành tựu vĩ đại của nhân loại trong cuộc cách mạng công nghiệp, được các nước tư bản sử dụng vào mục đích quân sự trong những năm đầu thế kỷ XX. Ngày 10 tháng 12 năm 1910, lần đầu tiên trên vùng trời Việt Nam xuất hiện máy bay của Pháp. Ngày 16 tháng 2 năm 1929, lực lượng không quân thuộc địa gồm bốn phi đoàn được thành lập, đặt dưới quyền chỉ huy của Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương. Trong những năm chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), lực lượng này là đạo không quân số 6 của nước Pháp, gồm hơn 100 máy bay các loại, trong đó có 40 chiếc phóng pháo kiểu Faruan 221, 6 chiếc máy bay trinh sát kiểu Poter, 40 máy bay khu trục kiểu Poter 25, một chiếc kiểu Poter 63, 20 chiếc kiểu Morane 406, 10 chiếc thuỷ phi cơ.
Từ khi xuất hiện cho đến khi chính quyền thuộc địa Pháp bị phát xít Nhật lật đổ trong cuộc đảo chính ngày 9 tháng 3 năm 1945, không quân Pháp hoàn toàn làm chủ bầu trời, chưa một chiếc máy bay nào bị bắn rơi.


  Máy bay Morane 406



« Sửa lần cuối: 04 Tháng Chín, 2008, 09:56:15 PM gửi bởi admin » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
danngoc
Thành viên
*
Bài viết: 948

Đã bị khóa vĩnh viễn


« Trả lời #1 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2007, 09:18:20 PM »

Hôm nay em mới thấy cái Morane. TRông nó giống cái P 40 thế nhỉ?
Logged

Chết vì ghét người!
banzua
Thành viên
*
Bài viết: 53


« Trả lời #2 vào lúc: 13 Tháng Tám, 2007, 10:42:26 PM »

Hôm nay em mới thấy cái Morane. TRông nó giống cái P 40 thế nhỉ?
Cái này giống P40 nhưng có một loại máy bay khác còn giống loại này nhiều hơn nữa, đó là loại... Yak-1.

Hồi thế chiến thứ 2, khi phe Đờ Gôn có ý định thành lập phi đội Normandy-Niemens, mấy tay người Pháp đã chọn loại Yak trong số mấy loại máy bay cả của Nga lẫn Anh và Mẽo một phần lớn cũng là vì loại Yak này giống chiếc Morane 406 nhất, rất tiện cho việc huấn luyện phi công Pháp, đã từng quen biết loại này.
Người làm chuyên gia trong việc chọn máy bay là Jean Tulasne, phi đội trưởng chính thức của Normandy-Niemens, nguyên là phi đội trưởng 1 phi đội tiêm kích Morane 406 ở Bắc Phi trước thế chiến.
Sau khi ông Tulasne tử trận ở Orel hồi 1943, người lên thay thế là Pierre Pouyade. Ông này nguyên là phi đội trưởng 1 phi đội Morane 406 ở... Gia Lâm hồi 40-41 trước khi trốn sang Trung Quốc.
Logged
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2007, 05:38:54 PM »

Năm 1946, năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta, đội quân viễn chính Pháp có hai phi đội máy bay cường kích, một phi đội máy bay vận tải và một số máy bay chỉ huy, trinh sát với nhiều kiểu, loại hiện đại như máy bay khu trục Kinh Cobra, Spitfire; máy bay vận tải Dakota, Junker; máy bay trinh sát Catalines, Poter, Morane… Không quân Pháp vẫn hoàn toàn làm chủ bầu trời, ra sức phát huy ưu thế tuyệt đối này nhằm nhanh chóng đạt được mục đích của chiến tranh.
Ngoài ra, Pháp còn được Mỹ viện trợ không quân, pháo binh, cơ giới. Từ ba phi đội trong năm đầu chiến tranh, đến năm 1951 không quân Pháp có chín phi đội. Các loại máy bay khu trục Spitfire, Kinh Cobra được thay thế bằng máy bay cường kích Hellcat F6F, Bearcat F8F, Heldiver SB20, Invader B26, Privater B24 do Mỹ sản xuất.


  Hellcat F6F của Pháp.

Các kho bom dự trữ của Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đều được Mỹ lấy cung cấp cho Pháp sử dụng vào cuộc chiến tranh Đông Dương. Không quân trở thành chỗ dựa, là niềm kiêu hãnh của quân Pháp. Họ huênh hoang một máy bay khu trục phóng pháo có thể đánh bại một trung đoàn Việt Minh. Nắm quyền chủ động và ưu thế tuyệt đối trên không, máy bay địch không chỉ làm nhiệm vụ cơ động lực lượng, tiếp tế vật chất, yểm trợ các lực lượng chiến đấu trên bộ, trực tiếp oanh tạc vào đội  hình chiến đấu của quân ta trong các chiến dịch, các trận đánh, các cuộc hành quân càn quét mà còn đánh sâu vào các căn cứ, vùng tự do của ta.
Dựa vào viện trợ Mỹ, phía Pháp ra sức tăng quân, mở rộng và đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược. Riêng về không quân, với 123 máy bay các loại do Mỹ cung cấp, số máy bay của Pháp trên chiến trường Đông Dương từ 296 chiếc năm 1952 lên 419 chiếc trong năm 1953. Mỹ còn cung cấp cho Pháp hàng vạn tấn bom đạn, giúp Pháp đào tạo phi công và nhân viên kỹ thuật, mở rộng và nâng câp một số sân bay ở Đông Dương, giúp Pháp sửa chữa các tàu sân bay Araumenche, Boisbelleau, v.v…
Đầu năm 1954, lực lượng không quân Pháp ở Đông Dương do tướng Sắc-lơ Lô-danh chỉ huy có 91 máy bay vận tải các loại (75 chiếc Dakota C47; 16 chiếc vận tải hạng vừa Pac-két). Máy bay chiến đấu có 169 chiếc (41 chiếc B26, 8 chiếc B24, 120 chiếc khu trục các loại như Hellcat F6F, Bearcat F8F, Heldiver SB20….). Các loại máy bay trên đều do Mỹ sản xuất và viện trợ cho Pháp.


  B-24 của Pháp.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2007, 03:53:04 PM »

Navarre hiểu rõ số phận Điện Biên Phủ gắn liền hơn bao giờ hết với vai trò của không quân. Do đó, y đã ném tất cả lực lượng không quân vào cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ.

C-47 Dakota vận tải cho Điện Biên Phủ.
Ngoài ra, Mỹ quyết định viện trợ thêm cho lực lượng không quân Pháp ở Đông Dương 100 máy bay chiến đấu, 50 máy bay vận tải và lập cầu hàng không mới: từ Mỹ qua Pháp sang Sài Gòn; từ căn cứ quân sự Mỹ ở Clark Philippin sang Hải Phòng và từ Okinawa (Nhật Bản) sang Hải Phòng lên Điện Biên Phủ. Các cầu hàng không này do 200 chuyên viên quân sự Mỹ phụ trách. Ba tàu sân bay của hạm đội 7 Mỹ tiến vào Vịnh Bắc Bộ để uy hiếp quân và dân ta, khích lệ quân Pháp.
So sánh tiềm lực công nghệ-quân sự đó phản ánh rõ tình hình khách quan lúc bấy giờ. Nhưng khi rút ra kết luận và so sánh sức mạnh quyết định thì Bộ chỉ huy quân sự Pháp đã không tính đến ba yếu tố đặc biệt quan trọng liên quan đến ưu thế công nghệ mà các chuyên gia quân sự phương Tây cũng tự thừa nhận.
Thứ nhất, ưu thế công nghệ chỉ góp phần tạo ra ưu thế quân sự khi nó được kết hợp nhuần nhuyễn với các yếu tố khác như đường lối chiến tranh, tổ chức lực lượng, nghệ thuật quân sự, điều kiện chiến trường. Chỉ cần xét về phương diện mặt trận không thôi cũng thấy rõ ràng, ưu thế về các phương tiện tăng, thiết giáp của Pháp khó có thể phát huy trên địa bàn chằng chịt sông ngòi, đồi núi như ở Đông Dương. Máy bay có trình độ công nghệ vượt xa 3 đến 4 thế kỷ so với trình độ công nghệ thế kỷ XVI nhưng các khí cụ bay hồi đó chưa có thiết bị hồng ngoại, dễ bị đối phương vô hiệu hóa bằng màn đêm và nguỵ trang, như một nhà thơ Việt Nam đã từng viết “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”.
Thứ hai, ưu thế công nghệ có thể tạo ra ưu thế quân sự và quyết định cục diện cuộc xung đột vũ trang trong phạm vi một chiến dịch hoặc trong một cuộc chiến tranh chớp nhoáng, quy mô hạn chế, được giữ bí mật và tổ chức khôn khéo. Thí dụ điển hình về phương diện này là cuộc tấn công bất ngờ, ồ ạt của không quân Israel phá huỷ gần như toàn bộ lực lượng không quân trên mặt đất của Ai Cập đã quyết định cục diện chiến tranh năm 1967 ở Trung Đông. Nhưng trong một cuộc chiến tranh kéo dài, quy mô lớn gồm nhiều chiến dịch diễn ra trên một lãnh thỏ rộng lớn thì không hẳn như vậy. Người Nhật thắng người Mỹ một trận rất “ngoạn mục” trong chiến dịch Trân Châu Cảng nhưng không quyết định cục diện xung đột ở Thái Bình Dương trong tranh thế giới thứ hai. Về sau này, ưu thế công nghệ Mỹ cũng đã phải thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài ở Việt Nam. Đương nhiên đây chỉ là một trong những yếu tố khiến Mỹ thất bại trong cuộc chiến tranh này.
Thứ ba, người Pháp đã không tính đến sức mạnh công nghệ quân sự truyền thống của dân tộc Việt Nam tích luỹ được qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Truyền thống đó được Đảng Cộng sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, kế tục và phát huy thành sức mạnh vĩ đại chưa từng thấy trong cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại mới.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tám, 2007, 08:19:46 PM gửi bởi dongadoan » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2007, 11:23:37 AM »

Trước hết, ngay trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng ta đã đánh giá đúng vai trò và tầm quan trọng của vũ khí trang bị trong cách mạng Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng lần thứ nhất (họp vào tháng 3 năm 1935) khẳng định: “Phải có binh khí ít nhiều, càng nhiều càng tốt để thao luyện, để lúc cần thiết xung đột với quân thù”. Hội nghị lần thứ 6 Trung ương Đảng (họp vào năm 1939) nêu rõ phương hướng “quốc dân cách mạng quân nhất thiết phải được trang bị vũ khí và từng bước vũ khí phải được đổi mới theo hướng hiện đại hóa”.
Được chủ trương chỉ đạo đúng đắn đó của Đảng, ngay từ những ngày sôi sục cách mạng năm 1930-1931 đã xuất hiện các đội tự vệ được trang bị vũ khí thô sơ như dao găm, giáo, mác, đinh ba, gậy gộc-do quần chúng tự sắm.
Để chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), Xứ uỷ ở đây đã vận động công nhân các xưởng Ba Son, Faci, v.v… sử dụng thiết bị tại chỗ bí mật sản xuất vũ khí thô sơ và lựu đạn, mìn, thành lập các xưởng chế tạo vũ khí như xưởng Bà U (Mỹ Tho), Mớp Xanh (Tân An), Hoà Thượng Đông (Rạch Giá)… Các xưởng này sử dụng các thiết bị đơn giản như lò rèn, ê tô, rìu… để sản xuất dao găm, giáo, mác hoặc chế tạo các loại lựu đạn và mìn đơn giản có vỏ bằng xi măng. Xưởng Mớp Xanh làm được 300 quả mìn, mỗi quả nặng 3 kg, phía ngoài bọc xi măng, bên trong bọc bằng sắt tây nhồi thuốc đen tự tạo cùng mảnh chai, sành. Xưởng này còn chế tạo các kiểu súng đơn giản không có kim hoả, khi bắn phải châm lửa.
Ở Bắc Bộ, để có thêm vũ khí cung cấp cho lực lượng vũ trang, Tỉnh uỷ Cao-Bắc-Lạng phát động nhân dân lập các lò rèn để làm dao, mác, kiếm, sản xuất súng kíp (năm 1943). Tháng 3 năm 1944, cơ sở sản xuất súng kíp Lũng Hoàng được thành lập. Nhiệm vụ chính của xưởng là sửa chữa và chế tạo mìn, lựu đạn. Trong khi dụng cụ của xưởng chỉ vẻn vẹn có: 1 đe thợ bạc, 1 ê tô, một kièm, 1 búa, 1 dũa, 1 bộ hàn chảo… Nguyên vật liệu do đồng bào địa phương ủng hộ như cuốc, xẻng, nồi gang, lư đồng, nồi đồng, thùng sắt tây… Xưởng chế thử loại lựu đạn đơn giản: vỏ bằng sắt tây, trong cùng nhồi thuốc đen, lớp giữa nhồi sỏi, đá, mảnh chai, mảnh sành, mảnh gang… Thuốc và dây cháy chậm do xưởng tự làm, hạt lửa lấy từ đạn súng trường. Sau đó, xưởng chế tạo mìn có vỏ bằng sắt tây. Nhưng quả mìn chưa thành công vì sức công phá yếu. Tiếp đó, xưởng bắt chước lựu đạn kiểu Mỹ đã nghiên cứu sản xuất thành công lựu đạn vỏ gang, bên ngoài đúc hai chữ V.M (Việt Minh). Xưởng Lũng Hoàng còn sửa chữa được súng ngắn, súng kíp, súng trường…
Ở đồng bằng, nhận chỉ thị của Trung ương Đảng, Xứ uỷ Bắc Kỳ tổ chức xưởng vũ khí Làng Chè (Tiên Sơn, Bắc Ninh). Ngoài sửa chữa súng, xưởng còn nghiên cứu chế tạo thành công lựu đạn vỏ gang kiểu dập, phía ngoài cùng đúc hai chữ V.M. Lựu đạn của xưởng sản xuất đã cung cấp cho giải phóng quân và du kích.
Ở một số nơi khác, như Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Hà Nội, Quảng Ngãi… anh em công nhân bí mật sử dụng vật liệu, thiết bị của Pháp để sản xuất vũ khí hoặc đưa dụng cụ, vật liệu ra chiến khu cung cấp cho các xưởng vũ khí của ta.
Tại miền Trung, tỉnh Quảng Ngãi lập xưởng vũ khí ở Xuân Phổ (Tư Nghĩa) với nhiệm vụ chủ yếu là rèn các vũ khí thô sơ như giáo, mác, mã tấu, v.v… và sửa chữa các loại súng bộ binh. Về sau, nhiều làng xã trong vùng cũng lập các lò rèn để làm nhiệm vụ đó.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Tám, 2007, 02:43:35 PM gửi bởi dongadoan » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #6 vào lúc: 26 Tháng Tám, 2007, 01:53:10 PM »

Ngày 7 tháng 5 năm 1944, dựa vào chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh, ra chỉ thị sửa soạn khởi nghĩa, trong đó nêu rõ: lấy gì mà đánh quân thù? Có mấy cách kiếm vũ khí là: tự chế, mua và chiếm của giặc. Dân ta phải tự chế lấy một phần vũ khí thì lúc nổi dậy mới có cái mà giết giặc. Cái gì không tự chế được thì phải mua hoặc chiếm của địch. Mua thì tổ chức quyên góp, lập “quỹ mua súng”. Còn chiếm của giặc thì bằng hai cách: đánh các đồn trại, kho súng, các đội quân tuần tiuễ của quân địch mà chiếm lấy vũ khí và vận động binh lính của địch, làm cho họ giác ngộ, đem súng của quân địch lại cho ta.
Ngày 15 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh thành lập, Phòng quân giới thuộc Bộ Quốc phòng. Người trực tiếp giao nhiệm vụ cho các đồng chí phụ trách chỉ dẫn tổ chức sản xuất và mua sắm vũ khí cho quân đội. Một số máy móc được thu thập để mở rộng các xưởng quân giới thô sơ trước đây và lập thêm xưởng mới. Ngay từ khi trước cách mạng, chấp hành chỉ thị Tổng khởi nghĩa, hầu hết các địa phương trong cả nước đều lập lò rèn, nơi nào có điều kiện thì dựng “Công binh xưởng” để sản xuất vũ khí thô sơ, mìn, lựu đạn, chủ yếu là phát triển kinh nghiệm cổ truyền của dân tộc về nghề rèn và đúc. Mặt khác, anh em học tập theo mẫu vũ khí (lựu đạn, mìn…) của Mỹ, Pháp và Trung Quốc nhưng áp dụng với vật liệu sẵn có của ta, thậm chí tận dụng cả sỏi đá, mảnh chai, mảnh sành làm lựu đạn.
Ngày 17 tháng 9 năm 1945, Chính phủ tổ chức “Tuần lễ vàng” quyên góp vàng để dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng. Nhân dân ta cả nước hưởng ứng nhiệt liệt. Nhiều gia đình đem hết vàng bạc, các vật kỷ niệm quý báu, thân thiết của mình ra đóng góp để đổi lấy vũ khí cho bộ đội. Chính phủ ta đã dùng phần lớn số vàng quyên góp được mua súng của quân Tưởng, quân Nhật. Đây là nguồn cung cấp vũ khí quan trọng của ta lúc này.
Như vậy, từ chủ trương tạo nguồn vũ khí trang bị trên đây, các lực lượng vũ trang nhân dân ta (bao gồm quân chủ lực và bộ đội địa phương) được trang bị từ các nguồn:
Tự chế tạo là nguồn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn từ trước Cách mạng tháng Tám đến chiến dịch Biên Giới (năm 1950) mà quân đội Pháp đã tốn biết bao công sức ráo riết theo dõi, sưu tập, nghiên cứu và ghi lại trong bộ sư tập nói trên để tìm mọi cách ngăn chặn, phá hoại.
Mua sắm và lấy được của địch là nguồn rất quan trọng bao gồm lựu đạn, mìn, súng ngắn, súng trường, súng máy, pháo 75mm, 105mm, súng cối 60mm, 81mmm, sơn pháo 75mm, pháo phòng không 37mm, súng máy phòng không 12,7mm. Đây là nguồn vũ khí chủ yếu trang bị cho bộ đội pháo binh và bộ đội phòng không.


  Sơn pháo 75mm thu được của địch dự trận Đông Khê.
Để có được vũ khí tự tạo, quân và dân ta đã phải anh dũng hy sinh, lao động quên mình và sáng tạo, phát huy cao độ ý chí tự lực tự cường để giải quyết ba vấn đề công nghệ quan trọng nhất là thiết kế, nguyên vật liệu và chế tạo.
Về vấn đề thiết kế, trước hết phải nói về việc thiết kế loại vũ khí đơn giản nhất là lựu đạn. Hoàn cảnh kháng chiến những năm 40 không cho phép ta sử dụng nguyên các bản thiết kế của nước ngoài. Nói chung, ở các nước người ta chỉ sản xuất hai loại lựu đạn: lựu đạn tiến công bằng tôn và lựu đạn phòng thủ bằng gang.
Cả hai loại đều nhồi thuốc nổ tốt. Ta chỉ có loại thuốc nổ yếu, vật liệu đúng quy cách lại không có. Do đó phải thiết kế và sản xuất tới 50-60 loại lựu đạn khác nhau.
Ở nhiều nước, người ta thường đặt đồng hồ trong mìn nổ chậm. Ngoài việc dùng đồng hồ ta còn thiết kế ngòi nổ hẹn giờ bằng hóa chất ăn mòn dây kim loại để đóng mạch điện.
Trong ngành chế tạo vũ khí, một sơ suất nhỏ trong thiết kế cũng đủ gây thiệt mạng cho người sử dụng. Quả đạn cối nổ cướp cò có thể xé nòng. Quả lựu đạn có thể nổ trên tay… Vì thế ở các nước đòi hỏi vật liệu dùng trong công nghiệp vũ khí phải theo đúng quy cách nghiêm ngặt. Ở ta, giữa rừng xanh Việt Bắc hay bưng biền Nam Bộ, tìm đâu ra những vật liệu đúng quy cách? Nhưng không phải vì vậy mà vũ khí do ta sản xuất ra có thể được châm chước về tiêu chuẩn an toàn đã cho người sử dụng. Đó chính là một khó khăn lớn mà ta đã vượt qua được bằng ý chí cách mạng kiên cường, trí thông minh sáng tạo và bàn tay khéo léo của người Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 28 Tháng Tám, 2007, 08:20:35 PM gửi bởi dongadoan » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 28 Tháng Tám, 2007, 06:52:51 PM »

Đánh địch cố thủ trong nhà gạch, ta dùng bộc phá, mìn lõm cỡ nhỏ hoặc đạn bazoka. Đánh lô cốt bê tông hoặc bê tông cốt thép ta nổ bộc phá cỡ lớn hoặc mìn lõm cỡ lớn. Cách đánh đó nguy hiểm cho xung kích vì anh em phải áp sát địch. Ở nước ngoài người ta dùng pháo hạng trung và hạng nặng hoặc rocket. Lúc bấy giờ, ta chưa có nhiều pháo. Cần phải chế tạp được một loại súng thật nhẹ, có thể vận chuyển dễ dàng nhưng lại có sức công phá ngang một số pháo hạng nặng. Súng không giật (viết tắt là SKZ) ra đời từ yêu cầu đó. Trên thế giới, ý tưởng về súng không giật xuất hiện gần như cùng một lúc với ý tưởng về bom nguyên tử. Lần đầu tiên, Mỹ sử dụng SKZ trong trận đổ bộ lên đảo Okinawa.
Biệt lập với thế giới bên ngoài, không có trong tay tài liệu để tham khảo, cán bộ quân giới ta đã phải thiết kế một loại vũ khí tối tân. Trước hết, phải giải quyết những vấn đề về lý thuyết, nghĩa là phải đi từng bước cơ bản, để xây dựng lý thuyết chung về súng không giật. Sau đó, vận dụng lý thuyết ấy để thiết kế, chế tạo một loại súng không giật SKZ của ta. Tiếp đến, phải tìm công nghệ chế tạo. Nghĩa là phải đi từ A đến Z. SKZ Việt Nam xuất hiện từ đó.


  SKZ Việt Nam.
Đề cập đến vấn đề thiết kế, không thể không kể đến bom bay. Trên thế giới không ai dùng thuốc đen trong tên lửa, ta đã dùng thành công. Nhược điểm của loại thuốc này là cháy quá nhanh, không cháy thành từng lớp như nitơrô xenlulôza. Đó là khó khăn thứ nhất. Khó khăn thứ hai là không có ống thép để làm tên lửa, ta phải đúc bằng đồng, nhưng độ chịu nhiệt và chịu lửa của đồng lại kém thép, làm thế nào để khi thuốc cháy, ống tên lửa không nóng chảy hoặc vỡ tan? Cuối cùng, ta vẫn phóng thử thành công bom bay, một loại tên lửa nặng 30 kg có thể đánh các mục tiêu xa 4 km. Khi thiết kế bom bay, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã kết hợp năng lực tư duy sáng tạo của chính mình và của đồng đội.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #8 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2007, 01:23:57 PM »

Nguyên vật liệu là một vấn đề cực kỳ quan trọng trong công nghệ sản xuất vũ khí, thông thường do các nhành công nghiệp cung cấp, nhưng lúc này quân đội là nghành công nghiệp chính trong chiến tranh nên phải tự lo giải quyết. Quân và dân cả nước ta với lực lượng nòng cốt công nhân, cán bộ quân giới, đã tạo nguyên vật liệu sản xuất vũ khí từ nhiều hướng, bằng nhiều con đường với tất cả lòng dũng cảm, trí thông minh, sự hy sinh và đã đạt được kết quả to lớn.
Tính đến năm 1948, ta đã bóc được gần 1.000 km đường ray, tà vẹt, thu được gần 100 đầu máy xe lửa, hàng ngàn vành, bánh, trục xe lửa, hàng vạn tấn sắt thép cũ từ hàng trăm cầu trên cả nước; hàng chục tàu lăn đường, hàng trăm xe cũ nằm rải rác trên các tuyến đường…
 

  Phá đường sắt ở Hưng Yên
Những thứ quý như tôlít, mênilít, đinamít được khai thức từ bom, đạn cối lép, thuỷ lôi của địch, thiếc băng ca và nhôm được khai thác từ các tàu Nhật bị Mỹ đánh chìm ở ven biển miền Trung hoặc nhiều nguyên vật liệu khác từ những máy bay hỏng trên những sân bay cũ của Pháp. Nhân dân ta cũng đóng góp cho kháng chiến hàng trăm tấn đồng, gang, sắt… Đồng bào và chiến sĩ có lúc đã đắp đập tát cạn nước để mò lấy vũ khí và kim loại trong những khí tài địch bị đánh đắm. Đồng bào đã nhiều lần đột nhập kho thuỷ lôi của địch, tháo gỡ tôlít, bí mật gỡ mìn bẫy, thu thuỷ lôi của địch ra ngoài tháo lấy thuốc. Ở một số vùng, đồng bào mò vớt được nhiều bom đạn của Pháp, Nhật đổ xuống sông từ trước, nhờ thế đã thu được hàng chục tấn nguyên vật liệu. Việc tìm kiếm bom địch không nổ để tháo ngòi lấy thuốc nổ là công việc thường xuyên tại nhiều nơi và đã thành phong trào quần chúng.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #9 vào lúc: 08 Tháng Chín, 2007, 12:01:48 PM »

  Những nguyên vật liệu để chế tạo chất nổ trong vũ khí không chỉ trông vào nguồn thu thập, mua hoặc chiếm được của địch mà phải tổ chức sản xuất để chủ động. Việc chế tạo các chất nổ, thuốc nổ, các hoá chất (để chế tạo chất nổ trong vũ khí) như diêm tiêu, thuốc đen, các axít cơ bản… được tổ chức sản xuất ở nhiều nơi, gần như trên khắp cả nước. Trong đó việc sản xuất fuminat thuỷ ngân là một thành công đặc biệt. Fuminat thuỷ ngan là loại thuốc kích nổ hàng đầu để chế tạo các loại hạt lửa, ống nổ… dùng cho các loại ngòi nổ của lựu đạn, mìn, các loại đạn pháo, cối. Fuminat thuỷ ngân được chế từ thuỷ ngân, axit nitơric 62% và còn 95%, là chất nhạy nổ dễ gây tai nạn khi thao tác, đóng gói, vận chuyển, ở nhiệt đọo 80 độ C trở lên có thể tự nổ. Nhân dân ta chế tạo được fuminat thuỷ ngân từ trước Cách mạng tháng Tám, bằng những dụng cụ thô sơ để sản xuất hạt lửa đạn. Từ năm 1946, nhất là từ năm 1947, do quy mô sản xuất vũ khí rộng lớn hơn, fuminat thuỷ ngân ngày càng được điều chế nhiều để làm hạt lửa, ống nổ cho mìn và đạn súng trường.
Từ năm 1948, việc sản xuất fuminat thuỷ ngân, thuốc đen, nhất là diêm tiêu được đẩy mạnh. Lúc này, khối lượng vũ khí do ta sản xuất ngày càng lớn, dự trữ nguyên liệu để chế thuốc đen, axit nitơric ngày càng cạn. Các địa phương tìm cách sản xuất diêm tiêu bằng phương pháp cổ truyền từ phân dơi trong các hang động. Phân dơi ngâm bám vào đất đá tồn đọng lâu đời trong hang động, việc khai thác khá gian nan, nguy hiểm, vì hang động thường sâu trong vùng núi cao hiểm trở, hiếm người qua lại, lại phải vận chuyển đến nơi có nước để lọc. Trung bình 100 kg đất-phân dơi lai phải có 30 kg tro mới lọc được 2-3 kg diêm tiêu.
  Trước đó, ở hầu khắp cả nước đều tiến hành chế tạo thuốc đen để nhồi lựu đạn, làm thuốc phóng, dây cháy chậm, pháo hiệu, v.v… Từ sau tranh thế giới thứ hai, ở các nước, thuốc đen không được dùng để làm thuốc nổ. Nhưng trong điều kiện nước ta hồi đó, bắn một quả đạn cối 165mm mất 14 kg thuốc nổ. Nếu dùng thuốc nổ tốt thì lấy đâu ra? Vì vậy, số thuốc nổ tốt như tôlít chỉ để nhồi đạn bazoka, mìn đánh xe tăng. Nguyên liệu chính để chế thuôc đen là diêm tiêu, than gỗ… với tỉ lệ khác nhau tuỳ theo công dụng của từng loại. Lúc đầu, nhiều nơi cùng sản xuất thuốc đen bằng nhiều cách khác nhau. Về sau, ta dùng phương pháp tinh lọc diêm tiêu và chế tạo thanh củi. Tuỳ theo khả năng của từng địa phương, có thể dùng xoan, bồ đề, cây quao. Dụng cụ chế thuốc đen thường làm bằng tre, gỗ hoặc đồng.
  Sản xuất axit cũng là khâu quan trọng để đáp ứng nhu cầu sản xuất vũ khí ngày càng lớn. Tháng 7 năm 1949, ta điều chế thành công mẻ axit đầu tiên. Tháng 8 năm 1949, chỉ riêng một xưởng quân giới đã sản xuất được hơn 2 tấn axit. Đến cuối năm 1949, xưởng đó đã sản xuất được 10 tấn axit sunfuric. Có axit sunfuric, Cục Quân giới xây dựng xưởng điều chế axit nitơric, đủ bảo đảm chế được 50 kg fuminat thuỷ ngân. Nha nghiên cứu kỹ thuật còn dựa theo phương pháp Kuliman để nghiên cứu, chế tạo thành công axit nitơric từ đất sét kết hợp với diêm tiêu vào tháng 8 năm 1950.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM