Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Hai, 2020, 06:55:34 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch Sử Quân Sự Việt Nam - Tập 1  (Đọc 109876 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #70 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:03:13 PM »



Bản thân mũi tên chưa tạo thành một loại vũ khí hoàn chỉnh. Nó mới chỉ là một phần của bộ vũ khí cung - nỏ. Trongcác cuộc khai quật khảo cổ chưa tìm thấy dấu vết thực của bất cứ chiếc cung nỏ nào. Chúng ta chỉ nhìn thấy chúng qua hình ảnh được khắc họa trên một số trống, thạp đồng Đông Sơn. Những chiếc cung nỏ này có cấu tạo hết sức đơn giản và cũng không khác gì những chiếc cung vẫn đang được đồng bào các dân tộc ít người ở nước ta, như dân tộc Mường sử dụng. Những chiếc cung này được thể hiện rất thống nhất, bao gồm hai bộ phận - phần cánh cung là một đường cong và dây cung - đoạn thẳng nối hai đầu cánh cung. Nhìn chung các cây cung đều có hình chữ D, cạnh đứng của chữ D - tức dây cung luôn quay về phía người bắn cung - vị trí hoàn toàn hợp lý, dù cây cung có được đặt ở vị trí nào - cầm trên tay, đặt trên bệ tì hay để đứng dưới đất, trước mặt cung thủ...  Cũng cần nói thêm rằng, những hình cung không được cầm trên tay mà lại được tì xuống bệ, giá đỡ, được các nhà nghiên cứu coi là nỏ. Những mũi tên được thể hiện cùng với những chiếc nỏ này thường rất lớn. Ví như bốn trong số sáu hình người bắn cung trên sáu thuyền của trống Hoàng Hạ được thể hiện trong tư thế sử dụng cung - nỏ đặt trên bệ với mũi tên rất lớn (bản vẽ 4, h.17).

So với cung, nỏ có cấu tạo phức tạp hơn, ở vào trình độ phát triển cao hơn. Truyền thuyết Rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái kể chuyện tướng Cao Lỗ theo lệnh của An Dương Vương chế tạo “Linh quang kim quy thần cơ” có lẫy nỏ làm từ vuốt thăn rùa vàng, nhờ nỏ thần mà đánh tan quân tướng Triệu Đà. Chuyện rùa vàng cho vuốt tất nhiên là hư nhưng chuyện “nỏ thần” thì có thể lại là thực. Ở trên chúng ta đã nói tới những ghi chép trong các sách cổ ca ngợi tài cung nỏ của người Việt đặc biệt là dân Âu Việt của An Dương Vương.
Về nỏ, sách Tam Tài đồ hội do Vương Kỳ nhà Minh (Trung Quốc) soạn có nói đến các máy nỏ thời cổ như loại tam cungsàng nỗ, nhị cung sàng nỗ, thần tý sàng nỗ... Loại nhị cung sàng nỗ có hai cánh cung, có trục để giương nỏ vì cánh nỏ rất cứng, không giương trực tiếp bằng tay được. Loại nỏ này một phát bắn được đồng thời năm mũi tên qua một cái ống như kiểu nòng súng. Có thể nỏ của An Dương Vương cũng tương tự như thế. Có ý kiến cho rằng cung thủ đứng trên sạp cao của một trong số sáu chiếc thuyền ở tang trống Hoàng Hạ đang trong tư thế đạp chân vào giá nỏ để giương dây (Bản vẽ 4, h. 16). Khảo cổ học còn cung cấp một bằng chứng hùng hồn hơn, xác thực hơn cho sự tồn tại của máy nỏ thời Đông Sơn.  Đó là phát hiện những chiếc lẫy nỏ Làng Vạc khá nguyên vẹn, còn đầy đủ các bộ phận hợp thành.

Chiếc lẫy nỏ này gồm bốn bộ phận đúc rời được liên kết lại bằng hai chốt hình trụ. Bốn bộ phận gồm: hộp lẫy rỗng hình chữ nhật,một đầu vát, miệng hộp có rãnh đặt tên và khấc để giữ dây cung; lẫy cong để tiện bóp cò; hai bộ phận còn lại là 2 thanh đồng dùng để đưa dây cung vào khấc hãm (Bản vẽ 3, h. 1 1).

Tài liệu dân tộc học - điều tra vùng Cổ Loa cũng cung cấp cho ta một số thông tin quanh những chiếc “nỏ thần” của An Dương Vương. Theo người Cổ Loa kể, trước đây người ta đã đào được ở chân thành khu vực Chợ Sa một cái ống đồng dài khoảng 0,5m, hai đầu bịt kín, dọc thân trổ lỗ như lỗ cây sáo Phải chăng ống đồng này là một bộ phận của chiếc nỏ.  Trước Cách mạng Tháng Tám ở Cổ Loa co tục rước nỏ thần.

Chiếc nỏ được làm bằng giấy, giữa thân nỏ để một cái ngáng bằng gỗ trên thân dùi nhiều lỗ, mỗi lỗ để một mũi tên, tượng trưng cho máy nỏ An Dương Vương một phát bắn đi nhiều mũi tên. Cái ngáng tượng trưng bằng gỗ này có những nét tương đồng với ống đồng nói trên*
Đương nhiên, từ những tài liệu nêu trên ta chưa thể phục dựng được chính xác cái “nỏ thần” đã làm giặc ngoại xâm phải khiếp vía của người Âu Lạc, nhưng cũng đã đủ để khẳng định sự tồn tại thực sự của loại vũ khí đánh xa lợi hại này của tổ tiên ta thời dựng nước.

2. Lao

Nói cho chính xác thì lao là vũ khí đánh tầm trung. Nó được sử dụng bằng cách phóng. Về mặt loại hình, chiếc lao ở giai đoạn Hùng Vương - An Dương Vương tương tự như giáo và một số loại mũi tên. Trừ một số loại hình đặc trưng riêng cho từng loại vũ khí, lao, giáo, mũi tên được phân biệt trước hết ở kích thước: lớn nhất là giáo (thường có chiều dài từ 15cm trở lên, có một số trường hợp có thể ngắn hơn chút ít, khoảng trên 13 cm), nhỏ nhất là tên (có chiều dài dưới 7 cm).  Lao thuộc cỡ trung bình, nằm giữa giáo và tên dài từ 7 cm đến dưới 13- 15 cm.

 Cũng như tên, trong giai đoạn đầu thời Hùng Vương mới tìm thấy rất ít mũi lao. Đây đó trong một vài địa điểm văn hóa Phùng Nguyên có tìm thấy một hai chiếc mũi nhọn bằng đá nhưng chúng thực sự chỉ là những chiếc dùi thông thường, không phải là vũ khí. Những mũi lao thực sự chỉ xuất hiện vào giai đoạn Phùng Nguyên muộn và không phải làm bằng đá mà làm bằng xương. Tuy nhiên, sự xuất hiện này cũng mang tính cá biệt, tức là mới chỉ gặp ở một địa điểm duy nhất - địa điểm Đồng Đậu (Vĩnh Phúc). Chúng đều được chế tạo bằng mảnh xương ống nhờ những kỹ thuật chẻ tách, cưa, mài, nghĩa là những kỹ thuật dùng trong chế tác đồ đá Toàn thân lao được mài nhẵn, có khi đến nhẵn bóng.  Có loại lao 1 ngạnh (bốn chiếc) và lao hai ngạnh (một chiếc) (Bản vẽ 5, h.1, 2). Các ngạnh đều nằm xuôi theo thân, dài từ 1-2 cm, thân lao thường dẹt, mặt cắt ngang thân hình bầudục, có khi hơi khuyết ở một mặt - dấu vết của ống xương. Mũi lao được mài nhọn. Chuôi lao ngắn được mài vát đều hai bên nhỏ lại hơn bề rộng thân. Giữa thân và chuôi bao giờ cũng có phần gờ nổi tạo thuận tiện cho việc buộc thêm cán.  Kích thước trung bình của lao ngạnh: dài 10cm, nơi rộng nhất trên thân 1,2 cm, dày thân 0,8 cm, gờ nổi ở cuối thân rộng 1,6 cm, chỗ ngạnh nhô ra cách đầu mũi bằng 1/2 hay 1/3 chiều dài toàn thân lao.


Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #71 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:05:05 PM »



Các mũi lao không có ngạnh bằng xương còn lại có hình dáng tương tự những mũi tên xương, chỉ khác là có kích thước lớn hơn: dài trên 10 cm, rộng thân trên 1 cm. Hai đầu lao đều được vót và mài nhọn, không có sự phân biệt rõ rệt giữa thân và chuôi. Loại lao xương không ngạnh này đặc biệt phát triển trong giai đoạn tiếp ngay sau - giai đoạn Đồng Đậu ở tại chính địa điểm Đồng Đậu.

Phải nói rằng, tuy lao đã có mặt từ giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên, nhưng số lượng còn ít và mới chỉ có lao làm từ xương thú. Đến giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, lao đặc biệt phát triển, chiếm vị trí gần tương đương với mũi tên và cùng với tên trở thành loại vũ khí chủ yếu của giai đoạn này.  Lúc này ngoài lao xương còn gặp cả lao đá và lao đồng.  Lao đá gặp rất ít. Trong số sáu địa điểm được chọn làm thống kê, chỉ có một địa điểm tìm thấy hai chiếc. Chiếc còn tương đối nguyên, chỉ bị gãy một phần chuôi, là một mũi lao cỡ trung bình, có phần thân dẹt, mặt cắt ngang thân hình bầu dục dẹt, giữa dày, mỏng dần ra hai bên rìa cạnh, rìa cạnh sắc, mũi lao nhọn. Giữa thân lao, ở cả hai mặt có đường sống nổi chạy dọc từ đầu mũi xuống gần hết chiều dài thân.  Chuôi lao nhỏ hơn thân, mặt cắt ngang hình chữ nhật dẹt.

Lao được làm từ loại đá hạt mịn, cứng và được mài nhẵn bóng. phần còn lại toàn thân - chuôi lao dài 6, làm, rộngngang thân 2,7 cm, dày 0,25 cm (Bản vẽ 5, h.Cool. Lao xương đặc biệt phát triển ở giai đoạn Đồng Đậu.

Trong hai cuộc khai quật (1969 và 1984) tại địa điểm Đồng Đậu đã phát hiện được trên 30 chiếc, trong đó chỉ có một chiếc lao có ngạnh. Cũng như trước, lao được làm từ những đoạn xương thú lớn, bằng cách chặt chẻ, gọt và mài nhẵn toàn thân. Hình dáng các mũi lao cơ bản giống nhau: thân thon dài, hai đầu đều vót nhọn, mặt cắt ngang thân hình tròn hoặc bầu dục dẹt khuyết một mặt - dấu vết của ống xương. Một số chiếc giữa thân và chuôi có sự phân biệt tương đối rõ ràng - thân dài, chuôi ngắn và nhỏ hơn (bản vẽ 5, h.3).  Những chiếc khác giữa thân và chuôi không có sự phân biệt rõ, cả chiếc lao có hình một mũi nhọn hai đầu. Kích thước phổ biến là: dài toàn bộ trên 10 cm, có chiếc dài đến 14 cm, chỗ rộng nhất trên thân khoảng 1 cm-1,5 cm (Bản vẽ 5, h.4).  Những mũi lao đồng xuất hiện lần đầu tiên vào giai đoạn văn hóa Đồng Đậu - Gò Mun. Và cũng như những đồ đồng khác ở giai đoạn này, lao đồng còn mang những yếu tố của các loại vũ khí tiền thân như mũi tên, mũi nhọn đã từng có mặt từ giai đoạn trước, hoặc phỏng theo hình dáng của những mũi lao bằng xương trong cùng giai đoạn.

Căn cứ vào cách tra cán và một số đặc điểm hình dáng và chi tiết đặc biệt, có thể phân các mũi lao đồng đã biết thành hai nhóm cư bản với một số loại hình sau.

Nhóm lao có chuôi đặc gồm hai loại. Loại lao hình lá có hình dáng hệt như một chiếc lá có cuống nhỏ. Sống lá nổi rõ chia thân lao ở cả hai mặt thành hai phần bằng nhau, tạo cho mặt cắt thân gần hình thoi dẹt, mũi nhọn. Phần chuôi nhỏ, dài ngắn linh hoạt, mặt cắt ngang có khi hình tròn, có khi hình vuông. Bản lá - thân lao có chiếc thon dài, có chiếc hơi rộng, bè, mập. Những mũi tên hình lá tương tự lao hìnhlá Chúng được phân biệt chủ yếu ở kích thước. Có thể xếp những “chiếc lá” có chiều dài trên 7,8 cm, chiều rộng khoảng gần 3 cm trở lên, dày ở sống lá khoảng trên dưới 1 cm là những mũi lao (Bản vẽ 5, h.5, 6). Số lượng loại lao này không nhiều, và khó nắm được con số chính xác vì đa số bị gẫy, không còn nguyên vẹn, lại rất giống những mũi tên đồng dạng, nên dễ lẫn lộn với mũi tên khi phân loại.

Loại lao hình mũi nhọn chuôi đặc, chuôi và thân thường không phân biệt rạch ròi. Đặc điểm chung của loại lao này là hình dáng đơn giản, thân thon dài, mũi nhọn, toàn thân và chuôi đều đúc đặc. Có những chiếc cả hai đầu cùng nhọn giống như một kiểu lao xương đã nhắc đến ở trên. Có những chiếc giữa thân và chuôi có khấc để phân biệt. Thân lao thường có mặt cắt ngang hình tròn, đôi khi có hình vuông hay hình bầu dục. Những chiếc lao mũi nhọn này thường có chiều dài trên dưới 11 cm, có chiếc đến trên 15 cm, đường kính nơi rộng nhất của thân khoảng trên dưới 1 cm. Kích thước như thế tạo cho lao có dáng nhỏ, dài, thích hợp với việc phóng, ném. Vì vậy, dù có chiếc dài trên 15 cm vẫn có thể xếp vào loại lao, không phải là giáo (bản vẽ 5, h.7, Bản vẽ 7, h.1).

 
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #72 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:10:13 PM »



Nhóm lao có họng tra cán gồm hai loại là lao có họng thân thẳng hình dùi và lao có họng, có ngạnh.
Loại lao thân thẳng hình dạng đơn giản, tương tự như loại lao mũi nhọn kể trên, chỉ khác ở phần họng tra cán và thân đúc rỗng. Mặt cắt thân hình tròn, họng ăn sâu vào khoảng nửa thân lao. Có chiếc phần nửa thân dưới phía họng tra cán mặt cắt ngang hình tròn, nhưng nửa thân đằng mũi lại có hình đa giác đều. Nhiều chiếc lao loại này có kích thước khá lớn, dài đến 14 cm-15 cm, đường kính họng lao trên 2 cm (bản vẽ 7- h.4). Lao có họng thân thẳng và lao hình mũi nhọn thân đặc chiếm đa số áp đảo trong gia đình những chiếc lao đồng giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun.

Loại lao có họng có ngạnh mới chỉ phát hiện được một chiếc ở địa điểm Đồng Đậu. Lao có một ngạnh thẳng và khá dài, không ngắn như ngạnh lao xương, thân ngạnh dẹt, mũi tù. Thân lao chia hài phần rõ rệt: phần họng tra cán ngắn, rỗng, mặt cắt ngang thân hình thoi lên đến gần mũi thì chuyển thành hình bầu dục, mũi nhọn. Toàn thân lao dài 11 làm (riêng họng dài 3 cm). Chiều rộng thân 0,6 cm, họng rộng 1,6 cm, ngạnh dài 3 cm, dày 0,5 cm (Bản vẽ 5, h.9). Lao có ngạnh bằng đồng này cơ bản giống loại lao xương một ngạnh. Nhiều khả năng lao đồng có ngạnh được làm phỏng theo những chiếc lao xương cùng loại.

Trong các địa điểm khảo cổ thuộc giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, bên cạnh những chiếc lao còn nguyên vẹn hay mới sứt gẫy nhưng còn khả năng nhận ra hình dạng để phân loại, vẫn còn một số lượng không nhỏ những hiện vật được xếp vào loại hình mũi nhọn, có cả loại mũi nhọn thân đặc, cả loại mũi nhọn thân rỗng (có họng tra cán) . Nhiều khả năng phần lớn chúng là phần mũi của những chiếc lao thân thẳng, mũi nhọn. Tình hình này cũng đúng với bộ vũ khí lao - mũi nhọn xương đã phát hiện được ở địa điểm Đồng Đậu và những mũi nhọn xương phân bố lẻ tẻ trong một số địa điểm khác như Thành Dền (Vĩnh Phúc), Gò Mun (Phú Thọ).

Do vậy, khi làm thống kê các loại hình vũ khí, phải tính đến sự có mặt của những chiếc mũi nhọn này. cũng có nhà nghiên cứu mạnh dạn xếp toàn bộ những mũi nhọn này vào loại hình lao mũi nhọn. Dưới đây là bảng thống kê số lượng lao và mũi nhọn bằng đồng ở sáu địa điểm thuộc giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #73 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:13:42 PM »



Giai đoạn phát triển đỉnh cao của thời Hùng Vương - An Dương Vương - xuất hiện những chiếc lao Đông Sơn.  ở giai đoạn này lao vẫn là loại vũ khí được tiếp tục phát triển và phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên nếu đặt trong mối tương quan và so sánh với các loại hình vũ khí khác cùng thời thì nó không còn đứng ở thứ hạng cao về mặt số lượng như trong giai đoạn trước nữa. Trong giai đoạn Đông Sơn, lao đã nhường vị trí cho giáo.

Về mặt loại hình, lao Đông Sơn có những thay đổi căn bản. Những loại lao chủ đạo của Đồng Đậu - Gò Mun đã mất hẳn, thay thế cho chúng là những loại lao có họng tra cán, phần thân có bản rộng, hình dáng cân đối, hoàn chỉnh, ổn định.

Căn cứ vào hình dáng thân, họng tra cán có thể phân chia lao có họng tra cán thành một số loại như sau:

Lao lưỡi hình tam giác là những chiếc lao có phần thân lưỡi hình tam giác cân dài, hai cạnh bên thẳng hoặc hơi cong  lõm, na cạnh dưới, phần chuyển xuống họng thẳng xiên hoặc hơi cong lõm vào, đôi khi hơi lồi. Giữa thân, ở cả hai mặt có đường sống nổi rõ chạy dọc từ đầu mũi xuống đến chuôi, mặt cắt ngang thân hình thoi. Đôi khi đường sống không nổi rõ, tạo mặt cắt ngang thân hình bầu dục dẹt.
 
Hai cánh lao khá đa dạng; có kiểu góc cánh là góc gần nhọn, cánh xòe rõ, có kiểu góc cánh là góc tù, cánh không xòe rộng. Lỗ thủng ở cánh thường chỉ thấy ở những chiếc lao có họng dài. Lỗ cánh hình chữ nhật, nằm đối xứng nhau qua trục sống thân. Nhìn chung lao ít được trổ lỗ cánh hơn giáo.

Họng lao chia hai loại - loại họng dài (có chiều dài khoảng gần 1/2 chiều dài toàn thân lao) và loại họng ngắn (chiều dài chiếm khoảng 1/3 chiều dài toàn thân lao). Mặt cắt ngang họng cũng khá đa dạng - có thể là hình tròn, gần tròn, hình thoi. Đường kính miệng họng thường lớn hơn đường kính họng chỗ tiếp nối với thân. Họng còn ăn sâu lên cao trên thân, dọc theo đường sống thân và càng lên cao càng thu hẹp. Yếu tố kỹ thuật này làm cho việc tra cán thuận tiện (Bản vẽ 6, h.2, 3).

Kích thước trung bình của những lưỡi lao loại này là dài 9 cm-ll cm, rộng (ngang cánh) trên dưới 3 cm, họng dài trên 4 cm đối với loại lao họng dài) và dưới 3 cm (đối với loại lao họng ngắn), họng rộng từ 1cm-1,6 cm.

Lao lượn là loại lao có rìa hai cạnh bên thân lao lượn cong ở phần gần nơi chuyển tiếp từ thân sang họng, tạo ra hai cánh xòe rộng, góc cánh là góc nhọn. Mặt cắt ngang thân lao có hình thoi do hai mặt thân có đường sống nổi chạy dọc suốt từ mũi đến họng. Đa số những chiếc lao loại này có phần họng ngắn (chiều dài họng chiếm chưa tới 1/3 chiều dài toàn thân lao). Mặt cắt và chiều sâu họng cũng tương tự như loại lao trên. (Bản vẽ 6, h. 4).

Kích thước trung bình: dài 8 cm-11 cm, cánh rộng từ 3 cm-4 cm, họng dài 2 cm-3 cm, họng rộng khoảng dưới 1,5 cm.Lao lưỡi hình lá cũng có phần thân hình tam giác cân dài, nhưng các góc không nhọn mà lượn cong tạo cho thân lao có hình dáng như chiếc lá dài, hẹp. Giữa thân vẫn có đường sống nổi làm mặt cắt thân có hình thoi dẹt. Họng lao hình ống trụ, miệng họng hơi rộng hơn bên trên. Có kiểu lao họng dài, có kiểu lao họng ngắn. (Bản vẽ 6, h.4, Bản vẽ 7, h.2, 3).  Kích thước trung bình của loại lao này cũng tương tự các loại khác: dài từ 8 cm-lo cm, cánh rộng 2 cm-3 cm, họng ngắn dài 2 cm-3 cm, họng dài 4 cm-4,5 cm, họng rộng từ 1,2cm - 1,7 cm.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #74 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:19:47 PM »



Lao có cánh cũng thuộc nhóm lao có họng tra cán, thân lao hình tam giác có cánh tương tự như mũi tên có cánh được phóng to lên. Giữa thân có đường sống dọc nổi rõ. Họng dài (chiếm 1/2 hay hơn 1/2 chiều dài chung), hình ống, miệng họng hơi rộng hơn ở bên trên, mặt cắt họng gần tròn hay bầu dục. Toàn thân lao cứng, khỏe, sắc, sức sát thương lớn. Loại lao này phát hiện được chưa nhiều (Bản vẽ 8, h.1).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #75 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:24:09 PM »


Kích thước trung bình của lao: dài 12 cm-13 cm, cánh rộng 3 cm-4 cm, riêng họng dài 6 cm-7 cm, miệng họng rộng 2 cm-2,5 cm.

Có thể đưa vào loại lao có cánh một chiếc lao đặc biệt mới tìm thấy ở địa điểm Việt Khê (Hải Phòng). Lao có hình tương tự chữ A, hai cạnh bên thẳng kéo dài đến chóp cánh. Chia đôi chữ A thành hai nửa đều nhau là trục thân hình tam giác cao gầy, cạnh đáy tam giác là miệng họng, đỉnh tam giác là đầu chóp mũi lao. Hai chóp cánh nằm ở vị trí ngang 1/5 trục thân tính từ đáy lên. Gạch nối chóp cánh với trục thân ở điểm cách đáy trục hơn 1/2chiều dài chung tạo thành hai cánh lao dài, nhọn chạy xuôi theo thân. Kích thước của chiếclao duy nhất mới được tìm thấy như sau: chiều dài chung 10cm, rộng ngang hai đầu cánh 4cm, dài họng (tính đến điểm nối ra đầu cánh) 4,5cm, miệng họng rộng 1,8cm (Bản vẽ 7, h.5).  Loại lao có chuôi tra cán. Ngoại trừ loại mũi lao được dùng làm đồ minh khí, đúc mô phỏng những chiếc lao phổ biến vừa giới thiệu ở trên bằng kỹ thuật đúc một mang làm cho các lưỡi lao đều không có họng, mỏng dẹt, một mặt phẳng, mặt kia lồi lên tạo mặt cắt ngang thân hình 1/2 bầu dục dẹt, chuôi đặc, mặt cắt ngang cũng hình 1/2 bầu dục dẹt, đã phát hiện được khá nhiều ở các địa điểm Đông Sơn thuộc lưu vực sông Mã (Đông Sơn, Thiệu Dương, Núi Nấp...) chúng ta còn gặp, tuy rất hiếm, những mũi lao có chuôi.

Đây là những chiếc lao hình dáng khá đặc biệt, chưa tìm thấy một loại hình tiền thân nào ở các giai đoạn phát triển trước. Toàn thân lao có hình tương tự cái ngòi bút rộng bản, giữa thân và chuôi không có sự phân biệt rõ ràng, từ chỗ phình rộng nhất (đo được 4 cm) nằm ở khoảng 1/3 chiều dài lao tính từ mũi xuống, chuôi lao bắt đầu được thu hơi nhỏ lại, cạnh đáy chuôi còn rộng 2,5 cm. Giữa thân ở một mặt có đường sống nổi rõ chạy dọc suốt từ đỉnh mũi xuống đến đáy chuôi, mặt kia phẳng. Toàn thân lao có dáng cong khum dẹt, mặt cắt ngang thân, chuôi đều có hình chữ V. Những chiếc lao nguyên vẹn thuộc loại này tìm thấy trong mộ thuyền Việt Khê, đo được các kích thước: dài chung 14 cm, rộng nhất ngang thân 4 cm, rộng đáy chuôi 2,5 cm, dày 0,4 cm. Loại lao này được tìm thấy rải rác ở một vài địa điểm thuộc lưu vực sông Hồng, các khu vực khác chưa tìm thấy (Bản vẽ 7, h.6).

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu vẫn còn đặt dấu hỏi cho chức năng vũ khí lao của loại hình hiện vật này.

Bảng thống kê trên cho thấy rõ sự khác biệt giữa các vùng cư trú của cư dân Hùng Vương - An Dương Vương qua việc sản xuất và sử dụng lao đồng. Vùng lưu vực sông Hồng, lao chiếm số đông, loại hình phong phú. ờ lưu vực sông Mã cũng tồn tại hầu hết các loại hình lao như lưu vực sông Hồng, nhưng về số lượng thì ít hơn hẳn. Còn ở lưu vực sông Cả mới chỉ tìm thấy một loại hình và số lượng cũng rất ít.
Ở giai đoạn phát triển muộn của văn hóa Đông Sơn còn xuất hiện mũi lao bằng sắt tuy rất hiếm. Cho tới nay mới tìm thấy một chiếc lao sắt ở địa điểm Bái Tê (Thanh Hóa). Hình dáng lao đơn giản như là một thỏi sắt dài, phần mũi có tiết diện vuông, đầu mũi nhọn, phần thân gần họng và họng có tiết diện tròn, đường kính họng gần 4 cái.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:37:41 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #76 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:29:48 PM »



Cho đến nay chúng ta chưa tìm thấy một chiếc lao gồm đầy đủ cả hai bộ phận - mũi kim loại và cán bằng gỗ hoặc tre trong các di tích Đông Sơn, nhưng có thể nhìn thấy chúng rõ ràng trên hoa văn trang trí trống đồng. Trên hoa văn trốngđồng Ngọc Lũ có một chiến binh đứng trên thuyền, một tay cầm cây giáo có cán dài, tay kia cầm một cây lao cán ngắn hơn hẳn, mũi lao thuộc loại lao có cánh. (Bản vẽ 8, h.3). Trên trống sông Đà, có hình một chiến binh ngồi trên thuyền, hai tay giữ chiếc lao dựng đứng, mũi chĩa lên trời, ở trước mặt.  Cây lao cao hơn đầu người ngồi cầm nó một ít, (Bản vẽ 8, h.2). Mũi lao thuộc loại lao lưỡi tam giác rất phổ biến. Loại lao lưỡi tam giác có cán ngắn còn thấy trong tay những chiến binh ngồi ở đầu các con thuyền trang trí trên thạp Hợp Minh (Yên Bái). Trên trống Hoàng Hạ, trống Bản Thêm cũng có những người cầm lao tương tự, nhưng không ở trên thuyền mà là đang đi trên mặt đất. Sự phổ biến của lao lưỡi tam giác hơn lao cánh én trong hoa văn đồ đồng dường như phản ánh đúng thực tế.

Lao là vũ khí đánh tầm trung. Nó giống tên ở chỗ chỉ sử dụng được một lần, ném đi là mất, nhưng lại không cư động, tiện dụng bằng tên vì rõ ràng nó cồng kềnh hơn, người ta chỉ có thể cầm theo người 1 đến 2 chiếc, chứ không thể đeo theo cả nắm như tên. Có lẽ trong thực tế, lao được sử dụng không phổ biến bằng cung tên. Hoa văn trống đồng cho ta một gợi ý để xem xét vị trí của lao trong thực tế chiến đấu. Người cầm lao có cánh trên trống Ngọc Lũ có một điểm đáng chú ý là không chỉ cầm một thứ vũ khí là lao ở tay phải mà tay trái còn cầm thêm một cây giáo có cán dài. Phải chăng như thế có thể hiểu, lao sẽ là vũ khí được sử dụng trước (cầm ở tay phải, trong tư thế mũi lao hướng lên trên có thể ném đi ngay) sau khi đã ném lao đi rồi thì chiến binh sẽ chiến đấu bằng giáo ở tầm gần.
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #77 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:31:38 PM »



VŨ KHÍ ĐÁNH GẦN

So với vũ khí đánh xa, vũ khí đánh gần phong phú hơn hẳn về số lượng, chủng loại; bao gồm giáo, dao găm, kiếm, qua, rìu chiến, dao chiến.

1. Giáo.

Cũng như mũi tên nhọn, lịch sử của ngọn giáo thời Hùng Vương- An Dương Vương được bắt đầu từ giáo đá Phùng Nguyên. Giáo đá ở giai đoạn đầu thời đại Hùng Vương này còn rất hiếm. Trong số sáu địa điểm được chọn làm thống kê, có hai địa điểm tìm thấy giáo đá là Phùng Nguyên và Lũng Hòa. . . Cả năm mũi giáo phát hiện được trong hai địa điểm này đều bị gẫy, không chiếc nào nguyên vẹn, nhưng cũng có thể phục dựng được hình dáng cư bản.

Có thể có hai kiểu khác nhau chút ít. Kiểu thứ nhất có dạng hình ngòi bút máy, phần phình rộng nhất trên thân nằm ở vị trí khoảng 1/3 chiều dài chung tính từ đầu mũi xuống, từ đây hai cạnh rìa được mài vát mạnh tạo thành phần mũi nhọn. Cũng từ đây, hai cạnh bên được mài vát nhẹ xuống dần đến đáy giáo, tạo ra phần chuôi. Giữa thân ở cả hai mặt có đường sống nổi chạy dọc suốt từ mũi đến hết chuôi, tạo mặt cắt ngang hình thoi.
 
Đa số mảnh giáo phát hiện được thuộc kiểu giáo thứ hai, giáo có phần thân dài, hai cạnh bên gần như song song nhau, chỉ đến gần mũi mới thu nhỏ mài vát tạo thành mũi nhọn tù. Thân giáo ở giữa dày, mài dần ra hai rìa cạnh, tạo mặt cắt ngang thân hình thoi.  Phần chuôi giáo bị gẫy cả nên không biết hình dạng ra sao.  Kích thước giáo cũng không đo chính xác được. Đa số chúng có chiều rộng bản lưỡi trên dướị_3 cm, có chiếc phần mũi còn lại đo được chiều dài là 7 cm. Phần lớn được làm từ loại đá xanh đen hạt mịn, cứng, loại đá thường dùng làm công cụ lao động, toàn thân được mài nhẵn. (Bản vẽ 8, h.4, 5).

Dòng giáo đá không được tiếp tục phát triển ở các giai đoạn tiếp sau. Trong số sáu địa điểm thuộc giai đoạn Đồng Đậu Gò Mun chọn làm thống kê, chỉ có địa điểm Đồng Đậu tìm thấy hai chiếc giáo đá có hình dáng tương tự như giáo đá Phùng Nguyên. Còn đến giai đoạn Đông Sơn thì giáo đá mất hẳn.

Ở giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, đặc biệt ở giai đoạn Đồng Đậu , tại di tích khảo cổ Đồng Đậu (Vĩnh Phúc), có hiện tượng đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của vũ khí xương, nhưng không tìm thấy những mũi giáo trong số đó. Thế nhưng. do một sự may mắn tình cờ, trong một địa điểm thuộc văn hóa Gò Mun lại phát hiện được hai mũi giáo gỗ. Cả hai đều không còn nguyên vẹn, nhưng vẫn còn nhận dạng được.  Chúng thuộc loại giáo có thân lưỡi hình tam giác cân, mũi kéo dài, nở dần về phía đáy thân, hai cánh giáo lượn cong (giáo hình búp đa), thu nhỏ dần về phía dưới tạo thành phần chuôi liền thon nhỏ. Mặt cắt thân hình bầu dục dẹt. Chiều dài còn lại của giáo đo được khoảng 10 cm, chiều dài chuôi chiếm khoảng gần 1/3 chiều dài chung. Mũi giáo này cũng cần được lắp vào cán có đoạn cổ hình ống như ống tre. Phát hiện này khẳng định thêm vai trò của tre, gỗ trong đời sống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên.

Giáo bằng đồng ở thời Đồng Đậu - Gò Mun còn khá hiếm.  Trong sáu địa điểm được chọn làm thống kê, mới phát hiện được tám chiếc hầu hết đã bị gẫy, chỉ còn lại một phần thân, chuôi. Vì vậy không phân loại được đầy đủ. Dựa vào những mảnh còn lại, có thể phân thành hai loại chính - loại có họng tra cán và loại có chuôi tra cán.

Loại có họng tra cán có thể lấy những chiếc giáo còn tương đối đầy đủ các bộ phận, phát hiện được ở địa điểm Gò Mun (Phú Thọ) làm tiêu biểu. Thân giáo hình tam giác dài, bản lưỡi khá rộng, chỗ phình rộng nhất tính từ miệng họnglên, chiếm khoảng 1/3 chiều dài chung. Sự chuyển tiếp từ điểm phình rộng nhất xuống đầu họng không thật gầy gọn như sẽ thấy ở giáo Đông Sơn. Họng ngắn, chiều dài họng chiếm khoảng hơn 1/4 chiều dài chung, mặt cắt ngang họng hình bầu dục gần tròn. Nhìn chung thân giáo có hình tương tự búp đa nên các nhà nghiên cứu gọi loại giáo này là giáo búp đa. Kích thước: dài chung khoảng từ 18 cm - 22 cm, rộng nhất trên thân trên dưới 5 cm, riêng họng dài khoảng 5 cm - 6 cm, rộng khoảng 2 cm (Bản vẽ 9, h.1, 2). Đa số các mảnh giáo phát hiện được ở các địa điểm cùng giai đoạn có thể xếp vào loại giáo có họng này.

Loại giáo có chuôi tra cán có số lượng ít hơn và không còn chiếc nào nguyên vẹn. Từ một vài mảnh gầy có thể nhận biết được phần lưỡi giáo hình lá, mặt cắt ngang hình thoi dẹt, chuôi giáo nhỏ, đặc, mặt cắt ngang hình tròn hay nửa hình tròn. Kích thước nhỏ, chiều dài chung không rõ - chiều rộng thân (phía gần mũi) chỉ khoảng 1,5 cm, chiều dày sống thân 0,5 cm.

Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #78 vào lúc: 08 Tháng Mười Hai, 2008, 10:36:56 PM »



Đến giai đoạn Đông Sơn, giáo thực sự bước vào thời kỳ phát triển bùng nổ. Từ vài chiếc ở giai đoạn Đồng Đậu – Gò Mun, lên đến hàng trăm chiếc ở giai đoạn Đông Sơn . Từ một hai kiểu loại đơn điệu thời Đồng Đậu - Gò Mun, phát triển thành năm, mười kiểu loại giáo thời Đông Sơn. Từ vị trí thứ yếu trong giai đoạn Đồng Đậu - Gò Mun, giáo trở thành vũ khí chủ đạo trong giai đoạn Đông Sơn. Giáo trở thành loại di vật tìm thấy nhiều nhất trong phần lớn các di tích văn hóa Đông Sơn điển hình. Tại địa điểm Đông Sơn (Thanh Hóa), riêng cuộc khai quật năm 1969-1970 đã tìm thấy 32 chiếc, còn tính sơ bộ các cuộc khai quật trước đó cũng đã thu thập được trên 60 chiếc. Tại địa điểm Thiệu Dương (Thanh Hóa), riêng cuộc khai quật năm 1960 đã thu được 75 chiếc, chiếm đến 57% tổng số vũ khí đồng thau tìm thấy trong đợt khai quật này.

Cuộc khai quật năm 1977 tại Làng Cả (Phú Thọ) thu được 62 giáo, chiếm 62% tổng số vũ khí của cả cuộc khai quật. Tỷ lệ trên dưới 50% trên tổng số vũ khí của giáo là tỷ lệ thường gặp ở các cuộc khai quật các di tích Đông Sơn, có lẽ chỉ trừ địa điểm Làng Vạc ở lưu vực sông Cả. Ở di chỉ này, trong cuộc khai quật năm 1980, giáo chỉ phát hiện được bốn chiếc, chiếm gần 6% tổng số vũ khí thu được.
Cũng như cách phân loại mũi tên, mũi lao, căn cứ vào phương thức tra cán có thể phân chia giáo Đông Sơn thành hai nhóm - nhóm giáo có họng tra cán và nhóm giáo có chuôi tra cán. Trong mỗi nhóm, dựa vào hình dạng thân, chuôi họng hay một vài nét đặc Trưng để phân chúng thành các loại kiểu, phụ kiểu khác nhau.

Nhóm giáo có họng tra cán chiếm ưu thế áp đảo so với nhóm giáo có chuôi tra cán. Tuyệt đại đa số giáo Đông Sơn thuộc nhóm này. Có thể phân chúng thành bơn kiểu cơ bản. Loại giáo lưỡi hình tam giác có đặc điểm chung là có phần thân hình tam giác cân dài, hai cạnh bên thường thẳng hay hơi cong. Giữa thân ở cả hai mặt giáo có đường sống nổi, có khi nổi thành gờ, chạy dọc từ đầu mũi đến đầu họng, tạo cho mặt cắt ngang hình thoi dẹt. Cánh giáo thường có hai hoặc bốn lỗ hình chừ nhật nhỏ nằm đối xứng từng đôi qua sống thân. Họng giáo hình ống tròn, miệng hơi nở rộng, mặt cắt ngang hình tròn. Có kiểu giáo lưỡi hình tam giác họng dài, chiều dài họng chiếm trên 1/3 đến gần 1/2 chiều dài chung. Kiểu giáo họng dài này đặc biệt phổ biến ở lưu vực sông Mã. Trong khi đó kiểu giáo lưỡi tam giác họng ngắn, 1 chiều dài họng chiếm dưới 1/3 chiều dài chung, lại phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Hồng.

Kích thước phổ biến thường gặp của giáo họng dài biến thiên trong khoảng khá rộng: chiều dài chung từ 21 cm -30 cm, cánh rộng từ 4 cm-6 cm, họng dài 7 cm- 10 cm, họng rộng trên dưới 2 cm (Bản vẽ 9, h.3).
Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
UyenNhi05
Cựu chiến binh
*
Bài viết: 2589


Vì nước quên thân, Vì dân phục vụ.


« Trả lời #79 vào lúc: 12 Tháng Mười Hai, 2008, 09:44:07 PM »

Kiểu giáo lưỡi tam giác họng ngắn thường có kích thước nhỏ hơn kiểu trên và ở cánh thường không có lỗ (Bản vẽ 10 h. 1).

Loại giáo rìa lưỡi lượn. Thuộc vào loại này là những chiếc giáo có phần rìa lưỡi cong võng vào ở phần sát đáy lưỡi, tạo nên hai cánh xòe rộng. Hai rìa cạnh đáy lưỡi đoạn nối từ đầu cánh vào đầu họng cong lõm. Đầu cánh nhô ra như hai mấu nhọn. Cánh có thể có cặp lỗ rãnh đối nhau qua trục thân, có thể không có lỗ rãnh. Giữa thân ở cả hai mặt có đường sống nổi, tạo cho mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt.  Họng hình trụ tròn, miệng họng hơi loe. Có kiểu giáo rìa lưỡi lượn họng dài, chiều dài họng chiếm gần 1/3 chiều dài chung, tập trung chủ yếu ở lưu vực sông Mã tuy số lượng không nhiều. Có kiểu giáo rìa lưỡi lượn họng ngắn, chiều dài họng chiếm chưa tới 1/4 chiều dài chung, phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Hồng (Bản vẽ 9, h.4, Bản vẽ 10, h.3).

Loại giáo lưỡi hình lá gồm những chiếc giáo có lưỡi cơ bản cũng là hình tam giác cân, nhưng các góc tam giác lượn cong. Giữa thân ở cả hai mặt có đường sống nổi, tạo mặt cắt ngang thân hình thoi dẹt. Hai cánh có lỗ nằm đối xứng qua sống thân. Có chiếc không có lỗ cánh. Họng thường dài, mặt cắt ngang họng hình tròn, miệng họng hơi loe rộng hơn bên trên. Phần lớn loại giáo này tập trung ở lưu vực sông Mã, ở các vùng khác ít gặp.

Kích thước trung bình của chúng như sau: dài chung khoảng 21 cm, cánh rộng 4 cm, họng dài trên 8 cm, đường kính họng xấp xỉ 2 cm (Bản vẽ 10, h.5).
« Sửa lần cuối: 12 Tháng Mười Hai, 2008, 09:51:07 PM gửi bởi UyenNhi05 » Logged

"Đời chiến sỹ máu hòa lệ, mực _ Còn yêu thương là chiến đấu không thôi..."
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM