Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Mười Một, 2019, 03:10:03 AM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân  (Đọc 55284 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 01:30:11 PM »

Tác giả: Nhiều tác giả (Những người thực hiện:Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Văn Khoan, Nguyễn Hoàng Hạnh).
Nhà xuất bản: Thông tấn.
Năm xuất bản: 2006.
Số hóa: dongadoan.

Lời nhà xuất bản



  Nhân kỷ niệm 98 năm ngày sinh (1-10-1908 - 1-10-2006) và 50 năm ngày mất (21-10-1956 - 21-10-2006) của Tướng Nguyễn Sơn, một chiến sĩ cộng sản, vị tướng huyền thoại, Nhà xuất bản Thông Tấn phối hợp với gia đình ông, tập hợp bài viết của những bạn chiến đấu cùng thời, những người gắn bó gần gũi với ông, các nhà nghiên cứu lịch sử, những người ngưỡng mộ Tướng Nguyễn Sơn và thân quyến, biên soạn và ấn hành cuốn sách mang tựa đề "Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng Quân".

  Tướng Nguyễn Sơn là một vị tướng tài năng, không chỉ thể hiện trong lĩnh vực quân sự, mà còn trong các lĩnh vực chính trị, tuyên truyền, văn nghệ. Ông là một con người có phong cách riêng và độc đáo.

  Tên tuổi Tướng Nguyễn Sơn gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với cuộc trường chinh của quân đội Việt Nam. Ông đã cống hiến đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đồng thời ông cũng là một chiến sĩ quốc tế xuất sắc, người xây đắp cho mối tình hữu nghị Việt - Trung.

  Những bài viết, những hồi ức, những cảm tưởng chân thực, xúc động, hấp dẫn trong cuốn sách sẽ giúp độc giả hình dung để hiểu được phần nào cuộc đời, sự nghiệp cách mạng phong phú, sôi động của Tướng Nguyễn Sơn, một người cộng sản tận tuỵ phục vụ và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta và sự nghiệp cách mạng của nhân dân Trung Quốc.

  Cuốn sách tập hợp những bài viết từ nhiều nguồn khác nhau, Nhà xuất bản Thông Tấn cùng gia đình Tướng Nguyễn Sơn xin chân thành cảm ơn những tác giả có bài trong cuốn sách và những đánh giá chân thực, tốt đẹp về ông.

  Chúng tôi hy vọng sẽ tiếp tục được sự cộng tác về tư liệu của quý độc giả để vào dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, bạn đọc sẽ có một cuốn sách phản ánh đầy đủ hơn về Tướng Nguyễn Sơn.

  Trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.


Nhà xuất bản Thông Tấn
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #1 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 01:41:53 PM »




Bài phát biểu của Tổng thư ký hội khoa học lịch sử Việt Nam Dương Trung Quốc
trong buổi lễ tưởng niệm lần thứ 85 ngày sinh của Tướng Nguyễn Sơn



  Chúng tôi dành buổi sinh hoạt cuối năm của Hội Sử học Việt Nam cho nội dung tưởng niệm một vị tướng, người có nhiều đóng góp trong việc xây dựng quân đội nhân dân Việt Nam, đó là Tướng Nguyễn Sơn. Buổi sinh hoạt này cũng là buổi sinh hoạt hướng tới kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Quốc phòng toàn dân cho nên càng có ý nghĩa hơn.

  Chúng ta đều biết tên tuổi Nguyễn Sơn gắn liền với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, gắn liền với một thời kỳ trường chinh của quân đội nhân dân Việt Nam.

  Những chiến công của ông và những đồng đội cùng thời ông chúng ta không thể nào quên. Tướng Nguyễn Sơn là một vị tướng huyền thoại. ở đây có nhiều vị lão thành, những người đồng chí, đồng ngũ của ông, tuy rằng chúng tôi là những người làm sử nhưng không có may mắn được trực tiếp ở sát bên ông để chứng kiến những hoạt động của ông, vì thế rất mong các vị lão thành, đồng chí của Tướng Nguyễn Sơn thường xuyên dự sinh hoạt với chúng tôi, để chúng ta cùng nhau ghi lại một thời kỳ lịch sử hào hùng của một con người đã đi vào huyền thoại.

  Có lẽ cuộc đời của Tướng Nguyễn Sơn còn phong phú hơn nhiều những điều ngắn ngủi mà chúng ta đã biết tới. Ông là một con người có thể nói là hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và còn là một chiến sĩ quốc tế xuất sắc. Ông là người tham gia đào tạo thế hệ những chiến sĩ cụ Hồ, những con người đã tạo nên chiến thắng thần kỳ Điện Biên Phủ mà sang năm (1994), chúng ta sẽ kỷ niệm như một ngày lễ lớn của dân tộc. Chúng tôi nhắc lại một lần nữa là buổi lễ tưởng niệm Tướng Nguyễn Sơn hôm nay cũng là buổi tưởng niệm tất cả các tướng lĩnh, tất cả những người lính đã chiến đấu và ngã xuống cho sự nghiệp của dân tộc ta.

  Chúng tôi rất vui mừng trong buổi sinh hoạt cuối năm này có mặt đông đủ các hội viên Câu lạc bộ Sử học và nhiều người lần đầu tiên đến dự. Cho phép tôi thay mặt Ban tổ chức trân trọng giới thiệu đến dự buổi sinh hoạt hôm nay có Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Chủ tịch danh dự Hội Sử học Việt Nam, có chị Nguyễn Thanh Hà là con gái của Tướng Nguyễn Sơn và nhiều người trong gia đình, dòng tộc của Tướng Nguyễn Sơn. Chúng tôi xin lỗi không giới thiệu được hết những người đồng chí của Nguyễn Sơn hôm nay có mặt tại đây và cả những người ngưỡng mộ Nguyễn Sơn. Chúng tôi rất vui mừng giới thiệu đến dự buổi lễ này không chỉ có những quân nhân đồng chí của Nguyễn Sơn, mà còn có cả nhiều văn nghệ sĩ, những người đã có dịp gắn bó, gần gũi với ông và nhiều cán bộ nghiên cứu lịch sử, ngoài ra còn có nhiều phóng viên, các đài truyền hình, báo chí đã đến đây để nhân lên tình cảm của chúng ta với Tướng Nguyễn Sơn trong buổi sinh hoạt này.

  Một năm đã kết thúc, trong buổi lễ tưởng niệm một người đã khuất, tôi đề nghị tất cả chúng ta dành một phút mặc niệm cho tất cả các chiến sĩ đã ngã xuống vì sự nghiệp của đất nước ta.

  Trước khi vào phần nội dung, chúng tôi xin được chuyển đến các vị có mặt ngày hôm nay, một số ý kiến, lời chào mừng của một số người vắng mặt.

  Chúng tôi đã nhận được thư của Thượng tướng Trần Văn Quang - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam gửi cho chị Thanh Hà, con gái của Nguyễn Sơn.

  Ban tổ chức chúng tôi cũng nhận được điện của Bộ Tư lệnh Quân khu IV là địa bàn Tướng Nguyễn Sơn hoạt động trong thời gian kháng chiến chống Pháp. Chúng tôi cũng nhận được hai bức thư do gia đình chị Hà gửi, qua Đại sứ quán Trung Quốc gửi tới. Đó là những bức thư của hai người con trai của Tướng Nguyễn Sơn hiện đang sống ở Trung Quốc.

  Cho phép tôi được thay mặt một người đã khuất, một nghệ sĩ quen thuộc của chúng ta, đó là ông Bửu Tiến, một soạn giả sân khấu, người Huế, có thời gian sống và làm việc trên địa bàn hoạt động của Tướng Nguyễn Sơn (tức Quân khu IV). Ông đã ghi lại những kỷ niệm về những ngày sống bên Tướng Nguyễn Sơn. Rất tiếc là ông đã mất trước khi những dòng chữ của ông được chúng ta hôm nay biết đến(1).

  Chúng tôi biết là nhiều đồng chí có mặt ở đây hôm nay muốn nói về Nguyễn Sơn, người bạn, người đồng chí của mình. Chúng tôi xin ưu tiên những nhà sử học, là những người đứng ở một vị trí khách quan hơn nhìn về Tướng Nguyễn Sơn. Và sau đó chúng tôi sẽ mời một số các vị, các đồng chí đương thời với Nguyễn Sơn phát biểu.
-------------------------------------
1. Xin xem bài của Bửu Tiến trong tập sách này (B.T).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #2 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 01:46:15 PM »

... Một chiến sỹ cộng sản kiên định,
một vị tướng có tài năng(*)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp



  Thưa đồng chí Chủ tịch Hội khoa học lịch sử,

  Thưa toàn thể gia quyến của Tướng Nguyễn Sơn,

  Tôi rất xúc động hôm nay được đến dự buổi lễ tưởng niệm anh Sơn, nhân ngày sinh lần thứ 85 năm của anh. Tôi và anh Sơn có nhiều kỷ niệm trong những ngày cách mạng mới thành công, rồi trong những ngày cuối đời anh về nước.

  Cũng như anh Phùng Chí Kiên, anh Nguyễn Sơn đã sớm tham gia phong trào thanh niên và đã có may mắn được theo học ở Trường Hoàng Phố. Về thân thế và sự nghiệp của anh thì trong buổi họp mặt hôm nay không có thời gian trình bày, nhưng chắc chắn lịch sử sẽ không quên. Hôm nay, tôi chỉ muốn nhắc lại một số kỷ niệm giữa tôi và anh trong những ngày chúng tôi cùng làm việc.

  Lúc anh Sơn về nước thì quân Pháp đã gây ra chiến tranh xâm lược ở miền Nam, nước ta đã bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ. Trong Thường vụ, Bác, anh Trường Chinh và tôi đều muốn anh Sơn vào phía Nam là nơi chiến sự đang diễn ra quyết liệt. Cuối năm 1946, tôi đi vào mặt trận Khánh Hòa gặp anh Phạm Kiệt, trao đổi ý kiến càng thấy cần tăng cường cán bộ chủ trì, nhất là về quân sự. Không lâu sau, anh Sơn được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, trong khi tôi giữ chức vụ Chủ tịch Quân sự uỷ viên hội toàn quốc (về sau đổi ra Uỷ ban Kháng chiến toàn quốc). Đó là một trọng trách rất lớn nói lên sự tín nhiệm của Đảng và Chính phủ đối với anh.
Anh Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cách mạng ưu tú của Đảng, một tướng có công của quân đội ta. Đặc biệt, anh là vị tướng nước ngoài duy nhất của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đã từng tham gia cách mạng và kháng chiến ở Trung Quốc trong nhiều năm. Do vậy các đồng chí bạn thường nhắc đến anh với tình cảm sâu sắc và trân trọng. Năm ngoái, trong dịp thăm Trung Quốc, tôi có gặp chị Sơn và các cháu, rất mừng thấy tinh thần rất tốt, các cháu ở bên đó cũng như các cháu ở nhà trong gia đình, đều cố gắng học tập và làm việc để xứng đáng với sự mong mỏi của bố.

  Như vậy, có thể nói Nguyễn Sơn là một chiến sĩ quốc tế đã để lại tấm gương tốt đẹp về tình hữu nghị giữa Cách mạng Việt Nam và Cách mạng Trung Quốc.

  Nguyễn Sơn là một chiến sĩ cộng sản kiên định, một con người có khí phách, có chút ngang tàng (như có đồng chí vừa nói); nhưng phải nói anh là một vị tướng có tài năng. Anh Sơn chẳng những có tài về quân sự mà còn có khả năng về chính trị, về tuyên huấn, về văn nghệ. Anh lại có phong cách riêng - rất là Nguyễn Sơn. Ví dụ: làm chủ hôn mà bắt cô dâu và chú rể phải làm thơ thì chỉ có anh Sơn thôi!
Anh luôn chú trọng đào tạo cán bộ, ở Trường Lục quân Quảng Ngãi, rồi Trường Quân chính Khu IV. Trong phong trào luyện quân lập công, anh đã tổ chức thành công "Đại hội tập", một hình thức huấn luyện lôi cuốn cả quân đội và nhân dân.

  Anh coi trọng bạn bè, coi trọng con người, coi trọng bồi dưỡng đội ngũ kế cận.

  Có thể nói thời bấy giờ - Cách mạng Tháng Tám mới thành công, cách mạng Trung Quốc chưa thắng lợi - là thời kỳ tiêu biểu cho chí khí tự lực tự cường, độc lập sáng tạo của Đảng ta, của nhân dân, kiên quyết giữ vững chính quyền non trẻ, chiến đấu trong vòng vây trong điều kiện cực kỳ khó khăn phức tạp. Dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ và của Đảng, toàn dân ta đã đoàn kết chiến đấu, xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, từ dân quân đến những đại đoàn chủ lực đầu tiên. Chúng ta đã đứng vững và trưởng thành, đã xây dựng nền tảng vững chắc để sau này tiếp thu và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ hết lòng của các nước anh em, nhất là của nước Trung Hoa mới. Tôi muốn nhắc đến một tư liệu cuối năm 1949 của Pháp mới công bố gần đây, trong đó phía Pháp đã phải thừa nhận rằng "không có khả năng thắng Việt Minh bằng quân sự" được.

  Chính vào những ngày khó khăn ấy, anh Sơn đã về nước. Trong các cuộc họp bàn về quân sự, về kháng chiến, anh đã tham gia tích cực, có nhiều ý kiến sâu sắc về đào tạo cán bộ cũng như về tác chiến, về xây dựng chủ lực cũng như về xây dựng lực lượng dân quân - một vấn đề mà anh hết sức coi trọng. Trong các buổi họp, trên diễn đàn, anh nói chuyện sôi nổi, hấp dẫn. Trong quan hệ giao tiếp với bạn bè, anh quý trọng đồng chí, đồng đội, nhiều khi trò chuyện thâu đêm, say sưa, cởi mở.

  Thời gian về nước tuy không lâu lắm, nhưng anh đã cống hiến hết sức mình. Sau chiến dịch Giải phóng biên giới Việt - Trung năm 1950, do phân công công tác, anh đã trở sang Bắc Kinh. Đã nhiều năm bôn ba hoạt động cách mạng xa quê hương, bao gờ anh cũng luôn hướng về Tổ quốc. Cho đến khi lâm bệnh hiểm nghèo, mặc dù bạn đã hết lòng cứu chữa, kể cả gửi bệnh án sang Liên Xô, cũng không thể qua khỏi; theo đề nghị của anh, Đảng đã cho đón anh về nước, và anh đã từ trần nơi đất mẹ, trong niềm thương tiếc vô hạn của gia đình và các bạn chiến đấu của anh.

  Nếu còn sống đến nay, anh đã 85 tuổi. Tiếc rằng anh ra đi quá sớm. Nhưng, trong lịch sử cách mạng Việt Nam cũng như trong lòng mỗi người chúng ta, anh vẫn còn sống mãi với hình ảnh của một người cộng sản kiên định, một người bạn, người đồng chí, một người chiến hữu thân thiết và rất mực chân thành, suốt đời phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta và nước bạn.
---------------------------------------
(*) Lời phát biểu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại buổi sinh hoạt tưởng niệm 85 năm ngày sinh của Tướng Nguyễn Sơn, ngày 31-12-1993, tại Hà Nội. Đề bài do chúng tôi đặt (B.T).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #3 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 01:59:02 PM »

Về tấm danh thiếp của Bác Hồ tặng Nguyễn Sơn

Nguyễn Thạch Kim



  Đến năm 1947-1948 quân đội ta đã có nhiều đơn vị chủ lực và địa phương quân lớn mạnh vững vàng. Vấn đề phong quân hàm được đặt ra để tăng cường kỷ cương, đồng thời đề cao thanh thế quân đội của một quốc gia. Các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh và các quân khu đã lần lượt được vinh dự nhận quân hàm tướng các cấp. Riêng đồng chí Nguyễn Sơn, Khu trưởng Quân khu IV mãi chưa thấy được tấn phong.

  Đồng chí Nguyễn Sơn là một cán bộ lãnh đạo chỉ huy tương đối nổi tiếng thao lược ở Việt Nam hồi bấy giờ. Tên thật là Vũ Nguyên Bác, quê quán làng Kiêu Kỵ (huyện Gia Lâm - Hà Nội), đồng chí giác ngộ cách mạng và xuất dương rất sớm từ một sinh viên cao đẳng sư phạm. Sang Trung Quốc đồng chí được đưa vào học Trường võ bị Hoàng Phố với tên mới Lý Hồng Thuỷ(1)(hồi ấy Bác Hồ lấy tên là Lý Thuỵ nên một số thanh niên cách mạng Việt Nam ở Quảng Đông đổi tên mới lấy họ Lý theo Bác, như Lý Tự Trọng...). Đồng chí đã tham gia suốt cuộc Vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc, và đã trở thành một tư lệnh, một chính uỷ phân khu trong khu giải phóng Thiểm - Cam - Ninh (Thiểm Tây - Cam Túc - Ninh Hạ), đã nhiều lần lăn lộn tác chiến, luyện quân và trải qua chỉ đạo, lãnh đạo công tác văn nghệ trong quân đội. Trình độ lý luận chính trị, quân sự và năng lực tổ chức vận động quần chúng của đồng chí được nhiều nhân sĩ trí thức và cán bộ, sĩ quan xa gần khâm phục mến mộ. Bởi thế nhiều cán bộ đã từng công tác với đồng chí cũng như bản thân đồng chí đã đánh giá đồng chí cao hơn một số tướng lĩnh hồi bấy giờ. Đối với quân hàm Thiếu tướng đồng chí chưa bằng lòng lắm. Chưa ai biết việc phong quân hàm cho đồng chí sẽ tiến hành như thế nào, thời gian nào...

  Thế rồi một buổi đầu thu năm 1948, tôi được gọi lên quân khu bộ gặp đồng chí Tư lệnh. Đồng chí nói với tôi: "Hồ Chủ tịch đã phái Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch vào chủ trì lễ phong quân hàm cho mình. Phòng tham mưu đã đề nghị cử đồng chí và đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa trợ lý, làm "bồi lễ" với mình. Phải chuẩn bị quân phục chỉnh tề đấy nhé!". Thấy tôi có vẻ sửng sốt ngạc nhiên, đồng chí liền giải thích: "Cậu tưởng không bao giờ có việc này sao? Trước đây mình có ý định không muốn nhận cấp Thiếu tướng. Vả lại có tướng hoặc không có cũng vẫn phải đánh giặc, phải rèn cán luyện quân. Nhưng suy cho cùng, nhất là với thái độ xử sự của ông Cụ thì mình không thể từ chối được!".

  Tôi vội hỏi lại:

  - Cách đặt vấn đề của Hồ Chủ tịch thế nào, anh?

  Đồng chí giở cặp hồ sơ trước mặt, rút ra một phong bì bên ngoài đề Tặng Sơn đệ (Gửi chú Sơn) trao cho tôi. Tôi mở ngay ra xem: một tấm danh thiếp xinh xắn giản dị như mọi cái khác, mặt trước in rõ ba chữ Hồ Chí Minh, mặt sau có 4 dòng chữ viết nắn nót, ngay ngắn:

 
- Đảm dục đại
- Tâm dục tế
- Trí dục viên
- Hành dục phương.

  Thấy tôi im lặng suy nghĩ, đồng chí Tư lệnh trưởng thường ngày là một người sôi nổi hùng biện, song lần này có đổi khác, chậm rãi giảng bài cho tôi: "Chính mười hai chữ ông Cụ gửi mình đó khiến mình tỉnh ra nhiều, và có nhiều điều suy nghĩ khác trước. Chỉ có mấy chữ ấy thôi mà sao nó lay động tâm tư mình thế, và sao mà Bác ân cần cặn kẽ thế! Thật là uyên thâm, thật là chí tình!

  Đảm dục đại là gan phải cho to. Chữ nói ít mà bảo ban nhiều đức dũng cảm lớn, không phải chỉ đòi hỏi chiến đấu gan dạ, mà còn phải biết táo bạo dám nghĩ dám làm những việc lớn!

  Tâm dục tế là tấm lòng, tâm hồn phải trong sáng, tinh tế, kín đáo, thanh nhã, không thô lậu, lỗ mãng. Tâm dục tế, một lời khuyên nhủ sâu lắng đậm đà tình cảm chân thành, vừa nghiêm lệ chặt chẽ, vừa dịu dàng thấm thía. Đó là lời người anh cả nói với chú em thân quý của mình!

  Trí dục viên là suy nghĩ phải trọn vẹn toàn diện, đầy đủ chu đáo... Chữ "viên" đi sau chữ "trí" bao hàm được nhiều ý tứ dặn dò tinh thần trách nhiệm, nhắc nhở sự chín chắn, coi trọng những kinh nghiệm, những từng trải đã gửi cho một tướng lĩnh dưới quyền, vừa từ tốn, vừa đĩnh đạc, xuyên đọng.

  Hành dục phương là hành động phải ngay thẳng, đúng đắn, chân chính, phân minh đàng hoàng, không méo mó cong queo. Từ ngữ đi với nhau chặt chẽ gắn bó, ăn ý một cách hoàn chỉnh, tuyệt diệu!

  Mình rất quen với văn học Trung Quốc nhưng thấy ít người viết ngữ văn Trung Quốc xúc tích như ông Cụ.

  Từ xa gần ngàn dặm, với mấy chữ ngắn gọn, ông Cụ đã gửi cho mình một bài học sâu sắc, một món quà hiếm quý, khiến mình suy nghĩ lại được nhiều điều. Những cái mình đã có song chưa vững chưa mạnh thì phải tu dưỡng bồi luyện thêm, những gì còn thiếu sót, phải bổ sung sửa chữa. Mình sáng ra, thấy ra nhiều điều trước đây nói và làm chưa đúng, chưa chín chắn, thận trọng. Rút cuộc, cái việc thụ phong quân hàm mình cũng phải thay đổi quan điểm, không như trước đây chỉ nghĩ một mặt một chiều, chỉ nghĩ nặng về mình".

  Sau đó ít hôm, trên một chuyến thuyền cùng đồng chí Phạm Ngọc Thạch xuôi dòng sông Mã xuống thăm bộ đội và công việc bố phòng bãi biển Sầm Sơn, chúng tôi nhắc lại việc phong tướng vừa rồi, đồng chí Thạch nói rõ thêm:

  - Quà tặng nhân dịp phong tướng của Bác cho anh Nguyễn Sơn tuy chỉ là tấm danh thiếp và mấy câu chữ vắn tắt, nhưng đầy ý nghĩa và tác dụng. Sau khi nhận tấm danh thiếp, anh Sơn tỏ ra cảm động. Riêng tôi, còn thấy Bác là người chu đáo kỹ lưỡng ít ai có, không phải chỉ trong nội dung giấy tờ, mà còn chu đáo kỹ lưỡng trong cách làm, cách ứng xử. Bác dặn tôi khi vào tới nơi đề cập việc tấn phong thì đưa ngay danh thiếp. Đúng với ý Bác đã sớm lường, xem xong danh thiếp, qua suy nghĩ, thái độ anh Sơn vui vẻ nhuần nhã hẳn lên và tiếp thu một cách thoải mái nhẹ nhàng, tôi không phải thuyết phục nhiều lời gì nữa như đã chuẩn bị trên đường đi.

  Về sau cứ mỗi lần lên gặp Thiếu tướng Tư lệnh quân khu là mỗi lần tôi được thấy lại các hàng chữ đầy ý nghĩa và ấn tượng ấy trong tấm danh thiếp mà đồng chí Nguyễn Sơn găm ngay ngắn ở cái giá gác bút đặt trước bàn làm việc.

  Tôi nghĩ đó cũng chính là những lời dạy bảo chí tình của Bác đối với mọi tướng lĩnh và cán bộ quân đội nhân dân ta.
------------------------------------
 1. Có tư liệu cho rằng Lý Đức Lan (B.T).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #4 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 06:05:56 PM »

Tiếp cận Nguyễn Sơn*

Đại tá - P.T.S. Sử học Nguyễn Văn Khoan



  Cho phép tôi được dùng tên gọi Tướng Nguyễn Sơn mà không dám dùng danh từ nào thay thế, mặc dù chúng tôi rất kính phục và muốn gọi một tên khác. Việc sưu tầm tư liệu về Tướng Nguyễn Sơn và một số tướng lĩnh trong quân đội ta, chúng tôi đã bắt đầu được mấy năm nay, khi mà Giáo sư Đinh Xuân Lâm và Tiến sĩ Đỗ Quang Hưng tiến hành biên soạn cuốn Danh nhân Việt Nam, do Nhà xuất bản Giáo dục chủ trương, đã phát hành năm 1992. Nhưng bấy giờ do nhiều hoàn cảnh chúng tôi không được sự giúp đỡ đầy đủ của một số cơ quan nên phải tìm tư liệu qua một hướng khác của một số học giả nước ngoài. Cho đến hôm nay chúng tôi đã tìm được một số tư liệu quý về một số tướng lĩnh trong quân đội ta, riêng về Tướng Nguyễn Sơn chúng tôi cũng đã có những tài liệu cơ bản nói về diện mạo, cuộc đời của ông.

  Tướng Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác. Chữ Bác này trong tiếng Hán có nhiều nghĩa, trong đó có nghĩa là rộng. Trong Kinh Dịch có chữ Bác đối với chữ Phục. Sách Luận Ngữ có câu: "Quân tử bác học tư văn ước chi chi lễ", có nghĩa là "Người quân tử học rộng biết nhiều, lấy phép tắc mà quy củ lại". Có lẽ đây là ý nguyện của ông thân sinh ra Tướng Nguyễn Sơn. Chữ Nguyên có nghĩa là đầu nguồn, "ẩm thuỷ tư nguyên" có nghĩa là uống nước nhớ nguồn. Nguyễn Sơn gốc ở làng Kiêu Kỵ, một làng có nghề dát vàng truyền thống dùng trong nghệ thuật sơn mài, thuộc huyện Gia Lâm, nhưng sinh ra ở Hà Nội vào năm 1908, năm xảy ra vụ "Hà thành đầu độc". Ông là con thứ tư trong một dãy anh em trai với những cái tên: Tôi, Tớ, Tao, Bác, Sư và là anh của một cô em gái nhỏ. Dãy tên này được ông thân sinh ra Tướng Nguyễn Sơn đặt nói lên tính cương trực, ương bướng chống đối lại cường quyền. Nhà báo Thái An ở Tạp chí Giáo dục thời đại, hôm nay cũng có mặt tại đây, trong số báo tháng 12 có bài viết về Nguyễn Sơn đã nhận xét rằng: Sở dĩ cụ đặt tên như vậy là để không ai chửi được mình. Theo học tại Trường tiểu học Yên Ninh, Trường Bưởi, Vũ Nguyên Bác không vùi đầu vào sách vở mà đi theo Kim Thanh - một trong những người tuyên truyền Đảng Thanh niên sớm nhất ở Hà Nội. Hồ sơ số 3897, ngày 2-4-1931, hiện lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam của Sở mật thám Bắc Kỳ cho biết Kim Thanh đã kết nạp nhiều người vào Đảng, trong đó có Vũ Nguyên Bác tức Hồng Tú, tức Lý Đức Lan, tức Phổ. Mật thám Pháp không biết rằng năm 1931 Vũ Nguyên Bác đã có tên mới là Hồng Thuỷ - tên ông tự chọn trong cụm từ mà bọn phản động đặt tên cho khu du kích Đông Giang của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau Quảng Châu công xã. Chúng không biết rằng năm 1925, 17 tuổi, Vũ Nguyên Bác đã được Nguyễn Công Thu, giao thông của Nguyễn Ái Quốc cử về đón sang huấn luyện. Chuyến đi đầu tiên của Nguyễn Công Thu lúc bấy giờ chỉ có hai người: Tư Chính tức Bàng Thống và Nguyễn Sơn - (theo hồ sơ chính của Nguyễn Công Thu viết, lưu tại Bảo tàng Cách mạng). Học chính trị ở lớp huấn luyện, rồi học quân sự ở Trường Hoàng Phố cùng với các đồng chí: Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh, với các giáo viên người Nga hướng dẫn. Mười chín tuổi - Vũ Nguyên Bác đã tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, gia nhập Hồng quân, là người nước ngoài duy nhất tham dự 2 vạn 6 nghìn dặm Vạn lý trường chinh. Hai tư tuổi, ông đã dự Hội nghị Tuân Nghĩa của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc - theo tài liệu của Trung Quốc. Hai chín tuổi đã là Chính uỷ Sư đoàn 34 quân đoàn 12, Đoàn trưởng đoàn kịch Công nông binh Hồng quân đầu tiên của nước Trung Hoa, Trưởng ban tuyên truyền Khu uỷ Khu Đông Bắc - Khu Xô viết, Tổng biên tập báo "Kháng địch" của khu Tấn-Sát-Ký, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Uỷ viên Chính phủ Trung ương lâm thời Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, nhà báo, nhà thơ, nhà soạn kịch, diễn viên (theo tài liệu của Đảng Cộng sản Trung Quốc). Bí mật về Việt Nam năm 1945, sau khi qua nhiều chức vụ quan trọng, năm 1947, Nguyễn Sơn được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 228/SL tháng 7 ngày 18 làm Khu trưởng Chiến khu IV. Năm 1951, trở lại Trung Quốc, ông nhận nhiệm vụ Cục trưởng Cục điều lệnh của Bộ huấn luyện nhân dân Giải phóng quân Trung Quốc kiêm Giám đốc toà soạn "Tạp chí Huấn luyện chiến đấu". Vì đau nặng, năm 1956, Nguyễn Sơn trở lại quê nhà và mất tại Hà Nội. Với 49 tuổi đời ngắn ngủi, Nguyễn Sơn đã để lại sau mình 25 tuổi thanh xuân chiến đấu ở nước ngoài và chỉ có mặt ở quê hương Tổ quốc với tư cách một người đã trưởng thành không quá 6 năm. Nhưng trong 6 năm ấy, dù ở Việt Bắc, Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ, Khu V, với Trường Lục quân Quảng Ngãi, ở Khu IV với "Đại hội tập" thần kỳ, với Trường thiếu sinh quân - niềm hy vọng của ông - với lớp văn hoá kháng chiến của Giáo sư Đặng Thai Mai, với đoàn chèo Nguyễn Đình Nghi, điệu múa Xuân Phả, Thọ Xuân, Thanh Hoá, với các bài giảng về Truyện Kiều, với Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Quỳnh của chế độ cũ, với thượng thư Ưng Uý, với hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh, Đinh Ngọc Liên - đội trưởng đội quân nhạc, với các anh chị Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Hồ Dzếnh, Xuân Tửu, Nguyễn Xuân Sanh, Giáng Hương và với cả vợ chồng Phạm Duy - Thanh Hằng ca sỹ. Với đồng đội, bạn bè, chiến sĩ, với mọi tầng lớp nhân dân ở mọi nơi, ông đã để hình tượng Nguyễn Sơn đi vào trái tim của họ, đan xen giữa ngưỡng mộ, tự hào, đôi lúc thái quá trong lớp thanh niên đã tôn sùng ông như thần tượng của mình, thời ấy. Tựu trung tất cả, tình cảm của họ quý trọng ông ở tài năng, ở cái Tâm, cái Nghĩa, dân giã, cởi mở, không cố chấp, không hề bị ràng buộc, bởi chất hào hoa, lãng tử đôi lúc trong con người ông. Hình như ông muốn dồn ép, chuyển tải tình cảm của mình vào nhân dân, mong muốn thông tin với cường độ lớn về gia tài trí thức của mình. Phải chăng ông đã tiên lượng về quãng đời ngắn ngủi của mình, nên ông đã tranh thủ thời gian. Nói sợ không hết và làm e không đủ. Con người mà "rượu vang hảo hạng không cần nhãn hiệu" ấy hết mực khiêm nhường, sẵn sàng nhận lỗi với cả anh binh nhì, với cả cô con gái nhỏ, con người tài năng trong nhiều lĩnh vực. Khi làm tướng, một mình hai ngựa trong cuộc Vạn lý trường chinh, 2 lần bị khai trừ ra khỏi Đảng, 2 lần kết nạp lại, một lần lưu Đảng, đi chăn dê, chăn cừu, vào sống ra chết không đếm được trên 10 đầu ngón tay, nhưng ông vẫn là một con người bình dị, một con người thực trong đời thường như mọi người khác. Xa Tổ quốc quê hương nhiều năm như thế mà Kiều ông không quên một câu, ông vẫn sớm đề ra những nhận định về văn hoá văn nghệ, quân sự mà sau nhiều năm, nhiều người vẫn không thông cảm được. Tuy vậy, đồng đội, nhân dân vẫn không thấy ông là tướng "tiền hô hậu ủng", cũng không ra dáng trí thức, văn nghệ tý gì, mà thấy ông vẫn là ông - với cái chất Nguyễn Sơn không lẫn vào bất cứ ai. Cán cân của công bằng lịch sử không phải không có những dao động để nói về những hạn chế của ông. Nhưng lịch sử cũng công bằng, độ lượng, chắt chiu những tinh hoa của mỗi con người. Nguyễn Sơn cùng với một số cán bộ quân sự khác cùng thời ông là những người con đại trung với nước, đại hiếu với dân của Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Xếp ông vào danh nhân ư? Điều đó các nhà khoa học đã làm rồi. Xây đền thờ ông chăng? ở phía Nam núi Hồng Lĩnh thành phố Vinh có một chiến sĩ quân báo của ông đã lập đền thờ thờ ông. Vì vậy, chúng tôi nghĩ rằng hãy để cho Nguyễn Sơn sống mãi trong đền thờ tâm linh của mỗi người dân chúng ta, đó là ngôi đền đẹp và to và có thể là vĩnh cửu, trong thế hệ mai sau vẫn không nguôi công việc tìm hiểu về Nguyễn Sơn.
--------------------------------------------
* Bài phát biểu tại buổi Lễ tưởng niệm Tướng Nguyễn Sơn.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #5 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 06:09:17 PM »

Một lễ phát phần thưởng "không tiền khoáng hậu"
(Hay là một kỷ niệm sâu sắc của tôi  về Tướng Nguyễn Sơn)

G.S. Đinh Xuân Lâm



  Kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19-12-1946), thị xã Thanh Hoá nghiêm chỉnh thi hành lệnh phá hoại. Các cơ quan và trường học của tỉnh nhanh chóng sắp xếp lại tổ chức, rồi dời lên đóng tại các huyện miền Tây của tỉnh, phân tán trên một dọc dài từ Thiệu Hoá lên Thọ Xuân, Nông Cống, Vĩnh Lộc... Cũng không phải chỉ có các cơ quan và trường học của tỉnh, mà còn có cả các cơ quan ở Khu IV ra, các trường trung học của Liên khu III vào nữa. Trường trung học tỉnh Thanh Hoá mang tên Trường trung học Đào Duy Từ1 tản cư lên Thọ Xuân, một huyện cách xa bờ biển và tựa lưng vào các huyện miền núi Lang Chánh, Ngọc Lạc, Thường Xuân... là một địa bàn tương đối an toàn để tiếp tục việc giảng dạy và học tập của thày trò trong kháng chiến.

  Sư đoàn 304 của Liên khu IV do Khu trưởng Nguyễn Sơn trực tiếp chỉ huy cũng đóng quân trên hai huyện Thọ Xuân và Nông Cống, trải dài trên một vùng rộng lớn, từ làng Sim dưới chân núi Nưa (Nông Cống), qua các làng Tam Lạc, Lạc Lâm, Hà Lũng, Thuỷ Tú, Thành Tín, Quả Hạ... thuộc huyện Thọ Xuân. Nhân dân trong vùng - từ nông dân địa phương đến các cán bộ và học sinh tản cư tới - vì vậy thường được gặp trên các nẻo đường làng một người trung niên tướng mạo uy nghi, "râu hùm, hàm én, mày ngài", khi thì đang trên con đường "ngoắt ngoéo chữ chi" với chiếc "xe đạp đua" ghi-đông bẻ cong xuống khiến người đi xe cứ như nằm dài trên thân xe, khi thì trên mình ngựa men theo đường đồi đất đỏ dẫn tới các thôn xóm nấp kín sau luỹ tre xanh. Trường trung học Đào Duy Từ hồi đó đặt tại vùng Chợ Cốc thuộc xã Thọ Lộc, huyện Thọ Xuân, cũng là nơi Khu trưởng Nguyễn Sơn hay lui tới. Phần vì sư đoàn bộ đóng ở gần đấy, phần vì vùng Chợ Cốc hồi đó có các cán bộ các ngành và học sinh các trường tập trung về nên khá đông vui. Hơn nữa, các văn nghệ sĩ dưới trướng của Khu trưởng Nguyễn Sơn bấy giờ như Nguyễn Đình Lạp, Bửu Tiến, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Trúc Quỳnh v.v... cũng thường qua lại nơi đây vì có bạn bè quen biết tản cư theo cơ quan trong vùng. Lính của Khu trưởng những ngày chủ nhật cũng thường ra đấu bóng giao hữu với học sinh Trường Đào Duy Từ. Lại có cả nhóm văn nghệ sĩ tản cư trong làng Quần Tín cách Chợ Cốc không xa với các tên tuổi được nhiều người biết đến như Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Hằng Phương, Trương Tửu v.v... Cũng phải kể tới một số gia đình các cán bộ cao cấp theo Trường Đào Duy Từ để đảm bảo việc học tập cho con cháu, như các gia đình Bộ trưởng Trần Đăng Khoa, Thứ trưởng Đặng Phúc Thông..., mỗi khi các vị về thăm gia đình lại là dịp gặp gỡ, hội họp các trí thức có tên tuổi trong vùng. Trường trung học Đào Duy Từ mặc nhiên trở thành trung tâm văn hoá của cả vùng, là nơi đã tổ chức nhiều cuộc diễn thuyết với các diễn giả nổi tiếng như Nguyễn Mạnh Tường, Hải Triều, Nguyễn Khánh Toàn..., kể cả Nguyễn Sơn nữa. Chính trong bối cảnh đó, Hiệu trưởng Trường trung học Đào Duy Từ là Đoàn Nồng khi đưa ra Hội đồng giáo sư bàn việc tổ chức lễ phát phần thưởng cuối năm học 1947-1948, đã có ý kiến mời Khu trưởng Nguyễn Sơn làm Chủ tịch danh dự buổi lễ, và ý kiến đó đã được Hội đồng nhất trí tán thành. Xin nói thêm rằng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, theo một truyền thống tốt đẹp, các trường trung học khi kết thúc năm học và phát phần thưởng cho học sinh trước khi về nghỉ hè, Hội đồng giáo sư có cử một giáo sư đọc một bài diễn văn với nội dung là một vấn đề văn học, lịch sử hay khoa học tự nhiên tuỳ theo chuyên môn của người được cử và bài diễn văn đó được xem như bài học cuối năm chung cho học sinh các lớp. Buổi lễ kết thúc và phát phần thưởng đó thường được đặt dưới sự chủ toạ danh dự của một vị khách quý, có thể đó là một nhân vật chính trị, một nhà khoa học, nhà văn...

  Tôi lúc đó còn trẻ, lại có xe đạp riêng là một điều hiếm có trong kháng chiến ở Thanh Hoá, nên được ông Hiệu trưởng cử vào Khu bộ mời Khu trưởng. Trước khi tôi đi, ông Đoàn Nồng còn cẩn thận dặn tôi: "Anh nhớ yêu cầu ông ấy (chỉ Khu trưởng Nguyễn Sơn - Đ.X.L) phải có bài viết hẳn hoi, không được ứng khẩu!". Tôi hiểu rằng ông Hiệu trưởng tuy rất phục tài hùng biện của Khu trưởng Nguyễn Sơn, nhưng cũng rất sợ ông ta nói ứng khẩu dễ lạc đề, không đúng với yêu cầu của nhà trường. Vào gặp Khu trưởng, tôi đã trình bày cụ thể yêu cầu và được ông sốt sắng nhận lời. Trước khi ra về, tôi nhắc ông viết bài sẵn để đọc hôm dự lễ, và ông tươi cười đồng ý.

  Hôm tổ chức lễ phát phần thưởng đã tới. Chiều hôm đó Khu trưởng Nguyễn Sơn đúng hẹn đi xe đạp ra rất sớm, y phục quân nhân chỉnh tề. Buổi lễ khá đông người tham dự. Hai ông Đặng Thai Mai và Tôn Quang Phiệt đều có con học ở trường nên đã đi lên từ Thiệu Hoá là nơi các cơ quan tỉnh đóng, các văn nghệ sĩ như Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Sỹ Ngọc v.v... từ Quần Tín ra. Nhân dân Chợ Cốc lúc đó có một lớp huấn luyện cán bộ tư pháp Liên khu IV nên có rất đông học viên tới dự. Cũng có một số luật gia nổi tiếng có mặt trong buổi lễ, như các ông Hồ Đắc Điềm lúc đó là Chủ tịch Hội đồng Tu luật Liên khu, ông Trần Kiêm Lý là Giám đốc Sở Tư pháp Liên khu...
Với tư cách là Chủ tịch danh dự buổi lễ, Khu trưởng Nguyễn Sơn được mời ngồi vào một chiếc ghế bành đẹp đặt trên hàng đầu phòng họp. Sau phần tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu và diễn văn kết thúc năm học đã xong, đến lượt mời Khu trưởng Nguyễn Sơn lên phát biểu ý kiến. Mọi người từ quan khách đến học sinh đều hồi hộp chờ đợi, phần vì Khu trưởng vốn nổi tiếng hùng biện, phần lại có người lần đầu tiên được nghe ông nói chuyện. Đặc biệt khi Khu trưởng đĩnh đạc đi lên diễn đàn đặt trên bục cao, rồi khoan thai rút từ túi trên ra mấy tờ giấy đánh máy thì ông Hiệu trưởng Đoàn Nồng đưa mắt nhìn tôi mỉm cười, tỏ vẻ yên lòng. Rồi sau khi đeo kính, Khu trưởng bắt đầu đọc theo bản đánh máy.

  Nhưng sao lại thế? Chỉ đọc được hơn một trang - mà đọc một cách khó khăn, chật vật, theo kiểu một người vốn xưa nay quen ứng khẩu, không lệ thuộc vào bài viết sẵn - ông Nguyễn Sơn đặt ngay tập giấy xuống bàn, tháo kính đặt chặn lên, rồi bắt đầu nói vo, tốc độ cứ nhanh dần, thao thao bất tuyệt. Và quả là "danh bất hư truyền", khi Nguyễn Sơn đã nói thì sức thu hút đối với người nghe thật là mãnh liệt! Mọi người đều chăm chú lắng nghe. Nhưng vấn đề ông nói là những gì? Và nội dung bài nói chuyện có thích hợp với buổi họp không? Đến nay thời gian đã quá xa, đã hơn 40 năm rồi, tôi không còn nhớ cụ thể những điều ông Nguyễn Sơn đã nói trong buổi lễ phát phần thưởng của Trường trung học Đào Duy Từ mùa hè năm đó. Tôi chỉ còn nhớ mấy ý chính sau đây: Đó là thầy giáo và học trò không phân biệt nhau, trò học thầy đã đành, nhưng thầy cũng học trò. Chính trong quá trình dạy học, thầy giáo đã học hỏi được nhiều ở học sinh của mình. Học hỏi lẫn nhau trên lớp và ngay cả trong giờ chơi. Thầy và trò phải thân ái, gắn bó với nhau, không được cách biệt nhau. Không có trò kém, trò xấu, trò nào cũng tiến bộ được. Tiếp đó, ông nhấn mạnh rằng học trong nhà trường là quan trọng, nhưng chỉ mới là một phần, mà quan trọng hơn là học ở ngoài đời, ở ngoài xã hội. Để minh hoạ ý này, ông tự liên hệ nói rằng thuở nhỏ đi học ở Hà Nội, ông thường trốn buổi học chiều - trước Cách mạng học sinh học ngày hai buổi, rồi vào Vườn Bách thú (và Bách thảo) gần Phủ toàn quyền Pháp (nay là Dinh Chủ tịch nước) để cùng với bạn bè vừa ngắm các chú hổ trong chuồng thú vừa xỉa răng sau buổi cơm trưa, nên mới có hiệu "xỉa răng cọp". Rồi sau đó bỏ nhà đi hoạt động cách mạng, thế mà bây giờ đã trở thành Khu trưởng.

  Câu chuyện của ông Nguyễn Sơn vừa hùng hồn, vừa thân mật, được điểm xuyết bởi những câu chuyện thực sống động làm cho học sinh rất thích thú. Hàng tràng vỗ tay ran lên khẳng định sự hưởng ứng nhiệt liệt của họ. Còn các quan khách thì cũng không khỏi có phần bất ngờ trước các ý kiến "táo bạo" của Khu trưởng. Riêng về phần nhà trường thì từ Hiệu trưởng đến các thầy cô giáo đều có phần lo ngại, không hiểu câu chuyện rồi sẽ đi đến đâu?

  Công bằng mà nói thì những ý kiến Khu trưởng Nguyễn Sơn phát biểu hôm đó chính là những tư tưởng lớn về một nền giáo dục mới. Nhưng hồi đó, trong những năm đầu Cách mạng thành công và kháng chiến, các thầy cô giáo chúng tôi hầu hết từ nhà trường cũ ra nên đều còn chịu ảnh hưởng cũ, như tính trung lập của trường học, quan hệ thầy trò theo lối phong kiến..., vì vậy không khỏi có phần "phản ứng" trước những ý kiến của Khu trưởng. Phải tới "Cải cách giáo dục" hè năm 1950, sau khi dự những lớp "Rèn cán chỉnh cơ" của ngành giáo dục, rồi học tập trong dịp hè về "Một nền giáo dục mới" thì chúng tôi mới có điều kiện nhận thấy rằng những ý kiến của Khu trưởng Nguyễn Sơn hồi đó là đúng, chỉ có điều là phát biểu hơi sớm, trước một đối tượng chưa được chuẩn bị tốt và trong một bối cảnh chưa thực sự thích hợp.

  Khu trưởng Nguyễn Sơn càng nói càng hăng, tưởng chừng không thể nào dứt. Nhưng rồi chính ông cũng nhận thấy sự nôn nóng của ban tổ chức buổi lễ, ông xem đồng hồ rồi kết thúc bài nói chuyện để dành thời gian cho lễ trao phần thưởng. Buổi lễ kết thúc tốt đẹp. Quan khách và học sinh ra về vui vẻ, ông Nguyễn Sơn cũng có phần hỉ hả. Riêng đối với tôi thì bài nói chuyện hôm đó là bài học nhập môn về nghề sư phạm cao quý mà tôi theo đuổi cho tới ngày nay. Kỷ niệm sâu sắc của tôi về Khu trưởng Nguyễn Sơn, một võ tướng đối với một người làm công tác giáo dục là như vậy đó.

Tháng 10-1993
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #6 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 06:13:16 PM »

Tướng Nguyễn Sơn - nhà lý luận quân sự cách mạng

PTS. Phạm Xanh



  Thế hệ chúng tôi lớn lên và nhập cuộc khi Tướng Nguyễn Sơn đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng số phận đã đưa tôi đến một nghề, một nghề đã xe kết lên những mối dây ràng buộc, tạo thành những duyên nợ với nhiều bậc vĩ nhân, những bậc tiền bối, trong đó có Tướng Nguyễn Sơn. Trong khi lục tìm những trang tư liệu trong các cặp hồ sơ cũ nát của các phòng lưu trữ, đọc hàng nghìn trang hồi ký, những bản tự thuật của các cụ lão thành cách mạng để viết các công trình lịch sử của mình như cuốn Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin ở Việt Nam, tôi đã bắt gặp một nhân vật mang tên Vũ Nguyên Bác, tên cúng cơm của Tướng Nguyễn Sơn, một vị tướng huyền thoại mà ít ra ba dân tộc Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiên1 đều ngưỡng mộ và nhớ tới. Cũng từ đó Tướng Nguyễn Sơn sống với tôi trong những bữa ăn, những giấc ngủ và đặc biệt trong những lúc cầm bút. Tôi cố đi tìm một cái gì đó về Nguyễn Sơn mà một thời người ta đã lãng quên. Cuối cùng, ơn trời, tôi đã tìm thấy những tư tưởng của Nguyễn Sơn còn nguyên vẹn trong những tác phẩm mà ông để lại cho đời. Cũng phải xin thưa thêm một điều là gần đây tôi mới được nhìn thấy bức ảnh chân dung Tướng Nguyễn Sơn. Cầm bức chân dung ông trong tay tôi nghĩ tới một con người đầy cá tính đúng như những câu chuyện của bạn bè ông, chiến hữu ông và môn đệ ông kể về ông. Tự nhiên tôi liên tưởng tới Tsapaep của nước Nga xa xôi.

  Người ta nói với tôi là ông viết khá nhiều sách, nhưng tôi mới tìm thấy ba cuốn mang tên ông: Chiến thuật; Dân quân, một lực lượng chiến lược; Chủ nghĩa Lênin. Trong ba cuốn sách trên, hai cuốn đầu liên quan đến vấn đề tôi muốn trình bày: "Tướng Nguyễn Sơn - nhà lý luận về chiến tranh cách mạng".

  Cuốn Chiến thuật mà tôi có trong tay là bản in tipô, bằng chữ viết tay, do Ban Quân huấn phòng tham mưu Liên khu V tái bản năm 1951, gồm 22 trang. Có lẽ cuốn sách này được xuất bản lần đầu năm 1949 tại Bộ Tư lệnh Quân khu IV cùng với cuốn sách thứ hai, bởi lẽ ở trang bìa, phía trong ta còn có thể đọc được hai dòng chữ được đóng khung trong hình chữ nhất: In lần thứ nhất, 900 cuốn, xong ngày 20-2-1949. Sách được in trên giấy bồi đã ngả màu vàng, mực in đã bay, rất khó đọc. Theo chúng tôi cuốn sách này chỉ là một phần trong loạt sách tham khảo của ông về chiến lược, chiến thuật, chiến đấu (chiến dịch), bởi lẽ trang cuối cùng có ghi: Hết phần thứ nhất. Cũng có thể là, trong điều kiện khó khăn thiếu thốn về mực in, giấy ở Liên khu V lúc đó, người ta chỉ in lại từng phần công trình nhiều phần của ông đã xuất bản ở Liên khu IV năm 1949.

  Cuốn Chiến thuật có hai chương. Chương I mang tựa đề Bàn chung về chiến thuật; Chương II - Nguyên tắc nền tảng của chiến thuật.
ở chương I, sau khi dành 3 trang nói tới sự cần thiết "tu dưỡng chiến thuật cho các cán bộ chỉ huy vì đó là khâu chính trong việc chỉ đạo chiến tranh hiện thời của quân dân ta", ông đã dành trọn phần còn lại của chương làm rõ "Thế nào là chiến thuật". Theo ông, chiến thuật là những thế đánh trận dùng khi trực tiếp giao chiến với giặc trên chiến trường để ngăn cản, đuổi đánh hay tiêu diệt giặc. Chiến thuật là những hình thức tác chiến của các binh đoàn, trung đoàn lẫn đơn vị. Chiến thuật còn là sự sắp xếp bộ đội, quy định tiến thoái, phối hợp các binh chủng, các bộ đội, rồi tuỳ ở tình hình bên địch, ở thế đất, ở nhiệm vụ của mình mà thực hành theo mục đích trực tiếp khi hai quân giao chiến.

  Theo định nghĩa đó, trọng tâm nghiên cứu chiến thuật là những cán bộ chỉ huy trung cấp. Song theo Nguyễn Sơn, tất cả mọi người trong quân ngũ từ binh nhất, chỉ huy sơ cấp đến các vị chỉ huy cao cấp đều phải am tường về chiến thuật để hiểu nhau khi ra lệnh và thực hành chiến đấu. Trong thực hành chiến đấu có ba bậc: Chiến lược, chiến thuật, chiến đấu. Các cấp chỉ huy của ba bậc ấy là Tướng (chiến lược), Tá (chiến thuật), Uý (chiến đấu) và tổ chức quân đội cũng được phân chia theo ba bậc tương ứng đó.

  Ở chương II, tác giả đã nêu ra và lý giải 4 nguyên tắc nền tảng trong vô số những hình thức và nguyên tắc của chiến thuật. Đó là tích cực tấn công, giữ thế mạnh, đè bẹp giặc, góp sức tập trung đánh vào những chỗ yếu của giặc và khéo dùng cơ động.

  Ở nguyên tắc nền tảng thứ nhất, ông cho rằng điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội quy định nó. ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc về chiến lược, thường lúc đầu ở vào thế bị động, bị tiến công. Vì thế chúng ta cần có tinh thần tích cực tấn công gấp bội về chiến thuật để chuyển dần cục diện bị động về chiến lược sang chủ động tiến công (phản công), có thế mới đảm bảo thắng lợi hoàn toàn. Trong những cuộc chiến tranh giải phóng, vì thiếu vũ khí, huấn luyện, kinh nghiệm tinh thần tích cực tiến công giặc đã sản sinh ra một chiến thuật đặc biệt, chiến thuật du kích. Chiến thuật này cũng tồn tại với chiến thuật hoặc chính quy nhằm tiêu hao giặc, có thì giờ huấn luyện làm tăng sức mạnh chiến đấu cho bộ đội chính quy. Cũng theo ông, tích cực tiến công trong chiến tranh không có nghĩa là làm liều, đánh ẩu. Muốn tích cực tiến công phải quan tâm đến trinh sát, nắm tình hình giặc, chủ động tạo ra những nhược điểm cho giặc. Tích cực tiến công có nghĩa là tìm giặc mà đánh với điều kiện có lợi cho ta, có hại cho giặc, tức là giữ thế chủ động trong tác chiến dù ở thế tấn công hay thế thủ.

  Nguyên tắc nền tảng thứ hai - giữ thế mạnh đè bẹp giặc được tác giả xây dựng trên ý tưởng là chắc thắng mới đánh, bảo đảm được lực lượng của ta. Muốn được thế chỉ nên góp lực lượng chính vào mục đích tiêu diệt giặc, còn các mục đích thứ yếu khác thì dùng lực lượng nhân dân, không bao giờ được rải quân trên nhiều nơi để khi cần không tập trung được lực lượng mà tiêu diệt giặc. Khi đã quyết tâm diệt giặc thì phải tập trung các lực lượng chiến đấu lại (người và vũ khí hoả lực) cho trội hơn giặc gấp bội mà đánh, nhưng tuyệt nhiên không được chủ quan khinh địch hay hao phí lực lượng.

  Vậy tập trung lực lượng để đánh vào đâu? Tác giả dẫn ta tới nguyên tắc nền tảng thứ ba - đánh vào chỗ yếu của giặc. Ông cho rằng việc lựa chọn chỗ yếu của giặc mà đánh là một vấn đề quan trọng nhất trong chiến thuật. Ông đã liệt kê làm ví dụ một loạt những chỗ yếu của giặc để tuỳ đó mà lựa chọn. Trong quan niệm của ông, việc phát hiện chỗ yếu của giặc là một quá trình từ trinh sát - nghiên cứu đến sự sáng suốt của các cấp chỉ huy. Cũng theo ông, chỗ yếu của giặc không chỉ là cái vốn có của giặc mà ta phát hiện ra, mà còn do ta tạo ra chỗ yếu của nó, ví dụ như, dùng lối đánh du kích buộc địch phải phân tán lực lượng, làm cho nó mệt mỏi rồi mới đánh một cú đánh quyết định.

  Nguyên tắc nền tảng cuối cùng - Khéo dùng cơ động. Theo tác giả cơ động là cách dùng binh mau chóng về chiến thuật tức là vận động bộ đội và phối trí hoả lực cho ăn khớp với nhau chặt chẽ và chắc chắn gây được hiệu quả xạ kích. Theo đó bộ binh là binh chủng chủ yếu có sự phối hợp với các binh chủng khác trong khi sử dụng nguyên tắc chiến thuật này. Muốn vận động được nhanh, quân đội phải được rèn luyện về thuật hành quân, sức hành quân và cách tổ chức hành quân sao cho thành thạo, nhanh nhẹn và kín đáo. Đó là vận động trước trận đánh, còn vận động trong trận đánh thì tác giả đòi hỏi hoả lực phải được tập trung vào lúc chuẩn bị xung phong. Nhưng hoả lực trợ chiến này chỉ có tác dụng trong một phạm vi hẹp, nên thuật dùng binh theo tác giả, nên chú trọng vào động tác xung phong của bộ binh, tức là động tác ném lựu đạn, đâm lê. Vì thế mà ông yêu cầu binh sĩ phải thành thục về kỹ thuật xung phong.

  Cuốn Dân quân, một lực lượng chiến lược do Bộ Tư lệnh Quân khu IV xuất bản vào đầu năm 1949 in bằng tipô trên giấy trắng đẹp, gồm 88 trang. Trên trang lót có bút tích của chính Tướng Nguyễn Sơn: "Tặng anh Trường Chinh" cùng với chữ ký của ông và ngày đề tặng 10-2-1949. Trong sách, ở một số trang thấy có những chỗ xoá bằng nét bút lông to đậm đè lên, có trang một vài chữ, có trang xoá cả 4 dòng, chắc đó là nét bút lông của ông xoá một số chữ, một số dòng mà sau khi đọc lại trên bản đã in ông cảm thấy không thỏa mãn trước khi cuốn sách đến tay Tổng Bí thư Trường Chinh. Chắc chắn là ông Trường Chinh đã đọc cuốn sách tặng này vì cũng trên trang lót đó có đóng con dấu thư viện Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

  Cuốn sách không thành từng phần, từng chương nhưng theo cách đề của tác giả ta có thể hiểu là gồm 3 phần: Phần 1,  tác giả nói về tính chất và nhiệm vụ của dân quân; Phần 2,  mỗi một người công dân Việt Nam phải là đội viên dân quân (từ trang 63-74); Phần 3, tổ chức và lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hậu phương của dân quân (từ trang 77-87).

  Bài viết nhỏ này không có điều kiện để trình bày toàn bộ những tư tưởng của tác giả trong một tác phẩm quan trọng, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một vài đoạn trong cuốn sách quý đó mà thôi.

  Sau khi trình bày nhiệm vụ của dân quân (hậu phương, chiến đấu và chính trị), tác giả đã dành mục IV nói về Những công tác hậu phương của dân quân và mục V nói về Nhiệm vụ tác chiến và các hình thức chiến đấu của dân quân, để cụ thể hoá hơn nữa hai nhiệm vụ chính yếu mà tác giả đã trình bày ở các mục trên.

  Ở mục công tác hậu phương, tác giả đã liệt kê và giải thích những công tác hết sức cụ thể như sau:

  a. Vườn không nhà trống.

  b. Tổ chức đánh giặc.

  c. Phòng gian và giữ trật tự xã hội.

  d. Liên lạc đưa tin.

  đ. Nhiệm vụ vận chuyển.

  Ở mục nhiệm vụ tác chiến và các hình thức chiến đấu, tác giả đã chỉ ra rất cụ thể những hoạt động chiến đấu của dân quân như:

  a. Chiến thuật phá hoại.

  b. Chiến thuật địa lôi.

  c. Đánh giặc lẻ tẻ.

  d. Chiến thuật quấy rối.

  đ. Trinh sát.

  e. Làng chiến đấu.

  Phải thừa nhận một sự thực là đến năm 1949, trong điều kiện hết sức khó khăn, thiếu thốn đủ thứ của cuộc kháng chiến chống Pháp, sự xuất hiện những cuốn sách có tính chất cẩm nang về quân sự như hai cuốn sách của Tướng Nguyễn Sơn còn là rất hiếm hoi. Tại sao ông Nguyễn Sơn có thể viết được những cuốn sách đó? Theo chúng tôi, do sự thôi thúc của tình hình là phải đào tạo một đội ngũ cán bộ chỉ huy quân đội cho cuộc kháng chiến và do sự hiểu biết và tích luỹ kinh nghiệm chiến đấu của chính tác giả.

  Tất cả những tri thức thu nhận qua sách vở, tất cả những kinh nghiệm tích luỹ được trên chiến trường Trung Quốc và Việt Nam đều in dấu ấn vào trong những tác phẩm quân sự của ông mà tôi đã điểm qua.

  Ròng rã 30 năm, dân tộc ta đã đi qua hai cuộc chiến tranh với hai kẻ thù lớn mới đến được độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ như hôm nay. Đó thực sự là một kỳ tích. Tôi chắc rằng sự nghiệp của Tướng Nguyễn Sơn, một nhân vật mà hôm nay chúng ta tưởng niệm đã góp một phần xứng đáng vào kỳ tích chung của dân tộc chúng ta.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #7 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 06:18:52 PM »

Nhớ Bác Sơn

G.S. Vũ Tuấn



  Mùa thu 1945...

  Cách mạng tháng Tám thành công đem lại độc lập cho Tổ quốc. Cùng với sự kiện vĩ đại đó, gia đình chúng tôi có niềm vui to lớn, bất ngờ: bác tôi, ông Vũ Nguyên Bác, người con thứ tư của ông bà nội tôi đột ngột trở về sau hai mươi năm biệt tích.
Không thể tả xiết niềm vui, sự sung sướng của chúng tôi hồi đó.

  Thế rồi, sau những nụ cười và những giọt nước mắt, sau những buổi hàn huyên khôn dứt, ông hỏi:

  - Nhà ta có ai nghiện thuốc phiện không?

  - Không!

  - Có ai làm ở dưới kia không? Ông chỉ về phía trụ sở Quốc dân Đảng ở phố Quan Thánh.

  - Không!

  Nghe trả lời, ông vui hẳn lên, cởi mở hẳn lên. Và cả nhà chúng tôi cùng hết sức mừng rỡ: Ông không phải là Vũ Hồng Khanh. Ông là Nguyễn Sơn.

  Sự kiện đó quyết định con đường của cả họ Vũ chúng tôi: Tất cả đi theo ông.

  Sau ngày 23-9-1945, ngày giặc Pháp gây hấn ở Nam Bộ, tất cả thanh niên trong họ (cả trai lẫn gái) lần lượt gia nhập quân đội.

  Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, tất cả các gia đình tản cư theo kháng chiến, chiến đấu vì độc lập, vì lý tưởng của Cụ Hồ.

  Nhìn lại...

  Đã gần nửa thế kỷ qua. Bao nhiêu biến động! Bao nhiêu đổi thay!

  Trong cuộc kháng chiến chống Pháp nhiều người trong gia đình chúng tôi đã ngã xuống ở chiến trường hay trên những nẻo đường của chiến tranh. Tất cả đều trung thành với lý tưởng của ông và phấn đấu gìn giữ phẩm chất con người mà ông mong muốn.

  Rồi lớp con cháu lại ra trận chống Mỹ...

  Không một người nào theo giặc, không một ai sa đoạ, suy đồi. Tất cả chúng tôi đều sống đứng đắn, đều là những công dân tốt.
Ngày nay, con cháu ông có mặt trên hầu hết các ngành quân sự, ngoại giao, giáo dục, y tế, nghệ thuật và đều là những cán bộ có lương tâm, những người lao động chân chính. Đó là nhờ bác tôi dẫn dắt. Chúng tôi biết ơn ông về điều đó.

  Thời gian trôi qua...

  Rất nhiều điều đã quên. Thế nhưng thời gian không chỉ là quên, mà còn là nhớ nữa.

  Tôi nhớ... ông phi ngựa rất giỏi, đi xe đạp thả hai tay còn tài hơn cả lũ trẻ nghịch ngợm chúng tôi. Ông thích xem hát chèo và đêm đêm thức rất khuya, vừa gõ mổ cò trên chiếc máy chữ con con vừa hút thuốc lá.

  Tôi nhớ... ông kể, trong những năm đầu ông khổ sở như thế nào vì nhớ mẹ, ông kể, ông đọc nhẩm "Kiều" ra sao để vợi đi nỗi nhớ nhà, nhớ nước, để không quên tiếng mẹ đẻ.

  Tôi nhớ... những lần ông diễn thuyết đầy nhiệt tình trên sân vận động. Tôi nhớ những lần ông gánh củi với lính, tập bơi với chúng tôi.
  Lúc đó tôi thắc mắc mãi:

  - Không hiểu ông làm thế nào mà sống sót được qua Vạn lý trường chinh nếu không biết bơi nhỉ?

  Tôi chưa nói điều thắc mắc này với ai bao giờ.

  Ông rất quan tâm đến chúng tôi, lũ cháu bộ đội đang tuổi thiếu niên của ông1. Thỉnh thoảng ông lại gọi chúng tôi từ Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV về chơi, cho ăn và hỏi han chuyện học hành. Ông rất vui nếu chúng tôi học tốt, tiến bộ và rất nghiêm mỗi khi có đứa nào phạm lỗi.

  Một lần tôi làm gì đó xúc phạm đến một quân nhân. Khi biết, ông đã nói chuyện với tôi rất lâu. Tôi chỉ còn nhớ đó là một đêm trăng rất trong, chúng tôi ngồi trên chiếc chõng tre trong sân một ngôi nhà ở làng quê Nghệ An. Ông buồn, tôi và tất cả anh em tôi cùng ngồi hôm đó đều rất buồn.

  Lịch sử dân tộc tạo nên những anh hùng. Nhưng chính anh hùng, danh nhân, những con người kiệt xuất là vinh quang, là khí phách, là niềm kiêu hãnh của một dân tộc. Ở phạm vi hẹp đối với một dòng họ cũng thế. Họ chúng tôi tự hào về ông, hãnh diện về ông, về Tướng Nguyễn Sơn.

  Theo chủ trương của anh Vũ Hầu, trưởng tộc, vừa qua họ Vũ chúng tôi đã họp họ lần thứ nhất (ngày 29-6-1993), để giáo dục truyền thống, để xây dựng tình đoàn kết. Anh Hầu - một người lính Cụ Hồ, nguyên Phó Cục trưởng ngành ngoại giao - thường nhắc chúng tôi phải giáo dục con cháu để xứng đáng với ông cha, với dòng họ đã sản sinh ra Nguyễn Sơn.

  Tuy nhiên, không một ai trong chúng tôi được đi lên dưới bóng che của ông. Chẳng hiểu tự bao giờ tôi hiểu rằng ông muốn dạy con cháu ông: "Hãy đi lên bằng chính đôi chân của mình". Dựa dẫm, hèn nhát là điều ông ghét nhất.

  Toàn thể gia đình chúng tôi kính trọng ông, yêu mến ông. Chắc không phải chỉ vì ông có quyền chức, có tiếng tăm, chỉ vì những năm tháng phong sương, tung hoành của ông. Cũng không phải quyền uy làm nên điều đó. Nào đã có ai buộc được người khác phải yêu mình?.
Tôi nghĩ, ông được cả nhà chúng tôi yêu, trước hết, bởi lẽ ông yêu chúng tôi. Biết tin, biết trân trọng và động viên chân thành người khác là yêu cầu đầu tiên của việc cảm hoá, giáo dục.

  Các bác gái tôi, những người chị dâu già của ông rất quý ông vì ông thương các bà phải lặn lội, tần tảo nuôi con, vì ông chẳng bao giờ bài bác việc sùng Phật, chăm cúng lễ của các bà. Trái lại, chính ông ngay sau khi trở về đã yêu cầu được thăm lại làng quê, bạn bầu, thăm lại ngôi nhà của cha ông (lúc ấy đã bán rồi) ở Kiêu Kỵ, thắp hương lên mộ, cúng giỗ ông bà, cha mẹ...

  Nhiều chú bác khác thích ông vì ông gần gũi, thân tình và cũng thích đánh tổ tôm như họ vào những dịp thăm nhà, lễ tết. Mãi về sau nhiều người trong nhà vẫn còn khen:

  - Ông Sơn thông minh thật. Mới học đánh tổ tôm mà chỉ sau vài buổi đã thắng cả hội.

  Lũ trẻ con chúng tôi quý ông bởi ông cũng đá bóng, đá cầu, đánh cờ tướng với chúng tôi. Có lần đứa cháu bé (Vũ Lưu - con ông Năm) thắng ông một ván cờ, ông khoái chí cười lớn: "Thằng bé thế mà khá!". Có hôm, ông còn bảo chị Mai Châu và các bạn chị hát "Thiên Thai" cho ông nghe nữa. Thấy các cháu lưỡng lự, ông nói "Hát ở trong nhà thì được!", rồi ông cười. Chúng tôi thích lắm... Chả là thời đó, những bài hát "lãng mạn" kiểu này bị cấm mà!.

  Ông rất yêu con. Thậm chí đó còn là chỗ yếu trong lòng ông.

  Chị Vũ Thanh Các, đứa con gái ông bỏ lại lúc mới được ba tháng để ra đi, được ông chăm chút, chiều chuộng như thể để bù lại sự thiếu vắng ông trong những năm dài qua. Thế nhưng ông cũng rất yêu các cháu (con của những người anh, người em ông) chẳng thế mà có lần chị Các phải tỵ:

  - Cậu yêu anh Bảo, anh Lân hơn con!.

  Anh Vũ Đình Bảo con ông Cả, hy sinh lúc 24 tuổi, khi anh chỉ huy một tiểu đoàn trong trận tấn công đồn Nghĩa Lộ năm 1950. Ông đau xót mãi vì mất người cháu ông yêu quý nhất. Anh Vũ Kỳ Lân, con ông Hai, cũng nhập ngũ năm 1945, đã sống gần 10 năm dưới địa đạo và nguyên là Chính uỷ khu Vĩnh Linh, tác giả ký sự "Miền đất lửa".

  Những người con khác của ông còn quá bé cho nên không nhớ nổi mình được bố yêu bao nhiêu và như thế nào.

  Năm 1955, khi tôi đang học Đại học Sư phạm Hà Nội, từ Bắc Kinh, ông viết cho tôi nhiều lá thư dài để an ủi, động viên, uốn nắn và dạy bảo tôi (lúc này bố tôi - ông Vũ Thái Sự, công tác ở Quân khu IV - đã mất). Hồi ấy, để mừng Việt Nam giải phóng nửa đất nước, một Đoàn văn công Trung Quốc sang biểu diễn ở Hà Nội. Một lần, lúc đi thuyền ngắm cảnh Hồ Tây, chẳng may bị gió xoáy, có mấy người bị chết. Nghe tin đó, ông thực sự xúc động và đã viết cho tôi một lá thư dài. Ông nói: "... Đó là sự hy sinh vì Việt Nam, vì tình hữu nghị Việt - Trung... Phải hiểu và phải suy nghĩ về điều đó!". Tôi thấy rõ ràng ông hết sức yêu quý Trung Quốc. Không hiểu có phải vì ông đã sống và chiến đấu gian lao suốt những năm tháng dài đẹp đẽ nhất, trẻ trung, sung sức nhất của đời ông vì nhân dân Trung Hoa, vì Cách mạng Trung Quốc?. Hay là vì ông có người vợ Trung Hoa rất mực chung thuỷ - người đã đành lòng để ông sống với người vợ trẻ Việt Nam, nhưng vẫn ở vậy để nuôi dạy cho ông hai người con trai - hai công dân Trung Quốc nhỏ tuổi: Hàn Phong và Tiểu Việt? Cho đến bây giờ, người đàn bà ấy - bà Ngọc Anh - tám mươi tuổi rồi vẫn chưa thôi yêu ông. Bà vẫn khóc mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm về ông.

  Đầu tháng 10-1956, ông trở về Việt Nam trên một chuyến xe lửa đặc biệt và vào thẳng bệnh viện. Ông ốm nặng đã lâu. Biết không thể qua khỏi, ông tha thiết muốn được chết ở Việt Nam. Ông dặn phải đưa ông về nước an táng, ít nhất cũng là đem về một nắm tro. Ông muốn sinh ra từ đây thì cũng được trở về chính mảnh đất này.

  Tôi chỉ được vào thăm ông có một lần. Hai mươi ngày sau, đêm 21-10-1956, tôi được gọi vào để trông thấy ông lần cuối. Khoảng một giờ sáng, khi tôi đến nhà lễ tang Bệnh viện Việt - Xô đã thấy tất cả gia đình tôi và cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở đó tiễn biệt ông.
Ông mất quá sớm để lại rất nhiều thương xót cho vợ con, con cháu và đông đảo bè bạn ông.

  Mấy hôm sau, một lần đến thăm bà Lê Hằng Huân, người vợ sau cùng của ông và mấy đứa con nhỏ: Mai Lâm, Thanh Hà, Nguyễn Cương, Việt Hồng, Việt Hằng, anh Chúc - một Đại tá, Cục trưởng - ngày xưa làm việc bên ông, đã không cầm được nước mắt, anh khóc mãi:

  - Trời! Sao chết sớm quá vậy!... Để lại một đàn con lít nhít thế này sao!

  Đó là những năm tháng vô cùng gian nan, vất vả của thời chống Mỹ... Bà Huân - một người phụ nữ hiếm thấy - Bà đã hiến tặng cho Nhà nước hầu hết số tiền lớn quà tặng của nhân dân Trung Quốc cho ông khi ông trở về. Và gần như chỉ bằng tình yêu sâu nặng đối với ông, bà đã can đảm ngoan cường sống, làm việc và nuôi dạy cho ông năm đứa con. Cả năm còn quá bé và vẫn chưa hết ngơ ngác vì mất bố...

  Và bà đã được đền đáp. Các con bà đã lớn lên đúng như ông mong mỏi: Có học, tự trọng và trung thực.

  Thời gian không chỉ làm nhạt phai. Thời gian còn khắc sâu, tô đậm nữa. Thời gian làm mờ đi những điều không nên nhớ và khắc sâu mãi những điều không thể quên.

  Càng nhiều tuổi, nếm trải đắng cay, ngọt bùi của cuộc đời càng nhiều, tôi như càng "thấy" ông rõ hơn. Trong ký ức tôi bây giờ, ông là một cây sồi già: Hiên ngang và hiền hậu.

Hà Nội, 22-12-1993
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #8 vào lúc: 05 Tháng Mười, 2008, 06:23:05 PM »

Tướng Nguyễn Sơn

Nhà báo Thái An


  Bao quanh cuộc đời của Thiếu tướng Nguyễn Sơn là vô số huyền thoại. Dân ở Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội đề nghị rước sinh phần của ông về quê, lập đền thờ, coi ông như một danh tướng thời hiện đại. Nhiều tầng lớp nhân dân ở Nghệ An, Thanh Hoá còn lưu truyền nhiều giai thoại về ông. ở Hà Tĩnh, vùng phía Nam núi Hồng Lĩnh, dân lập đền thờ ông do một quân báo cũ trông nom.

  Những người cùng thời với ông đánh giá: Ông là một vị tướng tài ba, năng động, xông xáo, quyết đoán, giàu cá tính. Tuy vậy cũng có nhiều người cho rằng ông gai góc, kiêu ngạo, có tài nhưng có tật, nên cuộc đời cũng lắm gian truân. Dù ở mức độ nào, Thiếu tướng Nguyễn Sơn cũng để lại trong lòng quân dân ta một sự kính nể thật sự.

  Rất tiếc đời ông quá ngắn, không vượt qua ngưỡng tuổi 49 (ông sinh 1908 mất 1956). Ông lại hoạt động cách mạng phần nhiều ở nước ngoài, thời gian làm việc trong nước không quá 5 năm, trong đó có 4 năm làm Tư lệnh trưởng Quân khu IV (1946-1950), nhưng ông đã hoàn thành một khối lượng công việc đồ sộ ít người sánh kịp.

  Ông ra đời ở phố Yên Ninh, Ba Đình, Hà Nội, là con thứ tư của một gia đình nông dân kiêm tiểu thương gốc ở Kiêu Kỵ, Gia Lâm với tên khai sinh Vũ Nguyên Bác. Cụ thân sinh ra ông là người cương trực, hay chống đối bọn cường hào nên bị chúng sách nhiễu luôn. Bỏ quê ra tỉnh (lúc này Gia Lâm thuộc tỉnh Bắc Ninh) vẫn không thoát được cảnh bị ức hiếp. Tức quá, cụ đặt tên cho 5 người con trai những tên rất ngộ nghĩnh: Tôi, Tớ, Tao, Bác, Sư và cô con gái út là To nhằm "để không ai chửi mình được". Trong 5 anh em trai thì Bác được học hành chu đáo hơn cả. Học xong trung học rồi học Trường Sư phạm Bắc Kỳ (ENT-École Normale du Tonkin) - nay là địa điểm Trường phổ thông trung học Phan Đình Phùng. Chưa học xong thì Bác tổ chức học trò Trường Bưởi (Trường phổ thông trung học Chu Văn An bây giờ) đánh nhau với học trò Trường Tây (trường Albert Saraut). Mật thám truy lùng kẻ cầm đầu. Vì vậy Bác nhiều lúc vắng nhà, thường thì 12 giờ đêm ông cả tôi ra hé cửa cho em Bác về. Thế nhưng có lần Bác không về, chờ hết ngày này qua ngày khác, sau đó cả nhà lấy ngày ông đi để làm giỗ. Đó là ngày 16-1-1926. Hai mươi năm làm giỗ cúng ông, đến năm 1945 thì ông về thật. Cả nhà sững sờ, ông về đúng nhà mình, mặc dù lúc này gia đình đã khấm khá, xây thành 5 căn liền nhau "tam đại đồng đường", căn thứ 4 bố mẹ ở, có bàn thờ ông.

  Ông Bác lần này về mặc quân phục đeo súng lục, đội mũ sao vàng viền kim tuyến. Ông là một trong những vị được thụ phong cấp tướng đầu tiên và nhận chức Tư lệnh Quân khu IV. Thì ra 20 năm qua Vũ Nguyên Bác cùng một số thanh niên sang Trung Quốc, được Bác Hồ trực tiếp dìu dắt làm cách mạng. Nguyên Bác mang bí danh Lý Anh Tự, cùng 9 anh em khác như Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng... hình thành "một gia đình họ Lý"do Bác Hồ với bí danh Lý Thuỵ đứng đầu. Lý Anh Tự tốt nghiệp Trường võ bị Hoàng Phố sau đó vào Bát lộ quân, tham gia Vạn lý trường chinh, chỉ huy đến sư đoàn.

  Năm 1945, ông cùng một số cán bộ cao cấp người Việt trong Giải phóng quân Trung Quốc về nước với tên mới Nguyễn Sơn. Năm 1950, Tướng Nguyễn Sơn lại được lệnh trở lại Trung Quốc làm cố vấn quân sự cho Quân uỷ Trung Quốc, chi viện Việt Nam và tham gia kháng Mỹ viện Triều. Sau đó làm Cục trưởng Cục điều lệnh Giải phóng quân Trung Quốc.

  Năm 1956, ông lâm bệnh nặng, mặc dù được chăm sóc đặc biệt, nhưng ông biết mình khó qua khỏi nên tích cực đề nghị về nước. Về nước được 20 ngày, ông từ trần, đó là ngày 21-10-1956 theo âm lịch là ngày 18 tháng 9. Có điều lạ là "giỗ" trước và giỗ chính thức chênh nhau 4 ngày, cho nên dòng họ Vũ ở Kiêu Kỵ, bà con, bạn bè xa gần trong những ngày này lại gặp nhau để tưởng nhớ ông.

  Thực ra tầm vóc và vị trí của ông đã vượt khỏi phạm vi gia tộc, làng xã và cả đất nước nữa. Trước đây hàng năm gia đình ông đều nhận được điện thăm hỏi của các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và quân đội Trung Quốc. Các đoàn đại biểu cấp cao do các vị Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ, Diệp Kiếm Anh đến thăm Việt Nam đều đến viếng ông.

  Đánh giá một vị tướng trước hết phải tập trung vào phần chỉ đạo chiến lược. Tướng Nguyễn Sơn làm Tư lệnh Quân khu IV vào thời gian ấy phải gánh vác hai nhiệm vụ chiến lược nặng nề: Mặt trận Huế vỡ, phải chặn đứng tổ chức đánh trả địch, bảo vệ lực lượng mình. Nguyễn Sơn tổ chức lực lượng đánh địch trên đồn 18, xây dựng truyền thống cho Trung đoàn 18 Quảng Bình, lập Trung đoàn 95 Quảng Trị. Đánh trận Ưu Điềm - Thanh Hương, tạo đà xây dựng Trung đoàn 101 Thừa Thiên. Từ 3 trung đoàn con em Bình-Trị-Thiên lập nên Sư đoàn 325 anh hùng. Cùng với quân chủ lực, lực lượng quân địa phương cũng lớn mạnh, dân quân tự vệ phát triển, các làng xã chiến đấu theo mẫu Cảnh Dương, Cự Nẫm, Ba Lòng, Nam Đông phát triển. Trục đường chiến lược Ba Rèn, U Bò, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong vẫn giữ vững, nối liền Bắc Nam.

  Cùng với Bình-Trị-Thiên khói lửa, Thanh-Nghệ-Tĩnh được củng cố vẫn vững vàng làm hậu phương trực tiếp. Sư đoàn 304 lừng danh cũng được thành lập, làm nhiệm vụ chi viện cho cả nước.

  Giới quân sự truyền tụng về ông là lẽ đương nhiên, các giới dân sự cũng hết sức ca ngợi ông. Có người nói chưa ai yêu chiều, quý trí thức, văn nghệ sĩ bằng Tướng Nguyễn Sơn. Việc quân căng thẳng, ngổn ngang như vậy mà ông thường xuyên tiếp xúc với trí thức, văn nghệ, tập hợp được họ trong Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác và Hội văn nghệ, đặc biệt là tạo mọi điều kiện cho họ phục vụ cách mạng. Bằng sức hút nào mà Tướng Nguyễn Sơn tập hợp được: Hải Triều, Nguyễn Phan Chánh, Phạm Duy, Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh, Thanh Tịnh, Bùi Hiển, Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Trần Hoàn... quây quần bên nhau, cùng ra tiền tuyến và ai cũng có tác phẩm xuất sắc. Tuy nhiên ai có quan điểm sai lầm thì Thiếu tướng đấu tranh cũng rất quyết liệt. Có vị giáo sư bị phê phán trực diện là "mượn màu mác-xít đánh lừa con đen".

  Xin lấy ra một chi tiết về danh hoạ Nguyễn Phan Chánh. Sau Cách mạng tháng Tám, hoạ sĩ về quê phải đi vẽ ở chợ Thượng (Đức Thọ, Hà Tĩnh) để kiếm sống. Cụ vẽ rất tài nhưng thu nhập chẳng bao nhiêu. Chắc là do muốn rút ngắn công đoạn, cụ vẽ sẵn các kiểu ăn mặc trước, trừ cái đầu, ai cần loại gì thì ráp vào cho nhanh. Nào ngờ có lần một ông khách mặc áo nông dân nhưng đòi hỏi trang phục cấp tướng. Lúc ấy làm gì có trang phục cấp tướng, hoạ sĩ đành vẽ kiểu phường tuồng, sau đó là kiểu Napoléon. Chủ và khách trò chuyện từ đó hiểu nhau, ít lâu sau danh hoạ Nguyễn Phan Chánh đóng cửa hiệu truyền thần, tham gia Hội văn nghệ Liên khu IV. Việc sử dụng Nguyễn Tiến Lãng, một người có vấn đề với cách mạng, chuyện 5 lần mời cụ ủng Uý - thân sinh nhà bác học Bửu Hội, ra làm Chủ tịch Mặt trận Liên khu IV chứng tỏ ông là người biết chiêu hiền đãi sĩ. Đầu cách mạng tháng Tám do ấu trĩ mà có người lên án tuồng chèo là "phong kiến" phải dẹp bỏ, nhưng Tướng Nguyễn Sơn lại cho lập đội tuồng chèo, do nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghi đứng đầu.

  "Đội kèn đồng Quản Liên" vốn là đội kèn của Vua Bảo Đại, sau cách mạng tản mát mỗi người một nơi. Tướng Nguyễn Sơn mời anh Liên đến giao nhiệm vụ phục hồi đội kèn, tiền thân đoàn quân nhạc sau này. Thiếu kèn thì dùng sáo trúc thay thế. Đội nhạc binh có với 40 cây sáo trúc được Thép Mới nhắc đến trong bài "Cây tre Việt Nam". Trong hồi ký của trung tá Đinh Ngọc Liên có viết: "Đời anh lính kèn của tôi có 2 lần xúc động đặc biệt vừa chỉ huy anh em trình tấu vừa khóc, đó là khi làm lễ tiễn biệt Thiếu tướng Nguyễn Sơn và khi làm lễ truy điệu Bác Hồ".

  Trường thiếu sinh quân do Thiếu tướng Nguyễn Sơn đỡ đầu các bạn thiếu nhi lứa "tuổi thơ dữ dội" 11 tuổi trở lên được học tập rèn luyện, 16 tuổi vào quân chính hoặc Phân hiệu lục quân Trung Bộ, một số sang Trung Quốc học để đào tạo cán bộ sau này.

  - Báo "Tiền tuyến" cơ quan ngôn luận của sĩ quan và binh sĩ quân khu cũng do Thiếu tướng sáng lập. Với bút danh Lam Phong, Nguyễn Sơn đã viết hàng trăm bài.

  Ngoài ra, Nguyễn Sơn còn viết nhiều tác phẩm được in thành sách lưu hành trong cả nước như:

  - Vấn đề kinh tế.

  - Vấn đề tài chính hiện nay.

  - Dân quân: một lực lượng chiến lược.

  Và nhiều bản dịch của các nhà cách mạng nổi tiếng Trung Quốc. Trong danh mục xuất bản của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân có đến 12 cuốn của Tướng Nguyễn Sơn (biên soạn và dịch thuật). Trình độ ngoại ngữ của Thiếu tướng ngoài tiếng Trung Quốc đặc biệt xuất sắc, Thiếu tướng còn giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga. Tù binh và hàng binh Âu Phi đều do Thiếu tướng trực tiếp khai thác nên quân ta nắm địch rất chắc. Trại tù binh do Thiếu tướng lập ra đặt tên là đồn Cộng hoà. Thiếu tướng còn là một nhà hùng biện, đi diễn thuyết nhiều lần, nhiều nơi... Thiếu tướng đề cập rất nhiều đề tài, nhưng có lẽ vấn đề hấp dẫn sinh động nhất, kéo dài nhiều năm sau là "Địa vị và giá trị truyện Kiều". May sao, giáo sư Vũ Tuấn, cháu gọi Thiếu tướng bằng bác (con ông Sư, cháu ông Bác) còn giữ được bài nói chuyện của Thiếu tướng ngày 21-10-1949 tại Trường Thiếu sinh quân Liên khu IV.

  Một điều cần nói thêm là trong cuộc sống riêng tư của Thiếu tướng có chỗ không bình thường khiến cho có người đánh giá ông khắt khe là có vấn đề về đạo đức, tác phong.

  Được phép của các thân nhân của gia đình Thiếu tướng, xin bày tỏ sự thông cảm sâu sắc về "đường thê nhi có nhiều lận đận", do đó có chuyện xì xào. Cách giải toả tốt nhất là hãy công khai theo tác phong lúc sinh thời của Thiếu tướng. Thiếu tướng có mấy lần lập gia đình trong những hoàn cảnh khác nhau, không có điều gì mờ ám bất chính. Trước cách mạng tháng Tám, ông lấy bà Vũ, có một con gái 3 tháng nhưng vì mất liên lạc suốt 20 năm, người vợ đi tìm chồng và mất tích. Bà vợ thứ hai Trần Ngọc Anh, tức Trần Kiếm Qua, nguyên thành uỷ viên Bắc Kinh, có 2 con trai là Hàn Phong và Tiểu Việt. Lúc Thiếu tướng về nước, hai vợ chồng có quy ước sau ba năm không gặp lại nhau thì coi như được "giải phóng". Hai người con Hàn Phong và Tiểu Việt của ông đã nhiều lần về thăm quê nội.

  Sau đó Thiếu tướng lập gia đình với cô Ba Nội Nam Kỳ (tên do thân nhân gia đình gọi), có được một người con gái Nguyễn Mai Lâm, sau đó vì không hợp nhau đành chia tay. Năm 1948 Thiếu tướng lấy bà Lê Hằng Huân, con gái của thi sĩ Lê Dư ở Quảng Nam. Họ có với nhau 4 con (1 trai, 3 gái). Chúng tôi, khi viết bài này đã tìm gặp được chị Nguyễn Thanh Hà, trung tá, anh Nguyễn Cương thiếu tá, chị Nguyễn Việt Hằng, đại uý. Các con của Thiếu tướng Nguyễn Sơn cũng theo đường binh nghiệp, nhưng nghe chừng cũng lắm gian truân.
Kết thúc bài viết này, xin mượn lời một nhà khoa học: Nếu có Đại bách khoa toàn thư Việt Nam, tập quân sự nhất định phải có mục từ Nguyễn Sơn. Còn ở Trung Quốc từ điển danh tướng Trung Hoa đã đánh giá cao Tướng Hồng Thuỷ (tên của Thiếu tướng Nguyễn Sơn) trong lịch sử quân sự Trung Quốc.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #9 vào lúc: 06 Tháng Mười, 2008, 05:56:31 PM »

Nhớ mãi Nguyễn Sơn

Nguyễn Khắc Huỳnh



  Một ngày cuối tháng 5-1946, chúng tôi, những học viên Trường Lục quân Quảng Ngãi tập họp tại sân trường. Đồng chí Nguyễn Sơn, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam, Hiệu trưởng nhà trường đến gặp. Cuộc gặp đầu tiên với một con người không cao, da ngăm ngăm, râu hùm, hàm én, làm tôi liên tưởng đến một Từ Hải. Nguyễn Sơn nói chuyện, giọng nói vang vang. Sau này nhà thơ Hữu Loan viết "Tiếng nói Nguyễn Sơn còn vang vọng núi Nưa"... Mặc dầu đã gần 50 năm qua, tôi vẫn còn nhớ Nguyễn Sơn nói hay lắm, rõ ràng, sâu sắc, và đặc biệt là rất hấp dẫn... Mấy trăm con người lắng nghe im phăng phắc...

  Thời kỳ này, tuy Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946 đã ký kết, nhưng thực dân Pháp vẫn mở rộng chiến tranh; đánh lấn ra Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Quân đội ta còn non trẻ, thiếu thốn mọi bề. Chiến trường Nam Bộ cũng rất nóng bỏng và khó khăn.

  Với tư cách Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến, Nguyễn Sơn vừa lo các vấn đề quân sự của mặt trận, vừa lo xây dựng lực lượng, xây dựng hậu phương trên địa bàn Khu V. Là tư lệnh chiến trường, Nguyễn Sơn không ngồi "chỉ huy từ xa" mà thường đi sát các đơn vị chiến đấu, đi sát mặt trận, trực tiếp quyết định việc điều chỉnh, bố trí lực lượng và kế hoạch tác chiến tại chỗ. Cũng có lần Nguyễn Sơn trực tiếp cầm quân, làm nên trận Vạn Giã nổi tiếng lúc bấy giờ ở miền Nam. Những cố gắng vượt bậc của quân dân ta ở chiến trường này đã góp phần tiêu hao quân địch, làm chậm bước tiến của chúng, tạo điều kiện chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài.

  Trong việc xây dựng lực lượng, việc mở Trường Lục quân Quảng Ngãi với quy mô tương đối lớn, trên 400 học viên là một chủ trương đúng đắn, mạnh bạo. Vài tuần trước khi nổ ra kháng chiến toàn quốc, ta đã kịp thời tung ra trên 400 cán bộ được đào tạo tương đối có cơ sở bổ sung cho các chiến trường. Để khắc phục khó khăn về giáo viên quân sự, kỹ thuật, chúng ta mạnh dạn giao cho một số sĩ quan quân đội Nhật đã tình nguyện đứng trong hàng ngũ ta. Chính Nguyễn Sơn với bản lĩnh của mình đã góp phần cảm hoá, thúc đẩy những sĩ quan người Nhật này đem hết nhiệt tình giảng dạy. Sau này, một số giáo viên này trở thành đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, có người hy sinh ở chiến trường. Gần đây một người trong số giáo viên đó sang ta vẫn nhắc tới Nguyễn Sơn.

  Khi Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam chấm dứt nhiệm vụ, Nguyễn Sơn được cử làm Hiệu trưởng Trường Lục quân (hợp nhất). Lần này Nguyễn Sơn trực tiếp giảng dạy phần kiến thức lý luận quân sự với ba chủ đề: nuôi quân, luyện quân, cầm quân. Quả thật, đây là những vấn đề dễ nhạt, dễ gây nhàm chán... nhưng với bề dày kinh nghiệm với khoa diễn đạt của mình, Nguyễn Sơn đã cuốn hút người nghe từ ngày này sang ngày khác. Nguyễn Sơn nói: "Vâng lệnh Hồ Chủ tịch, tôi cố gắng đem kinh nghiệm 20 năm của tôi truyền đạt lại cho các đồng chí trong vài tháng". Có lẽ tập tài liệu "Nuôi quân, luyện quân và cầm quân" này do Nguyễn Sơn soạn là một trong những tài liệu quân sự đầu tiên do ta biên soạn.

  Trên cương vị công tác nào, ở đâu Nguyễn Sơn cũng để lại những ấn tượng, những kỷ niệm. Thời kỳ làm Tư lệnh Liên khu IV, Nguyễn Sơn đã tổ chức những Đại hội luyện quân, gọi là "Đại hội tập" rất quy mô. Những người dân tỉnh Thanh lúc đó chăm chú theo dõi hình ảnh Tướng Nguyễn Sơn cùng chạy đường dài với bộ đội, thỉnh thoảng dừng lại châm thuốc hút, rồi chạy nhanh đuổi theo đơn vị.

  Nguyễn Sơn để lại cho học trò cấp dưới, những người từng công tác với mình những ấn tượng đậm đà, sâu sắc.

  Nguyễn Sơn có một tâm hồn dân tộc mạnh mẽ. Mười sáu, mười bảy tuổi đã xa đất nước - ngót 20 năm, nghĩa là suốt cả độ tuổi thanh niên trưởng thành sống ở nước ngoài. Đối với nhiều người cùng hoàn cảnh, thời gian đó có thể làm cho người ta xao lãng nhiều điều. Nhưng sau Cách mạng tháng Tám anh về nước, người ta gặp anh, anh vẫn suy nghĩ, ứng xử và nói năng rất Việt Nam. Những kiến thức mà anh tâm niệm truyền đạt cho lớp cán bộ trẻ trước hết là kinh nghiệm, truyền thống đánh giặc của ông cha ta, Nguyễn Sơn thuộc nhiều thơ văn Việt Nam, rất thuộc Kiều và có thể bình Kiều suốt buổi với một cử toạ là giới văn nghệ sĩ.

  Nguyễn Sơn có tấm lòng rất nhân ái, yêu thương đồng bào, yêu thương cán bộ, chiến sĩ, quan tâm giúp đỡ những cán bộ có khó khăn, độ lượng với những người có sai sót do thiếu kinh nghiệm, nhưng rất nghiêm khắc với những sai lầm do thiếu trách nhiệm. Anh yêu ghét rất rõ ràng. Nhiều người còn nhớ một buổi tối giữa thị xã Quảng Ngãi, Nguyễn Sơn đã lên võ đài bắt dừng một trận đấu "bốc" mà anh cho là hung bạo.

  Nguyễn Sơn là một trong các nhà quân sự của ta sớm quan tâm tới các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể thao cả trong và ngoài quân đội. Vào Quảng Ngãi, ra Thanh Hoá Nguyễn Sơn đều có những liên hệ rộng rãi với giới văn nghệ sĩ, tập hợp nhân tài, lập đoàn kịch, đội văn nghệ. Bửu Tiến nhà soạn kịch đã kể lại việc Nguyễn Sơn kéo Bửu Tiến vốn chưa quen biết vào Quảng Ngãi lập đoàn kịch đầu năm 1946. Nhà văn Chu Ngọc có viết về Nguyễn Sơn: "Người cán bộ quân sự ấy bảo vệ đất nước không chỉ đơn thuần về mặt súng đạn. Anh đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao tâm hồn người Việt Nam để yêu nước hăng say, yêu con người, yêu ngôn ngữ, yêu giọng nói, điệu múa, yêu thơ, yêu hoạ...". Đúng vậy, Nguyễn Sơn đã làm như vậy và làm từ rất sớm, từ những ngày đầu kháng chiến.

  Kỷ niệm 85 năm ngày sinh của anh, tôi chỉ muốn góp một tiếng nói nhỏ bé tưởng nhớ anh - anh Nguyễn Sơn một vị tướng có tài, một tâm hồn, một nhân cách.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM