Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Tư, 2024, 01:19:59 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội  (Đọc 1362 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #10 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:25:06 am »

Liên khu 1 Hà Nội khá rộng, chiếm phần bắc nội thành, gồm phần lớn đất đai của quận Hoàn Kiếm ngày nay và một phần phía đông Quận Ba Đình.

Tuy rộng thế, song gần nửa phía tây của Liên khu I đã coi như là "đất địch chiếm" rồi. Ở đây có thành Hà Nội, Phủ Toàn quyền, trường Xa-rô, nơi địch tập trung quân. Đây cũng là nơi tập trung những biệt thự của các gia đình người Pháp, mà bà con ta hồi đó gọi là khu phố Tây. Phía Nam, giáp với Liên khu 2, ranh giới là các đường Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền kéo thẳng từ vườn hoa Cửa Nam ra Nhà Hát lớn, nhà Bác Cổ... cũng lại là khu phố Tây nữa, có nhiều vị trí đóng quân công khai hoặc bí mật của quân Pháp, kiều dân Pháp cũng đã được trang bị vũ khí dự tính đến nghìn tay súng. Thế là mặt tây, mặt nam Liên khu I đều là "đất địch". Mặt đông, trên sông Hồng, địch có thủy quân cắm ở Phà Đen, có thể nhanh chóng kiểm soát đoạn sông này. Còn mặt bắc, khi nổ súng thì chắc chắn là địch sẽ đánh chiếm ngay cầu Long Biên, đường Hàng Đậu để giữ lấy con đường giao thông huyết mạch Hà Nội - Gìa Lâm - Hải Phòng; hai khu Trúc Bạch, Hồng Hà sẽ bị cắt rời ra. Như vậy, chẳng phải là quân sự, ai cũng biết một khi địch trở mặt đánh úp, thì Liên khu I Hà Nội sẽ bị chúng bao vây bốn bề. Nhưng đất này lại được chọn làm nơi bám trụ. Về chính trị, đây là trung tâm thành phố. Ta còn giữ được ngày nào, giờ nào, thì ngày ấy, giờ ấy địch chưa thể nói là chúng đã chiếm được Hà Nội. Về mặt quân sự thì xét chung, cả thành phố, chỉ đây mới có địa hình địa vật thuận lợi để tổ chức một khu vực phòng ngự vững chắc, lại có tác dụng thu hút lực lượng địch rất mạnh, vì ở ngay bên sườn thành Hà Nội.


Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội quy định cho các lực lượng vũ trang trong liên khu I, gồm có tiểu đoàn Vệ quốc quân 101, và các đơn vị tự vệ chiến đấu, công an, tự vệ thành, như sau:

Khi nổ súng, các đơn vị đóng tại đâu phải kiên quyết chiến đấu tại chỗ. Sau 3 ngày đánh tiêu hao địch thì co dần lại, lấy đường Phùng Hưng, sát thành Hà Nội làm giới tuyến phía Tây; giới tuyến phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng; phía. Bắc là đường xe lửa chạy sang cầu Long Biên; phía Đông là đường Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật.


Trong khu vực trụ bám này, nhà cửa san sát, ta có thể đục tường thông từ nhà này sang nhà khác, để cơ động ở bên trong, đi suốt cả dẫy phố, khối phố, biến mỗi nhà, mỗi tầng gác, mỗi căn buồng thành một vị trí chiến đấu, mỗi dẫy phố thành một chiến tuyến. Trong khu vực này, đường xá chật hẹp, thuận tiện cho ta đào cắt đường, đắp chiến lũy, dùng vật chướng ngại, "cài then" chắn xe cơ giới địch. Toàn khu vực với hàng nghìn ngôi nhà cao thấp khác nhau, với những ngõ hẻm ngoắt ngoéo, có thể xây dựng thành một trận địa phòng ngự không chỉ kiên cố, hạn chế được sức phá hoại của bom đạn địch, mà còn là một loại trận địa đặc biệt phức tạp khiến cho địch có gặm từng miếng cũng khó chứ không thể đánh thọc sâu chia cắt ta được.


Mặt trận Hà Nội có 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân thì tiểu đoàn 101 cùng lực lượng đông đảo tự vệ thành của Liên khu I, hình thành một hạt nhân thật cứng ở trung tâm thành phố. Còn 4 tiểu đoàn 77, 212, 145 , 523 cùng các đơn vị tự vệ chiến đấu, công an tự vệ thành của các Liên khu 2, Liên khu 3 và các đơn vị dân quân du kích ngoại thành bao bọc chung quanh. Như vậy địch tuy mạnh nhưng sẽ rơi vào thế bị giằng co trước sau, phải phân tán lực lượng, tổn hao lực lượng, phải mắc kẹt trong tình trạng bùng nhùng như rơi vào bụi gai mây, xoay đằng nào cũng vướng, trở đằng nào cũng mắc.


Đầu tháng 11, Hà Nội triển khai các công việc chuẩn bị chiến đấu, thành lập các Ủy ban bảo vệ khu phố. Đồng chí Nguyễn Hữu Mai, chủ tịch Ủy ban bảo vệ Liên khu 1, triệu tập cán bộ nêu ra 5 việc khẩn cấp:

- Việc thứ nhất, củng cố các đơn vị tự vệ thành. Liên khu sẽ điều động một số cán bộ Vệ quốc quân, tự vệ chiến đấu đến các khu phố, đường phố, giúp các đơn vị làm kế hoạch tác chiến và huấn luyện quân sự;

- Việc thứ hai, động viên nhân dân dự trữ sẵn lương thực, thực phẩm từ một đến hai tháng;

- Việc thứ ba, xúc tiến việc huấn luyện cứu thương, mua sắm bông băng, thuốc chiến thương, chuẩn bị phương tiện làm cáng, đòn cáng, võng cáng...

- Việc thứ tư, huy động trong nhân dân và mua sắm thêm cuốc xẻng, xà beng, cọc sắt... để xây dựng các tuyến ngăn chặn xe tăng, xe thiết giáp, đào hào giao thông cắt ngang đường và đục tưởng xuyên từ nhà này sang nhà khác;

- Việc thứ năm, vận động nhân dân tản cư, các cụ già, cháu nhỏ, người ốm yếu cần được đưa đi trước, động viên thanh niên nam nữ tham gia các nhiệm vụ chuẩn bị chiến đấu.

Các khu phố thực hành chỉ thị chuẩn bị chiến đấu của Liên khu rất nghiêm chỉnh, khẩn trương.
Khu Đồng Xuân có sáng kiến tổ chức ra những ban bảo vệ đường phố, khu vực gồm các cụ có nhiều uy tín, các đảng viên, đại biểu các đoàn thể, nhờ đó mà những chủ trương của thành, của Liên khu được truyền đạt nhanh chóng đến từng nhà, từng hộ và ngược lại, những nỗi niềm thắc mắc lo âu cũng như những ý kiến đóng góp của nhân dân được phản ảnh đầy đủ lên cấp trên. Chỉ có một thời gian ngắn, các phố đã tổ chức xong các đội cứu thương, đội tiếp tế phục vụ nấu ăn cho bộ đội, tự vệ, số người tham gia các đội này đông tới hàng trăm, phần lớn là phụ nữ. Lại có những đội "công binh" nữa, gồm những thanh niên nam giới chuyên giúp anh em tự vệ làm công sự chiến đấu, đào hào giao thông.


Chưa nổ súng mà Ủy ban bảo vệ khu Đống Xuân cũng đã giành được một thắng lợi rất quan trọng, là xây dựng lòng tin. Cả khu vực đầu sóng ngọn gió này chỉ có một trung đội Vệ quốc quân đóng ở nhà số 1 phố Hàng Đậu, canh giữ cầu Long Biên. Tự vệ tuy đông 8 đại đội, hơn một nghìn người, song vũ khí rất thiếu, cứ mười người mới có một khẩu súng, dăm quả lựu đạn, lực lượng như thể chống chọi ra sao với một đội quân thiện chiến có đủ loại vũ khí. Qua nhiều đêm suy nghĩ, nhiều buổi bàn luận, đồng chí Chủ tịch Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân cùng các cán bộ chỉ huy tự vệ xác định rằng: Đây là cuộc chiến của quần chúng nhân dân tự vũ trang chống lại, một quân đội nhà nghề. Nhân dân là chiến sĩ, mà chiến sĩ lại là người chủ nhà nên công sự có thể đào đắp được cả ở ngoài đường và ở trong nhà, ở dưới đất và ở trên tầng cao. Người chiến sĩ không còn tiếc gì hết, có thể đem cả đồ đạc, vật tư của nhà mình ra để xây dựng những công sự kiên cố, vật chướng ngại, cuốc, xẻng, dao, gậy, thậm chí bát đĩa, chai lọ cũng có thể dùng làm vũ khí tiêu diệt địch bảo tồn mình. Ta phải làm chủ ở trong nhà, bắt địch ở ngoài đường, tường nhà là cái áo giáp che chắn cho ta chĩa súng ra bắn những tên địch ở ngoài đường. Ta có thể đánh địch từ nhiều ụ chiến đấu, tại nhiều lớp chiến hào phòng ngự, bắt địch phải bị động trên những đường đi chi chít những vật chướng ngại. Ta có thể đánh địch cả ở trong nhà, nó xông vào tầng dưới, ta vọt lên tầng trên đánh xuống, nó chiếm nhà này ta luồn sang nhà khác đánh quặt lại… Từ việc xác định tính chất cuộc chiến như vậy, Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân đề ra những quy định về tác chiến như sau:

- Mỗi đơn vị tự vệ có nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ trận địa của dãy phố, khối phố, khu vực mình.

- Các ụ chiến đấu nên đào ở trong nhà để giữ được bí mật;

- Đục tường nhà nọ thông với nhà kia để nối liền các ụ chiến đấu, đồng thời làm đường giao thông bí mật khi tác chiến ta không dùng mặt đường, vỉa hè để đi lại nữa, mà biến nó thành trận địa bẫy địch.

- Khi đã nổ súng phải đào gấp các đường ngầm cắt ngang đường, làm hào giao thông nối các khối phố khối nhà với nhau, đồng thời làm hào chặn xe thiết giáp địch.

- Mọi công sự (hầm, ụ chiến đấu, hào giao thông) đều phải đào sâu, có nắp che kín bên trên.

- Khi nổ súng, các cửa nhà đều phải đóng chặt, đằng sau xếp nhiều đồ đạc, bao đất, ngăn không cho địch lọt vào dễ dàng. Ngoài đường, hạ cột điện, ngả cây, dựng vật chướng ngại ngăn chặn địch, bắt địch dừng lại cho ta đánh.

- Mỗi tay súng không phòng ngự tiêu cực trong một ụ chiến đấu mà phải vận động qua nhiều vị trí khác nhau.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #11 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:25:49 am »

Hà Nội vừa bắt tay vào việc chuẩn bị chiến đấu thì có một lời "sấm trạng" từ các chợ. từ các tiệm ăn, quán cà phê, cứ thì thầm loang ra "Thăng Long phi chiến địa".

"Sấm trạng" được phun ra đúng lúc ở bên kia, chính phủ Pháp gặp cơn khủng hoảng, nội các Ri dôn, kẻ vừa gây bế tắc cho cuộc đàm phán Việt - Pháp vừa qua ở Phông-ten-nơ-blô - có cơ bị đổ, cho nên không ít người Hà Nội thích thú truyền tai nhau rằng; "Nước Pháp sẽ có một chính phủ mới, dân chủ và tiến bộ. Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp mồng 6 tháng 3 sẽ được tôn trọng. "Sấm trạng" khoét trúng tâm lý thèm khát hòa bình nên loang rộng rãi. Và rất thâm độc, những kẻ tung nó ra, bọn Việt gian tay sai của thực dân Pháp nhằm đúng cơ hội trong nhà ngoài phố đang xì xào "sấm trạng", mới phun tiếp những lời bàn nham hiểm Một mặt chúng ru ngủ: không có chiến tranh đâu. Cụ Hồ chủ trương giữ gìn hòa bình để đấu tranh buộc Pháp phải thi hành các điều khoản của hiệp định mồng 6 tháng 3, để giành lấy độc lập hoàn toàn bằng thương lượng. Mặt khác chúng hù dọa: "Việt Minh chọi nhau với Pháp thì khác nào châu chấu đá voi, làm gì có chuyện đánh nhau to ở Hà Nội được! Bất quá chỉ vài ngày là tan hết, là chạy bạt lên rừng mà đánh du kích"


Chiến tranh tâm lỷ của địch gây trở ngại không nhỏ đến việc chuẩn bị chiến đấu của ta. "Để chờ xem đã" nhiều ông, nhiều bà chủ nhà đã trả lời như vậy, khi cán bộ đường phố đến vận động chấp hành chỉ thị tản cư của Ủy ban bảo vệ thành phố. "Chờ xem đã", cứ những tốp thanh niên nam nữ được trả lời như vậy khi họ mang búa, mang đục đến các nhà trong phố để đục tường làm lỗ bắn và mở đường giao thông bí mật từ nhà này xuyên sang nhà khác. Và thế là chưa nổ súng, các đội tự vệ thành Hà Nội đã phải đảm nhiệm vai trò xung kích cùng với các cán bộ đoàn thể thanh, niên, phụ nữ đánh bại các thủ đoạn chiến tranh tâm lý của địch.


Đứng trước ngưỡng cửa chiến tranh, không phải là người Hà Nội không dằn vặt, đắn đo, suy nghĩ. Người giàu có, nhà cao cửa rộng, tiện nghi sang trọng, cũng như người nghèo túng chỉ đủ tiền thuê một chỗ kê tấm phản, ai nấy đều lo tính chuyện mất còn của riêng tư… Sẽ ra sao khi phố phường là trận địa, mỗi nhà là một vị trí chiến đấu? Nhân dân mong ước được sống hòa bình. Chính phủ ta vì cố giữ lấy hòa bình mà đã nhân nhượng với đế quốc Pháp, nhân nhượng rất nhiều, đến mức cuối cùng rồi, nhân nhượng thêm nữa là phạm đến chủ quyền của đất nước.


Các chiến sĩ Vệ quốc quân, Công an, đóng trên đất liên khu I - Hà Nội, các chiến sĩ tự vệ thành của các đường phố trong Liên khu I - Hà Nội, cả những cán bộ chỉ huy của họ, không ai được biết phương án tác chiến "Trong đánh ra, ngoài đánh vào" của Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội, mả chính họ những người có nhiệm vụ trụ lại ở bên trong, thu hút địch vào trung tâm thành phố. Vấn đề này tuyệt mật. Họ chỉ được truyền đạt tinh thần chủ đạo "mỗi phố là một trận tuyến, mỗi nhà là một pháo đài, giữ từng bờ tường, tấc đất". và khẩu hiệu cổ động ý chí quyết chiến "Sống chết với thủ đô Hà Nội". Song ai nấy đều hiểu nhiệm vụ xác định rõ trách nhiệm của mình với thủ đô, với thanh danh Thăng Long ngàn năm văn vật, nơi lắng hồn núi sông Việt Nam. Trong những ngày này, những người con trai, con gái của phố phường Hà Nội chưa hề xông pha trận mạc bao giờ, cùng chụm mái đầu xanh sôi nổi bàn việc đánh giặc, mà chiến trường là ở ngay trước cửa nhà mình, trong nhà, trong sân, trong căn buồng nho nhỏ của mình.

Chị Nguyễn Thị Hảo kể rằng:

"Hồi ấy tôi là công nhân nhà máy nước đá. Nhà máy này của chủ Tây, có lính Tây canh gác, trước mặt nhà máy, đường Trần Quang Khải rộng thênh thang, làm sao cản được xe tăng địch? Đặt mìn, anh em tự vệ bàn như vậy. Song ta chỉ có dăm quả mà mặt đường nhựa phẳng lì, đào chỗ nào lộ chỗ đó, thì địch nào có sợ? Có ai đó, tôi không nhớ tên, nêu ý kiến: Vậy thì đào nhiều lỗ vào, đào lung tung, địch biết chỗ nào có mìn, chỗ nào không, đánh giặc phải biết nghi binh giỏi. Ý kiến hay. nhưng bàn ra, bàn vào thì ý kiến cuối cùng mới thật hay: Cần gì phải đào ?’ Cứ đặt mìn ngay trên mặt đường rồi úp cái rổ lên trên, úp lung tung đủ thứ rổ, rá, cả nón rách nữa, chi chít kín mặt đường, thành bãi mìn như vậy địch biết đâu là thật, đâu là giả? Cho dù có biết trăm cái giả, mới có một cái thật, nó cũng không dám lao bừa. Nỏ phải dừng lại chui ra khỏi xe thăm dò và giơ thân cho ta bắn... Cuối cùng tôi được phân công thu nhặt các thứ rổ, rá, nồi đất, chậu sành... để làm bãi mìn trên đường nhựa.


Anh Văn Bích, đội trưởng tự vệ phố Bắc Ninh kể lại:

"Khu vực chiến đấu của chúng tôi có hai con đường: đường Bờ sông (nay là phố Trần Quang Khải), đường Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), cả hai đều rộng lớn, xuyên dọc Liên khu 1, nhưng chỉ đến khi nổ súng mới được phép làm vật chướng ngại bố trí mìn, đào đường ngăn chặn xe cơ giới địch từ phía cầu Long Biên qua Cột đồng hồ xuống đến Nhà Bác Cổ (nay là Viện bảo tàng lịch sử), Nhà hát lớn, phố Tràng tiền và ngược lại. Chúng tôi lo mất ngủ về việc này. Chỉ có cách hạ cây là nhanh nhất, hạ cây chặn đường, rồi đặt mìn, cuối cùng đào cắt mặt đường. Nhưng hạ cây thế nào cho nhanh? Chúng tôi làm thí nghiệm. Chọn một cây nhỏ, đường kính của thân độ một gang tay, đục lỗ, nhồi mìn rồi cho nổ. Song, thất bại, cây vẫn đứng sừng sững, lỗ đục chỉ toác rộng ra: một chút. Hỏi ra, mới biết là sai kỹ thuật. Cái mà chúng tôi đã dùng đề thí nghiệm hạ cây chỉ là kíp mìn, còn phải có thuốc nổ nữa. Một mặt chúng tôi báo cáo lên Ủy ban bảo vệ khu phố, lên thành xin thuốc nổ vì phải ngả đến dăm chục cây to, mặt khác, chúng tôi họp anh em tự vệ, bàn xem có cách nào hạ cây mà không cần đến thuốc nổ. Không ngờ, một anh thợ mộc vốn ít lời trong các cuộc họp hành lại là người cởi được mối lo chung: "có thuốc nổ càng hay không thì kiếm lưỡi cưa sẻ, bên phố Lò Sũ thiếu gì?". Bốn năm anh tự vệ người phố Lò Sũ. Hàng Thùng, Hàng Tre, toàn tay thợ sẻ gỗ cả, vỗ đùi đôm đốp tán thành: "Đúng rồi, cứ ngóng tận đâu ấy, sao không nghĩ đến cái cưa của mình? Nhưng phải bắt đầu ngay, chứ có lệnh mới làm thì vẫn chậm".


Thế là chúng tôi bàn kế hoạch hạ cây bằng cưa như sau:

Cưa sẵn độ 3/4 đường kính của thân cây, chỗ cưa cách mặt đất khoảng một mét. Khi có lệnh cưa tiếp thêm đồng thời dùng chão kéo đổ cây, không cưa cây nhỏ, chọn toàn cây to. Cách 3, 4 cây mới cưa sẵn một cây.


Xong chuyện hạ cây, tiếp đến việc bố trí bãi mìn cũng phải bàn, phải tính nhức đầu, càng tính toán chi li càng thấy khó khăn nhiều. Vì chỉ có mấy quả thôi mà phải bố trí một bãi mìn rộng hơn ba vạn mét vuông như ở Cột đồng hồ thì lấy đâu ra? ít nhất cùng phải có hàng trăm quả. May quá, đang bí thì được tự vệ nhà máy nước đá gỡ cho bằng cái sáng kiến "chậu sành, nồi đất đánh Tây", làm bãi mìn giả, cứ úp lên mặt đường la liệt những nồi niêu thúng mủng, thùng, sọt mũ, nón... thằng giặc nào dám phóng xe qua, dám dẫn chân lên? ".


Những ngày này cũng có không ít đội viên tự vệ, cả cán bộ nữa, lo sợ bị địch bao vây, sợ chiến đấu ác liệt, đã lẩn trách nhiệm vụ kiếm cớ đau ốm, hay phải đưa gia đình đi tản cư rồi đi biệt. Nhưng nhiều người khác lại xin được gia nhập đội ngũ chiến đấu. Đó là những chàng trai, cô gái trước đây còn mải mê đèn sách học hành, là những người từ nông thôn ra thành phố làm thuê suốt ngày bận rộn với công việc nhà chủ. Đó là những trường hợp đặc biệt, như : "Anh Trần Gia Phỏng (nay là đại tá Hải quân) vào Sài Gòn sinh sống từ năm 1940 tham gia bộ đội Nam Bộ, thuộc đơn vị Bà Rịa, được nghỉ phép ra Bắc tìm gia đình ở phố Hàng Chiếu. Anh Phạm Quang (nay là thượng tá hiệu trưởng trường Trung học cảnh sát nhân dân - Thủ Đức) học sinh Sài Gòn ra Bắc với tấm giấy giới thiệu của đoàn thể xin vào trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Trong khi chờ đợi ngày tựu trường, anh tạm trú tại nhà người quen ở phố nhà Thờ lớn rồi gia nhập đơn vị tự vệ phố này.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #12 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:35:35 am »

CHƯƠNG III
19-12-1946


Đác-giăng-li-ơ rắp tâm đánh một đòn quyết định tình thế vào đầu năm 1947, một đòn thật mãnh liệt bất ngờ "tiêu diệt lực lượng quân sự của Việt Minh, vô hiệu hóa chính phủ Hồ Chí Minh". Viên cao ủy Pháp rất hiếu chiến này cả tin chắc thắng. Bởi lẽ, theo ông ta thì đến mùa thu năm 1946, quân viễn chinh Pháp đã đứng chân vững chắc trên các vũng chiếc lược quan trọng ở khắp Đông Dương. Còn chính phủ Việt Minh chỉ là một chính phủ chưa vững chắc của một quốc gia mới phôi thai, không có khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại nước Pháp, Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa bị bao vây chia cắt, không có nguồn tài chính, thiếu lúa gạo của Nam kỳ cung cấp, quân đội còn non nớt, vũ khí quá thiếu thốn trang bị quá nghèo nàn, làm sao có thể đương đầu với đạo quân viễn chinh Pháp? Trong điều kiện như vậy, rõ ràng là có thể loại trừ chính phủ Việt Minh và thay vào đó là chính phủ khác. Những người cộng sự thân cận của Đác-giăng-li-ơ, đặc biệt là Tổng chỉ huy quân viễn chinh tướng Va-luy hoàn toàn nhất trí với ông ta: Trước mắt, nhiều lắm cũng chỉ là một chiến dịch tiến hành dưới hình thức một hành động mãnh liệt, nhanh chóng đánh tan rã lực lượng quân sự Việt Minh rồi tiếp theo đó là một thời kỳ bình định.


Việc chuẩn bị đánh đòn quyết định được gấp rút triển khai cùng lúc với chỉ thị của Đác-giăng-li-ơ ngày 25 tháng 10-1916: "phải có một sự phản xạ chủ động". Viên cao ủy bật đèn xanh cho các cấp dưới quyền được tự do hành động, tạo ra những cớ, những cơ hội lấn chiếm, mở rộng phạm vi kiểm soát ở các nơi được đóng quân theo hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3. Rồi ngày 11 tháng 11, trước khi về Pa-ri trình bày ý đồ lớn với chỉnh phủ Pháp, Đắc-giăng-li-ơ giao trách nhiệm cho tổng chỉ huy Va-luy rằng: "phải sẵn sàng thích ứng bằng một hành động đùng sức mạnh nhằm vô hiệu hóa chính phủ Hà Nội về chính trị và tinh thần".


Chỉ một tuần sau đó, bùng nổ ra các vụ xung đột ở Hải Phòng và Lạng Sơn.

8 giờ 20 phút ngày 20 tháng 11, chiếc tàu LCA của hải quân Pháp chặn bắt một tàu chở xăng dầu của một nhà buôn người Hoa, có giấy phép nhập cảnh của hải quan Việt Nam. Lính Pháp đã nổ súng khi nhân viên hải quan và công an Việt Nam đến can thiệp, và rất nhanh chóng tiếng súng lan ra nhiều nơi, trên bến, dưới sông, trong cảng Hải Phòng, đến ngoài phố. Nhiều đoàn xe thiết giáp của quân đội Pháp gầm rú như điên, chạy ngang chạy dọc thành phố. Nhân dân Hải Phòng liền dùng vật chướng ngại chặn các ngả đường. Cuộc xung đột mỗi lúc thêm bùng to ra, bởi viên đại tá Đép-bơ (Dèbes) đã được tướng Va-luy khuyến khích "… lợi dụng tình thế này mà mở rộng phạm vi chiếm đóng, với mọi phương tiện sẵn có. Cần làm chủ toàn bộ Hải Phòng".


Những ngày tiếp sau, các trận đánh quyết liệt diễn ra trên nhiều đường phố. Cuối cùng, có thêm quân tăng viện và có hỏa lực chi viện rất mạnh của hải quân, không quân, đến ngày 27, Đép-bơ chiếm được Hải Phòng, mở rộng phạm vi chiếm đóng đến sân bay Cát Bi, kiểm soát một khu vực rộng từ Cửa Cấm đến Lạch Tray.


Cùng dịp với vụ cướp Hải Phòng là Lạng Sơn. Ngày 21 tháng 11, viên đại tá Xi-de (Sizaire) cố tình gây ra một chuyện rắc rối trên đường giao thông rồi tung quân đánh úp chiếm thị xã.


Hai vụ Hải Phòng, Lạng Sơn bộc lộ rõ rệt mưu đồ của Đác-giăng-li-ơ quyết dùng vũ lực xâm chiếm Việt Nam. Tuy nhiên ủy ban liên hệ về Đông Dương của chính phủ Pháp họp tại Pa-ri ngày 13 tháng 11 lại đồng tình với đường lối thực dân phản động này. Thủ tướng Bi-đôn quyết định đưa thêm viện binh sang Đông Dương và chỉ thị cho Đác-giăng-li-ơ là "cần phải cho bắn đại bác". Như vậy, trên thực tế, hiệp định sơ bộ Việt - Pháp ký ngày 6 tháng 3 năm 1946 đã bị phía Pháp đơn phương xé bỏ, quân viễn chinh Pháp đã được lệnh chĩa nòng súng vào chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa.


Hà Nội ráo riết chuẩn bị kháng chiến.

Các nhà máy, xí nghiệp chuyển máy móc, nguyên liệu ra ngoài thành phố; các cơ quan chính phủ, các Bộ, chuyển dần lên căn cứ địa Việt Bắc, nhân dân tản cư về nông thôn. Liên tục ngày đêm, những xe ô tô vận tải, xe bò, xe xích lô chở cát từ ngoài bờ sông Hồng vào các phố để sẵn sàng nhồi vào bao tải, bao cói, đắp ụ, dựng chướng ngại vật chắn ngang đường. Công nhân nhà Ga Hà Nội chuẩn bị sẵn một đoàn tàu gồm những toa chở đá để khi có lệnh sẽ đẩy ra chắn đường Sinh Từ (nay là Nguyễn Khuyến), đường Hàng Đẫy, đường Cột Cờ (đường Điện Biên Phủ), ngăn cản xe cơ giới địch từ trong thành tiến qua ngã tư Cửa Nam. Các cơ sở sản xuất, các cửa hiệu và từng nhà thu dọn các đồ vật cồng kềnh để sẵn sàng khiêng ra mặt đường tạo nên những đống chướng ngại vật.


Ngày qua ngày, phố xá, chợ búa thưa bớt người vắng hẳn đi. Những người Hà Nội ra đi không phải là chạy trốn. Công tác tuyên truyền chuẩn bị cho một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện mà Đảng ta tiến hành rất bền bỉ ngay từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, đến lúc này đã thấm sâu vào trí óc mỗi người dân. "Tản cư là yêu nước" người Hà Nội xa rời thành phố thân yêu với ý nghĩ như vậy. Những người chưa ra đi phần còn thu xếp việc nhà, phần vì còn phải tranh thủ góp công, góp sức cùng các lực lượng vũ trang của Hà Nội xây dựng thế trận phá âm mưu đánh úp của địch.
Trong Liên khu I, công tác chuẩn bị tập trung vào khu vực trụ bám. Những ban công, cửa sổ, mái nhà, đều trở thành những vị trí chiến đấu. Tường trong nhà, ngoài sân, trên gác. đều đục thủng thành lỗ giao thông, mở đường đi từ nhà này sang nhà khác, xuyên dọc cả dãy phố.


Sang tháng 12, tình hình Hà Nội thêm căng thẳng vì những hành động khiêu khích, cướp hóc. bắn giết của quân Pháp. Để buộc địch phải dè chừng. Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội tổ chức một cuộc nghi binh lớn với sự hỗ trợ của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây. Hàng ngàn dân quân của các tỉnh này được huy động về tập trung ở các vùng ngoại thành Hà Nội, cứ tối đến, rầm rập kéo vào trong phố, nửa đêm về sáng lại lặng lẽ bí mật rút ra. Suốt một tuần liền những cuộc hành quân này khiến cho địch tưởng rằng Hà Nội đã được tăng cường thêm hàng vạn quân.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #13 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:37:10 am »

Đến giữa tháng 12. trong Hà Nội lại xì xầm một tin đồn "thế mà không đánh nhau đâu". Nhiều người thích thú với lời dồn này, bởi lẽ ở bên Pháp, Bi-đôn đã buộc phải từ chức ngày 12 tháng 12 và Lê-ông Blom (Blum) được cử làm Thủ tướng lập chính phủ mới. Công chúng Pháp đang lo ngại về tình hình căng thẳng nghiêm trọng ở Việt Nam, đặt nhiều hy vọng vào Blom một con người được giới thiệu là "suốt đời bảo vệ hòa bình và tán dương nền độc lập của các dân tộc thuộc địa". Tin đồn "không đánh nhau đâu" lan ra phố phường cùng với lời tuyên bố của Xanh-tơ-ni mới từ Pháp bay đến Hà Nội:

"Người ta không cử tôi, người ký kết các hiệp định ngày 6 tháng 3 đến Hà Nội để đem sự đổ vỡ và chiến tranh". Nhưng tin đồn này đã tắt ngóm ngay vì những hành động khiêu khích ngày càng tăng của binh lính Pháp đi đôi với lời đe dọa hung hăng của Đác-giăng-li-ơ ngày 15 tháng 12: "Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, là lãnh thổ của nước Pháp".


Bọn thực dân hiếu chiến đã chiếm được Hải Phòng rồi, giờ đây chúng tính đến mục tiêu chủ yếu.
Từ sáng sớm ngày 17 tháng 12, sương mù chưa tan hết, máy bay trinh sát của quân đội Pháp đã ù ì vòng trên bầu trời Hà Nội. Lần đầu tiên, quân xâm lược giở trò khiêu khích như vậy tại thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.


8 giờ, một xe chở lính lê dương bắn vào phố Yên Ninh.

10 giờ, quân Pháp ra Hàng Bún phá những ụ chiến đấu của tự vệ. Tiếp đó chúng bao vây uy hiếp đồn công an Hàng Đậu và 12 giờ trưa chúng đốt phá nhiều nơi ở Hàng Bún, Yên Ninh, Quan Thánh.
Trước tình hình nghiêm trọng ấy, ủy ban bảo vệ khu Trúc Bạch huy động lực lượng tự vệ đến từng nhà trong khu vực bị uy hiếp giúp đỡ bà con đi tản cư ngược lên phía Yên Phụ.


Khoảng 3 giờ chiều, súng cối của địch từ trong Thành bắn vào phố Yên Ninh. Sau đó, lính lê dương xông vào các nhà tìm bắt thanh niên. Chúng xả súng bắn vào những người phản đối, 43 người bị giết chết, chúng bắt đem vào trong thành 15 nữ thanh niên.


Cũng ngày 17, địch gây sự ở phố Hàng Vôi (nay là phố Lý Thái Tổ), phố Bắc Ninh (nay là phố Nguyễn Hữu Huân), lính lê dương đi dọc hai bên hè phố đứa nọ cách đứa kia chục mét, tay lăm lăm khẩu súng. Chúng tìm cách khiêu khích ta ở khu vực này, nơi có nhiều cơ quan của chính phủ và của thành phố. Nhưng các nhà ở đây đã được lệnh đóng kín cửa, đường vắng tanh. Cuối cùng, đi đến Cột đồng hồ, chúng lên xe phóng thẳng về phía cầu Long Biên.


Ngày 18 tháng 12, quân Pháp nổ súng ở Hàng Lược, bắn chết một phụ nữ, ở Hàng Đậu bắn bị thương một vệ quốc quân, ở Hàng Than giết một cụ già, ở Hàng Giấy giết một thanh niên. Xe thiết giáp của chúng bò đến cửa chợ Đồng Xuân bắn trọng liên 12 ly 7 lên nóc chợ và bắn lên tầng gác các nhà quanh đó.


Cùng ngày, chúng chiếm Nha tài chính (nay là Bộ ngoại giao) và Sở giao thông công chính (nay là Bộ thủy lợi)

Qua hai ngày gây rối loạn, đến 21 giờ ngày 18 tháng 12, tướng Moóc-lie gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí của công an, tự vệ Hà Nội, đòi chính phủ Việt Nam phải trao quyền kiểm soát trật tự an ninh trong thành phố cho quân đội Pháp và gia hạn, nếu đến sáng ngày 20, những điều kiện đó không được chấp nhận thì quân đội Pháp sẽ chuyển sang hành động.


Như vậy. kẻ xâm lược đã công khai tuyên chiến, hẹn ngày hẹn giờ đánh Hà Nội.

Và, Hà Nội cũng công khai trả lời kẻ gây chiến bằng những dòng người di tản cư, ra đi kháng chiến. Những khẩu hiệu mọc lên chi chít trên khắp các đường phố "Sống chết với Thủ đô" "Thà chết không chịu sống làm nô lệ".


Rất bình tĩnh, Hà Nội nín nhịn, tránh mọi hành vi khiêu khích của kẻ thù và tranh thủ từng giờ từng phút chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi vào cuộc chiến.

Sáng ngày 19 tháng 12, Ủy ban nhân dân thành phố triệu lập cán bộ tự vệ đến Tòa Thị chính nhận chỉ thị khẩn cấp. Cuộc họp biến thành lễ tuyên thệ. Đại diện cho 8200 đội viên tự vệ toàn thành, những người chỉ huy tự vệ các đường phố, khu phố thề trước Quốc kỳ;

- Nghiêm chỉnh, sẵn sàng chờ lệnh của Chính phủ, của Hồ Chủ tịch.

- Tự vệ Thành sống chết với thủ đô.

Tại đình làng Mọc, đại biểu các đơn vị Vệ quốc đoàn đóng ở phía Nam Hà Nội làm lễ tuyên thệ "quyết tử bảo vệ Thủ đô".

Tại Bắc bộ phủ, tiểu đoàn Vệ quốc quân 101 làm lễ nhận danh hiệu "Đội quyết tử của thủ đô".
Càng về trưa, Hà Nội càng ngột ngạt không khí căng thẳng, chợ búa không người, các cửa nhà khép kín, đường sá vắng tanh vắng ngắt.


10 giờ, tại Sở chỉ huy ở sân bay Bạch Mai, Bộ chỉ huy Mặt trận Hà Nội triệu tập các cán bộ chủ chốt của các Liên khu, các tiểu đoàn trưởng.

Mọi người trong phòng họp đứng tất cả dậy khi đồng chí chỉ huy trưởng mặt trận nghiêm trang tuyên bố: "chúng ta đã được lệnh đánh". Phút chốc biến mất hết những vẻ mặt trầm ngâm, căng thẳng của nhiều ngày đêm làm việc mệt mỏi, đối phó nhẫn nhục với các hành động khiêu khích ngang ngược của địch. Ai nấy hoan hỉ, nhìn nhau cười nhòa nước mắt sung sướng vì sắp được nổ súng, trút xuống đầu quân cướp nước hết mọi căm hờn chồng chất phải cố nén chặt bấy lâu nay.


Với quân Pháp thì ngày 19 tháng 12 là ngày chúng chuẩn bị để "chuyển sang hành động" nắm quyền kiểm soát thành phố Hà Nội. Những đoàn xe tuần tiễu của chúng chạy liên tục trong các phố người Pháp sống tập trung, đặc biệt là trên trục đường cắt ngang thành phố, từ quảng trường Ba Đình qua vườn hoa cửa Nam đến Nhà hát lớn. Chúng dùng tiếng xích sắt của xe cơ giới bọc thép nghiến trên mặt đường nhựa để ra oai uy hiếp tinh thần người Hà Nội.


Đến tối, mục tiêu uy hiếp của địch chĩa thẳng vào khu vực tập trung các cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

19 giờ 15, một đoàn 5 xe thiết giáp ầm ầm phóng dọc đường Tràng Thi, Hàng Khay. Tràng Tiền, Ngô Quyền, chạy vòng quanh khu vực Bắc Bộ phủ.

19 giờ 50, đoàn xe này phân tán trên ba địa điểm: một chiếc đỗ ở đầu phố Hàng Khay, chĩa nòng súng liên thanh 12 ly 7 vào cổng chính đồn Công an Hàng Trống. Hai chiếc trấn trước Nhà hát lớn. Hai chiếc đứng trước Nhà ngân hàng, quay đầu xe về phía Bắc bộ phủ
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #14 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:38:10 am »

Kẻ địch giương oai diễu võ trước mắt, nhưng đến lúc này các chiến sĩ Vệ quốc quân bảo vệ dinh Chủ tịch không cảm thấy căng thẳng bực bội như các lần bị khiêu khích trước kia nữa: họ đã được phổ biến lệnh chiến đấu. Họ đếm từng phút mong chóng đến giờ G nổ súng.


Giờ G là 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946. và kim đồng hồ đã chỉ đúng giờ G. Tất cả cán bộ của Sở chỉ huy tiểu đoàn 101 đặt trong Bắc bộ phủ đều ngạc nhiên nhìn nhau "kìa, sao chưa có hiệu lệnh chiến đấu?" Rồi một phút hồi hộp qua đi. Có tiếng chuông điện thoại, Từ nhà Đèn Bờ hồ, trung đội trưởng Phúc Ánh người được giao trách nhiệm chỉ huy một tốp công nhân nhà máy tắt điện, hỏi tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Triệu: "Sao chưa thấy gỉ?". Phúc Anh cũng đang sốt ruột chờ hiệu lệnh, chờ đại bác ở ngoại thành lên tiếng, chờ nhà máy điện Yên Phụ, nguồn điện chính của toàn thành phố tắt trước.


20 giờ 03 phút, Điện tắt.

Công nhân nhà máy điện Yên Phụ hoàn thành nhiệm vụ phá diện rất xuất sắc. Đồng chí Nguyễn Giang, cán bộ công vận, kể lại trận đánh rất quan trọng mở đầu đêm lịch sử 19-12-1946 như sau:
- Trung tâm Yên Phụ cung cấp điện cho Hà Nội và các tỉnh lân cận. Từ đầu tháng 12-1946, đồng chí Nguyễn Văn Trân giao cho tôi nhiệm vụ làm kế hoạch phá điện Yên Phụ. Trong buổi giao nhiệm vụ này còn có đồng chí Trần Quốc Hoàn, đồng chí Vương Thừa Vũ, đồng chí Trần Độ. Các anh dặn đi dặn lại: "Điện tắt là hiệu lệnh chiến đấu, hiệu lệnh kháng chiến toàn quốc, nhiệm vụ rất quan trọng.

Nhưng khi ta đã nổ súng thì địch nó sẽ tấn công chiếm nhà máy điện ngay, cho nên phá thế nào mà chúng không thể sử dụng ngay được, phải phá thật hiểm". Các anh còn dặn "Bí mật tuyệt mật". Bấy giờ ở nhà máy điện Yên Phụ, ta và địch cùng gác chung, lính địch canh gác bên trong, bên ngoài nhà máy cẩn mật lắm. Tất nhiên lính nó đứng ở đâu thì cũng có một đồng chí Vệ quốc quân đứng kèm, rồi suy tính, chỉ phá tuyếc-bin là hiểm nhất. Nhưng nhà máy những 4 tuyếc-bin: 2 máy sống (tức là máy đang chạy) và 2 máy chết (tức là máy dự phòng) làm thế nào phá tất cả, lại phải thật nhanh. Giả dụ mỗi người phá một máy thì gọn quá, song không thể vào nhiều được: địch nó gác ngay cạnh máy, hơn nữa nhiệm vụ tuyệt mật không thể dùng nhiều người. Cuối cùng ý đồ được duyệt như sau: dùng axit đổ vào 2 máy dự phòng, song đặt mìn 2 máy sống. Như vậy vào phá máy chỉ cần 2 người, tôi là một rồi, người thứ 2 thì đến phút cuối cùng mới gọi cũng được, giữ bí mật đến cùng.


5 giờ chiều ngày 19 tháng 12 tôi mới được nhận vũ khí: 2 chai a-xit, 2 quả mìn. Đồng chí Trần Quốc Cư ra lệnh: đúng 8 giờ tối phá máy. Tôi hỏi: "Bộ đội gác Yên Phụ có biết việc này không? Câu trả lời là "Bộ đội toàn thành phố đã được lệnh. Tối nay diện tắt thì nổ súng!"


Cùng làm nhiệm vụ với tôi có đồng chí Dung, công nhân diện. Chúng tôi đem vũ khí vào phá máy. Và người thứ ba nữa. Cai Thăng, phải có ông này, người có trách nhiệm kiểm tra máy, để đưa chúng tôi qua cửa buồng máy, trước mắt tên địch canh gác.


Chúng tôi vào buồng máy lúc 19 giờ 50 phút, làm các động tác bình thường của những người kiểm tra máy. Trước hết, đồng chí Dung và tôi mỗi người một chai axit đổ vào hai tuyếc-bin dự phòng, sau đó đặt mìn vào hai máy sống. Mọi việc xong xuôi, bên ngoài từ cái loa phóng thanh của nhà máy vang vang giọng nói thân thuộc: "Đây là Tiếng nói Việt Nam" 20 giờ rồi, đến giờ rồi, tôi xúc động nóng bừng cả người, giơ tay làm hiệu cho ông Cai Thăng giật cầu giao, cắt điện. Rồi cùng đồng chí Dung mỗi người điểm hỏa một quả mìn…


20 giờ 03 phút. Điện tắt. Toàn thành phố chìm trong đêm tối, vắng lặng đi trong giây lát. Rồi tiếng súng, tiếng lựu đạn, tiếng mìn, tiếng thét xung phong. Cây cối vặn mình đổ ầm ầm, cả Hà Nội vùng lên dội bão lửa xuống đầu quân xâm lược một đòn bất ngờ choáng váng.


Lần đầu xung trận, tất nhiên khó lường trước được những vấp váp. Không ít trận trong đêm 19 này rất tốn đạn, bị thương vong mà không biết là có diệt được tên địch nào không. Đó là những trận đánh vào vị trí địch.


Đơn vị tự vệ công nhân Nhà Đèn Bờ Hồ cầm chắc sẽ tiêu diệt gọn tiểu đội địch canh gác ở đây. Họ bố trí sẵn các mặt, cả trên mái nhà. Họ nắm quyền chủ động tiến công, điện tắt là nổ súng, ném lựu đạn ngay, đánh bất thần, uy hiếp địch cả bằng súng đạn và nghi binh la hét. Nhưng khi xung phong thì chỉ còn thấy vài vệt máu tươi, địch chạy biến đâu từ bao giờ không biết.


Một trung đội Vệ quốc quân được giao nhiệm vụ tập kích nhà tướng Moóc-lie phố Hàng Trống, một biệt thự lớn cô lập, chung quanh tòa nhà người Việt Nam ta cả, Có nhiều thuận lợi cho ta tiếp cận địch, giữ bí mật. Nhưng rút cục trận đánh chỉ có giá trị như một trận quấy rối nghi binh.


Ta chưa biết cách đánh tập kích. Tuy nhiên, hàng loạt các vị trí nhỏ của địch đóng rải rác trong các phố đều bị uy hiếp nên địch buộc phải tung quân cơ động đi ứng cứu, giải vây và do vậy ta có điều kiện đánh phục kích. Chỉ một đoạn đường ngắn từ cửa Nam đến Nhà hát lớn, đã hơn chục xe thiết giáp, xe vận tải bị cháy, bị lật đổ, bị đánh đứt xích, nằm bẹp dí. Trong số đó có chiếc xe thiết giáp chở Xanh-tơ-ny, ủy viên Cộng hòa Pháp ở Bắc Đông Dương. Về sau, trong cuốn hồi ký của mình, Xanh-tơ-ny kể rằng:

... "Môt chiếc xe thiết giáp đưa tôi về thành gặp tướng Moóc-lie. Vừa đến phố Tràng Tiền thì vấp phải một quả mìn cỡ lớn, mìn nổ làm cho xe lao vào vỉa hè và đâm xầm vào mặt trước một hiệu buôn, quầy hàng sập đổ tan tành. Một trận mưa lựu đạn ném tới. Lửa bốc cháy. Tôi cố chui ra khỏi xe, lúc này đã trở thành một lò lửa. Mấy người cùng đi (trưởng xe, pháo thủ, lái xe, thông tin vô tuyến điện) dần dần cùng chui ra thoát, người nào cũng bị thương nặng, song đều cố lết ra vỉa hè tìm chỗ ẩn nấp, tránh những mảnh lựu đạn và nhất là tránh những viên đạn đang tự do nổ trong xe, tung mảnh ra mọi phía. Cũng có thể là những viên đạn nổ tứ tung này đã ngẫu nhiên tạo ra một khu vực bảo vệ cho những người bị thương không bị đối phương kết liễu cuộc đời của họ. Tỏi và mấy người cùng đi phải chờ gần hai tiếng đồng hồ mớí được đội xe thiết giáp đến cứu, đưa vào trong Thành".
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #15 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:38:55 am »

Trong số những trận đánh có hiệu quả của quân ta đêm nay, nổi bật nhất là trận đánh 6 phố Hàng Đậu.

Nơi đây, mặt đường rộng rãi, là đường đi lối lại của địch từ Hà Nội qua cầu Long Biên sang sân bay Gia Lâm, ta không thể đào cắt từ trước được, mà ngay những vật dùng làm chướng ngại cũng phải dấu kín. Ta dự kiến rằng ngay từ phút đầu tiên của cuộc chiến đấu thế nào địch cùng tung một lực lượng mạnh ra chiếm phố Hàng Đậu để kiểm soát cầu Long Biên.


Đúng như vậy, chỉ mười phút sau khi Hà Nội nổ súng địch phóng ngay một đoàn xe hơn ba chục chiếc ra đây. Nhưng mặt đường Hàng Đậu không còn thênh thang nữa. Đại đội tự vệ Hàng Đậu gồm những người thợ nguội, thợ mộc, thợ hàn, thợ sửa chữa ô-tô, những người lái xe vận tải, đã "cài then cửa" rất nhanh. Phố này có những xưởng sửa chữa xe máy, xưởng xẻ gỗ, xưởng củi, có nhiều xe bò, nhiều vật liệu nặng, cồng kềnh. Các chiến sĩ tự vệ chuẩn bị sẵn những xe chở các vật làm chướng ngại giấu trong các phố Hồng Phúc, Nguyễn Thiệp. Có lệnh chiến đấu, họ đẩy các xe ấy ra lật đổ ngổn ngang trên mặt đường.


Đầu đường Hàng Đậu nối liền với cầu Long Biên bên dốc lên cầu có một điểm đóng quân của một trung đội lính Pháp. Đối diện với địch nhà số 1 phố Hàng Đậu ở góc đường Hàng Đậu, Trần Nhật Duật là trụ sở Ủy ban bảo vệ khu Đồng Xuân, đồng thời là doanh trại của trung đội vệ quốc quân. Ta với địch hai bên cùng canh gác cầu.


Cuối đường Hàng Đậu có đài chứa nước hình trụ do thực dân Pháp xây dựng từ cuối thế kỷ trước, nhân dân ta quen gọi là tháp nước trên. Đối diện với tháp nước này là đồn Công an Hàng Đậu.

Đường Hàng Đậu tử tháp nước tròn đến dốc cầu Long Biên chỉ khoảng 300 mét là một chiến trường quyết liệt trong đêm đầu kháng chiến. Địch cần nhanh chóng kiểm soát đường Hàng Đậu để tiến lên cầu Long Biên, rải quân giữ đường giao thông sinh tử của chúng ta từ Thành Hà Nội đến sân bay Gia Lâm và tăng quân giữ sân bay này, nơi đến nguồn tiếp tế, tiếp viện của chúng.


Súng nổ ngay khi điện tắt. Từ lúc chiều, địch tăng cường cho lũ lính gác cầu một xe bọc thép. Điện toàn thành vừa tắt, bọn này phản ứng rất nhanh, xả súng bắn vào doanh trại của trung đội Vệ quốc quân ở nhà số 1 Hàng Đậu. Bác Đãi, người chiến sĩ già chăm lo ăn uống cho trung đội này, hy sinh trong phút đầu tiên của cuộc kháng chiến. Hỏa lực địch khống chế cả khu vực đầu cầu. Nhưng chỉ chốc lát tình hình thay đổi hẳn với tiếng bom của tổ Ngà - Tố - Kế - Cổn. Tổ trưởng Ngà hy sinh, quả bom anh không phá tung được mặt sàn cầu, nhưng làm cho địch bạt vía. Lũ bộ binh gác cầu bỏ cái doanh trại bằng lều vải của chúng ở chân dốc lên cầu, vượt đê biến ra ngoài bãi ven sông lẩn vào đêm tối. Cái xe bọc thép cũng biến mất tăm.


Đầu đường Hàng Đậu, địch vừa dãn ra thì phía cuối đã ran ran tiếng nổ. Đoàn xe mở đường của địch, hơn ba chục chiếc từ thành Hà Nội lao ra đến Tháp nước tròn vấp phải hỏa lực đánh chặn của trung đội công an xung phong. Chúng dùng pháo 37 ly và các cỡ súng máy bắn xối xả vào các ụ chiến đấu, các cửa sổ của đồn công an Hàng Đậu. Các chiến sĩ ta chống lại bằng súng trường, lựu đạn, chai cháy đốt được một xe bọc thép và cầm cự được hơn một tiếng đồng hồ thì phải rút bỏ vị trí.


Trong khi đó súng nổ không ngớt trong phố Hàng Đậu. Hai xe bọc thép dẫn đầu đoàn quân cơ giới vừa xông vào trong phố này được mấy chục mét thì một chiếc bị hắt xoay ngang nằm bẹt dí. Nó đè phải quả mìn đặt ở trước cửa nhà số 49. Mặt đường đầy những vật cản. mảnh tôn, mảnh kẽm, thùng, chậu... đáng nghi ngờ biết đâu có mìn đặt ở dưới? Địch không dám xông bừa. phải cho lính lên trước dò mìn. Chúng bắn như đổ đạn vào tất cả các cửa ra vào, cửa sổ, cửa hàng của tất cả các nhà hai bên đường, yểm hộ cho lũ lính đang lom khom dọn đường mà chốc chốc lại một đứa kêu rú lên ôm đùi, ôm bụng ngã vật ra. Đoàn xe địch tiến thêm được vài chục mét thì cũng thêm một chiếc nữa trúng mìn, chết dí. Lúc này một xe "díp", đèn pha, đèn cốt mở sáng chói xồng xộc lao lên trước. Anh em tự vệ thì thầm hỏi nhau.

- Đứa nào liều mạng nhỉ!

- Xe chỉ huy đấy.

Quả nhiên, trên xe có máy thông tin vô tuyến điện tên sĩ quan Pháp nào đó nóng ruột vì tốc độ quá ì ạch của cuộc tiến quân, mà chỉ còn một quãng ngắn nữa thôi thì vượt hết đường Hàng Đậu, đến dốc cầu Long Biên. Nó xốc lên trước để chỉ huy các cỡ súng to nhỏ của đơn vị nó bắn đè bẹp các tay súng đối phương yểm hộ cho lũ lính dọn đường nhanh chóng. Nó muốn nhanh nhưng một loạt đạn tiểu liên tôm-xơn của tổ tự vệ từ nhà số 19 hắn ra, xe nó loạng choạng đâm sầm vào căn nhà bên dẫy số chẵn, gần ngã tư Nguyễn Thiệp Hàng Đậu. Không ai biết được xe này có mấy tên địch, số phận của chúng ra sao. Vì trời tối, địch bắn mạnh, khó quan sát. Lát sau một xe bọc thép đã xộc tới đỗ sát cạnh. Địch dồn xe lên bắn tới tấp vào các cửa nhà hai bên đường Hàng Đậu. Chúng chỉ dùng hỏa lực bắn phá chứ không dám xông vào một nhà nào. Nhưng tình thế trở nên gay go khi một cánh quân khác của địch từ trên phía Yên Phụ vượt qua được trận địa ngăn chặn của tự vệ Bến Nứa, đến đầu đường Hàng Đậu. Chúng xông lên cầu Long Biên, chiếm ga xe lửa đặt pháo 20 ly, trung liên 12 ly 7 khống chế cả khu vực, uy hiếp phía sau lưng trận tuyến của ta ở phố Hàng Đậu. Chúng dàn 3 xe bọc thép bắn phá nát nhừ ngôi nhà số 1 Hàng Đậu, tầng trên, tầng dưới cửa vỡ toang hoàng. Nhưng từ trong súng vẫn bắn ra, lựu đạn vẫn ném ra. Các chiến sĩ Vệ quốc quân và tự vệ đánh bật nhiều đợt xung phong của địch và chỉ chịu rút về phía sau khi không còn điều kiện trụ bám nữa. Ta bỏ trống vị trí song vẫn bắt địch phải trả giá thêm. Một quả mìn gài ở hõm cây bên cổng ra vào nổ tung khi chúng vừa lao tới, gào thét "a-lô-xô".


Hà Nội vùng lên mãnh liệt trong đêm 19 tháng 12, phá tung thế trận đánh úp mà các tướng tá Pháp đã bỏ nhiều công phu dàn dựng, xây đắp và đặt vào đấy nhiều hy vọng.

Cả Hà Nội không ngủ trong đêm đầu kháng chiến. Cột điện, cây cối vặn mình đổ rầm rầm. Tiếng choòng, tiếng cuốc bổ xuống mặt đường nhựa đào bật đất đá lên. Tiếng xe bò chạy long xòng xọc chở đất, cát, gạch, gỗ, sắt. Người già, người trẻ, đàn ông, đàn bà cùng nhau đẩy những toa xe điện, xe ô tô ra các đầu đường, hò nhau lật đổ. Người ta khuân bàn ghế, hòm tủ, đưa ra mặt đường làm chướng ngại, làm nắp hầm nắp hào giao thông. Nồi, niêu, xoong, chảo, chậu, thùng, thúng mủng... tất cả những đồ dùng ấy đều được huy động, đưa ra làm bãi mìn. Chỉ một đêm Hà Nội biến dạng hẳn, thành một chiến trường.


Liên Khu I - Hà Nội, bị địch chiếm mất một số đường phố: Hàng Đậu, Tràng Thi, Hàng Khay. Tràng Tiền... bị bao vây, chia cắt ngay trong đêm đầu kháng chiến này, nhưng đã biến thành một trận địa phòng ngự mà kẻ địch không dễ gì phá vỡ được.


Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp choáng váng. Mới cách đây vài ngày, sáng ngày 17, tướng Va-luy bay đến Hải Phòng họp tướng lĩnh, thúc dục Moóc-lie đẩy mạnh các hành động lấn át, nhưng cần khôn ngoan, vừa lấn át vừa xoa dịu để khoảng một tháng nữa đây, đến trung tuần tháng giêng 1947, khi có thêm quân tăng viện, sẽ thẳng tay dùng biện pháp cứng rắn.


Va-luy cầm chắc sẽ chiếm được Hà Nội nhanh gọn, như chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn. Thế nhưng, cả đêm 19 này, tại đại bản doanh ở Sài Gòn, viên tổng chỉ huy này thức trắng đêm vì những tiếng kêu cứu của những đám quân Pháp đóng ở Hà Nội rồi Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng...


Người Việt Nam đã quyết tâm kháng chiến. Rõ ràng một trận đánh úp Hà Nội, cái kế hoạch về một hành động mãnh liệt đánh tan rã lực lượng quân sự Việt Minh vô hiệu hóa chính phủ Hà Nội, thế là tiêu tan.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #16 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2024, 09:52:49 pm »

CHƯƠNG IV
TỪNG BỜ TƯỜNG, GÓC PHỐ

Ai cũng đoán rằng một khi đã nổ súng thì với địch Liên khu I - Hà Nội sẽ là mục tiêu hàng đầu. Chúng phải dồn sức đánh chiếm ngay, nhanh chóng kiểm soát khu vực trung lâm thủ đô đông người, nhiều của, có nhà máy điện, máy nước, có đầu mối giao thông nối liền với sân bay Gia Lâm ở bên kia sông Hồng. Và quan trọng hơn cả, về chính trị nơi đây tập trung các cơ quan chủ yếu của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, của thành phố Hà Nội.

Trên thực tế, tình hình đã diễn biến đúng như vậy.


Mặt phía đông.

Bên ngoài đê, trên dải đất ven sông Hồng từ cầu Long Biên xuống đến giáp bến Phà Đen là khu Long Biên, nơi cư trú của những người lao động, san sát nhà tranh vách đất, vách nứa; nhà gỗ, nhà gạch mái ngói, mái tôn chỉ loáng thoáng đôi nơi. Suốt đêm 19 tháng 12. tự vệ Long Biên vượt đê vào trong thành phố tham gia đánh địch ở Nhà máy nước đá, Nhà Mi-sô, Nhà Xô-va, vị trí đầu cầu... Đến sáng ra, trở về khu vực nhà mình, ai nấy hướng cả ra phía đông chuẩn bị đối phó với thủy quân địch. Chúng có một đội thuyền chiến cắm neo ở dưới phà Đen. Nhưng địch không đến từ mạn sông mà từ trên trời đánh xuống. Những chiếc máy bay vận tải Đa-cô-ta lượn vòng ném những thùng xăng, rồi những chiếc khu trục Hen-cát nhào xuống bắn đạn lửa. Cả khu Long Biên phút chốc biến thành biển lửa. Gió cuốn tro bụi bốc cao hàng trăm mét. Một vùng trời tối sầm lại. Hàng nghìn con ngươi phút chốc, không còn hạt gạo, manh chiếu. Suốt ngày 20 tháng 12, các nhân viên trong ủy ban kháng chiến Long Biên (bắt đầu từ lúc nổ súng tối 19-12, Ủy ban bảo vệ các cấp đổi tên là Ủy ban kháng chiến), các đội cứu thương, đội tiếp tế phải xông vào trong biển lửa rừng rực tìm cứu những người bị thương tổ chức cho đồng bào tạm lánh vào trong phố, vào khu Đông kinh nghĩa thực, tập trung ở đình Phát Lộc rạp hát Tố Như, gửi nhờ các nhà phố Mã Mây, Hàng Bạc .. Cả khu Long Biên thành một bãi cháy bị uy hiếp từ nhiều phương, nhiều hướng, không còn khả năng bám trụ nữa.


Tối hôm ấy, Ủy ban kháng chiến Long Biên nhận được chỉ thị của Ủy ban kháng chiến Liên khu I:

- Củng cố lực lượng tự vệ, tổ chức thành một đại đội sát nhập vào khu Đông kinh nghĩa thục.

- Ổn định cho đồng bào ăn, ở và tổ chức đưa ra ngoài hậu phương vào ban đêm, theo đường bãi ven sông Hồng, qua gầm cầu Long Biên lên Nghi Tàm, Chèm.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #17 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2024, 09:54:10 pm »

Mặt phía Tây

"Ở đây nó chỉ nhảy một bước là đến trước mặt ta". Đó là nói về khoảng cách quá ngắn giữa tuyến đầu của khu Đông Thành với nơi tập trung đông quân nhất của địch là thành Hà Nội.

Tối 19 tháng 12, chỉ mười lăm phút sau khi điện tắt toàn thành nổ súng kháng chiến, quân Pháp đã xộc tới chợ Hàng Da, có thể gọi là giữa khu Đông Thành. Chúng xả súng bắn vào hiệu sơn Dếch-cô (Secko), rạp chiếu bóng Ô-lanh-pi-a (nay là rạp hát Hồng Hà), vào các ngôi nhà ở đầu phố Hà Trung, Ngõ Trạm, Nguyễn Trãi (nay là Nguyễn Văn Tố). Chúng đốt chợ Hàng Da để quan sát tìm các vị trí đặt súng của ta. Cả khu chợ bốc lửa. cháy sáng rực. Nhưng chính nhờ có ánh sáng này mà các tay súng của ta, lần đầu tiên xung trận, nào bỡ ngỡ, nào hồi hộp, đã nhìn thấy rõ địch hơn, nhanh chóng trấn tĩnh tinh thần, bắn có kết quả. Đến 23 giờ, địch rút lui với 7 tên chết và bị thương.


Mờ sáng hôm sau, tiếng súng lại vang lên cùng với tiếng gầm rú của xe cơ giới. Quân địch có xe tăng đi trước, tiến qua các phố Hà Trung. Ngõ Trạm, Nguyễn Trãi giàn đội hình trước bãi chợ Hàng Da. Chúng chiếm nhà thờ Tin lành, từ đó đặt trọng liên 12 ly 7 và súng cối bắn liên tục vào hai vị trí của ta ở nhà Dếch-cô và rạp Ô-lanh-pia. Nhưng hướng đánh của chúng là phố Hàng Điếu. Ba chiếc xe tăng xe thiết giáp tập trung hỏa lực công phá cái chiến lũy chắn ngang đầu phố này mới hoàn thành trong đêm qua. Ở đây ta có một tổ Vệ quốc quân, có bom ba càng. Một chiến sĩ lao vút ra đánh. Anh đâm bom vào ngang sườn xe địch. Bom không nổ. Anh xoay mình lấy đà đâm lần thứ hai. Vẫn không nổ, bom thối. Nhờ đó. những tên lính địch ở trong xe trấn tĩnh lại được, xả đạn vào anh. Tự vệ Hàng Điếu không ai biết tên anh, nhưng chẳng ai quên được hình ảnh dũng mãnh của anh, hai lần đâm bom vào xe tăng địch. Anh ngã xuống và lập tức các chiến sĩ tự vệ bật dậy. Phố Hàng Điếu có nhiều cửa hàng đóng giầy, dép nổi tiếng, có nhiều krếp vụn, cao-su vụn dành cho tự vệ làm những chai xăng-krếp. Họ đã dùng thứ vũ khí tự tạo này đánh cháy một xe bọc thép của địch.


Phố Hàng Điếu nối liền với phố Hàng Gà. Cùng với cánh quân bị chặn đứng ở cuối phố Hàng Điếu địch có một cánh quân nữa đánh vào Hàng Gà, nhẳm hai điểm: nhà Si-mô-mu-ra một hãng buôn của Nhật kiều ở góc đường Hàng Gà - Cửa Đông và chùa Thái Cam ở góc đường Hàng Gà - Hàng Vải. Chúng chiếm được nhà Si mô-mu-ra vì có lợi thế mặt đường Cửa Đông rất rộng, xe bọc thép dàn bộ binh đến tận mục tiêu. Nhưng chúng không bén mảng được tới gần chùa Thái Cam, do đường Hàng Vải chật hẹp, xe tăng không dám xông xáo. Mấy lần bộ binh lao lên đều bị tự vệ Hàng Gà đánh bật trở lại.


Ngày 21, địch chiếm được chùa Thái Cam.

Ngày 22, địch tiến công nhà Ô-lanh-pia. Tự vệ Hàng Da do đội trưởng Phùng Như Hùng và đội phó Nguyễn Viết Phương chỉ huy đánh trả rất quyết liệt. Khẩu trung liên Hốt-kít trong tay anh Lê Dưỡng, người bán vé của rạp chiếu bóng này, đặt từ ụ súng ngầm chính giữa cửa ra vào, quật ngã nhiều địch.


Cùng ngày, tự vệ Hà Trung đi "săn tây" rình được một tốp lính địch mò vào các ngôi nhà bỏ trống để kiếm ăn, họ bắn chết hai tên.

Ở mặt phía tây Liên khu I, ta và địch cách nhau chỉ một mặt đường nên phong trào săn tây phát triển sớm nhất, bắt đầu từ tiểu đội tự vệ giữa nhà Ô-lanh-pi-a, từ trưa ngày 20. Hôm ấy chiếc xe tăng đỗ ở trước nhà thờ Tin lành liên tục bắn vào vị trí của địch. Họ căm tức có nhiều chai xăng-krếp, có cả bom ba càng mà chẳng làm gì được nó. Một người nêu ý kiến: "trị tội bọn lính xe tăng, rình lúc chúng nó thò đầu lên khỏi tháp pháo, hoặc là thế nào cũng có lúc chúng nó chui ra ngoài vỏ thép, ngồi lâu trong xe chật hẹp đứa nào chịu được mãi?". Mọi người tán thành. Và họ rình mỏi mắt mới chộp được cơ hội. Lính địch bỏ ra khỏi xe tăng, đứng khuất phía sau xe, vươn vai, vặn lưng. Một tên vừa đi vừa vặn mình vượt ra ngoài phạm vi che chắn của xe tăng. Anh em tự vệ nhằm nó thật kỹ, ba bốn khẩu súng cùng bám vào nó. Rồi người chỉ huy hô lệnh bắn, y như bắt nhịp một bài hát: "hai... ba". Các nòng súng đồng loạt nhả đạn, tên địch đang vặn mình gục ngay tại chỗ.


Tin "săn tây" từ Hàng Da truyền nhanh sang Hàng Điếu, Hàng Gà, Hàng Phèn… tự vệ các phố đưa nhau bám sát các vị trí địch, các đường đi lối lại của địch rình cơ hội nổ súng. Phố Cửa Đông, một đầu ngõ ra vào thành Hà Nội, nhiều xe địch đến đây bị trúng đạn. Địch đối phó lại bằng cách tuần tra, lùng xục các ngôi nhà ngõ hẻm chung quanh. Nhưng những viên đạn từ Hàng Phèn, Hàng Bút vẫn bắn tới. Cuối cùng, chúng trồng cột ngang đường Cửa Đông rồi chăng dây, căng chiếu làm một tấm màn che mắt các tay súng của ta. Thật lắm công phu, mà chỉ một mồi lửa là tan biến hết, địch cũng biết thế, song vẫn buộc phải làm. Ta đốt -đi rồi chúng lại đem chiếu khác ra căng, cứ tối đến chúng phun nước cho chiếu ướt sũng để ta khó đốt.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #18 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2024, 09:54:49 pm »

Mặt phía bắc

Ngay trong đêm 19 tháng 12, quân Pháp chiếm được đường Hàng Đậu và cầu Long Biên, cắt rời hai khu Trúc Bạch và Hồng Hà ra khỏi địa bàn Liên khu I. Thế là khu Đồng Xuân trở thành tiền tuyến phía bắc.


Ngày 20, khu Đông Xuân yên tĩnh mãi đến mãi quá chiều mới có vài chục tên mũ đỏ thọc vào phố Hàng Giấy. Tự vệ nổ súng tới tấp nhưng chẳng kết quả gì, phần vì  bắn chưa thạo, súng trường lại giật mạnh, phần vì hồi hộp vội vàng, khi địch sắp vào đến cuối phố chính trị viên Nguyễn Đình Cơ ra lệnh cho anh em chuẩn bị lựu đạn, pháo ném, đồng thời cho nổ một bánh pháo ở trong thùng sắt tây, giả làm tiếng súng máy. Bọn địch lúc đầu chỉ nghe tiếng súng trường của ta nổ rời rạc thì coi thường, đến khi thấy tiếng nổ rền, tưởng là ta bắn súng liên thanh liền chùn lại. Địch bị mắc lừa, các chiến sĩ ta bồi tiếp một đợt pháo ném nổ ran, và hò reo xung phong khiến cho chúng càng thêm bối rối, xô nhau tháo lui.


Ngày 21, khu Đồng Xuân vẫn yên tĩnh. Rõ ràng là ở Hà Nội địch lúng túng phải đối phó với quân dân ta ở nhiều nơi, nhiều hướng nên tại mặt bắc này của liên khu I, chúng chỉ có quân để rải ra giữ đường giao thông huyết mạch, đường Hàng Đậu - cầu Long Biên chứ chưa có khả năng tấn công mở rộng phạm vi chiếm đóng. Trước tình hình đó, Ủy ban kháng chiến chỉ thị cho các lực lượng vũ trang trong khu phải tranh thủ thời gian xây dựng trận địa phòng ngự, đào hào giao thông, đồng thời phải chủ động đánh địch, không chờ địch đến, tìm địch mà đánh.


Ngày 22. đồng chí Đỗ Tấn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân tập hợp 20 chiến sĩ tự vệ đưa ra đường bờ sông đánh một trận tập dượt. Ở đây, quãng đầu phố Trần Nhật Duật thường xuyên có một tốp xe bọc thép của địch đi lại tuần tiễn tăng cường canh giữ cầu Long Biên. Từ trên tầng gác của hai căn nhà số 6 và số 8, ta nổ mấy phát súng. Địch giật mình bắn lại dữ đội. Ta ở trên cao, có lợi thế, thỉnh thoảng bắn một vài phát buộc địch phải đáp lại. Nhưng rồi sau khi địch phát hiện được đúng nơi ta bố trí thì ta lại bị bất lợi. Chúng nã đại liên, pháo 20 ly rung nhà. rung của. Mấy chục con người trong hai căn nhà nhỏ hẹp chật chội phải rút thật nhanh, tránh khỏi nguy hiểm. Trận đánh không kết quả về mặt tiêu diệt sinh lực địch, tuy nhiên các chiến sĩ tham gia trận lập dượt này đều rất phấn khởi vì chẳng phải họp bàn kiểm điểm lâu la, ai cũng thấy ngay là: đánh thế này thì cần gì phải đi đông, chỉ cần vài ba người thôi, dễ luồn lỏi, di chuyển, vào thật gần, dí súng tận gáy địch mà nổ cò thì chẳng bắn trệch đi đâu được nữa.


Tối hôm đó, tự vệ Hàng Cót, Hàng Lược, Hàng Gỉấy kéo nhau đi phục kích ở đồn Công an Hàng Đậu, vị trí bỏ trống từ giữa đêm 19. Lực lượng sử dụng đi trận đến bốn chục người lần mò trong đêm tối, chui qua các lỗ tường mới đục còn rất hẹp nên đi rất chậm, xuất phát từ chợ Đồng Xuân lúc chập tối, đường đi chỉ một quãng ngắn, vài trăm mét mà phải mất 3 tiếng đồng hồ mới ra đến địa điểm dự định. Cũng vừa bay,  lúc đó một lốp 4 xe địch bò qua, họ ném lựu đạn và chai cháy, đánh được một xe đứt xích, cháy rừng rực. Trận đánh có kết quả. Nhưng phí sức, thực ra chỉ cần một tổ bốn, năm người.


Ngày 23, khu Đồng Xuân vẫn yên tĩnh, giữa trưa, đội trưởng tự vệ Hàng Đậu, đồng chí Thư Chương cùng hai chiến sĩ họp thành một tổ chiến đấu ra đầu phố Trần Nhật Duật tìm đánh địch. Họ bố trí trên gác Nhà nước mắm Vạn Vân bắn mấy phát đạn tiểu liên vào lũ địch ngồi trên chiếc xe bọc thép án ngữ đầu dốc Hàng Khoai. Địch có thể nhanh chóng phát hiện được tiếng súng từ ngôi nhà nào bắn ra. nhưng từ lỗ tường nào, hay từ khe cửa sổ nào của ngôi nhà ba tầng ấy thì không thể đoán ngay được, và chúng bắn bừa bãi vào tất cả những điểm nghi ngờ. Trong khi đó anh em ta đã chuyển sang ngôi nhà khác, cách đầu súng qua khe cửa liếp tục nhả đạn.


Ngày 24, khu Đồng Xuân rền vang tiếng súng. Tự vệ các phố trên trận địa bắc Liên khu thi nhau đánh quấy rối địch. Chiều hôm ấy một xe tăng địch từ đường Hàng Đậu xộc vào đến giữa phố Hàng Giấy bắn phá lung tung một lúc. Nó vào bất thần và rút đi cũng vội vã. "Địch thăm dò đấy", các chiến sĩ ta phán đoán như vậy. Quả nhiên, hôm sau địch đánh vào Hàng Giấy. Chúng chiếm nhà Hoa Nam. Nhưng ta phản công quyết liệt địch phải rút ngay, bỏ lại một xác chết bên lề đường.

Ngày 26, địch đùng một lực lượng khá đông đến một đại đội, đánh vào phố Hàng Khoai. Mục tiêu của chúng là chùa Huyền Thuyên. Chiếm được ngôi chùa này, chúng sẽ đặt chân được ngay sát cạnh chợ Đồng Xuân. Trận đánh diễn ra gần một tiếng đồng hồ. Địch vừa lọt vào trong chùa liền bị đánh bật ra ngay. Quân ta ở bên chợ Đồng Xuân đánh sang, tử các nhà trong hai ngô Hàng Khoai đánh ép lại. Địch rút lui kéo theo xác chết và nhiều tên bị thương.


Ngày 27, lúc quá trưa, từ đường bờ sông địch đánh vào ngõ Tư Đường. Nhưng chúng cũng phải rút lui.

Qua 8 ngày chiến đấu, trận địa phía bắc của Liên khu 1 đã được thử thách. Có một thiếu sót lớn được khắc phục kịp thời, nhờ đó thế trận trở nên vững vàng. Sau đêm 19, phải bỏ đường Hàng Đậu, các đơn vị của ta, Vệ quốc quân, Công an, tự vệ co hết về phố Hàng Khoai, bỏ trống một khu vực rất rộng, nhà cửa sin sít, có nhiều đường ngang, ngõ dọc chật hẹp ngoặt ngèo, lại có đường cầu xe lửa chạy qua mà trên con đường ấy, còn cao hơn cả những nóc nhà một tầng, lính địch có thể từ cầu Long Biên tràn đến đặt súng ở bất kỳ chỗ nào, lúc nào. Thực ra, ta vẫn tổ chức sục sạo, tuần tra trong khu vực này, ra đến tận đường Hàng Đậu nổ súng vào các đoàn xe địch qua lại. Nổi nhất là chiến công của anh thợ nguội Trọng Nghĩa. Hôm ấy, ta mới co về tuyến Hàng Khoai, Nghĩa dẫn một tổ ra hám đường Hàng Đậu quan sát tình hình địch, Công việc xong xuôi, họ bàn nhau đánh một trận phục kích, vì ban ngày, ban mặt, địch chủ quan canh gác lơ là. Và họ đã chộp được cơ hội nổ súng. Một đoàn 5 chiếc xe chạy từ từ như đi đạo phố: 2 xe tăng đi đầu, đến một xe díp rồi một xe tải GMC 15 lố nhố hơn chục linh, cuối cùng là một xe bọc thép. Nghĩa nổ loạt đạn thứ nhất nhằm vào xe díp. Thấy kết quả ngay, cả tên lái xe và tên sĩ quan ngồi bên đều đổ gục xuống, anh liền xoay nòng tiểu liên vào chiếc xe vận tải bóp cò, khi lũ lính trên xe này đang còn nhốn nháo. Trận đánh chỉ chớp nhoáng, với hai loạt đạn ngắn. Địch chết 2, bị thương 3, chiếc xe díp đâm vào bờ hè đổ kềnh bốc cháy.


Tuy nhiên, vì cả khu vực bỏ trống, ta mò mẫm được đến Hàng Đậu thì địch cũng có thể bất thần xộc vào đến tận Hàng Khoai, như hôm 27, chúng đã lọt đến chùa Huyền Thuyên. Bởi thế Ủy ban kháng chiến khu Đồng Xuân quyết định đưa lực lượng ra phía trước, lập tuyến đầu bám dọc đường cầu xe lửa mà cái chốt chính của tuyến này là nhà Hoa Nam (49 - 51 Hàng Giấy), ngôi nhà bê tông cốt sắt, ba tầng, kể cả sân thượng là bốn, cao nhất khu Đồng Xuân. Ở đây ta có thể giữ vững được hậu phương, cản phá các cuộc tấn công của địch từ Hàng Đậu, Hàng Giấy, từ cầu xe lửa qua các ngõ Hàng Khoai vào khu vực chợ Đồng Xuân. Ở đây ta uy hiếp được địch ở Hàng Đậu, ở vị trí Ga Đầu cầu và đường cầu xe lửa.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #19 vào lúc: 04 Tháng Ba, 2024, 09:58:48 pm »

Mặt phía Nam

Đây là khu Hoàn Kiếm. Đánh vào Liên khu I, địch nhằm hướng này.

Trong đêm 19, quân Pháp dồn sức tấn công các vị trí của ta trên trục đường từ ngã tư Cửa Nam qua các phố Tràng Thi, Hàng Khay, Tràng Tiền đến Nhà hát lớn, nhà Bác Cổ (nay là Viện bảo tàng lịch sử). Trục đường này cũng là ranh giới phía nam của khu Hoàn Kiếm, của Liên khu I.


Có hai trận quyết liệt đẫm máu.

Một trận kéo dài gần 5 tiếng đồng hồ diễn ra ở đồn Công an Hàng Trống, đoạn đầu phố Tràng Thi. Trung đội Công an xung phong giữ vị trí này đối chọi với một đại đội địch có hỏa lực rất mạnh, giết được hai chục tên, bắn hỏng bắn cháy 4 xe bọc thép. Nhưng ta cũng bị thiệt hại nặng phải bỏ vị trí.


Một trận đẫm máu nữa, tại Nhà hát lớn kéo dài từ nửa đêm cho đến sáng bạch. Trung đội Vệ quốc quân giữ vị trí này bị bao vây các các mặt, đã đánh đến viên đạn cuối cùng, gây cho địch nhiều tương vong. Cả trung đội chỉ có một chiến sĩ sống sót.


Sáng ngày 20. địch chiếm xong trục đường huyết mạch Cửa Nam - Nhà hát lớn. Từ đây chúng liên tục tiến công vào khu Hoàn Kiếm.

Ngày 20, lực lượng địch có khoảng một đại đội và 1 xe tăng, 8 xe bọc thép, dẫn đội hình từ Nhà băng Đông Dương (nay là Ngân hàng Trung ương) qua vườn hoa Con Cóc (còn gọi là vườn hoa cóc phun) đến khách sạn Mê-trô-pôn (nay là khách sạn Thống nhất).


Mở đầu trận đánh lúc 6 giờ 30, địch tập trung các cỡ súng bắn dồn dập vào chính diện khu vực Bắc Bộ phủ gồm có dinh Chủ tịch và Bộ Nội vụ. Tiếp đó, hai xe tăng xông lên hàng rào sắt phía trước dinh Chủ tịch mở đường cho bộ binh xung phong. Ta bắn mạnh, địch không vượt qua được hàng rào, phải kéo nhau lùi về phía sau vườn hoa Con Cóc.


9 giờ, địch tấn công lần thứ hai. Chúng dồn hỏa lực tập trung vào dinh Chủ tịch. Hai xe tăng húc đổ hai đoạn hàng rào xông vào trong sân và theo sau mỗi chiếc xe có khoảng một trung đội bộ binh. Các chiến sĩ Vệ quốc đoàn bình tĩnh bắn chặn địch diệt hơn chục tên và hầu như cùng lúc hai tổ bom ba càng đánh gục cả hai chiếc xe tăng. Nhân đà thắng lợi, ta phản kích mạnh. Địch rối loạn tháo lui.


Đến gần giữa trưa, địch tấn công lần thứ ba. Nhưng hàng giờ bắn phá, xông lên rồi lại lùi xuống mấy lần xung phong thất bại, chúng chuyển hướng đột phá, lướt qua bên sườn dinh Chủ tịch, theo dọc vườn hoa Chí Linh, đánh vào nhà Bưu điện nhằm chiếm lấy đó làm bàn đạp thọc sau lưng khu vực Bắc Bộ phủ. Ở đây ta có một tiểu đội vệ quốc đoàn và hơn chục anh chị em tự vệ. Địch lọt vào được, nhưng đến 14 giờ ta lại đánh bật chúng ra.


15 giờ, địch xung phong lần thứ lư. Chúng vượt được qua hàng rào, chiếm dải hào giao thông trong sân dinh Chủ tịch. Địch vào được là do hỏa lực ta yếu dần, đạn dược đã cạn, và cũng lúc này, bộ đội được lệnh lui về tuyến 2, phía sau dinh, giữ hầm nhà Bưu điện. Tuy nhiên không phải thế là trận Bắc bộ phủ đã kết thúc, mà ta đổi cách đánh.


Trên đường lên cửa lớn vào dinh Chủ tịch, ta chôn sẵn hai quả bom. Tổ đánh bom chờ cơ hội giật bom nổ đúng lúc quân địch đang reo hò xung phong. Khói bụi tung lên mù mịt, ta không quan sát được thiệt hại của địch, chỉ biết rằng chúng chết lặng đi hồi lâu. Tổ đánh bom lại rình tiếp một cơ hội nữa, giật kíp quả bom lớn đặt ở trong dinh khi quân địch xung phong vào đây. Nhưng bom không nổ. Anh chiến sĩ đánh quả bom này đang tức ứa nước mắt vì những tiếng reo mừng đắc thắng của quân địch từ trong dinh vọng ra thì chính trị viên Lê Gia Định xộc tới: "Để quả bom ấy cho tôi, chúng nó sẽ biết!". Anh nói rất bình tĩnh, rồi một mình xông lên.


Tổ đánh bom nhòa nước mắt nhìn người chính trị viên đại đội Bắc Bộ phủ lao vút vào dinh Chủ tịch và chờ đợi một tiếng nổ long trời và sau đó là cái nóc nhà tô lớn đó đồ ập xuống vùi xác quân thù. Nhưng chẳng thấy bom nổ, mà kỳ lạ thay, địch tháo lui tán loạn xô nhau chạy như bị đuổi đánh. Chúng chạy bạt ra ngoài hàng rào, lao qua đường sang bên vườn hoa Con Cóc, cả xe tăng, xe thiết giáp cũng nổ máy lùi ra xa. Thì ra, hành động xung phong quyết tử của Lệ Gia Định đã khiến cho kẻ thù bạt vía kinh hồn. Tiểu đội trưởng Nguyễn Hữu Quế vào trong dinh trinh sát thấy Lệ Gia Định đã tắt thở nằm bên cạnh quả bom lớn. Anh bị trúng đạn khi xông tới quả bom này. Nhưng những kẻ bắn anh đã hốt hoảng tháo chạy có đứa nào dám ngoái cổ trông lại để biết được rằng anh không đập được kíp bom, hoặc đuối sức đập trượt!


Địch không dám xung phong nữa. Chúng gọi máy bay. 4 chiếc khu trục Hen-cát kéo đến bổ nhào, bắn phá các hầm của ta ở sân trước, sân sau dinh Chủ tịch. Máy bay địch hoạt động trên bầu trời khu vực Bắc bộ phủ, vườn hoa Chí Linh, Tòa Thị Chính... cho đến lúc sẩm tối.
Logged
Trang: « 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM