Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 22 Tháng Một, 2020, 04:39:22 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Đại tướng Võ Nguyên Giáp thời trẻ - Hồng Cư  (Đọc 55738 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #10 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2008, 05:47:42 PM »

Bãi khoá

Cuộc đấu tranh đầu tiên trong phong trào yêu nước của học sinh Huế do chính Bác Hồ khi còn trẻ khởi xướng. Năm 1908, phong trào chống thuế, chống xâu của nông dân nổ ra từ Nam Ngãi lan rộng khắp Trung Kỳ. Tại Thừa Thiên, tháng 4-1908, một cuộc biểu tình lớn đã xảy ra tại Huế. Bác Hồ khi đó là học sinh lớp Đệ nhị niên trường Quốc học (niên khoá 1908-1909) đã vận động bạn bè ủng hộ phong trào, cùng đi biểu tình với quần chúng đến Tòa Khâm và Bác đã tham gia làm nhiệm vụ thông ngôn.


Tháng 3-1921, học sinh lớp Đệ tam niên trường Quốc học bãi khoá do anh Trần Phú (sau này là Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương) khởi xướng. Trong các giáo sư người Pháp, bên cạnh một số người có lương tâm nghề nghiệp, có người mang nặng đầu óc thực dân khinh bỉ học sinh bản xứ, miệt thị học sinh là “sale race, sale annamite” (giống nòi bẩn thỉu, người Annam bẩn thỉu. Giáo sư Dubois dạy Toán, có những hành động thô bạo. Mỗi khi có học sinh nào trả lời chậm, ông ta nổi nóng, nắm tóc dập đầu học sinh vào bảng đen miệng la lớn: “Crétin!” (đồ ngu) “Triple crétin” (ba lần ngu). Anh Trần Phú khi đó là trưởng lớp nhắc kín anh em bạn học là trong giờ dạy của Dubois, nếu ông ta còn hống hách như vậy, thì cả lớp đứng dậy bỏ học có trật tự, kéo lên kiện với hiệu trưởng Gabriel Daydé. Sau cuộc đấu tranh này, ông Dubois bị triệu hồi về Pháp…


Tháng 3-1926, học sinh trường Kỹ nghệ thực hành đấu tranh chống chế độ giáo dụ hà khắc, chống chửi mắng đánh đập, bắt học sinh làm “cỏ vê” (lao dịch) yêu cầu bỏ lệnh mặc đồng phục khi ra ngoài, yêu cầu thay hiệu trưởng, tăng thêm giáo viên người Việt… Học sinh đã nhiều lần gửi đơn lên hiệu trưởng nhưng không được trả lời. Ngày 9-3-1926 toàn trường bãi khoá. Hơn 100 học sinh do các anh Đinh Văn Nghệ, Nguyễn Tăng Bích, Nguyễn Tư, Nguyễn Sĩ Liên dẫn đầu kéo đến Toà Khâm trao yêu sách. Học sinh còn gửi đơn lên Toàn quyền Đông Dương và viết bài đăng lên Đông Pháp thời báo (số ra ngày 17-3-1926), viết bài gửi đăng trên báo Nhân đạo (L‘Humanité) của Đảng Cộng sản Pháp. Cuộc đấu tranh của học sinh Kỹ nghệ được dư luận ủng hộ. Viên hiệu trưởng bị triệu hồi về Pháp.


Tháng 4-1927 lại một cuộc bãi khoá bắt đầu từ trường Quốc học rồi lan rộng ra khắp các trường ở Huế, phát triển thành tổng bãi khoá. Sự việc bắt đầu từ sau hoạt động của học sinh trong phong trào “Hai cụ Phan”. Nhà cầm quyền thực dân tìm cách trấn áp. Dưới sự chỉ đạo của Chánh mật thám Trung Kỳ Léon Sogny, hiệu trưởng và tổng giám thị trường Quốc học lúc đó là Bourotte và Harter huy động toàn bộ lực lượng giám sát trong trường theo dõi những học sinh “hiếu động”.


Nếu xét về quan hệ cá nhân thì có thể nói Bourotte và Harter thực sự quý mến anh Giáp cũng như những học trò giỏi khác. Từ khoá học Đệ nhất niên (1925-1926) đến khoá Đệ nhị niên (1926-1927) anh Giáp luôn luôn đứng đầu lớp, tháng nào cũng có tên hàng đầu trên Bảng danh dự (Tableau d’honneur). Chỉ có một tháng đứng nhì, hiệu trưởng Bourotte liền hỏi:


-Sao vậy? Tháng này Võ Giáp đứng thứ hai là thế nào? Từ năm học Đệ nhị niên, nhà trường cấp học bổng và nội trú cho anh Giáp và anh Diểu. Bourotte và Harter khuyến khích học sinh học giỏi nhưng họ thẳng tay trừng trị những ai làm trái ý nhà cầm quyền Pháp.


Đối với những học sinh tham gia phong trào “Hai cụ Phan”, hiệu trưởng và tổng giám thị theo dõi chặt chẽ, phát hiện những người cầm đầu để trừng trị. Sự kiểm soát trong trường gắt gao, không khí ngày càng ngột ngạt. Học sinh, nhất là người nội trú, đọc gì, làm gì không lọt qua mắt các giám thị. Đọc sách báo yêu nước là một tội nặng. Trái ý giám thị là bị phạt “công xin” (consigne), ngày nghỉ không được ra khỏi trường. Học sinh như bị ngẹt thở.


Chính trong bối cảnh ấy, anh Giáp viết bài báo đầu tiên. Đó là một bài báo ngắn viết bằng tiếng Pháp, đầu đề như một khẩu hiệu đấu tranh, một tiếng thét căm hờn: “À bas le tyranneau de Quoc hoc!” (Đả đảo tên tiểu bạo chúa trường Quốc học!). Bài báo tố cáo nền giáo dục ngu dần và quy chế cấm đọc sách báo yêu nước. Bài báo được đăng trên tờ L’Annam của luật sư Phan Văn Trường, xuất bản tại Sài Gòn, một tờ báo tiến bộ thời ấy dám công khai đả kích thực dân Pháp. Bài báo có tiếng vang ở Huế, Sài Gòn.


Anh Diểu và anh Giáp cùng sống trong ký túc xá, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, cùng trao đổi những điều suy nghĩ. Anh Giáp không ngờ thời điểm thi học kỳ là lúc mà thủ đoạn trừng phạt xảo trá của nhà trường đập vào anh Diểu, người mà hiệu trưởng và tổng giám thị cho là cầm đầu phong trào đòi ân xá cho Phan Bội Châu và để tang Phan Chu Trinh ở trường Quốc học.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #11 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2008, 05:50:07 PM »

Hôm ấy thi Toán. Anh Giáp ngồi bàn trước, anh Diểu ngồi bàn sau. Anh Diểu là học sinh giỏi và là người có tư cách, không bao giờ gian dối, nhưng giám thị coi thi một mực vu cho anh Diểu chép bài và đuổi anh ra khỏi lớp. Cả lớp la ó phản đối, nhưng anh Diểu vẫn bị đuổi ra.

Học sinh lớp Đệ nhị niên A thảo một lá đơn. Anh Giáp dẫn đầu đoàn học sinh lên gặp tổng giám thị. Harter ngạc nhiên:

-Kìa Võ Giáp! Trông anh đỏ như con gà trống! Tôi rất ngạc nhiên thấy anh trong hàng ngũ những học trò xấu!

Võ Giáp nộp đơn, Harter trả đơn. Một cuộc tranh cãi nổ ra.

Tin học sinh Nguyễn Chí Diểu vô cớ bị đuổi và tổng giám thị Harter bác đơn lan đi rất nhanh, học sinh toàn trường căm phẫn, đòi phải đấu tranh chống lại hành động đàn áp phi lý của nhà trường.

Anh Giáp bàn với anh Nguyễn Khoa Văn phát động bãi khoá với khẩu hiệu:

-Không được đuổi học sinh Nguyễn Chí Diểu!

-Tự do đọc sách báo!

-Chống giáo dục ngu dân!

Hai người đi vận động các bạn học cùng chí hướng. Ở các lớp từ Đệ tứ niên đến Đệ nhất niên, lưu truyền một mảnh giấy có ghi câu hỏi: “Có thuận bãi khoá không?”. Anh em đều hưởng ứng, hăng hái nhất là các anh Phan Bôi, Đỗ Quy.


Buổi học chiều 26-4-1927. 14 giờ. Học sinh vừa xếp hàng xong dưới mái “pờ-rê-ô” (Préau) lúc giám thị huýt còi vào lớp, thì học sinh lớp Đệ nhị niên A xếp hàng ở giữa không vào lớp. Cậu học sinh bé nhỏ Võ Giáp bước ra khỏi hàng hô lớn: “Bỏ học! Bỏ học! Phản đối việc đuổi Nguyễn Chí Diểu! Phản đối việc đàn áp học sinh!”.


Lời hô hào của anh Giáp được hưởng ứng. Học sinh lớp Đệ nhị niên A kéo về phía cổng trương, vừa đi vừa hô khẩu hiệu. Sân trường ồn ào hỗn loạn. Khối Đệ tam, Đệ tứ niên gồm những học sinh lớn của nhà trường đang di chuyển cũng dừng lại, rồi kéo theo ra phía cổng trường trước con mắt kinh ngạc của các giám thị. Cuộc bãi khoá bắt đầu.


Tin trường Quốc học bãi khoá để phản đối việc đàn áp học sinh lan nhanh sang trường nữ học Đồng Khánh. Hai trường cạnh nhau, chỉ cách một con đường hẹp. Đồng Khánh là trường nữ học duy nhất ở miền Trung hồi ấy. Nữ sinh Đồng Khánh xưa nay vốn yểu điệu thướt tha trong tà áo dài với mái tóc thề óng ả, gặp nam giới thì nghiêng che vành nón khiến cho “Học trò xứ Quảng ra thi, thấy o gái Huế chân đi không đành”, vậy mà lần này, Hương Giang nổi sóng, các nữ sinh Đồng Khánh xuống đường tranh đấu. Ấy là ngày hôm sau 27-4-1927, khi các học sinh Quốc học cử đại diện đến các trường để loan tin và vận động bãi khoá thì bọn cảnh sát xông đến ngăn cản. Xô xát xảy ra giữa nam sinh và cảnh sát tại con đường giữa hai trường Quốc học và Đồng Khánh. Một số nam sinh bị bắt và bị tống giam.


Chị Đào Thị Xuân Yến (bà Nguyễn Đình Chi sau này) nữ sinh lớp Đệ tứ niên vận động chị em viết đơn gửi Khâm sứ Friès yêu cầu can thiệp không được đuổi học và bắt bớ học sinh. Chị kể lại trong Đặc san kỷ niệm 75 thành lập trường Đồng Khánh: “Viết đơn xong, cả lớp tứ niên sắp hàng tuần hành xuống Tòa Khâm, chị em mặc áo dài đen, quần trắng đi guốc dép, nón là gửi vào phòng Giám thị của chị Trần Thị Như Mân”.
Chị Yến kể: Khi thấy các chị lớp Đệ tứ niên kéo ra khỏi trưởng, các em nữ sinh lớp dưới chạy theo:

-Các chị ơi, cho bọn em theo với!

Bà hiệu trưởng Boutron Damasy hoảng hốt ra lệnh đóng cửa trường. Nữ sinh các lớp dưới trèo tường chạy theo các chị.

Đoàn nữ sinh Đồng Khánh đi dọc theo đường Jules Ferry, nay là đường Lê Lợi. Bọn cảnh sát kéo đến. Một tên cò Tây mặt mày đỏ kè, nạt nộ mày tao với nữ sinh. Bỗng chị Minette (sau này là bà Đoàn Nồng) người nhỏ nhắn xinh đẹp tách ra khỏi hàng, ngước đôi mắt to nhìn thẳng vào mặt tên cò Tây, giọng nói thẳng thắn:

-Nầy, nầy, các ông không được tutoyer (mày tao) với chị em chúng tôi! Vô lễ!

Tên cò Tây bị bất ngờ, đành ngậm thinh.

Trong lúc nữ sinh Đồng Khánh xuống Toà Khâm bên bờ nam sông Hương thì phía bờ Bắc, sinh viên trường Hậu bổ Quốc tử giám cũng xuống đường do các anh Ngô Võ Anh, Nguyễn Đình Diễn dẫn đầu. Đoàn này đến đoàn khác, học sinh Bách Nghệ, trường Thuận Hoá cũng rầm rộ kéo đến. Các đoàn học sinh vây Toà Khâm sứ đưa yêu sách.


Trong khi Đổng lý Văn phòng Toà Khâm ra nhận đơn và khuyên học sinh trở về học tập thì Khâm sứ Friès gọi lính và xe vòi rồng tới đàn áp. Xung đột dữ dột xẩy ra giữa cảnh sát và học sinh tại ngã tư cầu Tràng Tiền với nhà Morin, đường rẽ xuống Toà Khâm. Nhiều người bị u đầu, thêm một số học sinh bị bắt. Nam sinh dùng cán dù đen, nữ sinh dùng guốc chống lại. Cảnh sát cho xe vòi rồng phun nước bừa bãi. Một nữ sinh Đồng Khánh đến trước vòi rồng phản đối. Một tên cảnh sát nắm kiềng vàng của chị kéo ra. Phóng viên báo L’Annam có mặt tại chỗ đã viết bài đăng ngay lên báo. Đó là chị Nguyễn Khoa Thể Chi. Chị Thể Chi cùng với các chị Nguyễn Khoa Bội Lan, Tôn Nữ Như Phước, Hoàng Thị Hải Đường, Đào Thị Xuân Yến… là những nữ sinh Đồng Khánh mà anh Giáp thường gặp tại ngôi nhà “Ông già Bến Ngự”.


Trời về chiều âm u, mưa lâm thâm. Nam sinh nhường mũ, áo khoác, giương dù che mưa cho nữ sinh. Các đoàn học sinh tự giải tán, người về gia đình, người về nhà bà con, họ hàng ở Huế. Còn lại khoảng 20 nữ sinh nội trú không biết về đâu, mà trời thì gần tối. Trong lúc bối rối, may sao có bà Đạm Phương (Hội trưởng Nữ công học hội, người đọc điếu văn trong lễ truy điệt cụ Phan Chu Trinh) và cô Hồ Thị hạnh (tức sư bà Diệu Không sau này) đứng ra thu xếp vứi bà Ưng Uý (tức bà Hồ Thị Huệ, chị ruột cô Hạnh và là mẹ của nhà bác học Bửu Hội sau này), người có nhà để trống đang cho hai kỹ sư công chính người Nam Kỳ thuê (là ông Phan văn Hùm và ông Nguyễn Văn Tề) đón số nữ sinh bãi khoá về tá túc. Hai bà vợ ông Hùm, ông Tề nấu nướng nuôi chị em cả mấy tuần lễ.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #12 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2008, 05:52:17 PM »

Cuộc đàn áp chiều 27-4-1927 của Toà Khâm như đổ dầu vào lửa. Trong mấy ngày liền, học sinh kéo nhau đi dọc các phố hô khẩu hiệu. Kinh đô Huế náo động. Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài ra lệnh đóng cổng thành đề phòng biến cố. Học sinh các trường Chaigeau, Paul Bert, trường đạo Pellerin lần lượt bãi khoá. Cuộc bãi khoá của học sinh Huế khởi đầu từ trường Quốc học, Đồng Khánh đã lan rộng thành tổng bãi khoá. Đây là một trong những cuộc tổng bãi khoá lớn thời bấy giờ.


Sau một tuần, nhà cầm quyền trả tự do cho các học sinh bị bắt. Nhưng không phải họ đã nhượng bộ. Lính giăng khắp thành phố, kiểm soát các ngả đường, hễ thấy tụ tập ba người là xông lại giải tán. Giám đốc Học chính Trung Kỳ Henri Déletie cho các trường nghỉ lễ Phục sinh và kéo dài hai tuần lễ để ngăn chặn và xoá nhoà cuộc bãi khoá. Đến hạn, các viên chức phải đích thân đưa con em đi học, nếu không sẽ bị liên luỵ.


Để đối phó lại, học sinh thành lập nơi hội họp và đầu mối liên lạc. Hội quán Quảng Nam ở gần nhà cụ Phan trên dốc Bến Ngự là nơi gặp gỡ và nhận thư, điện, tiền các nơi gửi về ủng hộ cuộc bãi khoá. Một loạt bài tố cáo việc đàn áp học sinh Huế được đăng trên các báo L’Annam và La cloche fêlée (Tiếng chuông rè) ở Sài Gòn. Học sinh Sài Gòn, Hà Nội và nhiều tỉnh miền Trung gửi điện ủng hộ. Một nhóm công chức Huế quyên góp tiền gạo giúp đỡ học sinh bãi khoá không có gia đình ở Huế.


Trong quá trình bãi khoá, anh Giáp hoạt động tích cực ở Hội quán Quảng Nam. Anh được phân công đứng trước Thừa phủ cùng một số bạn vận động những học sinh con nhà quan, con nhà giàu đi xe kéo gọng đồng khoan không nên vội đến trường, có trường hợp phải giằng xe lại, kéo tay bạn bảo đi về.


Cảnh sát theo dõi bắt những người hoạt động tích cực. Anh Giáp tạm lánh về Vĩ Dạ, ở nhà anh Nguyễn Khoa Thị, một bạn học lớp Đệ tam. Chị cả anh Thị, ăn mặc trang nhã, duyên dáng một cách kín đáo, tiếng nói nhỏ nhẹ như có nhạc điệu, chị khen các em bãi khoá là biết tự trọng, chị vui vẻ chăm sóc nuôi dưỡng các em cả tuần lễ.

Tin học sinh Huế bãi khoá lan đến quê nhà. Ông cụ cất công vào Huế tìm con. Anh Giáp an ủi ông: “Thầy cứ về, con sẽ đi học lại”.

Một tháng sau, phong trào dần tan. Phần lớn học sinh đi học trở lại. Nhà cầm quyền công bố danh sách học sinh bị đuổi học: 90 người tại tất cả các trường ở Huế.

Tại Quốc học là 37 người, đầu bảng là Nguyễn Chí Diểu, Võ Giáp, Nguyễn Khoa Văn, Phan Bôi, Nguyễn Hoàng, ở tất cả các lớp đều có người bị đuổi học: Lớp Đệ tứ là các anh Đào Đăng Vĩ, Tôn Thất Hoạt, Vĩnh Võ; lớp Đệ tam là Tôn Thất Hy, Trần Xuân Đang, Nguyễn Khoa Thị, Phạm Khắc Quảng; lớp Đệ nhị là Võ Khắc Khoan, Vĩnh Dụ, Lưu Trọng lạc; lớp Đệ nhất là Ưng Túc, Nguyễn Khoa Trang, Trịnh Xuân An, Lương Sĩ Bích, Nguyễn Đăng Khoa… (ở đây chỉ ghi lại một số người).


Ở trường Đồng Khánh, cô giáo kiêm giám thị Trần Thị Như Mân bị bãi chức vì tình nghi là cầm đầu nữ sinh. Trong số nữ sinh bị đuổi học, có các chị Nguyễn Khoa Thể Chi, Nguyễn Khoa Bội Lan, Tôn Nữ Như Phước, Tôn Nữ Như Sang, Tôn Nữ Thanh Xuân, Đào Thị Xuân Yến, Đào Thị Xuân Nhạn, Thái Thị Bôi, Hoàng Thị Hải Đường, Nguyễn Thị Giáo, Nguyễn Thị Hồng, Huỳnh Thị Thuyền, Nguyễn Thị Trang… Chị Sinh người Việt gốc Hoa gia đình nghèo bị tịch thu nhà cửa vì thiếu tiền học.

Ở trường đạo Pellerin các anh Ưng Cầu, Trương Gia Kỳ Sanh, Phan Duyệt, Nguyễn Ngọc Lễ, Nguyễn Bội Liên, Lê Công Tiễu, Phạm Kỳ… bị đuổi học.

Theo luật lệ thời bấy giờ, những học sinh bị đuổi không được học hành thi cử trên toàn cõi Đông Dương trong vòng hai năm.


Võ Giáp, Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Khoa Văn, Nguyễn Hoàng, Trịnh Xuân An thường gặp nhau. Không ai bảo ai, mọi người cùng chung một ý nghĩ: Xuất dương đi làm cách mạng theo gương các bậc tiền bối. Tâm trí mọi người hướng về Quảng Châu (Trung Quốc). Anh em bàn, cả anh Diểu đi bắt liên lạc, anh Diểu vô Nha Trang không tìm ra đầu mối. Nguyện vọng xuất dương không đạt, anh em buồn bã chia tay.


Nguyễn Khoa Văn cùng với một số chị em trường Đồng Khánh: Cô giáo kiêm giám thị Trần Thị Như Mân, các nữ sinh Nguyễn Thị Giáo (bà Hà Huy Tập sau này), Đào Thị Xuân Yến (bà Nguyễn Đình Chi sau này) và em là Đào Thị Xuân Nhạn, được bà Đạm Phương giới thiệu ra Bắc Kỳ học nghề dệt vải để chấn hưng công nghệ.
Nguyễn Chí Diểu, Nguyễn Hoàng vào Nam Kỳ.


Anh Giáp tìm gặp các bạn cùng chí hướng ở Hội quán Quảng Nam: Anh Lê Nhiếp con rể cụ Huỳnh Thúc Kháng, anh Hồ Nghinh, anh Trần Kỉnh, anh Sơn Trà… Hội quán Quảng Nam bị mật thám theo dõi gắt, anh em phải phân tán về quê.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #13 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2008, 05:54:04 PM »

Anh Giáp vào Quảng Nam, đến tạm trú ở nhà anh Sơn Trà. Khác với Huế, Quảng Nam từ lâu đã có những hoạt động công thương nghiệp. Lúc này, do tác động của phong trào yêu nước, một làn sóng chấn hưng công nghệ kêu gọi mọi người dùng hàng nội hoá. Loại vải phô tuýt so (faux-tussor) dệt ở Quảng Nam được ưa chuộng khắp ba kỳ. Anh Sơn Trà đưa anh Giáp đi thăm một xưởng dệt. Trước kia dệt bằng khung cửi nhỏ, đưa thoi tay, từ khi cải tiến máy dệt giật cần đánh thoi thì năng suất tăng nhanh và dệt khổ rộng hơn. Ở Quảng Nam đã xuất hiện nhiều tổ chức công thương: Những hội xã, công ty, hội buôn hoạt động nhộn nhịp. Quê anh Phan Thanh và Phan Bôi ở Bảo An còn có nghề dệt lụa.


Trong thời gian lưu lại ở Quảng Nam, anh Giáp đến viếng nhà thờ cụ Phan Chu Trinh mới được lập tại Đà Nẵng. Nơi thờ cúng cụ cũng là nơi gặp gỡ của thanh niên và nhân sĩ yêu nước. Anh Giáp tranh thủ đi thăm nhiều danh lam thắng cảnh: Bán đảo Sơn Trà, chợ Hàn, sông Hàn, chùa Non nước trên Ngũ Hành Sơn, lúc đó leo núi còn khó, đường lên đầy bụi dứa gai. Anh Giáp về Trà Kiệu thăm anh Lê Ấm rể cụ Phan Chu Trinh. Mẹ anh Lê Ấm đưa anh Giáp đi thăm nhà thờ Trà Kiệu, tháp Chàm Đồng Dương, Mỹ Sơn.


Rời Quảng Nam, anh Giáp vào Quy Nhơn thăm anh Tôn Thất Hy là bạn học bãi khoá cũng có nguyện vọng xuất dương, đã nhiều lần bàn chuyện ra đi với anh Diểu và anh Giáp. Gia đình anh Hy mở cửa hiệu tân dược.
Lang thang một thời gian, anh Giáp trở lại Huế, đến tạm trú tại nhà một người bạn là anh Tôn Thất Tiên nhân viên bưu điện. Lập tức cảnh sát đến xét nhà. Tuy họ không tìm được chứng cớ gì buộc tội, nhưng để tránh liên luỵ cho chủ nhà, anh Giáp rời đi nơi khác.


Cuối cùng nơi đậu được là nhà giáo sư Võ Liêm Sơn. Nhà thầy ở trước chùa Từ Đàm. Thầy Võ Liêm Sơn là một nhà sư phạm uyên bác và có tâm huyết. Thầy sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống yêu nước ở Hà Tĩnh, ông thân sinh từng tham gia phong trào Cần Vương. Thuở nhỏ, thầy vừa học chữ Hán, vừa học chữ Pháp, năm 1911, đậu bằng Thành chung trường Pháp Việt, năm 1912 đậu bằng Cử nhân Hán học. Vào hồi đầu thế kỷ 20, một lúc đạt được hai học vị như thầy quả là hiếm.


Trước khi làm nghề sư phạm, ông Võ Liêm Sơn cũng ra làm quan. Được bổ nhiệm làm tri huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, vốn ưa thích văn chương, ông thường đi vào dân chúng sưu tầm ca dao tục ngữ. Lúc đó có phong trào nông dân đòi giảm thuế, ông ủng hộ, khuyến khích nông dân kéo lên tỉnh đòi giải quyết yêu sách. Vì cự lại tên chủ thương chính người Pháp, ông bị huyền chức.


Sau đó, ông xin sang giáo chức, làm Huấn đạo, rồi khi chế độ khoa cử cũ bị bãi bỏ, ông được bổ nhiệm làm giáo sư Hán văn và Quốc văn ở trường Quốc học Huế. Ông đã truyền cho học sinh lòng yêu văn hoá dân tộc và tinh thần giữ gìn bản sắc giống nòi.


Anh Giáp khi còn trên ghế nhà trường đã được dữ những giờ giảng văn rất hay của ông. Anh còn nhớ thầy giảng bài Sống chết mặc bay của Hoàng Tích Chu, ý tứ rất sâu sắc. Bài văn lên án bọn quan lại thối nát tệ lậu ham đánh bạc trong khi đê vỡ.


Thầy Võ Liêm Sơn có nhiều sáng tác văn học. Ông hay làm thơ châm biếm, nổi tiếng là tập Hài văn phê phán những điều trái tai gai mắt. Thơ ông mạnh mẽ, chân chất. Ông cũng làm thơ trữ tình, bài Viếng mộ Nguyễn Du là một bài khá hay, học sinh Quốc học các khoá 1024-1926 đều thuộc:

Cùng dưới non Hồng một giải sinh
Tôi thương, tôi tiếc Cụ Tài, Tình
Trăm năm đã có tôi đang khóc
Thảm thiết nư ai khóc Tiểu Thanh
(Trích)

Lúc anh Giáp đến nương náu tại nhà ông là lúc ông đang sáng tác cuốn tiểu thuyết Cô Lâu Mộng. Thầy đọc, học trò làm thư ký. Trong nhà ông Võ Liêm Sơn treo ảnh Phật. Ông chủ trương khổ hạnh: “Các cậu học như thế vừa lừa, tập khổ hạnh đi để mà làm cách mạng!”. Bữa ăn hàng ngày ở nhà thầy chỉ có cơm muối vừng. Chỉ thứ hai, thứ tư, thứ sáu mới được ăn thịt.


Tuy vậy ở nhà thầy Võ Liêm Sơn, món ăn tinh thần lại thoải mái. Anh Giáp say sưa vùi đầu nơi tủ sách.
Chính tại nơi đây, lần đầu tiên, anh Giáp đã đọc sách về chủ nghĩa Marx. Thầy Võ Liêm Sơn có cuốn Le Marxisme (Chủ nghĩa Marx-anh Giáp không nhớ tác giả và nhà xuất bản), thầy giấu cuốn sách cấm ấy đằng sau tấm bảng đen.

Một thời gian sau, anh Giáp xin phép trở về quê. Khi chia tay, thầy nhắc nhở anh về nhiệm vụ người thanh niên, trách nhiệm của một người dân mất nước.

Anh Giáp còn có dịp gặp lại thầy Võ Liêm Sơn khi anh trở lại Huế làm việc tại Quan hải tùng thư và trong kháng chiến chống Pháp khi ấy ông Võ Liêm Sơn là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Liên khu 4, ra Việt Bắc họp. Ông Võ Liêm Sơn được Hồ Chủ tịch tiếp và tặng bài thơ:

Tặng Võ Công
Thiên lý công tầm ngã
Bách cảm nhất ngôn trung
Sự dân nguyện tận hiếu
Sự quốc nguyện tận trung
Công lai ngã hân hỉ
Công khứ ngã tư công
Tặng công chỉ nhất cú
Kháng chiến tất thành công.


Dịch:

Ngàn dặm cụ tìm đến
Một lời trăm cảm thông
Thờ dân trọn đạo hiếu
Thờ nước vẹn lòng trung
Cụ đến tôi mừng rỡ
Cụ đi tôi nhớ nhung
Một câu xin tặng cụ
Kháng chiến ắt thành công.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #14 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2008, 06:11:10 PM »

Khước từ hôn nhân

Vạn bất đắc dĩ anh Giáp phải trở về quê. Một cánh chim đang muốn tung trời mà bay nay lại phải quay về nơi tổ cũ. Đầu óc đã mở mang, tầm mắt đã nhìn rộng, quen giao lưu với bạn bè, quen thông tin sách báo, nay lại phải về nơi nước đọng.


Anh tự đặt một chương trình học tập rất nghiêm. Anh liên lạc để tự học theo Ecole universelle (Trường giáo dục phổ cập) bên Pháp. Anh nhận được tài liệu rất đềi và trả bài rất đều. Số sách mang được về quê quá ít ỏi. Mấy cuốn Pháp văn còn sót, anh đọc đi đọc lại, thuộc lòng từ đầu chí cuối cuốn kịch thơ Andromaque của Racine, Le Cid của Corneille. Anh tập làm văn theo cuốn Stylitstique (Tu từ học).


Anh Giáp cho em là Võ Thuần Nho và bạn là Đào Viết Doãn đọc các tài liệu của cụ Phan Bội Châu và thầy Võ Liêm Sơn. Nho và Doãn rủ nhau ra vườn sau, trèo lên cây cao để đọc. Anh Giáp tuyên truyền cho Nho, Doãn, Huy, Đẩu, Tào, Nhĩ. Ở An Xá hình thành một nhóm thanh niên yêu nước, sau này nhiều người trở thành đảng viên Đảng Cộng sản và là nòng cốt trong Tổng khởi nghĩa và kháng chiến chống Pháp.


Dạo ấy, có một vấn đề khó xử trong gia đình là việc hôn nhân. Ông cụ muốn anh Giáp lấy vợ. Trong làng có cô Bá (vợ ông Bá hộ) đánh tiếng có con gái sẵn sàng gả. Anh Giáp biết rõ gia đình này: Giàu nhất làng, nhà ngang dãy dọc, sang trọng kiểu phú ông. Con trai lớn ông Bá trạc tuổi anh Giáp tên là Đính được gọi là Giám Đính (Chức giám sinh mua). Hai cô em vừa tuổi lấy chồng, một cô ngày trước cùng tiểu học với anh Giáp trên trường Tổng ở Tuy Lộc đến lớp tư, cô em định gả cho anh Giáp mới lớn, vì nhiều lẽ, anh Giáp không thể ưng. Mẹ cô cho biết, nếu thành hôn được, sẽ cho ruộng, cho nhà.


Ông cụ muốn anh Giáp phải nhận lời. Ý kiến bà mẹ thì khác: “Tuỳ con. Ưng thì lấy, không ưng thì thôi, không ép”.

Anh Giáp rất biết ơn bà. Quan điểm của bà thật tiến bộ. Do bà thương con hay do ảnh hưởng từ thời ông ngoại? Các chị (chị Điểm, chị Liên), chú Nho đều cùng chung quan điểm với mẹ.

Việc hôn nhân của chị cả (chị Điểm) cũng vậy. Trong làng có anh Hương Huệ đến dạm hỏi chị cả. Chị không ưng. Một hôm Hương Huệ mang chè, gạo nếp đến. Chị Điềm hỏi lạnh tanh: “Anh đến có việc gì?”. Rồi chị đem trả lại tất. Tuy vậy Hương Huệ vẫn kiên trì, thường xuyên đến nhà xin ở rể. Ý kiến bà mẹ: “Tuỳ ý chị, không gán ép”. Chị Điểm kiên quyết từ chối. Sau này chị Điểm lấy người chị yêu (trong kháng chiến chống Pháp làm tỉnh đội trưởng).


Một việc đập vào mắt người thanh niên đã giác ngộ chính trị là vấn đề ruộng đất ở quê nhà. Anh Giáp và nhóm thanh niên tiến bộ trong làng bàn với nhau phải tìm cách chống lại bọn lý hương, bọn cho vay nợ lãi, đòi chia lại ruộng đất cho công bằng, đòi lại ruộng bị gán nợ, bị mua đắt bán rẻ.


Nhóm thanh niên này chủ trương lập hội kín. Họ rủ nhau lên thượng nguồn sông Kiến Giang, hôm ấy đi tảo mộ, mấy anh em đến chân núi An Mã họp, tuyên thệ lập hội kín để đánh Tây. Mục đích tôn chỉ là gì? Cương lĩnh điều lệ ra sao? Không biết, chỉ biết là cùng chí hướng, hăng hái, thế thôi. Hôm sau, anh Giáp đang ươm cải ngoài vườn bỗng thấy mẹ đến gần. Bà hỏi khẽ: “Con làm hội kín phải không?”. Anh Giáp trả lời: “Có”. Bà mẹ nói tiếp: “Vào hội kín đánh Tây thì được, nhưng đừng để nó bắt”.


Mùa lụt năm 1928. Lụt ở An Xá, nhìn về phía Tây, nước đến chân núi, nhìn về phía Đông nước đến vùng cát. Anh Giáp cùng chú Nho đi nơm cá với bà con trong làng. Có lần anh Giáp nơm được con cá dô (cá quả) rất to. Cũng có khi hai anh em ra vườn sau chặt chuối làm bè, đi đâm chuột trên ngọn cây đêm về chén.


Một hôm có đò ai vào tận cổng. Chú Nho nhìn ra thấy một thanh niên mặc y phục kiểu hướng đạo sinh mũ rộng vành, áo ngắn tay, quần soóc, dáng cao gầy mảnh khảnh, nước da đen sạm, chân tay rắn chắc kiểu người năng tập thể dục, thể thao. Người ấy nhanh nhẹn đi vào nhà: Đó là anh Nguyễn Chí Diểu. Anh đáp xe lửa từ Huế ra ga Mỹ Trạch rồi xuống đò về An Xá. Hai người bạn thân gặp lại nhau, vui mừng khôn xiết. Anh Diểu mới ở Nam Kỳ ra. Xa nhau mới một năm rưỡi mà anh Diểu có vẻ “già” hẳn đi.


Nghe anh Giáp giới thiệu là bạn học cũ trường Quốc học, ông cụ vui mừng lắm. Sau một hồi thăm hỏi, hàn huyên, anh Giáp mời anh Diểu ra cánh đồng vắng sau làng. Hai anh em leo lên cây mưng, một cây cao để nói chuyện.


Anh Diểu rút ra một tập tài liệu bí mật trao cho anh Giáp đọc. Đó là bài nói của đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại cuộc họp của Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới, ở Bruxelles, và một văn bản về một cuộc họp khác ở Quảng Châu, có bài nói chuyện của Nguyễn Ái Quốc. Anh Giáp rất xúc động, anh nhớ lại hình ảnh đồng chí Nguyễn Ái Quốc đội mũ phớt trên một tờ báo bí mật mà anh Diểu và các bạn đã truyền cho nhau xem, khi còn trên ghế trường Quốc học huế. Anh Diểu đã bắt liên lạc được với tổ chức cách mạng. Anh nói chuyện hoạt động của bạn bè. Nguyễn Hoàng đã đi vào Sài Gòn làm thư ký Sở Ba Sơn kiếm tiền nuôi cả nhóm. Bản thân anh Diểu đã tham gia tổ chức bí mật Tân Việt cách mệnh đảng. Anh Diểu nói:

-Giáp này, muốn làm cách mạng thì phải có tổ chức. Có tổ chức cách mạng mới gây dựng được phong trào cách mạng. Ở Huế hiện nay có đảng Tân Việt, chương trình, điều lệ thế này… thế này…

Anh Giáp hoàn toàn tin tưởng người bạn lớn. Nguyễn Chí Diểu thay mặt cho tổ chức kết nạp Võ Nguyên Giáp vào đảng Tân Việt (lúc đó, Nguyễn Chí Diểu đã là uỷ viên Kỳ bộ Trung Kỳ của Tân Việt).

Anh Diểu ở lại chơi mấy ngày rồi tạm biệt. Anh Giáp hẹn sẽ nhanh chóng thu xếp để vào Huế hoạt động cách mạng.

Thoát ly gia đình! Hoạt động cách mạng! Tâm hồn anh Giáp như có gió lộng. Anh trèo lên cây mưng sau nhà trên đường đi ra “bộng”, ngắt một lá non ăn sống, nhấm nháp vị cay cay chát chát của nó. Trên cành cây, anh đọc đi đọc lại nhiều lần tập tài liệu bí mật. Lần đầu tiên anh được đọc một tập tài liệu giải thích rõ ràng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc tế.


Anh xin phép ông thân vào Huế để tiếp tục học và kiếm việc làm. Ông cụ bằng lòng với điều kiện là anh nhận làm rể nhà ông Bá.

Anh Giáp kéo chú Nho ra vườn sau, nói:

-Tao phải ra đi. Thầy bảo tao lấy vợ. Tao phải lập kế thế này… thế này…

Anh Giáp đóng khăn xếp, mặc áo dài đen, quần vải trắng, chân đi quốc đến nhà ông Bá. Cô Bá tiếp đãi nồng nhiệt, đem cả chục trứng gà và cho tiền để anh Giáp đi Huế.

Anh Giáp nói:

-Cảm ơn, tôi không dám nhận.

Cô Bá cười:

-Cậu làm cao! Sau này lại không đòi nhà, đòi ruộng ấy à!

Ông cụ thấy anh Giáp đến thăm ông Bá, đồng ý cho anh đi Huế.

Anh Giáp xuống bếp nói với mẹ:

-Con không kết hôn với con gái cô Bá đâu. Thầy thím đừng thu xếp.

Hôm sau anh Giáp ra đi. Một con đò dọc bốn chèo đưa anh ra ga Mỹ Trạch. Chú Nho, Doãn và Giám Đính đi theo tiễn.

Trong lúc chờ tàu, anh Giáp nói với Giám Đính:

-Tôi rất tôn trọng gia đình anh, nhưng tôi không thể kết hôn với em gái anh được. Tôi và cô ấy không hợp nhau. Nhờ anh về thưa lại với gia đình…

Nói đoạn, anh Giáp đáp xe lửa vào Huế.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #15 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 07:42:15 AM »

Chương III
Bước vào đời


Làm việc tại Quan hải tùng thư

Mùa thu năm 1928, anh Giáp trở lại Huế. Anh bước vào đời, cuộc đời của một chiến sĩ cách mạng.

Anh Diểu giới thiệu anh Giáp đến làm việc tại Quan hải tùng thư. Anh giữ chân thư ký ngồi ở quầy hàng bán sách, thực tế là tham gia sinh hoạt ở một tiểu tổ bí mật của Tân Việt.


Quan hải tùng thư là một nhà xuất bản do Tổng bộ Tân Việt chủ trương, trụ sở đặt ở phố Đông Ba, trên bờ sông Đông Ba. Sáng lập viên là anh Đào Duy Anh, cộng tac viên chủ yếu là các anh Phan Đăng Lưu, Ngô Đức Diễn…

Quan hải tùng thư cũng là trụ sở bí mật của Tổng bộ đảng Tân Việt.


Vào thời ấy, trong trào lưu yêu nước trên đất nước ta, xuất hiện nhiều nhà xuất bản có xu hướng tiến bộ: Ở Hà Nội có Nam Đồng thư xã; Sài Gòn có Cường học thư xã; Duy Tân thư xã xuất bản các tác phẩm của cụ Phan Bội Châu; Giác quần thư xã xuất bản di cảo của cụ Phan Chu Trinh.


Nét đặc trưng của Quan hải tùng thư là giữa kinh đô Huế, nơi mà thực dân Pháp và triều đình Huế ra hết nghị quyết này tới đạo dụ khác để nghiêm cấm lưu hành các sách báo yêu nước và dân chủ, nơi mà bầu không khí chính trị nghẹt thở hơn ở Sài Gòn và Đà Nẵng là thuộc địa và nhượng địa đặt dưới chế độ luật pháp của nước Pháp, thì Quan hải tùng thư là nhà xuất bản đầu tiên và duy nhất ở huế lợi dụng khả năng hợp pháp để công khai cho ra mắt bạn đọc tập sách có xu hướng tiến bộ.


Với ý định truyền bá tri thức khoa học xã hội và tư tưởng mới, Đào Duy Anh đã biên soạn, phiên dịch, xuất bản một loạt sách như: Lịch sử các học thuyết kinh tế (quyển thượng), Lịch sử nhân loại, Phụ nữ vận động, Tôn giáo là gì?, Xã hội là gì?, Dân tộc là gì?. Phan Đăng Lưu dịch tập Xã hội luận và Lịch sử các học thuyết kinh tế (quyển hạ). Võ Liêm Sơn dịch hai tập Đông Tây văn hoá phê bình và viết tập Hài văn. Trần Đình Nam, một trí thức yêu nước ở Huế viết tập Trí khôn. Trần Mạnh Nhẫn, một trí thức yêu nước ở Sài Gòn viết tập Thế giới cường quốc chính thể. Đào Duy Anh đặt cái tên Quan hải tùng thư là lấy ở câu “Quan hải nan vi thuỷ” của Mạnh Tử (xem biển thì biết rằng làm ra nước là khó) ý nói rằng biển học thức thì mênh mông vô tận mà ông chỉ là một con chim tinh vệ bé nhỏ (ông lấy biệt hiệu là Vệ Thạch) nguyện cắp từng hòn sỏi góp phần vào việc lấp biển học mênh mông bát ngát.


Ngôi nhà của Quan hải tùng thư có hai tầng. Tầng dưới phía trước mở cửa hiệu bán sách, phía sau có cửa thông ra bờ kênh Đông Ba đề phòng khi bất trắc. Sinh hoạt của tiểu tổ đảng Tân Việt ở tầng trên. Tiểu tổ này do Đào Duy Anh làm tổ trưởng có: Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Diểu và Trần Thị Như Mân.


Anh Đào Duy Anh là thầy học cũ của anh Giáp ở trường tiểu học Đồng Hới, Quảng Bình. Gặp lại nhau, tình thầy trò quện với tình đồng chí. Anh Đào Duy Anh lớn hơn anh Giáp 7 tuổi. Nhiều đêm, hai thầy trò, hai anh em thức nói chuyện đến tận khuya. Phố Đông Ba ban đêm có người bán chẻ rong. Tiếng rao lanh lảnh: “Chè hạt sen, chè đậu xanh… khôông?”. Có đủ loại chè, kể cả chè thịt quay. Một hôm, anh Đào Duy Anh gọi vào, mỗi người ăn một bát, trả một hào.


“Lúc ấy mình thấy một hào đã to lắm”. Sau này anh Giáp nói với tôi như vậy. Lương tháng của anh ở Quan hải từng thư được 8 đồng. Nhớ lại cái ngày ở làng quê Quảng Bình mới vào Huế để đi học, anh phải trả tiền ăn hàng tháng từ 2 đồng đến 2 đồng rưỡi. Anh Giáp chi tiêu rất dè sẻn, tằn tiện.


Anh Đào Duy Anh năm ấy 24 tuổi, cũng là một người thuộc lớp thanh niên chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của cụ Phan Bội Châu. Nếu không có cuộc gặp gỡ với cụ Phan tại thị xã Đồng Hới một buổi trưa mùa đông năm 1925, thì có lẽ anh đã sống mòn, chôn vùi tuổi thanh xuân trong bầu không khí uể oải của một nhóm công chức và quan lại thuộc bốn, năm cơ quan của chính quyền thực dân và hai dinh Bố chánh và Án sát của triều đình Huế tại cái tỉnh lỵ Quảng Bình nhỏ bé và hẻo lánh ấy. Cụ Phan xuất hiện đã thức tỉnh anh. Tiếp đến lễ tang cụ Phan Chu Trinh rồi cuộc bãi khoá càng thôi thúc lòng anh muốn ra đi, thoát khỏi chốn ao tù, tìm nơi trời cao biển rộng. Kết thúc năm học, anh đệ đơn từ chức giáo học, không chờ giấy trả lời của Sở Học chính Trung Kỳ, anh từ giã bạn bè và học trò lên đường vào Đã Nẵng hay Sài Gòn để làm báo. Qua Huế, anh đến bái yết cụ Phan Bội Châu, lĩnh hội ý kiến của cụ. Cụ Phan khuyến khích cổ vũ anh, kể với anh rằng cụ đã từng viết báo ở Trung Quốc để tuyên truyền cho cách mạng Việt Nam. Nguyện vọng làm báo của anh được thực hiện khi anh gặp cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Đà Nẵng và được cụ giao cho trách nhiệm giúp cụ thành lập tờ báo Tiếng Dân ở Huế.


Sau một thời gia cùng sinh hoạt tiểu tổ và phân công công tác đoàn thể cho anh Giáp, anh Đào Duy Anh uỷ thác cho anh Giáp hai nhiệm vụ quan trọng:

Một là với tư cách Tổng Bí thư đảng Tân Việt (Anh Đào Duy Anh được bầu làm Tổng Bí thư đảng Tân Việt trong Đại hội ngày 14-7-1928 họp tại một khách sạn ở phố Hàng Bè, Đại hội sửa đổi Chương trình, Điều lệ, quyết định đổi tên đảng trước đó là Hưng Nam thành Tân Việt cách mệnh đảng và dời Tổng bộ từ Vinh vào Huế), anh đã trao đổi ý kiến trong Ban Thường vụ Tổng bộ (Khi ấy gồm 3 người: Đào Duy Anh, Phan Đăng Lưu, Ngô Đức Diễn) và một hôm, anh tuyên bố với Võ Nguyên Giáp: “Các anh quyết định giao cho anh Giáp nhiệm vụ làm uỷ viên Trung ương dự bị, phụ trách tuyên hấn và giao thông liên lạc”.

Hai là với tư cách Tổng biên tập báo Tiếng Dân, anh Đào Duy Anh giới thiệu anh Giáp với cụ Huỳnh Thúc Kháng và được cụ đồng ý nhận anh Giáp làm biên tập viên báo Tiếng Dân.

Hai việc này có tác dụng thúc đẩy quá trình trưởng thành nhanh chóng về chính trị của anh thanh niên Võ Nguyên Giáp.

Báo Tiếng Dân là tờ báo có xu hướng tiến bộ, do một cựu chính trị phạm là cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trương, ra mắt độc giả từ tháng 7 năm 1927.


Huỳnh Thúc Kháng là một trí thức yêu nước có tiếng ở Quảng Nam. Nhà nghèo, học gioi, đậu tiến sĩ lúc ngoài hai mươi tuổi, ông không ra làm quan, ở nhà đọc Tân thư của các học giả tiến bộ Trung Quốc và giao thiệp với các chí sĩ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Trần Quý Cáp. Là lãnh tụ phong trào Duy Tân ở tỉnh nhà, ông bị bắt giữa lúc phong trào Duy Tân ở tỉnh nhà, ông bị bắt giữa lúc phong trào chống thuế diễn ra quyết liệt (1908). Trần Quý Cáp bị tử hình, Phan Chu Trinh bị đày đi Côn Đảo và sau đó bị đưa đi an trí ở Paris, Huỳnh Thúc Kháng bị đày ở Côn Đảo 13 năm liền từ 1908 đến 1921. Năm 1922 ông được phóng thích cùng với các chí sĩ Lê Văn huân, Ngô Đức kế, Nguyễn Đình Kiên, Đạng Nguyên Cẩn…


Năm 1925, thi hành một chính sách mị dân, chính quyền thực dân bãi bỏ hình thức “Hội đồng tư vấn” đã mất tác dụng, cho ra đời “Viện dân biểu” ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, cùng lúc đó, họ cho thành lập đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu ở Sài Gòn để hô hào “Pháp Việt đề huề”.


Huỳnh Thúc Kháng cùng một số chính trị phạm ra ứng cử dân biểu Trung Kỳ. Khác hẳn Viện dân biểu Bắc Kỳ nơi mà thành phần tư sản mại bản, địa chủ, tay sai của chính quyền thực dân chiếm đa số, ở Viện dân biểu Trung Kỳ, các phần tử yêu nước giành thắng lợi lớn trong cuộc vận động bầu cử. Họ bầu Huỳnh Thúc Kháng làm Viện trưởng. Được các cựu chính trị phạm và trí thức yêu nước ủng hộ, cụ Huỳnh nhận đứng ra lập một tờ báo để làm cơ quan ngôn luận bênh vực quyền lợi của dân và hỗ trợ cho hoạt động của Viện dân biểu.


Báo Tiếng Dân với cái tên đầy ý nghĩa đó ra đời. Báo sống được 16 năm (từ 1927 đến 1943) thì bị đóng cửa. Mười sáu năm “Thét Tiếng Dân giữa Kinh thành Huế” (Trường Chinh).
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #16 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 07:42:50 AM »

Cùng “Thét Tiếng Dân giữa Kinh thành Huế”

Nếu mối duyên nợ của anh Giáp với báo chí bắt đầu từ bài báo đầu tiên viết năm 16 tuổi khi còn là học sinh Quốc học, thì thời gian làm báo Tiếng Dân là giai đoạn học nghề làm báo. Anh phải đọc rất nhiều sách báo các loại để tìm hiểu những vấn đề đang sôi nổi dư luận lúc bấy giờ, anh phải tìm hiểu những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và thế giới. Anh làm quen với mọi thể loại: Tin tức, thời sự, bình luận, điều tra, phóng sự… Anh viết rất nhiều bài dưới nhiều bút danh: Vân Đình, Hải Than (phân biệt với Hải Thanh viết trên báo Nhành Lúa thời kỳ 1936-1939 là bút danh của Nguyễn Hoàng, bạn học bãi khoá ở Quốc học. Đây là trùng tên).

Anh được phân công viết mục Thế giới thời đàm đưa tin và bình luận tình hình thế giới. Khi ấy anh đã rất chú ý đến tình hình chiến tranh du kích ở Trung Quốc.

“Lúc đó mình tưởng Chu-Mao là một người”. Sau này anh Giáp nói với tôi như vậy.

Anh đưa tin về các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của thợ thuyền như cuộc đình công của thợ nhà máy sợi Nam Định (23-11-1928), cuộc đình công của một bộ phận cu li xe kéo ở Hà Nội (6-1-1929), cuộc bãi công của công nhân xe lửa Trường Thi  (16 đến 23-5-1929).


Anh Giáp rất chú ý đến vấn đề nông thông, anh viết một số bài về đời sống khổ cực của nông dân: Sưu cao, thuế nặng, địa tô, cho vay nặng lãi, mua đắt bán rẻ, cướp đoạt ruộng đất… những vấn đề mà anh đã quan sát ở quê hương An Xá.


Anh ham đi vào nghiên cứu các vấn đề kinh tế. Nhân đọc cuốn Annuaire statistique (Niên giám thống kê), anh lấy tư liệu về các công ty tư bản ở Đông Dương có vốn trên một triệu đồng (tất cả 29 công ty) viết một bài tố cáo sự bóc lột của tư bản thực dân đối với nhân dân lao động và sự chèn ép của chúng đối với tư sản dân tộc Việt Nam. Bài đăng hai cột báo trang nhất. Cái lối khai thác tài liệu “lấy gậy ông đập lưng ông” này anh Giáp học theo cách làm của Nguyễn Ái Quốc trên tờ báo Le Paria và trong cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp. Tất nhiên các nhà cầm quyền thực dân không thể chịu nổi. Bài báo bị kiểm duyệt xoá sạch. Theo quy chế quản lý báo chí của chính quyền thực dân, báo in xong morát phải đưa sang Sở mật thám để kiểm duyệt. Leon Sogny, Chánh mật thám Trung Kỳ gạch xoá gần hết bài báo của anh Giáp với cây bút chì xanh của hắn. Lúc ấy các nhà báo gọi cơ quan kiểm duyệt là crayon bleu (bút chì xanh). Đưa về sửa bài không kịp, anh Giáp thưa với cụ Huỳnh Thúc Kháng. Cụ nói: “Cứ để cột trống”.


Làm việc với cụ Huỳnh Thúc Kháng, anh Giáp nhận thấy cụ là một nhà nho cương trực, có khí tiết đại trượng phu, không khuất phục trước uy vũ, không màng giàu sang phú quý, không sờn lòng trước gian khổ hiểm nguy. Tính cụ hơi “xẵng” do thẳng thắn và quyết đoán. Cụ Huỳnh Thúc Kháng không làm thơ văn như cụ Phan Bội Châu nhưng nhiệt tình yêu nước thì chan chứa, trí dũng thì có thừa. Cụ Huỳnh có trí nhớ đặc biệt, đọc đến đâu nhớ đến đấy. Mọi người đều biết tiếng cụ, khi bị đầy ra Côn Đảo đã tự học Pháp văn bằng từ điển và thuộc lòng cả tờ Gazette. Về quan niệm chính trị, cụ Huỳnh vẫn theo chủ trương ôn hoà của cụ Phan Chu Trinh. Cụ không theo tư tưởng cộng sản, tuy vậy cũ vẫn để cho “cậu Giáp bônsêvích” (cụ gọi anh Giáp như vậy) viết những bài dưới dạng phổ thông tuyên truyền giới thiệu chủ nghĩa Marx trên mặt báo Tiếng Dân.


Sau Cách mạng tháng Tám 1945, anh Giáp còn được làm việc với cụ Huỳnh khi cụ giữ chức quyền Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thay Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó Cụ Hồ đi sang Pháp đàm phán). “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, mọi người đều biết câu nói nổi tiếng của Cụ hồ dặn cụ Huỳnh lúc ra đi.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #17 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 07:43:40 AM »

Sinh hoạt Đảng Tân Việt

Trong buổi làm việc với Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng của Tỉnh uỷ Bình-Trị-Thiên ngày 4-11-1985, anh Giáp nói: “Tôi tham gia hoạt động trong tổ chức Tân Việt tại Huế vì theo tôi Tân Việt có xu hướng xã hội chủ nghĩa rõ rệt: Làm cách mạng quốc gia và cách mạng thế giới. Tổ chức này đã qua một quá trình từ các hội Phục Việt, Hưng Nam mà tiến lên”.


Phục Việt, đó là cái tên mà các chí sĩ nho học người Nghệ-Tĩnh bị đày ra Côn Đảo trong cuộc đàn áp phong trào Duy Tân năm 1908 dự kiến đặt cho tổ chức cách mạng mà họ hẹn nhau thành lập khi họ được phóng thích trở về đất liền. Mùa hè năm 1925, Phục Việt tổ chức hội nghị tại Vinh gồm nhóm thanh niên trí thức đứng đầu là Trần Mộng Bạch (giáo viên), nhóm các chính trị phạm Côn Đảo: Cụ Giải Huân (Lê Văn Huân), cụ Tú Kiên (Nguyễn Đình Kiên) và nhóm trí thức ở Hà Nội đứng đầu là Tôn Quang Phiệt, Hội nghị cử Trần Mộng Bạch làm Tổng đại biểu và Tôn Quang Phiệt phụ trách chi hội Bắc Kỳ.


Trong phong trào đòi ân xá cho Phan Bội Châu, chi hội Bắc Kỳ phát truyền đơn ký tên Hội Phục Việt. Tổng bộ ở Vinh cho là tên hội đã bị lộ, bèn đổi thành Hưng Nam.


Ngày 14-7-1928, Hưng Nam tổ chức Đại hội và một lần nữa đổi tên là Tân Việt cách mệnh đảng. Đào Duy Anh được cử làm Tổng Bí thư.


Anh Giáp tham gia sinh hoạt đảng Tân Việt rất hăng hái, chỉ một thời gian ngắn có ý kiến cho di du học rồi được cử vào Tổng bộ, là uỷ viên Trung ương dự khuyết phụ trách tuyên huấn và giao thông. Tổng bộ Tân Việt lúc đó gồm có: Đào Duy Anh, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu, Ngô Đức Diễn, Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp. Lúc đó anh Giáp 18 tuổi, là uỷ viên trẻ nhất của Tổng bộ.


Tổng bộ có một số sách như ABC về chủ nghĩa cộng sản (ABC du communisme), sách của Lênin, Stalin, Plêkhanốp, đều là sách cộng sản. Anh Giáp giữ số sách đó và tài liệu tuyên huấn do anh viết cũng dựa theo sách báo cộng sản.


Anh được phân công vận động thanh niên học sinh. Anh liên lạc với anh Trần Hữu Duẩn, giáo viên trường Chaigneau (nhà ở Bến Ngự) cũng là người quan trọng, nắm giữ các tổ chức học sinh ở Quốc học, Đồng Khánh và các trường khác ở Huế.


Anh Giáp cũng được phân công cùng với chị Trần Thị Như Mân làm công tác vận động phụ nữ. Lúc đó, Phụ nữ đoàn của Tân Việt mở một cửa hàng lấy tên là Vân Hoà bán văn hoá phẩm và các sản phẩm nữ công do chị em làm ra, do hai chị Hoàng Thị Hải Đường và Đỗ Thị Trâm phụ trách, vừa là cơ quan kinh tế, vừa là nơi liên lạc bí mật của đảng Tân Việt. Anh Giáp phụ trách một tổ nữ đảng viên Tân Việt gồm các chị: Hải Đường, Trâm và Khảm (giáo viên ở An Hoà). Nhiều lần anh cùng với các bạn đi xe đạp dọc con đường có nhiều cây ngô đồng bên chợ Cống để tới địa điểm sinh hoạt tổ.


Anh Giáp cũng được phân công vận động nông dân. Địa bàn anh phụ trách là khu vực Truồi, các đảng viên là Lê Bá Dị, Lê Đoan Phượng (giáo viên trường Truồi).


Lúc đó Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (gọi tắt là Thanh niên) cũng tiến hành phát triển hội ở Huế. Có những đối tượng mà cả Tân Việt và Thanh niên đều vận động như học sinh trường Bách Nghệ…


Nói về quan hệ giữa Tân Việt và Thanh niên, thì khi anh Giáp tham gia Tổng bộ, có dự mấy cuộc họp bàn về thống nhất Tân Việt-Thanh niên, nhưng lúc nào cũng có khó khăn này, khó khăn khác. Tài liệu huấn luyện và văn kiện gần giống nhau nhưng địa bàn và quần chúng thì quá nhiều thành phần lẫn lộn, từ đó nẩy sinh mâu thuẫn, ví như ở Huế, đại diện Thanh niên là Vương Thúc Oánh (con rể cụ Phan Bội Châu), đặt điều kiện rất cao, chỉ chọn một số đảng viên, trong khi Tân Việt muốn thống nhất tất cả.


Tổng bộ Tân Việt cử Phan Đăng Lưu đi Quảng Châu để bàn về vấn đề hợp nhất với Tổng bộ Thanh niên. Phan Đăng Lưu được điều động từ Vinh vào Huế để chuẩn bị cho Đại hội đảng Tân Việt. Anh cũng là biên tập viên chính của nhà xuất bản Quan hải tùng thư. Có trình độ Hán học, anh đã dịch tập Xã hội luận giới thiệu tiến hoá luận của Darwin và Lịch sử các học thuyết kinh tế (quyển hạ) giới thiệu học thuyết kinh tế của Marx.


Trong Đại hội đảng Tân Việt họp tháng 7 năm 1928, anh được bầu vào Tổng bộ và được phân công phụ trách công tác tuyên huấn.


Anh Giáp đã từng làm việc với anh Phan Đăng Lưu. Anh Lưu đã hướng dẫn cho anh Giáp viết tài liệu huấn luyện về chủ nghĩa Marx, về lịch sử phong trào công nhân và phụ nữ thế giới.


Mùa đông năm 1928, sau khi Phan Đăng Lưu đi công tác sang Trung Quốc thì công việc tuyên huấn của đảng Tân Việt được giao cho anh Giáp. Anh Phan Đăng Lưu đi Quảng Châu về phản ánh tình hình hợp nhất có khó khăn. Tổng bộ lại cử anh Ngô Đức Diễn đi Thái Lan, khi trở về, anh Diễn bị bắt.


Lúc này, anh Đào Duy Anh có thảo ra một “chương trình thực hiện” nội dung biến Tân Việt thành “khối liên hiệp quốc dân”, thường nói với nhau bằng tiếng Pháp là Bloc national. Anh Đào Duy Anh đọc trên Cahier du communisme (Tạp chí Cộng sản) của Đảng Cộng sản Pháp có bài về chính sách quốc gia của Đảng (La politique nationale du Parti) anh dựa vào đấy để thảo ra chủ trương Bloc national.


Ý kiến này gây ra tranh luận trong Tổng bộ Tân Việt. Thấy Bloc national chưa thích hợp, cũng có bàn qua bàn lại, hội nghị Tổng bộ không tán thành nhưng cũng không đấu tranh, bàn không thành thì cũng thôi. Lúc này anh Giáp phụ trách tuyên huấn, cũng không phổ biến chủ trương này.


Tiếp đó, Võ Nguyên Giáp cùng với Nguyễn Chí Diểu và Đặng Thai Mai lập ra nhóm hạt nhân cộng sản, ban đầu lấy tên là Việt Nam Cộng sản Liên đoàn. Các anh giao cho anh Giáp thảo Điều lệ Cộng sản Liên đoàn. Anh Giáp dựa vào Điều lệ Quốc tế Cộng sản để soạn thảo. Anh viết vằng mực đỏ, viết đến đầu cất kỹ đến đấy.


Như vậy trong Tổng bộ Tân Việt xảy ra một sự chia tách (thường nói với nhau bằng tiếng Pháp là scission) giữa xu hướng Bloc National (Khối Liên hiệp quốc dân) và xu thế chuyển sang cộng sản.

Tuy nhiên sau này, trong hồi ký để lại trước khi mất, anh Đào Duy Anh có viết: Lúc bấy giờ anh cũng đã suy nghĩ nên lập một nhóm cộng sản.


Từ tháng ba đến mùa hè năm 1929, với trách nhiệm là uỷ viên Trung ương dự khuyết phụ trách tuyên huấn và giao thông, anh Giáp được Tổng bộ trao nhiệm vụ ra Vinh, ra Hà Nội và sau đó vào Sài Gòn để phổ biến đường lối “Khối Liên hiệp quốc dân”. Nhóm hạt nhân cộng sản chủ trương trong quá trình phổ biến đường lối này sẽ tranh thủ vận động các Kỳ bộ Tân Việt chuyển sang hàng ngũ cộng sản.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #18 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 07:44:21 AM »

Lần đầu ra Bắc

Trong mật danh của Tân Việt, Bắc Kỳ được gọi là Nhân Kỳ. Để tránh sự chú ý của mật thám, anh Giáp đóng vai một công tử con nhà giàu, mặc com-lê, thắt cra-vát, đội mũ phớt, đi vé xe lửa hạng nhì sang trọng. Chiếc vali mang theo chất đầy quần áo và nhiều “ram” giấy xen vào đó tài liệu.


Đến Nghệ An, anh tìm bắt liên lạc với Liên tỉnh uỷ Nghệ-Tĩnh của Tân Việt. Để tránh bọn mật thám, anh không xuống ga Vinh mà xuống ga xép Trường Thi, đi bộ xuống Bến Thuỷ rồi thuê xe kéo ngược lên Vinh, đến đường Maréchal Foch (nay là đường Quang Trung) tìm đến cửa hiệu cắt tóc Vĩnh Long vào đưa tín hiệu liên lạc. Lúc đó trong túi cậu “công tử” chỉ còn có 2 hào. Anh được đưa đến một địa điểm bí mật của Liên Tỉnh uỷ tại Cầu Rầm. Anh ở đó mấy ngày, bàn với các đồng chí phụ trách Liên Tỉnh uỷ. Nội dung: “Bây giờ Tổng bộ có chủ trương thành lập nhóm hạt nhân cộng sản tiến tới cải tổ Tân Việt thành Đảng Cộng sản. Ý kiến các anh như thế nào?”. Sau khi thảo luận, Liên Tỉnh uỷ ủng hộ phương án chuyển Tân Việt thành tổ chức Cộng sản.


Rời cơ quan Liên Tỉnh uỷ ở Cầu Rầm, anh Giáp có ấn tượng về một cơ quan năng động nhưng bề bộn và đi lại hơi lộ liễu. Anh Giáp đi gặp một người bạn quen là Nguyễn Đình Đoàn con cụ Nguyễn Đình Kiên (tức Tú Kiên, cựu chính trị phạm) lúc đó đang dạy học ở Vinh, cũng là một đảng viên Tân Việt. Nghe nói chuyện, anh Đoàn đồng tình ngay với Liên Tỉnh uỷ.


Xong công việc ở Vinh, anh Giáp lên đường ra Hà Nội. Chỗ liên lạc là anh Tôn Quang Phiệt. Anh Giáp tìm đến trường Đại học Đông Dương ở phố Bobillot (nay là đường Lê Thánh Tông). Anh Phiệt đưa anh Giáp đến giới thiệu với anh Nguyễn Tạo (tức Tạo rỗ) phụ trách Kỳ bộ Nhân Kỳ của Tân Việt. Cơ quan bí mật của Kỳ bộ đóng ở phố Huế, nằm lọt vào giữa khu 24 gian là xóm cô đầu để che mắt mật thám Anh Giáp ở đấy bàn với anh Tạo về công việc Đảng. Anh Tạo đồng ý chuyển sang tổ chức cộng sản và đề nghị lấy tên là Tân Việt cộng sản đảng.


Anh Nguyễn Tạo biết anh Giáp lần đầu tiên ra Hà Nội, bèn đưa đi thăm phong cảnh: Núi Nùng, sông Nhị, hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm… Lần đầu tiên anh Giáp đi tàu điện. Sau này anh Giáp còn giữ mãi ấn tượng về những tàu điện trông giống như những cái thùng cổ lỗ, chạy chậm chạp, kêu leng keng, rít lên ken két trên đường ray sắt mà sau này nhiều năm sau ngày giải phóng, Hà Nội vẫn còn giữ lại giống y như xưa, tuy có sơm phết lại đôi chút.


Một ấn tượng nữa là phòng bên ở cơ quan Kỳ bộ là nhà cô đầu. Nghe tiếng hát ả đào và tiếng trống tom chát, anh thanh niên bắc một cái ghế đứng lên, lấy một cái gương soi phản chiếu nhìn sang.


Anh Giáp quen với anh Tạo từ ngày đó, sau này còn nhiều dịp làm việc với anh Tạo, nhất là sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Mọi việc của anh Giáp ở Kỳ bộ Nhân Kỳ đều xong xuôi, suôn sẻ, duy có một việc mà Liên tỉnh uỷ Nghệ-Tĩnh nhờ vả là không xong: Ấy là chuyện thu xếp cho chị Minh Khai ra Bắc hoạt động cách mạng. Anh Giáp nhớ lại hôm ở cơ quan Liên Tỉnh uỷ Nghệ-Tĩnh, các đồng chí phụ trách có nói chuyện về trường hợp chị Minh Khai, một nữ đảng viên có trình độ, hoạt động rất hăng hái, là uỷ viên Ban Chấp hành một đại tổ, nhưng bị lễ giáo gia đình ràng buộc nên muốn thoát ly gia đình đi hoạt động cách mạng.

Khi anh Giáp đặt vấn đề này với anh Tôn Quang Phiệt thì anh Phiệt không giải quyết được.

Sau này chị Minh Khai được tổ chức cho xuất dương sang Trung Quốc. Chị được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Hương Cảng. Chị là người con gái cách mạng Việt Nam đầu tiên sang Liên Xô, là thành viên của Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ 7 họp tại Matxcơva tháng 8-1985. Chị kết hôn với anh Lê Hồng Phong. Về nước, chị hoạt động trong phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương ở Nam Kỳ. Chị hy sinh với cái án tử hình trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa.


Lúc đó anh Giáp không biết rằng số phận còn dẫn dắt người con gái ấy sau này sẽ là chị vợ anh khi anh kết hôn với người em gái Nguyễn Thị Quang Thái.


Ở Hà Nội trở về đến Tổng bộ ở Huế, anh Giáp nhận được báo cáo của Liên Tỉnh uỷ Nghệ-Tĩnh: Đã chuyển toàn bộ các tổ chức cơ sở của Tân Việt sang thành lập các chi bộ Cộng sản. Đảng viên trên bốn trăm người.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


ptlinh
Admin Độc lập
*
Bài viết: 3998



WWW
« Trả lời #19 vào lúc: 20 Tháng Mười, 2008, 07:44:44 AM »

Chuyến đi đầu tiên đến Sài Gòn

Mật danh trong đảng Tân Việt gọi Nam Kỳ là Dũng Kỳ. Anh Giáp lại đóng vai công tử con nhà giàu, đi vé xe lửa hạng hai. Va li tài liệu để ở cuối toa, còn anh ra ngồi ở đầu toa, chọn chỗ có thể quan sát được hành lý.
Đến ga Truồi có một gã dáng vẻ khả nghi bước lên toa xe lượn đi lượn lại có vẻ dò xét. Hắn chộp lấy chiếc vali. Anh Giáp quát to: “Bỏ xuống! Vali của mày đấy à?” rồi bước đến, thẳng tay tát cho hắn một cái nên thân. Gã bỏ vali chạy biến. Té ra hắn chỉ là một tên ăn cắp.


Tàu đi qua địa phận Quảng Ngãi đến Mộ Đức phải “tăng bo” chuyển qua đi ô tô đến ga Quy Nhơn. Nhà Đoan khám xét thuốc phiện. Anh Giáp nhìn quanh cánh đông xem có đường nào thoát phòng khi bất trắc. Lão Tây Đoan sai lính dùng thanh thuốn bằng sắt thọc vào hành lý của hành khách xem có đồ quốc cấm không. Đến lượt anh Giáp, lão ta đòi mở vali. Tình thế thật nguy hiểm. Nếu nhà Đoan lục ra thì trong đó có tài liệu của Tổng bộ và sách của Nhà xuất bản Xã hội quốc tế (Editions sociales internationales) có in hình búa liềm.

Nhà Đoan hỏi: “Đựng gì trong này?”.

Anh Giáp mở hé: “Giấy”.

Nó sai lính thọc mấy cái, lính Đoan nói: “Đúng là giấy”. Nó chuyển sang khám những người khác. Thoát!
Vào Sài Gòn, anh Giáp tránh không xuống ga chính mà xuống ga Dĩ An (Biên Hoà), thuê xe thổ mộ đi vào thành phố đến khách sạn Lục tỉnh thuê phòng, rồi đi tìm bắt liên lạc với tổ chức ở nhà cụ Tú Kiên.


Bồi phòng lễ phép hỏi: “Ngài có cần đào không?”. Anh Giáp trả lời: “Cảm ơn, đang mắc công chuyện, để sau”. Qua chợ Bến Thành, nhìn lên chiếc đồng hồ lớn ở cổng chợ, đã đến giờ ăn, anh Giáp vào tiệm cơm. Nhà hàng dọn cơm, gạo Nam Kỳ trắng muốt, một khúc cá to, bữa ăn hết hai hào. Anh Giáp chi tiêu dè sẻn, trong túi chỉ vẻn vẹn hai đồng bạc Đông Dương.


Tìm được nhà cụ Tú Kiên (tức Nguyễn Đình Kiên, người Nghệ An, cựu chính trị phạm), cụ Tú cho biết vừa xảy ra vụ án mạng ở nhà số 7 hẻm Barbier. Nguyên Văn Phát uỷ viên Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị giết. Cảnh sát khám xét, vây cơ quan Kỳ bộ Thanh niên bắt Ngô Thiêm, Trần Tường, Nguyễn Văn Công. Nhân vụ này mật thám lại phát hiện ra cơ quan Kỳ bộ Tân Việt. Anh Đào Xuân Mai phụ trách Kỳ bộ Tân Việt Nam Kỳ bị bắt. Anh Nguyễn Duy Trinh cũng bị bắt. Chỉ có anh Hà HuyTập là trốn thoát được.


Chính lúc đó, anh Nguyễn Chí Diểu cũng đang ở Sài Gòn, hoạt động bên cạnh Kỳ bộ Dũng Kỳ. Các anh Nguyễn Khoa Văn, Nguyễn Hoàng đã vào từ trước, Nguyễn Hoàng làm thư ký hãng Ba Son kiếm tiền nuôi cả nhóm ở nhà số 5 Nguyễn Tấn Nghiệm (nay là đường Trần Đình Xu-Quận 1). Tân Việt chủ trương phân tán để tránh tổn thất. Nguyễn Khoa Hiền thông báo cho nhóm ở nhà số 5 Nguyễn Tấn Nghiệm biết. Nguyễn Chí Diểu và Nguyễn Khoa Văn lui ra Nha Trang, Trịnh Xuân An trở lại Huế.


Cụ Tú Kiên nói với anh Giáp: “Phải đi ngay, ở lại rất nguy hiểm. Mọi việc bàn với Lê Phú Thành”. (Lê Phú Thành là con rể cụ Tú Kiên, cũng là người của Kỳ bộ). Anh Giáp đồng ý làm việc với anh Lê Phú Thành. Hai người đi dọc phố như đi dạo chơi vừa đi vừa trao đổi công việc, mắt luôn để ý đề phòng bị theo dõi. Anh Giáp phổ biến với anh Thành chủ trương xây dựng “Khối Liên hiệp quốc dân” và nhấn mạnh việc vận động những đồng chí tích cực nhất của Tân Việt chuyển sang hàng ngũ Đông Dương Cộng sản Liên đoàn”.
Logged

Hãy để những xui xẻo qua đi, biến mất khỏi chúng ta
Để săn đuổi những mục tiêu mà chính chúng ta đã chọn


Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM