Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Tám, 2019, 08:31:44 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký Sự Chiến Tranh_Tập 1  (Đọc 34120 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #30 vào lúc: 21 Tháng Mười Một, 2008, 04:13:37 PM »

*
*    *

Cuộc chiến đấu vẫn còn ác liệt.
Cậu bé liên lạc Trương Minh Xia, tay giương khẩu súng trường tự động lên trời bắn, miệng lẩm nhẩm mấy câu thơ của chính trị viên Tịch, mà Xia vừa sực nhớ ra :

Nói làm là việc ở đây
Nói nhiều làm ít có hay bao giờ !


Xia chạy đến các lô-cốt. Nhưng đạn hỏa tiễn lại nổ chận không ngớt, Xia phải chựng lại và thốt lên cái câu quen miệng, vô tư của trẻ con : "Ối!... Nó bắn quá trời!". Nhưng rồi cậu ta lại chợt nghĩ : Ai cũng nói "xông pha lửa đạn!" "xông pha lửa đạn!" mà thấy bom đạn lại rụt đầu thì "có hay bao giờ?". Phải chạy! Xia vọt sang lô-cốt số sáu. Trông thấy mặt mày Lợi đen sì khói thuốc súng, Xia liền nói :
- Chúng ta nói, chúng ta làm là việc ở đây phải hông anh Lợi? Chúng ta nói nhiều, chúng ta làm ít thì chúng ta có hay bao giờ, hả anh Lợi?
- Thằng con nít này mày nói chánh trị với tao, mày!
- Hổng phải! Nói văn nghệ đó chớ.
Lợi hỏi :
- Làm như tổ này, chú mày thấy được không?
- Tổ này nói nhiều..., nói nhiều bằng súng đạn với phản lực Mỹ!
Xia cười. Hai lúm đồng tiền in rành trên đôi má đen thủi của Xia. Thấy dễ thương hết sức, Lợi liền bảo cậu bé liên lạc :
- Mày bò qua đây!
- Chi vậy?
- Tao cắn cái má mày một chút chớ chi...

Tại chỉ huy sở của đại đội, mọi người đang nhộn lên vì đường liên lạc với tiểu đoàn vừa nối được. Đường dây điện thoại này đứt đi nối lại biết bao nhiêu lần rồi. Vào giờ phút ác liệt nhất, tiếng chuông điện thoại lại réo lên được ôi! Cái tiếng chuông “réng réng” nó hay làm sao! Ngồi trong bốn bức tường đất nhỏ hẹp cứ liên tục rung rinh, chao đảo như con thuyền tròng trành mà lắng nghe được tiếng “réng, réng, réng” từ trong chiếc máy điện thoại vang lên, cả Tích và Thông, cả Ngang và Cừ tuy là mỗi người một tính, song tất cả đều thưởng thức cái tiếng reo ấy. Chính trị viên Di Thiện Tích sung sướng cầm ống nghe :
- Alô... Một trăm lẻ bảy đây? Di Thiện Tích đây... Nghe rõ! Nghe rõ! Nghe rõ! ...

Đại đội phó Ta nhìn thấy khuôn mặt chính trị viên bỗng sáng dần lên trong từng tiếng “Nghe rõ... Nghe rõ! ...” Ta đã đọc được ở đó là : "Tin mừng. Tin rất mừng!".
- Alô ... Báo cáo tình hình Một trăm lẻ bảy... Bọn Mỹ thả bom vào nội đồn ngót mười lăm phút rồi... Đúng! Bây giờ cả bọn ác ôn ngoan cố dưới hầm ngầm cũng bắn lại máy bay Mỹ... Đúng! Bắn rất quyết liệt ... Đúng! Có đây... Tôi đang nghe. Rõ... Rõ... Rõ...
Đặt ống nghe xuống, Di Thiện tích nở một nụ cười rồi hấp tấp loan báo :
- Truyền nhanh đi tin mừng : Quân bạn đã diệt gọn hoàn toàn một tiểu đoàn biệt kích dù Mỹ vừa đổ xuống bằng trực thăng khi trưa!

Tin chiến thắng của quân bạn làm cho anh em nức lòng, phấn khởi. Cái hào hứng của những con người đã góp cả sinh mạng mình vào chiến thắng. Giờ đây, anh em càng hiểu rõ giá trị của cây súng trường giữa "thanh thiên bạch nhật" đã trụ lại cả trận địa cứ điểm Đồng-Xoài này. Mỗi cây súng trường chịu hàng bao nhiêu tấn sắt thép trên đầu. Nhưng đâu phải chỉ sức mạnh ở cây súng trường mà cân nổi với khối bom đạn cực kỳ to lớn ấy - Chính là sức nặng trái tim của mỗi một chiến sĩ quân Giải phóng trên mặt trận Đồng-Xoài!
Đại đội phó Ta loan tin chiến thắng này cho đại đội trưởng Ngọc. Ngọc nghe xong liền nói :
- Như thế là cái công trụ lại của chúng ta rất hiệu quả!

*
*    *

Một loạt bom chụp đúng ngay khu vực hầm ngầm. Sau loạt bom Mỹ "rất chính xác"! ấy, tiếng súng bắn máy bay của bọn lính cộng hòa câm bặt luôn(!). Trông thấy thế, đại đội phó Ta báo cáo về với chính trị viên Tích : "Bọn hầm ngầm bị diệt hoàn toàn rồi". Trong khi đó thì một trái bom na-pan rớt ngay trên nóc lô-cốt số hai. Lửa xăng đặc chảy xuống công sự của Tích. Anh em tung vọt ra ngoài, Tích lăn từ bờ thành xuống. Bượng và Xích, hai chiến sĩ thông tin vừa ôm máy vừa dìu tham mưu trưởng Thông từ trong biển lửa chạy ra. áo quần tóc tai Tích, Bượng, Xích và Thông bị cháy sém, nhưng chẳng ai việc gì cả.

Khi được biết tin bọn hầm ngầm đã bị tiêu diệt, Thông và Tích nhất trí cho đơn vị giạt ra khỏi đồn, Bượng và Xích dìu thông ra trước. Di Thiện Tích trở vào ra lệnh cho anh em rút.
Trước đó một phút, Cừ thấy lô-cốt số hai bị cháy, biết là ở đó nguy ngập, liền cho tiểu đội trưởng Lợi dắt một tổ sang chiếm lại lô-cốt số hai. Lúc chính trị viên Tích hạ lệnh rút. Lợi không nhận được, tổ Lợi vẫn cứ bám công sự mà bắn máy bay địch tới tấp. (Nói là tổ chức chứ thật tình chỉ có Lợi, tiểu đội trưởng tiểu đội ba và Nín chiến sĩ tiểu đội năm). Lợi và Nín bỗng trông thấy phía lô-cốt số một có cột lửa dựng lên. Lợi nói với Nín :
- Mấy chục vợ con lính "cộng hòa" thế là bị bom Mỹ giết hết rồi!
Nín chặc lưỡi:
- Tội nghiệp! Hồi sáng, anh em mình đã băng bó cho mấy chị ở đó.
Hồi sáng, chính Nín đã băng cho một em bé gái, con của một người lính "cộng hòa" tên là Biên hay Biền nào đó...

Hết đạn, Nín men theo lỗ châu mai chui vào lô-cốt số hai để lấy thêm đạn. Quả nhiên, anh trông thấy một cảnh hết sức thê thảm : trên bốn mươi xác vợ con lính ngụy bị bom lửa Mỹ giết, chỉ một vài người còn thoi thóp. Nín suy nghĩ : phải bắn mạnh máy bay Mỹ thì họa may mới cứu được những người này.
Lợi và Nín lại tiếp tục bắn.Khắp trận địa đại đội ba đầy khói lửa, giờ chỉ còn hai khẩu súng bắn lên. Hai hố công sự của Lợi và Nín cách nhau sáu bảy thước, mỗi công sự có bốn năm khẩu súng nạp đạn  sẵn. Tiếng Lợi, nghe sang sảng.
- Nè. Nhằm chiếc bên trái... Bắn!
Ầm, ầm!
- Chiếc "lưỡi cày"... Bắn!
Ầm, ầm!
- Chiếc "cánh dơi" nhé... Bắn!
Ầm, ầm!

Trong khi đó, Cừ đã rút ra ngoài, anh phát hiện ra tiếng súng trong nội đồn vẫn bắn lên. Đoán anh em mình còn sót lại, Cừ biết đó là tổ của Lợi. Cừ liền vượt bom đạn chạy một mạch vào đồn. Trông thấy Lợi mặt mày đen khói thuốc đang trương hàm răng sún ra cười hề hề thì dòng máu Trương Phi trong người Cừ liền tăng độ đột ngột. Cừ bèn hét tướng :
- Còn đánh gì mà cứ ở trong này bắn hoài vậy? Người ta tìm thấy mẹ.
- Còn máy bay Mỹ chớ gì - Lợi bình tĩnh trả lời.
- Máy bay! Thứ đồ "dách" đó ở đâu bắn không được? Người ta rút hết sao không chịu rút? Hả? Hả?
- Có nghe lịnh đâu? - Lợi cãi.
Cừ lại hét lên :
- Tôi ra lịnh. Nghe chưa?
- Rõ. Thế thì rút.
Cừ khoát tay :
- Chạy bên trái. Nằm xuống! Bắn! Chạy vọt lên! Tạt qua phải. Qua phải Nằm xuống! Bắn!
Cứ thế Cừ, Nín và Lợi vừa chiến đấu với máy bay Mỹ vừa vượt qua được khoảng trống mà bom đạn đã cày lở lói...

*
*    *

Cho đến bây giờ, Di Thiện Tích, người chính trị viên của đại đội Ba ấy cũng chưa hiểu hết cái sức mạnh nào đã làm cho anh em chiến sĩ trong đơn vị của mình có thể chịu đựng nổi với sắt thép đến như vậy. Và, chính anh cũng là một người trong đó! Những con người mà lúc bình thường anh hiểu chưa hết như Xia, như Banh, như Bượng hay như Chem, bây giờ anh đã hiểu họ hết.

Cái sức mạnh vô địch mà anh muốn tìm hiểu ấy đã dấy lên từ tấm lòng yêu mến quê hương tha thiết, từ lòng căm thù giặc Mỹ đến tận xương tủy! Thứ "sắt thép" trộn lẫn trong máu của các chiến sĩ quân Giải phóng miền Nam, chính nó đã tạo nên một sức mạnh thần kỳ, sẽ quét sạch bọn giặc Mỹ ra khỏi đất nước thân yêu của chúng ta.

Ánh nắng chiều nay nhuộm sáng những chòm cây rừng cao vút. Chính trị viên Di Thiện Tích nói với các chiến sĩ của mình :
- Đơn vị tiếp sau giờ đã tới chiếm lĩnh trận địa cũ của đại đội chúng ta rồi.

30-9-1965
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #31 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2008, 04:48:49 PM »

LÊ VĂN THẢO

NHỮNG NGƯỜI ĐANG CHIẾN ĐẤU


- Thế nào, anh xem phương án tác chiến của tôi có “được” không?
Sau khi trình bày phương án tác chiến của mình trong trận đánh sắp tới, anh Chín Danh hỏi tôi câu ấy. Tôi cười đáp :
- Tôi dốt về quân sự lắm, anh à. Nhưng tôi cũng thấy có chỗ hơi táo bạo.
Anh Chín Danh choàng tay qua vai tôi, mấy ngón tay bóp nhẹ nhẹ vào bả vai tôi, cười thân mật:
- Ờ ờ, tôi thường mắc cái khuyết điểm đó lắm. Tôi cứ sửa hoài, cũng tiến bộ nhiều rồi đó. Bộ đội mình càng mạnh, càng tiến lên chính quy thì mọi tính toán phải hết sức chi ly, cẩn thận mới được. Mình nông dân, cứ quen thói "du kích"... Anh thấy nó táo bạo ở điểm nào?
- Tôi cảm thấy vậy chớ không phân tích được.
- Ờ để tôi suy nghĩ lại coi.

   Anh bẻ mấy nhánh cây lót ngồi xuống rồi giở thuốc ra hút. Anh hỏi tôi :
- Anh Huân người tỉnh nào vậy?
- Tôi ở Mộc-Hóa, anh ạ.
- Ờ, khu Tám hồi kháng chiến hả? Mấy năm đánh Tây, tụi này cũng quần ở miệt đó. Cá dữ quá, hén? Năm đó tôi còn nhỏ, trận đánh đầu tiên là trận đánh bằng xuồng. Đánh bằng xuồng sướng lắm, anh ạ, thật cũng như những ông tướng ngày xưa ra trận ấy. Một tay chống sào, một tay kẹp súng, mỗi lần nổ một phát là chiếc xuồng lại nhún một cái, thiệt đã. Anh có biết khúc quẹo sông Vàm-Cỏ-Tây chỗ gần Đá-Biên đó không? Tụi này mần một chiếc tàu lồng cu Tây ở chỗ đó. Bận nó đi, mần hụt, tức mình nằm cả tuần chờ nó về. Tụi nó chở lương thực tiếp tế cho bọn ở Mộc-Hóa đó mà. Bận về rút kinh nghiệm, mần được. Tôi có kinh nghiệm đánh tàu từ dạo ấy. Năm ngoái ở Cà-Mau, tụi tôi cũng làm y vậy mà dứt được mấy chiếc. Thằng Mỹ to xác, đánh sướng. Gặp tàu thì dứt một lần đôi ba chiếc chứ không ít.
Rồi cao hứng, anh kể luôn về quê hương của anh cho tôi nghe, một cái làng nằm cheo leo giữa Đồng-Tháp-Mười, những tháng mưa dầm, đứng dòm bốn bên chỉ thấy nước trắng xóa như biển cả.
- Chừng thống nhứt, anh ghé quê tôi, tôi đãi anh ăn cá "mệt"!

Tôi xuống đơn vị này lúc ban sáng. Đi luôn một mạch mười ngày đường, theo những con đường mòn luôn luôn cứ phải cúi khom người xuống vì những cây le, những dây chằng dây chợ đan trên đầu, tôi mệt muốn lả người. Đến nơi, anh Chín Danh tiếp tôi bằng mấy củ khoai mì nấu còn nóng và những tràng cười giòn như pháo nổ. Trong lúc tôi ngồi dựa lưng vào ba-lô khoan khoái ăn mấy củ mì thì anh báo cho tôi một tin, cũng về mấy củ mì đó :
- Phải chuẩn bị ăn mì lâu nghe! Mình sắp hết gạo rồi.
Nói xong, anh lại chỗ giăng võng lấy bi-đông trà nóng đem lại chỗ tôi, vui vẻ :
- Anh uống bậy ngụm trà với tôi, đợi một chút ăn cơm luôn. Xong rồi tôi dẫn anh xuống ở chung với thằng em tôi. Gặp anh chắc nó mừng lắm...
Anh cười, nói tiếp :
- Thằng nhỏ ham học, gặp ai biết chút ít chữ nghĩa, nó mừng.

Anh ngồi xuống kẹp hai tay dưới vế, khẩu súng lục sề sệ bên hông. Anh người thấp, hơi đẫy, nước da trắng nhưng sần sùi, đôi mắt nhỏ gần giao nhau nên trông hơi dữ. Những lúc anh không cười, gương mặt anh trông khoằm khoặm khó chịu với cái sẹo nằm dọc một bên má. Nhưng qua năm ba câu chuyện, người ta dễ dàng thấy ở anh một cái gì dễ dãi, thoải mái, dễ phục thiện, bao giờ cũng chú ý tới người khác nói về mình. Trong lúc ăn, anh hấp háy đôi mắt cười, nói với tôi :
- Hồi ở xã, ở huyện muốn đánh bót cứ họp lại bàn tính sơ sơ rồi xách súng bao vây, đánh. Làm được nhiều trận như vậy đâm ra tưởng mình giỏi. Bây giờ đến lúc phải tính toán thì đầu óc lại rối mù, càng ngày càng thấy mình cứ dốt thêm lên... Thiệt nghĩ ra mình còn không biết bao nhiêu là chuyện phải học tập...
Buổi trưa, tôi xuống tiểu đội của Thanh, năm nay mười chín tuổi, lông măng mới chỉ mọc lấm tấm ở trên mép, ăn mặc gọn gàng, tóc chải mượt, mặt tươi tỉnh, hồng hào. Anh vừa mới được đề bạt làm tiểu đội trưởng cách đây hơn tháng. Quả nhiên nghe anh Chín giới thiệu xong, Thanh mừng rỡ nắm lấy tay tôi :
- Anh ở chung với tôi hết mùa mưa này thì nhất định tôi lên được một lớp nữa.
Rồi anh tâm sự với tôi :
- Hiện giờ tôi ở bộ binh nhưng sau này tôi muốn được chuyển sang pháo binh. Được điều khiển những trái pháo làm nổ tung lô-cốt giặc, thiệt là sướng. Mấy năm nay tôi cố học, nhất là học toán. Các anh nói không biết được cái hàm số, không vẽ được cái đồ thị thì khó mà bắn cho chính xác. Tôi mới học xong lớp bốn, nhưng về môn toán thì tôi đã học qua đại số, đã biết được phương trình bậc nhất rồi. Ôi, phải tranh thủ dữ lắm, anh ơi. Cứ đợi có thì giờ rảnh đàng hoàng mà học thì không có đâu. Hở được phút nào là học ngay phút ấy. Ờ, anh ăn cơm chưa?
- Tôi ăn trên anh Chín rồi.
- Thôi anh căng ni-lông, giăng võng nghỉ, tôi đi ăn cơm một chút.

Anh em ở tiểu đội tụ xuống ăn cơm. Tôi căng ni- lông, giăng võng rồi cũng đi xuống. Một cái bàn ăn chạy dài, tháo được, bện bằng những mảnh nứa chẻ nhỏ. Lò bếp đào khéo léo, hai bên hai cái bàn để ca, thau, đĩa xinh xắn. Một cái bàn tròn nhỏ có ghế dựa. Nhìn cái bàn, cái lò bếp, tôi thấy tiêng tiếc. Công trình ấy chỉ còn dùng hai bữa nữa là cùng. Thanh giới thiệu tôi với anh em. Anh em mỗi người chào tôi một câu, rồi cùng mời tôi ăn cơm. Thật tình anh em muốn tôi ăn, vì hôm đó anh em có săn được thịt. Tôi cười :
- Vậy thì các anh chừa tôi một ít, chiều tôi ăn. Tôi cũng thèm thịt lắm.
Tất cả đều cùng cười vui vẻ, rồi một anh lấy đĩa múc thịt để dành cho tôi. Một anh nói :
- Anh Huân có vợ chưa, nếu có thì hôm nay phải viết một cái thư về thăm chị ấy đi. Ở đây chúng tôi "nghị quyết" mỗi tháng mỗi đứa phải viết một cái thư về thăm nhà đấy.
Từ xa, một anh có nước da ngăm ngăm đen, khuôn mặt dài bóng nhẫy, có mấy chiếc răng vàng đến vỗ vai Thanh, nói :
- Ở đây gạo có đủ ăn tới ngày mốt không?
- Nếu ăn cháo thì đủ.
- Vậy tối nay ta đi tải. Phải đi suốt đêm, thế nào cho đến sáng là về tới đây. Mình chuẩn bị hành quân đấy.
Rồi anh ngồi xổm xuống giở thuốc ra vấn hút. Anh vo tròn điếu thuốc trong miệng, bật quẹt đốt rồi nói :
- Kỳ này tiểu đội cậu rán tải choàng cho tiểu đội Hai, được không? Bên đó tụi nó bịnh hết mấy đứa, với lại còn phải để một tổ ở nhà học kỹ lại cách đánh M.113. Trận này nhất định chúng ta gặp thứ đó. Ờ, nghe nói hồi sáng cậu muốn sốt hả? Lấy ký-ninh uống vài ba viên đi... Vậy là tối đi, hén? Cho một phần ba mang súng. Trận này mình phải chuẩn bị cho tốt. Anh Chín đã hứa với trên là nhất định kỳ này mình dứt gọn đấy, mà kể ra hồi đó tới giờ, có trận nào mà mình không dứt đâu. Có chăng gọn hay không thôi.
- Anh Hòa, chốc nữa tôi lại anh xin chút ít dầu chùi súng nghe?
- Thôi để chốc nữa anh đem lại. Nhớ nhắc anh em uống thuốc ký-ninh phòng. Coi anh em uống thuốc cẩn thận. Đừng để bệnh, khổ lắm. "Lính" sợ uống thuốc thế nào, lạ thiệt!

Lúc tôi về đến chỗ thì Thanh cũng đến lót dép ngồi dưới chân tôi. Tôi trao gói thuốc cho Thanh. Thanh lắc đầu   :
- Tôi bỏ thuốc lâu rồi.
- Ủa?
- Tôi hút hồi nhỏ, anh à. Đi chăn trâu dầm mưa lạnh, mới mười bổn tuổi tôi đã tập hút. Sau lên trên này, anh em động viên bắt bỏ, tôi nghe theo...
- Anh Chín nói anh được huân chương hả?
- Trong trận Lộc-Ninh...
- Ảnh khen anh lắm, nói anh tiến bộ mau.
Thanh hơi nhếch mép cười, duỗi hai chân dài ra rồi cúi xuống vuốt vuốt những sợi lông tơ màu vàng trên ống chân :
- Ảnh nói vậy chớ tôi làm sao bằng ảnh. Anh có nghe chuyện ảnh hồi năm đồng khởi không? Một mình ảnh giết không biết bao nhiêu là ác ôn đó.

Rồi Thanh thuật cho tôi nghe một chuyện :
Hôm đó anh Chín đương ngủ trong đám lá dừa bờ sông, không biết có gián điệp báo hay sao, nửa đêm chúng đến vây bắt anh : Chúng trói thúc hai tay anh ra sau lưng rồi bỏ xuống một chiếc ghe tam bản chèo đi. Tháng đó vào cuối mùa mưa, nước trên đồng đổ xuống chảy băng băng. Chúng thả ghe trôi theo nước rồi cứ tra tấn anh trên đó. Có thằng hồi trước quen với anh, nó chỉ vào mặt anh : "Mày là thằng Chín Danh, tao biết mày theo Việt Minh từ hồi mới đẻ mà. Dòng mày đứa nào nứt mắt cũng theo cộng sản". Rồi nó đánh anh, đến lúc anh ngất đi mới thôi. Một lần anh ngã xuống, lúc tỉnh dậy, anh thấy mối dây trói đã bị lỏng đi một chút. Anh khẽ nhổm người lên định nới dây ra, nhưng hơi cựa mình một chút là chiếc xuồng tròng trành. Anh sợ chúng nghi. Anh liền tìm cách chửi chúng, mỗi lần anh chửi, chúng xông đến đánh, anh được dịp nới dây ra. Cứ như vậy đến gần sáng anh tháo ra gần hết. Trời càng khuya, sương xuống nhiều, chúng bắt đầu ngủ gà ngủ gật. Cuối cùng còn một thằng gác và một đứa chèo ghe. Anh Chín ngó trước ngó sau, tính toán sẵn từng động tác trong đầu rồi bất thình lình nhảy bổ vào tên lính đương cầm súng, cho nó một đấm vô mặt, giựt lấy cây súng rồi nổ luôn một phát vào thằng đương chèo. Đám lính bật dậy như lò-xo, anh Chín nổ luôn mấy phát nữa rồi đạp be ghe nhận chìm chiếc ghe, phóng luôn xuống nước. Mấy thằng còn sống lội như chuột. Mấy chiếc xuồng đằng sau bơi riết tới, anh Chín nghe tiếng chúng thét :
- Gì đó, thằng Việt cộng trốn hả?
Cả bầy lính nhao lên, kêu cứu chửi rủa. "Thằng Việt cộng yêu tinh, xỏ lá. Rồi đây trời vật mày!" Anh Chín nghĩ : "Mình bơi xuôi, thế nào nó cũng rượt kịp. Phải đương đầu sống chết với tụi nó mới được". Anh Chín bơi ngược về phía những chiếc xuồng đang bơi tới Chúng thét :
- Ai đó?
Anh Chín la :
- Tao đây! Thằng Việt cộng nhảy trốn rồi. Cho tao lên với.
Anh định nếu chúng đem xuồng lại vớt, anh tìm cách nhận chìm luôn. Nhưng chúng nói :
- Thôi, mày lội tấp vào bờ nghỉ đi, đợi xuồng sau. Để tụi tao bơi lẹ rượt nó.
Thế là anh Chín bơi vào bờ, thoát luôn.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #32 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2008, 04:50:51 PM »

Kể xong, Thanh cười nói :
- Ảnh giỏi, nhiều mưu trí lắm. Còn gan thì khỏi phải nói.
Thanh ngừng một chút rồi hạ thấp giọng :
- Tôi thì cũng tiến bộ, nhưng sao tôi vẫn tiếc là mình đã không được sống những ngày tháng đầy khó khăn gian khổ như anh Chín. Hồi sớm mai anh có nghe ảnh trình bày phương án trên sa bàn không? Ảnh nói thì lúng túng, ngượng ngập vậy đó. Nhưng nghe xong, ngẫm nghĩ mình thấy nó có cái gì vững vàng chắc chắn anh à. Con người lớn lên từ phong trào như ảnh thật như cây mầm phải chui qua nhiều lớp đất đá, đến chừng lên trên mặt đất gặp nắng gió nó trở nên cứng cáp chịu đựng hết thảy. Anh nghĩ coi tôi nói như vậy có đúng không?

Đơn vị bắt đầu hành quân.
Buổi chiều, trời mưa lấm tấm. Xa xa, bụi mưa đổ mù mịt xuống một thung lũng lớn, sương mù bốc lên, quyện với những tia sáng còn sót lại trên ngọn cây, tạo thành một vùng trắng đục như sữa. Những con chim hồng hoàng từ xa bay về, nghiêng nghiêng đôi cánh chao đi một vòng rồi đậu xuống mấy ngọn cây cao.
Con đường đất đỏ rộng, phẳng, chạy đổ xuống thung lũng rồi dựng đứng lên một ngọn đồi cao vút, từ xa trông những người đi đầu thấy họ như bám vào mặt đất mà leo. Những cái ba-lô bỗng lúc lắc, lúc lắc, lá ngụy trang rung rinh, rồi biến thành một vệt dài mất hút vào vườn cao-su trước mặt. Bụi mưa vẫn đổ càng lúc càng mù mịt. Không khí se lại, ướt át. Ánh mặt trời cuối cùng lóe lên một chút rồi chợt tắt phụt đi, bóng tối đổ xô đến vây lấy đoàn người, vướng vít lấy bước chân của họ.
Bụi mưa vẫn đổ, cùng với bóng tối.
Đương đi theo hàng, Thanh chợt bước chệch ra một bên rồi đưa tay kéo tôi ra :
- Mình để đại đội Một vượt lên xong rồi đi...

Tôi đứng qua một bên, giũ giũ tấm ni-lông rồi choàng phủ lên đầu, xuýt xoa. Trời càng lúc càng tối đen. Một vài ngọn đèn được đốt lên, rồi phút chốc chúng mọc lan rất nhanh thành một chuỗi dài trước mắt tôi, từng chiến sĩ lướt qua, loáng một cái qua ánh đèn dầu trong tay Thanh. Những cái nón sắt, nón nan, nón vải ướt nước mưa, những cái khăn choàng trùm lên gù gù bao quanh khuôn mặt rám nắng lẫn với bóng tối, trong đó hai con mắt như hai giọt nước sáng long lanh, trẻ con, ngơ ngác nhìn ngang nhìn ngửa rồi vụt biến đi.
- Nhanh lên một chút. Nhàn ơi! Chân đau lắm hả?
- Không sao!
- Cố gắng lên. Kỳ này mặc sức mà "mần" Mỹ nghe!
- Anh Hòa cho em mồi cái đèn. Mưa hoài thiệt là kỳ .

Đại đội pháo vượt lên. Đồng chí đại đội trưởng vấn cái khăn trên đầu to xù, mang thêm ở đâu một cái ba-lô trước ngực, đi cứ ưỡn người ra như anh lính đánh trống. Mấy đồng chí vác pháo chạy lúp xúp, thở phì phì. Trung đội trưởng Tài ngoái cổ lại nói với Hòa :
- Chút nữa thằng Sơn bỏ mạng rồi. Còn thuốc hút không?
- Còn. Sao vậy?
- Rớt xuống hố. Tưởng nó "đi" rồi chớ
Khẩu lệnh truyền ra sau :
- Nghỉ mươi phút. Cán bộ đại đội lên hội ý.

Anh Chín ngồi chồm hỗm, ngọn đèn dầu bằng chai "an-côn" để trước mặt. Các đại đội trưởng, chính trị viên đại đội ngồi chung quanh. Tiếng anh Chín chao đi trong gió :
- Trên đề nghị chúng ta tăng cường lãnh đạo tư tưởng anh em cho thật tốt. Những gian khổ, khó khăn sắp tới sẽ không lường trước được đâu. Có thể mình sẽ hành quân liên tục như vầy trong suốt tuần này. Ba ngày cuối cùng, cơm vắt, cơm giở. Nấu nướng không khéo thì ngày nổ súng phải ăn cơm thiu đấy. Trên đường về, mình còn có thể đánh những trận bất ngờ. Động viên anh em hãy đem hết sức mình. Nghị quyết của đảng ủy là kỳ này chúng ta phải "mần" cho gọn, dẫu tình huống có biến chuyển thế nào đi nữa cũng vậy. Thằng Mỹ đem quân ồ ạt, mình phải đánh phủ đầu nó mới được. Các đồng chí có ý kiến gì không?
- Báo cáo anh, anh em đại đội Hai đều hăng hái, quyết tâm cả.
- Đại đội Một kỳ này quyết đánh bạt tụi nó để lấy đường đi về.
Ánh đèn dầu lập lòe trên gương mặt những người ngồi chung quanh. Gió thổi hắt nước mưa lạnh buốt.
- Thằng Mỹ càng ngày càng làm dữ, hôm qua nó đã cho máy bay bắn vào ngoại thành Hà Nội. Nó tưởng máy bay, đại bác của nó áp đảo được tinh thần dân mình. Mình đánh trận này để tỏ cho nó biết. Thôi vậy, hén? Ờ, hồi nãy cậu nào rớt xuống hố?
- Thằng Sơn. Không sao, nó đi được rồi.
- Thật mình chưa thấy đất xứ nào trơn như đất xứ này. Mưa xuống một đám mà cứ y như trên ván thoa mỡ ấy.
Đại đội trưởng Út Khang bứt một chiếc lá vò nát trong tay rồi ném xuống đất, đứng dậy :
- Kỳ này không giết hết mấy thằng Mỹ này, tôi chết đa!

Tôi trở về chỗ Thanh. Bầu trời tối đen gầm gù không dứt. Thanh khum người xuống, choàng tấm ni-lông qua vai tôi rồi hai đứa cùng ngồi xuống. Đằng xa có tiếng anh Chín Danh dặn bảo các đại đội cái gì đó. Một bóng người hơi thấp đi về phía chúng tôi.
- Anh Hòa, chút nữa để em thay mang cái chân súng cho nghe!
- Thôi để anh mang. Chú lo giữ ba-lô của anh cho khỏi rớt là được. Đói bụng không?
- Đói.
- Tới chỗ, mình nấu cơm ăn. Chú cho anh xin điếu thuốc.

Rồi Hòa nghiêng đầu nhìn tôi mỉm cười :
- Anh nhà báo đó phải không?
- Dạ...
- Còn câu chuyện tình - Tôi hỏi.
- Chúng tôi thương nhau được hai năm, đến năm Sáu hai thì cô ấy bị máy bay bắn chết. Bây giờ rốt lại, tôi cũng chẳng còn ai thân thuộc. Thôi cứ lấy đơn vị làm gia đình vậy. Tôi nghiệm ra là mình ở lâu trong đơn vị, dẫu cho rày đây mai đó hoài, nó vẫn có một nguồn vui quyến rũ mình dữ lắm. Những đêm hành quân, những lúc nghỉ chân dụm năm dụm ba phì phèo điếu thuốc, hỏi dăm ba câu chuyện bâng quơ, những lúc đến nơi che ni-lông, chẻ củi nấu cơm nấu nước, những lúc nằm công sự theo dõi từng bước đi của thằng giặc chờ dịp nổ súng. Mỗi một ngày qua, mỗi một buổi sáng dậy là thấy có cái gì mới lạ đến với mình. Cuộc đời nghe cứ thay đổi, nở mãi thêm ra, càng ngày mình càng thấy yêu cuộc sống thêm lên. Cứ đi qua một làng nọ, một xóm nọ, thấy được đời sống của đồng bào mình thay đổi : một cây quít, cây cam được tăng thêm, một ngôi trường mới dựng lên, một con kinh mới đào, một em bé mặc một cái áo mới, mình mới thấy hết được ý nghĩa những ngày chiến đấu gian khổ của mình. Tôi nói thế có "văn chương" quá không anh nhà báo? Ấy, tôi nhờ tài ăn nói lưu loát vậy nên khó ai biết tôi dốt...

Cứ mỗi lần dự một trận chiến đấu, trong lòng tôi lại xúc động một cách kỳ lạ. Những lúc ấy đầu óc tôi dồi dào ý nghĩ hết sức. Chỉ trong có giây phút mà tôi nhớ lại không biết bao nhiêu chuyện sắp tới. Bao nhiêu ý nghĩ đến dồn dập, thôi thúc không cưỡng lại được, tự nhiên trong lòng thấy tràn trề tình yêu thương, thấy yêu mến hết mọi người, muốn bắt lấy hết những bàn tay thân thuộc, trẻ trung áp vào tay mình để nghe nhịp máu chảy sôi nổi, ấm áp.
Ôi những con người đang chiến đấu, sao mà họ giản dị, dễ thương quá! Tôi nằm nhìn một chiến sĩ đang ngồi dưới gốc cây. Anh trẻ măng, mái tóc xanh mướt rũ xuống trán, giáp mí với vùng chân mày rất đen và rất sắc. Đôi mắt mở to, trẻ con, nhìn vào đó là y như thấy một khoảng trời xanh. Một cái áo sơ mi và cái quần cụt đen, một cái nón vải lốm đốm những miếng dù nghi trang, một sợi nịt với mấy trái lựu đạn, một tấm ni-lông, một bi-đông nước với hai chữ U.S còn chưa phai, và một cây súng trường. Anh kẹp cây súng trường vào giữa hai bắp đùi tròn lẳn, buộc lại miếng vải đỏ trên nòng súng cho ngay ngắn rồi lấy miếng giẻ nhỏ thoa nhẹ nhàng trên thân súng, làm động tác như lau chùi nhưng kỳ thật là muốn vuốt ve cho sướng tay.

Tôi không biết lấy gì để ghi lại hình ảnh đẹp đẽ của người chiến sĩ lúc anh ôm súng xung phong. Khẩu lệnh từ trên truyền xuống: "Địch đổ quân đúng điểm C. Đơn vị 76... nhanh chóng vận động lên, đánh". Lá ngụy trang rung tít. Những nón sắt, nón nan, súng ống báng có chữ U.S đỏ chót, đạn, lựu đạn khua vào nhau, tiếng chân chạy thình thịch, những hơi thở nóng hổi, những câu trao đổi ngắn ngủi, vội vàng :
- Vỗ mặt cho thật mạnh, anh Chín hén! Tụi này, khóa đuôi kể như ngon thôi.
- Sang ơi, coi chừng rớt băng đạn. "Mần" giùm tao ít thằng Mỹ cho ngon, nghen!
- Nhớ, cứ thọc sâu vào, chia cắt chúng ra mà tiêu diệt.

Không khí nghiêm trang, hơi vội vàng, ồn ào một chút nhưng bình tĩnh, có suy tính. Chiến sĩ vượt lên thành hàng hai, hàng ba. Mấy cuộn dây điện từ sau phăng riết tới. Một cây đại liên chạy lên, chân đung đưa. Những trái cối nằm gọn trên vai. Máy bay trinh sát rà thấp xuống. Giạt vào, giạt vào, đừng có chạy giơ lưng ra như vậy! Lá ngụy trang đâu?
Đồng chí chiến sĩ trẻ tuổi vui vẻ đứng thẳng dậy, sửa lại nịt đạn, lá ngụy trang, hơi mỉm cười, nghiêng mặt nhìn lại phía sau một cái rồi bắt đầu vượt lên với đồng đội. Khẩu súng trong tay anh, dưới ánh nắng bỗng lóe lên sáng ngời.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #33 vào lúc: 24 Tháng Mười Một, 2008, 04:53:33 PM »

Trận địa đã bắt đầu nổ súng. Tôi cầm vội vàng mấy nhành lá ngụy trang rồi chạy lên với anh em. Đạn bắt đầu đan trên đầu. Máy bay phản lực, khu trục, trực thăng đổ xô đến như bầy ruồi, trút đạn. Đơn vị phía sau rẽ qua bên phải bọc hậu. Đạn cài trước mặt, bên hông. Những khẩu pháo được đưa lên, nặng oằn vai. Mấy cụm pháo bắt đầu nhả đạn, vây lấy máy bay địch.

Chiến sĩ ở sau tiếp tục chạy tới. Mấy chiếc trực thăng vẫn bám theo, bắn riết. Đạn đại liên nổ chậm rãi, lốp bốp đầy trời như ròng ròng ăn móng. Tôi bỗng thấy đồng chí chạy trước tôi xoay đi một vòng, rồi té xuống. Chúng tôi chạy đến, lấy nhanh những cuộn băng. Đồng chí chiến sĩ cắn răng nhìn xuống vết thương của mình.
- Đồng chí nằm lại đây! - Đồng chí chỉ huy ra lệnh.
- Tại sao tôi lại nằm đây? Tôi còn sức chiến đấu được mà.
Rồi anh vơ lấy súng tiếp tục chạy lên. Một giọt máu đọng ở thái dương chảy dài xuống cằm.

Anh Chín bận cái quần cụt đã rách toạc đi một miếng, cái khăn rằn vấn quanh đầu, chạy lúp xúp giữa đại đội trợ chiến, tay ôm ghì lấy ống điện thoại, thét :
- Húc mạnh vào! Đại đội anh Bảy Long vượt lên mau đi chứ!
Trung đội trưởng Hòa ôm tiểu liên chạy nhanh tới. Một trái cối nổ sát hất anh ngã ngang. Khói và bụi tan dần, lại thấy anh lồm cồm đứng dậy tiếp tục chạy nữa. Mấy chiến thương từ phía trước được đưa ra sau. Máy bay trực thăng vẫn bắn rát trên đầu. Bom rốc-két nổ bốp chát xung quanh.

Chúng tôi bám từng gốc cao-su vượt lên. Mùi thuốc súng thơm nồng, khói từ mấy quả bom đầu làm cay xé con mắt. Xa xa thấp thoáng mấy bộ đồ vàng của địch. Bất thình lình tôi thấy một cái nón nan, rồi những cái non nan nữa chuyền như những con sóc từ gốc cây này qua gốc cây nọ. Những tiếng súng nổ giòn và chắc, khói bay tỏa về phía sau.
- Xung phong!
Phía trước, địch hoàn toàn sụp đổ. Tiếng chửi rủa, tiếng rên la, kêu cứu inh ỏi. Kẻ địch không chịu nổi những mũi nhọn bằng thép lao tới như bão táp, vỡ tung ra, chạy toán loạn. Chiến sĩ ta bám theo, hút lấy kẻ địch. Đồng chí chiến sĩ trẻ tuổi bây giờ mắt đang đổ lửa, bàn tay anh nóng bỏng cầm lấy khẩu súng cũng nóng bỏng. Cứ mỗi lần họng súng trong tay anh giật một cái là tôi thấy anh khẽ nhếch mép, đôi mắt nheo nheo lại.

Một chiếc trực thăng rà thấp xuống. Tôi nhìn thấy thằng Mỹ đang quơ cây đại liên qua lại, hai mắt thao láo tìm kiếm. Một loạt đạn cày dọc theo hàng cao-su. Tôi nép mình vào sát gốc. Lúc tôi ngẩng lên thì gặp Thanh và tổ ba người vượt lên, tung mình nhảy từ gốc cao-su này qua gốc cao-su khác. Tôi bám chạy theo Thanh. Phía trước năm bảy cái áo vàng đang cúi lom khom chạy về bên phải. Thanh dừng lại ấn tôi vào một gốc cây, thét : "Anh nằm xuống đây, Tấn bắn che đi, nghe". Cây tiểu liên trong tay Tấn nhả đạn, bốc khói. Thanh băng đi như một mũi tên...

Lúc tôi lên đến nơi thì trận địa đã im tiếng súng. Thanh đang gỡ tay xác một tên lính lấy cây súng trường, yên lặng mở cơ bẩm, thổi bụi phù phù. Anh Chín từ xa đi lại, vẻ mặt mệt nhọc đứng chống nạnh nhìn chung quanh nói :
- Coi cho anh em lại đằng kia tải đạn về. Thôi, tập họp nhanh lên.
Trong lúc đó, từ một cái máy bộ đàm, phát ra cái giọng oang oang của một tên nào đó trên chiếc máy bay trinh sát : "Tiểu đoàn Gấu đen đâu, tiểu đoàn Gấu đen đâu?... Dưới ấy ra sao rồi?".

Anh Chín khẽ nhếch mép cười. Chúng tôi quay lại bước qua những cái xác chết của địch.
Đây không phải là lần đầu kẻ địch chạm trán với bộ đội ta. Nhưng cứ mỗi lần như thế, chúng lại thấy một cái gì kinh hoàng, khủng khiếp mà chúng không tưởng tượng được, một sức mạnh như sấm sét giáng xuống đầu chúng, quật ngã chúng.
Tôi đã nhìn thấy nỗi kinh hoàng đó trong đôi mắt của những tên tù binh.
Hỏi, chúng nói :
- Khủng khiếp quá! Cứ mỗi lần nghe tiếng nổ từ bên các anh là y như bên này có một cái xác nhảy dựng lên...
Quả thật là khủng khiếp cho chúng nó! Hôm đó, đứng giữa trận địa đầy xác chết của chúng, tôi nghĩ như vậy. Những cái thây nằm co quắp, những bộ mặt nhăn dúm lại trông thật là thảm hại. Tôi vội quay mặt đi để tránh cái cảm giác như đang nhìn thấy những cái xác ấy đang thối rữa ra, thối rữa nhanh chóng, giống như cái chế độ suy tàn của chúng.

*
*    *

Đơn vị rút ra khỏi trận địa rồi dừng lại. Giữa những tiếng lụp cụp, loảng xoảng của những cái đá, cúp xắn xuống đá, những tiếng bom nổ ì oàng ở xa, tôi bỗng nghe như một làn sóng xô vào từ ngoài xa, những tiếng lào xào làm nhấp nhô những cái nón nan, những cành lá ngụy trang chạy dài theo đội hình. Đồng chí ngồi kề tôi nhổm dậy hỏi chuyện ra trước :
- Cái gì vậy?
Đồng chí phía trước quay lại :
- Không biết. Nghe như có tiếng trẻ con.

Giữa tiếng súng nổ rời rạc, một giọng khóc trẻ con bỗng nổi lên nghe vui và dễ xúc động. Một đồng chí liên lạc chạy dọc theo bìa rừng, mặt mày đóng bụi, lủng lẳng bên hông một cục cơm to tướng.
- Con nít đâu khóc vậy, Hùng?
- Ở trong bót.
- Ủa, con lính hả?
- Con lính...

Chú liên lạc co giò chạy. Đồng chí chiến sĩ chồm dậy quát :
- Nè, chạy đâu? Nói cho tao nghe đã!
- Người ta gấp, cha nội à! Mấy thằng Mỹ chó đẻ, nó liệng bom hủy diệt chi khu, vợ con lính chết hàng đống trong đó. Anh em mình liều chết xông vào chỉ cứu được một ít thôi. Thằng nhỏ ngộ ghê...
Đến xế chiều hôm đó đơn vị rút lui. Cao-su hai bên đường bị máy bay bắn gãy đổ la liệt, mủ rớt lốm đốm xuống mặt đường. Chúng tôi leo qua những thân cây gãy nằm chắn ngang. Nắng chiều vẫn thản nhiên buông xuống những tia vàng hình rẻ quạt. Mọi người đều cố gắng bước mau nhưng không giấu nổi vẻ mệt nhọc. Quần áo ai nấy đều dính đầy bùn đất.

Đơn vị dừng lại nghỉ chân. Chúng tôi ngồi xuống vệ đường. Hòa duỗi hai chân, co ra co vô vài ba cái rồi ngã mình nằm ngửa xuống cỏ, hai tay gối dưới đầu, nói :
- Không có trận nào Mỹ khóc dữ như trận này. Tiên nhơn nó chớ, giỏi xâm lược mà cũng giỏi khóc!
Thanh nói :
- Lúc xung phong, đương chạy với thằng Châu, tôi bỗng nghe nó la "chết rồi!" rồi hai tay cứ rờ rờ quanh hông. Tưởng nó bị thương, tôi ôm nó kéo ngã xuống một bên. Ai ngờ coi lại là cậu ta làm rớt mất cục cơm...
- Nè, cậu không ném trái lựu đạn nào à?
- Lượm của nó ném trả lại còn không kịp... Chậm tay một chút là bỏ bà.
- Ôi, súng đạn nhiều vô kể.

Anh Chín từ phía sau chen đi lên, miếng quần rách được buộc lại bằng một sợi dây rừng. Nhiều tiếng cười nổi lên :
- Kỳ này ngon không anh Chín?
- Đói bụng quá anh Chín ơi!
- Được, được. Chú nào nhõng nhẽo đó?
Anh Chín đến chỗ tôi, dừng lại vui vẻ :
- Mệt không anh?
Tôi gật đầu cười. Anh ngồi xuống nói với Thanh :
- Cho anh xin miếng nước.
Uống xong, anh Chín đưa trả bi-dông nước cho Thanh, yên lặng nhìn đứa em một chút rồi quay sang nói với tôi :
- Đêm nay mà không mưa thì đỡ cực cho anh lắm.

Tôi nhìn lên bầu trời đầy mây đen. Phía trước chúng tôi một nhóm chiến sĩ tựu lại hút thuốc, nói chuyện :
- Tao thấy rõ thằng Tấn nó bắn một viên ngã hai thằng mày à. Thằng phía sau té ôm thằng phía trước .
- Cao-su nó trồng không những theo hàng dọc, hàng ngang, mà còn theo hàng xiên nữa. Cứ theo hàng mà tránh đạn là tốt.
- Chốc nữa tới chỗ, mình nấu cơm chiều nhiều một chút. Tao đói bụng lắm...
- Mệt! Bây giờ mới thấy mệt!

Chúng tôi đeo ba-lô lên vai, đi lên hàng đôi hàng ba. Một vài đồng chí lấy cơm khô ra nhai nhép nhép. Bầu trời như lát vàng một phía, vườn cao su cắt nét ngang một màu xanh thẳm, từ xa có thể trông thấy những con chim én như những chấm đen đang đảo liệng vòng qua vòng lại trên ngọn cây. Một bầy chim sẻ đang bay cuộn tròn như một cơn gió...
Một đoàn dân công đi ngược về phía chúng tôi. Năm bảy anh em dân tộc đi đầu, bận vẻn vẹn chỉ có một quần cụt, lưng trần đen bóng, gùi trên lưng, trên tay cầm một cái dao rừng sáng lấp lánh. Gặp chúng tôi các anh chỉ gật đầu cười hiền hậu. Một tốp các cô con gái mặc đồ đen, nịt thắt gọn gàng, đứng nép qua một bên mỉm cười ngượng nghịu nói lí nhí cái gì trong miệng mà tôi chỉ nghe được có mấy tiếng :
- Các anh về!

Một cô cúi khom người xuống, xốc bòng gạo lên cho đỡ mỏi. Tôi để ý thấy cái quai siết vào vai cô ta thành một vết hằn và cô ta hơi nhăn mặt đưa ngón tay cái chèn vào cho đỡ đau.
Đoàn bộ đội đi giữa hai hàng người. Giữa những cái bòng gạo làm nặng còng lưng, nhũng cái khăn phe phẩy quạt mồ hôi, những nụ cười nửa cởi mở, nửa rụt rè ngượng nghịu là những nòng pháo, những trái đạn oằn vai, những bước chân dài nện thình thịch, những câu nói đùa bóng gió vu vơ :
- Ôi người ta nặng, đứng mà nhìn à?
- Vậy chớ sao?
- Ờ làm sao ai biết...
Rồi nhiều tiếng cười khúc khích nổi lên.
Chúng tôi bước đi giữa những tiếng cười ấm áp,

11-1965
Trong tập Ngoài mặt trận
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #34 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 11:23:55 AM »

HỒ PHƯƠNG
CHÚNG TÔI Ở CỒN CỎ
(Trích)


I

Cồn Cỏ, hòn đảo nhỏ bé mà chúng tôi được vinh dự đem tất cả trí tuệ, mồ hôi và xương máu ra bảo vệ nổi lên ở ngoài khơi về phía bắc vĩ tuyến 17, xa đất liền trên hai mươi hải lý. Những ngày quang mây, đứng ở Vĩnh-Linh nhìn ra, người ta có thể nhìn thấy rõ một vệt xanh lam nổi lên ở đường chân trời. Có người nói : nom nó thật hệt một con hổ đang chồm trên mặt sóng. Nhưng cũng có người lại thấy giống như một chiến hạm đang neo ngoài biển lớn. Về phía chúng tôi, đứng trên bờ đá của đảo nhìn vào đất liền cũng có thể thấy vệt xanh sẫm của những rừng dương ở Cửa Tùng, và bãi cát trắng của Vĩnh-Linh; nom thấy cả một số nơi thuộc bờ Nam thân yêu của Tổ quốc, cùng với dải Trường Sơn màu tím nhạt, nhấp nhô chạy dài tít tắp đến tận cuối trời. Quê tôi ở Triệu Phong, bên kia giới tuyến. Đồng chí Chỉ, một cán bộ của đảo cũng có gia đình ở vùng đó. Cả hai chúng tôi vẫn thường gặp nhau ở bờ đá, trong những buổi chiều hòa bình, rỗi rãi trước đây cùng hướng vọng về phía Cùa, Ba Lòng mà ngồi hàng giờ lâu không muốn quay trở lại.

Đã có không ít đồng chí khi đặt chân tới Cồn Cỏ đều phải công nhận : "Mỗi phút đứng trên hòn đảo này là mỗi phút ruột gan mình như cháy bỏng lên trong niềm đau thương vì đất nước bị chia cắt. Mỗi phút đứng trên hòn đảo bốn bề sóng gió này là mỗi phút đầu óc mình phải thức tỉnh với một tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu thật mạnh mẽ".

Ở đây ngay từ buổi đầu tiên đặt chân lên đảo, tất cả chiến sĩ chúng tôi đều hiểu rằng : mình đã được Đảng và Quân đội phái tới một đồn tiền tiêu khá đặc biệt. Ở đây, biển cả bao la trước mặt chúng tôi đáng lý phải đem lại nhiều điều hứa hẹn tốt đẹp; nhưng chúng tôi đều thấy như nó chỉ sẽ đưa tới nhiều điều bất trắc. Cảm giác ấy quả không nhầm. Cũng ngay trong buổi đầu tiên ra đảo, từ phía đường chân trời xa đã thấy hiện ra hai mươi tàu biệt kích Mỹ. Chúng tiến lại và bao vây, uy hiếp đảo liên tiếp ba ngày, ba đêm liền. Sau đó là những chuyện bắt thuyền đánh cá của ta một cách trái phép, máy bay thám thính tới nhòm ngó, khiêu khích... đã diễn ra gần như liên tục.

Ở đây, cũng ngay trong đêm đầu tiên ngủ trên đảo lắng nghe qua tiếng sóng thấy khá rõ tiếng đại bác từ đồn Ba Dốc (ở bên kia giới tuyến) bắn về phía những làng mạc ở Gio Linh (cũng ở trong vùng tạm chiếm). Thế là suốt đêm ấy không sao ngủ được. Nhưng, sau đó ít lâu, chúng tôi lại mừng rỡ reo ầm lên vì nghe thấy có xen lẫn cả những tiếng liên thanh, mà chắc chắn đấy không phải chỉ là tiếng liên thanh của địch. Anh chị em ta ở trong ấy đã cầm súng đứng lên và ngày một trưởng thành... Đã một vài lần, trong những cơn bão lớn, một số thuyền "trong ấy" bị nạn. Chúng tôi đã cùng nhau cứu được tất cả bà con, cô bác. Và đó là tháng ngày thật đặc biệt ở trên đảo. Tất cả cán bộ, chiến sĩ chúng tôi đã cùng với bà con, cô bác chia sẻ mọi nỗi niềm tâm sự. Khi chia tay, cả hai bên đều nửa cười nửa khóc. Cười vì tin rằng ngày thắng lợi chung không còn xa lắm nữa. Khóc vì quá lưu luyến. Đã có người lấy một nắm đất trên đảo đem đi. - "Ôi, hình như đây mới thực sự là Đất nước của tôi! Các anh ơi, hiểu cho nỗi lòng của bà con ở trong ấy chứ?"

Có lẽ cũng vì thế, vì tất cả những đặc điểm nói trên, mà đời sống tinh thần và tình cảm của chúng tôi trên hòn đảo tiền tiêu đột xuất này luôn luôn như mặt biển nổi sóng, không một buổi nào yên. Trời, biển ở đây quả là không hề gợi lên một chút cảm giác nghỉ ngơi nào, mà trái lại luôn luôn như giục giã chúng tôi phải làm việc, làm việc gấp hai, gấp ba khi còn ở hậu phương của Tổ quốc.

*
*    *

Nhiều người cũng đã biết : Cồn Cỏ rất nhỏ, diện tích của nó không quá bốn cây số vuông. Nhỏ đến nỗi tưởng như con gà gáy to ở đầu đảo, cuối đảo cũng nghe thấy. Tuy nhiên, Cồn Cỏ không phải là một hòn đảo trơ trụi, không màu sắc. Dù nhỏ bé, Cồn Cỏ cũng có những vẻ riêng biệt của nó với những khu rừng đại ngàn, những ngọn đồi gianh rậm rạp lá cao gần lút đầu người, với những lớp san hô rất dày ăn lẫn vào đất, làm cho người ta có cảm giác : cả hòn đảo có lẽ là do những lớp san hô tự nghìn, triệu năm về trước đã kết tụ lại mà thành. Xung quanh đảo có những bờ đá đen, từng hòn từng tảng đồ sộ, sóng biển đánh lâu ngày đã nhẵn bóng như mài. Đứng ở những bờ đá đen ấy, lắng nghe tiếng sóng gầm, rồi trở vào rừng ngắm nhìn những cây đùng đình thân cao, vằn vèo như rắn, đầy những đốt, mọc bên những cây khoai đại lá to bằng nửa cái chiếu một, không mấy ai không có một cảm giác khá đặc biệt tưởng như được đứng trước một bức tranh vẽ cảnh trái đất hồi còn nguyên thủy. Rừng Cồn Cỏ còn có một thứ cây khác mà anh em chúng tôi đặt tên là cây “dầu máu”. Mỗi khi bị sây sát, nhựa cây chảy ra đỏ như máu người. Dầu máu cao to, gỗ cứng và nặng, thân thẳng, vỏ nhẵn như vỏ ổi, nom thật giống những chàng trai lực lưỡng, đầy khí phách.

Ngoài những loại cây khá lạ ấy, Cồn Cỏ còn có rất nhiều rắn, thứ rắn lục nhỏ, cắn không chết người, nhưng cũng làm cho vết thương sưng vù lên hàng tuần lễ. Trong hầu khắp các khe đá, các khu rừng, đâu đâu cũng có thể nhìn thấy những con mắt nhỏ tí đen láy, man rợ của chúng nhòm ngó, rình mò... Hồi anh em chiến sĩ ta mới ra đảo, đã có đêm rắn bò vào ngủ cả với người.

Nhưng không phải Cồn Cỏ chỉ có những thứ cây và loài vật hoang dại ấy. Cồn Cỏ còn có cả những rừng bàng đến mùa thu vàng rực cả một vùng, nom thật đẹp mắt. Anh em chiến sĩ thường hái lá đem về nhuộm áo. Có cả những rừng giâu gia, đến mùa hè, từng chùm chín đỏ, trĩu cành. Anh em lấy về từng bọc đầy, ăn chán không hết. Động vật trên Cồn Cỏ cũng không phải chỉ có rắn lục, mà còn có rất nhiều cua đá, những chú cua rất to, mai bằng bàn tay một. Chúng ở khắp các hốc đá, đêm đêm thường bò ra ăn. Đem thùng, đem bồ đi bắt về có khi được hàng gánh nặng. Những chú cua ấy thường làm cho lũ rắn lục phải kiềng sợ vì đôi càng mạnh mẽ của chúng. Cho tới về sau này, những chú cua ấy đã trở thành một nguồn thực phẩm hầu như vô tận cho chúng tôi trong những ngày chiến đấu liên miên, ác liệt. Chúng cũng đã trở thành nguồn cảm hứng cho đồng chí Cừ - một cán bộ, đồng thời là một nhạc sĩ nghiệp dư của đảo - sáng tác nên bài "Con cá đua" (có nghĩa là con cua đá) được anh em chiến sĩ rất thích. Nói tới thực phẩm, cũng cần phải nói ngay tới hải sâm. Quanh đảo có rất nhiều thứ hải sản rất quý, rất bổ ấy. Trắng có, đen có, con nào cũng to bằng ngón chân cái, dài tới hai mươi phân. Ở các bờ đá còn có cả những chú ốc nón, cạo đem về luộc ăn rất ngọt. Đó là không nói tới rất nhiều thứ cá biển, mùa nào loại ấy, tha hồ mà chài, lưới. Có thứ cá chỉ riêng cái thủ, cả một phân đội ăn một bừa vẫn thừa...

Trên đảo còn có những loại chim quen thuộc ở đất liền và những loài chim rất dễ đánh bạn với người. Mùa hè, chim cu cườm gáy loạn rừng, làm cho nhiều chiến sĩ ta trưa trưa thường không ngủ được vì nghe tiếng chim lại chạnh nhớ đến quê nhà. Khi gió mùa đông bắc thổi, chim én thường bay về làm tổ. Những đêm mưa, nằm nghe tiếng én lào xào ngoài mái hiên, cứ tưởng như có người lạ đứng trú nhờ.

Và giống như nhiều nơi khác trên đất nước, Cồn Cỏ cũng có một lịch sử “riêng” của nó, tuy chưa được ai ghi lại đầy đủ, tỉ mỉ. Nghe nói ngày xưa, đời nhà Trần, cũng có người ra tới đây. Nhưng đó là những người tội phạm của triều đình vì đã "nổi loạn" hoặc "chống lại nhà vua". Cho tới thời Pháp thuộc, bọn thực dân cũng đã có một thời gian dùng Cồn Cỏ làm nơi an trí các nhà hoạt động chính trị yêu nước. Ra tới đảo, những lớp chiến sĩ đầu tiên của chúng tôi, đi sâu vào những khu rừng già, đã tìm thấy trên những thân cây dầu máu có khắc những dòng chữ : Việt Nam độc lập vạn tuế nét vẫn còn khá rõ. Khi ra tới bờ đá, nơi có thể nhìn vào trong đất liền, một chiến sĩ lại tìm thấy mấy chữ “Bến sầu” cũng khắc sâu vào trong đá. Chắc hẳn ở chốn này, khi xưa những người yêu nước của chúng ta vẫn thường ra ngồi để tưởng vọng về quê nhà với tất cả những niềm đau, nỗi nhớ. Ở một góc đảo còn có một ngôi miếu đã đổ nát, không rõ ai xây và xây dựng tự bao giờ. Ở dưới chân miếu có một cái giếng, cỏ đã mọc đầy; vét lên thấy hai chiếc sọ người cùng mấy chiếc xiềng đã gỉ nát. Ngoài ra, các chiến sĩ còn nhặt được một lưỡi kiếm to bản, dài tới tám mươi phân. Lưỡi kiếm ấy cũng đã hoen gỉ hoàn toàn... Những chiếc sọ ấy là sọ ai? Những chiếc xiềng kia đã trói chặt tay ai? Và lưỡi kiếm kia ai đã dùng? Tất cả chúng tôi không khỏi bồi hồi xúc động. Hôm nay ra đảo, tay chúng tôi không còn bị xiềng chặt như các người xưa kia nữa. Tổ quốc của chúng ta đã chiến thắng! Nhân dân ta đã chiến thắng! Hôm nay chúng tôi ra đảo với tư cách là những người chủ, những người đã chiến thắng. Và hôm nay chúng tôi ra đảo chẳng còn phải để “an trí” hoặc “phát vãng” mà chính là để biến cái nơi trước đây là nhà tù của phong kiến, đế quốc thành tiền đồn, thành pháo đài chống Mỹ, bảo vệ Tổ quốc.
« Sửa lần cuối: 25 Tháng Mười Một, 2008, 11:29:18 AM gửi bởi hoi_ls » Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #35 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 11:28:33 AM »

*
*    *

Những lớp chiến sĩ đầu tiên ra đảo đã tốn biết bao công sức để cải tạo hòn đảo này. Có những quyển nhật ký của đơn vị và một số cá nhân để lại đảo, đã ghi lại biết bao chuyện gian nan trong những ngày đầu tiên khai phá. Nào mưa gió, bão bùng, nào những ngày hè nóng như thiêu như đốt, nào rắn, nào muỗi, nào đói, nào bệnh... nếu không thật hiểu sâu sắc ý nghĩa công việc mình làm, nếu không có một lòng yêu nước nồng nàn, có lẽ khó có ai có thể hăng hái mà vượt qua được bấy nhiêu trở lực.

Những mái ngói đỏ tươi đã lần lượt hiện lên cùng với những vườn hoa xinh xắn, những con đường ngang dọc, những sân bóng phẳng phiu, những chuồng chim, chuồng lợn, chuồng bò... cùng với những vườn rau xanh tốt, gần như quanh năm mùa nào thức ấy. Cuộc sống từ đất liền đã được san sẻ ra tới đây và mỗi ngày một thêm phát triển. Các chiến sĩ đã đặt tên cho nhiều khu vực ở trên đảo : khu Hà Nội, khu Hà Đông, Sơn Tây, khu Bến Tre, khu Sài Gòn, Huế... Và cái “Bến sầu” trước đây cũng đã có một tên mới thích hợp hơn : "Bến vui". Ở cái Bến vui ấy vào những buổi chiều, những đêm trăng, các chiến sĩ ta thường kéo ra rất đông. Cũng ngóng nhìn về đất liền, nhưng không phải là để rầu rĩ, xót thương, mà để ca hát, đàn sáo vui vẻ. Không phải bây giờ các chiến sĩ ta không biết nhớ quê nhà, nhưng chính vì hiểu được ý nghĩa vinh quang của nhiệm vụ mình ở nơi tiền tiêu này nên anh em đã yêu đảo như một quê hương thứ hai của mình.

Lớp chiến sĩ vinh quang đầu tiên ra đảo kiến thiết đã trở về đất liền gần hết. Anh em chúng tôi hiện nay là những lớp người ra kế tiếp. Đội ngũ của chúng tôi rất trẻ, tuổi trung bình của chiến sĩ là mười chín, hai mươi, tâm hồn thật tươi sáng và tinh thần thật khỏe khoắn. Bất cứ ai ra đảo đều bị cuốn ngay vào cái không khí sinh hoạt, lao động, chiến đấu thật lạc quan và mạnh mẽ của anh em. Tiếng cười luôn luôn vang rộn. Chạy, nhảy, vật..., những chàng trai mười chín, đôi mươi ấy suốt ngày làm việc và nô đùa không biết mệt. Bác sĩ Lê, một cán bộ đã đứng tuổi, có phần hơi đạo mạo, khi ra đảo được ít ngày cũng đã phải "trẻ" lại với những chàng trai tinh nghịch và đầy sức sống ấy. Anh cũng xông vào các cuộc vui chơi, các công việc học tập, lao động, hăng hái không thua kém bất cứ một người nào...

Trình độ kiến thức của anh em giờ đây cũng khác với những lớp người đã lớn tuổi như chúng tôi hồi mới vào bộ đội trước đây. Còn nhớ, ngày đầu tiên ra đảo tôi gặp một chiến sĩ đang xoay trần hì hục đào đá ở một cửa hầm, mặt mũi rất chất phác nói một cách "văn vẻ" là : toàn thân cậu ta như còn toát ra mùi ruộng đất. Khi hỏi đã học tới lớp mấy, thì anh chỉ nhoẻn cười không đáp. Gặng mãi, anh mới nói thật là : "làm giáo viên cấp ba!". Và sau đó, khi đã quen nhau hơn, tôi mới hiểu rõ : anh rất mê những tác phẩm cổ điển cũng như hiện đại của các nhà văn, nhà thơ có tên tuổi trong và ngoài nước.

Một trường hợp khác : có bữa ngồi với mấy chiến sĩ thông tin, hóa học, cũng là những thanh niên nông thôn rất hồn nhiên, giản dị, chỉ một lúc sau, tôi đã được nghe anh em nói không những rất thông thạo về cách đặt dây khoai, hom mía, cách chọn lúa giống, cách ủ các loại phân chuồng, phân xanh; mà còn nói được khá dễ hiểu về các vấn đề viễn thông vũ trụ và nguyên tử... Lẽ cố nhiên không phải phần lớn anh em chiến sĩ trên đảo đều có trình độ văn hóa khá cả. Lớp 3, lớp 4 vẫn còn. Nhưng rõ ràng là tầm kiến thức của anh em không phải chỉ đóng khung trong những chương trình ở lớp học. Từ ngày xây dựng xã hội chủ nghĩa cho tới nay, toàn dân ta, trong đó có những anh em thanh niên này, đã được hấp thụ nhiều điều mới mẻ. Trí óc và tầm mắt của anh em đã được mở rộng ra không ngừng qua biết bao cuộc học tập chính trị, thời sự, và những cuộc tiếp xúc thưởng thức văn học, nghệ thuật trong nước ngoài nước. Anh em cũng thường được nghe phổ biến khoa học, kỹ thuật và được trải qua không ít cuộc vận động cải tiến quản lý kinh tế ở nông thôn cũng như ở thành phố. Vì thế, ở đảo có cả những thanh niên rất tài hoa, chẳng khác gì những nhà nghệ sĩ hoặc những kỹ thuật viên đã được đào tạo trong các nhà trường chuyên nghiệp.

Lê Ngọc Vân, cây súng máy cừ khôi nhưng đồng thời lại là một "nghệ sĩ nhào lộn có tiếng" của đảo. Trong buổi liên hoan nào mà Lê Ngọc Vân trình diễn tiết mục nhảy qua vòng lửa thì thật là rôm rả.

Pháo thủ Lâm Văn Hiếu, cũng một tay súng giỏi nhưng đồng thời lại là một nhạc sĩ nghiệp dư, một tổ viên đắc lực của câu lạc bộ đảo. Không một ai không mê cây sáo trúc và cây đàn bầu của anh. Đáng chú ý là cây đàn bầu ấy đã do chính bàn tay khéo léo của Hiếu tự chế lấy bằng các vỏ hộp đạn và cành tre nhặt nhạnh ở trên đảo. Bùi Thanh Phong, một chiến sĩ trẻ phơi phới tuổi thanh xuân, cũng là một pháo thủ giỏi đồng thời là một trung phong cứng của đội bóng thanh niên trên đảo. Phong lại còn là một người rất thích nuôi chó. Bầy chó ở trên đảo rất quyến luyến anh. Có một lần, trong một đêm mưa rét, con Sao Sa - một con chó cái rất mắn đẻ - càm về hai con chó nhách đã lả đi vì rét và đói. Bùi Thanh Phong thương chúng quá. Anh cùng với Đinh Kinh, một chiến sĩ ưu tú của đảo nhóm lửa sưởi rồi hì hụi nấu cháo cho chúng. Hai người đã thay nhau chăm sóc lũ chó nhách ấy cho đến khi chúng khỏe khoắn và lớn lên thư thổi.

Nguyễn Văn Thiêm là một chiến sĩ quan trắc; nhưng với một tinh thần hăng say và óc tháo vát, anh đã tự động mày mò tìm hiểu, học cách sử dụng và sửa chữa được khá nhiều thứ vũ khí khác nhau; đến nỗi quân khí viên Nguyễn Đức Báu, một người về sau này đã nổi danh là "kỹ sư chưa qua trường học" đã phải ngạc nhiên và coi Thiêm như người thay thế số I của mình, mặc dầu Thiêm không hề ở tổ quân khí lấy một ngày.
Nghị, chiến sĩ bắn súng máy vào loại "cứng", có thể soi gương tự cắt tóc cho mình trông cũng khá gọn mắt. Với cái tài ấy, anh đã phục vụ rất đắc lực cho cả đơn vị. Ngoài ra, anh xạ thủ cao lớn, hiền lành đó được toàn đảo liệt vào hàng ngũ những cây đơn ca và ngâm thơ có nhiều triển vọng. Phương, Tràng, Bường... các chiến sĩ thông tin, mỗi anh cũng đều có một "tài mọn". Tràng chơi đàn, Phương vẽ, Bường hát. Cả ba cũng đã đóng góp tích cực trong công tác câu lạc bộ chung của chúng tôi.

Còn có thể kể ra đây nhiều người hơn nữa, vì hầu như tất cả cán bộ, chiến sĩ trên đảo người nào cũng có những nét đặc sắc riêng trong cá tính, tâm hồn và những khả năng phong phú, chỉ có khác ở người này những sắc thái và khả năng ấy bộc lộ ra rất dễ nhận thấy, còn ở người khác thì tất cả những cái đó lại lẩn kín vào bên trong, chỉ có lúc nào đó mới phát lộ ra, và khi ấy mới thấy rằng: các chiến sĩ ta, cán bộ ta quả là ai ai cũng đều tết đẹp như hoa mùa xuân, tất cả đều xứng đáng là những người con yêu quý của Tổ quốc, của Đảng.

Tâm hồn, trình độ, nói chung gần nhau như vậy, thêm nữa lại cùng chung nhiệm vụ ở trên hòn đảo tiền tiêu đột xuất này, cho nên tất cả chúng tôi đều rất thân nhau, yêu quý nhau vô hạn. Nói một cách khác : nhiệm vụ đặc biệt, trên hòn đảo tiền tiêu này, cùng với tất cả những sự gần gũi về tâm hồn, cá tính, trình độ, đã gắn chặt chúng tôi lại thành một tập thể keo sơn trong một mối tình đồng đội, đồng chí thiêng liêng chẳng khác gì một tập thể thủy thủ trên một con tàu biển. Chúng tôi biết: mỗi người chúng tôi là một thành viên không thể thiếu trong cái tập thể được tổ chức rất chặt chẽ này. Ở đây, chúng tôi phải cánh sát cánh với nhau và thương yêu nhau, tin tưởng nhau hơn lúc nào hết; có như thế chúng tôi mới có thể đứng vừng ở nơi "đầu sóng ngọn gió", và mới có thể chiến thắng được mọi kẻ thù.


II

Ngày 5 tháng 8. Một ngày không sao quên của nhân dân toàn quốc ta; Bọn Mỹ đã ngang nhiên dùng không quân đánh phá một số địa điểm của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến tranh trên phạm vi toàn quốc cũng coi như bắt đầu từ đấy. Ở Cồn Cỏ, chúng tôi đã sống trong tháng ngày thật sôi sục. Tập họp dưới ngọn cờ, tất cả anh em chúng tôi cùng thét lên át cả tiếng sóng biển : "Đả đảo đế quốc Mỹ xâm lược!", “Phải trừng trị đích đáng bọn Mỹ xâm lược!” Chúng tôi gửi về đất liền lời chào mừng những chiến công đầu oanh hệt của Quảng Ninh, Lạch Trường, Bến Thủy, sông Gianh... chào mừng riêng chiến công vẻ vang của các bạn hải quân Việt Nam trẻ tuổi anh hùng.

Ngày 5 tháng 8! Không sao quên được! Những trái bom của giặc Mỹ và tay sai đã trút xuống. Những làn khói đen đã cuồn cuộn bốc lên cùng với những đám cháy ở nơi này nơi khác. Bầu trời hòa bình của miền Bắc xã hội chủ nghĩa bắt đầu nhuốm khói lửa từ hôm ấy. Lịch sử đã mở sang một trang mới. Trên đảo, Đảng ủy nhóm họp và đã nói cho các cán bộ, chiến sĩ rõ : Từ hôm nay chúng ta bắt đầu chuyển sang thời kỳ chiến đấu thực sự...

Những ngày hòa bình ở miền Bắc thế là đã chấm dứt.
Lệnh báo động được ban bố. Toàn đảo chuẩn bị gấp rút mọi mặt, nhất là về mặt hầm hố, công sự và sơ tán đội hình...

Hàng năm, cứ đến ngày mồng 8 tháng 8 là chúng tôi mở hội. "Ngày sinh của đảo". Năm nay, vì đất nước đã có ngày mồng 5 tháng 8, nên, mặc dầu vẫn chuẩn bị liên hoan như thường lệ, chúng tôi vẫn sẵn sàng chiến đấu. Nhưng có điều đặc biệt là trong ngày kỷ niệm long trọng này, thâm tâm từng người chúng tôi ai ai cũng muốn, nếu bọn Mỹ dẫn xác tới đây, quyết sẽ đánh cho chúng rơi rụng tơi bời, lập thành tích để vừa ăn mừng đảo, vừa góp phần trả thù cho đồng bào trong đất liền.

Thật là "cầu được ước thấy". Đúng buổi sáng hôm đó máy bay của bọn Mỹ kéo tới, cứ hai chiếc một, lượn vòng quanh đảo, hết ngoài xa lại vào gần, chúng có ý muốn thăm dò "gân cốt" của Cồn Cỏ.
Tiếng động cơ phản lực rú hét liên hồi như "loa như quỷ". Nhưng không có một ai hoảng sợ trước cái thuật "tác động tinh thần" của chúng.
Những nòng pháo quay loang loáng dưới ánh nắng chói chang.
- Trời! Tụi nó dát như cáy thế kìa! Vào đi! Vào nữa đi xem nào! - Những anh chiến sĩ bồng bột, nóng nảy đều kêu lên, làm cho những đồng chí chỉ huy phải ra lệnh "Im lặng để theo dõi địch".
Đếm tới vòng thứ mười một, chiến sĩ Ngụ đã nản :
- Thôi, thế là có lẽ chúng chỉ tới biểu diễn để chào mừng sinh nhật đảo rồi về cũng lên!

Nhưng không, tiếp đến vòng sau, hai chiếc phản lực bắt đầu lao vào sát đảo, rất thấp, chỉ trên nghìn mét. Lập tức, khẩu đội của Ngụ cùng các khẩu đội bạn nổ vang. Từng bó lửa đạn tung vút lên không, phóng rất trúng vào đầu chiếc phản lực thứ nhất. Tất cả mọi việc chỉ xảy ra trong chớp mắt. Chiếc máy bay kẻ cướp ấy bốc cháy, lảo đảo quay ngoắt trở ra. Nó bay xa dần, kéo theo sau một dải khói đen kịt, rồi như một con muỗi mắt, nó rơi tụt xuống biển cách đảo trên mười hải lý. Chiếc phản lực thứ hai không dám đánh nữa. Nó bay đuổi theo chiếc máy bay bị cháy rồi cứ lượn vòng mãi ở nơi tên bạn của nó vừa đâm đầu xuống.

Ngay chiều hôm ấy, điện từ trong đất liền gửi ra cho biết : Bộ Tổng tư lệnh đã quyết định tặng thưởng cho Cồn Cỏ Huân chương Chiến công hạng nhất, đồng thời trung đoàn, Quân khu cũng đã đề nghị lên trên xét duyệt cho Cồn Cỏ danh hiệu “Đơn vị quyết thắng”. Toàn đảo tưng bừng, phấn khởi. Đồng chí chính trị viên lập tức thành lập một đội múa lân và cho anh em ráo riết tập văn nghệ để đón Huân chương. Những “nhân vật tài hoa” trên đảo lại được dịp trổ hết khả năng để trang hoàng doanh trại, làm bích báo, vẽ đầu lân, huấn luyện bài hát mới, dựng hoạt cảnh...

Nhưng, rồi cái chương trình vui ấy không có dịp nào thực hiện được nữa, vì ngày hôm sau, bọn Mỹ không ngừng cho tàu chiến tới bao vây, uy hiếp. Đêm nào cũng nghe thấy tiếng máy rù rù ở ngoài xa. Rồi những ánh đèn lấp lóe lúc ẩn lúc hiện ở trên những lớp sóng cồn cào, đen sẫm.

Công việc chiến đấu của chúng tôi do đó càng thêm khẩn trương hơn. Trước đây cũng đã có cuộc vận động thanh niên xây dựng "chi đoàn thép". Sau đó Đảng uỷ đảo phát động tiếp một đợt thi đua giành danh hiệu "chiến sĩ 5-8", "đơn vị 5-8". Sang cuối tháng 10, một phong trào mới lại được đề ra : Phong trào "Giành danh hiệu đoàn viên Nguyễn Văn Trỗi". Nội dung chủ yếu của các cuộc vận động là tăng cường củng cố công sự, trận địa, mài sắc tinh thần cảnh giác, chuẩn bị đầy đủ để sẵn sàng có thể chiến đấu bất cứ ngày đêm, bất cứ với lực lượng nào của quân thù.

Mọi chủ trương của Đảng bộ đã thấm sâu dần xuống anh em chiến sĩ và đã trở thành những sức mạnh vật chất thật sự. Những con số thi nhau nhảy lên vùn vụt. Những kỷ lục luôn luôn bị phá vỡ. Có chiến sĩ trước đây mỗi ngày chỉ đào được ngót một mét khối đất hoặc hơn thế chút ít, nhưng trong đợt thi đua mới, chính những chiến sĩ ấy đã nêu lên những kỷ lục không nhỏ : tám mét khối trong ngày. Người đào kém nhất trong đơn vị cũng đạt sáu mét khối. Khẩu hiệu “đổ mồ hôi đỡ tốn máu” được lan rộng trên khắp các khu vực, các trận địa. Các chi đoàn, với cái nếp quen thuộc cũ, luôn luôn mở những cuộc tranh luận sôi nổi trên diễn đàn về các biện pháp nâng cao năng suất, và việc tổ chức chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu sao cho thật tốt để tiêu diệt máy bay Mỹ nhanh hơn, gọn hơn và nhiều hơn trận mồng 8 tháng 8.

Bước sang tháng 11, ở đất liền đã chớm lạnh, nhưng ở đây biển vẫn giữ được hơi ẩm. Công việc chuẩn bị chiến đấu của chúng tôi vẫn tiếp tục tiến hành với một nhịp điệu đều đặn, và những nếp sống mới mẻ trong chiến đấu trên đảo đã trở nên bình thường. Chúng tôi đã quá quen với những chuyện tàu địch rình mò, hăm dọa...

Buổi chiều ngày 25, đồng chí Chỉ, như thường lệ, đi kiểm tra các kho gạo, thấy có chuột bèn dắt bầy chó đi. Bầy chó đã được huấn luyện, tinh khôn như chó săn. Chỉ một lúc sau, đồng chí đã trở về vui vẻ tuyên bố : "tiêu diệt được hai mươi tên". Tới khi buông màn đi ngủ, anh vẫn còn say sưa mãi với cuộc “vây lùng” rất mưu mẹo của mình và khen mãi con Sao Sa rất dũng cảm, tinh khôn và hai con chó con bụ bẫm mà Đinh Kinh và Bùi Thanh Phong đã chăm bẵm cũng rất hăng hái. Tuy vậy, trước khi đi ngủ, anh và đồng chí chỉ huy trưởng đã không quên nhắc nhở các đơn vị tăng cường tuần tra cảnh giới vì đã có những triệu chứng khang khác, không thể coi thường. Mấy hôm nay biển động dữ, sóng ầm ầm suốt ngày đêm. Ở chân trời thấy xuất hiện những dấu vết khả nghi. Máy bay trinh sát của địch đã lướt qua đảo mấy lần. Lúc xẩm tối, các đài quan sát lại báo cáo về : ở hướng đông nam có một đèn xanh; hướng đông bắc, hai đèn đỏ; phía tây cũng có vệt sáng. Mà hẳn hoi đó chẳng phải là đèn, là vệt sáng của đồng bào chài lưới. Đảng ủy phán đoán : Đêm nay dịch sẽ hoạt động mạnh.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #36 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 01:33:24 PM »

Khoảng 12 giờ khuya, sau khi đã làm nốt một số công việc, tôi tắt đèn đi ngủ, vừa mới chợp mắt được một lúc, bỗng nghe thấy tiếng nổ đùng đùng. Mọi người đều bật trở dậy. Tôi cũng vội nhào ra cửa. Cả bầu trời đã sáng lòa dưới ánh đèn dù, pháo sáng. Đạn địch từng luồng đỏ lừ đan ngang đan dọc. Sáng quá sáng đến nỗi nhìn xuống mặt đất thấy cả những chú kiến đang chạy lăng xăng. Địch bắn dồn dập. Có đủ các cỡ đạn 105 ly, 75 ly, 20 ly, 81 ly... Tôi ra chỗ cột cờ để cùng hội ý với các đồng chí chỉ huy, quan sát. Cách đấy không xa, một chuồng lợn đang bốc cháy. Những chú lợn béo mụ của chúng tôi đang phóng ra khỏi chuồng, lao bạt vào các khu rừng bên cạnh. Nhìn ra biển chỉ thấy đen kịt và chỉ nghe thấy tiếng tàu địch rù rù lẫn trong tiếng sóng. Đảng ủy ra chỉ thị : Cứ phục sẵn, chờ thời cơ thuận lợi sẽ giáng trả lại chúng những đòn quyết liệt như kế hoạch đã định. Có phương hướng rồi, tất cả chúng tôi tỏa nhanh đi từng trận địa, từng khu vực để phổ biến cho các cán bộ, chiến sĩ.

Toàn đảo thật là bình tĩnh, mặc cho những khẩu pháo của chiến hạm địch vẫn nhao nhao sủa. Trên vị trí của mình, một đồng chí vừa quan sát vừa làu bàu chửi bọn Giôn-xơn nhát như cáy. Một chiến sĩ thông tin nói vui với đồng chí Chỉ :
- Mai chúng tôi sẽ tha hồ được vớt cá! Bọn Mỹ bắn "tài" lắm, xem ra "trúng" biển khá nhiều đấy, thủ trưởng ạ!

Trận tập kích pháo hèn hạ của lũ giặc Mỹ chỉ kéo dài thêm vài chục phút rồi chấm dứt. Hèn hạ đến nỗi lúc rút lui, những chiếc tàu ăn cướp ấy phải tắt máy cho trôi đi, tránh không để chúng tôi theo dõi tiếng động của chúng. Mấy đám cháy nhỏ đã tắt. Kiểm điểm lại : sự thiệt hại của đảo không có gì ngoài một chuồng lợn, mấy chuồng gà, vài vườn rau bị thiêu hủy và một chiến sĩ công binh bị sây sát chút ít vì mảnh gạch đá văng phải. Đêm trở lại yên tĩnh. Khi đặt mình xuống giường lại chỉ nghe thấy tiếng sóng biển ì ầm vang vọng bốn chung quanh đảo, và tiếng chân những chú cua đá bò ra ăn đêm lại lạo xạo xa gần. Cái tiếng êm ái và thân thuộc ấy cho mãi về sau này, khi cuộc chiến đấu trở nên rất tàn khốc ở trên đảo, vẫn không hề mất đi, mà đêm đêm vẫn nổi lên như muốn nhắc nhủ chúng tôi rằng cuộc sống ở trên hòn đảo này là bất diệt, không có một sức mạnh tàn phá nào hủy diệt nổi.

Trận tập kích bằng pháo hạm của địch quả thật không những đã không gây cho chúng tôi những thiệt hại gì đáng kể, trái lại chúng tôi đã rút được nhiều kinh nghiệm bổ ích vì cũng coi đó là một cuộc “tập dượt”. Qua cuộc "tập dượt" ấy, chúng tôi đã bổ sung được thêm một số vấn đề cần thiết trong công tác tư tưởng và trong kế hoạch quân sự trên đảo. Ấy là chưa kể tới số cá chết nổi trắng xóa trên mặt biển mà đồng chí thông tin đã nói với đồng chí Chỉ trong đêm trước : "Bọn Mỹ bắn trúng biển khá nhiều đấy!".

Liên tiếp từ đó cho tới Tết Nguyên đán, bọn tàu chiến Mỹ lại mò đến sáu lần nữa. Cả sáu lần, chúng đều ồ ạt bắn phá trong vài chục phút rồi lại rút chạy. Nhưng dù sao cũng phải nói tới lần tập kích thứ sáu của chúng! Ấy là đêm ba mươi Tết, cái đêm trừ tịch theo phong tục cổ truyền đẹp đẽ của dân tộc ta.
Mặc dầu cuộc sống của chúng tôi đã chuyển thực sự sang thời kỳ chiến tranh từ lâu rồi, nhưng Tết đến, chúng tôi vẫn muốn trong một chừng mực nào đó cố gắng duy trì, tổ chức những cuộc vui chơi đầm ấm cho chiến sĩ. Nhà câu lạc bộ, doanh trại đã được quét dọn, trang hoàng từ những ngày hai mươi tám, hai mươi chín âm lịch. Phương, anh chiến sĩ thông tin, phó chủ tịch hội đồng quân nhân vừa chững chạc vừa tài hoa đã tốn khá nhiều công sức để vẽ những bức tranh xuân có đủ cành đào, hoa cúc, pháo nổ.

Hướng, một cán bộ trẻ tuổi mới trưởng thành từ lớp nghĩa vụ 1958 lên, say sưa làm một cây hoa giấy để tổ chức trò “hái hoa năm mới”. Áp cũng một cán bộ trẻ, đầy nhiệt tình và nhiều triển vọng, xung phong nhận tổ chức các trò câu cá, ném vòng ăn giải. Các nhà bếp thì nhộn nhịp mổ lợn, gói bánh, giã giò. Tiếng dao tiếng thớt khua rộn rã suốt ngày không ngớt. Anh em đã đem hết tâm hồn mình ra để làm việc. Hình như càng căm thằng Mỹ, anh em càng làm việc thật hăng để cho chúng biết : "Bọn tao vẫn đàng hoàng ăn Tết đây, không sao cả!".

Đêm ba mươi. Bầu trời ngoài biển hình như không tối bằng trong đất liền. Không có mùi khói pháo. Không có một tiếng khánh đất rung reng trong gió, nhưng trái tim chúng tôi cũng vẫn thấy êm dịu trong những cảm giác phơi phới, nhẹ nhàng và đầm ấm. Chúng tôi đem những bộ quần áo đẹp nhất ra mặc. Các phòng họp đều sáng trưng ánh đèn. Các đồng chí cán bộ, chiến sĩ thay nhau lên chúc tụng năm mới, rồi cùng ca hát và tham gia các trò vui. Anh em cười bò ra, hết sức thú vị khi tới trò hái hoa, hai đồng chí Phúc và Sen (hai cán bộ của đảo) phải đút kẹo cho nhau ăn, nom ngộ nghĩnh như hai cô bé. Tới khi đồng chí Cừu, một cán bộ, và pháo thủ Xiểu bò ra làm bạch tuộc; người bò ngang, người thách dọc, chân tay lều nghều, cũng không một ai nín được cười. Thấy anh em vui, lòng tôi càng dào dạt niềm sung sướng. Tôi hiểu : có được niềm vui giòn giã như thế này không phải dễ. Đừng có ai nghĩ các chiến sĩ ta trẻ tuổi, hồn nhiên nên niềm vui cũng đơn giản. Tôi biết có anh lúc trời vừa xẩm tối còn ngồi cúi đầu im lặng rất lâu trước trang nhật ký, nhưng khi bước qua ngưỡng cửa vào trong phòng họp, gương mặt lại trở nên tươi tắn như thường. Anh em đều biết chia sẻ và cùng đóng góp những niềm vui chung, vì ai ai cũng hiểu niềm vui ấy cũng là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của toàn đảo.

Cuộc liên hoan mỗi lúc một thêm rôm rả. Nhưng tới 21 giờ 30, chợt một chiến sĩ trực canh hiện ra ở khung cửa, súng khoác chéo trước ngực, nét mặt trang nghiêm. Tất cả mọi người đều quay lại. Một chiến sĩ đang đơn ca, ngừng ngay ở giữa câu hát. Những người chơi hái hoa cũng hạ cánh tay xuống. Mọi người đều biết có chuyện gì xảy ra rồi. Điện từ các đài quan sát báo về : tàu chiến địch xuất hiện ở phía đông...
Đồng chí chỉ huy trưởng từ đám đông đang đứng vây quanh "cây hoa" bước ra. Động tác của anh rất nhanh nhưng phong thái vẫn thật ung dung, thoải mái. Anh ôn tồn ra lệnh cho anh em giải tán, trở về vị trí chiến đấu. Ở gần anh đã lâu lâu, tôi đã hiểu được con người trầm tĩnh và tế nhị này phần nào. Nhưng tới bây giờ tôi càng hiểu anh hơn. Sự bình tĩnh và tác phong rất nghiêm chỉnh nhưng hết sức dịu dàng của anh đối với chiến sĩ trong giây phút này làm cho tất cả mọi người cảm thông được ngay những ý đồ của anh một cách nhanh chóng.

Đèn lửa tắt hết. Tất cả các khu nhà biến mất trong bóng tối mung lung. Tôi cùng các đồng chí cán bộ chỉ huy quay trở ra chỉ huy sở. Qua một vị trí pháo, tôi dừng lại bên một chiến sĩ. Chiếc mũ sắt che tới gần hết khuôn mặt của anh. Tôi nắm lấy cánh tay tròn lẳn và nóng hổi của anh, và nhận ra đó là một trong những tay mê chơi nhất lúc liên hoan ban nãy.
- Thế nào? Sẵn sàng nhả đạn chứ?
- Báo cáo, sẵn sàng lắm rồi!
- Có tiếc cuộc vui không?
Anh chiến sĩ khẽ cất tiếng cười, đáp :
- Cũng chẳng tiếc lắm. Mà bọn Giôn-xơn đến, may ra đảo ta lại có chiến công làm quà đầu năm thì thật tuyệt!
Nhưng rồi anh lại bổ sung :
- Tuy vậy, thú thật với đồng chí, chỉ tiếc là chưa được nghe thư Bác!

Tiếng tàu địch trước còn mơ hồ lẫn trong tiếng sóng, lúc này nghe đã rõ mồn một. Vẫn lại cái tiếng rù rù nghe rất ám muội và độc ác. Nhìn ra xa, biển vẫn đen ngòm và bầu trời mù xám, đường chân trời chìm trong bóng tối. Gió lạnh thổi phần phật. Chúng tôi cùng dựng cao cổ áo vải cao-su lên. Một vài hạt mưa lất phất. Trái đất hình như tuyệt đối im lặng. Lạnh, bực dọc và bứt rứt. Tiếng tàu địch vẫn rù rù quẩn quanh mãi ở ngoài xa y như chúng chỉ có thể tiến được tới đó là vấp phải một bức hàng rào vô hình không tài nào vượt nổi nữa. Ở một ổ súng nào gần đó bật lên một câu chửi cáu kỉnh :
- Tổ cha nó, lại chỉ quấy rầy! Mỗi năm có một đêm ba mươi Tết...
Một lúc sau, những tiếng rù rù nhỏ dần, xa dần, rồi mất hẳn. Các đài quan sát báo về: tàu địch đã rút.
Hết báo động.

Và lúc đó cũng đã hai mươi ba, giờ khuya. Cuộc vui lớn không thể tiếp tục được vì vẫn phải cảnh giác, đề phòng tàu địch bất thần quay trở lại. Tuy vậy các cuộc vui nhỏ vẫn nổ ra ở ngay tại các hầm, và các trận địa chiến đấu. Chỗ này là một cuộc họp đồng hương; chỗ kia là một nhóm chơi bài, uống trà, ăn kẹo để đón giao thừa. Đồng chí Sen và chúng tôi đã nghĩ ra được một cách : mở đài thu thanh ở tổng đài truyền qua hệ thống dây nói đi tới các khu vực, các trận địa, để các chiến sĩ đều nghe được thư Bác.
Chúng tôi hồi hộp đón đợi; chén nước ấm trong tay; khẩu hiệu mừng xuân đỏ hồng trên vách hầm.

Đúng hai mươi bốn giờ, trong máy thu thanh, tiếng pháo bắt đầu nổ. Xen lẫn vào những tiếng pháo tép râm ran, tưng bừng là từng quả pháo đùng nổ điểm nhịp vang động làm cho không khí trên toàn đảo thêm tràn ngập hương xuân. Tiếp đó là giọng nói xiết bao quen thuộc, đầm ấm của Bác Hồ cất lên từ Thủ đô xa xôi vọng đi bốn phương trên Tổ quốc và khắp cả năm châu, bốn biển :

Đồng bào thân mến,
Nhân dịp năm mới, tôi gửi lời chúc mừng thân ái nhất đến toàn thể đồng bào miền Bắc và miền Nam, toàn thể chiến sĩ và cán bộ, đến các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng, đến kiều bào ta ở nước ngoài.
Tôi thay mặt đồng bào ta gửi lời chúc mừng tốt lành nhất đến nhân dân các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, đến nhân dân các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước bạn Á - Phi, và Mỹ la tinh.
Sau đây là vài vần nôm na chúc đồng bào năm mới :
Chào mừng Ất Tỵ xuân năm mới
Nhà nước ta vừa tuổi hai mươi
Miền Bắc xây dựng đời sống mới vui tươi,
Miền Nam kháng chiến ngày càng tiến tới,
Đồng bào hai miền thi đua sôi nổi,
Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng
Chủ nghĩa xã hội nhất định thắng lợi!
Hòa bình thống nhất ắt hẳn thành công!


Chúng tôi cùng lắng nghe và cuối cùng đều thốt lên :
- Bác vẫn khỏe lắm!
- Sang năm mới nhất định chúng ta phải cố lập nhiều chiến công để dâng lên chúc thọ Bác.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #37 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 01:36:45 PM »

Nghe xong thư, các đồng chí chỉ huy và tôi cùng đi lên các trận địa, tới các khu vực để mừng tuổi anh em. Trong các gian hầm, anh em vẫn thức. Người ghi nhật ký. Người đọc thư nhà. Anh ngồi nói chuyện. Anh nhấm nháp cốc trà hương. Tất cả cùng đón đợi một ngày mai, một năm mới đang dần dần bước tới, một năm tiếp tục cuộc “Đấu tranh anh dũng, cả nước một lòng”. Ngoài trời, những làn gió xuân ấm áp đang dào dạt thổi về và tiếng sóng nghe mênh mang như đang ca hát. Tôi bước đi thong thả trong các chiến hào còn hăng nồng mùi nhựa cây, đất mới, đi lướt qua các cửa hầm le lói ánh đèn. Tôi dừng lại bên các khẩu pháo đã đẫm sương, lạnh giá nhưng vẫn luôn luôn cựa quậy, thức tỉnh cùng với những chiến sĩ trực canh. Trong cái đêm giao thừa không quên ấy, lòng tôi tràn ngập biết bao ý nghĩ thật đẹp đẽ về cuộc sống chiến đấu kiên cường thật đặc biệt của chúng ta, về những ngày đã qua và những ngày sắp tới...

Một hồi lâu sau, khoảng 01 giờ 30, chợt lại nghe có tiếng tàu địch. Rồi có tiếng súng lớn nổ ở phía đất liền. Nhìn vào Vĩnh Linh, thấy rõ cả ánh lửa lóe lên đỏ rực. Toàn đảo lại báo động, sẵn sàng chiến đấu.
Mờ sáng ngày mồng một Tết, chúng tôi nhận được tin "báo hỉ" đầu xuân : Quân dân Vĩnh Linh đã bắn chìm một tàu biệt kích của Mỹ.


III

Ngày 7 tháng 2 năm 1965! Lại một ngày rung chuyển cả toàn đảo. Ngày 7 tháng 2 năm 1965! Bọn Mỹ và tay sai lại ngang nhiên tung máy bay vào miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng ta bắn phá. Ngày 7 tháng 2 năm 1965, ngày bọn đế quốc Mỹ đã chính thức mở cuộc tấn công điên cuồng bằng không quân đối với miền Bắc! Đứng trên đảo, chúng tôi nhìn thấy rất rõ từng đàn máy bay từ hạm đội 7 vun vút bay vào đất liền của Tổ quốc cũng như từng đàn máy bay kẻ cướp từ phía Nam bay ra Bắc. Rồi tiếp đó là những cột khói ở Vĩnh Linh, Hồ Xá bốc lên nghi ngút. Ruột gan chúng tôi như cháy bỏng cả lên. Trên các trận địa, các pháo thủ ngồi sẵn trên mâm pháo, vừa liên tục theo dõi từng đợt máy bay bằng những họng súng của mình vừa rít lên những tiếng căm hờn :
- Lại tám chiếc nữa!
- Lại mười hai chiếc! Phải giết sạch bọn Giôn-xơn đi! Phải bắn rụng hết bọn Mỹ xuống biển!

Trên vị trí chỉ huy của mình, đồng chí chỉ huy trưởng đứng sừng sững, không nhúc nhích, mặt hướng về phía đất liền, đôi môi mím chặt, bắp thịt trên má căng ra, và hai dòng mồ hôi lấp lánh ở thái dương từ từ chảy xuống. Vợ và hai con của đồng chí không phải ở đâu xa, chính ở ngay khu Vĩnh Linh - Hồ Xá, nơi đang bốc lên những cột khói đen sì nối tiếp. Con người vốn ít nói ấy lúc này càng lì ra. Nhưng tôi biết, ở bên trong, trái tim anh đang sôi máu. Từng đàn máy bay vẫn tiếp tục lao vào đất liền...

Bữa cơm buổi chiều hôm ấy thật nặng nề. Từng người cúi đầu nhai chậm chạp. Những con mắt tối sầm. Đinh Kinh, người chiến sĩ nuôi quân nổi tiếng tận tụy của đảo, ngồi bần thần, vặt từng nhúm cỏ, đưa cặp mắt rầu rĩ xót xa, cặp mắt của những bà mẹ, những người chị, hết nhìn anh em, nhìn những xoong cơm còn gần như nguyên vẹn, lại quay ra với tất cả nỗi căm hờn nhìn về phía vòm trời xa đã mù sương, nơi mà mấy giờ trước đây những chấm đen giết người đã vun vút lướt qua và để lại những dải khói trắng dài.
...Rồi từ hôm đó trở đi, bọn Mỹ tiếp tục bay vào miền Bắc bắn phá không ngừng. Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam cũng từ buổi đó, sớm chiều loan báo các tin chiến sự không phải chỉ có những tin chiến thắng ở miền Nam như trước nữa, mà đã có cả những tin chiến thắng ở miền Bắc. Toàn quốc đã ở trong tình trạng chiến tranh! Trong một buổi tối, tất cả chúng tôi đều xúc động nghe từ đài thu thanh vang lên câu nói trọng đại ấy. Toàn quốc đã ở trong tình trạng chiến tranh! Trái tim chúng tôi như vang vọng lại âm thanh của câu nói ấy với tất cả ý nghĩa thực tiễn mạnh mẽ của nó.

Lại một đợt thi đua nữa được Đảng ủy phát động với tên gọi "phong trào xuất kích thắng lợi". Các chi đoàn thanh niên đã tổ chức những cuộc tự do diễn đàn sôi nổi về thực chất đế quốc Mỹ "giàu mà không mạnh". Trong khi đó, các phương án tác chiến cũng đều được đem ra dân chủ thảo luận, bổ sung và luyện tập thêm. Các khẩu hiệu "Học tập Nguyễn Viết Xuân, dũng cảm ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào quân thù mà bắn!", "Sống, chiến đấu anh hùng như Nguyễn Văn Trỗi" và "Trả thù cho Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân và đồng bào hai miền Nam, Bắc!" được nêu cao. Một cuộc thi thống kê tội ác đế quốc Mỹ ở Việt Nam đã được tổ chức rất sâu rộng. Và do đó khí thế đánh Mỹ lập công rửa thù mỗi ngày một thêm rạo rực trên toàn đảo. Đi tới đâu cũng thấy những cuộc tranh luận sôi nổi về các cách đánh máy bay, tàu chiến, quân đổ bộ của địch trong tất cả mọi tình huống. Đi tới trận địa nào cũng thấy la liệt những bản liệt kê các tội ác đẫm máu của quân thù. Bên các khẩu pháo đều có ảnh Nguyễn Văn Trỗi và Nguyễn Viết Xuân. Và các pháo thủ đều tươi cười giới thiệu với bất cứ cán bộ nào đi tới :
- Báo cáo đồng chí, đây là những pháo thủ danh dự của khẩu đội! Các đồng chí ấy cùng ở đây chiến đấu với chúng tôi cho đến ngày toàn thắng!

Sang ngày 14 tháng 3, Cồn Cỏ bắt đầu bước vào cuộc chiến đấu thực sự ác liệt. Đối với chúng tôi, đó là một ngày lịch sử vĩnh viễn không bao giờ quên của đảo cũng giống như ngày mồng 8 tháng 8 sinh nhật của đảo, hoặc những ngày mồng 5 tháng 8, mồng 7 tháng 2 đối với toàn thể nhân dân ta trên cả nước nói chung và miền Bắc nói riêng.

Từ mấy ngày trước đã thấy có máy bay trinh sát của địch liệng đi quần lại ở hướng đông nam của đảo. Có khi chúng bay thấp hẳn xuống, gần như rà trên mặt biển. Lại thấy có một số tàu chiến từ Cửa Việt chạy ra, lượn quanh ở khu biển trước thôn Vĩnh Mốc. Các bộ phận quan sát còn phát hiện thấy cả máy bay thám thính U2 lượn trên đảo nhiều lần. Đảng ủy nhóm họp và khẳng định : địch sẽ đánh lớn; và chủ trương : phải kịp thời kiểm tra lại ngay tất cả mọi mặt chuẩn bị chiến đấu.

Quán triệt tinh thần nghị quyết ấy, từ những ngày 11, 12, các pháo thủ đã được lệnh thường trực liên tục trên mâm pháo. Đạn luôn luôn lắp sẵn vào ổ súng. Tất cả các dụng cụ và phụ tùng sửa chữa đều được xếp đặt hết sức quy củ, có nơi có chốn, khi cần tới là không phải mất thì giờ tìm kiếm. Hơn thế nữa, theo nghị quyết của Đảng ủy, đồng chí chỉ huy trưởng đã có một kế hoạch chiến đấu toàn diện, được phổ biến kỹ tới từng binh chủng, từng trận địa, từng chiến sĩ. Riêng tôi được Đảng ủy phân công lên trực tiếp bám sát một trận địa. Sau khi bàn bạc với các đồng chí chỉ huy phân đội ở đó, chúng tôi đã đề ra những yêu cầu thật nghiêm ngặt đối với các chiến sĩ về sinh hoạt và chiến đấu, kiên quyết chống lại mọi thói quen có phần nào lỏng lẻo trước kia. Chúng tôi vẫn thường được trên nhắc nhủ : chiến đấu với một quân thù có những phương tiện hiện đại, phải có một tổ chức thật khoa học, chặt chẽ để bảo đảm cho những hành động của ta được thật nhanh, gọn và chính xác. Chỉ trong một tích tắc là quân thù đã có thể chạy buột mất, cũng như chỉ trong một tích tắc quân thù đã có thể gây cho ta những tổn thất không nhỏ.

Ngày 14 tháng 3. Buổi sáng hôm ấy mặt biển thật trong trẻo. Những làn sóng trắng phau, dịu dàng nô đùa, đuổi nhau trên những bãi cát. Bầu trời ửng hồng bao la. Từ phía đất liền, những cánh buồm hiện ra lấm tấm, cái trắng, cái nâu, cái hồng, cái đỏ tía dưới ánh nắng ban mai.

Những giờ đầu hôm ấy, theo chương trình cũ, tôi tiếp tục chuẩn bị để sơ kết cuộc thi sưu tầm tội ác đế quốc Mỹ. Trong tay tôi đã có hàng tập giấy dày với những con số, những dòng chữ chi chít. Có nhiều tờ nhòe cả chữ vì nước mắt. Có một số tờ mang theo cả những dòng chữ viết bằng máu cắn ở ngón tay ra đã thâm đen : "Thù này phải trả!" hoặc : "Phải tiêu diệt đế quốc Mỹ!".

Chỉ làm công việc đọc lại những bản thống kê tóm tắt ấy mà lòng tôi cũng đã không thể chịu nổi, nhiều lúc phải bỏ dở công việc, đứng dậy đi ra các ụ pháo với anh em, trò chuyện đôi lúc. Hôm ấy, Lê Ngọc Vân, anh chiến sĩ bắn súng máy, lên tìm tôi ở trận địa. Anh vẫn nhanh nhẹn, linh lợi như mọi ngày, chỉ riêng có đôi mắt rất buồn. Sáng nay đọc báo, Vân đã tìm thấy tội ác thứ 160 của giặc Mỹ. Câu chuyện ấy vừa mới xảy ra nóng hổi ở miền Bắc. Đó là chuyện mấy em nhỏ ở Nghệ An bị máy bay Mỹ bắn chết một cách thảm thương. Vân đã đưa cho Lĩnh, tổ viên trong tổ súng máy của anh, và hai anh em đều không ngăn được nước mắt. 160! Con số của Vân đã vượt quá những con số của Bùi Thanh Phong, Lâm Văn Hiếu và chiến sĩ quan trắc Nguyễn Văn Thiêm, quân khí viên Nguyễn Đức Báu. Tôi bắt tay Vân và thấy lòng bàn tay anh hâm hấp nóng.
- Vân sốt đấy à? - Tôi hỏi.
- Báo cáo không! - Vân lắc đầu, rồi hỏi mượn tôi quyển sổ tay trong đó tôi có ghi chép một số lời của Bác Hồ và các đồng chí tiền bối của Đảng về cuộc sống, về đấu tranh và lý tưởng...

Có quyển sổ rồi, Vân chào tôi rồi nhanh nhẹn quay đi. Nhìn theo anh, tôi không khỏi nhớ lại câu chuyện bảo vệ cờ trong một trận mưa bão trước. Hôm ấy, Vân cũng đang sốt. Bình thường, anh là một chiến sĩ tích cực và có ý thức rất sâu về chức trách của mình. Mỗi khi ốm, anh thường không chịu nghỉ, vẫn đề nghị được ra thao trường, nếu không ít ra cũng phải để cho anh đi xem tập. Hôm ấy anh đã phải chịu nằm nhà là sự chẳng vừa. Một cơn mưa dông đột ngột ập tới, Vân nhìn ra ngoài sân thấy lá quốc kỳ vẫn còn ở trên đỉnh cột, anh vội vã lao ra quên cả mưa gió, quên cả cơn sốt, kéo được lá cờ xuống, ghì chặt vào ngực chạy vào. Vừa thở Vân vừa nói với đồng đội : “Nom thấy cờ của mình bị gió giật xé, tôi không thể nào chịu nổi”... Từ ngày đó, trước mắt chúng tôi, Lê Ngọc Vân càng đẹp hơn lên nhiều lắm.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #38 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 01:43:56 PM »

Lê Ngọc Vân đi khỏi, tôi lại trở ra các ụ pháo. Lúc đó Bùi Thanh Phong đang lau pháo, tấm thân mảnh dẻ của anh hơi cúi xuống và đôi mắt một mí dễ xúc động đang ánh lên vui vẻ. Dưới bệ pháo, ở ngay cạnh anh là một cuốn “Lý Tử Trọng” đang đọc dở. Phong rất ham thích đọc sách. Những "Thép đã tôi thế đấy”, "Lôi Phong” và tất cả những chuyện anh hùng, chiến sĩ thi đua của quân đội ta trong thư viện của đảo, anh đọc đã hết sạch. Phong rất yêu "ông Nhỏ" cũng như rất mê Pa-ven, Lôi Phong và gần đây rất cảm phục Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân.

Nom thấy tôi đi tới, Phong ngẩng lên, tươi cười, và cũng như tất cả mọi khi, anh đều có ngay một câu hỏi :
- Báo cáo đồng chí, liệu hôm nay ta có phải tiếp tục ngồi “ế'”nữa không?
- Chắc không - Tôi đáp - Cứ chuẩn bị sẵn sàng!
Phong vỗ vai Châu, anh pháo thủ tiếp đạn, hớn hở :
- Đúng không! - Tau đã cảm thấy điều này ngay từ sáng sớm nhé!
Châu cười, nụ cười rất lành. Cũng trẻ như Phong, nhưng Châu ít nói và có phần chậm chạp hơn. Tuy nhiên, đó là một anh chàng thật gan lì, sét đánh ngay trên đầu cũng chỉ cười.

Ở một ụ pháo gần đó, Lâm Văn Hiếu - cây sáo trúc và đàn bầu của đảo - đang ngồi ngay ngắn trên ghế pháo thủ số 1, mê mải tập lấy đường ngắm ở trên cao và ở cả dưới mặt biển. Hiếu là người cùng làng với Bùi Thanh Phong. Khuôn mặt nhỏ nhắn với nước da mịn trắng của anh đóng khuôn trong chiếc mũ sắt nom lại càng đẹp. Cứ nhìn cái vóc dáng mảnh mai và bộ mặt thanh tú ấy, khó có ai biết rằng anh là một thanh niên nông thôn thuần túy. Từ bé, Hiếu chưa hề ra khỏi lũy tre làng, khi học lên tới cấp 3 anh mới biết qua "mặt mũi" của thị xã Thanh Hóa. Anh dự định tốt nghiệp lớp 10 xong sẽ vào đại học, nhưng mới hết lớp 8, anh đã xin đi bộ đội. Cùng với Bùi Thanh Phong, anh quyết tâm ra đi vào lúc tình hình cả nước đang sôi sục, khẩn trương. Lâm Văn Hiếu nhờ có một ý chí rất tốt và thêm thuận lợi là có văn hóa nên học tập, tiếp thu rất nhanh và sâu. Vì còn là "lính mới" nên anh chỉ được giữ nhiệm vụ pháo thủ số 3. Sáng nay, pháo thủ số 1 ốm mệt, Hiếu đã được chúng tôi mạnh dạn cho lên thay thế. Anh hết sức phấn khởi, ôm chầm lấy đồng chí chỉ huy trưởng mà nói : “Nhất định sẽ bắt bằng được một "con ép" (18) để xứng đáng với lòng tin của các thủ trưởng”.

Kể cũng khá đặc biệt, ở trên trận địa này còn có một người đồng hương nữa của Bùi Thanh Phong. Đó là chiến sĩ quan trắc Nguyễn Văn Thiêm, “quân khí viên nghiệp dư, dự bị số 1 của Nguyễn Đức Báu” như ta đã biết. Cả ba thanh niên ấy cùng ra đi bộ đội vào một năm, giờ đây cùng ở Cồn Cỏ, và hơn nữa : cùng là những chiến sĩ ưu tú. Thiêm hơn hai mươi tuổi, đen giòn, người chắc lẳn, nét mặt thông minh và quả cảm, ai nom cũng phải yêu. Là phân đoàn trưởng thanh niên, ngoài những đức tính hăng hái, xốc vác như các bận khác, Thiêm còn có cả sự chín chắn và ý thức lãnh đạo của một người có trình độ giác ngộ tất. Thiêm đang đứng sừng sững với khí tài quan sát của mình, toàn thân anh như tỏa ra lòng tin tưởng và ý chí chống Mỹ sắt đá. Ở quê nhà, Thiêm đã có hai con. Anh thường đỏ mặt, cười : "Thanh Hóa tôi có cái tục hay "sớm sủa" thế đấy mà!". Tuy vậy, ai cũng thấy anh vẫn rất yêu vợ, và đặc biệt rất thương con. Những ngày rỗi rãi, anh thường chăm chỉ đi nhặt từng vỏ sò, vỏ ốc, những loại thật đẹp, tích góp lại để khi được về phép làm quà cho lũ trẻ.

Hưởng, cán bộ của phân đội, hôm nay đến phiên trực ban chiến đấu. Anh thanh niên nông thôn sức vóc đen đủi nhưng lại rất có duyên và hiền hậu ấy lúc nào cũng bận rộn. Hình như ngồi rỗi một tí đối với anh là một điều thật đáng áy náy, xấu hổ. Vẫn luôn thuộm với chiếc áo bà ba nâu và chiếc quần xanh "cổ truyền", anh đi khắp các khẩu pháo, như một con thoi, kiểm tra từng viên đạn, từng cái đinh ốc. Hưởng là cảm tình của Đảng đã lâu, nay chỉ còn chờ dịp thuận lợi là Đảng bộ sẽ làm lễ kết nạp; giống như Bùi Thanh Phong cũng chỉ còn chờ ngày để chính thức được vào Đoàn. Hưởng gặp tôi ở khẩu đội của Nhì. Anh tỏ vẻ hơi áy náy vì một bộ phận của khẩu pháo chưa được tốt. Sau đó, sang một khẩu đội khác xem xét, anh sà ngay vào xắn tay áo cùng lau chùi súng, đạn với các pháo thủ. Vừa làm anh vừa nói chuyện bằng cái giọng rè rè của mình. Khi mọi việc đã xong xuôi, anh cùng với anh em mang báo ra đọc, ngâm thơ và tiếp tục viết nhật ký.

Về trưa, nắng càng to. Cả bầu trời sáng lóa. Trong lúc đó mặt biển lại rất êm, gió thổi đều đặn, hiền hòa. Tôi lại tiếp tục làm sơ kết cuộc thi tìm tội ác của giặc Mỹ. Ở trận địa, mọi công việc đều đã gọn gàng, đầy đủ, không có điều gì còn phải lo lắng nhiều nữa.
13 giờ. Như thường lệ, chỉ trừ những chiến sĩ trực chiến vẫn ngồi sẵn sàng trên các mâm pháo, còn chúng tôi ai nấy đều tranh thủ ngả mình thiu thiu. Bỗng nghe thấy tiếng kẻng từ phía đài quan sát đổ hồi rồi sau đó là tiếng máy bay vọng tới. Trong chớp mắt, tất cả chúng tôi đã ở các vị trí chiến đấu.
Tiếng kẻng vẫn mỗi lúc một gióng giả, mạnh mẽ. Nghe tiếng kẻng quá quen thuộc, Nguyễn Văn Thiêm phải reo lên :
- Đúng là tiếng kẻng của Thái Văn A! Hay lắm! Nó đánh càng hay tức là máy bay địch càng gần, càng đông!

Quả nhiên, Thiêm nói vừa xong, đã rào một cái, hai chiếc phản lực F.105 đầu nhọn hoắt, sơn mốc thếch, to như những con chim cổ quái từ phía xa lao sát trên mặt biển ngang sườn đông nam của đảo rồi cất vọt mình bay vút lên cao, tiếp tục bay thẳng.
- Nó nghi binh đấy! - Tiếng Hưởng nói, giọng vẫn rè rè, bình thản - Cứ chú ý hướng đông!
Quả không sai, chỉ một phút sau, từ phía đường chân trời xuất hiện sáu chấm đen vùn vụt lao tới, kéo theo sau những vệt khói và cả một màn tiếng động rung chuyển.

Trên khắp các trận địa của chúng tôi, các khẩu pháo lập tức rào rào quay lại. Tiếng báo cáo bắt được mục tiêu vang lên tới tấp. Thế rồi tốp máy bay đầu tiên ào tới, hú lên như hóa dại, và những trái bom lao xuống. Bầu trời đang nắng đẹp, bỗng tối sầm hẳn lại. Những cột khói khổng lồ, cuồn cuộn dựng lên. Lửa cuốn theo đỏ khé . Khu nhà bếp của chúng tôi trúng bom. Mặt đất rung lên. Hơi ép đánh rất mạnh vào trận địa. Nhưng chính trong lúc ấy, trên bầu trời cũng hiện lên một đám lửa lùng bùng, hấp tấp lướt chéo ra phía biển.
- Cháy rồi! Rơi rồi! Hoan hô Lâm Văn Hiếu! Hiếu giỏi lắm!
Tiếng reo hò, tiếng vỗ tay nổi lên khắp các trận địa. Anh em sướng quá. Có người gào lên, thét lên. Có người nhảy cả lên công sự mà vỗ tay hoan hô. Tôi phải nói to :
- Tiếp tục chiến đấu! Chớ quên trên đầu vẫn còn địch!

Vừa nói, tôi vừa chạy bay tới khẩu pháo của Lâm Văn Hiếu. Ngay trong loạt đầu tiên, khẩu pháo của anh đã cùng các khẩu đội bạn bắn trúng "con ép" ấy làm cho nó không kịp cắt bom đúng theo ý định. Làn đạn của Hiếu đẹp quá : thẳng căng, chính xác một cách tuyệt vời, không một ai có thể lầm lẫn được. Hiếu đang mím môi, thoăn thoắt một mình điều khiển khẩu pháo, tiếp tục bắn lên chiếc phản lực thứ hai. Làn đạn của anh lại rạch lên không trung như những đường dao sắc. Anh mê mải bắn đến nỗi tôi đến ngay bên cạnh mà vẫn không hề biết. Tôi nói như reo vào tai mình :
- Thay mặt Đảng ủy và thủ trưởng, tôi biểu dương đồng chí! Đồng chí bắn chính xác lắm. Cố gắng, dũng cảm nữa lên, Hiếu ơi!

Rồi tôi qua chỗ Bùi Thanh Phong, cất tiếng hô một khẩu hiệu cho cả trận địa cùng nghe thấy :
- Thời cơ lập công đã tới! Đây là lúc tốt nhất để trả thù cho Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Viết Xuân, cho đồng bào Nam, Bắc!
Phong đang quay tròn theo khẩu pháo của anh. Anh bắn rất tốt. Mặt anh đỏ bừng, hai con mắt sáng lên khác thường. Châu, pháo thủ tiếp đạn của anh, đột nhiên bị sức ép, ngất đi. Nhưng Phong vẫn tiếp tục bắn. Hai mảnh rốc-két bay véo tới, làm hư chiếc máy ngắm, một mảnh nữa, xuyên thủng vành mũ sắt mà anh vẫn không hề biết. Từ ụ súng khác, Hưởng lao đến với Phong, nhanh như một con sóc. Thật là kịp thời, Phong đã phát huy liên tục hỏa lực của khẩu đội, không một giây phút nào gián đoạn.

Những trái bom tiếp tục nổ tơi bời xung quanh trận địa. Khói mù mịt gần như bưng lấy mắt. Nhưng theo lệnh của đồng chí chỉ huy trưởng, chúng tôi vẫn bám sát chiếc phản lực thứ ba đang lao xuống. Và quả nhiên chúng tôi đã quật đổ ngay được "con ép" ấy. Nó bị trúng vào cánh, bay lệch hẳn về một bên, cuống cuồng quay ra biển, vừa chạy vừa ném lại tất cả những thùng xăng phụ, hòm rốc-két chưa dùng hết, bay lả tả ở phía sau.

Trên bầu trời chỉ còn lại bốn chiếc F. 105. Nhưng chúng không dám xuống thấp nữa. Cả bốn "con ép" ấy đều phải bốc lên cao rồi mới dám cắt bom và bắn phá. Trong phút chốc, tất cả khu vực trận địa của chúng tôi bị chìm ngập vào một biển khói đen kịt. Đứng từ ụ súng này không thể nom rõ sang ụ súng kia. Thậm chí người cùng một ụ súng cách nhau vài mét cũng không nom được thật rõ mặt nhau nữa. Chuông điện thoại bỗng đổ hồi, và từ đầu dây nói bên kia, ở chỉ huy sở, tiếng đồng chí chính trị viên vọng tới nghiêm trang mà tha thiết :
- Đồng chí Khoa, hãy cố gắng nữa lên, thay mặt đảng ủy lãnh đạo, giúp đỡ anh em chiến đấu cho tốt hơn nữa! Chúng ta đã thắng lợi và cũng đang ở vào trong những giây phút thật ác liệt. Người lãnh đạo lúc này cần làm sao cho anh em vẫn luôn luôn tỉnh táo và nhất là vẫn giữ vững được tinh thần chiến thắng!

Tôi cảm động đáp lại :
- Đồng chí chính trị viên! Chúng tôi xin hết sức cố gắng!
Vừa khi ấy, một số pháo thủ kêu lên :
- Báo cáo, khói quá lắm! Không sao nom thấy mục tiêu nữa!
Tôi nói :
- Mình không thấy nó, nó cũng không thấy mình, bom, rốc-két càng trượt xa. Cứ bình tĩnh theo lệnh chỉ huy!

Lợi dụng những lúc khói loãng ra ít nhiều và đã có thể bắt được mục tiêu, chúng tôi tiếp tục đánh. Nhưng khi khói tràn tới, che lấp tất cả, chúng tôi ngùng lại, để dành đạn. Trong lúc đó, đột nhiên một bóng người chạy lại nói to, giọng rất đanh :
- Báo cáo, khí tài quan sát không sử dụng được nữa, đề nghị cho tôi tham gia bắn! Tôi bắn được. Nếu không, tôi tiếp đạn!
Nhận ra Nguyễn Văn Thiêm, tôi trao ngay nhiệm vụ cho anh đến giúp khẩu đội Hiếu. Trước khi anh chấp hành mệnh lệnh, tôi dặn tiếp :
- Là phân đoàn trưởng, đồng chí hãy nhắc nhở anh em quyết tâm chiến đấu đến cùng.
- Rõ! - Thiêm đáp.
Anh quay ngoắt đi ngay và nhanh chóng biến vào trong đám khói mù. Tiếng anh cất lên vang rộn :
- Giờ lập công đã tới! Các đồng chí đoàn viên hãy cố gắng nữa lên, cho xứng đáng là đoàn viên Nguyễn Văn Trỗi, xứng đáng là các đoàn viên của các chi đoàn Thép của Cồn Cỏ.
Lập tức có ngay những lời đáp lại từ khắp các ụ pháo xa, gần, trong đó nghe rất rõ tiếng Bùi Thanh Phong và Lâm Văn Hiếu :
- Bớ Hiếu! Tau với mi thi đua nghe!
- Bớ Phong! Chúng ta phải bắt nốt mấy "con ép" kia, đừng cho chúng nó thoát!

Nghe tiếng súng vẫn nổ rầm rầm, tiếng các chiến sĩ hăng hái, phấn chấn động viên nhau, tôi sung sướng tới ứa nước mắt. Nhưng đột nhiên sau đó thấy một khẩu pháo im bặt, mà lại chính là khẩu của Bùi Thanh Phong! Tôi vội lao tới. Hưởng và Phong đang ngồi trong hầm sửa ổ đạn.
- Sao thế?
- Báo cáo một viên bị kẹt! - Hưởng, Phong cùng đáp hơi thở dồn dập.
Biết những lúc pháo hỏng hóc, người xạ thủ dễ bối rối, tôi nói :
- Cứ bình tĩnh! Bọn Mỹ thua ta rồi! Sửa xong tiếp tục đánh, đánh hăng nữa vào!
Chỉ trong nháy mắt sau, khẩu pháo ấy đã được sửa chữa. Những làn đạn của hai anh lại tung lên mãnh liệt. Nhưng mới được một phút, lại thấy một khẩu pháo khác im bặt. Nhận ra khẩu của Nhì, tôi vội gọi to :
- Thiêm! Quân khí viên chưa tới, đồng chí sang chữa giúp cho Nhì ngay! Mau lên!
Nói xong, tôi cũng rời vị trí, chạy thẳng tới khẩu đội ấy. Nhưng vừa bước ra tới ngã ba giao thông hào thì bị ngay một người mập mạp đang ở đâu xồng xộc chạy tới xuýt đâm xầm phải. Chưa kịp nhận ra nhau vì khói quá, anh ta đã gắt om lên :
- Mắt với mũi! Đâu? Khẩu nào vừa hóc thế? Bắn chác ra làm sao để đến nỗi hóc? Đánh với đấm thế hả?
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4002



« Trả lời #39 vào lúc: 25 Tháng Mười Một, 2008, 01:47:57 PM »

Té ra quân khí viên Nguyễn Đức Báu, người chiến sĩ có một tinh thần trách nhiệm không thể chê trách được của đảo, đồng thời cũng là một anh chàng hay cáu. Trong những lần bắn máy bay lẻ tẻ khi trước, ngoài việc sửa chữa vũ khí, Báu còn hăng hái tham gia cả việc cổ vũ động viên các pháo thủ, nhưng anh cũng cổ vũ bằng cái tính cáu kỉnh của anh. Lần này, tôi lại là người lần đầu tiên được hưởng sự cáu kỉnh ấy. Khi nhận ra tôi, Báu cười xòa. Và cả hai chúng tôi cùng chạy như bay tới nơi khẩu pháo vừa tắc. Hôm nay, thực ra không phải là phiên trực chiến của Báu, nhưng khi nghe thấy tiếng súng, tiếng bom nổ, anh vứt ngay quyển sách đang đọc dở, không kịp mặc cả quần dài, vớ vội lấy túi lắc-lê, kìm búa rồi cứ thế lao từ tuyến trong ra đây.

Anh em trong khẩu đội Nhì nom thấy Báu mừng quá reo ầm :
- Kỹ sư của chúng ta đây rồi!
Câu nói tưởng như có thể làm Báu cười vui được, nhưng anh vẫn cáu. Các pháo thủ nhìn nhau, im thin thít. Khi Báu vừa mới ngồi thụp xuống thì Nguyễn Văn Thiêm cũng đã tới. Tưởng Báu phải mừng vì có người giúp việc, nhưng anh lại cáu cả với Thiêm. Đến lúc ấy thì tất cả bọn chúng tôi không nhịn được nữa, phải cười ầm. Bấy giờ Báu mới cười theo. Trong giây phút, khẩu pháo đã được sửa hoàn hảo. Nhì ôm chầm lấy Báu, Thiêm hôn lấy hôn để rồi nhảy lên ghế sắt.

Nhưng khi chúng tôi vừa khuất vào một ngách chiến hào, một trái bom rơi xuống cách ụ pháo ấy không quá năm mét. Trời đất tưởng như vỡ vụn ra trong một tiếng nổ xé óc. Khói, bụi, đất, đá làm cho mặt mũi chúng tôi tối tăm cả lại. Khi nhìn được rõ, đã thấy Nhì bị hơi ép của bom ném ra xa tới hai, ba mét, anh đang ôm ngực lăn lộn trên mặt đất. Tôi chưa kịp chạy lại vực Nhì, và cũng chưa kịp chỉ định ai thay thế anh, thì đã thấy một bóng người nhảy phắt lên chiếc ghế số 1, vồ lấy khẩu pháo, đạp cò. Đó là Nguyễn Văn Thiêm! Anh vừa nom thấy một "con ép” hiện ra trên nền trời mù mịt tro khói.
- Tốt lắm! Thiêm! Hay lắm! Bắn mạnh nữa lên! Nhằm cho trúng vào! - Tôi sung sướng reo to.
Thiêm không quay lại, cũng không đáp lời tôi, anh tiếp tục bắn. Trán anh đỏ tía, hai thái dương ròng ròng mồ hôi, cặp mắt mở căng, cháy lửa căm hờn. Lại một loạt đạn của anh quất lên, hòa cùng với những loạt đạn của các khẩu đội bạn.
- Một "con ép" nữa kìa! Trúng rồi!
Các chiến sĩ reo lên như thét.

Đúng là một chiếc F. 105 nữa đã dính đạn, những ngọn lửa đang lấp lóa ở đuôi nó, khi tắt khi đỏ. Chiếc máy bay ấy chạy. Cùng lúc đó, chiếc "ép" thứ tư gầm lên, lao xẹt qua trận địa chúng tôi một cách hết sức hằn học rồi dượt theo chiếc bị thương, đi thẳng.
Tất cả chúng tôi đều đứng bật dậy, reo ầm một loạt. Anh vỗ tay, anh múa mũ. Phong, Hiếu mặt vẫn còn đỏ gắt, đầm đìa mồ hôi, mỗi anh vớ lấy một bi- đông, ngửa cổ tu ừng ực. Bỗng nhiên tiếng cười nói lại thêm vang rộn :
- Đinh Kinh!
- A ha! Đinh Kinh đây rồi!

Người chiến sĩ cấp dưỡng ấy đã hiện ra ở một đầu hào với hai thùng nước sóng sánh, hơi còn bốc nghi ngút. Anh vẫn đội chiếc mũ vải nhàu nát, mặc một chiếc áo cổ vuông lôi thôi lốc thốc, chỉ có khác mọi ngày là đeo thêm một khẩu súng trường chéo ở sau lưng. Một pháo thủ má tròn vo, còn đầy lông tơ nhảy lên nắm lấy nòng súng ấy toan nghịch, nhưng cậu ta vội buông ra, kêu to :
- Đinh Kinh! Cậu cũng vừa bắn đấy à? Nóng quá!
- Bắn chứ! - Tất cả "anh nuôi" đều tham gia bắn hết! Cả bọn hậu cần, hóa học, thông tin... và các phân đội khác cũng bắn. Đứa có súng trường bắn súng trường, đứa có tiểu liên bắn cả tiểu liên...
- Đúng! - Tất cả chúng tôi đều công nhận : trong lúc ở các trận địa pháo ngoài này đang quần nhau với bọn "ép" thì ở tất cả các phía của đảo cũng thấy ran lên đủ các tiếng súng lớn nhỏ.
- Các cậu bắn tốt quá! - Đinh Kinh đặt thùng nước xuống, hỉ hả - Chiều nay thế nào tớ cũng khao các cậu một chầu canh cua đặc biệt.
Các pháo thủ đều nhao nhao :
- Canh cua thường của Đinh Kinh ăn đã không chê vào đâu được. Bây giờ lại còn "đặc biệt" nữa, ăn xong khéo ngon quá lại chết sạch cả lũ mất thôi.
Tiếng cười lại nổ ra sảng khoái. Không thỏa mãn với thắng lợi bước đầu, các cán bộ tranh thủ thời gian trao đổi ý kiến, rồi hạ lệnh cho anh em củng cố lại ngay tất cả công sự, trận địa, đồng thời trao đổi chớp choáng những kinh nghiệm chiến đấu nóng hổi vừa qua. Đảng ủy đảo khẳng định: thế nào quân địch cũng còn quay trở lại.

Quả nhiên, chỉ mười phút sau, khói trên trận địa chưa kịp tan hết thì lại đã thấy tiếng máy bay địch vọng tới, lần này nghe rất nặng, có lẽ nhiều lắm. Các pháo thủ vội giục :
- Đinh Kinh! Quay lại đi! Để chúng tớ đánh!
Đinh Kinh kêu lên :
- Cho tao ở đây với! Tao có thể giúp chúng mày bất cứ việc gì! - Vừa nói, anh vừa đưa mắt nhìn tôi như muốn cầu cứu.
Nhưng khi thấy tôi lắc đầu, biết không thể nài nỉ được anh đành phải rời khỏi trận địa. Chân bước đi mà mặt vẫn còn quay lại, đầy vẻ không hài lòng.

Lần này không phải bốn "thần sấm" (F.105) như trước nữa, mà là hai mươi sáu tên "giặc nhà trời" (AD6). Chúng bay thành từng tốp, theo đội hình chữ A. Loáng một cái, những bóng đen sì ấy đã bay trùm qua đầu trận địa. Chúng đã nhanh, nhưng chúng tôi còn nhanh hơn. Tất cả các khẩu pháo đã bắt được mục tiêu và đều đánh lên rất kịp thời. Những nòng pháo thụt lùi sau mỗi phát đạn rồi vươn ra loang loáng như máy. Các cành lá ngụy trang rung lên bần bật. Cát, bụi trên các công sự bay mù. Lửa từ các đầu nòng phụt ra sáng lóa. Không khí trong trận địa như bị đốt cháy. Mùi thuốc súng sặc sụa. Từng luồng hơi ép tạt ra rát cả mặt mũi. Tai ù hẳn đi; chỉ còn có thể nhận lệnh bằng các hiệu cờ.

Đợt này khẩu đội nào bắn cũng rất tốt. Chỉ vừa mới qua có một đợt chiến đấu, nòng pháo còn nóng bỏng mà các chiến sĩ ta đã trưởng thành lên trông thấy. Ngay trong loạt đạn đầu tiên của chúng tôi, chiếc AD6 đi đầu đã cháy bùng. Cháy dữ đến nỗi nó không kịp vứt bom, cũng không kịp lạng ra xa nữa. Như một cục lửa, cứ thế nó vùn vụt lao xuống biển, ngay trước trận địa của chúng tôi không quá một hải lý. Một cột nước trắng xóa vọt lên cao ngất. Rồi sau đó mặt biển nhanh chóng khép lại và những con sóng mau lẹ xóa sạch ngay dấu vết của chiếc máy bay kẻ cướp ấy. Chiếc AD6 đi đầu bị bắn rụng một cách đáng sợ như thế, nên cả tốp máy bay đi theo nó lập tức rã ngay đội hình, mạnh cái nào cái ấy chạy thục mạng hoặc vọt lên cao tít. Không những thế, tất cả những tốp phía sau cũng bắt đầu bay hỗn loạn và ném bom bừa phứa. Lũ phi công chỉ cốt trút hết bom đạn để nhẹ xác mà chuồn cho nhanh.

Lẽ cố nhiên ném như thế làm sao mà trúng trận địa chúng tôi được. Một số không ít bom rơi xuống biển, dựng nên những cột sóng lớn, và những loạt mưa kỳ lạ ở những khu đất sát bờ đá. Những loạt bom khác rơi vào rừng, các vườn rau, các sân bóng, các khu nhà ở, gây ra những đám cháy khổng lồ, làm cho chúng tôi có cảm giác cả hòn đảo đã bốc lửa. Rất sốt ruột về các nơi khác, tôi quay máy nói gọi về chỉ huy sở. Nhưng gọi mãi không được. Bom đạn địch đã cắt đứt đường dây.

Trong lúc cuộc chiến đấu đang mỗi lúc một thêm gay gắt, một người chạy thẳng tới trước mặt tôi, vừa thở vừa nói :
- Báo cáo! Tôi, tiểu đội trưởng Nguyên, xin đồng chí cho làm bất cứ việc gì cũng được!
Tôi vui sướng nhận ra người tiểu đội trưởng hăng hái gương mẫu ấy. Anh ở đơn vị khác mới tới trận địa này để nghiên cứu một số vấn đề. Tuy là "khách", nhưng bao giờ anh cũng tự coi mình như cùng một đơn vị. Ngoài việc tranh thủ học thêm pháo, anh còn hăng hái tham gia gánh vác đủ mọi việc. Tôi yêu cầu Nguyên đi tiếp đạn giúp cho Phong. Nguyên vừa đi khỏi, lại thấy một chiến sĩ khác xuyên qua các đám khói chạy tới. Anh này cởi trần trùng trục, tay cầm mấy chiếc quần áo ướt. Tôi nhận ra Đơ, chiến sĩ trong tiểu đội của Nguyên.
- Báo cáo, tôi đang tắm thì chúng nó đến. Bây giờ mới về được tới đây. Đồng chí cho tôi xin nhiệm vụ!

Tôi trao cho Đơ việc tiếp đạn cho khẩu đội của Nhì. Ngay lúc đó tôi mừng rỡ gần như reo lên vì thấy Duyến và Bường, hai chiến sĩ thông tin đường dây của chỉ huy sở hiện ra ở đầu hào. Duyến lấm như trâu đầm. Lưng áo anh cháy loang lổ; khẩu tiểu liên đeo chéo phía sau cũng đã cháy mất báng. Cứ liếc qua bộ quần áo ấy cùng với hai bàn tay đã sây sát, rớm máu của anh, tôi cũng đã hiểu ngay Duyến đã trải qua những khu vực, những đoạn đường hiểm nghèo, ác liệt đến thế nào. Duyến báo cáo đường dây đã nối xong. Tôi bèn quay máy ngay về sở chỉ huy sở. Câu nói đầu tiên từ đầu dây bên kia của đồng chí chỉ huy trưởng là một câu hỏi : “Duyến đã tới đấy chưa? An toàn chứ?". Nghe hơi thở và cách hỏi, tôi biết các đồng chí trong ấy đã lo lắng cho Duyến đến thế nào. Tuy nhiên, trên khuôn mặt trái xoan hồng hào, lấm tấm tàn nhang của Duyến, tôi vẫn không thấy lộ một vẻ gì hồi hộp. Anh vẫn cười, đôi mắt đen láy kéo thành hai vạch dài, rất hiền và tươi. Như tất cả mọi khi, anh cười hai tai cũng đỏ lên theo, y như một cô gái cả thẹn.

Chợt nhớ vừa rồi không thấy đồng chí chỉ huy trưởng nhắc tới Bường, tôi hỏi :
- Lúc ở chỉ huy sở đi, chỉ có đồng chí Duyến thôi à?
Duyến đáp :
- Vâng! Nhưng dọc đường tôi gặp đồng chí Bường đi lấy gỗ về. Đồng chí ấy xin đi luôn với tôi; người vác dây, người đeo máy. Khi có bọn Mỹ nhào tới thì Bường nối, tôi bắn yểm hộ.
Đến lượt Bường cười. Ai đã gặp anh chiến sĩ nhỏ bé này cũng phải mến ngay cái vẻ hăng hái, kiên quyết của anh. Hồi tòng quân, Bường mới mười sáu, anh khai tăng tuổi để được đi. Ra tới đảo, thấy Bường bé nhỏ quá, ai cũng gọi đùa là "chú bé"; nhưng khi biết cái tính rất kiên quyết và hăng hái triệt để của anh, lại đổi là "Tý Trâu chỉ tiến không lùi" (1)

Duyến, Bường xin đi chữa nốt các mạng dây khác. Vừa lúc đó, chuông điện thoại lại đổ hồi. Đồng chí chỉ huy trưởng gọi tôi đến nói chuyện.
- A lô! Các đồng chí ngoài ấy đánh tốt lắm. Anh em tất cả các đơn vị, các phân đội khác cũng đang chiến đấu rất cừ! Cừ lắm! Quả là các chiến sĩ ta đều rất anh hùng. Lát nữa đồng chí chính trị viên sẽ kể cho các đồng chí nghe về Lê Ngọc Vân, Thái Văn A, và rất nhiều đồng chí khác nữa. Thái Văn A đã rất anh dũng chiến đấu và được tuyên bố kết nạp vào Đảng ngay tại trận!

Tôi mừng rỡ loan báo ngay tin ấy đi khắp trận địa. Anh em vô cùng phấn khởi. Tiếng reo mừng nổi lên chẳng khác gì khi vừa bắn rơi một chiếc máy bay. Bùi Thanh Phong, mắt vẫn không rời các mục tiêu, nhưng miệng hỏi vọng sang rối rít :
- Thái Văn A! Đúng Thái Văn A vừa được kết nạp vào Đảng, phải không đồng chí?
- Đúng! - Tôi đáp - Còn Đoàn cũng đang chờ Phong đấy!
- Rõ! - Tôi xin cố gắng hơn nữa! - phong đáp.


-----------------------------------------------------
(1) Một nghĩa quân trẻ tuổi của Ông Ích Khiêm rất mưu trí, dũng cảm, chiến đấu chống giặc Pháp khi chúng mới sang xâm lược nước ta (trong truyện "Ông Cản Ngũ” của Kim Lân).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM