Dựng nước - Giữ nước
Tin tức: Chung tay-góp sức cho quansuvn.net ngày càng phát triển
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Mười, 2019, 11:53:14 PM


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Nguyễn Sơn - Lưỡng quốc tướng quân  (Đọc 55050 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 13 Tháng Mười, 2008, 06:56:00 PM »

Một diễn giả có biệt tài

Lê Văn Hiến*



  Ngày 7-8-1948, tại ATK (An toàn khu) Trung ương ở Việt Bắc có cuộc họp cán bộ Trung ương. Địa điểm hội nghị được chuẩn bị chu đáo: có nhà họp, nhà ăn, nhà ngủ, phòng trưng bày báo chí, nhà lá để ngồi uống nước, nhất nhất đều làm bằng tre nứa. Ban đêm, đèn điện sáng choang.

  "Dự hội nghị có các uỷ viên Trung ương Đảng, có Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ... Hội nghị đã nghe báo cáo về chính trị, quân sự, công tác Đảng, công tác dân vận. Anh Phương (đồng chí Trường Chinh) đọc báo cáo đầu tiên.

  Đêm tại phòng hội nghị, Nguyễn Sơn nói chuyện về sự học tập của cán bộ. Sơn nói thật hay, tỏ ra một diễn giả có biệt tài".

Trích: Nhật ký của một Bộ trưởng,
NXB Đà Nẵng, 1995, tập I, tr. 398.

----------------------
* Ông Lê Văn Hiến, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài chính (B.T).
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2008, 07:00:37 PM »

Tướng Nguyễn Sơn trong ký ức nhà thơ Hữu Loan

Phạm Văn Sĩ*



  Thiếu tướng Nguyễn Sơn cho gọi Hữu Loan lên nơi làm việc của ông, trong một vườn cây của dân, ở thôn Quần Tín để bàn: Ngừng phát hành tập san Hoa Lúa, và tăng cường hết lực lượng cho báo, khi đổi tên báo Chiến sĩ, thành báo Vệ Quốc quân trong tình hình mới. Một việc khác khá lý thú là Hữu Loan được Tướng Nguyễn Sơn giao cho dịch một bài thơ từ tiếng Trung Quốc sang tiếng Việt...

  Nhà thơ Hữu Loan kể:

  - Đêm về, tôi sắp xếp công việc cụ thể cho các anh Vũ Cao, Hà Khang, Nguyễn Đình Tiến rồi dịch "Biệt tình thư", theo Tướng Nguyễn Sơn căn dặn: "Đây là chuyện của riêng mình, nhưng lại liên quan đến nhiều vấn đề. Là nhà thơ, cậu dịch ngay để ngày mai (27-10-1949) mình kết hợp nói Truyện Kiều cho thầy trò Trường Thiếu sinh quân cùng học viên Trường Văn hoá kháng chiến, tại đình làng Sim.
Cậu phải đi dự cuộc nói chuyện này, để có một bài trên số báo mới"...

  Nhà thơ Hữu Loan kể tiếp:

  - Thời đấy tôi được giao làm chủ bút tờ báo trên. Hễ có việc gì về tuyên truyền, văn học là anh Sơn cho gọi tôi lên bàn bạc rất thân mật...

  "Biệt tình thư" là bài thơ chép tay chữ Trung Quốc trên tờ giấy nhỏ màu xanh, hơi thô, có góc đã nhoè ố, trên cùng là hàng chữ rất nhỏ "yêu quý gửi anh Hồng Thuỷ - một người con của đất nước Việt Nam".

  Tôi rất hứng thú với công việc này nhưng chữ Trung Quốc mới, có rất nhiều từ khác với vốn Hán Nôm mà tôi đã học. Tôi chỉ dịch thoáng, cốt đạt cái thần và giữ được nhịp điệu của nguyên tác với tấm lòng trân trọng nâng niu.

  Tôi cũng đã ghi lại được cảm xúc của mình khi dịch bài thơ. Và tôi rất tiếc sau này cho đến khi anh Sơn qua đời, tôi không còn dịp nào đọc lại cho anh nghe mấy câu thơ cảm hứng của tôi về người con gái đã viết "Biệt thư tình":

  "Cảm ơn đời ban tặng/ Những anh hùng vĩ nhân/ Gươm/ Đàn/ Gánh múa xuân/ Mái chèo/ Hai non nước/... Tôi khóc/ Em cầu ước/ Khiêm nhường/ Làm cỏ xanh.../ Nâng bước chân quân hành/ Người anh hùng lưỡng quốc"...

  ...Đình làng Sim thuộc huyện Thọ Xuân - Thanh Hoá bấy giờ rộng như một hội trường lớn. Gần một trăm Thiếu sinh quân lớp lớn tuổi cùng nhiều học viên "Trường Văn hoá kháng chiến" đã có mặt. Hai hàng ghế đóng tạm bằng bìa gỗ kê sát tường đình gần bàn diễn giả, dành riêng cho các nhà nghiên cứu, anh em văn nghệ sĩ. Tôi - Hữu Loan ngồi bên Trần Dần, Phạm Duy, tiếp là Vũ Ngọc Phan, Đào Mộng Long, Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn Tuân, hoạ sĩ Phan Chánh... Dãy ghế đối diện dành riêng cho các thầy cô giáo Trường Thiếu sinh quân như giáo sư Trương Tửu, Nguyễn Tiến Lãng, Đinh Văn Vinh, Cao Đắc Quỳ (phó giám đốc), Nguyễn Sanh Kha, Văn Bình, Nguyễn Công Tiến, Phạm Gia Cát, Trần Quang Chiến, Phạm Việt Thường, nhà điêu khắc Phạm Thị Kim và vợ chồng nghệ sĩ Trúc Quỳnh, cùng một số chị em khác trong đoàn kịch chính trị...

  Trước phút làm việc, tôi nghe mấy người đang kháo nhau chuyện hoạ sĩ Phan Chánh "bị mất tích" ở chợ Thượng, thị xã Đức Thọ - Hà Tĩnh. Thường ngày Phan Chánh cần mẫn ngồi vẽ tranh thuỷ mạc, tranh truyền thần. Một hôm, có một người khách lạ, mắt sáng, tóc rậm hơi quăn, nước da bánh mật, mặc áo khoác, đi ủng, đặt Phan Chánh vẽ "chân dung một ông tướng". Phan Chánh nhìn vị khách tự tin nhận lời và thầm nghĩ: mình sẽ vẽ "ông tướng" theo trí tưởng tượng qua nhân vật ước lệ trong tuồng cổ với đôi nét giống người khác đặt hàng. Chỉ mấy hôm sau, "người khách lạ" đến trả tiền, nhận chân dung, chẳng khen mà cũng không chê tranh vẽ, nhưng nét mặt ông rất vui... Sau cái ngày đó, Phan Chánh "bị mất tích". Cả gia đình, họ hàng rất lo, không biết Phan Chánh đi đâu? Mãi sau này mới hay "người khách lạ" đó chính là Tướng Nguyễn Sơn đã bí mật đưa Phan Chánh cùng nhiều anh em văn nghệ sĩ khác ra Trường Văn hoá Kháng chiến Liên khu IV  ở chiến khu Thanh Hoá. Hôm nay, họ cũng có mặt, háo hức nghe Tư lệnh Nguyễn Sơn nói Truyện Kiều...

  Hữu Loan nhớ mình gặp Nguyễn Sơn lần đầu tiên ở Đèo Cả. "Ông tướng này", đã gây cho nhà thơ bao nhiêu ấn tượng mãnh liệt... Hồi đó, Nguyễn Sơn cưỡi con ngựa bạch rất oai phong mà lãng mạn "Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in". Nhưng Nguyễn Sơn không mặc "áo đỏ ráng pha" mà là áo quân phục của vị tướng anh hùng từ Vạn lý trường chinh huyền thoại trở về, với cương vị mới "Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam". Nguyễn Sơn đã gợi hứng thú cho Hữu Loan viết bài thơ "Đèo Cả" đầy chất lãng mạn hiện thực về các chiến sĩ Nam tiến, anh dũng bằng thể lục bát, sau mới chữa lại thành thể thơ tự do cho hợp với nhịp điệu hùng tráng của "Đoàn quân Việt Nam đi../ chung lòng cứu quốc". Và ông lại vụt có mặt ở Liên Khu IV, với cương vị Tư lệnh trưởng của căn cứ địa kháng chiến hết sức quan trọng của cả nước, sau căn cứ địa Việt Bắc.

  Các ngả đường vào làng Sim được bộ đội cùng một số Thiếu sinh quân lớn tuổi đứng canh với quần áo nai nịt gọn gàng. Có cả súng và kẻng báo động khi có máy bay địch từ xa. Những ai được nghe nói Truyện Kiều đều có người hướng dẫn hoặc có giấy mời riêng được vào làng.

  Từ sáng sớm cuộc nói chuyện đã bắt đầu. Anh Lê Thuyết, Giám đốc Trường Thiếu sinh quân giới thiệu xong, Thiếu tướng Nguyễn Sơn bước vào. Ông đặt chiếc mũ phớt và cuốn sổ lên mặt bàn cũ có trải tấm vải nhựa màu rêu, rồi vào đề luôn.

  "Theo đề nghị của nhiều anh em, các thầy giáo, học viên Trường Thiếu Sinh Quân và Trường Văn hoá kháng chiến, tôi xin dành ít phút nói về Vạn lý trường chinh qua một bài thơ, có liên quan đến Truyện Kiều là chủ đề chính tôi cần nói hôm nay. Vạn lý trường chinh là gì? Là, cuộc chiến đấu phá vây mở đường vô cùng ác liệt, gian nan anh dũng của Bát Lộ Quân để nối liền các căn cứ kháng chiến của cách mạng Trung Quốc từ phương Nam lên phương Bắc, để có sự ủng hộ quốc tế của nước Nga Xô viết. Tôi không phải là nhà thơ nhưng cũng đã ghi nhật ký Trường Chinh bằng mấy câu thơ như sau:

  Bao đồng chí hy sinh / Máu nhuộm hồng tuyết phủ / Máu cháy lên thành lửa / Soi sáng đường Trường Chinh...

  Thời ấy, tôi được giao nhiệm vụ làm Chính uỷ phân đội Đông Giang, thuộc cánh quân Tả Ngạn do đồng chí Chu Đức, Lưu Bá Thừa và Trương Quốc Đào lãnh đạo. Khi vượt qua vùng đầm lầy vô cùng gian khổ khốc liệt, Trương Quốc Đào phản bội, bàn cho chuyển quân về phía Nam theo Quốc dân Đảng, bấy giờ Tưởng Giới Thạch đã thay lãnh tụ Tôn Trung Sơn. Nhiều đồng chí trong đó có tôi kịch liệt phản đối. Trương Quốc Đào kiếm cớ vu khống tôi là "gián điệp quốc tế" rồi khai trừ tôi ra khỏi Đảng và còn âm mưu hãm hại tôi. Cuối cùng đơn vị của tôi bị đánh úp bất ngờ. Hơn nửa số quân trong đơn vị bị hy sinh. Riêng tôi cũng bị thương và bị thất lạc. Tôi phải tìm về với đồng bào dân tộc Tạng để xin ăn, làm các việc kéo xe, chăn ngựa, phải mấy tháng mới về được Diên An. Trong Hội nghị Phương Nghĩa, tôi đã được Chu Đức, Lưu Bá Thừa bảo vệ và được Mao Trạch Đông khôi phục lại danh dự cùng một số đồng chí khác và lần thứ hai tôi lại được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong những ngày bi tráng tột cùng ấy, tôi nhận được một lá thư. Thực ra, đó là bài thơ tình có tên "Biệt tình thư" cổ vũ khuyến khích tôi vượt lên chiến đấu trong hàng ngũ Bát Lộ Quân vì cách mạng vô sản của hai nước Trung - Việt anh
em như cụ Hồ thời đó là đồng chí Lý Thụy đã giao nhiệm vụ cho tôi.

  Tôi đã nhận được bản dịch của anh Hữu Loan. Bản dịch rất sát, rất hay tuy có vài ba chỗ không quan trọng tôi phải chữa. Tôi xin đọc bản dịch đó:

  "Hỡi chàng trai nước Việt/ Đã rời Tổ quốc mình/ Đến Quảng Châu khởi nghĩa/ Tiếp một thời Trường Chinh/ Máu chàng từng đã đổ/ Nơi rừng thẳm tuyết dầy/ Hoà máu quân Bát Lộ/ Đỏ màu cờ hồng bay/... Có thời như Từ Hải/ Tướng kiêu hùng kém ai?/ Có ngày buồn chăn ngựa/ Vẫn đội trời chí trai/ Em khóc hơn Thuý Kiều/ Vì yêu chàng chưa ngỏ.../ Đường Trường Chinh đạn lửa/ Quân Bát Lộ còn đi/ Trung Quốc ngày giải phóng/ Ước mơ em hẹn thề/ Hỡi chàng trai nước Việt/ Dù ngàn trùng bể dâu/ Dẫu kiếp này li biệt/ Em hẹn chàng kiếp sau..."

  Tiếng nói của Nguyễn Sơn khi thường vẫn oang oang, nhưng đọc thơ lại trầm ấm cuốn hút người nghe kỳ lạ. Hai hàng ghế bên bàn diễn giả, anh em văn nghệ sĩ cùng đứng dậy vỗ tay. Hàng trăm Thiếu sinh quân cùng bắt chước đứng lên phấn khích hoan hô nhiệt liệt. Nguyễn Sơn xoay người ra hai phía ra hiệu cho mọi người ngồi xuống yên lặng.

  Tôi - Hữu Loan thì thầm khẽ với Phạm Duy:

  - Nói về Kiều mà vào đề bằng Vạn lý trường chinh rồi từ bài thơ của cô sinh viên quê Thôi Hiệu - Hoàng Hạc Lâu mà dẫn đến Từ Hải, Thuý Kiều rồi nói đến tình cảm cách mạng chiến đấu quốc tế giữa hai nước Trung - Việt quả là một phương pháp đầy kịch tính bất ngờ và hấp dẫn.
----------------------------------------
* Phạm Văn Sĩ: Hiện ở nhà số 8, phố Lý Tự Trọng, phường Ngọc Trạo, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
« Sửa lần cuối: 14 Tháng Mười, 2008, 07:02:35 PM gửi bởi dongadoan » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2008, 07:06:55 PM »

  Phạm Duy gật đầu.

  - Ông tướng Nguyễn Sơn nhà mình quả là tài hoa uyên bác! Tôi lại bấm Phạm Duy yên lặng để nghe Tư lệnh Nguyễn Sơn đang tiếp tục câu chuyện:

  "Sở dĩ cô gái viết "Biệt tình thư" có nhắc đến Kiều, Từ Hải vì cô rất yêu Truyện Kiều của Nguyễn Du. Để có tình yêu đó không phải là ngẫu nhiên. Rất nhiều đêm bên đống lửa trong rừng sâu tuyết phủ, tôi đã kể Truyện Kiều cho các chiến sĩ Bát Lộ nghe. Nhiều người trong đó có cô gái sinh viên đã nhớ hết nhân vật trong Kiều, thậm chí cô còn thuộc được nhiều câu Kiều bằng tiếng Việt Nam. Một hôm tôi mới hỏi: Trong chúng ta có ai biết Thanh Tâm Tài Nhân là ai không? Mọi người im lặng! Thế là tôi lại kể về Thanh Tâm Tài Nhân người Trung Quốc đã viết Kim Vân Kiều truyện. Và thi hào Nguyễn Du Việt Nam đã "mượn" các nhân vật và cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân mà viết nên kiệt tác Đoạn trường Tân Thanh để lên án chế độ phong kiến nhà Nguyễn buổi suy tàn, để ông vua Tự Đức thời bấy giờ biết Nguyễn Du đã "lấy người nói ta, lấy xa nói gần" nhưng đành "ngậm bồ hòn làm, đòn đau mà cười gượng", giận, tức Nguyễn Du lắm nhưng không có cớ gì để bắt tội được nhà thi sĩ nổi danh Bắc Hà".

  Tôi - Hữu Loan còn rất nhớ những lời Tướng Nguyễn Sơn nói:

  "Sở dĩ ở Trung Quốc ít người biết tới Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, vì tác giả này chỉ dừng lại ở một câu chuyện phù phiếm, nhạt nhẽo, mô tả khách làng chơi "mua nguyệt bán hoa" của bọn Tú Bà, Bạc Bà, Bạc Hạnh, cùng bọn nhà giàu, bọn quan lại. Truyện không hề có tính triết lý nhân văn, không ý nghĩa xã hội và nghệ thuật hết sức tầm thường. Cụ thể Từ Hải của Thanh Tâm Tài Nhân có gốc tích một tay học trò dốt, làm nghề mổ bò, giết trâu, tiếp là đi cướp của và bắt cóc gái đẹp....

  Với Nguyễn Du, Từ Hải được sáng tạo thành hình tượng anh hùng cứu thế, cứu nhân, đưa Kiều ra khỏi lầu xanh của Tú Bà, mang lại cho nàng những ngày sống thoả lòng ân oán và hạnh phúc dù ngắn ngủi. Với Thuý Kiều trong "Kim Vân Kiều truyện" chỉ là cô gái mắc cạn, phải bán mình chuộc cha. Khi Bạc Bà, Bạc Hạnh đưa Kiều đến nhà Tú Bà để hầu khách làng chơi, ngồi trong kiệu, Kiều tỏ ra vui vẻ, mãn nguyện với việc dâm ô mà mình sẽ làm ở lầu xanh. Trái lại Kiều của Nguyễn Du không chỉ đẹp nghiêng nước, nghiêng thành mà trong hoàn cảnh ô trọc ghê tởm đó, nàng đã thét lên những lời căm thù oán hận:

  Chém cha cái kiếp má đào.../ Tiếc thay nước đã đánh phèn.../ Đau đớn thay phận đàn bà.../"

  Tướng Nguyễn Sơn đọc thơ Kiều mà xúc động thật sự như có lệ rơi, tiếng khóc, như cụ Nguyễn Du đã hiện về nhập vào ông mà gào lên nỗi đau thương cho thân phận nàng Kiều...

  "Các bạn Trung Quốc, các chiến sĩ Bát Lộ Quân yêu thích Truyện Kiều Việt Nam vì cái lẽ như thế...

  Thưa các bạn, thưa các cháu Thiếu sinh quân! Vậy mà ngay trên đất Việt Nam chúng ta hầu hết người dân Việt Nam đều yêu thích và rất nhiều người thuộc Truyện Kiều, thì giáo sư Trương Tửu lại giảng Kiều cho thế hệ trẻ một cách sai lệch không thể chấp nhận được... Lý do tôi nói Truyện Kiều hôm nay vì tôi đã đọc được ở những cuốn vở ghi chép của các em ở lớp chuyên khoa đệ nhất. Các em đã ghi lời giảng văn của giáo sư Trương Tửu thế này: " Kiều mắc bệnh uỷ hoàng - một thứ bệnh sinh lý luôn căng thẳng bởi tình dục đòi hỏi. Kiều bán mình chuộc cha rồi vào lầu xanh là sự kết hợp hai mặt báo hiếu với sự giải thoát tình dục, giải thoát sự ham muốn khát khao của thời con gái có nhan sắc..."

  Tôi - Hữu Loan cảm nhận như cả khối người trong đình làng Sim đều nín thở, cùng mọi vật trong không gian lặng im cho Tư lệnh Nguyễn Sơn diễn thuyết. Ông nói tiếp:

  "Giáo sư Trương Tửu hoàn toàn hỏng. Rất hỏng. Bởi phải giảng Kiều với ý nghĩa xã hội, với triết lý, đạo lý nhân văn sâu sắc, Kiều là sản phẩm của mọi quan hệ đời sống. Thì, giáo sư lại giải thích Kiều bằng quan điểm phân tâm học của Freud. Các em đã ghi lời giảng của giáo sư rằng: Kiều tự nguyện bán mình là sự thúc bách muốn chuộc cha cùng sự nén ép hưng phấn căng thẳng của chất biliđo - tức là dục vọng không chỉ có ở giới nữ mà ở cả giới nam và rộng hơn là giống đực và giống cái trong sự tranh đua sinh tồn thoát ra ngoài ý muốn xã hội. Tôi không nghi ngờ và rất khâm phục sự thông thái biết rộng ở giáo sư Trương Tửu. Nhưng tiếc thay giáo sư lại sắm vai một y sĩ phân tâm học Freud để suy diễn, bình luận về Truyện Kiều, mà lầm Truyện Kiều chỉ là cuốn giáo trình trần trụi thô thiển về tâm lý, sinh lý học...
Về nghệ thuật, tại sao giáo sư Trương Tửu lại kết luận thơ lục bát nói chung và ở Truyện Kiều nói riêng là sản phẩm nô lệ của dân tộc và âm điệu của nó tiến tới chỗ diệt vong bởi sự bế tắc trong trùng kỳ tiến hoá của nhân loại. Tại sao giáo sư có thể giải thích Nguyễn Du, cùng bố là Nguyễn Nghiễm và anh là Nguyễn Khản đều lây truyền bệnh uỷ hoàng tình dục được thăng hoa phát tiết trong nghệ thuật tuyệt đỉnh của Truyện Kiều. Khoa học kỹ thuật cùng mặt nào đó của văn hoá Tây phương ta phải biết thừa nhận, tiếp thu nhưng không phải vì thế mà ta lại tự nhìn ta bằng tâm lý tự ti và miệt thị.

  Tôi đề nghị giáo sư Trương Tửu hãy rời thế giới quan phương Tây mà về với thế giới quan biện chứng dân tộc, sẽ tránh được sai lầm, sẽ bắt được cái thần, cái tình tuyệt đắc của Truyện Kiều để "tam bách dư niên hậu" cụ Tố Như không còn khóc, cụ có thể mỉm cười vì thế hệ chúng ta đã hiểu được những điều sâu xa cụ đã ký thác trong tác phẩm..."

  Cả hội trường lại vang lên tiếng vỗ tay. Giáo sư Trương Tửu đã đến đúng lúc bên bàn diễn giả Tư lệnh Nguyễn Sơn. Hai tay giáo sư chìa ra xin được nắm tay Tư lệnh:

  - Cảm ơn Thiếu tướng Nguyễn Sơn. Tôi sẽ tiếp thu tất cả những ý kiến phê phán của anh. Tôi sẽ viết lại Nguyễn Du với Truyện Kiều theo quan điểm Mácxít mà anh là người đã lật sáng cho tôi thay đổi thế giới quan và phương pháp luận.

  Một tràng vỗ tay như trân trọng dành riêng cho thầy giáo - giáo sư Trương Tửu - một người có vốn tri thức Đông Tây sâu rộng, có thể tìm được một chỗ làm việc ấm thân trong chính quyền phong kiến thuộc Pháp nhưng giáo sư đã chấp nhận đi con đường kháng chiến rất gian khổ giành độc lập cho nước nhà. Giáo sư đã không tự ái bởi Tư lệnh Nguyễn Sơn đã phê phán đúng vào những khiếm khuyết sai lệch nghiêm trọng, khi ông nghiên cứu về Truyện Kiều. Sự khẳng khái đó của giáo sư Trương Tửu đã khiến cho Tư lệnh Nguyễn Sơn cùng tất cả những người nghe rất thông cảm và kính trọng.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2008, 07:10:15 PM »

  Trước giờ làm việc buổi chiều, tôi - Hữu Loan thấy Tư lệnh Nguyễn Sơn còn nô đùa thân mật với mấy em, mấy cháu nhỏ Thiếu sinh quân. Ông bế xốc em liên lạc lên, rồi chìa cái cằm "râu hùm" lởm chởm của mình cà lên má em làm cho em cười thét lên mới thả em ra. Mọi người đứng vây quanh cùng cười rất vui khi nghe Nguyễn Sơn giải thích:

  - Cái hôn cù nôn ấy là phạt cậu ta đi đưa thư về, ăn cơm không kịp rửa bát, chui vào màn ngủ lại còn gác chân lên bụng Tư lệnh trưởng, tới gần sáng đánh thức mới biết...

  Đến giờ làm việc, mọi người lại kéo vào đình. Tiếng của Tư lệnh Nguyễn Sơn oang oang lúc trầm, lúc bổng. Ông đi thẳng xuống giữa khối Thiếu sinh quân ngồi theo hàng. Ông quay sang phía bên phải, chỉ vào một cậu bé mặc áo chàm, có giây nịt gọn gàng.

  - Cháu đứng lên. Tư lệnh hỏi. Chú bé bật lên như lò xo.

  - Thưa Tư lệnh! Cháu phải làm gì ạ!

  - Tên cháu là gì? Cháu nói to lên cho mọi người cùng nghe.

  - Dạ! Tên cháu là Phùng Quán ạ!

  - Có phải Phùng Quán quê ở Huế có cậu là...? Nếu tôi không nhầm, ở giờ trước, sau khi tôi đọc thơ cháu đã hô "Sapaep muôn năm".

  - Dạ thưa Tư lệnh! Đúng cháu có hô lên như thế vì cháu rất ngưỡng mộ... Cháu xin nhận kỷ luật, nếu là sai phạm ạ!

  - Cháu ngồi xuống đi. Cháu không có lỗi. Tất cả những người chiến sĩ cách mạng, bảo vệ Tổ quốc, giải phóng cho nhân dân mình dù ở dân tộc Nga, Trung Hoa hay Việt Nam cũng đều có một nét chung rất đáng trân trọng... Nhưng dù là Sư trưởng Sapaep chống lại quân thù trong cuộc nội chiến ở nước Nga hay một tư lệnh, một nguyên soái nào, có ngưỡng vọng mấy đi nữa cũng không nên hô "muôn năm"! Rồi đây các em, các cháu phải thay lớp cha anh. Măng non sẽ thay tre già... Tre già cứ "muôn năm" thì măng non còn chỗ nào mà chui lên được? Các cháu phải học giỏi, luyện tài, tích đức thì "Con mới hơn cha. Mới có phúc nhà lộc nước". Chúng ta đều nhất trí như thế chứ!".

  Không ai bảo ai, cả hội trường náo nhiệt vang lên tiếng "Đồng ý, đồng ý". Tư lệnh Nguyễn Sơn lại vẫy tay cho mọi người ngồi yên lặng rồi bước lại bàn diễn giả với giọng sôi nổi:

  "Lịch sử đã chứng minh chỉ có bọn vua chúa, thực dân đã quen cưỡi lên đầu lên lưng người khác, dân tộc khác, mới bắt người ta hô "muôn năm", "vạn tuế". Nghĩa là chúng muốn mãi mãi vĩnh hằng, "Con sãi ở chùa cứ quét lá đa", để chúng "ngồi mát ăn bát vàng". Đã đến thời khắc mới, dân tộc Việt Nam ta cùng nhiều dân tộc khác đã và đang nổi can qua bão táp để quét sạch chúng đi. Chúng ta kháng chiến đánh đuổi giặc Nhật, giặc Pháp để giành độc lập tự do, người cày có ruộng, công nhân có nhà máy và trẻ thơ như các cháu, các em được đến trường học. Dân tộc ta sẽ phấn đấu để không còn bị bóc lột, bị bần cùng đói rách, bị miệt thị. Quan điểm đó của Đảng, của Bác Hồ là biện chứng duy vật. Nghĩa là Đảng ta về mặt triết học, thừa nhận mọi hiện tượng vật thể cùng các hình thái ý thức xã hội luôn vận động phát triển không hề có bất biến cố hữu. Ai cứ khư khư tự tôn mình là "muôn năm", "vạn tuế" là duy tâm siêu hình là "muốn nằm" là chết, là hết. Bác Hồ Chí Minh của chúng ta đã có dịp nhắc nhở các cán bộ cấp dưới rằng: Các chú đừng trương quá nhiều khẩu hiệu muôn năm về Bác, mà nên viết: Hoan hô Chính phủ Hồ Chí Minh chẳng hạn thì tránh được tôn sùng cá nhân mà đoàn kết rất rộng. Tổ quốc ta, nhân dân Việt Nam ta, mới là muôn năm, vạn tuế.  Chúng ta hãy làm mọi việc tốt cho quyền lợi chung trong đó có riêng mình là kháng chiến thành công, kiến quốc thắng lợi, cho nhân dân ta được độc lập tự do hạnh phúc, Tổ quốc ta được giàu mạnh phồn vinh. Đó cũng là quan điểm duy vật lịch sử của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội khoa học. Chúng ta phải vừa đánh giặc, vừa giác ngộ những vấn đề lý luận và thực tiễn như thế..."

  Buổi nói Truyện Kiều thật sự là cuộc tập huấn chính trị tư tưởng bổ ích chưa từng có, kéo dài quá chiều tà mới kết thúc.

  Tối hôm đó, tôi - Hữu Loan được ăn cơm với Tư lệnh Nguyễn Sơn. Tư lệnh Nguyễn Sơn giới thiệu cho biết về anh Võ Trí Sơn là con cụ Võ Liêm Sơn - một nhà trí thức yêu nước. Về anh Nguyễn Tiến Lãng là em vợ nhà thơ Tản Đà, trước khi làm thư ký riêng cho Nguyễn Sơn đã từng là Đổng lý văn phòng cho Nam Phương Hoàng hậu. Anh Lãng đang dành hết tâm huyết vừa dạy tiếng Pháp cho Thiếu sinh quân vừa dịch chủ nghĩa Mác từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Nguyễn Sơn lưu ý: Cũng như giáo sư Trương Tửu các anh đều là con nhà trâm anh thế phiệt, chưa biết gian khổ là gì, vậy mà đi theo Chính phủ Hồ Chí Minh kháng chiến, chấp nhận mọi bề gian khổ thiếu thốn cùng bộ đội ta thì Vạn lý trường chinh của Việt Nam, nhất định thắng lợi, kháng chiến, kiến quốc của ta nhất định thành công...

  Đêm về, trời trở gió, Tướng Nguyễn Sơn bỏ chiếc tẩu thuốc lá đang cháy dở, khi ông ho lên những cơn đột ngột. Chị Vũ Thị Bích Hồng là y tá của Trường Thiếu sinh quân cùng một bác sĩ và anh Lê Thuyết đưa Tướng Nguyễn Sơn đi nằm nghỉ. Đêm đó, chị Hồng kể cho Hữu Loan nhiều chuyện về người bác, là anh họ mẹ mình - Tên khai sinh của ông là Vũ Nguyên Bác - Có nghĩa là "uyên bác". Trong Vạn lý trường chinh, ông đổi tên là Hồng Thuỷ, để thể hiện lòng chung thuỷ của mình với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thời kỳ vượt qua vùng đầm lầy ông đã bị thương rồi bị sưng phổi. Ba lần vượt qua các đỉnh núi tuyết, lạnh rét, ông vẫn tái lại những cơn ho. Về Việt Nam làm việc nhiều và căng thẳng, thỉnh thoảng bệnh phổi của ông lại tái phát. Kể về người bác của mình, chị Hồng nhiều lúc rơm rớm nước mắt. Đêm đó Tướng Nguyễn Sơn cũng không cho báo tin về để vợ ông là chị Hằng Huân biết.

  Cũng từ đấy ấn tượng về Tư lệnh Lưỡng Quốc tướng quân Nguyễn Sơn trong tâm trí tôi cứ như ngọn lửa mỗi ngày càng lung linh, càng ấm sáng. Những câu thơ về ông bắt đầu vang vọng trong hồn tôi:

  "Nguyễn Sơn như con tàu biển khổng lồ/ Mang giông tố đại dương/ Đi đến đâu không cho sóng ngủ/ Nguyễn Sơn là núi lửa/ mọc ở đâu gây những đám cháy vòng quanh..."

  Trước đây, cái chất kiêu hùng, lãng mạn của Tướng Nguyễn Sơn truyền vào trong những câu thơ của tôi bắt đầu qua những người lính, người chiến sĩ kiên cường ở Đèo Cả, Quách Xuân Kỳ, Yên Mô... Còn sau này tôi thấy phải viết về một vị tướng đầy chất huyền thoại bằng xương bằng thịt chứ không chỉ là chân dung ước lệ như hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh đã vẽ...

  Cho đến ngày tôi nhận được tin đau buồn đột ngột - Báo Nhân Dân đăng cáo phó Tướng Nguyễn Sơn bị ung thư phổi qua đời ngày 21-10-1956. Cổ tôi nấc nghẹn, nước mắt cứ trào ra khi tôi viết tiếp những vần thơ về ông buổi đưa tang "người đi không tới huyệt" gây xúc động tiếc thương vô hạn cho quân đội và nhân dân hai nước Việt - Trung.

  Và người viết "Biệt tình thư" giờ ấy ở đâu? Đã anh dũng hy sinh hay còn sống? Nếu biết được tin này chắc cũng sẽ gào khóc hơn cả tôi đang khóc về ông! Nguyễn Sơn ơi! Ông có nghe...?
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Mười, 2008, 07:13:06 PM »

Nhờ tướng Nguyễn Sơn, tôi đã yêu thêm nghệ thuật tuồng chèo

G.S. Đinh Xuân Lâm



  Hồi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954) Tướng Nguyễn Sơn được cử giữ chức Khu trưởng Liên khu IV, phụ trách công tác quân sự ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh và phân khu Bình Trị Thiên. Quân khu bộ có thời kỳ đóng tải ra trên địa bàn mấy huyện miền tây Thanh Hoá, từ Thọ Xuân vào Nông Cống. Đặc biệt là mỗi khi chuyển địa điểm thì ngoài các đơn vị thông tin, hậu cần, y tế... còn có đoàn văn công gồm các nam nữ diễn viên, gánh gồng đủ thứ, nào phông màn, nhạc cụ, tới y phục, mũ mão...

  Một đêm trăng suông sau Tết, tại làng Thành Tín (xã Thọ Lộc, huyện Thọ Xuân), tôi đang ngồi soạn bài bên ngọn đèn dầu nhỏ chuẩn bị cho buổi lên lớp sáng hôm sau (hồi đó tôi dạy học tại Trường Trung học tỉnh Thanh Hoá mới tản cư về địa phương) thì bỗng nghe vang lên tiếng trống chèo và tiếng hát nữ. Tôi vội ra khỏi nhà, lần theo tiếng trống trên con đường làng nhỏ hẹp hai bên rợp kín bóng tre. Rồi tôi đã tìm ra nơi phát đi tiếng trống. Đó là một sân gạch trước một ngôi nhà gạch lớn, nơi đoàn văn công Quân khu đóng. Và đêm hôm đó là buổi tập của đoàn. Khán giả là một số ông già bà lão trong xóm, đông nhất là các trẻ em. Tích diễn hôm đó là Xuý Vân giả dại.

  Lần đầu tiên tôi xem diễn tích đó. Hình ảnh một cô gái trẻ với vài bông hoa dại cắm trên tóc, chiếc áo lụa vàng, chiếc yếm đỏ..., tay vung vẩy nhánh cây nhỏ, vừa hát lên những lời ca mới nghe qua tưởng đâu là ngây dại nhưng ngẫm sâu mới thấm hết ý nghĩa, mới cảm hết tình người, hình ảnh đó đã gây một xúc động mạnh mẽ đến tôi ngay từ cái thuở ban đầu.

  Còn với tuồng, tôi cũng có một kỷ niệm sâu sắc. Và điều ngẫu nhiên là "cơ may" đó cũng đến với tôi thông qua Tướng Nguyễn Sơn.
Đêm diễn tuồng hôm đó là ngay sau lễ thụ phong Thiếu tướng của Khu trưởng Nguyễn Sơn. Địa điểm diễn ở nhà máy giấy Quần Kênh (Bàn Thạch, Thọ Xuân).

  Cũng lại một đêm trăng lạnh. Có rất đông quan khách của liên khu, tỉnh tới dự. Có lẽ đó là buổi diễn tuồng có quy mô lớn nhất trong những ngày đầu kháng chiến, sân khấu rộng và cao, người tới xem rất đông. Buổi diễn lại có tính chất học thuật, xen giữa các trích đoạn diễn lại có phần phân tích nết hay, vẻ đẹp của tuồng. Thu hoạch lớn nhất của tôi hôm đó là được nghe Bửu Tiến đứng trên sân khấu, hát hai câu:

Lao xao sóng vỗ ngọn tùng
Gian nan là nợ anh hùng phải vay

  Rồi anh giải thích đây là nói về nhân vật Tiết Cương trên con đường cứu nước, đứng trên núi cao nhìn ra biển rộng mà khẳng định ý chí của mình. Vì đứng trên núi cao nhìn ra biển nên có cảm giác các đợt sóng từ ngoài khơi đổ vào ngọn các cây tùng mọc dưới chân núi. Hình ảnh thật là hùng vĩ, mà cảm giác cũng rất thực.

  Sau này, có tìm hiểu lịch sử ngành tuồng, nhất là khi nghiên cứu phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX, tôi mới biết rằng hai câu đó trích trong vở tuồng đồ Hộ sanh đàn của Đào Tấn viết về anh hùng Tiết Cương phò vua dẹp gian thần, nhưng còn có mục đích chống đại thần Nguyễn Thân trong triều Nguyễn. Đào Tấn đã mượn tích Tiết Nghĩa bắt Tiết Cương là anh em kết nghĩa nạp triều đình lấy thưởng để ám chỉ việc Nguyễn Thân bắt Nguyễn Duy Hiệu là lãnh tụ Cần Vương nạp cho Pháp.

  Lời giải thích của Bửu Tiến từ đêm xuân năm đó đã hé mở cho tôi cái đẹp, cái hay của nghệ thuật tuồng, về nội dung cũng như về hình thức.

Văn nghệ Quân đội tháng 6 - 1995
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2008, 07:22:22 PM »

Tiết mục hay nhất

Kiến Quốc


Nguyễn Sơn (hàng đứng, thứ ba từ trái sang) khi tham gia Vạn lý trường chinh

  Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn - Hồng Thuỷ là một trong bốn chiến sĩ quốc tế hoàn thành trọn vẹn cuộc hành quân Vạn lý trường chinh của Hồng quân Trung Quốc (1934 - 1936). Thời kỳ ở Trung Quốc, là người nước ngoài nhưng ông dám lên lớp về văn hoá cách mạng; thậm chí còn dàn dựng cho bộ đội biểu diễn kinh kịch.

  Cuối năm 1945, ông trở về nước. Khi nhận nhiệm vụ Tư lệnh Khu IV ông nổi tiếng là "tướng yêu văn nghệ". Cứ mỗi lần Quân khu tổ chức "đại hội tập" (hội thao quân sự), về đêm các đơn vị phải tổ chức biểu diễn văn nghệ với các tiết mục tự biên tự diễn. Nhân dân tấp nập kéo về khu bộ đội đóng quân để xem văn nghệ. Lính ta không chỉ hát hò mà còn thích dàn dựng các vở kịch. Vì là kịch phải có lang, có lớp, phải thay cảnh, đổi phông; vì không chuyên nghiệp nên bộ đội ta dàn dựng mất nhiều thời gian. Ngồi phía dưới chờ quá lâu, Tư lệnh vén phông nhưng thấy chưa xong thì quay sang ban tổ chức: "Để tớ nói chuyện bù vào khoảng thời gian trống nhé!". Thế rồi ông diễn thuyết một hồi về trường kỳ kháng chiến, về đất nước Liên Xô, Trung Quốc... Được một lát, ông cúi xuống vén phông lên, thấy chưa xong: "Chưa xong à? Nói tiếp nhé!". Rồi chuyển sang nói về văn hoá, văn nghệ. Mà ông cứ "xuất khẩu" là thành văn, thành thơ.

  Đêm liên hoan văn nghệ kết thúc, quân dân rồng rắn trở về làng. Đồng chí Trưởng phòng tuyên truyền chính trị cục xuống Khu IV công tác, trên đường về cùng chị chủ nhà, hỏi thăm:

  - Hôm nay đi xem chị thấy có hay không?

  - Hay quá đi chứ bác!

  - Thế hay nhất tiết mục nào?

  - Tiết mục ông Sơn nói chuyện!.

Quân đội Nhân dân cuối tuần, 19-6-2005
« Sửa lần cuối: 16 Tháng Mười, 2008, 07:06:40 PM gửi bởi dongadoan » Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2008, 07:28:06 PM »

Về hai cuốn sách dịch của tướng Nguyễn Sơn

Trần Thu Hương*



  Sau một thời gian dài hoạt động cách mạng quốc tế ở Trung Quốc (1925 - 1945), Nguyễn Sơn - vị tướng nổi danh của Việt Nam và Trung Quốc đã trở về Tổ quốc, tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc. Tài năng quân sự của ông đã góp phần không nhỏ vào việc tiêu hao, tiêu diệt quân địch, làm chậm bước tiến của chúng ở chiến trường miền Nam Trung Bộ. Cũng trong thời gian này ông đã viết, dịch nhiều tác phẩm có tính chất như một cẩm nang quân sự cho cán bộ, chiến sĩ, trong đó có các cuốn Dân quân, một lực lượng chiến lược; Chiến thuật và Chủ nghĩa Lê-nin đã được giới thiệu với công chúng xa gần.

  Ngoài các tác phẩm trên, tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam hiện còn lưu giữ được 2 quyển sách dịch của ông. Đó là cuốn "Chiến tranh cách mạng và vấn đề chiến lược" và cuốn "Chiến tranh cách mạng Trung Hoa và vấn đề chiến lược", do Bộ tư lệnh Liên khu IV xuất bản, in tại Nhà in Quân sự Liên khu IV năm 1949.

  Cuốn "Chiến tranh cách mạng và vấn đề chiến lược" nguyên văn của tác giả Béc-tôn Phrai-xen (Berthold C.Friceld), in xong ngày 23 - 7 - 1949. Đây là bản in tipô trên khổ giấy 11 x 18,5 cm, dày 83 trang. Cuốn sách gồm 2 phần: Lý thuyết nền tảng và Tổng quan về chiến lược ở Liên Xô(1).

  Phần thứ nhất của cuốn sách gồm: Chương I: "Có nhiều thứ chiến tranh", từ trang 4 đến trang 16; Chương II: "Những bài học của Phê-đê-ric Ăng-ghen (Féderic Engels)", từ trang 17 đến trang 32.

  Ở chương I, tác giả trình bày những quan điểm của Clau-dơ-vit (Clausewictz), Mác, Lê-nin, Xta-lin và nhận thức Xô-viết nói chung về chiến tranh. Trong chương này có đoạn: "Lênin phân biệt được hai thứ chiến tranh: Chiến tranh cướp bóc là chiến tranh bất công và chiến tranh giải phóng là chiến tranh hợp lý. Những chiến tranh xâm lăng là bất công còn những chiến tranh để bảo vệ nền độc lập của quốc gia là rất chính đáng" và nhận xét của Mác về chiến tranh du kích: "Huy động quần chúng, chiến tranh cách mạng, hoạt động du kích, đó là những phương sách của một nước nhỏ phải dùng để thắng một nước lớn. Chỉ có như thế thì một đội quân tương đối yếu mới có thể chống lại những đòn của một đội quân mạnh hơn và chuẩn bị đầy đủ hơn". Cũng trong chương này, tác giả còn đưa ra nhiều nhận định, chẳng hạn: "Các nhà chính trị và lãnh đạo quân sự Xô-viết trong suốt một thế hệ đã chứng tỏ bằng những lời tuyên bố của họ rằng những đội quân xâm lăng với một mục đích cướp bóc và tàn nhẫn đối với các dân tộc khác đã biến những người lính của họ thành những tên côn đồ và những đội quân ấy đã tan rã, vì không có một tý đạo đức nào".

  Chương II của Phần thứ nhất bao gồm các bài học quân sự rút ra từ kinh nghiệm thực tế chiến tranh, từ sự phân tích, suy luận của Ăng-ghen thông qua các cuộc chiến tranh, hay từ những tư tưởng về quân sự của Na-pô-lê-ông, Crôm-oen (Cromwell), Đen-brách (Delbrach)... Ăng-ghen cho rằng: nguyên nhân của sự phát triển của nghệ thuật và khoa học quân sự là nhờ những yếu tố kinh tế và chính trị. Do đó, ông phản đối ý kiến của những nhà triết học quân sự duy tâm cho "tướng tài" là nguyên nhân của sự phát triển đó. Cũng theo ông, chiến công của một đạo quân không chỉ căn cứ vào trình độ huấn luyện mà còn phải căn cứ vào thành phần xã hội của nó.

  Phần thứ II của cuốn sách dày 48 trang (từ trang 34 đến 82), tác giả trình bày "Tổng quan về chiến lược ở Liên Xô" bao gồm 5 chương với các tựa đề sau:

  1. Lênin, nhà thống soái quân sự

  2. Chiến lược quân sự của Lênin hồi 1918 đến 1920

  3. Kinh nghiệm lịch sử

  4. Thế công và thế thủ: tính cách chuyển của chiến lược

  5. Lực lượng tinh thần, chiến tranh nhân dân.

  Nội dung của 5 chương này giới thiệu chân dung nhà quân sự lỗi lạc thế giới: Lênin, và khái quát lại những bài học lịch sử về quân sự của Clau-dơ-vit, Na-pô-lê-ông, Mác... mà người Nga tiếp nhận sau khi đã khảo sát, phê bình và chọn lọc theo sự chỉ đạo biện chứng duy vật Mácxít. Tư tưởng của Lênin là cố gắng xác định nội dung chiến tranh để tránh những sự phán đoán nông nổi. Tuy nhiên, theo ông có những chiến tranh như là một bước tiến, đã giúp cho sự tiến bộ của nhân loại mặc dù nó cũng đem đến sự khủng khiếp, tàn bạo và sự đau đớn.

  Cuốn "Chiến tranh cách mạng Trung Hoa và vấn đề chiến lược", nguyên văn tiếng Hán của Mao Trạch Đông, khổ sách 12,5 x 18,5cm, cũng được in ti-pô năm 1949 trên loại giấy dùng để in báo. Sách dày 50 trang, gồm 4 chương:

  Chương I: Thái độ nghiên cứu chiến tranh;

  Chương II: Đảng Cộng sản Tàu và chiến tranh cách mạng Tàu;

  Chương III: Những đặc điểm của chiến tranh cách mạng Tàu;

  Chương IV: Vây tiễu và chống vây tiễu là hình thức cốt yếu trong chiến tranh cách mạng Tàu.

  Chương I của cuốn sách có tính chất như một bài học lý thuyết cơ bản về chiến tranh của Mao Trạch Đông. Tác giả cho rằng, quy luật của cuộc chiến tranh là luôn luôn phát triển - đó là một vấn đề mà những người chỉ đạo chiến tranh cách mạng phải nghiên cứu, phải giải quyết. Vì thế tác giả khẳng định: "Vấn đề chiến lược là môn học nghiên cứu quy luật của toàn quốc chiến tranh" và "Biết học hỏi là một vấn đề quan trọng".

  Với 16 trang sách của chương II và III, tác giả đã định nghĩa về vai trò của Đảng Cộng sản Trung Quốc, liệt kê 4 đặc điểm cơ bản của cách mạng Trung Quốc như sau:

  1. Nước Tàu là một nước rộng, giàu có, nhưng là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, kinh tế, chính trị phát triển không đều mà lại đã trải qua một cuộc cách mạng lớn hồi 1925 - 1927;

  2. Kẻ thù lớn mạnh;

  3. Hồng quân nhỏ yếu;

  4. Có Đảng Cộng sản lãnh đạo và đã thực hiện cách mạng ruộng đất.

  Từ sự phân tích, đánh giá các điều kiện chủ quan, khách quan đã nói ở trên, tác giả đưa ra một kết luận quan trọng: Vây tiễu và chống vây tiễu là hình thức cốt yếu trong chiến tranh cách mạng Tàu". Chương IV cuốn sách với nội dung có tính chất như là một kế sách chiến lược của Quân đội Trung Quốc trong sự nghiệp chiến tranh cách mạng dân tộc chống Nhật. Đó chính là: "giặc lấy tiến công đối phó phòng ngự của ta, ta lấy phòng ngự đối phó tiến công của giặc là giai đoạn thứ nhất. Giặc lấy phòng ngự đối phó tiến công của ta, ta lấy tiến công đối phó phòng ngự của giặc trong giai đoạn thứ hai. Đó là hình thức chiến đấu lắp đi lắp lại... Khi nào sức giặc sức ta đã có sự thay đổi đến tận gốc, nếu Hồng quân Xô viết đổi ra thành lớn mạnh hơn hẳn quân giặc, lúc đó chúng ta sẽ vây tiễu quân giặc mà giặc thì muốn phá vây tiễu nhưng điều kiện chính trị quân sự không cho phép giặc đứng vào vị trí phá vây tiễu như Hồng quân được. Khi đó nếu không kết thúc hẳn hết hình thức lặp đi lặp lại vây tiễu và phá vây tiễu, cũng có thể nói chung là kết thúc rồi đó".

  Hai quyển sách dịch của Tướng Nguyễn Sơn đều ra đời trong thời kỳ ông được Chính phủ cử giữ chức Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến miền Nam Việt Nam và Tư lệnh kiêm Chính uỷ Liên khu IV. Thời kỳ này Tướng Nguyễn Sơn có những đóng góp tích cực vào việc rèn luyện quân đội, bổ túc cán bộ quân sự, đào tạo các lớp cán bộ đầu tiên của Trường Lục quân. Vì thế, cùng với các tác phẩm về quân sự khác, hai cuốn sách dịch nói trên của Tướng Nguyễn Sơn là những tài liệu tham khảo hữu ích của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp và sau này. Thông qua nó, chúng ta có thể hiểu thêm về khả năng lý luận quân sự cách mạng của ông.

  Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc hai tác phẩm dịch của Tướng Nguyễn Sơn như một nén hương kính dâng lên ông - nhà quân sự tài ba của cách mạng Việt Nam và Trung Quốc, nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày mất của ông.

Tạp chí Lịch sử Quân sự, tháng 4-2001
----------------------------------
* Thạc sĩ, công tác tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (B.T).
1. Tất cả các chữ "Liên Xô" trong sách đều in là "Liên Sô".
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2008, 07:30:57 PM »

Nhớ mãi bài giảng chuẩn bị
tổng phản công của tướng Nguyễn Sơn*

Đại tá Nguyễn Việt



  Sau vài lần hoãn đi hoãn lại, có lẽ chậm đến một vài tháng, chúng tôi mới bước vào học, mở đầu là một loạt bài giảng của một vài giáo viên người Nhật. Từ động tác đội ngũ đến nội dung chiến thuật, chiến dịch, về một số trận đánh lớn trên chiến trường ấn Độ, chiến trường Trung Quốc (như trận Bình Hình Quan.v.v...)

  Một hôm được Ban Giám hiệu thông báo sẽ có vài ngày Tướng Nguyễn Sơn mới ở Liên khu IV ra Việt Bắc công tác đến nói chuyện (không phải là giảng bài?) về trường kỳ kháng chiến, về tích cực cầm cự chuẩn bị Tổng phản công.

  Chúng tôi hào hứng náo nức chờ đón Tướng Nguyễn Sơn đến, phần vì muốn được nghe những vấn đề quân sự Việt Nam, phần vì ngưỡng mộ một tài danh, một vị tướng văn võ song toàn, có nhiều câu chuyện mang tính huyền thoại được nghe từ thời ở Liên khu III, với lòng cảm phục một vị tướng:

"Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo..."

  - Nào là một trong số ít thanh niên đầu tiên được Bác Hồ dìu dắt huấn luyện ở Quảng Châu những năm 1920. Tướng Sơn khi đó, nguyên tên là Vũ Nguyên Bác, được mang bí danh Lý Anh Tự cùng một số anh em khác như Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng... hình thành "một gia đình họ Lý" do Bác Hồ với bí danh Lý Thụy đứng đầu. Lý Anh Tự sau lớp học Quảng Châu, được cử đi học Trường Quân sự Hoàng Phố, rồi gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, tham gia Vạn Lý Trường Chinh, chỉ huy đến cấp quân đoàn của Giải phóng quân Trung Quốc, với bí danh là Hồng Thuỷ.

  - Nào là khi trở về nước 1945, được cử làm Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Nam Trung Bộ, đã dám bỏ đất, không dàn quân mành mành ở Nam Trung Bộ, ở Tây Nguyên, giành nhiều thành tích trong xây dựng lực lượng và trong chiến đấu bảo vệ địa phương... Đã mạnh dạn tổ chức Trường lục quân Quảng Ngãi nổi tiếng một thời...

  - Nào là khi đảm nhiệm Tư lệnh Khu IV từ 1947, với tài hùng biện, đã có những bài giảng súc tích về trường kỳ kháng chiến, chiến tranh du kích, về cách đánh của Việt Nam và cả về đường lối văn hoá kháng chiến, về Truyện Kiều, về kịch Lôi Vũ v.v... với nhiều chi tiết hấp dẫn nhiều người, kể cả với Đặng Thai Mai, một học giả đã dịch Lôi Vũ...

  Chính Tướng Sơn đã khởi xướng và tích cực thực hiện việc mở "Đại Hội Tập" Liên khu IV (sau lan sang cả Liên khu III, Liên khu X...) đã trực tiếp dẫn đầu đơn vị tập chạy vũ trang đường dài. Đã mạnh dạn sử dụng và giúp đỡ nhiều nhân sĩ trí thức, văn nghệ sĩ đi theo kháng chiến những ngày đầu chiến tranh nhiều gian khó và nhiều phân vân lưỡng lự...

  Chính Tướng Nguyễn Sơn đã tập hợp và cộng tác được với Hải Triều - Đặng Thai Mai - Nguyễn Phan Chánh - Nguyễn Tiến Lãng - Hồ Dzếnh - Lưu Trọng Lư - Thanh Tịnh - Bửu Tiến - Hữu Loan - Nguyễn Văn Thương - Nguyễn Văn Tý...Đã cùng nhau bước đầu xây dựng lý luận văn nghệ kháng chiến ở Liên khu IV, đã bảo vệ Tuồng chèo, bài hát trữ tình (mà khi đó cho là phong kiến, tiểu tư sản, uỷ mị...)
Ông giúp nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghi lập lại Đội Tuồng chèo, giúp Quản Liên phục hồi đội kèn quân nhạc. Trong hồi ký của Trung tá Đinh Ngọc Liên sau này có viết: "Đời anh lính kèn của tôi có hai lần xúc động đặc biệt, vừa chỉ huy anh em trình tấu, vừa khóc: đó là khi làm lễ Tiễn biệt Thiếu tướng Nguyễn Sơn 1956 và khi làm Lễ Truy điệu Bác Hồ 1969..."

  - Nào là câu chuyện huyền thoại về việc phong Tướng. Ông có ý không muốn nhận quân hàm cấp Thiếu tướng. Bác Hồ nghe chuyện này, có cử đồng chí Phạm Ngọc Thạch nhân chuyến công tác vào Khu IV, chuyển một bức thiệp thư của Bác gửi Nguyễn Sơn.

  Bác Hồ viết bằng chữ Hán, tạm dịch tiếng Việt:

Tặng Sơn đệ
Đảm dục đại
Tâm dục tế
Trí dục viên
Hành dục phương

  Bức thiếp 12 chữ vàng đã khiến ông tướng tỉnh ngộ, thấy lẽ phải, đã thoải mái nhẹ nhàng nhận quân hàm Thiếu tướng do Bác Hồ ký ngày 20-1-1948 và được Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch chuyển giao trong lễ tấn phong tại Liên khu IV.

  Trước những câu chuyện thực và huyền thoại về Tướng Nguyễn Sơn, với lòng ngưỡng mộ chân thành của tuổi trẻ chúng tôi (khi đó tôi mới 24 tuổi), chờ đón bài giảng đầy hưng phấn.
------------------------------------------
* Rút trong tập san "50 năm khoá Bốn Trường Trung cao quân sự Soi Mít 1949 - 1999". Nguyễn Việt: Đại tá, nguyên Phó cục trưởng Cục Khoa học quân sự, Bộ Tổng tham mưu. Hiện ở số 38, phố Lê Đại Hành, quận Hai Bà, Hà Nội.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2008, 07:34:05 PM »

  Thì đây rồi, Tướng Nguyễn Sơn đã xuất hiện, thong thả bước lên bục giảng. Anh trạc độ 40 tuổi, người tầm thước, tóc hơi xoăn, da ngăm ngăm đen, vầng trán hơi cao, nhiều nghị lực và thông minh, cặp mắt sáng, linh lợi, dáng vẻ từng trải...

  Đứng trước giảng đường, rất tự tin, Tướng Sơn chào hỏi anh em chúng tôi thân tình, vui vẻ, chào mừng chúng tôi từ các chiến trường Trung Nam Bắc đến học, từ các cương vị cán bộ chủ lực, địa phương đến tựu trường. Mở đầu ngắn gọn, anh đi ngay vào những vấn đề nóng bỏng cần trình bày trao đổi. Tướng Sơn nói hùng hồn, rất hấp dẫn, giọng to khoẻ, liên tục hút thuốc lá (có lẽ vì vậy mà sớm bị ung thư vòm họng) và cứ thế kéo dài 3 ngày liền, mỗi ngày 8 tiếng.

  Chúng tôi vốn là cán bộ trung, tiểu đoàn, đã ít nhiều có kinh nghiệm chỉ huy lãnh đạo đơn vị và cũng đã có một trình độ quân sự, chính trị nhất định, nên không phải ai nói gì cũng đã có thể thuyết phục được chúng tôi ngay. Nhưng với Tướng Nguyễn Sơn, có thể nói anh đã hoàn toàn chinh phục người nghe. Chúng tôi say mê ngồi nghe giảng, ghi chép tỉ mỉ từng ý, không hề mệt mỏi, buồn ngủ trong suốt 3 ngày căng thẳng. Và Tướng Sơn đã để lại dấu ấn không thể quên về những bài giảng quân sự, chính trị với những ý mạnh bạo, dám nghĩ, dám nói vào những năm tháng đầu của cuộc cách mạng.

  Trước hết Tướng Sơn nói về trường kỳ kháng chiến, về địch, ta, về tương quan lực lượng 2 bên. Địch mạnh, ta yếu. Nhưng ta có chính nghĩa, ta chiến đấu vì Độc lập dân tộc, mọi tầng lớp nhân dân đều ra sức kháng chiến. Tướng Sơn nêu nhiều ví dụ sinh động ở Liên khu IV, từ cụ già đến em bé đều một lòng đánh giặc. Tinh thần đó là vô địch, sẽ tạo nên mọi sức mạnh vật chất. Nhưng phải có thời gian và phải biết chuẩn bị nhiều mặt. Chuyển sang bàn về cách đánh Việt Nam , anh định nghĩa chiến thuật - tri thức rất cơ bản đối với cán bộ trung đoàn, tiểu đoàn (theo ý anh).

  Tướng Sơn đề cập đến tiến công, phòng ngự, đến tập kích, phục kích, đánh đồn. Anh hỏi: Hiện nay có Liên khu nào đã đánh công kiên thắng lợi? Anh bàn về nguyên tắc chiến thuật như: chủ động, tích cực tiến công, phòng ngự kiên cường vững chắc, nghệ thuật tạo sức mạnh, tập trung lực lượng đánh vào điểm yếu của địch, nghệ thuật cơ động lực lượng v.v...

  Anh liên hệ đến một số trận đánh ở Liên khu V, Liên khu IV và phân tích những ưu khuyết nhược điểm của số trận đó, v.v...

  Phần nói về dân quân, anh khẳng định dân quân là một lực lượng chiến lược. Anh nêu nhiều vấn đề cụ thể như:

  Thực hiện vườn không nhà trống.

  Chiến thuật phá hoại, đánh lẻ tẻ, đánh quấy rối.

  Chiến thuật địa lôi, bom mìn, đánh giao thông.

  Nguyên tắc xây dựng làng chiến đấu, đề xuất "Mỗi làng một pháo đài chiến đấu".

  Đề cập đến vấn đề trinh sát nhân dân, thông tin liên lạc hậu cần, vận chuyển nhân dân, v.v...

  Từ những phân tích trên, Tướng Sơn nói đến thắng lợi. Ta nhất định  thắng nhưng phải lâu dài, phải xuất phát từ thực tế địch ta.
Rồi anh chuyển sang câu chuyện chuẩn bị Tổng phản công.

  Anh hỏi ta lấy gì mà chuẩn bị Tổng phản công?

  Không thể chỉ lấy tinh thần. Phải có cơ sở vật chất nhất định. Phải chuẩn bị con người, chuẩn bị cán bộ, chuẩn bị quân số, chuẩn bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật, chuẩn bị nền tảng cơ sở xã hội, v.v.... Ta còn non yếu nhiều bề, anh liên hệ thực tế ở Liên khu IV, ở Liên khu III, ở Việt Bắc mà anh biết.

  Trong buổi lên lớp, tôi nhớ là Trung Quốc đã giải phóng, đã mừng quốc khánh lần đầu tiên 1-10-1949, nhưng anh không hề nói đến viện trợ của Trung Quốc. Anh hoàn toàn đề cập vấn đề tự lực cánh sinh của nhân dân ta.

  Anh kết luận ta nhất định thắng, nhưng còn lâu dài, còn phải dày công chuẩn bị mọi mặt, không thể ảo tưởng nghĩ đến Tổng phản công...

  Qua nghe giảng ba ngày, anh em chúng tôi bình luận sôi nổi. Nói chung đánh giá là một bài học hay, đề cập được nhiều nội dung thiết thực, gợi mở được nhiều vấn đề cần bàn luận, giáo viên rất tận tình, nói có lý lẽ, có sức thuyết phục cao.
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
dongadoan
Thành viên
*
Bài viết: 7444


Cái thời hoa gạo cháy...


WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 15 Tháng Mười, 2008, 07:35:35 PM »

  Điều đáng lưu ý là mặc dù Tướng Sơn đã chiến đấu hơn 20 năm ở Trung Quốc, đã quán triệt nhiều nội dung tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, của Giải phóng quân Trung Quốc, nhưng bài giảng của anh ở đây, tại Trường Trung cấp Quân sự Bộ Quốc Phòng 1949, tôi không nghe thấy những thuật ngữ "Tứ tổ nhất đội, nhất điểm lưỡng diện, tam tam chế, chiến thuật biển người, phương pháp phản tỉnh, đấu tố giai cấp, v.v..." và anh cũng không hề dẫn chứng những ví dụ chiến đấu ở chiến trường Trung Quốc mà anh đã lăn lộn qua nhiều năm. Chỉ thấy anh nói ví dụ về Việt Nam , về Liên khu V, Liên khu IV... không hề có tý "Tướng Tàu" nào cả.

  Tuy nhiên cũng có ý kiến cho là Tướng Sơn đã phát biểu vô nguyên tắc, dám nói sai nghị quyết Trung ương về chuẩn bị Tổng phản công..

  Nhưng cũng có ý kiến cho là anh đã dám nghĩ, dám nói về những nội dung cốt tử của chiến tranh với tầm nhìn chiến lược sắc sảo...
Và càng về sau, nhất là bước vào những năm 1951-1954, chiến tranh ngày một ác liệt, vùng địch chiếm mở rộng ở vùng Đồng bằng sông Hồng, mới thấy hết ý Tướng Nguyễn Sơn phát biểu là có giá trị thực tiễn. Chúng ta đã từng năm bằng nỗ lực phi thường của toàn Đảng, toàn dân, mở những chiến dịch - chiến lược từ Chiến dịch Biên giới 1950 đến những chiến dịch tiếp theo ở chính diện cũng như ở vùng địch chiếm từ Nam ra Bắc trong những năm 1951 - 1952 - 1953 cho đến đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử 1954, đi đến kết thúc chiến tranh chống Pháp xâm lược, giải phóng được nửa nước...

  Bài giảng của Tướng Nguyễn Sơn đã để lại trong anh em chúng tôi nhiều ấn tượng không thể quên.

  Chúng tôi tạm biệt anh sau vài ngày thụ giáo bổ ích. Rồi thời gian trôi qua, chúng tôi đi trên nhiều ngả đường kháng chiến, nghe tin Tướng Sơn đã trở về Trung Quốc được Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Quốc phong quân hàm Thiếu Tướng. Thế là, có lẽ lần đầu ở Việt Nam ta có một vị "Tướng quân Lưỡng quốc", được các vị lãnh đạo Trung Quốc rất quan tâm ưu ái, từ Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đến Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh... Rồi tin anh lâm bệnh nặng, có nguyện vọng trở về Cố quốc và ngày 21 - 10 - 1956 Tướng Nguyễn Sơn qua đời ở Hà Nội, hưởng thọ 49 tuổi đời ngắn ngủi.

  Khi đó tôi vinh dự được cùng đoàn cán bộ Bộ Tổng tham mưu đến viếng anh ở Câu lạc bộ Quân nhân đường Hoàng Diệu - Hà Nội, được nghe bài Điếu văn nhiều xúc động do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Hoàng Anh đọc, được kính cẩn nghiêng mình trước anh linh Tướng Nguyễn Sơn, vị lão thành cách mạng nổi tiếng đã góp phần công sức không nhỏ trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc những năm tháng đầu của kháng chiến và luôn ghi nhớ bài học quân sự nhiều dấu ấn do anh truyền đạt ở Soi Mít, khoá 4 khi ta chuẩn bị Tổng phản công - Trường Trung cao Quân sự Bộ Quốc phòng.

  Để kết thúc bài viết, xin được trích ghi một vài đoạn thơ của Hữu Loan khóc Nguyễn Sơn 1956, mà tôi cho là tâm đắc với nhiều người:

"Nguyễn Sơn như con tầu biển khổng lồ
Mang giông tố đại dương đi đến đâu không cho sóng ngủ
Nguyễn Sơn như núi lửa mọc ở đâu
Là gây những đám cháy
Vòng quanh....
...
"Một cuộc đời ngắn ngủi
Bao nhiêu là bất thường
Bất thường đến
Bất thường đi
Về bất thường
Chết lại càng không đúng lúc!
.....




"Và ngày 22 tháng 10 trên khắp nẻo đường Thủ đô
Một đám tang đã diễu hành
Một đám tang cờ đỏ liệm quan tài
Nấc lên màu huyết
Một đám tang đi
Không bao giờ tới huyệt!

Tháng  7 năm 1990
Logged

Duyên ấy kiếp sau tình chưa nhạt, thà phụ trời xanh chẳng phụ nàng!
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM