Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Tám, 2019, 01:07:26 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân  (Đọc 53495 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #60 vào lúc: 22 Tháng Mười, 2008, 06:41:05 PM »

"Một nửa" Việt Nam của người đàn bà Trung Quốc

Việt Hoài


Bà Trần Kiếm Qua và những người con Trung Quốc - Việt Nam của Tướng Nguyễn Sơn tại Hà Nội, năm 1998.

  Cuốn hồi ký là lời mộc mạc của một cụ bà Trung Quốc 86 tuổi. Nhưng đó là một cụ bà có một số phận không tầm thường: đã qua cuộc Vạn lý trường chinh, đã bị bắt đấu tố và vẫn đứng vững trong Cách mạng văn hoá. Bởi vì chồng bà là Tướng Nguyễn Sơn - vị tướng huyền thoại của Việt Nam , "Lưỡng quốc Tướng quân" của quân đội hai nước Việt Nam - Trung Quốc

  Trần Kiếm Qua tròn 86 tuổi khi bà viết lại những hồi ức về người chồng của mình, một người chồng có số phận lạ lùng, đầy bão tố, đắng cay nhưng cũng thật bi hùng và lãng mạn. Là một nữ chiến sĩ cách mạng tiền bối, sau này trở thành nhà giáo dục (bà từng là Viện trưởng Viện Giáo dục mầm non và Phó Giám đốc Sở Giáo dục Bắc Kinh trước khi về hưu), văn phong của Trần Kiếm Qua rất chừng mực, kìm nén. Bà cũng rất tránh nhắc đến những chi tiết riêng tư của cuộc sống vợ chồng. Tất cả cố gắng của bà chỉ để làm người đọc phải biết, phải nhớ, phải hiểu rằng đã có một chàng trai Việt Nam tên là Vũ Nguyên Bác - Nguyễn Sơn sống trên đời này, đã tìm cách sang Pháp từ năm 15 tuổi để gặp Nguyễn Ái Quốc, đã đến Trung Quốc năm 16 tuổi và chiến đấu cho nền độc lập của nhân dân Trung Hoa với cái tên kiêu hùng Hồng Thuỷ suốt 27 năm trai trẻ của cuộc đời mình.

  Người anh hùng đã ba lần vượt "núi tuyết" và "thảo nguyên" trong Vạn lý trường chinh, đã ba lần bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc rồi lại được kết nạp, là một trong những vị tướng khai quốc của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, là người nước ngoài duy nhất được phong quân hàm cấp tướng, đã hiện lên trong hồi ức của vợ mình như là một người thầy trên đường cách mạng, một người tình hào hoa, một người chồng tận tuỵ, một người cha mẫu mực. Nhưng vẫn có một nỗi niềm rất riêng, rất đau, muốn hét lên mà phải tự nắm chặt tay, nghiến chặt răng để kìm nén; người vợ Trung Hoa rất yêu và một mực chung thuỷ với ông đã không tha thứ cho ông vì "không phụ lòng 600 triệu nhân dân Trung Quốc nhưng phụ lòng một người phụ nữ Trung Quốc".

  Là một người vợ và một người mẹ, Trần Kiếm Qua đã ghi lại 60 năm dâu bể trong cuộc tình duyên của mình - cũng là 60 năm dâu bể trong quan hệ Việt - Trung bằng những cuộc gặp gỡ giữa những thành viên trong gia đình bà: cuộc hạnh ngộ của bà với Nguyễn Sơn; cuộc gặp lại sau năm năm ông về Việt Nam chiến đấu; cuộc gặp lần đầu giữa những người con Việt Nam và những người con Trung Quốc của Nguyễn Sơn; chuyến về quê chồng lần đầu tiên năm 84 tuổi...

  Cảm động nhất là những dòng bà viết về bà Lê Hằng Huân - người vợ sau của chồng mình - người đàn bà đã lấy đi hạnh phúc của mẹ con bà được bà nhắc đến bằng một giọng đầy cảm phục, kính trọng và thương xót. Người đàn bà Việt Nam tài sắc vẹn toàn ấy cũng như bà, đã ở vậy thờ chồng nuôi con khôn lớn thành người. Suốt đời chịu nghèo khó, khổ cực, trả lại nhà cửa, tiền bạc cho Nhà nước để sống cuộc đời thanh bần và luôn luôn chỉ cho phép con ghi vào lý lịch: "Cha - Nguyễn Sơn, cán bộ quân đội - đã mất" vì không muốn con sống dựa vào vinh quang của người cha.

  "Tôi là người vợ Trung Quốc của Hồng Thuỷ. Trên hai bờ Hoàng Hà, chúng tôi đã cùng nhau chiến đấu. Trong khói lửa của chiến tranh kháng Nhật, chúng tôi đã kết thành bạn đời. Khói lửa chiến tranh liên miên đã vô tình chia chúng tôi thành hai ngả. Những biến cố đã chia lìa âm dương, để lại trong chúng tôi những tiếc thương, hối hận suốt đời. Hồng Thuỷ đã ra đi vừa bi tráng vừa vội vã. Trái tim tôi vẫn như lá rụng về cội, vẫn hướng về Việt Nam. Hoàng Hà hùng dũng đã ghi lại trong chúng tôi biết bao nhiêu tình. Hồng Hà mãi chảy xuôi đã mang đi của tôi biết bao nhiêu nỗi nhớ".

  Có người phụ nữ Việt Nam nào không tự hào khi một người đàn ông của dân tộc mình đã được một người đàn bà nước ngoài yêu đến thế? Và có người trẻ nào không tự hào khi biết cha anh mình đã sống đẹp như vậy?

Báo Tuổi trẻ, ngày 6-8-2002
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #61 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2008, 06:45:23 PM »

"Hoàng Hà nhớ,   Hồng Hà thương"  -
và thể hồi  ký trong đời sống văn học đương đại

Lý Hoài Thu



  Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương (Nguyên bản: Hoàng Hà luyến, Hồng Hà tình) là tác phẩm hồi ký của bà Trần Kiếm Qua viết về Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn và đại gia đình Trung - Việt của ông. Bằng sức cảm hoá của những dòng hồi ức chân thực, tác phẩm của phu nhân tướng quân đã thực sự gây xúc động mạnh mẽ trong lòng bạn đọc Việt Nam.

  Từ nhỏ, qua những câu chuyện của gia đình, quê hương, và đặc biệt là từ một bức ảnh mà cha tôi lưu giữ được - bức ảnh Tướng Nguyễn Sơn hình như là với chiếc tẩu thuốc lá trên môi - tôi đã có những hình dung riêng của mình về vị tướng "rất có phong cách này". Mặc dầu chưa cảm nhận hết thần sắc của bức chân dung nhưng tôi nhớ là mình đã rất thích nét cương nghị, thông minh, phong trần, tài tử khác thường của người trong bức ảnh. Đến hôm nay, cầm cuốn sách của bà Trần Kiếm Qua trên tay, tôi thấy không có gì khác nhau giữa những hình dung xưa của mình với những tấm hình của ông được in trong sách, mặc dầu không thấy có bức ảnh "Tướng công ngậm tẩu"...

  Tướng Nguyễn Sơn, như chúng ta vẫn biết, là một nhà chỉ huy quân sự có tài, một vị tướng huyền thoại. Cuộc đời ngắn ngủi 48 xuân xanh của ông có đủ quang vinh và thăng trầm, ngọt bùi và cay đắng... Con người ông với những nét ngoại hình nổi bật, với cá tính độc đáo và một đời sống tâm hồn, tình cảm phong phú hẳn là nguyên mẫu lý tưởng cho các nhà tiểu thuyết, song hồi ký lại có sức mạnh riêng của nó. Xuất phát từ những diễn biến có thật của đời sống, sức cảm hoá mạnh mẽ của thể hồi ký chính là bản thân đối tượng được miêu tả, là sự sáng tỏ của ký ức, là khả năng lựa chọn các sự kiện, chi tiết điển hình xoay quanh cuộc đời nhân vật chính. Qua những dòng hồi tưởng mạch lạc của bà Trần Kiếm Qua, chân dung cuộc đời Tướng Nguyễn Sơn hiện lên với đầy đủ mọi chi tiết để làm nên một số phận lẫm liệt và bi tráng. Mười lăm tuổi đã sang Pháp để tìm chân lý và đã được gặp lãnh tụ Hồ Chí Minh. Mười sáu tuổi đã tham gia hoạt động cách mạng. Ông là một hình ảnh đẹp và cao cả tượng trưng cho tinh thần Cộng sản quốc tế, tình hữu nghị Việt - Trung. Với nhân dân Việt Nam, ông là một vị tướng tài ba có công lao rất lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp và ngay từ 1948 đã được phong quân hàm thiếu tướng. Với đất nước Trung Hoa, ông có 27 năm chinh chiến trên 48 tuổi đời, ba lần "vượt núi tuyết" và "thảo nguyên" trong Vạn lý trường chinh, ba lần bị khai trừ Đảng nhưng không chùn bước, vẫn đạp bằng sóng gió để vượt qua và tiến lên. Ông là một vị tướng nước ngoài có công khai quốc nên nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và cũng được mang hàm thiếu tướng. Danh hiệu "Lưỡng quốc Tướng quân" của ông chính từ đó mà nên.

  Rõ ràng là bấy nhiêu chi tiết đã làm nên danh tiếng lẫy lừng của một nhà chỉ huy quân sự, một nhân vật lịch sử. Nhưng sức hấp dẫn của Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương không chỉ dừng lại ở đó. Với tư cách là một nhân vật văn học, bên cạnh những chiến công, Tướng Nguyễn Sơn qua lăng kính văn chương chính là con người của nhiều nếm trải số phận. Con người ông văn võ song toàn, khí phách hiên ngang nhưng chứa nhiều uẩn khúc và đa cảm... Giữa lớp lớp các sự kiện, biến cố lịch sử của hai dân tộc Việt Nam - Trung Hoa trong những ngày cách mạng bão táp tiêu điểm ký ức, hình ảnh Nguyễn Sơn - Hồng Thuỷ (tên Trung Quốc của ông) hiện lên đôi khi chỉ với vài lời đối thoại cũng đã tạo được ấn tượng khó phai về một con người có khẩu khí sắc sảo, ngang tàng nhưng cũng nhiều tâm tình, nhiều nỗi niềm trắc ẩn. Những năm cuối đời, ông phải nếm chịu nỗi đau thân phận quá lớn. Ngoài sự đau đớn của thân thể do căn bệnh hiểm nghèo gây nên, ông còn luôn bị dày vò bởi những khổ đau tinh thần hết sức nặng nề. Tự đáy lòng mình, bà Trần Kiếm Qua đã viết: "Hồng Thuỷ (tức Nguyễn Sơn) cương quyết, thông minh, tính tình thẳng thắn. Nhưng thông minh, thẳng thắn thì cuộc đời lại gian truân... Trong đời người ngắn ngủi, anh đã nếm đủ khổ đau, nhưng anh vẫn trung kiên bất khuất, không nản lòng tin. Đằng sau cái bề mặt tinh thần kiên nhẫn không xao xuyến, tính cách vui vẻ, lạc quan, phải thừa nhận anh đã chịu áp lực nội tâm rất nặng. Nếu không, anh chẳng thể rời cõi nhân gian trong lúc còn trẻ như thế này" (tr.397). Tuy nhiên, sau tất cả những cảm xúc đau thương mất mát ấy, hình ảnh tướng quân Nguyễn Sơn bao năm chinh chiến trở về Tổ quốc đã như "chiếc lá vàng rơi về cội". "Xuống xe, đến bên lề đường, cúi xuống bốc một nắm đất bùn lẫn cỏ xanh. Ông nắm chặt bàn tay đặt ngang ngực. Ông nhắm mắt lại hít một hơi dài" và "sung sướng ngắm nhìn đất đai cố hương xanh tươi bốn mùa"... là hình ảnh đẹp, nổi bật nhất về một con người có trái tim lớn - Một người Cộng sản chân chính.

  Nội dung thứ hai tạo mối quan tâm đặc biệt cho độc giả chính là mối tình xuyên quốc gia của Tướng Nguyễn Sơn với một người phụ nữ Trung Hoa, như ta đã biết, là tác giả, nhân vật tôi, người kể chuyện trong tác phẩm này.

  Tướng quân Nguyễn Sơn và bà Trần Kiếm Qua tuy khác quốc tịch nhưng cùng chí hướng, cùng lý tưởng. Trải qua những chặng đường binh lửa với bao gian nan khốc liệt, hai tâm hồn, hai trái tim đồng điệu đã đến với nhau. Trong chiến tranh, đôi uyên ương đã phải sống những tháng ngày "không có tổ ấm", mãi khi tới Diên An, họ mới thực sự được sống hạnh phúc bên nhau. Nhưng ngày vui cũng thật ngắn ngủi. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, theo yêu cầu của Tổ quốc, Tướng Nguyễn Sơn đã trở về Việt Nam để tham gia lãnh đạo kháng chiến. Họ chia tay nhau với niềm tin và lời hẹn ước một ngày tái ngộ. Một nguồn tin thất thiệt đã dẫn tới cuộc chia ly âm thầm, đau khổ, ám ảnh đến trọn đời cho cả hai con người vốn rất vững vàng trong muôn thử thách. Mối tình của họ bắt nguồn từ một tình yêu sâu sắc. Cuộc hôn nhân tan vỡ để lại trong lòng mỗi người một vết thương lớn. Một vị tướng dũng mãnh xông pha vào sinh ra tử như Nguyễn Sơn, đến cuối đời phải tự "kết tội" mình trong dằn vặt, đớn đau: "Suốt cả đời tôi chưa hề phụ lòng sáu trăm triệu nhân dân Trung Quốc, nhưng lại phụ lòng một phụ nữ Trung Hoa" (tr.397). Bà Trần Kiếm Qua lại càng đau xót hơn khi phải đối mặt với một tình thế nghiệt ngã, phũ phàng: "... đến ngày vợ chồng gặp lại thì tôi và Hồng Thuỷ lại phải cạn chén. Không phải mật ngọt mà là rượu đắng" (tr.339). Điều an ủi lớn nhất là bà Kiếm Qua đã sinh hạ được hai người con trai: Tiểu Phong và Tiểu Việt. Những đoạn miêu tả bức tranh đời sống gia đình, cảnh ba cha con đầm ấm quấn quýt bên nhau trong những giờ phút hiếm hoi gợi rất nhiều xúc động. Sau này, hai người con của Tướng Nguyễn Sơn đã hướng về Việt Nam với tất cả những gì thiêng liêng nhất của tình phụ tử. Càng xúc động hơn khi trên con đường tìm về quê cha đất tổ còn có người phụ nữ Trung Hoa, lần đầu tiên bước chân vào cửa nhà chồng lúc đã 84 tuổi.

  Là một vị tướng tài nghệ, tuấn tú, nhưng đời sống riêng tư của ông Nguyễn Sơn lại nhiều lần đổ vỡ. Trong cuộc đời không dài của mình, ông đã có đến bốn cuộc hôn nhân. Ngoài mối lương duyên trắc trở với người vợ Trung Quốc - người vợ thứ hai - ông còn ba cuộc hôn nhân khác. Người vợ đầu tiên ở quê do cha mẹ cưới hỏi khi ông 15 tuổi vì bặt tin ông trong thời kỳ hoạt động bí mật nên đã tái giá sau một thời gian dài chờ đợi. Người vợ thứ ba là một người phụ nữ cùng tham gia hoạt động cách mạng tại chiến trường Nam Trung bộ thời kháng Pháp nhưng do không chịu đựng nổi cuộc sống gian nan, nguy hiểm đã rời bỏ ông mà đi. Người vợ thứ tư là bà Lê Hằng Huân, một phụ nữ trẻ đẹp đến với cuộc đời ông khi ông vào độ tuổi 40 do tổ chức giới thiệu. Tuy không phải là nhân vật chính nhưng bà Lê Hằng Huân chiếm được rất nhiều cảm tình của độc giả bởi dung nhan và đức hạnh của bà. Chính nhờ tấm lòng ấm áp nhân hậu đó, những người con của Tướng Nguyễn Sơn luôn dành tình thương yêu và khát khao mong đợi được gặp gỡ những người anh ruột thịt của mình ở bên kia biên giới. Cuối cùng tám người con - những hoa trái từ bốn cuộc hôn nhân của Tướng Nguyễn Sơn đã có được ngày vui đoàn tụ. Đó là lối kết thúc có hậu, làm vợi bớt nỗi bùi ngùi thương cảm của độc giả với tư cách là người đồng hành chứng kiến toàn bộ câu chuyện cảm động về cuộc đời một nhân vật nổi tiếng của lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX. Yếu tố cuối cùng góp phần không nhỏ vào sự thành công của cuốn sách chính là nghệ thuật kể chuyện - Một lối kể càng về cuối càng "nồng". Cũng có thể là cuộc đời nhiều ẩn số của Tướng Nguyễn Sơn dần dần được giải đáp và nỗi đau "sinh ly tử biệt" đã đẩy những xung đột nội tâm lên đến cao trào nhưng rõ ràng gần đến hồi kết thúc, những suy nghĩ, cảm xúc, những nỗi niềm sâu kín bên trong đã được bà Trần Kiếm Qua bộc bạch hết sức chân tình.

  Có thể gọi Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương là một trong những tác phẩm hồi ký tiêu biểu nằm trong xu hướng "cuối thế kỷ nhìn lại". Trong văn học đương đại Việt Nam, đây cũng là một hiện tượng đáng chú ý. Vào những năm cuối cùng của thế kỷ XX (tập trung chủ yếu vào thập kỷ 1990), trên văn đàn xuất hiện một loạt những tác phẩm hồi ký, bút ký tạo nên một mảng sinh động của đời sống văn học mà có thể nói ngay rằng trước đó là chưa thể có. Khác với những năm đầu của thời kỳ đổi mới, thể phóng sự với tính nhạy bén, xông xáo, linh hoạt đã tạo được những bước đột phá đầu tiên vào những điểm nóng, những vùng nhạy cảm nhất của hiện thực đời sống và hoàn toàn thắng thế thì những năm cuối cùng khép lại thế kỷ XX, sự ra đời của tác phẩm hồi ký nhằm đáp ứng lại nhu cầu nhìn nhận và suy ngẫm về quá khứ. Những vấn đề của văn chương một thuở, những số phận văn học đã thành dĩ vãng giờ được tái dựng theo một tinh thần mới, giả thiết mới đã gây không ít cuộc tranh cãi mà nhờ đó, đời sống văn học trở nên có khí sắc hơn. Một thực tế không thể phủ nhận là độc giả ngày nay quan tâm đến sự chân xác, trung thực, khách quan của các chi tiết, sự kiện lịch sử. Đây lại chính là ưu thế lớn của hồi ký nói riêng và các tác phẩm ký nói chung. Ngay trong tiểu thuyết, một thể loại không bắt buộc người viết phải trung thành với nguyên mẫu, bạn đọc ngày nay vẫn tỏ ra hứng thú khi biết được ít nhiều tính chất tự truyện của tác phẩm và khám phá rằng nhà văn đã tự khai thác mình như một nhân vật chính. Một thực tế hùng hồn nữa là hiện nay, các tác phẩm hồi ký của các nguyên thủ quốc gia, các tướng lĩnh quân sự, các nhà văn lớn... trong đó có những tác phẩm với những khoản nhuận bút khổng lồ đang là loại sách BEST-SELLER (sách bán chạy nhất). Điều an tâm lớn là những người tìm đọc các tác phẩm đó đều là những độc giả "thứ thiệt", độc giả thuộc tầng VIP của văn chương và văn hoá.

Hà Nội 22-11-2001
Báo Văn nghệ số 49 ngày 8-12-2001
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #62 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2008, 06:50:59 PM »

Cuộc trường chinh hai vạn năm ngàn dặm

Minh Quang



  Cuộc trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc được biết là: Gian khổ vĩ đại, nhưng cụ thể như thế nào thì  nhiều người trong chúng ta chưa rõ lắm.

  Sau khi tham khảo một số tài liệu, tôi xin giới thiệu tóm tắt cuộc trường chinh vĩ đại này, mà Tướng Nguyễn Sơn là người Việt Nam duy nhất đã tham gia từ đầu đến cuối.

  Sau khi bị thất bại trong bốn lần "vây quét", tháng 9-1933 Tưởng Giới Thạch điều động một triệu quân, hai trăm máy bay, mở cuộc tiến công vào khu Xô viết, bắt đầu cuộc vây quét quân sự lần thứ 5. Đồng thời Tưởng thay đổi phương thức tác chiến "đánh nhanh tiến nhanh" trước đây thành phương thức mới "nhích dần từng bước" thực hiện ý đồ thu hẹp khu Xô viết, tiêu diệt sinh lực, quyết chiến với chủ lực Hồng quân để cuối cùng tiêu diệt Hồng quân ngay trong khu Xô viết.

  Về phía cộng sản, sau bốn lần chống vây quét thắng lợi, nhờ sự cổ vũ to lớn của cải ruộng đất và phát triển kinh tế, Hồng quân đã nhanh chóng phát triển tới hơn 30 vạn người. Nhưng Bác Cổ và những người cùng phe chiếm cương vị lãnh đạo Trung ương lúc đó đi theo đường lối "tả khuynh" của Vương Minh, gạt Mao Trạch Đông và một số người lãnh đạo ra ngoài Trung ương, làm cho quân dân khu căn cứ cách mạng đấu tranh gian khổ suốt một năm trời, rốt cuộc không bẻ gãy được cuộc "vây quét" lần thứ 5 của Quốc dân Đảng. Vào tháng 10 năm 1934 họ buộc phải di chuyển.

  Lý do nào Vương Minh lại chống và gạt bỏ Mao Trạch Đông?1

  Nhiều mặt về chính sách, chủ trương phương châm lớn, Mao Trạch Đông đều không tán thành chủ nghĩa mạo hiểm "tả" khuynh, đặc biệt về đường lối quân sự và chính sách ruộng đất.

  Hồng quân Trung ương và Khu Xô viết Trung ương đều do Mao Trạch Đông xây dựng lên. Mao có uy tín rất cao trong Đảng, chính phủ, quân đội ở Khu Xô viết.

  Do vậy Vương Minh, Bác Cổ cố gắng vô hiệu hóa Mao, âm mưu tước quyền của Mao.

  Cuối tháng 9 năm 1933, chính lúc Tưởng Giới Thạch đang "vây quét" lần thứ 5 thì có một người đến với Khu Xô viết, đó là Lý Đức (Li Teh), người Đức, tên thực là Otto Braun. Ông được Quốc tế Cộng sản phái tới làm cố vấn quân sự cho Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Otto Braun được Đảng Cộng sản Đức cử sang Liên Xô học quân sự tại Học viện quân sự Phrunde ở Mátxcơva từ năm 1928 đến 1932, sau khi tốt nghiệp Braun được điều sang Trung Quốc.

  Tháng 9 năm 1933, Braun được cử làm Cố vấn Hội đồng quân sự Trung ương với tên Lý Đức. Từ đó, nhóm Vương Minh dựa vào Otto Braun về mặt quân sự để tiến hành lãnh đạo.

  Thật ngược đời, Otto Braun là người nước ngoài, được theo học mấy năm trường Quân sự Liên Xô, không hiểu biết về tình hình Trung Quốc, càng không hiểu biết về tình hình khu Xô viết Trung ương, nhưng đã nắm giữ quyền chỉ huy, nắm vận mệnh của Hồng quân công nông Trung Quốc lúc bấy giờ.

  Ông ta một mực phản đối chiến tranh du kích, yêu cầu phải chính quy hóa bộ đội, đánh theo lối chính quy, rập khuôn theo sách vở đã học được ở trường. Tưởng Giới Thạch điều 50 vạn quân mở đầu cuộc vây quét lần thứ 5, đầu tiên chiếm Lê Xuyên, từ đó đánh thọc xuống phía Nam. Otto Braun chủ trương mạo hiểm xuất kích toàn tuyến đánh vào các trận địa kiên cố của địch, đồng thời phản công để chiếm lại Lê Xuyên rồi đánh tiếp Tư  Khê Kiều, kết quả thất bại thảm hại, dẫn đến Hồng quân hoàn toàn rơi vào thế bị động cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Lúc này Mao Trạch Đông đề xuất ý kiến để cứu vãn tình thế nhưng bị gạt bỏ. Mùa xuân năm 1934, địch lại chiếm thêm Quảng Xương, Hưng Quốc, Ninh Đô, Thạch Thành. Khu Xô viết bị thu hẹp dần, lực lượng Hồng quân bị yếu mòn nghiêm trọng. Trong khi đó các ý kiến xây dựng đều không được Trung ương tiếp thu. Trước tình hình đó đồng chí Lưu Bá Thừa đã nói: "Hy vọng phá tan cuộc vây quét lần 5 cuối cùng đã bị tiêu tan", chỉ còn lại một con đường "Trường chinh".

  Và cuộc trường chinh dài 2 vạn 5 nghìn dặm bắt đầu.

  Thoạt đầu nó không được gọi là trường chinh mà chỉ gọi là di chuyển. Lộ trình cũng không được tính là phải đi xa như thế, mà chỉ dự kiến trước hết chuyển đến phía Hồ Nam để gặp Quân đoàn 2 và 6, sau sẽ hay.

  Khi bắt đầu trường chinh, lãnh đạo Trung ương gồm: Bác Cổ (Tần Bang Hiến) một trong những người lãnh đạo chính của Trung ương Đảng, Lý Duy Hán - Trưởng ban tổ chức, Trương Văn Thiên (Lạc Phủ) - Trưởng ban tuyên truyền, Chu Đức - Chủ tịch Hội đồng Quân sự - Tổng tư lệnh Hồng quân, Tổng chính ủy Chu Ân Lai, Tổng tham mưu trưởng Lưu Bá Thừa, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Vương Gia Tường, Cố vấn quân sự Lý Đức (Otto Braun).

  Mao Trạch Đông đang bị vô hiệu hóa.

  Thực tế thì Bác Cổ theo đường lối Vương Minh và bị Vương Minh khống chế. Nhưng Vương Minh lúc này ở Mátxcơva không tham gia trường chinh. Chỉ huy quân sự lại nằm trong tay Lý Đức.

  Lý Duy Hán, Trưởng ban tổ chức Trung ương lúc đó, nhớ lại rằng: "Sau khi Hồng quân bị thất bại trong cuộc chiến đấu bảo vệ Quảng Xương, địch bắt đầu mở cuộc tiến công toàn diện vào trung tâm Khu Xô viết, lúc đó khoảng tháng 7, tháng 8 năm 1934. Bác Cổ gọi tôi tới chỉ vào bản đồ nói: "Bây giờ Hồng quân phải di chuyển đến Hồng Giang, Tương Tây (Hồ Nam) xây dựng căn cứ địa mới, đồng chí đến các tỉnh ủy làm công tác chuẩn bị tốt , nói họ đề xuất danh sách những cán bộ phải đi theo và cán bộ ở lại để bảo vệ Ban tổ chức Trung ương". Nghe Bác Cổ nói, tôi biết là Hồng quân phải di chuyển.

  Mọi công tác chuẩn bị để di chuyển được tiến hành bí mật. Trước khi đi, Bộ chính trị cũng không hề nêu vấn đề chiến lược trọng đại, có quan hệ đến sự thành bại của cách mạng đó ra để thảo luận. Tại sao Hồng quân phải rút lui khỏi Khu Xô viết? Nhiệm vụ trước mắt là gì? Phải đi đến nơi nào? v.v... Từ đầu tới cuối đều không được giải thích".

  Lý Duy Hán sau khi về Thuỵ Kim, theo chỉ thị của Trung ương, bắt tay ngay vào việc sắp xếp, chuẩn bị cho việc trường chinh. Cơ quan Trung ương biên chế thành 2 tung đội (mỗi tung đội khoảng hơn 1 quân đoàn).

  Tung đội 1, gọi là "Tung đội sao đỏ" là cơ quan đầu não và cũng là Bộ Tổng chỉ huy, trong đó có Bác Cổ, Lạc Phủ, Chu Ân Lai, Mao Trạch Đông, Chu Đức, Vương Gia Tường, Lý Đức, v.v...

  Tung đội 2 gọi là "Tung đội Hồng Chương" gồm cơ quan Trung ương, Chính phủ, Hậu cần, các đoàn thể, v.v... khoảng hơn 1 vạn người. Những đồ đạc, tài liệu, máy móc thì khá nhiều và cồng kềnh. Tung đội này do Lý Duy Hán chỉ huy kiêm chính ủy.

  Thường vụ Bộ chính trị quyết định để lại một cơ quan lãnh đạo, kiên trì đấu tranh, gọi là "Phân cục Trung ương" gồm Hạng Anh, Trần Nghị, Cù Thu Bạch, v.v... do Hạng Anh phụ trách.

  Trước khi hành quân, vấn đề đi ở của cán bộ được quy định. Cán bộ của tỉnh do tỉnh ủy quyết định rồi báo cáo Trung ương, cán bộ thuộc cơ quan chính phủ, bộ đội, các đoàn thể v.v... do người phụ trách Đảng Đoàn, lãnh đạo chính quyền lập danh sách rồi báo cáo Trung ương, cán bộ bộ đội do Tổng bộ chính trị quyết định.

  Ngày 10-10-1934, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bộ Tư lệnh Hồng quân từ "Thủ đô đỏ" Thụy Kim xuất phát lên đường.

  Năm quân đoàn 1, 3, 5, 8, 9 của Hồng quân Trung ương với hơn 8 vạn người đã từ Trường Đình, Ninh Bắc tỉnh Phúc Kiến và Thụy Kim, Vũ Đô của phía nam Giang Tây phân ngả cất bước hành quân.

  Cuộc di chuyển chiến lược "Trường chinh" được ghi trong sử sách Trung Quốc đã bắt đầu như thế.

  Thời kỳ đầu trường chinh, do sai lầm của đường lối "tả" khuynh, phát triển thành chủ nghĩa chạy trốn trong hành động quân sự. Hồng quân tiếp tục bị tổn thất nặng nề. Vừa rời Thụy Kim, còn chưa ra khỏi địa giới Giang Tây đã vấp phải tuyến phong tỏa thứ nhất. Ngày 21 tháng 10 Quân đoàn 1 gặp địch, nổ ra trận chiến đầu tiên, qua 2 ngày, địch phải rút lui, Hồng quân tiêu diệt khoảng 1 trung đoàn địch, bắt sống 300 tên.

  Tuyến phong tỏa thứ hai, địch thiết lập ở Quế Đông (Quảng Tây) theo sườn của tỉnh  Hồ Nam, giáp ranh Giang Tây, Hồ Nam, hòng chém đứt Hồng quân bằng một nhát dao. Ngày 2 tháng 11 Hồng quân vận dụng chiến thuật bao vây, kỳ tập, diệt gọn quân địch. Toàn bộ người, ngựa đi vòng, đột phát thuận lợi tuyến phòng thủ thứ hai của địch, tiếp tục Tây tiến.

  Tuyến phong tỏa thứ 3 của địch thiết lập ở Huyện Sâm, Nghi Chương (nam Hồ Nam) bố trí có vẻ kiên cố, điều bộ đội từ Giang Tây, Phúc Kiến tới. Nhưng dưới sự chỉ huy của Nhiếp Vĩnh Trăn, Hồng quân điều động binh lực, nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa, vượt qua tuyến phong tỏa thứ 3 của địch, mặc dù trước đó, địch tuyên bố đây là tuyến phong tỏa "gang thép"!

  Nhưng Hồng quân lại vấp phải tuyến phong tỏa thứ 4 của địch.

  Không hiểu sao Ban lãnh đạo "tả" khuynh lại ra lệnh cho bộ đội đánh bừa, chỉ mong phá được vòng vây để sớm gặp quân đoàn 2 và 6. Cuộc chiến đấu quyết liệt trên bờ sông Tương Giang, nam Huyện Toàn (Quảng Tây) đã phải trả một giá quá nặng nề, mất già nửa quân số từ 6 vạn 6 nghìn người lúc bắt đầu trường chinh, nay chỉ còn hơn 2 vạn người. Xuất phát từ 10 tháng 10, đến 01 tháng 12, thời gian hơn một tháng rưỡi, Hồng quân đã bị đuổi, bị vây, bị chặn không biết bao nhiêu lần, không những làm tổn thất quân số, mà còn tăng thêm sự hoài nghi bất mãn một cách rõ rệt trong quân đội.

  Trước tình hình hiểm nghèo đó, Bác Cổ và những người cùng cánh vẫn kiên trì chủ trương tiến lên phía bắc để gặp gỡ hai Quân đoàn 2 và 6. Nhưng Mao Trạch Đông đã phân tích và đề nghị không nên gặp hai quân đoàn đó nữa, đổi hướng tiến về Quý Châu là nơi lực lượng địch mỏng yếu để giành chủ động.

  Chủ trương này ngay lập tức được Chu Ân Lai, Lạc Phủ, Vương Gia Tường ủng hộ. Do đó Hồng quân tiến về hướng Quý Châu, chiếm được Lê Bình, Quý Châu.
------------------------------------------
1. Đoạn này ngoài số tài liệu có sẵn và lời kể của chính Nguyễn Sơn ở Quảng Ngãi, tôi còn được tham khảo tài liệu của Đại tá Hoàng Minh Phương, Đoàn Sự, bài dịch của Nguyễn Tất Thứ đăng trong tạp chí "Tổ quốc" số ra ngày 01-10-1957 và nhất là quyển "Cha tôi - Đặng Tiểu Bình" của tác giả Mao Mao, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 1996, từ trang 442 đến 485. Xin chân thành cảm ơn các đồng chí kể trên (T.G).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #63 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2008, 06:54:52 PM »

  Ngày 15 tháng 12, Bộ chính trị họp Hội nghị ở Lê Bình do Chu Ân Lai chủ trì để thảo luận hướng tiến của Hồng quân, vì Bác Cổ và Lý Đức vẫn chủ trương phải đi gặp hai quân đoàn nhưng Mao Trạch Đông đề nghị đổi hướng tiến về Quý Châu, nơi lực lượng quân địch mỏng hơn, quyết định lập vùng căn cứ ở sát Xuyên Khâm, lấy Tuân Nghĩa làm trung tâm.

  Sau Hội nghị Lê Bình, bộ đội tiến hành chấn chỉnh biên chế, tinh giảm, gọn nhẹ.

  Từ 15 đến 17-1-1935, Đảng Cộng sản Trung Quốc họp Hội nghị Bộ chính trị mở rộng ở Tuân Nghĩa.

  Tại Hội nghị, Bác Cổ đọc báo cáo chính, Chu Ân Lai báo cáo bổ sung về vấn đề quân sự trong cuộc vây quét lần thứ 5. Tiếp đó, Mao Trạch Đông phê bình gay gắt những sai lầm của phương châm "phòng ngự tiêu cực", của chủ nghĩa mạo hiểm tả khuynh. Bài phát biểu của Mao Trạch Đông được mọi người ủng hộ.

  Hội nghị Tuân Nghĩa là một Hội nghị vô cùng quan trọng, đã đạt được hai kết quả:

  1. Ra Nghị quyết tổng kết cuộc chống "Vây quét lần thứ 5" của địch, chỉ rõ đường lối quân sự của Bác Cổ, Lý Đức đã gây nên thất lợi to lớn cho Hồng quân, chấm dứt một cách triệt để sự chỉ huy sai lầm "tả" khuynh của Vương Minh, Bác Cổ, Lý Đức trong đường lối quân sự.

  2. Cải tổ cơ cấu lãnh đạo Trung ương, bầu Mao Trạch Đông làm ủy viên Thường trực Bộ chính trị, giao quyền chỉ huy quân sự cho Chu Đức và Chu Ân Lai.

  Điều quan trọng nhất là sau Hội nghị Tuân Nghĩa đã hình thành được hạt nhân lãnh đạo trong Đảng Cộng sản Trung Quốc là Mao Trạch Đông.

  Mọi người thừa nhận "Mao Trạch Đông đã cứu Hồng quân" và Hội nghị Tuân Nghĩa được coi là "bước ngoặt sống còn của Đảng Cộng sản Trung Quốc".

  Hội nghị đã làm cho Đảng Cộng sản Trung Quốc thoát khỏi chủ nghĩa mạo hiểm tả khuynh, chủ nghĩa giáo điều tả khuynh và chủ nghĩa bè phái tả khuynh từng gây nguy hại suốt 4 năm, ngoài ra còn thoát khỏi địa vị bị động do sự can dự của nước ngoài.

  Cũng tại Hội nghị này, Bộ Chính trị quyết định tiếp tục tiến lên phía Bắc, thành lập căn cứ địa mới ở Thiểm Tây, Cam Túc. Vì khu vực Thiểm, Cam rộng lớn, sản vật phong phú, lại là khu vực mỏng, yếu của địch, ở đó dễ tồn tại và phát triển, đồng thời cũng là căn cứ địa chống Nhật tốt. Sau Hội nghị, Tưởng Giới Thạch đã điều mấy chục vạn quân, lấy từ 5 tỉnh Tứ Xuyên, Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Quảng Tây, từ bốn phía áp sát Tuân Nghĩa hòng tiêu diệt Hội nghị. Nhưng dưới sự chỉ huy của Mao Trạch Đông, bộ đội đột phá vòng vây, tiếp tục tiến lên phía bắc, qua Vân Nam vòng theo biên giới hai tỉnh Tứ Xuyên và Tây Khang để đến Mậu Công. Tại đây, họ hội sư với phương diện quân thứ 4 từ Hồ Bắc, Hà Nam, An Huy sang.

  Khi đến Mao Nhĩ Cái, Trung ương họp hội nghị mở rộng đánh đổ chủ trương sai lầm của Trương Quốc Đào định đưa Hồng quân xuống Tây Khang hoặc sang Tân Cương.

  Kết quả đường lối đúng đắn của Mao Trạch Đông đã thắng lợi. Hội nghị Mao Nhĩ Cái quyết định tiếp tục đưa Hồng quân tiến lên phía bắc chống Nhật. Hồng quân vượt qua sông Ô Giang hiểm trở, dùng mưu chiếm đầu cầu trên sông Kim Sa, tiếp tục qua vùng dân tộc Di rồi vượt sông Đại Độ.

  Sông Đại Độ là nơi danh tướng Thái Bình Thiên Quốc Thạch Đại Khai (cuối đời nhà Thanh) đã phải đầu hàng vì không qua nổi sông này.
72 năm sau, Hồng quân đã vượt được sông Đại Độ. Thoạt đầu dùng 17 chiến sĩ vượt sông bằng chiếc thuyền nhỏ, sau đó 22 chiến sĩ nhanh chóng chiếm đầu cầu Lô Định rồi hơn 3 vạn Hồng quân như các thiên thần đã đi qua chiếc cầu làm bằng xích sắt để vượt sông, phá tan mộng tưởng của địch muốn biến Hồng quân thành Thạch Đại Khai thứ hai ở nơi này.

  Qua sông Đại Độ chưa được bao lâu, Hồng quân vấp phải núi Tuyết cao sừng sững quanh năm phủ đầy băng tuyết. Nó có tên là Giáp Kim Sơn, mỗi bước đi là một bước khó vì ngựa không có lối đi. Trên núi, không khí loãng, không được ngồi nghỉ, vì chỉ cần ngồi xuống là không thể đứng dậy được nữa. Chiến sĩ Hồng quân ăn không đủ no, áo chỉ vừa đủ che thân, thể lực và sức chống rét tương đối kém nên một số chiến sĩ đã ngồi xuống đấy mà không đứng dậy được nữa. Họ đã yên giấc nghìn thu trong lớp tuyết trắng ngàn năm của Giáp Kim Sơn...

  Ngày nay để kỷ niệm sự hy sinh to lớn của Hồng quân, người ta đã dựng lên ở đây một tấm bia lớn mạ vàng. Bia đầu đội trời chân đạp tuyết, khi có mặt trời chiếu vào, bia như một tấm gương phản quang chiếu xa hàng mấy chục dặm và trở thành một kỳ quan.

  Qua núi Tuyết thì tới Mậu Công,  phía cực tây của tỉnh Tứ Xuyên. Tháng 6 năm 1935 lần lượt phương diện quân 1 và 4 đều tới. Tại đây, sau Hội sư hai đơn vị lớn, Trung ương mở liền hai cuộc Hội nghị xác định lại chủ trương Hồng quân tiếp tục tiến lên phía bắc để lập căn cứ kháng Nhật.

  Chủ trương này lúc đầu Trương Quốc Đào phản đối, nhưng nhiều đồng chí phân tích và tán thành đường lối của Mao Trạch Đông, Trương đành miễn cưỡng đồng ý.

  Sau Hội nghị, ngày 3 tháng 8, Bộ Tổng tư lệnh Hồng quân quyết định hỗn hợp phương diện quân 1 và 4, biên chế thành Tả lộ quân và Hữu lộ quân. Tả lộ quân do Chu Đức, Trương Quốc Đào, Lưu Bá Thừa chỉ huy. Còn Hữu lộ quân do Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai chỉ huy. Họ chia đường Bắc tiến, bắt đầu vào vùng thảo nguyên mênh mông không một bóng người.

  Các vị lão thành cách mạng từng tham gia Vạn lý trường chinh đánh giá: vượt thảo nguyên còn gian nan gay go hơn qua núi Tuyết.

  Đại thảo nguyên trên mặt là cả một đồng cỏ mênh mông, ở dưới là cả một vùng nước đen ngòm. ở đây không làng mạc, không có người, hầu như không có một thứ gì ăn được, khí hậu thay đổi thất thường, khi thì mưa bay mù mịt, trong chốc lát, trời lại trong xanh xa thẳm, khôn lường. Hồng quân không có gì để ăn, ngựa chết thì ăn thịt ngựa. Bộ đội đi sau, không có thịt ngựa thì gặm xương, khi không còn xương để gặm thì ăn rễ cỏ, vỏ cây thậm chí ăn cả thắt lưng da, đế giày. Khi trú quân thì đào hố, trên đầu dựng lều để tránh mưa gió.
Qua thảo nguyên phải đi vừa tròn 7 ngày 7 đêm, gian khổ, nhưng họ đã chiến thắng chặng đường gian nan nhất trong trường chinh là qua thảo nguyên. Chính tại đây Hồng quân đã hy sinh nhiều nhất, biết bao người đã chết vì đói, vì bệnh, vì ăn phải cỏ độc, vì bị sa xuống sình lầy...

  Vượt qua thảo nguyên, Hồng quân lại gặp phải tình hình nội bộ rất phức tạp, Trương Quốc Đào công khai chia rẽ Đảng và Hồng quân. Trương ỷ trong tay có hơn 8 vạn quân, binh lực rất lớn, nên liên tục trì hoãn, cự tuyệt sự chỉ đạo của Trung ương. Y gửi điện mật cho Trần Xuân Hạo, chính ủy Hữu lộ quân, bảo phải kéo Hữu lộ quân quay về phía nam. May thay bức điện đó lại vào tay Diệp Kiếm Anh, lúc này là Tham mưu trưởng. Ông đã báo cáo ngay với Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Bác Cổ. Trước tình hình nguy ngập đó, các đồng chí đã có quyết định nhanh chóng đưa các quân đoàn 1-3 của Hữu lộ quân và Tung đội quân ủy ra khỏi đội hình, nên mới thoát được hiểm nghèo, tiếp tục tiến hành di chuyển. Ngày 19-10 đội hình hành quân đã tới thị trấn Ngô Khởi của khu căn cứ Thiểm Cam.

  Từ tháng 10 năm 1934 đến tháng 10 năm 1935, trong thời gian một năm, Hồng quân Trung ương đã xuất phát từ Khu Xô viết Giang Tây đi qua Hồ Nam - Quý Châu, Vân Nam - Tứ Xuyên, Cam Túc... tất cả 11 tỉnh, cuối cùng đã đến miền bắc Thiểm Tây của vùng Tây Bắc - Trung Quốc. Cuộc trường chinh đã trải qua gian khổ ngoài sức tưởng tượng của con người. Sau lưng quân địch truy kích, trước mặt bị chặn đường, trên không thì máy bay địch bắn phá. Tưởng Giới Thạch mong tiêu diệt Hồng quân trên đường trường chinh, nhưng Hồng quân đã đánh tan 410 trung đoàn địch, vô số thổ phỉ và lực lượng vũ trang của địa chủ, chiếm 54 thành thị, mở rộng khu giải phóng để chống Nhật.

  Hồng Thủy nhớ lại, lúc Hồng quân xuất phát từ các hướng có tới hơn 30 vạn quân nhưng do thương vong, đói rét, bệnh tật, nên khi tới Diên An Thiểm Bắc, chỉ còn hơn 3 vạn.

  Trước tháng 10 năm 1934, Hồng Thủy là giảng viên chính trị ở nhà trường. Để chuẩn bị cho cuộc trường chinh, nhà trường chia thành 4 trường nhỏ. Sau đó lại sáp nhập với đội cán bộ cao cấp thành một đơn vị chiến đấu gọi là Trung đoàn cán bộ đỏ, có huy hiệu đỏ, do Trần Canh chỉ huy, gồm các tiểu đoàn và các đội trực thuộc. Một số đồng chí già, đặc biệt là một số trí thức có tiếng tăm được Trung ương chỉ thị phải săn sóc đặc biệt như các đồng chí Đổng Tất Vũ, Từ Đới Lập đã đi trong đội hình Trung đoàn này.

  Hồng Thủy được Chu Đức và Lưu Bá Thừa quan tâm, nên cũng được xếp vào đội trực thuộc và giữ chức Chi ủy viên Chi bộ Đảng, phụ trách công tác tuyên huấn, cổ động viên trên đường trường chinh, đồng thời làm giáo viên của cán bộ cao cấp. Người nước ngoài tham gia Vạn lý trường chinh, ngoài Hồng Thủy người Việt Nam, còn có Otto Braun người Đức, do Quốc tế Cộng sản phái tới, Tôn Lý Đệ và Vũ Đình (Triều Tiên), bác sĩ Bation (Canada), bác sĩ Kilica (ấn Độ), Muller (Đức). Họ là những người đồng tình và ủng hộ cách mạng Trung Quốc.
 
  Khi Trung ương quyết định chia thành hai cánh tả hữu thì Hồng Thủy công tác ở cánh quân tả, cùng với Chu Đức, Trương Quốc Đào, Lưu Bá Thừa...

Theo "Nguyễn Sơn - Vị tướng huyền thoại
Nxb Trẻ, 2000, tr. 29-42.

Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #64 vào lúc: 23 Tháng Mười, 2008, 06:57:22 PM »

Gặp gỡ đạo diễn phim
"Lưỡng quốc tướng quân"

Hoài Minh



  Sau khi được phép của Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam , một thoả thuận hợp tác làm bộ phim truyền hình 4 tập "Lưỡng quốc Tướng quân", nói về cuộc đời của Tướng Nguyễn Sơn, đã được ký kết giữa Đài Truyền hình Hà Nội - Việt Nam và Đài Truyền hình Vân Nam - Trung Quốc. Với thời gian thực hiện từ 3 đến 5 tháng (bắt đầu từ tháng 11 - 2001) phim sẽ được làm thành 2 bộ - bộ tiếng Việt và bộ tiếng Trung Quốc.


  Tháng 2-2002, đoàn quay phim "Lưỡng quốc Tướng quân" đã tới thành phố Hồ Chí Minh quay những phân cảnh cuối. Trong dịp này, phái viên Tuần san Sài Gòn Giải phóng Thứ Bảy đã có cuộc gặp gỡ đạo diễn Chử Gia Hoa. Được biết, từ những năm 1990, ông đã tham gia làm phim về các vị tướng lừng danh Trung Quốc như Diệp Kiếm Anh, Lưu Bá Thừa, Trần Nghị, Trần Canh...

  - Cơ duyên nào dẫn tới việc ông làm đạo diễn phim "Lưỡng quốc Tướng quân"?

  - Đạo diễn Chử Gia Hoa: Những năm trước tôi có cơ hội tiếp cận với các vị tướng lĩnh và các anh hùng Trung Quốc nên được nghe nói tới Tướng quân Hồng Thuỷ, tức Nguyễn Sơn. Những gì tôi được biết đã thật sự lôi cuốn và nung nấu tôi ý tưởng làm phim về vị tướng huyền thoại này.

  Qua năm 2001 khi rời quân ngũ về Đài Truyền hình Vân Nam (đạo diễn Chử Gia Hoa nguyên là phóng viên ban Tin quân sự của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc - chú thích của người viết) tôi có thời gian tìm hiểu kỹ lưỡng hơn về Tướng Nguyễn Sơn. Đồng thời, lãnh đạo của tôi cũng ủng hộ và cho rằng đây là thời điểm tốt nhất để làm một phim nâng cao tình hữu nghị giữa nhân dân 2 nước Trung - Việt.

  - Nguyên nhân nào đã hấp dẫn ông trong khi tìm hiểu về Tướng Nguyễn Sơn?

  - Đạo diễn Chử Gia Hoa: Trong mắt của quân đội và nhân dân Trung Quốc, vị tướng nước ngoài duy nhất tham gia xây dựng và chiến đấu có cống hiến rất lớn ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, Tướng Nguyễn Sơn là con người rất đáng khâm phục. Tài năng văn võ của ông trong quá trình hoạt động cách mạng để lại ấn tượng rất sâu đậm. Chuyện kể về ông có nhiều tình tiết ly kỳ như một huyền thoại... giúp tôi hình dung được nhiều công việc khi thực hiện phim này.

  - Đoàn làm phim đã làm được những gì trong một tháng qua ở Việt Nam?

  - Đạo diễn Chử Gia Hoa: Ngay khi đến Việt Nam cùng Đài Truyền hình Hà Nội thành lập một đoàn làm phim, chúng tôi đã được hợp tác với những người rất giỏi trong chuyên môn, làm việc rất nhiệt tình, chịu khó, cẩn thận. Chúng tôi học hỏi được rất nhiều và rất hài lòng. Mới đầu là sự hợp tác tích cực với Đài Truyền hình Hà Nội, sau đó đi đến các địa phương đều nhận được sự nhiệt tình giúp đỡ. Từ việc tìm địa điểm, con người để phỏng vấn... nếu không có sự giúp đỡ tận tình thì sẽ không thể nào hoàn thành trong thời gian ngắn như vậy.

  Ở thành phố Vinh, Bảo tàng Quân khu IV, các cựu học sinh Trường Thiếu sinh quân... các vị lãnh đạo cao cấp và các vị tướng lãnh như đồng chí Lê Khả Phiêu, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Quang, Hoàng Minh Thảo... đến đâu chúng tôi cũng nhận được sự ủng hộ rất chân tình.

  - Qua những cuộc phỏng vấn và quay phim đó, ông biết thêm những điều gì về Tướng Nguyễn Sơn?

  - Đạo diễn Chử Gia Hoa: Tôi thấy trong lòng cán bộ, quân đội, nhân dân, thanh niên Việt Nam, Tướng Nguyễn Sơn còn sống mãi. Ký ức không mờ phai của những người sống, chiến đấu, công tác cùng Tướng Nguyễn Sơn, những con đường mang tên Nguyễn Sơn ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh khẳng định tình cảm của nhân dân Việt Nam đối với những con người có công lao với đất nước.

  Tôi còn cảm nhận điều đó qua rất nhiều lời phát biểu bộc lộ tình cảm hữu nghị giữa nhân dân và quân đội 2 nước. Việc tham tán Việt Nam ở Trung Quốc và Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam quan tâm thiết thực và rất hoan nghênh đoàn làm phim chúng tôi, cũng như sự đón tiếp và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam, Uỷ ban Nhân dân, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội cùng các địa phương, thể hiện tình hữu hảo giữa hai nước bước vào thế kỷ XXI là nguyện vọng của cả 2 bên.

  Cuốn phim "Lưỡng quốc Tướng quân" đã trở thành một biểu hiện sự kết tinh tình hữu nghị giữa 2 dân tộc, 2 quốc gia và vì điều đó chúng tôi nhất định sẽ làm tốt bộ phim này để đáp ứng sự ủng hộ và kỳ vọng của mọi người.

  - Xin trân trọng cảm ơn và chúc ông thành công trong sự việc thực hiện phim "Lưỡng quốc Tướng quân"

Sài Gòn Giải phóng
Thứ Bảy 2-3-2002
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #65 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2008, 06:07:01 PM »

Đạo diễn Chử Gia Hoa
với bộ phim về tướng Nguyễn Sơn

Hà Giang



  Vào những ngày đầu năm Nhâm Ngọ tại Bến cảng Nhà Rồng, Dinh Thống Nhất, Bảo tàng Chứng tích chiến tranh... những du khách trong nước và nước ngoài đến tham quan bắt gặp một đoàn làm phim gồm khoảng một chục người Trung Quốc và Việt Nam đang say sưa ghi lại những hình ảnh tại đây. Cuốn kịch bản trên tay người đạo diễn thấp thoáng dòng chữ "Lưỡng quốc Tướng quân".


  "Lưỡng quốc Tướng quân" chính là Tướng Nguyễn Sơn - một vị tướng tài ba không chỉ vang danh trên đất nước Việt Nam mà còn là niềm tự hào của nhân dân Trung Quốc. Mối quan hệ mật thiết của hai nước lại càng thêm khăng khít, gắn bó khi cả hai quốc gia cùng có chung một vị tướng tài. Chính lý do này đã dẫn đến sự kết hợp của hai đài truyền hình Vân Nam và Hà Nội để cùng bắt tay thực hiện bộ phim "Lưỡng quốc Tướng quân".

  Đạo diễn Chử Gia Hoa (Chu Jia Hua) là một đạo diễn cấp cao của Trung Quốc, ông hiện là trợ lý giám đốc Đài Truyền hình Vân Nam. Sở trường của ông là thực hiện những phim tài liệu về các nguyên thủ. Ông đã phỏng vấn và làm phim về 20 nguyên thủ của các quốc gia trên thế giới. Năm nay, 47 tuổi, đạo diễn Chử Gia Hoa đã nhận được nhiều giải thưởng cao trong nước và quốc tế, đặc biệt là 2 giải Cannes của Pháp dành cho thể loại phim tài liệu. Lần này, được giao thực hiện bộ phim về Tướng Nguyễn Sơn, cũng chính là tâm nguyện của đạo diễn Chử Gia Hoa.

  Từng biết về Tướng Nguyễn Sơn qua những lần làm phim về các tướng lĩnh, anh hùng của Trung Quốc, đạo diễn Chử Gia Hoa từ lâu đã nung nấu ý định sẽ làm một bộ phim tài liệu về con người này. "Nguyễn Sơn là con đẻ của dân tộc Việt Nam. Ông đã có những cống hiến lớn lao trong sự nghiệp cách mạng cả ở Việt Nam và Trung Quốc. Ông là người nước ngoài duy nhất được phong tướng ở Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc coi ông như người ruột thịt. Con người ông đã trở thành một huyền thoại" - đạo diễn Chử Gia Hoa tâm sự.

  Kịch bản "Lưỡng quốc Tướng quân" phỏng từ tiểu thuyết Hoàng Hà nhớ, Hồng Hà thương của bà Trần Kiếm Qua - phu nhân Tướng Nguyễn Sơn tại Trung Quốc. Câu chuyện về người chồng tài ba cũng như những tình cảm của ông đối với quê hương, đất nước được bà Trần Kiếm Qua ghi lại một cách đầy đủ và sâu sắc trong tác phẩm của mình. Bộ phim dự kiến dài 4 tập; tập 1 giới thiệu gia đình Tướng Nguyễn Sơn và hoạt động cách mạng ban đầu của ông; tập 2 những hoạt động cách mạng của Tướng Nguyễn Sơn tại Trung Quốc và một số câu chuyện về ông; tập 3 kể về thời kỳ đấu tranh cách mạng của Tướng Nguyễn Sơn tại Việt Nam; tập 4 những kỷ niệm và niềm nhớ thương của quân dân hai nước Việt - Trung đối với ông. Đoàn làm phim đã lên đường từ ngày 6-1-2002 những cảnh đầu tiên được thực hiện tại cửa khẩu Lạng Sơn, sau đó là hành trình xuyên Việt với những nơi dừng chân bấm máy cũng chính là những nơi đã từng in dấu chân của Tướng Nguyễn Sơn: Hà Nội, Hải Phòng, quốc lộ 1 từ Huế đến đèo Hải Vân, thành phố Hồ Chí Minh. Trong cuốn sổ nhật ký của đoàn làm phim ghi kín lịch làm việc, phỏng vấn những nhân chứng tiêu biểu đã từng sống, làm việc, chiến đấu cùng Tướng Nguyễn Sơn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể những kỷ niệm khi Tướng Nguyễn Sơn về nước đến thăm Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng - Ông Vũ Kỳ - thư ký của Bác Hồ thì kể lại những tình cảm của Bác Hồ đối với Tướng Nguyễn Sơn và câu chuyện về Thiếp thư 12 chữ do Bác gửi để phong hàm tướng cho Nguyễn Sơn vào năm 1948... Còn rất nhiều vị tướng lĩnh cao cấp khác nói về những cống hiến của Tướng Nguyễn Sơn đối với cách mạng Việt Nam. Đạo diễn Chử Gia Hoa bộc lộ sự tự tin về bộ phim "Chúng tôi gặp nhiều điều kiện thuận lợi để làm phim. Sự ủng hộ, giúp đỡ của Lãnh sự quán Việt Nam tại Trung Quốc và Lãnh sự quán Trung Quốc tại Việt Nam. Mỗi nơi chúng tôi đến đều nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhân dân. Thiên nhiên Việt Nam cũng cho chúng tôi những cảnh quay rất nên thơ".

  Đài Truyền hình Việt Nam bỏ ra 1 triệu nhân dân tệ, điều động máy quay tốt nhất, hiện đại nhất cùng với quay phim và xử lý ánh sáng có nhiều kinh nghiệm để thực hiện bộ phim. Đây là lần đầu tiên Việt Nam và Trung Quốc cùng hợp tác làm phim. Bộ phim về một vị tướng của cả hai dân tộc tô thắm tình hữu nghị truyền thống của hai nước Việt - Trung.

Sài Gòn Giải phóng 10-3-2002
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #66 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2008, 06:07:49 PM »

Bảo tàng quân đội Trung Quốc
tiếp nhận tượng đồng Tướng Nguyễn Sơn



  Sáng 21-10, tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc), Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã tổ chức trọng thể lễ tiếp nhận bức tượng đồng "Lưỡng quốc Tướng quân" cho Bảo tàng Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa. Tới dự có đại diện Sứ quán Việt Nam tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và thân nhân gia đình Tướng Nguyễn Sơn ở Việt Nam và Trung Quốc. Hoạt động này được tiến hành nhân kỷ niệm 45 năm ngày mất của Tướng Nguyễn Sơn. Bức tượng được thực hiện trong khuôn khổ cuộc vận động "Mỗi người một giọt đồng đúc tượng danh nhân" do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tiến hành.

Lê Quang Vinh (từ Bắc Kinh)
22-10-2001
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #67 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2008, 06:09:19 PM »

Quan hệ hữu nghị Trung - Việt



  Sáng ngày 22-10, tại Toà nhà Bát Nhất, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, ủy viên Quốc vụ viện Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Trì Hạo Điền đã tiếp gia quyến của cố Tướng quân Hồng Thuỷ, người Việt Nam sang thăm Trung Quốc.

  Tướng Hồng Thuỷ (tên thật là Vũ Nguyên Bác), sinh năm 1908 tại Việt Nam, năm 1925 theo Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Trung Quốc, từng học ở Trường Quân sự Hoàng Phố. Năm 1927 gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Là người nước ngoài duy nhất tham gia lực lượng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc trong suốt quá trình từ khi mới thành lập cho đến khi giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh chống Nhật. Đã cùng Hồng quân đi hết cuộc trường chinh 25 nghìn dặm. Năm 1955, đồng chí Hồng Thuỷ được phong quân hàm Thiếu tướng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc.

  Thượng tướng Trì Hạo Điền nói: Tướng quân Hồng Thuỷ là người con ưu tú của nhân dân Việt Nam, người bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc luôn tưởng nhớ Tướng quân Hồng Thuỷ.

  Thượng tướng Trì Hạo Điền nói: Những năm gần đây, sự hợp tác và giao lưu trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự... giữa hai nước Trung - Việt không ngừng được tăng cường. Tháng 2 năm nay, ông sang thăm Việt Nam, vô cùng vui mừng trước những thành tựu huy hoàng mà nhân dân Việt Nam đã giành được. Ông tin tưởng rằng, trong thế kỷ mới, quan hệ hai nước Trung - Việt sẽ không ngừng giành được tiến triển mới.

  Thượng tướng Trì Hạo Điền đã giới thiệu với các vị khách Việt Nam tình hình trong nước và xây dựng quân đội của Trung Quốc.

  Người vợ Trung Quốc của Tướng quân Hồng Thuỷ Trần Kiếm Qua thay mặt gia quyến Tướng Hồng Thuỷ cảm ơn sự đón tiếp của Thượng tướng Trì Hạo Điền, bà nói: Tướng Hồng Thuỷ tới Trung Quốc năm 17 tuổi, ở Trung Quốc 27 năm, cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng hai nước Trung - Việt. Bà chân thành mong muốn tình hữu nghị giữa hai nước Trung - Việt đời đời trường tồn.

  Con gái của Tướng Hồng Thuỷ Nguyễn Thanh Hà ở Việt Nam cảm ơn đã có dịp này để cả nhà đoàn tụ ở Bắc Kinh và bày tỏ nguyện sẽ kế tục di nguyện của Tướng quân Hồng Thuỷ, trước sau như một góp sức mình cho sự phát triển quan hệ hai nước Việt - Trung.

  Chiều hôm qua, gia quyến của Tướng quân Hồng Thuỷ đã tặng bức tượng đồng của Tướng quân Hồng Thuỷ cho Viện Bảo tàng Quân sự Trung Quốc.

Bản tin Trung Quốc 10-2001
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #68 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2008, 06:14:05 PM »

Những kỷ niệm về gia đình tôi

Nguyễn Thanh Hà
Con gái Tướng Nguyễn Sơn




  Khi tôi bắt đầu nhớ được những kỷ niệm trong cuộc đời, đó là những ngày tháng bố mẹ, em trai Nguyễn Cương, em gái Việt Hồng và tôi sống ở một căn hộ tầng 2 tại thành phố Nam Kinh, Trung Quốc. Trông nom chúng tôi là cô Hợi người Việt Nam. Đó là vào năm 1953, khi tôi tròn 4 tuổi.

  Bố mẹ tôi luôn dạy chị em tôi nói tiếng Việt và trong gia đình chỉ dùng tiếng Việt để nói chuyện. ấn tượng rất sâu sắc của thời thơ ấu, hạnh phúc ngắn ngủi của chị em chúng tôi đó là thời gian chúng tôi có tình yêu thương của cả bố lẫn mẹ. Lúc đó gia đình sống tại Nam Kinh, sau đó, năm 1954 về Bắc Kinh, Trung Quốc. Xung quanh toàn người Trung Quốc, nhưng mọi điều hay lẽ phải, tình yêu thương, sự mắng, giận những tri thức mới mẻ của cuộc sống cho lũ trẻ 3, 4 tuổi đều được vỡ ra bằng tiếng Việt Nam. Bố tôi thường rất tức giận khi tôi và Cương nói với nhau bằng tiếng Trung Quốc trong nhà.

  Bất cứ cuộc tiếp xúc nào với người Việt Nam như anh Hoàng, anh Giao (con trai bà Hằng Phương - chị ruột mẹ tôi), các anh chị lưu học sinh Việt Nam hoặc đến sứ quán gặp bác Nguyễn Chánh và các chú, bác người Việt Nam, bố mẹ tôi đều đưa tôi và em Cương đi.

  Vào năm 1954, khi ở Khu Tân Bắc Kinh, bố tôi có mượn được một đĩa hát có ghi bài thơ "Đêm nay Bác không ngủ". Ông vặn đi vặn lại suốt mấy ngày liền, vừa chép vừa bắt chúng tôi học để nhớ. Mà nào chúng tôi có hiểu nỗi nhớ quê hương xứ sở luôn day dứt trong lòng con người ấy. Lũ trẻ 5, 6 tuổi chúng tôi còn quá bé để có thể hiểu được lòng của bố mẹ.

  Thế rồi tai hoạ của định mệnh ác nghiệt đã giáng lên đầu mẹ tôi lúc đó mới 30 tuổi cùng với đàn con lít nhít. Đứa lớn nhất là chị Mai Lâm mới 8 tuổi, tôi 7 tuổi, Cương 6 tuổi, em Hồng 3 tuổi, còn em Hằng lúc đó mới hơn 1 tuổi. Bố tôi bị ung thư phổi. Sau khi mổ tại Bắc Kinh vài tháng thì về Việt Nam. Lũ trẻ chúng tôi còn chưa hết ngạc nhiên khi được trở về quê hương Việt Nam, được về Hà Nội thì bố tôi mất ngày 21-10-1956.

  Sau những ngày tang lễ ồn ào là những chuỗi ngày dài lạnh lẽo mẹ goá con côi. Từ lúc này, mặc dù còn rất bé, mới 7 tuổi, đi học vỡ lòng, nhưng tôi gần như là một người bạn của mẹ tôi, một chỗ dựa nhỏ nhoi cho bà. Mọi tâm sự ở cơ quan, những khó khăn, niềm mong mỏi của cuộc sống bà đều nói với tôi (trừ chuyện những người đàn ông đến trao đổi với bà). Mỗi lần linh cảm đến điều này, tôi lại chui vào gầm bàn thờ của bố tôi nằm khóc. Khi chỉ còn hai mẹ con bà lại ôm chặt lấy tôi. Mẹ khóc, con khóc...

  Mẹ tôi là con một gia đình Nho giáo nghèo quê Quảng Nam, sống ở Hà Nội. Bà ngoại tôi mất từ khi mẹ tôi mới 10 tuổi. Hồi bé bà cùng với mấy bà bạn của bà là bà Trực, bà Hồng Miên (hiện sống tại Sài Gòn), bà Thái (tức Tuyết Mai) học rất giỏi lại ngồi cùng bàn. Mấy chị em nhà bà đẹp nổi tiếng ở Hà Nội những năm trước Cách mạng tháng Tám là các bà Hằng Phương, Hằng Phấn, Hằng Huân và Hằng Trang. Bà đẹp và thông minh nhưng phải gánh một nỗi đau quá lớn và quá sớm. Nhưng điều quan trọng nhất của đời bà là làm sao nuôi đàn con học hành đến nơi đến chốn, trở thành những con người có lòng tự trọng cao, biết tự lập, không dựa dẫm, biết coi trọng giá trị tinh thần, biết yêu thương... Bà dạy chúng tôi phải biết sống xứng đáng với "Bố Sơn", không được làm điều gì ảnh hưởng xấu đến "Bố Sơn", nhưng trong lý lịch lúc nào cũng chỉ ghi họ tên bố: Nguyễn Sơn - cán bộ quân đội, đã mất tháng 10-1956.

  Tôi còn nhớ rất rõ cuộc sống lúc còn nhỏ của chúng tôi rất khó khăn. Mẹ tôi thường tính rõ với tôi là lương của bà được 70 đồng/tháng. Năm chị em chúng tôi được phụ cấp là 12 đồng/tháng. Thế là với số tiền 130 đồng/tháng cả ăn, học, mặc, tiền thuê nhà, tiền điện nước... của một gia đình một mẹ và 5 đứa con nhỏ đều bó tròn trong đó. Cho tới tận những năm 1966- 1967 chị em chúng tôi mỗi đứa chỉ có 2 bộ quần áo, mặc bộ này giặt bộ kia, không may gặp mưa là phải mặc quần áo bẩn.

  Có lần nhà hết gạo, tiền cũng còn rất ít, mẹ tôi kiên quyết không cho đi vay. Thế là mấy chị em chúng tôi "sáng kiến" làm ngô bung, bánh đúc ngô... ăn trong 3 ngày chán quá, tôi xin mẹ cho tôi đi mua khoai về ăn, thế là lại khoai luộc, khoai hấp, khoai đồ... qua 3 ngày nữa, cả 5 chị em sắp hết chịu đựng nổi thì ngày thứ bẩy được đong gạo phiếu. Thế là tôi và chị Lâm, Cương hẹn nhau dậy rõ sớm từ tờ mờ sáng để xếp hàng mua gạo, mà gạo hồi đó đâu có như bây giờ, gạo hẩm nhiều. Thế mà nấu nồi cơm ăn với rau muống luộc, tép khô rim nước mắm mấy mẹ con ríu rít vui vẻ. Ăn ngon còn hơn cả được ăn cỗ Tết.

  Trong suốt cả cuộc đời, mẹ tôi rất coi nhẹ vật chất. Mẹ tôi thường kể lại "Khi bố mẹ về nước, Đảng và Chính phủ Trung Quốc có cho bố tôi một số tiền rất lớn, nhưng bố tôi nói: - Tôi đi làm cách mạng chứ không phải đi làm thuê, nên nếu tôi còn sống thì tôi sẽ nộp toàn bộ số tiền này cho Nhà nước, còn nếu tôi chết đi thì để vợ tôi gửi số tiền này vào tiết kiệm. Hàng tháng trích lãi để nuôi lũ con còn quá nhỏ của tôi".

  Nhưng khi bố mất, mẹ tôi cũng không nhận số tiền đó và cũng nộp toàn bộ cho Nhà nước.

  Những khi mấy chị em đói quá, thèm ăn quá, chúng tôi lại ngồi ước, giá ngày ấy mẹ giữ lại một ít thì bây giờ đỡ khổ. Mẹ tôi cười hiền hậu và nói: "Phải biết sống bằng lao động của chính mình con ạ. Các con cứ học giỏi vào, sau này công tác tốt thì cái gì cũng sẽ có cả, mà thế bố Sơn mới vui và yêu các con hơn. Thế mới là con bố Sơn chứ".

  Cho mãi tới lớn, khi cả 5 chị em tôi đều đã học xong đại học, ba trong năm người là sĩ quan quân đội, còn chị Lâm đi B từ năm 1967, rồi sau 1975 mới đi học Đại học Âm nhạc, chỉ có em Hồng học Đại học ở Tiệp Khắc, học rất giỏi, nhưng chuẩn bị tốt nghiệp thì không may bị bệnh tâm thần phân liệt. Lúc này mẹ tôi đã về nghỉ hưu (năm 1978), em lại ốm nặng, đập phá luôn. Chị em tôi đề nghị bà cho phép bọn tôi viết đơn xin lại một phần số tiền để mẹ tôi nuôi em và thuốc thang cho em. Bà mắng cho một trận và nghiêm cấm việc làm đó.

  Lúc này tôi mới được bà nói rõ cho biết: số tiền là 3 vạn nhân dân tệ. Đổi ra tiền Việt Nam năm 1956 được 30 triệu đồng. Bố tôi đã nhận 2 triệu để mua quà biếu họ hàng, bạn bè, đồng đội lúc mới về nước, số tiền còn lại là 28 triệu đồng Việt Nam. Khi các chú trong Bộ Quốc phòng ra đưa cho mẹ tôi giấy biên nhận, thì mẹ tôi không nhận và huỷ đi trước mặt các chú để biểu thị tấm lòng thực sự của mình.

  Chị cả tôi, Vũ Thanh Các nói rằng một triệu đồng lúc đó (1956) có thể mua được một căn nhà đẹp tại trung tâm Hà Nội.

  Vào những năm 1966-1967, Nhà nước có chế độ cung cấp theo sổ, mẹ tôi cũng được sổ cung cấp theo tiêu chuẩn của bố tôi. Những năm này mấy chị em chúng tôi đều đã đi bộ đội hoặc đi học ở xa. Bà đã dùng các tiêu chuẩn này mua giúp cho các gia đình bạn bè có khó khăn, chứ tuyệt nhiên không một lần mua ra bán giá cao hưởng chênh lệch như nhiều người vẫn thường làm trong thời gian đó. Không dùng đến thì bà bỏ không mua.

  Hồi nhỏ mẹ tôi có một hình thức động viên chúng tôi rất thú vị. Năm nào vào dịp 19-5 bọn tôi cũng háo hức viết thư chúc thọ Bác Hồ, đứa nào được nhận giấy khen và bằng khen thì được dùng giấy khen và bằng khen viết thư chúc thọ Bác. Còn không thì viết vào giấy. Vì vậy năm nào đứa nào không được giấy khen là rất buồn. Chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác cho biết, số giấy khen và thư ấy vẫn được giữ đầy đủ.

  Tôi còn nhớ những ngày chị em tôi được kết nạp vào Đội thiếu niên tiền phong hoặc Đoàn thanh niên cộng sản. Mẹ tôi rất vui, ngày đó gia đình tôi như mở hội. Sau khi dự lễ kết nạp về mẹ tôi thắp hương khấn cho bố tôi biết sự trưởng thành của từng đứa con. Năm chị em đều hết sức cảm động và đều muốn cố gắng. Ngày tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, mẹ tôi khóc và đã dùng giấy khen Ba Đảm Đang của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ tặng bà để bà viết thư chúc mừng tôi. Lúc đó tôi đang học năm cuối của Trường Đại học kỹ thuật quân sự.

  Năm nào Bác Hồ cũng gọi vào để 6 mẹ con được ăn cơm với Bác. Mỗi lần được gặp Bác, mẹ tôi lại báo cáo với Bác sự tiến bộ của từng đứa. Bác thưởng kẹo, khen ngợi, nhắc nhở, dặn dò rồi cho ăn cơm. Bác hiền từ ngồi nhai chậm rãi nhìn bọn trẻ chúng tôi hăm hở ăn những món ăn ngon và lạ. Đứa nào ăn xong còn một hạt cơm trong bát là Bác bắt vét sạch sẽ.

  Lần cuối cùng tôi được gặp Bác là vào mùa đông năm 1967, lúc đó tôi đã đi bộ đội. Chị Lâm đi B. Cương và Hồng, Hằng sang Quế Lâm học ở Trường Nguyễn Văn Trỗi. Tôi được về tranh thủ thăm mẹ. Đúng lúc có người báo chuẩn bị được gặp Bác. Hai mẹ con mừng quá. Tình hình lúc đó rất căng thẳng. Máy bay Mỹ đánh phá Hà Nội dữ dội. Mọi gia đình đều đi sơ tán. May lại được gặp Bác. Mẹ tôi chưa kể với Bác về tình hình gia đình. Bác rất vui ôm hôn tôi rất lâu. Bác biết những ngày mẹ tôi sống rất buồn. Con cái đi hết, một mình bà sống ở Hà Nội cùng với các đồng chí ở Hội Liên hiệp Phụ nữ. Bác động viên rất nhiều. Mỗi lần gặp Bác Hồ mẹ tôi như lấy được thêm sức mạnh, lại kiên trì, bền bỉ sống, làm việc và nuôi dạy con cái. Không chút kêu ca, oán thán, mệt mỏi.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #69 vào lúc: 24 Tháng Mười, 2008, 06:22:31 PM »

Mẹ tôi rất yêu thơ, thích làm thơ. Tất cả những thời gian rỗi rãi, cô đơn, bà chỉ để đọc thơ, dịch thơ, làm thơ và đọc tiểu thuyết.

  Nhưng cuộc đời quá khắc nghiệt với bà: 30 tuổi chồng chết, một mình nuôi một đàn con nhỏ, cả con mình và con riêng của chồng, khôn lớn, trưởng thành. Tưởng đã thanh nhàn thì một con gái bị mắc bệnh tâm thần. Đến cuối đời chứng ung thư quái ác đã làm cho sức khoẻ của bà kiệt quệ. Những ngày cuối cùng nằm trên giường bệnh, bà vẫn tâm sự với tôi: "Ôi! chắc mẹ không kịp xem hết chuyện Angiêlích mất. Sao mà chuyện dài thế, mà nhà xuất bản ra chậm quá. Hai người họ yêu nhau thế, bao nhiêu khó khăn trắc trở họ vẫn yêu nhau...".
Khi bà mất đi, mỗi lần Nhà xuất bản Phụ Nữ ra tiếp các tập của Angiêlíc, vợ chồng và các con tôi đi lùng mua bằng được để lên bàn thờ thắp hương khấn bà về đọc truyện, cuốn truyện tình yêu mà đến lúc chết bà mới chỉ được đọc dở dang...

  Ngay từ nhỏ, mẹ tôi đã cho các con biết rất rõ về các chị em trong nhà: Chị Vũ Thanh Các là con bà vợ đầu tiên của bố tôi, lúc ông đang còn là học sinh Trường Sư phạm. Khi ông chuẩn bị bỏ nhà đi hoạt động, ông đã giả vờ cãi nhau với vợ vì bà hỗn với bố để lấy cớ bỏ đi. Sau nhiều năm, không có tin tức bà đành đi bước nữa.

  Anh Trần Hàn Phong và anh Trần Tiểu Việt là con bà Ngọc Anh ở Trung Quốc.

  Chị Mai Lâm là con bà Ba Nội. Từ bé chị đã không được ở với bố mẹ, bà Hồ Ngọc Lãm nuôi chị. Hôm vừa về nước, mẹ tôi đưa tôi đi đón ngay chị về. Lúc này mẹ chị đã vào Nam.

  Mẹ tôi thương và đối xử rất tốt với tất cả những người con của bố tôi, vì bà rất yêu ông. Tuy vậy, bà luôn răn đe chúng tôi trong cuộc sống phải giữ gìn, bà biết những ưu điểm của ông và dạy các con phải biết phát huy tất cả ưu điểm, tự hào và làm tăng thêm tên tuổi của ông. Nhưng bà cũng biết nhược điểm của ông và răn đe con cái không được phạm phải. Bà rất sợ mấy chị em tôi không chung thuỷ trong tình yêu và nhắc nhở chúng tôi phải khiêm tốn, không được kiêu ngạo... Chúng tôi rất hiểu ý nguyện của bà. Càng lớn chúng tôi càng hiểu. Tám chị em tôi dù ở xa nhưng khi gặp nhau vẫn hết sức thân thiết, lo lắng cho nhau, quan tâm và yêu thương nhau hết mực. Các cháu nhỏ con chúng tôi cũng vậy, như anh chị em sống với nhau từ nhỏ.

  Tháng 10-1993, tôi có dịp sang Bắc Kinh, tôi ở nhà mỗi ông anh vài tuần. Với số vốn tiếng Trung ít ỏi, tôi đã tâm sự với hai anh tôi, hai chị dâu, hai đứa cháu và bà Ngọc Anh. Có lẽ bà Ngọc Anh là người phụ nữ duy nhất trong bốn bà vợ của bố tôi, từ người bạn chiến đấu, người đồng chí cùng hoạt động nảy sinh tình yêu và đi đến hôn nhân trong quá trình hoạt động cách mạng rất bôn ba gian khổ của Người.
Bà là con gái một gia đình nông dân ở tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc. Bà bỏ nhà đi hoạt động cách mạng rất sớm từ lúc chưa tròn 20 tuổi. Khi bà quyết định cưới bố tôi, bố của bà phản đối vì bà đi lấy người nước ngoài. Nhưng bà rất yêu bố tôi, cảm phục tài năng, yêu mến tính thẳng thắn, đức hy sinh quả cảm của Người và bà cũng nhận được tình yêu mãnh liệt của ông.

  Các chú làm việc với bố tôi vào những năm đầu kháng chiến kể lại "Bố tôi về nước làm việc rất nhớ bà và các con ở Trung Quốc, rất nhớ không khí gia đình êm ấm hoà thuận mà sau mỗi lần đấu tranh căng thẳng ở cơ quan, đơn vị, về nhà, bà đã đem lại cho ông sự tĩnh tâm, lắng đọng. Ông lại cảm thấy thanh thản. Mấy năm đầu, đêm nào ông cũng tâm sự với các cán bộ quanh ông là ông rất nhớ vợ con và cần có vợ con ở gần".

  Khi gặp bà Ngọc Anh, nói chuyện với bà, tôi biết bà đã góp một phần rất lớn vào việc yêu thương ông, động viên ông trong cuộc đấu tranh cách mạng rất gian khổ của ông, giúp ông vượt qua được mọi gian khó mà ông gặp phải. Năm nay bà đã 80 tuổi, sáng nào cũng dậy sớm tập thể dục. Chiều luyện khí công, đọc sách, báo, xem thời sự đều đặn. Bà rất lạc quan yêu đời, tính tình vui vẻ, chu đáo, phóng khoáng...

  Những ngày ở bên bà, có lẽ lần đầu tiên sau mấy chục năm bà mới được giải đáp về nguyên nhân đã khiến bố tôi có lỗi với bà. Tôi đã lựa lời nói lại với bà.

  Bà chậm rãi kể cho tôi nghe khi bố tôi về nước, sau một thời gian thì bà sinh anh trai thứ hai của tôi. Để nhớ ông, bà đặt tên cho anh là Việt. Một mình bà với hai con nhỏ rất gian khổ trong những năm kháng Nhật. Nhưng bà vẫn dũng cảm nuôi con, tham gia kháng chiến, yêu ông và chờ ông. Khi ông về nước năm 1945, bà mới hơn 30 tuổi.

  Đến năm 1950, khi gặp ông, được ông cho biết ông đã cưới mẹ tôi và có hai con nhỏ. Bà rất đau khổ, bà đã khóc... Bà biết ông rất yêu con, vì vậy hình phạt mà bà phạt vì sự có lỗi của ông là không cho gặp và chăm sóc con. Vì vậy suốt 5 năm cuối đời ở Bắc Kinh bố tôi rất buồn vì chỉ gặp các anh tôi có một lần.

  Còn bà, bà nói với ông rằng: Dù sao bà cũng là cán bộ cách mạng, con cũng đã lớn, còn người vợ hiện thời của ông lại quá trẻ, con lại nhỏ, vì vậy bà lặng lẽ sống một mình nuôi con, công tác, không hề khuấy động cuộc sống của bố mẹ tôi, mặc dù cùng sống ở thành phố Bắc Kinh.

  Xung quanh ít người biết được nỗi khổ của bà. Chúng tôi cho rằng bà là người phụ nữ có nghị lực. Bà đã nuôi dạy hai anh tôi khoẻ mạnh, học xong đại học. Qua rất nhiều thăng trầm của lịch sử nhưng hai anh tôi vẫn đức độ, trung thực, thẳng thắn, và rất yêu bố, yêu quê hương Việt Nam và đều rất tự hào về bố Nguyễn Sơn.

  Cũng như mẹ tôi, bà dạy hai anh hiểu biết, phát huy những ưu điểm của bố, không được mắc phải những nhược điểm của ông. Hai anh không hút thuốc, không uống rượu, có cuộc sống riêng rất hạnh phúc, công tác ở cơ quan có uy tín.

  Bà đã khóc khi nghe tin ông mất tại Hà Nội. Và đến bây giờ khi nói chuyện với tôi về ông, tôi vẫn thấy mắt bà long lanh, tình yêu bố tôi vẫn không nguôi trong lòng bà.

  Các vị lãnh đạo Đảng, Chính phủ và Quân đội Việt Nam khi sang thăm Trung Quốc như Chủ tịch Lê Đức Anh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Đoàn Khuê... đều đến thăm bà, các anh chị và các cháu.

  Bà và hai anh tôi vẫn luôn nhớ tới bố tôi, tự hào về ông và hướng về quê hương Việt Nam.


Nguyễn Sơn và hai con trai Hàn Phong, Tiểu Việt.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM