Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Sáu, 2024, 09:22:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những người cảm tử - Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội  (Đọc 1870 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« vào lúc: 09 Tháng Hai, 2024, 09:11:03 pm »

Tên sách: Những người cảm tử (Kể chuyện chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội)
Nhà xuất bản Hà Nội
Năm xuất bản: 1987
Số hóa: macbupda


Chỉ đạo nội dung

Thường vụ Quận ủy Hoàn Kiếm
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Hà Nội


Nhóm biên soạn:
 
Đỗ Tần
Phạm văn Trừng
Lê thị Tuyết Minh
Lưu Đình Quế
Lê ngọc Anh
Đỗ Chi
Lê thị Hạnh Phúc
Lê Thị Châu
 

Chủ biên
Đỗ Chí
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #1 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2024, 09:12:28 pm »

LỜI NÓI ĐẦU

Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta và đặt các cơ quan đầu não của chúng tại thủ đô, tiến hành công khai các hoạt động chống phá cách mạng, Liên khu Một - Hà Nội được giao trọng trách kìm chân địch tại Hà Hội càng lâu càng tốt để tạo điều kiện cho cả nước có thời gian chuẩn bị mọi lực lượng bước vào cuộc chiến đấu lâu dài.


Đoàn kết xung quanh Đảng và Bác Hồ kính yêu, quân dân Liên khu Một - Hà Nội vừa củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng vừa đấu tranh với địch và chuẩn bị mọi điều kiện sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến và và chiến đấu anh dũng chống thực dân Pháp.


Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày kháng chiến toàn quốc 19-12-1946 - 19-12-1986. Ban Chấp hành Đảng bộ quận Hoàn Kiếm đã quyết định cho biên soạn và xuất bản cuốn: "NHỮNG NGƯỜI CẢM TỬ" nhằm giúp cán bộ bộ đảng viên nhân dân trong quận nhất là thế hệ thanh thiếu niên, ôn lại quá khứ vinh quang này để khơi dậy niềm tự hào, phát huy khí thế cách mạng tiến công, hăng hái vươn lên trên con đường cách mạng mới. Đây là một việc làm thiết thực, phần nào đáp ứng kịp thời yêu cầu của đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân trong Quận nói riêng và Hà Nội nói chung.


Trải qua 40 năm với biết bao đổi thay của cách mạng, nhiều người con của Liên khu Một anh hùng năm xưa đã làm đẹp thêm truyền thống của quê hương. Phần lớn các cụ các bác còn ở lại Hà Nội cho đến hôm nay tuổi đã cao, sức đã yếu, trí nhớ phần nào đã hạn chế... Đó là những khó khăn của quá trình sưu tầm, biên soạn khi chúng tôi lựa chọn lấy nguồn tư liệu sống làm chính. Tuy vậy nhờ có biện pháp tổ chức tập hợp tư liệu khá công phu, sự giúp đỡ nhiệt tình, trách nhiệm cao của đông đảo các cụ các các đồng chí cán bộ đảng viên nhất là những đồng chí trực tiếp chiến đấu, lãnh đạo chiến đấu trong Liên khu Một năm xưa. Sau 3 năm làm công tác sưu tầm tổng hợp, đến nay Quận ủy Hoàn Kiếm đã hoàn thành việc biên soạn cuốn sách.


Nhân dịp xuất bản cuốn sách, Ban chấp hành Đảng bộ quận Hoàn Kiếm chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của đông đảo các đồng chí Liên khu Một năm xưa; chân thành cảm ơn Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành ủy đã hướng dẫn chỉ đạo chặt chẽ về nội dung và sự giúp đỡ tận tình của Nhà xuất bản Hà Nội.


Chắc chắn cuốn sách này còn những thiếu sót và hạn chế nhất định, chúng tôi mong muốn được đón nhận nhiều yếu kiến góp ý bổ sung của đông đảo bạn đọc để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn.


T/M BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ QUẬN HOÀN KIẾM
   Bí thư
BÙI MẠNH TRUNG
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #2 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2024, 09:16:05 pm »

CHƯƠNG I
ĐÂY, THĂNG LONG


"Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây,
Đây lắng hồn núi sông ngàn năm..."

Bài hát Người Hà Nội, với câu mở đầu này dẫn ta vào ngay khu vực trung tâm thủ đô Hà Nội, có hồ Gươm ở phía nam, Hồng Hà bên phía Đông, Hồ Tây trên phía Bắc. Đây là đất gốc Thăng Long.
Xưa kia sông Tô Lịch, một chi lưu của Hồng Hà tiếp nước sông mẹ ở phường Giang Khẩu. Thời gian đã lấp mất cửa sông Tô (nay là quãng Phúc Tân - Chợ Gạo - Hàng Buồm), lấp đi cả một đoạn dài lên đến Thụy Khê, nhưng tại vùng mang tên Giang Khẩu này và quanh đó vẫn còn ấp ủ nhiều dấu tích thời tiền Thăng Long, từ thuở dựng nước, của những con người sinh ra tại đây và từ bốn phương về đây tụ hội chung sức lập nghiệp lớn.


Đền Giai Cảnh ở phố Hàng Than, thờ vị Uy Linh Sơn Hà, tương truyền là một trong năm mươi người con theo Lạc Long quân đi về phía biển mở mang bờ cõi.

Đình Đông Thuận, thờ ông Lý Tiến, một vị tướng thời Hùng Vương thứ 6, nay là ngôi đền nhỏ ở phố Hàng Cá. Tương truyền: Ông Lý Tiến xông pha trận mạc đánh giặc ngoại xâm bị trọng thương được đưa về chết tại quê, có Cầu Đông vắt qua sông Tô, có chợ cá trên bến dưới thuyền. Huyền tích còn kể: Chính ông Lý Tiến đã hiến kế với vua Hùng cho rao mõ cầu hiền mà tìm được cậu bé Làng Gióng, đánh một trận, dẹp tan giặc nước. Dân làng Đông Thuận lập đền thờ ông, ghi công trạng người cảm tử quân thời dựng nước, tại ngay nơi ông mất. Ngôi đền nhỏ ở phố Hàng Cá ngày nay chỉ là hậu cung của Đình Đông Thuận xưa.


Thời kỳ nghìn năm chống quân đô hộ phương Bắc, khu vực cửa sông Tô là một điểm huyết chiến.
Giữa thế kỷ thứ 6. Lý Nam Đế khởi nghĩa thành công lập nước Vạn Xuân, dựng chùa Khai Quốc. Chùa Khai Quốc vốn ở bên sông Hồng, đến năm 1616, chuyển vào đảo Cá Vàng trong Hồ Tây, mang tên mới, chùa Trấn Quốc.


Năm 545, quân nhà Lương tràn sang, Lý Nam Đế dựng một thành lũy ở cửa Sông Tô.

Kẻ đô hộ cũng sớm thấy vị trí chiến lược của vùng cửa sông này. Trước kia, mỗi khi chiếm được nước ta, chúng đều xây thành đặt trụ sở cai trị ở Luy Lâu, bên sông Đuống. Thế kỷ thứ 7, bọn xâm lược nhà Đường bỏ Luy Lâu đến vùng của sông Tô xây thành Tống Bình.


Cuối thế kỷ thứ 8, Phùng Hưng chiêu tập binh mã ở Đường Lâm chuẩn bị khởi nghĩa. Năm 791, ông đưa hàng vạn nghĩa quân xuống bao vây Tống Bình, chiến đấu quyết liệt 7 ngày đêm. Kẻ cướp nước cố phá vây, nhưng phơi xác đầy đồng, cuối cùng phải xin hàng.


Sang thế kỷ thứ 9, bọn đô hộ ở Tống Bình xây thành mới rộng lớn hơn, mang tên Đại La, hòng củng cố vững bền quyền thống trị.

Nhưng đến thế kỷ thứ 10, với chiến thắng Bạch Đằng diệt quân Nam Hán (938), nước nhà giành được quyền độc lập.

Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa.

Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh xưng đế, dựng đô ở Hoa Lư. Đến Lý Công Uẩn, kinh đô được chuyển về vùng cửa sông Tô.

Mùa thu năm 1010, đoàn thuyền của vua Lý rời Hoa Lư ngược sông Hồng vào cửa sông Tô cặp bến Đông dưới chân thành Đại La. Truyền thuyết kể rằng: khi ấy có một con rồng vàng hiện bên thuyền ngự rồi bay vút lên trời cao. Nhân điềm ấy vua đặt tên cho kinh thành là Thăng Long. Rồng bay, hình tượng khí thế đang lên của nước Đại Việt.


Từ đó, tại Thăng Long là "chỗ tụ hội của bốn phương, nơi thượng đô của kinh sư muôn đời" đã diễn ra biết bao nhiêu sự kiện, biết bao nhiêu biến cố liên quan đến vận mệnh cả dân tộc, đất nước.

1077, dẹp Tống

1225, 1285, 1288 thắng Nguyên

1427, bình Ngô

1789, phá Thanh

Các tướng xâm lược Quách Quỳ, Thoát Hoan, Vương Thông, Tôn Sĩ Nghị chạy về đến nước chúng rồi vẫn còn khiếp đảm, nghĩ đến Thăng Long lại thấy lạnh gáy.

Khí phách Thăng Long từ ngàn năm hun đúc nên bị sa sút đi do sự nhu nhược đớn hèn của triều đình nhà Nguyễn.

Triều Nguyễn thành lập năm 1802, lập đô ở Huế, vốn e ngại lòng dân Bắc Hà, năm 1805 nhà Nguyễn phá thành Thăng Long cũ, xây Bắc Thành. Đến năm 1831, hạ đất kinh kỳ xuống vị trí một tỉnh, tỉnh Hà Nội, lại lấy cớ Bắc Thành chỉ còn là thành trì của một tỉnh, thành Hà Nội, để hạ thấp tường thành, bạt bớt đi 18 tấc (72 cm).


Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta từ năm 1858. Phờ-răng-xi Gác-ni-ê mang quân ra Bắc tấn công thành Hà Nội sáng ngày 20-11-1873. Giặc có vũ khí hơn ta nhanh chóng chiếm được thành. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng nhịn ăn, chết theo thành. Nhưng rồi Gác-ni-ê cũng bị đền tội. Ngày 21-12-1873, trong trận giáp chiến ở vùng Cầu Giấy, quân ta giết tên tướng giặc này tại thôn Giảng Võ.


Năm 1882, lần thứ hai quân xâm lược Pháp đánh thành Hà Nội. Ngày 25-4, pháo thuyền giặc bắn phá thành. Tổng đốc Hoàng Diệu đốc quân chống đỡ không nổi, ông tự tận lại vườn Võ Miếu, giữ lấy tinh thần trung kiên, bất khuất, chết theo thành. Nhân dân Hà thành và các vùng lân cận vô cùng căm uất, tự đứng ra lập những đoàn dân dũng phối hợp với những đám quân của những viên quan chủ chiến của triều đình, vây quanh Hà Nội, liên tục đánh địch. Ri-vi-e phải đưa quân ra phá vây và ngày 19-5, y bị bắn chết ở Cầu Giấy.


Năm 1884, triều đình nhà Nguyễn phản bội dân tộc, ký hiệp ước bán nước cho thực dân Pháp.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #3 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2024, 09:16:59 pm »

Hơn sáu chục năm ròng, người Hà Nội sống tủi cực dưới ách thống trị của thực dân Pháp, rồi cả Pháp lẫn Nhật. Nhưng hận thù bị nén chặt thì sức bật bung ra càng thêm mãnh liệt. Từ mùa thu 1945, khí phách Thăng Long hồi sinh và phát triển rực rỡ với cao trào Cách mạng do Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam lãnh đạo.


Lệnh Tổng khởi nghĩa của Mặt trận cứu nước Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh phát đi từ Việt Bắc trong đêm 13-8. Bốn ngày sau đó, trên đất Thăng Long xưa đã phất phới tung bay ngọn cờ đỏ sao vàng. Chiều ngày 17, Quảng Trường Nhà Hát lớn Hà Nội vang lên những lời hô như sấm dậy "Việt Nam độc lập muôn năm". Từ quảng trường này người Hà Nội rước cờ Độc lập đi khắp các đường phố, biểu dương ý chí, biểu dương lực lượng trước mũi súng của bọn thống trị phát xít Nhật.


Ngày 19 tháng 8, Hà Nội khởi nghĩa thành công. Tiếng reo mừng thắng lợi lịch sử của người Hà Nội ngày 19 tháng 8 vang đến khắp nơi nơi trên đất nước, cổ vũ các tỉnh, thành nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ Tổng khởi nghĩa.


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình (xưa kia là đất phường Khán Sơn, có núi Khán nơi Lê Thánh Tông, ông vua của một thời võ công văn trị xem duyệt binh, nghe giảng võ) Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Sau khi giành được chính quyền, tháng 8-1945, nội thành Hà Nội tổ chức thành 17 khu hành chính, nhưng về mặt quân sự thì căn cứ vào địa thế để chia ra 3 khu vực, gọi là Liên khu.


Liên khu I - Hà Nội, ở trung tâm thành phố gồm 7 khu hành chính: Trúc Bạch, Hồng Hà, Đồng Xuân, Long Biên, Đông kinh nghĩa thục, Đông Thành Hoàn Kiếm. Đây chính là đất gốc Thăng Long xưa, bắc giáp Hồ Tây, Nam có Hồ Gươm, Đông giáp sông Hồng, và phía Tây là thành Hà Nội.


Hồi ấy, Liên khu I Hà Nội là hình ảnh của Việt Nam thu nhỏ, đầy rẫy thù trong giặc ngoài, bị đế quốc bao vây chia cắt. Chưa bao giờ trên đất nước ta có lắm quân đế quốc như vậy: Pháp. Nhật, Anh, Tàu. Tại Hà Nội, tập trung đông nhất trên đất Liên khu I có quân Pháp, quân Nhật, quân Tàu. Liên khu I - Hà Nội nằm trong tình trạng bị uy hiếp: phía bắc, phía nam, phía tây coi như "đất địch", đó là những khối phố lớn tập trung các gia đình người Pháp, trong bộ máy cai trị thuộc địa mới bị dập tan, đến gần hai vạn người già trẻ lớn bé, lại nữa thành Hà Nội do quân Nhật chiếm đóng, rồi quân Tàu, trong đó có gần 5000 lính Pháp mà quân Nhật quản chế từ sau cuộc đảo chính Nhật - Pháp mồng 9-3-1945.


Trên phạm vi cả nước, thực dân Pháp âm mưu trỗi dậy khôi phục lại chính quyền đô hộ ngay khi phát xít Nhật đầu hàng phe đồng minh. Nhưng nguy hiểm nhất đối với nền độc lập dân tộc Việt Nam ở thời điểm này lại là lũ Tàu Tưởng. Quân đội Trung Hoa dân quốc của chính quyền Tưởng Giới Thạch, được phe đồng minh chiến thắng phân công cho vào Bắc Đông Dương, đến vĩ tuyến 16, giải giáp quân đội Nhật và làm nhiệm vụ tiếp phòng. Chúng tràn vào 4 quân đoàn, trên dưới 20 vạn tên (tương đương với số quân mà tướng Tàu Tôn Sĩ Nghị đưa vào xâm lược nước ta hồi đầu năm 1789). Vào Cao Bằng, chúng lùng bắt các cán bộ cách mạng, cấm dân ta treo cờ đỏ sao vàng. Qua Lào Cai, Yên Bái, Việt Trì, Vĩnh Yên... chúng giúp cho lũ việt gian tay sai cướp chính quyền. Mục tiêu chính của chúng là Hà Nội, Tại đây. chúng sẽ giáng đòn quyết định "diệt cộng, cầm Hồ" phá cách mạng Việt Nam, lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh, dựng lên một chính phủ tay sai gồm những Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam... bọn trùm sỏ các đảng Việt Nam cách mạng đồng minh hội, Việt Nam quốc dân đảng, gọi tắt là Việt Cách, Việt Quốc, theo chúng từ bên Tàu về.


Trong bối cảnh vô cùng phức tạp, đầy rẫy những hiểm nghèo ấy, lịch sử trao cho Hà Nội trọng trách bảo vệ chính quyền cách mạng trung ương. Và nhân dân Hà Nội đã buộc kẻ thù nguy hiểm phải chùn bước ngay lần đầu giáp mặt. Những kẻ từng xua quân đi giật cờ cách mạng, chiếm trụ sở chính quyền nhân dân ở các thị xã, thị trấn biên giới phía bắc, trên miền thượng du, trung du Bắc Bộ, khi tràn đến Hà Nội phải thay đổi thái độ hung hăng, ngang ngược, chịu cúi đầu lặng lẽ đi dưới bóng cờ sao vàng 5 cánh tung bay trên đỉnh các nóc nhà, trên các dinh thự, công sở, công viên, dọc các đường phố.


Hà Nội, mùa thu ấy, bằng nhiều hình thức, tỏ rõ cho kẻ thù thấy rằng một chính quyền thực sự có uy tín với nhân dân đã được thành lập trên đất nước này: Chính phủ cách mạng lâm thời Hồ Chí Minh.
Một mệnh lệnh ban ra, hàng chục vạn người xuống đường biểu thị ý chí kiên quyết bảo vệ chính quyền cách mạng, sẵn sàng hy sinh để giữ vững chủ quyền dân tộc.


Một lời kêu gọi, cả Hà Nội sôi động, từng nhà, từng người đem vốn liếng, tư trang đóng góp vào Tuần Lễ Vàng, góp vàng giúp chính phủ khắc phục khó khăn về tài chính.

Mỗi cuộc xuống đường, mỗi hoạt động chính trị của Hà Nội trong mùa thu ấy đã chỉ cho bọn tướng Tàu, như Lư Hán, Tiêu Văn... đóng đại bản doanh ở phủ Toàn quyền thấy người Hà Nội phẫn nộ như thế nào khi chủ quyền dân tộc bị xâm phạm. Ngày 14 tháng 9 năm 1945, quân đội Anh, do sự phân công của phe đồng minh được vào giải giáp quân đội Nhật ở Nam Đông Dương, chiếm trụ sở Ủy ban nhân dân Nam bộ ở Sài Gòn, lập tức các đường phố Hà Nội cuồn cuộn những dòng người biểu tình tuần hành phản đối. Và sục sôi hơn cả là cao trào chống xâm lược Pháp. Ngày 23 tháng 9-1945, quân Pháp núp bóng quân Anh đánh chiếm Sài Gòn, lập tức cả Hà Nội biểu thị quyết tâm kháng chiến. Hàng phố, thôn xóm, xí nghiệp trường học, tất cả các tầng lớp nhân dân, công nhân, nông dân trí thức, công thương gia, nhà tu hành... dấy lên phong trào chi viện cho miền Nam ruột thịt. Công nhân sản xuất, vận chuyển vũ khí, đạn dược, thanh niên xung phong, tòng quân Nam tiến, phụ nữ tổ chức quyên góp trang bị cho bộ đội.


Cách mạng Việt Nam gặp nhiều khó khăn do quân Anh mở đường cho quân Pháp chiếm Sài Gòn, đánh rộng ra các tỉnh Nam bộ. Tuy nhiên, trong tình hình ấy, tại Hà Nội, các tướng Tàu lại phải chấp nhận rằng không thể một lúc mà lật đổ được chính phủ Hồ Chí Minh. Chúng tính nước khác, thúc lũ tay sai phá tổ chức Tổng tuyển cử, đồng thời đòi lập một chính quyền khác, trong đó lũ này phải chiếm phần đa số. Mưu kế ấy là của tướng Tiêu Văn. Nhưng rồi chính Tiêu Văn lại phải lùi bước. Bởi lẽ, trọng điểm phá Tổng tuyển cử của y là Hà Nội, mà trọng điểm của trọng điểm là Liên khu I - Hà Nội, nơi phố xá tập trung đông dân nhất, đặc biệt tập trung các nhà tư sản lớn, các nhà trí thức, các tín đồ Phật giáo, Thiên chúa giáo. Tin lành... mà y cho rằng có thể thu hút xây dựng được lực lượng chống đối cách mạng kéo về phía bọn Việt Cách, Việt Quốc. Song cuộc vận động Tổng tuyển cử ở Hà Nội, nhất là trong Liên khu I - Hà Nội lại diễn ra sôi nổi hơn đâu hết. Lũ Việt Cách, Việt Quốc mò đến phố nào cũng bị xua đuổi. Bấy giờ bọn chúng cũng nhen lên được mấy cuộc biểu tình tuần hành, dẫn nhau đi hò hét, la lối trên vài quãng đường có quân Tàu Tưởng canh gác che Chở, nhưng bị dập tắt hết.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #4 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2024, 09:17:51 pm »

Sào huyệt chính của Việt Cách, Việt Quốc ở phố Quan Thánh và Ngũ Xã, trong địa bàn khu Trúc Bạch. Những cuộc tuần hành của chúng thường bị phát hiện từ lúc bí mật tập hợp lực lượng ở Ngũ Xã. Có lần chúng mới mò tới vườn hoa Hàng Đậu liền bị tự vệ khu Đồng Xuân phục kích đánh chạy toán loạn. Có lần chúng tiến được tới Hàng Ngang, và phải tản ra vì cách đánh khác. Bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết, Chủ tịch Tiểu khu 16 - Khu Đông kinh nghĩa thục kể rằng: "Hôm ấy, được tin "bọn kia" đang qua phố Quan Thánh, tôi liền báo cho các anh chị em phụ trách thiếu nhi ở các phố trong tiểu khu. Chỉ chốc lát các em đã tập hợp đông đảo, đồng phục chỉnh tề, vừa đi vừa đánh trống ca hát. Từ Hàng Bè, Hàng Bạc, Mã Mây, Hàng Mắm, các em ra đến đâu phố Hàng Ngang thì thấy "bọn kia" lố nhố ở Hàng Đường. Với sự cổ vũ của bà con trong phố, các em khua trống và hát, hiên ngang tiến lên, dàn kín mặt đường. "Bọn kia" bị chẹn lại, tức tối, nhưng chẳng dám gây gổ với các em, bởi chúng thấy dân phố đổ ra rất đông, chắc chắn là trong đó có các anh em tự vệ. Thế rồi, chúng chịu lép vế, tan ra, lẩn biến". Lại có lần, bọn Việt Cách, Việt Quốc đưa được một đám biểu tình chống Tổng tuyển cử xuống đến tận Hồ Gươm. Ở đây đường rộng, các đội thiếu nhi khu Hoàn Kiếm không thể bít đường chẹn lối được, bèn chuyển cách khác. Các em đi kèm đàng trước, đàng sau, đi kẹp hai bên khua trống, hô khẩu hiệu át lời kêu gào của bọn chúng. Một tên Việt Quốc xông ra dọa nạt, nó to lớn, như con sói gầm gừ trước bày thỏ. Nhưng các em chẳng hề sợ hãi, vì đã có các anh tự vệ chiến đấu bám sát, bảo vệ. Tên Việt Quốc tức tối điên cuồng sắp giở đến thủ đoạn vũ lực thì anh đội trưởng tự vệ Vũ Yên bước vào can thiệp. Ta cố giữ thái độ ôn hòa, còn bọn kia ỷ thế có lính Tàu canh gác gần đó che chở, gây ra xô sát. Chúng bắn chết của ta một người. Nhưng liền đó chúng bị đánh tan tác ngạy, tên ác ôn chạy được đến ngõ Hàng Hành thì bị trị tội.


Có sức mạnh đoàn kết của nhân dân, Hồ Chủ Tịch vững tay chèo chống con thuyền cách mạng lướt qua mọi thác ghềnh nguy hiểm. Giữa tháng 12-1945, Người đưa ra một giải pháp nhằm làm dịu tình hình: lập chính phủ lâm thời với sự tham gia của một người trong Việt Nam cách mệnh đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng, chính phủ này có trách nhiệm tổ chức Tổng tuyển cử, thống nhất các lực lượng vũ trang và sẽ từ chức khi đại hội đại biểu quốc dân làm việc. Biết chắc là bọn tay sai Tàu Tưởng chẳng dám đưa người ra ứng cử, chúng sợ bị nhân dân vạch mặt gạch tên, Hồ Chủ Tịch nêu thêm một điều khoản nữa: dành cho Việt Cách, Việt Quốc 70 ghế đại biểu trong Quốc hội. Tướng Tàu Tiêu Văn đang bí, chấp nhận ngay giải pháp này, thúc ép lũ tay sai phải chấp thuận. Ngày 24 tháng 12 năm 1945, Việt Nam cách mạng đồng minh hội và Việt Nam quốc dân đảng ký chung với Mặt trận Việt Minh một giao ước "đoàn kết ủng hộ chính phủ liên hiệp lâm thời". Thế là ta dành được một thắng lợi quan trọng để tổ chức Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946. Bọn Tầu Tưởng chịu lùi một bước trong mưu đồ lật đổ chính quyền cách mạng.


Đầu tháng 3-1946, Hà Nội đứng trước ngưỡng cửa chiến tranh. Cuộc mặc cả Pháp - Hoa ở bên Trùng Khánh có tin là đã ngã ngũ, chính phủ Tưởng Giới Thạch công nhận "quyền hành của Pháp ở Đông Dương" và đang bàn tiếp việc cho quân Pháp được vào Bắc Đông Dương thay thế quân đội Trung Hoa làm nhiệm vụ tiếp phòng. Cùng với tin này là một tin khẩn cấp: một hạm đội Pháp, đi đầu là tuần dương hạm Ê-min Mác-tin, mang cờ hiệu của tướng Lơ-cléc đang hăm hở xô sóng biển Đông nhằm hướng Hải Phòng. Chiếm xong Hải Phòng, quân dù sẽ nhẩy xuống chiếm các sân bay Hà Nội, đồng thời 5000 lính Pháp, vốn là tù binh của Nhật vẫn nằm trong thành Hà Nội dưới sự quản lý của Tàu Tưởng, sẽ được trang bị lại kiểm soát thành phố.


Bè lũ đế quốc thỏa hiệp với nhau đẩy cách mạng Việt Nam đứng trước tình thế vô cùng khó khăn ngàn cân treo sợi tóc, cùng lúc phải đương đầu với nhiều đối thủ rất đông, rất mạnh.

Ngày 2 tháng 3, Quốc hội khóa đầu tiên họp phiên đầu tiên vì tình hình khẩn cấp nên phải họp sớm hơn một ngày để xác định nhiệm vụ quan trọng trước mắt: Kháng chiến là việc hệ trọng nhất.
Ngày 5 tháng 3, hạm đội Pháp đến vịnh Bắc Bộ. Từ sáng sớm, tiếng rao, tiếng giới thiệu tin quan trọng của những người bán báo khua động khắp các phố phường Hà Nội "Đồng bào hãy đứng dậy chống giặc… Giờ phút nghiêm trọng đã đến... Toàn quốc ủy viên hội gồm đủ đại biểu các đảng phái có trách nhiệm thống nhất quân đội, điều khiển quân dân xông ra giết giặc, chống giữ bờ cõi cho Tổ quốc... "


Hà Nội ngột ngạt trong bầu không khí căng thẳng. Các "phố Tây" vắng tanh vắng ngắt, thường dân Pháp không dám ló mặt ra đường, cửa nhà đóng im ỉm. Quân Tàu Tưởng tăng cường canh gác các ngã ba, ngã tư, tăng cường tuần tiễu. Chúng lo ngại về một cuộc xuống đường của người Hà Nội.


Hà Nội đã đứng trước ngưỡng của chiến tranh. Nhưng rồi, từ một quyết định, một chữ ký của Hồ Chủ tịch xua tan đi bao nỗi hiểm nghèo cho nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đang thời kỳ trứng nước, đầy rẫy những khó khăn thiếu thốn, chưa được một chính phủ nào trên thế giới này công nhận. Sau này, nhiều tướng lĩnh, nhân vật chính trị, nhà sử học của Pháp đều đánh giá rất cao "nước cờ tháng 3 năm 1946" của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Trong tình thế bấp bênh đang trải qua, Cụ Hồ đã chèo lái với một nghệ thuật cao siêu khác thường, quay ngược tình thế hiểm nguy không thể tránh khỏi, trở thành có lợi cho mình".


Ngày 6 tháng 3, lúc 16g30, tại tòa nhà số 38 phố Lý Thái Tổ, Hồ Chủ tịch ký với đại diện của chính phủ Pháp, Xanh-tơ-ny, bản hiệp định sơ bộ Hòa với Pháp. Hòa đề đổi lấy việc chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước tự do, có chính phủ. nghị viện, có quân đội, tài chính của mình ở trong Liên Bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp.


Hòa với Pháp, chấp nhận cho 15.000 quân Pháp vào Bắc Việt Nam trong thời hạn năm năm, để gạt cho xong mấy chục vạn quân Tưởng và loại trừ bọn Việt gian tay sai của Tưởng, dùng tay Pháp tống khứ Tưởng đi cho nhanh.


Hòa với Pháp để đồng bào ta trong Nam đang gặp khó khăn, có được giây phút nghỉ xen kẽ chuẩn bị cho những đợt chiến đấu tiếp theo.

Hòa với Pháp mà giành thêm thời gian chuẩn bị kháng chiến và tạo điều kiện cùng nhân dân Pháp chống bọn thực dân phản động Pháp.

Hòa với Pháp để mở ra một thời kỳ đấu tranh bằng thương lượng.

Hòa để tiến...
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #5 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2024, 09:21:14 pm »

Trước khi bản Hiệp định 6-3 được ký kết, Ban thường vụ của Đảng eó dự kiến rằng tuy bọn Tưởng ở Trùng Khánh đồng ý rút quân về cho Pháp vào thay chân nhưng lũ tướng Tàu cầm quân chiếm đóng sẽ lừng khừng không chịu rút ngay, còn cố bày chuyện lăng nhăng kéo dài thời gian để vơ vét thêm của cải của ta và tạo điều kiện cho lũ tay sai của chúng, bọn Việt quốc Việt cách phá ta.


Tình hình diễn biến đúng như ta dự đoán. Bọn Tướng Tàu ngăn chặn các tướng Pháp từng nước.
Ngày 8-3, quân Pháp mới được đổ bộ lên Hải Phòng trong những điều kiện hạn chế.

Ngày 13 tháng 3, đích thân Tưởng giới Thạch ra lệnh cho tướng Lư Hán phải đến Hà-nội ngay và nhân danh Tổng thống Trung Hoa dân quốc điều khiển việc thi hành kế hoạch rút quân, bàn giao nhiệm vụ tiếp phòng cho Pháp. Nhưng rồi phải qua nhiều cuộc bàn cãi lằng nhằng Lư Hán mới cho tướng Lơ-cléc lên Hà Nội ngày 18-3 với điều kiện "chỉ được đem theo một đoàn tùy tùng danh dự nhỏ". Tuy nhiên, ngài tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp rất "khéo xử sự" với các vị tướng Tàu vốn ham tiền bạc, nên hôm ấy đoàn tùy tùng danh dự nhỏ của ông ta lại chẳng nhỏ chút nào: 1200 người với 200 xe, các xe đều cắm hai lá cờ Pháp và Việt.


Hiệp định quân sự Pháp - Hoa quy định những thể thức tiếp phòng phải được hoàn thành ngày 31 tháng 3 xong đến đầu tháng 5 vẫn chưa một đơn vị nào của quân Tưởng rời Bắc Bộ. Trong khi đó các tướng Tàu thúc giục lũ tay sai Việt Quốc, Việt Cách gây rối tình hình với hy vọng kiếm được cái cớ để nằm lỳ.


Mãi đến ngày 16 tháng 6, quân Tưởng mới bắt đầu rời Hà-nội. Và 9 ngày sau đó, tướng Lư Hán mới chịu cuốn gói về Côn Minh bằng một chiếc máy bay của quân đội Pháp cho mượn.

Ngày 22 tháng 6-1946, Hà-nội sạch bóng quân Tàu Tưởng.

Hào khí Thăng Long bừng lên từ mùa thu 1945 với cao trào each mạng của nhân dân Hà-nội mà lực lượng xung kích là thanh niên, mũi nhọn của lực lượng này là tổ chức tự vệ Hoàng Diệu.

Người Hà-nội được thấy rõ sức mạnh của tuổi trẻ Hà-nội ngay ngày đầu giành chính quyền.

Hôm đó, 19 tháng 8, khi mọi người vửa trở về nhà sau một ngày đấu tranh quyết liệt chiếm Bắc bộ phủ, Thị Chính, trại Bảo An Binh... thì 8 giờ tối, tiếng trống ngũ liên nổi lên từ phía bờ sông Hồng:
Vỡ đê đến nơi, cả Hà-nội có nguy cơ chìm ngập trong dòng nước sông Hồng.


Từ ngày 13 tháng 8, vỡ đê ở Vĩnh Bảo (Hải Hưng) đến ngày 17 đê Quảng Cư (Vĩnh Phú) rồi đến Bất Bạt (Hà Sơn Bình) cũng bị vỡ. Nước sông Hồng tiếp tục dâng cao. Ngày 19 tháng 8, ở Hà-Nội nước dâng ngang mặt đê và nguy hiểm nhất là ở nhiều chỗ, từ quãng cầu Long Biên đến nhà Bác Cổ (nay là Bảo tàng lịch sử) nước đã thấm qua thân đê, chảy vào trong phố.


Tiếng trống ngũ liên, tiếng loa gọi cứu đê thôi thúc. Nhân dân các phố trong nội thành gấp rút tổ chức các đội hộ đê. Những dòng người lao ra phía bờ sông, mang theo những gì lấy được từ trong nhà mình: sẻng cuốc, thúng, sọt, bao tải... Người cuốc đất, người xúc đất đổ vào thúng, vào sọt. người khuân đất lên đê cố bịt những chỗ dò dỉ, cố đắp "con lươn" nâng mặt đê lên cao chặn dòng nước đang tràn vào trong phố.


Anh chị em thanh niên là lực lượng lớn nhất, mạnh nhất trong các đội hộ đê, Thanh niên các phố gần đê đến trước, đó là các đội của các phố Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải, Chợ Gạo, Mã Mây, Hàng Mắm, Hàng Chiếu..., tiếp theo đến các đội Hàng Bạc, Hàng Bè, Hàng Ngang, Hàng Đào..., kế nữa đến các đội Hàng Trống, Hàng Gai, Hàng Bông, Nhà Thờ… Không ai đếm được có bao nhiêu đội hộ đê, chỉ thấy mỗi lúc một thêm đông người bám lấy đoạn đê xung yếu, chống chọi lại dòng nước hung dữ.
Những cái chụp đèn phòng không từng chứng kiến những ngày đen tối của Hà Nội khi xâm lược Pháp - Nhật ngự trị, được tháo rỡ trong đêm nay. Công nhân điện Hà-nội lắp thêm nhiều ngọn đèn cho sáng trưng cả dọc đường bờ sông, cho thanh niên Hà Nội quyết thắng thiên tai, bảo vệ thành phố.
Quá nửa đêm, khi đê đã được củng cố xong, ai nấy mới rùng mình bàn tán về một tai họa ghê gớm đã kịp thời chặn đứng được. Nếu không có sức dân, những người vừa mới được hưởng quyền làm chủ thì đê này vỡ rồi, cả Hà Nội chìm trong nước lụt đến tận mái nhà, biết bao nhiêu người chết, biết bao nhiêu người đói, biết bao nhiêu của cải phút chốc tiêu tan, và biết đến bao giờ mới khắc phục được hết hậu quả?


Ngày 19 tháng 8 năm 1945, Hà Nội giành hai chiến thắng lịch sử: cướp lại chính quyền đã mất đi hơn sáu chục năm ròng, chặn đứng một trận lụt.

Tiếp ngay đó, nhân dân Hà Nội lo việc xây dựng lực lượng bảo vệ chính quyền, gồm những thanh niên hăng hái nhất của các đường phố. Tổ chức ấy có tên gọi "Việt Dũng đoàn" với nhiệm vụ:

Giữ gìn trật tự trị an đường phố, chống các tệ nạn xã hội (cờ bạc. rượu chè. thuốc phiện), đi đầu trong các phong trào khỏe vì nước, thực hành đời sống mới chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm.
Ít ngày sau, theo chỉ thị của Thành ủy Hà Nội, từ Việt Dũng đoàn, tổ chức lại thành tự vệ Thành Hà Nội, Tổ chức tự vệ thành phát triển rất nhanh. Mỗi phố có một trung đội. Nhiều phố lớn lập được đại đội với số quân trên dưới 100, Liên khu I là nơi tự vệ thành phát triển mạnh nhất trong thành phố.
Các đơn vị tự bầu ra những người chỉ huy. Toàn thành phố có Ban chấp hành tự vệ do đồng chí Khuất Duy Tiến làm Chủ tịch. Ban chấp hành tự vệ Liên khu 1 gồm có:

Chủ tịch: Đồng chỉ Đặng Quốc Châu, ít lâu sau đồng chí Trịnh Đình Báu lên thay đồng chí Đặng Quốc
Châu đi nhận công tác khác.

Phó chủ tịch: đồng chí Bùi Nguyên Cát kiêm phụ trách tự vệ khu Đông Xuân.

Bí thư: đồng chí Phạm Văn Trừng, trực tiếp phụ trách các đơn vị tự vệ phố Mã Mây, Phất Lộc, Hàng Mắm, chịu trách nhiệm báo cáo hàng tuần với Chủ tịch Ban chấp hành tự vệ thành phố về tình hình hoạt động của tự, vệ Liên khu I.

Các ủy viên: đồng chí Trần Hợp Phố, ủy viên quân sự, trực tiếp phụ trách tự vệ phố Hàng Bạc.

- Đồng chí Tạ Đức Nghi, ủy viên chính trị, trực tiếp phụ trách tự vệ Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường.

- Đồng chí Trịnh Đình Bính, ủy viên văn hóa xã hội, trực tiếp phụ trách tự vệ Hàng Gai.

- Đồng chí Nguyễn Viết Sính, đội trưởng tự vệ Hàng Giấy.

- Đồng chí Nguyễn Trọng Hàm, đội trưởng tự vệ Hàng Thiếc.

- Đồng chí Nguyễn Bá Khảo, đội trưởng tự vệ Hàng Bồ, Hàng Cân, Hàng Quạt

Trước ngày khởi nghĩa, Hà Nội đã có một đội tự vệ chiến đấu, làm các nhiệm vụ tuyên truyền vũ trang, bảo vệ những cuộc mít tinh quần chúng. Trong những ngày tháng 8 lịch sử tự vệ chiến đấu dẫn đầu những đoàn biểu tình cướp chính quyền và phát triển lực lượng rất nhanh thành một đại đội với số quân hơn hai trăm người gánh vác vai trò chính trong việc bảo vệ trung ương Đảng, Chính phủ cách mạng lâm thời.


Khi các khu phố tổ chức tự vệ thành thì tự vệ chiến đấu là người giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự. Tháng 9, tự vệ chiến đấu và tự vệ thành hợp nhất tổ chức chỉ huy, mang tên mới: Đoàn thanh niên tự vệ Hoàng Diệu.


Trung ương Đảng và Chính phủ trực tiếp chăm lo xây dựng tự vệ Hoàng Diệu.

Một trường đào tạo cán bộ tự vệ được gấp rút tổ chức: Trường cán bộ tự vệ Hồ Chí Minh, giám đốc nhà trường là đồng chí Võ Nguyên Giáp, Khóa đầu tiên tháng 1-1946 mở tại trường kỹ nghệ thực hành ở phố Hàng Kèn (nay là phố Quang Trung). Hồ Chủ tịch đã đến dự buổi lễ khai giảng. Người nói:

- Lúc này, chúng ta không cần nói nhiều, mà phải làm cho thật nhiều. Tự vệ là vệ lấy mình, lấy gia đình mình, rồi đến thành phố mình, nước mình, Tạ phải ngăn ngừa mọi sự uy hiếp về quân sự, Pháp có thể đánh vào thành phố ta, về xã hội, có thể phát sinh ra trộm cắp. Về chính trị, có thể có những kẻ phản động phao đồn những tin nhằm làm náo động lòng dân. Các đồng chí đến đây theo lớp huấn luyện là học tập cách trị an về vật chất và tinh thần, học tập thành cán bộ để đi trước bảo vệ nền tự do của mình, không những thế các đồng chí còn học tập để chỉ huy những người đi sau.

Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đà làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải quyết tâm, tín tâm, và đồng tâm. Nhớ lấy ba chữ ấy: Thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên tất cả, các đồng chí phải thành công".


Sau này, Hồ Chủ tịch ghi những lời căn dặn của Người vào cuốn sổ vàng của nhà trường, như sau:
Tự vệ là để hộ vệ Thủ đô

Phải giữ kỷ luật

Phải siêng học tập.

Phải thực hành đời. sống mới

Phải luôn luôn tiến bộ


Thân ái
HỒ CHÍ MINH
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #6 vào lúc: 09 Tháng Hai, 2024, 09:24:10 pm »

Bọn Tàu Tưởng gây cho ta rất nhiều khó khăn. Chúng tìm mọi cách làm cho ta phải đưa lực lượng bộ đội vệ quốc quân ra ngoài thành phố, chỉ còn một tiểu đoàn phân tán làm nhiệm vụ canh gác các cơ quan trung ương và thành phố. Cũng dễ hiểu, chúng gây khó khăn cho ta trong việc bảo vệ trật tự an ninh thành phố để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho bọn Việt Cách Việt Quốc gây rối trật tự xã hội và kiếm cơ hội lật đổ chính phủ, cướp chính quyền. Nhưng chúng đã thất bại vì Hà Nội đã có lực lượng tự vệ Hoàng Diệu; tự vệ thành giữ các đường phố, xí nghiệp, tự vệ chiến đấu là đội quân cận vệ, một thứ bộ đội đặc vụ đóng tập trung sẵn sàng lao tới các điểm xung yếu.


Đầu tháng 3, cả Hà Nội ngỡ ngàng vì chủ trương "hòa với Pháp", Hồ Chủ Tịch đến ngay với tự vệ Hoàng Diệu. Người cho gọi các cán bộ tự vệ từ cấp trung đội trở lên tập trung ở phòng Khánh tiết của tòa Thị Chính, ngày 9-3, hơn một tiếng đồng hồ, trong bầu không khí thân mật, Người giải thích lẽ hơn thiệt vì sao, ta ký kết "hòa với Pháp", thế nào là "hòa để tiến", Người nói về trách nhiệm của tự vệ Hà Nội trước tình hình mới:

"... Theo tinh thần của bản hiệp định thì năm năm nữa chúng ta sẽ hoàn toàn độc lập. Vậy nhân dân ta đừng nên tỏ thái độ khiêu khích khi thấy quân đội Pháp vào nước ta để tránh những sự đáng tiếc xẩy ra"

Người nhấn mạnh:

"Sự ký kết hiệp định đình chiến ấy không phải là đã hết chiến tranh đâu, và thái độ ôn hòa nhã nhặn của nhân dân ta đối với quân đội Pháp cũng không phải là thái độ nhu nhược thụ động của một dân tộc bị bảo hộ đối với quân đội chinh phục đâu. Trái lại, hơn bao giờ hết, ta phải luôn luôn chuẩn bị để bồi dưỡng lực lượng, nâng cao tinh thần kháng chiến của toàn dân đề đối phó với những việc bất ngờ có thể xẩy ra

"Tình hình kháng chiến, sự chuẩn bị chu đáo phải là thường trực tiếp tục không một dây phút nào ngừng. Những cố gắng ấy, những sự chuẩn bị ấy, nếu gặp phải trường hợp phải kháng chiến thì dùng để cứu quốc. Ví bằng gặp được trường hợp thuận tiện mà tránh được chiến tranh, thì sẽ được đem dùng để kiến quốc cũng là cần lắm".

Một tình thế mới mở ra sau khi hiệp định sơ bộ Việt - Pháp được ký kết. Tự vệ Hoàng Diệu có điều kiện thuận lợi hơn để củng cố về tổ chức, tập luyện quân sự, học tập chính trị để làm tròn nhiệm vụ trị an, trấn áp phản cách mạng.

Vào cuối tháng 6, bọn thực dân Pháp tung ra một tin xằng bậy:

"Chính phủ Việt Nam đã giải tán lực lượng tự vệ vì dính líu vào những lộn xộn nghiêm trọng ở nhiều nơi. Không những thế, đại bộ phận lực lượng tự vệ này do Việt Nam quốc dân đảng tổ chức ra và là lực lượng chủ yếu của đảng này".

Tin nhảm tung ra vì bọn thực dân Pháp rất e ngại các chiến sĩ tự vệ đường phố, họ đã trừng trị đích đáng, ngăn chặn kịp thời những hành động khiêu khích của bọn phản động tay sai thực dân Pháp của những tên lính Pháp ở trên các đường phố. Chúng đánh vào uy tín của các đội tự vệ, gây chia rẽ, gây mối hoài nghi giữa tự vệ và nhân dân.

Vì vậy mà trên báo Cứu Quốc số ra ngày 1 tháng 7 xuất hiện bài báo "Gửi các bạn tự vệ thành Hà Nội"

Bài báo ghi công tự vệ thành đã "góp sức cùng anh em Vệ Quốc đoàn, tự vệ chiến đấu, công an viên trong cuộc bảo vệ thủ đô, giữ gìn đất nước, đã tỏ một tinh thần can đảm, hy sinh, làm cho đồng bào tin cậy, ngoại quốc e dè anh em thực sự xứng đáng là thanh niên của nước Việt Nam mới, nhất là thanh niên thủ đô".

Bài báo thông báo mấy nét về phương hướng bồi dưỡng tự vệ:

… Một lực lượng quân sự đáng kể ấy phải được bồi bổ. Vì vậy chúng tôi vừa được tin Chính phủ sắp cho thi hành một phương pháp nhằm làm tăng sức mạnh của tự vệ thành, bằng cách cải tổ theo một hệ thống hẳn hoi, bằng cách huấn luyện về mọi phương diện".

Bài báo nhắc nhở: "Anh em tự vệ thành chúng ta hãy bình tĩnh suy nghĩ và sáng suốt hành động. Anh em cần luôn luôn sẵn sàng có một tinh thần chiến đấu mạnh mẽ, nhưng quyết nhiên không mắc hợm, không bị phỉnh, không chia rẽ, không ngã vào hố khiêu khích của bọn phản động..."

Cuối tháng 8-1946, nhân dịp kỷ niệm một năm thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, các đội tự vệ chiến đấu, tự vệ thành được tập trung đến khu Đấu Xảo (nay là Cung Văn hóa lao động hữu nghị Việt - Xô). Báo Cứu quốc số ra ngày 30 tháng 8, đăng bài tường thuật trên trang nhất: "Sau huấn thị của cụ Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng, sau những lời dặn dò của ông Chủ tịch quân ủy hội Võ Nguyên Giáp. sau lời động viên của ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Trần Duy Hưng khen ngợi anh em tự vệ đã cố gắng nỗ lực trong mọi mặt công tác xã hội, cũng như việc bảo vệ trật tự an ninh đường phố... tiếp đến một cuộc duyệt binh của lực lượng tự vệ chiến đấu và tự vệ thành thống nhất thành tự vệ Hoàng Diệu, một cuộc trình diện lần đầu tiên của tự vệ với Chính phủ và với nhân dân thủ đô.

Cũng dịp này, chúng tôi được thấy sự lớn mạnh của lực lượng tự vệ mới có một năm tuổi: Những hàng tự vệ thẳng tắp với những hàng súng máy đen láy; nhưng hàng tiểu liên mới toanh, những hàng súng trường được xếp thống nhất từng kiểu, đều tăm tắp: nhưng cũng có những hàng trang bị toàn mã tấu sáng choang, hoặc toàn lựu đạn, toàn gậy tre, hàng nối hàng trông rất hùng dũng nghiêm trang. Đặc biệt, ở cuối cùng, có một cỗ súng lớn bắn chiến xa cũng diễu hành, làm cho mọi người trầm trồ khen ngợi, phấn khởi và tin tưởng vào sự trưởng thành mau chóng của tự vệ đường phố, được những người anh em vệ quốc đoàn giúp đỡ huấn luyện, dìu dắt".
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #7 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:21:04 am »

CHƯƠNG II
TRỌNG TRÁCH


Hà Nội tuân lệnh Hồ Chủ tịch, giữ đúng thái độ ôn hòa khi quân Pháp kéo vào. Ta nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định nhưng Cao ủy Pháp Đắc-giang-li-ơ phá ngang, công kích Lơ-cléc non gan, đánh giá quá cao khả năng kháng chiến của người Việt Nam đã "nhân nhượng quá nhiều". Viên thày tu - đô đốc này kêu toáng lên với những nhân vật nặng óc thực dân trong chính phủ Pháp rằng: "thương lượng với các nhà lãnh đạo Việt Minh có nghĩa là củng cố quyền lợi của những kẻ thù hăng hái nhất" và yêu cầu triệt hồi ngay các tướng Lơ-cléc, Sa-lăng "những kẻ có xu hướng thất bại chủ nghĩa, không chịu phục tùng quyền lục. của Cao ủy".


Đắc-giăng-li-ơ giật dây cho cái gọi là hội đồng tư vấn Nam kỳ đòi tự trị. Cần nói thêm, đây chính là một tổ chức do Đắc-giăng-li-ơ đặt ra từ hồi tháng 11 năm 1945, gồm 12 nhân vật" đại diện cho nhân dân Nam kỳ", thì 4 là người Pháp chính cống thực dân và 7 mang quốc tịch Pháp.


Đến trung tuần tháng 4-1946, tại hội nghị Đà Lạt, Đắc-giăng-li-ơ gây rối về vấn đề Nam kỳ. Hội nghị này được quy định trước, là trù bị cho các cuộc thương lượng chính thức sẽ diễn ra tại Pa-ri vào cuối tháng 5, nhưng hai phái đoàn Việt - Pháp tranh luận gay gắt từ ngày 17 tháng 4 đến ngày 13 tháng 5 chỉ đạt được mỗi một điều nhất trí là giao việc giải quyết mọi khó khăn cho cuộc hội nghị sẽ họp ở nước Pháp vào tháng 7.


Ngày 31 tháng 5, Hồ Chủ tịch đi Pa-ri theo lời mời của chính phủ Pháp, cùng đi với Người có phái đoàn đàm phán Việt Nam. Đoàn rời Hà Nội hôm trước thì hôm sau, tại Sài gòn, Đắc-giăng-li-ơ công bố thành lập "nước Nam kỳ tự trị". Rồi hạ tuần tháng 6, ngày 21 quân Pháp mở chiến dịch tiến công ào ạt chiếm Tây Nguyên, lập xứ Tây kỳ.


Sang tháng 7, Đắc-giăng-li-ơ hoàn toàn thắng thế với chủ trương "cứng rắn ", gạt Lơ-cléc đưa Va-luy, một viên tướng "không ưa thương lương với Việt Minh" ngồi vào ghế tổng chỉ huy quân viễn chinh. Va-luy rắp tâm mở màn thời kỳ giữ cái gậy chỉ huy của mình bằng một chiến công vang dội, có thể có giá trị quyết định mà ít tốn kém. Lấy cớ mừng Quốc Khánh Cộng hòa Pháp 14 tháng 7, viên tướng này tổ chức một cuộc diễu binh trọng thể ở đường Cột Cờ (nay là phố Điện Biên Phủ) Hà Nội, và mời bộ đội Việt Nam cùng tham dự với tư cách là "quân đội một nước tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên Hiệp Pháp". Hôm đó, sẽ có một vụ nổ châm ngòi để gây ra một vụ nổ lớn. Kẻ châm ngòi là lũ phản động Việt Quốc Việt Cách. Lũ này sẽ nổ súng vào một khối trong đội hình diễu binh của quân Pháp. Khi có tiếng nổ thì một mặt quân Pháp sẽ quay súng bao vây các đơn vị bộ đội Việt Nam dang tham gia diễu binh, mọi khác "viện cớ duy trì an ninh", chúng sẽ tung lực lượng cơ động ra giữ các công sở, các cơ quan chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, tạo điều kiện cho bọn Việt gian tay sai làm đảo chính, cướp chính quyền Trung ương và Hà Nội. Nhưng kế hoạch thâm hiểm này thất bại, vì trước ngày 14 tháng 7. ngay tại Hà Nội, các lực lượng an ninh của chính quyền cách mạng, phối hợp với các đơn vị tự vệ đường phố, tiến hành một đợt hoạt động nhanh, cùng lúc vây quét hết các ổ phản động. Lộ âm mưu, cuộc "duyệt binh trọng thể" mất mục đích chính.


Trò ảo thuật quân sự 14 tháng 7, nếu như không bị sịt ngòi thì đã nổ ra đúng vào lúc cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Phông-ten-nơ-blô, cách Pa-ri dăm sáu chục cây số, mới bắt đầu được một tuần lễ và đầy những triệu chứng bế tắc. Cao ủy Đắc-giăng-li-ơ và đồng bọn cố tình gây ra nhiều vụ rắc rối ở Việt Nam để tiếp tay cho những tên thực dân phản động ở bên Pháp phá cuộc đàm phán Phông-ten-nơ-blô.


Ngày 7 tháng 7, tại Hồng Gai quân Pháp nổ súng; chiếm các vị trí của bộ đội Việt Nam trong thị xã.
Ngày 27 tháng 7, từ Lạng Sơn, quân Pháp xông ra chiếm pháo đài Đồng Đăng.

Liên tục, 10 ngày đầu tháng 8, trên đoạn đường hơn hai chục cây số, từ Cầu Đuống đến Bắc Ninh, xảy ra những vụ nổ súng, ném bom. Và trắng trợn hơn cả là Đắc-giăng-li-ơ triệu tập các đầu sỏ tay sai Nam kỳ, Lào, Miên đến Đà Lạt mở hội nghị họp bàn về tổ chức liên bang, mà thực ra là để cho lũ kia nhai lại, hoan nghênh, tán tụng các nguyên tắc về một thuộc địa Pháp đổi tên Liên bang Đông Dương do chính Đắc-giăng-li-ơ soạn ra, một liên bang gồm các nước Nam kỳ, nước Lào, nước Cam-pu-chia và nước Việt Nam bị chia cắt làm nhiều mảng, xứ Tây kỳ (Tây Nguyên), xứ Thái, xứ Nùng, xứ Mường…


Như một liều thuốc kích thích, "vụ Đà Lạt" của cao ủy Đắc-giăng-li-ơ làm cho tình hình căng thẳng của cuộc đàm phán Việt - Pháp ở Phông-ten-nơ-blô tăng lên đến tột độ, bỏ họp suốt cả tháng 8, qua tháng sau mới họp lại được. Một số thỏa thuận về vấn đề Nam kỳ đã đạt được nhưng đến phiên họp ngày 10 tháng 9 lại tan vỡ hoàn toàn, vì phía Pháp không chịu quy định thời gian tổ chức trưng cầu ý dân.


Thái độ của phía Cộng hòa Pháp rõ ràng là không muốn đối thoại. Trong buổi khai mạc hội nghị Phông-ten-nơ-blô, Mác Ang-đrê tung ra một lời hăm dọa xấc xược: "nếu các vị không ngoan ngoãn phục tùng thì chỉ cần một cuộc hành quân cảnh sát, không đến 8 ngày…". Trưởng đoàn đàm phán của Pháp ăn nói hàm hồ như vậy là dựa vào các báo cáo của Đắc-giăng-li-ơ. Viên Cao ủy này chủ trương dùng bạo lực, từng nhiều lần lưu ý các chính khách ở Pa-ri rằng: "Trước mắt, nhiều lắm cũng chỉ là một chiến dịch thuộc địa (chứ không phải là một cuộc chiến tranh), mà bộ chỉ huy tối cao đã cân nhắc kỹ, một chiến dịch tiến hành dưới hình thức một hành động mãnh liệt và nhanh chóng, tiêu diệt lực lượng quân sự của Việt Minh, tiếp theo đó là một thời kỳ bình định dài hay ngắn".


Hội nghị Phông-ten-nơ-blô tan vỡ. Phái đoàn Việt Nam rời Pa-ri ngày 13 tháng 9, nhưng Hồ Chủ tịch còn nán lại mấy ngày để ký bản Tạm ước 14-9. Như tên gọi của nó, đây chỉ là một thỏa thuận về một số vấn đề bức thiết, bộ phận, có lợi cho cả đôi bên để có thể tiếp tục cuộc đàm phán vào đầu năm 1947.


Nhưng Đắc-giăng-li-ơ tiếp tục phá, viên Cao ủy Pháp rắp tâm dùng bạo lực.
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #8 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:22:10 am »

Trung tuần tháng 10-1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng nhận định tình hình: "không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng phải đánh Pháp".

Thủ đô Hà Nội được lệnh sẵn sàng chiến đấu, đảm lĩnh "nhiệm vụ tiên phong trong thời kỳ mới, thực hiện quyết tâm lớn cứu nước của dân tộc. Nhân dân, bộ đội vệ quốc đoàn và tự vệ thủ đô phải gắng nêu gương sáng trước toàn quốc, tiêu hao và giam chân quân địch trong thành phố, làm thất bại bước đầu chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của địch". Ban Thường vụ Trung ương Đảng đặt hết niềm tin vào quân và dân Hà Nội, và chọn cho Mặt trận Hà Nội một người chỉ huy dũng cảm, gương mẫu, rất kiên quyết và cũng rất linh hoạt, đó là đồng chí Vương Thừa Vũ.


Thanh niên Thủ đô nhiều người biết tên, biết tiếng, đồng chí Vũ, mẫu mực về kỷ luật, rất nghiêm nhưng dễ gần gũi. Hồi mới cướp chính quyền, đồng chí là chỉ huy trưởng Quân giải phóng Hà Nội, sau làm giáo viên đào tạo cán bộ quân sự ở Trường Quân chính Quân khu 2, trường cán bộ Việt Nam, Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Trong hồi ký của mình, đồng chí ghi lại buổi nhận nhiệm vụ chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội như sau:

- "Giữa tháng 10 năm 1946, tôi đang dẫn học sinh quân đi tập dã ngoại ở chân núi Ba Vì thì nhận được lệnh của Thường vụ Trung ương Đảng gọi về gấp. Hồi ấy, ở Hà Nội, quân Pháp hay giở trò khiêu khích nên các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước không làm việc trong thành phố. Tôi được hẹn đến "dinh Tổng đốc Hà Đông", một tòa nhà xây theo kiểu cổ, kín cổng cao tường, ở gần cầu thị xã Hà Đông.


Tôi đến điểm hẹn lúc quá trưa ngày 15 tháng 10. Thường vụ Trung ương đang họp, Nhưng tôi được phép đi thẳng vào phòng họp. Các đồng chí tạm ngừng bàn bạc. Đồng chí Trường Chinh tự tay xếp thêm một cái ghế vào bên cạnh, rồi bảo tôi "Đồng chí Vũ ngồi đây", Lúc mới vào phòng này thoáng gặp vẻ tư lự trên nét mặt các đồng chí Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp... tôi đã cảm thấy hình như Thường vụ Trung ương Đảng đang bàn luận về một việc gì khó khăn lắm. Ngồi một lát, tôi càng thấy nhận xét đó là đúng bởi vì ngay trong lúc tạm nghỉ, các đồng chí vẫn chẳng nghỉ ngơi, vẫn theo đuổi những suy nghĩ của mình, người ngồi tại chỗ bên bàn họp, người đi đi lại lại, nhè nhẹ từng bước chân, không ai ra ngoài sân, không ai nói gì với ai. Căn phòng im lặng.


- Thường vụ mời đồng chí đến đây để trao nhiệm vụ mới rất quan trọng, tin rằng đồng chí có thể gánh vác được...

Đồng chí Trường Chinh, nói thong thả, rành mạch từng tiếng, giọng anh vẫn dịu dàng, nhưng bàn tay anh nắm chắc lại khe khẽ đập xuống mặt bàn then nhịp từng câu nói:

- Giặc Pháp ráo riết chuẩn bị. Sớm muộn thế nào chúng nó cũng đánh úp Hà Nội, chiếm Thủ đô ta. Trung ương Đảng giao cho đồng chí Vũ làm chỉ huy trưởng Quân khu II, tức là Quân khu đặc biệt Hà Nội.


Anh phân tích tình hình, nói ý nghĩa chiến tranh toàn dân, kháng chiến lâu dài, rồi chỉ thị " Hà Nội phải được chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng địch trở mặt gây hấn. Nếu chúng cố tình tấn công đánh chiếm Hà Nội thì ta phải lập tức đánh trả ngay, phải ghìm được địch ở trong thủ đô một thời gian để hậu phương ta có điều kiện yên ổn chuyển sang kháng chiến. Hà Nội phải đánh mạnh, nhưng cần khéo léo, giữ được lực lượng để đánh lâu dài. Phải gấp rút tranh thủ chuẩn bị, nhưng cũng phải hết sức tránh mắc mưu khiêu khích của giặc. Ta còn phải tranh thủ thời gian để củng cố mọi mặt vì nếu để chiến tranh nổ ra sớm thì không có lợi...


Tôi chăm chú lắng nghe từng câu từng ý của đồng chí Trường Chinh, mắt tôi không rời nhìn đồng chí Phạm Văn Đồng ngồi phía đối diện. Anh đi đàm phán với Pháp ở Phông-ten-nơ-blô mới về. Cuộc đàm phán chẳng đi đến kết quả gì, nhưng qua bên đó. chắc là anh hiểu thấu tâm địa bọn thực dân, cũng như những khó khăn mà chúng đang vấp phải trong việc khôi phục lại nước Pháp bị phát xít hít-le tàn phá, bòn rút. Lúc này anh cũng chăm chú nghe đồng chí Trường Chinh ra chỉ thị và phân tích tình hình cho tôi. Anh nhìn thẳng vào mắt tôi, đầu gật gật khi đồng chí Tổng bí thư nói: "phải khéo léo giữ được lực lượng đánh lâu dài". Tôi cũng khẽ gật đầu đáp lại, tỏ ý: "Vâng, tôi hiểu ý chỉ đạo của Thường vụ Trung ương Đảng. Tôi hiểu ý anh. Ta đánh lâu dài, địch sẽ không chịu nổi".


Bấy giờ, quân Pháp vào Hà Nội đã được 7 tháng. Khoảng 6500 binh lính và sĩ quan (theo hiệp định là 5000) đóng 45 vị trí lớn nhỏ. Những vị trí lớn là thành Hà Nội, trường Xa-rô (phố Hoàng Văn Thụ), phủ toàn quyền (đường Hùng Vương), trường Bưởi (trường Chu Văn An). Đồn Thủy (từ nam Nhà Hát lớn đến bệnh viện Việt - Xô), sân bay Gia Lâm. Rải rác trong thành phố có nhiều điểm mà theo hiệp định thì quân đội hai bên Việt - Pháp cùng có trách nhiệm canh gác, như nhà ga xe lửa, cầu Long Biên, các nhà máy điện máy nước, ngân hàng... Tuy nhiên bất cứ ở điểm canh gác nào, quân Pháp cũng biến thành vị trí phòng ngự có hỏa lực mạnh, để khi trở mặt có thể độc quyền chiếm giữ địa điểm ấy và khống chế cả khu vực chung quanh. Chẳng phải là một nhà quân sự, ai cũng dễ dàng thấy được ý đồ của bọn tưởng lĩnh Pháp chúng kèm chặt ta, dựng nên một thế trận đánh úp Hà Nội.


Phía trước trại Vệ quốc đoàn trung ương, cách một mặt đường là rạp Ma-giét-tích (nay là rạp Tháng Tám), chủ rạp là người Pháp, chúng "gửi" vào đó một tiểu đội, biến rạp chiếu bóng này thành một bàn đạp tiến công.


Khách sạn Mê-trô-pôn (Mé trople - nay là khách sạn Thống nhất) cũng chỉ cách dinh Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có một mặt đường chúng biến tòa nhà ba tầng kiến cố này thành một trại lính, núp dưới cái vỏ "tiệm ăn của các sỹ quan" cho đỡ trơ trẽn. Chúng thực hiện đúng như chỉ thị ngày 6 tháng 4. của tướng Va-luy "đóng quân nơi nào, trước hết phải đặt ngay kế hoạch phòng thủ rồi biến dần các hoạt động thuần túy quân sự thành một cuộc đảo chính".
Logged
dungnuocgiunuoc
Thành viên
*
Bài viết: 614



« Trả lời #9 vào lúc: 12 Tháng Hai, 2024, 10:23:52 am »

Trong việc lập kế hoạch tác chiến, có hai vấn đề mà Bộ chỉ huy Mật trận Hà Nội phải suy nghĩ bin bạc nhiều. Đó là:

- Làm thế nào để khi địch trở mặt gầy hấn thì ta đánh trả lại ngay tức khắc được, bắt địch phải bị động đối phó?

- Làm thế nào để kìm giữ địch một thời gian trong Hà Nội. không cho chúng mở rộng chiến tranh ra ngoai, đề hậu phương ta chuyển sang kháng chiến?

Vấn đề thứ nhất được giải quyết như sau: Phải sẵn sàng chiến đấu rất cao để có lệnh là đánh đồng loạt nơi địch yếu, ta dùng lối đánh tập kích bất ngờ đột nhập tiêu diệt chúng; chỗ khó đánh, ta bao vây uy hiếp, đánh tỉa, nơi địch tập trung đông quân, ta quấy rối... Đối với những đơn vị cơ động của địch, lực lượng chính để thực hiện âm mưu đánh úp ta, thì phải tìm mọi cách ngăn cản, không cho chúng phóng xe tăng, xe cơ giới chạy ngang chạy dọc trong thành phố. Ngăn cản cùng phải đồng loạt, cùng lúc các phố đều dựng vật chướng ngại. Việc này phải huy động nhân dân toàn thành phố mỗi người một tay thì chốc lát khắp các đường phố sẽ ngổn ngang vật cản, khiến cho địch có phá cái này lại vướng cái kia, tránh phố này thì lại bị cản ở phố khác. Ngay mỗi phố cũng cần dựng lên hai ba tuyến ngăn chặn kiểu như đóng cửa bằng nhiều then cài, kẻ gian có nậy được cái then cài này rồi lại phải kỳ cạch nậy cái then khác. Mỗi cái "then cửa" ấy gồm một hàng vật chướng ngại và một số tổ chiến đấu bố trí bí mật gần đó để bắn tỉa, đánh cản, không cho địch mở đường một cách dễ dàng.
Vấn đề thứ hai, làm thế nào kìm hãm, giam chân địch một thời gian trong Hà Nội. Đây là vấn đề sử dụng lực lượng, dàn thế trận.


Có ý kiến nêu ra là địch mạnh, ta yếu, địch hơn ta về mọi mặt hỏa lực, cơ động đột kích, cho nên muốn kìm chân địch bên trong thành phố thì phải dùng phương pháp ngăn chặn từng bước. Cần tổ chức ba tuyến chiến đấu nối tiếp nhau, có công sự phòng ngự vững chắc.


Tuyến một ở ngay tiếp giáp giữa nội thành và ngoại thành, chạy vòng từ phía Phà Đen qua các cửa ô Đông Mác - Cầu Dền - Chợ Dừa - Kim Mã đến Yên Phụ

Tuyến hai: Đuôi Cá - Thanh Liệt - Ngã tư sở - Cầu Giấy - Chèm.

Tuyển ba: Văn Điển - Hà Đông - Tây Mỗ - Cổ Nhuế

Ý kiến này bị phê phán nhiều. Đánh như vậy là bỏ trống thành phố, là bỏ mất khả năng chiến đấu của lực lượng tự vệ thành rất đông đảo, đến 8000 người. Phương pháp tác chiến dàn thành tuyến ngăn chặn như vậy hoàn toàn không phù hợp với trình độ kỹ thuật chiến thuật của bộ đội ta. Kinh nghiệm kháng chiến Nam bộ cho thấy rằng nơi nào bộ đội biết dựa vào nhân dân, biết phân tán lực lượng cùng nhân dân đánh du kích thì gây được nhiều khó khăn, thiệt hại cho địch, ngược lại, đào hầm, đắp lũy, dàn thành tuyến thì có khác nào là giơ mặt, giơ ngực ra cho địch đánh, dễ bị chọc thủng, vỡ trận.


Chỉ huy trưởng Mặt trận, đồng chí Vương Thừa Vũ nêu ý kiến: "Tổ chức tác chiến phù hợp với sức ta, với trình độ ta là đánh đu kích, cài sát vào với địch, bám riết lấy nó mà đánh. Cần chia Hà Nội ra làm nhiều khu vực, mỗi khu vực có nhiều ổ đề kháng. Đào hầm, đắp ụ, dùng vật chướng ngại ngăn chặn các đường phố, buộc địch phải giành giật với ta từng đầu đường góc phố trong nội thành. Tạm gọi đây là chiến thuật "cài then cửa" mỗi phố cài một vài cái then cửa như thế, nhưng ta không bố trí lực lượng ở ngay điểm ngăn chặn để tránh hỏa lực địch, mà cách đó, nấp trong những nhà gần đó để bắn, ném lựu đạn diệt những tên địch xông vào phá then cửa của ta. Còn bố trí lực lượng thì phải có lực lượng đóng quân trong nội thành, thực hiện mỗi nhà một pháo đài, mỗi phố một chiến tuyến, đồng thời phải có lực lượng dự bị đặt ở các cửa ô, như vậy sẽ hình thành thế trận ta và địch cài vào nhau. Lực lượng đóng ghìm trong nội thành sẽ bị địch bao vây, nhưng lực lượng ở ngoại thành sẽ vây địch ở vòng ngoài. Địch vây ta, ta vây địch, bên trong ta đánh ra, bên ngoài ta đánh ép vào, phối hợp với nhau, giằng kéo địch, làm cho mặt trận luôn luôn hoạt động, chỉ huy địch luôn luôn bị động, căng thẳng, không thể tập trung sức đánh ra ngoài hay dồn vào trong. Như thế ta mới có thể ghìm được địch lâu ngày.


Phương án "trong đánh ra, ngoài đánh ép vào" được đồng chí Tổng tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái phê chuẩn. Cuối cùng, kế hoạch tác chiến của mặt trận Hà Nội được hình thành và đưa lên trình Bộ Tổng chỉ huy xét duyệt. Các lực lượng vũ trang của Liên khu I có trách nhiệm trụ bám trong trung tâm thành phố, các lực lượng vũ trang của Liên khu II, Liên khu III hình thành thế trận bao vây vòng ngoài.


Đồng chí Võ Nguyên Giáp hỏi:

- Bộ chỉ huy Mặt trận có nhất trí cả với kế hoạch này không?

- Dạ, chúng tôi nhất trí. Đồng chí Vương Thừa Vũ trả lời.

- Còn ý kiến của Ủy ban bảo vệ thành phố thế nào?

- Tôi đã trình bày với anh Nguyễn Văn Trân về cách chia khu vực tác chiến, phương pháp tác chiến, về dự kiến chuẩn bị vật chất cho lực lượng sẽ trụ lại chiến đấu trong nội thành. Anh Trân đồng ý tất cả và phân công cho Bộ chỉ huy Mặt trận cứ tập trung vào công tác tham mưu, chỉ huy tác chiến, còn bao nhiêu công tác khác, Ủy ban gánh hết. Mặt trận cần lực lượng quần chúng làm gì, làm ở đâu, Ủy ban sẽ chỉ thị cho các khu phố huy động...

- Quân, dân, chính, Đảng đều nhất trí, một yếu tố quan trọng bậc nhất để tạo nên sức mạnh giành chiến thắng. - Đồng chí Tổng chỉ huy động viên tinh thần đồng chí chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội và chỉ thị, - Bố trí một tiểu đoàn Vệ quốc quân trong Liên khu I còn các tiểu đoàn khác đóng giữ các cửa ô để tạo thế trong đánh ra, ngoài đánh vào, xen kẽ giằng co với địch. Liên khu 1 có lực lượng tự vệ thành đông nhất Hà Nội, phải kiên quyết chiến đấu trụ bám. Còn các lực lượng của Liên khu khác thì đánh một thời gian tiêu hao địch rồi co dãn ra ngoài các cửa ô để phối hợp tác chiến với Liên khu I.
Logged
Trang: 1 2 3 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM