Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Sáu, 2024, 02:58:54 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Tây Bắc 1952 - Tầm nhìn chiến lược của Đảng và bài học lịch s  (Đọc 1470 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #20 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2023, 08:05:36 am »

QUÂN VÀ DÂN KHU TÂY BẮC TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Trung tướng DƯƠNG ĐỨC HOÀ
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Tư lệnh Quân khu 2


Thu Đông 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển lên một giai đoạn mới. Chiến thắng Tây Bắc đã trở thành một sự kiện quan trọng trong lịch sử dân tộc. Quân và dân Khu Tây Bắc, địa bàn diễn ra chiến dịch rất tự hào vì đã có những đóng góp không nhỏ sức người, sức của trực tiếp chi viện cho chiến trường, làm nên chiến thắng.


Nằm ở phía Tây Bắc Bộ, có đường biên giới dài tiếp giáp với Trung Quốc và Lào, có rừng núi bao la hùng vĩ, tài nguyên phong phú, nơi tụ cư của 34 dân tộc anh em, Tây Bắc luôn giữ vị trí chiến lược quan trọng cả về chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Tây Bắc trở thành chiến trường chính trong cuộc quyết đấu giữa thực dân Pháp, sự can thiệp Mỹ với nhân dân Việt Nam. Trải qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt từ khi có Đảng tiền phong lãnh đạo, truyền thống đấu tranh cách mạng của quân và dân Khu Tây Bắc luôn được giữ vững và ngày càng phát huy mạnh mẽ.


Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân còn trong trứng nước đã phải đương đầu với thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Tây Bắc là địa bàn mà thực dân Pháp đặt chán lên rất sớm. Tại đây, chúng lập ra "Xứ Thái tự trị", đồng thời tổ chức ra "Khu quân sự độc lập Tây Bắc", thực hiện âm mưu thâm độc "chia để trị"; "dùng người Việt, đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Sau chiến dịch Biên Giới (Thu Đông năm 1950), địch ra sức củng cố, phát triển vùng chiến lược quan trọng này, nhằm khống chế, uy hiếp bên sườn và sau lưng ta, cắt liên lạc giữa căn cứ Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4, che chở cho Thượng Lào.


Quân địch ở Tây Bắc được tổ chức thành khu quân sự độc lập Tây Bắc, gồm 8 tiểu đoàn, trong đó có 5 tiểu đoàn ngụy Thái và 3 tiểu đoàn cơ động người Phi. Ngoài ra có 40 đại đội ngụy Thái làm nhiệm vụ chiếm đóng. Địch bố trí thành bốn phân khu gồm: Phân khu Nghĩa Lộ; Phân khu Sông Đà; Phân khu Sơn La; Phân khu Lai Châu và các tiểu khu Tuần Giáo, Thuận Châu, Phù Yên; chia quân đóng ở 400 cứ điểm, phần lớn cấp trung đội, có 40 cứ điểm cấp đại đội. Riêng ở Nghĩa Lộ, Mộc Châu, mỗi nơi có một tiểu đoàn.


Về phía ta, từ sau chiến dịch Hòa Bình, trong khi các đơn vị trong toàn quân bước vào chỉnh đốn Đảng, chỉnh quân sối nổi, rầm rộ, thì Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo xây dựng, hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến Thu Đông năm 1952, phương hướng tiến công chính là Tây Bắc Bắc Bộ. Thực hiện chủ trương trên, từ tháng 4 năm 1952, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị xúc tiến công tác chuẩn bị chiến dịch với quyết tâm tiêu diệt dịch, giải phóng Tây Bắc. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giải phóng Tây Bắc, ngày 17 tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định tách 4 tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái thuộc Liên khu Việt Bắc để thành lập Khu Tây Bắc.


Từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 9 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh quán triệt, giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia giải phóng Tây Bắc. Theo kế hoạch tác chiến, lực lượng vũ trang Tây Bắc tham gia chiến dịch gồm 10 đại đội bộ đội địa phương tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La và lực lượng du kích được huy động mức cao nhất, phối hợp với các đại đoàn 308, 312, 316, Trung đoàn pháo binh 151 (Đại đoàn 351). Lực lượng dân công phục vụ chiến dịch được Trung ương Đảng và Chính phủ huy động ở tất cả các tỉnh.


Thực hiện quyết tâm của Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy, cuối tháng 9 năm 1952, Bộ Tư lệnh Khu Tảy Bấc mở Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn Khu để phổ biên mục tiêu, nhiệm vụ của chiến dịch giải phóng Tây Bắc, học tập các chỉ thị của Trung ương về thi hành chính sách dân tộc thiểu số, công tác dân vận, học Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đồng thời triển khai cho nhân dân và các lực lượng vũ trang toàn Khu chuẩn bị mọi khả năng phục vụ và tham gia chiến dịch. Qua học tập quán triệt, đội ngũ cán bộ chủ chốt của Khu Tây Bắc đã nắm vững mục đích của chiến dịch là: Tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân vùng Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc; thống nhất nhận thức: Tiêu diệt sinh lực địch là nhiệm vụ chính yếu, vì có tiêu diệt sinh lực địch mới giành được dân và giải phóng được đất đai, làm cho chiến dịch thắng lợi, tạo điều kiện cho các cơ sở cách mạng trong dân hoạt động, thúc đẩy kháng chiến thành công.


Chấp hành chủ trương của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, sau gần 2 tháng tiến hành chiến dịch, quân và dân ta đã tiêu diệt 1.050 tên địch, bắt 5.024 tên (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội, đánh thiệt hại nặng nhiều tiểu đoàn tinh nhuệ), phá hủy và thu toàn bộ vũ khí, đồ dùng quân sự, các kho lương thực, thực phẩm của địch.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vùng Tây Bắc của Tổ quốc; là mốc lịch sử trên con đường tiếp tục phát triển thế chủ động chiến lược của cuộc kháng chiến; thắng lợi này biểu hiện sự trưởng thành về nhiều mặt của lực lượng vũ trang. Đây cũng là thắng lợi của tinh thần hết lòng, hết sức vì tiền tuyến, với tinh thần hy sinh phục vụ của nhân dân các dân tộc Tây Bắc.


Để góp phần phục vụ chiến dịch, theo sự chỉ đạo của Khu ủy, các tinh Yên Bái, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang huy động nhân lực, vật lực trực tiếp phục vụ hướng Nghĩa Lộ. Các tỉnh Sơn La, Lai Châu cùng với các tỉnh Liên khu 3, Liên khu 4 phục vụ hướng đường 41 Sơn La. Nhận thức sâu sắc mục đích, ý nghĩa của chiến dịch, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã nô nức tình ngụyện đi phục vụ chiến dịch, góp phần giải phóng quê hương. Mọi gia đình tự ngụyện ủng hộ thóc gạo, lợn gà, trâu bò, ngựa thồ, cử người thân đăng ký xung phong được tham gia chiến dịch. Chỉ trong 3 tháng, các tỉnh đã huy động được 35.000 lượt dân công làm nhiệm vụ mở đường, bắc cầu phục vụ bộ đội hành quân tiến vào Tây Bắc. Các đơn vị dân công đã xây dựng 4 khu kho trên hai hướng, làm nhiều trạm cứu thương dã chiến, làm mới hàng nghìn cáng thương, vận chuyển được 50.000 tấn hàng từ hậu phương ra tiền tuyến dưới làn bom đạn ác liệt của địch, vượt qua gian nan vất vả của rừng núi hiểm trở.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #21 vào lúc: 18 Tháng Chín, 2023, 08:10:22 am »

Tỉnh ủy Phú Thọ, Yên Bái đã huy động được hơn 430 thuyền nan, trong 3 ngày đêm đã chở 30.000 lượt bộ đội, dân công mang theo vũ khí, lương thực vượt sông Thao an toàn. Con đường từ Cổ Phúc đến Sài Lương, qua Mậu A, Khâu Vác, Nậm Mười phải qua nhiều suối sâu, đèo cao, bộ đội và dân công phải huy động cả xe trâu, xe bò của dân trong vùng, kết hợp với xe đạp thồ, gồng gánh, mang vác để chuyển hàng vào được vị trí tập kết. Suốt dọc đường, trong đêm tối, trong cơn mưa lũ, giá rét, gánh nặng, đường trơn, nhưng mọi người đều hăng hái, không ai để hàng bị ướt; có lúc qua núi đá sắc nhọn, chân đau, mỏi, nhưng giữa núi rừng Tây Bắc hàng vạn bộ đội, dân công ra trận, khắc sâu lời cản dặn của Bác Hồ: "Chiến dịch này rất quan trọng, các cô, các chú cũng là chiến sĩ, cũng có công như các chiến sĩ, phải cùng bộ đội giành cho được thắng lợi. Tất cả các cô các chú đều phải quyết tâm làm tròn nhiệm vụ phục vụ bộ đội. Bền bỉ dẻo dai, vượt qua mọi gian khổ, khắc phục mọi khó khăn, bảo đảm việc cung cấp đầy đủ cho bộ đội, cùng bộ đội giành toàn thắng cho chiến dịch".


Thấm nhuần lời căn dặn của Bác, mặc dù tình hình đời sống nhân dân Tây Bắc còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn, phải huy động một khối lượng sức người, sức của lớn, nhiều nơi giáp hạt, thiếu ăn, thiếu nhân công gặt mùa, nhưng nhân dân vẫn tự nguyện góp lương thực, thực phẩm, hăng hái đi dân công, vừa đánh giặc hảo vệ hậu phương, vừa tham gia phục vụ tiền tuyến.


Nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh Sơn La đã đóng góp một phần không nhỏ xương máu và vật chất cho chiến dịch toàn thắng, ở khắp nơi, bộ đội địa phương và dân quân du kích đều đi chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tham gia thu dọn chiến trường; đồng thời đã huy động đóng góp 1.421.220 ngày công, cung cấp hơn 694 tấn gạo, 88 tấn ngô, 48.321kg thịt các loại, vận chuyển 135 tấn gạo từ Phú Thọ lên kho mặt trận tiền phương.


Quân và dân Phú Thọ đã thể hiện tinh thần hết lòng phục vụ tiền tuyến, vừa trực tiếp chiến đấu tại chỗ để bảo vệ hậu phương, vừa trực tiếp chi viện cho chiến trường, đã huy động 134.190 người, đóng góp 3.333.576 ngày công, cung cấp và vận chuyển 2.446 tấn gạo, 40 tấn muối, hơn 300 thuyền nan, 275 con trâu, bò, hàng trăm con lợn phục vụ cho chiến dịch, tu sửa 200km đường giao thông, đảm bảo cho bộ đội hành quân thuận lợi.


Với Lai Châu, tuy các cơ sở mới được phục hồi, nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng nhân dân trong tỉnh đã cung cấp cho bộ đội 116 tấn gạo, 93 tạ ngô, 5.984kg thịt và 56 con trâu, bò, lợn, 100 con ngựa để vận chuyển hàng hóa; huy động 2.243 người đi dân công phục vụ chiến dịch.


Mặc đù đang tiến hành chiến dịch tiễu phỉ, nhưng tỉnh Yên Bái đã huy động nhân dân tham gia đóng góp được 739 tấn thóc, 16.000 ngày công phục vụ chiến dịch; riêng nhân dân Nghĩa Lộ, nơi xảy ra những trận chiến đấu ác liệt, then chốt mở đầu chiến dịch cũng tự ngụyện đóng góp 250 tấn gạo, 7 con trâu, 5 con bò, 9 con lợn để nuôi quân.


Tính chung, đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã huy động được 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 41 tấn thực phẩm khác, cùng với 150.000 ngày công đóng góp cho chiến dịch. Sự đóng góp của quân và dân Khu Tây Bắc đã góp phần vào thắng lợi của chiến dịch, khẳng định chủ trương huy động sức người, sức của của vùng mới giải phóng, hậu phương tại chỗ của Đảng ta cho chiến dịch là đúng đắn. Những cử chỉ và tấm lòng nhân hậu, bao dung của đồng bào dân tộc Tây Bắc đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần chiến đấu cho bộ đội ra trận, làm nên chiến thắng Tây Bắc.


Thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, bình định lâu dài và thủ đoạn thâm độc của thực dân Pháp lập nên "Xứ Thái tự trị", giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân khỏi ách kìm kẹp của quân thù. Thắng lợi đó đã tạo nên hình thái chiến trường có lợi cho ta. Ta đã giữ vững và từng bước mở rộng quyền chủ động về chiến lược; các lực lượng vũ trang nhân dân tích lũy thêm kinh nghiệm tác chiến quy mô lớn hơn, hiệp đồng binh chủng cao hơn trôn chiến trường rừng núi, xa hậu phương; đặc biệt bộ đội chủ lực của ta dần làm quen với cách đánh hệ thống cứ điểm mạnh. Chiến thắng Tây Bắc thể hiện sự chỉ đạo nghệ thuật quân sự đúng đắn, chính xác và sáng tạo của Đảng ta về phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân; về chọn chiến trường thích hợp, phối hợp chặt chẽ giữa các chiến trường, các lực lượng vũ trang. Đồng thời, để lại nhiều kinh nghiệm về tổ chức một chiến dịch chính quy ở một chiến trường xa, khó tiếp tế, vận chuyển. Đối với quân và dân Tây Bắc, thắng lợi đó đã để lại những bài học kinh nghiệm quý, đó là:

- Coi trọng công tác tuyên truyền vận động quần chúng các dân tộc. thực hiện tốt chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, có như vậy mới củng cố được lòng tin của nhân dân các dân tộc vào Đáng, vào kháng chiến và kiến quốc.


- Chăm lo xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc, xây dựng được lòng dân, thế trận chiến tranh nhân dân, để tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù. Thấm nhuần đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, Khu ủy Tây Bắc và các cấp ủy địa phương đã nắm vững quan điểm quần chúng, động viên, tổ chức lãnh đạo các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong Khu đứng lên đánh giặc. Không ngừng củng cố, xây dựng mở rộng mặt trận đoàn kết toàn dân trên nền liên minh công nông; vận động, tuyên truyền giác ngộ và xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, biến toàn Khu thành một mặt trận, mỗi bản làng là một trận địa, mỗi người dân là một chiến sĩ.


- Thường xuyên xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu, tinh thần khắc phục mọi khó khăn gian khổ, ý thức tự lực, tự cường cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và nhân dân, trên cơ sở đó nâng cao bản lĩnh chính trị, sức mạnh chiến đấu đánh thắng mọi âm mưu thủ đoạn xảo quyệt của kẻ thù. Có được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, song muốn chiến thắng kẻ thù, chúng ta phải có lực lượng vũ trang mạnh, vì lực lượng vũ trang là nòng cốt trong thế trận toàn dân đánh giặc. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, lực lượng vũ trang Tây Bắc ngày một lớn mạnh, trưởng thành, đã góp phần to lớn trong nhiệm vụ chiến đấu và phối hợp chiến đấu với bộ đội chủ lực của Bộ, giải phóng và bảo vệ vững chắc quê hương.


Đối với quân dân Khu Tây Bắc, thắng lợi của chiến dịch là niềm tự hào và nguồn cổ vũ vô cùng lớn lao trong những chặng đường cách mạng tiếp theo. Phát huy truyền thống chiến thắng Tây Bắc, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Tây Bắc đã làm tròn trách nhiệm trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Với tinh thần đó, cùng với đồng bào các dân tộc, lực lượng vũ trang Quân khu 2 tập trung xây dựng Đảng bộ Quân khu vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, xây dựng củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận lòng dân, thế trận quốc phòng toàn dân, xây dựng hậu phương vững mạnh; nâng cao chất lượng khu vực phòng thủ, tập trung xây dựng Quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, nâng cao chất lượng tổng hợp, đủ sức bảo vệ chủ quyền biên giới, làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống, giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để góp phần phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, xây dựng Tây Bắc trở thành một vùng kinh tế giàu đẹp, quốc phòng - an ninh ngày càng vững mạnh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #22 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:35:38 pm »

CÔNG TÁC BẢO ĐẢM KỸ THUẬT TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC 1952

Trung tướng NGUYỄN CHÂU THANH
Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật


Đầu năm 1952, cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta đã bước sang năm thứ 7. Chúng ta đã giành được nhiều thắng lợi quan trọng, nhất là thắng lợi của chiến địch Biên Giới và chiến dịch Hoà Bình, thế và lực của ta trên chiến trường không ngừng lớn mạnh. Các đại đoàn chủ lực sau khi thành lập được củng cố và phát triển, lực lượng quân sự của ta chiếm ưu thế, chúng ta chuyển từ phân công sang tiến công chiến lược trên các chiến trường. Nhưng với bản chất hiếu chiến của kẻ xâm lược, thực dân Pháp thi hành chính sách "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Chúng thực hiện chiến lược phòng ngự, ráo riết bình định vùng tạm chiếm, mở nhiều cuộc càn quét lớn; tăng cường bắt lính để phát triển ngụy quân; lập "vành đai trắng" và xây dựng nhiều phòng tuyến đồn bốt, v.v. Tuy nhiên, trước sức tiến công quyết liệt của quân và dân ta trên khắp các chiến trường, chúng không cải thiện được tình hình mà càng lún sâu vào thế bị động chiến lược.


Tháng 4 năm 1952, Hội nghị Trung ương 3 (khoá II) xác định nhiệm vụ chiến lược trong giai đoạn hiện tại là tiêu diệt sinh lực địch, phát động Chiến tranh du kích, phá chính sách lấy chiến tranh nuôi Chiến tranh của địch, bồi dưỡng lực lượng kháng chiến... Thực hiện nhiệm vụ chiến lược trên, tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân và giải phóng một bộ phận đất đai Tây Bắc, phá âm mưu lập "Xứ Thái", "Xứ Mường" và "Xứ Nùng" tự trị của địch.


Quyết định mở chiến dịch Tây Bắc của Bộ Chính trị là chủ trương đúng đắn thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng. Trong đó, tài thao lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy là nhân tố quyết định thắng lợi của chiến dịch. Đặc biệt, công tác bảo đảm và sự phối hợp hiệp đồng tác chiến của các lực lượng vũ trang, cùng với đồng bào các dân tộc Tây Bắc đã tạo nên sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi có tầm vóc lịch sử. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành chiến dịch Tây Bắc có giá trị rất quý báu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Tại Hội thảo khoa học này, tôi xin phép cùng các đồng chí điểm lại một số sự kiện nổi bật của "Công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc 1952". Thể hiện trên 3 vấn đề:

1. Chuẩn bị kỹ thuật cho chiến dịch

Sau khi phê duyệt kế hoạch tác chiến chiến dịch tiến công Tây Bắc, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định Bộ chỉ huy chiến dịch gồm các đồng chí cán bộ chủ chốt của Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh: đồng chí Võ Nguyên Giáp Tổng Tư lệnh làm Tư lệnh chiến dịch; Hoàng Văn Thái, Tổng Tham mưu trưởng làm Tham mưu trưởng chiến dịch; Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch va đồng chí Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp làm Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch. Đảng ủy chiến dịch do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Bí thư. Các cơ quan: Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị và Tổng cục Cung cấp tổ chức bộ phận tiền phương để hình thành cơ quan chiến dịch.


Lực lượng của ta tham gia chiến dịch Tây Bắc có khoảng 3 đại đoàn: Đại đoàn 308 có 3 trung đoàn, Đại đoàn 312 có 3 trung đoàn, Đại đoàn 316 có 2 trung đoàn Tiểu đoàn 910 thuộc Trung đoàn 148, 6 đại đội sơn pháo với 24 khẩu 75mm, 3 đại đội cối 120mm với 12 khẩu, Trung đoàn 151 công binh, một tiểu đoàn pháo cao xạ và một đại đội súng máy cao xạ 12,7mm, cùng với 10 đại đội bộ đội địa phương của các tỉnh Yên Bái, Lai Châu, Sơn La và Lào Cai. Tổng quân số tham gia tác chiến khoảng 35.000 người.


Chiến dịch tiến công Tây Bắc năm 1952 là chiến dịch tiến công có ý nghĩa chiến lược, yêu cầu bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch cao hơn nhiều so với các chiến dịch trưởc. Theo quyết tâm chiến đấu và kế hoạch tác chiến của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh, các drtn vị thuộc ngành kỹ thuật của Tổng cục Cung cấp phải huy động hàng trăm nghìn lượt dân công cùng với bộ đội công binh sửa chữa và mở đường để cơ động lực lượng, cơ động binh khí kỹ thuật và vận tải vật chất hậu cần phục vụ chiến dịch. Lượng vũ khí trang bị kỹ thuật phải bảo đảm cho chiến dịch khoảng 127 tấn, lượng vật chất hậu cần bảo đảm cho chiến dịch hàng chục nghìn tấn. Ngoài ra còn các phương tiện khác như xe thồ, ca nô, tàu thuyền, cầu phà, v.v. Trong khi đó, bộ đội ta tác chiến trong điều kiện chiến trường rừng núi, xa cơ sở bảo đảm kỹ thuật; vận chuyển và cơ động lực lượng cũng như binh khí kỹ thuật trên chặng đường dài, phải vượt qua nhiều đèo núi cao và suối sâu, vực thăm... Đây là những khó khăn và thách thức rất lớn đối với ngành kỹ thuật. Những yếu tố trên đòi hỏi ngành kỹ thuật phải nghiên cứu kỹ chiến trường, chủ động, tích cực và khẩn trương chuẩn bị kỹ thuật phục vụ chiến dịch.


Từ đầu năm 1952, các đại đoàn 308, 312, 316 và Đại đoàn công pháo 351, cùng các đơn vị công binh, phòng không, thông tin, vận tải, bộ đội địa phương và dân quân du kích đã được bổ sung vũ khí trang bị kỹ thuật. Trong đó, các đơn vị chủ lực được bổ sung và trang bị vũ khí đạn từ nguồn viện trợ khoảng 1.018 tấn. Để bảo đảm kỹ thuật vũ khí đạn cho chiến dịch, Cục Quân khí tổ chức đội ngũ quân khí viên từ cấp đại đội đến cấp trung đoàn. Chỉ đạo các Ban Quân khí ở các đại đoàn chia làm hai bộ phận: Bộ phận nhẹ, cơ động cùng các trung đoàn vào vùng địch hậu để sửa chữa nhẹ vũ khí đạn trong hành quân cơ động và chiến đấu. Bộ phận nặng, bố trí ở vùng giáp ranh để sửa chữa vũ khí đạn sau khi tập kết và sau mỗi đợt chiến dịch.


Tại Hôi nghị giao nhiệm vụ cho các đơn vị tham gia chiến dịch Tây Bắc (9-9-1952), Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy đã cân nhắc kỹ chỗ dễ và chỗ khó của chiến trường sắp đến và quyết tâm là chiến dịch này phải đánh cho thắng lợi...", về bảo đảm vũ khí trang bị và lương thực cho bộ đội, Bác căn dặn "Lúc thiếu thốn cũng vui vẻ chịu đựng, lúc cần thì ra sức giúp đỡ anh em cung cấp. Lương thực và vũ khí trang bị là mồ hôi, nước mắt của đồng bào, là xương máu của bộ đội. Vì vậy, phải quý trọng nó, tiết kiệm ngăn nắp, phải sử dụng hợp lý"1 (Công tác bảo đảm vũ khí trang bi kỹ thuật trong kháng chiến chống Pháp 1945-1954, Biên niên sự kiện lịch sử, Nxb Quân đội nhân dân, H. tr. 172). Thấm nhuần lời dạy của Bác, tổ chức bảo đảm cho chiến dịch với yêu cầu khẩn trương bí mật bất ngờ, công tác bảo đảm kỹ thuật không thể bố trí các kho ở khu vực tập kết mà phải bố trí ở tả ngạn sông Hồng. Khi bộ đội vượt sông cơ động vào khu vực tập kết, lực lượng kỹ thuật khẩn trương tổ chức tuyến, rải trạm để vận chuyển hàng theo các hướng tiến công. Với quyết tâm vượt mọi khó khăn trở ngại, đầu tháng 8 năm 1952, Cục Quân khí đã chuẩn bị đủ 127 tấn vũ khí đạn cho chiến dịch. Tập kết chân hàng tại kho Mậu A (28 tấn), kho Yên Bái (58 tấn), kho Thu Cúc (41 tấn) để vận chuyển phục vụ cho hướng chủ yếu (Nghĩa Lộ). Ngoài ra, còn bố trí một kho ở Thạch Kiệt phục vụ hướng Nha Phù, một kho dự trữ ở Đoan Hùng để bổ sung cho chiến dịch. Ngành kỹ thuật còn được Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cán bộ và nhân viên để tổ chức bảo đảm kỹ thuật.


Thực hiện phương châm bảo đảm: "Tích cực vận chuyển từ hậu phương lên, tận dụng khả năng của địa phương và cố gắng lấy của địch mà dùng", Tổng cục Cung cấp phân công và chỉ đạo hiệp đồng bảo đảm giữa các ngành, các địa phương và các sở của những tỉnh có liên quan. Sau khi Tiền phương Cung cấp chiến dịch thành lập, công tác bảo đảm được chỉ đạo tích cực, việc bảo đảm được phân theo 2 hướng. Hướng từ Việt Bắc lên, bảo đảm chủ yếu cho đợt 1; lấy Yên Bái, Phú Thọ làm căn cứ hậu phương chiến dịch; lập 4 khu kho phục vụ các mũi tiến công1 (Khu Mậu A đảm bảo cho tuyến chính, theo đường Khâu Vác - Nậm Mười tiến vào Nghĩa Lộ, Gia Hội; Khu Cổ Phúc đảm bảo hướng Sài Lương, Khu Văn Phu theo đường Âu Lâu - Đèo Bụt vào Ba Khe - Cửa Nhì, sau khi nổ súng sẽ dung ô tô chở vào theo đường số 13; Khu Thu Cúc - Thạch Kiệt đảm bảo cho mũi Nha Phù - Bão Mo (Chiến dịch tiến công Tây Bắc (Thu Đông 1952) - Viện LSQSVN, xuất bản 1992. Sđd. tr. 22, 23)). Hướng Liên khu 3, Liên khu 4 đảm bảo cho chiến dịch phát triển vào Sơn La; lấy Suối Rút làm căn cứ hậu phương chiến dịch; lập khu kho, trạm phục vụ bộ đội tác chiến trên hành lang đường số 41. Phương tiện vận chuyển ở cả 2 hướng chủ yếu là mang vác kết hợp với xe thồ, thuyền nan, xe trâu, v.v. Ngoài ra, có 68 xe ô tô vận tải, nhưng phần lớn chạy bằng động cơ hơi nước nên khả năng vận chuyển hạn chế.


Từ ngày 20 tháng 9 đến đầu tháng 10 năm 1952, các đơn vị bí mật cơ động vào vị trí tập kết ở Mậu A, Âu Lau, Nước Nóng, Lan Đình. Để bảo đảm cho lực lượng lớn bộ đội và binh khi kỹ thuật quạ sông nhanh gọn, an toàn, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Ban chỉ huy vượt sông, mỗi bến đều có ban chỉ huy riêng. Mặc dù lực lượng và binh khí kỹ thuật rất lớn, trong khi các phương tiện vượt sông còn ít và thô sơ, khả năng bảo đảm của công binh rât hạn chế... Nhưng nhờ chỉ huy và chỉ đạo chặt chẽ, lực lượng kỹ thuật, nhất là bộ đội công binh và dân công đã khắc phục mọi khó khăn bằng nhiều biện pháp bảo đảm, từ cầu phao, xà lan, ca nô tàu thuyền đến bè mảng, v.v. bảo đảm cho các lực lượng vượt sông bí mật, an toàn theo dúng kế hoạch.


Công tác chuẩn bị kỹ thuật trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch gặp rất nhiều khó khăn, nhưng với tinh thần chủ động sáng tạo, tự lực tự cường, với khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng", ngành kỹ thuật đã phối hợp cùng các lực lượng tham gia chiến dịch nỗ lực bảo đảm đủ vũ khí trang bị kỹ thuật theo kế hoạch tác chiến. Ngoài ra, còn dự trữ được hàng trăm tấn vũ khí trang bị để sẵn sàng bảo đảm cho phát triển tác chiến chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #23 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:36:39 pm »

2. Bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến chiến dịch

Chiến dịch tiến công Tây Bắc diễn ra từ ngày 14 tháng 10 đến ngày 10 tháng 12 năm 1952, tiến hành trong 3 đợt:

Đợt 1 từ 14 đến 23 tháng 10: Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch của Bộ Tổng tư lệnh lấy Phân khu Nghĩa Lộ làm hướng tiến công chủ yếu, tập trung binh lực tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên, đồng thời cơ động một bộ phận chủ lực thâm nhập vào Quỳnh Nhai phối hợp với bộ đội địa phường kiềm chế địch, giải phóng vùng tả ngạn sông Đà. Đêm 14 tháng 10, các đơn vị nổ súng tiến công: Lực lượng kỹ thuật của các ngành quân khí, công binh, thông tin, pháo binh cơ động và bảo đảm cho Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 và Trung đoàn 141 Đại đoàn 312 tiến công giải phóng Ca Vịnh, Sài Lương mở thông đường 13 vào Nghĩa Lộ. Cùng lúc, lực lượng kỹ thuật bảo đảm cho Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 (thiếu) bí mật luồn sâu để tiến công Nghĩa Lộ, Pú Chạng, mật phục đánh viện ở Gia Hội, phục kích địch ở Nậm Mười... thực hiện trong ngoài cùng đánh, buộc địch phải rút khỏi Gia Hội, Tú Lệ về co cụm ở hữu ngạn sông Đà.


Ở hướng thứ yếu, lực lượng kỹ thuật cơ động bảo đảm cho bộ đội tiến công tiêu diệt địch ở Gia Phù, Bản Mo và Quỳnh Nhai, Nậm Sỏ. Như vậy từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 10, những trận then chốt mở màn chiến dịch giành thắng lợi, làm cho địch choáng váng, tạo thế cho ta phát triển tiến công. Đêm 19 tháng 10, các đơn vị đồng loạt nổ súng, lực lượng kỹ thuật các ngành quân khí, xe máy, thông tin, công binh, pháo binh bám đội hình tiến công ở các mũi, các hướng để sửa chữa, khắc phục hỏng hóc của vũ khí trang bị. Trong các ngày 20, 21, 22 và 23 tháng 10, các đơn vị liên tục tiến công, truy kích địch, đánh chiếm và bức rút nhiều đồn bốt, buộc địch phải tháo chạy về khu vực hữu ngạn sông Đà.


Vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật bảo đảm cho tác chiến lúc này chủ yếu theo đường 13, lực lượng kỹ thuật các ngành xe máy, công binh, quân khí bảo đảm kỹ thuật cho ô tô, cầu phà, vũ khí đạn dược, cùng với dân công lập cung, rải trạm vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật từ khu kho Mậu A qua đèo Khâu Vác vào Nậm Mười, từ khu kho Cổ Phúc vào Sài Lương và từ khu kho Âu Lâu vào Ca Vịnh. Ở hướng Phú Thọ, lực lượng kỹ thuật cùng dân công vận chuyển vũ khí đạn dược theo cung, trạm vào Thu Cúc và Thạch Kiệt bảo đảm cho Trung đoàn 98 Đại đoàn 316 tiến công Gia Phù, Bản Mo. Việc vận chuyển vũ khí đạn dược theo bộ đội ra mặt trận được thực hiện tốt ở Âu Lâu vào Ca Vịnh, ở Phú Thọ vào Thu Cúc và Thạch Kiệt, nhưng ở phía Bắc gặp nhiều khó khăn, nhất là hướng chủ yếu từ hữu ngạn sông Hồng qua đèo Khâu Vác vào Nậm Mười. Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy chiến dịch kịp thời chỉ đạo sửa chữa đường 13. Lực lượng kỹ thuật sửa chữa đường 13 có 6 đại đội công binh, một tiểu đoàn pháo cao xạ và một đại đội súng máy 12,7mm, cùng hơn 4.000 dân công. Lực lượng kỹ thuật và dân công làm việc không kể ngày đêm, vượt qua mưa lũ, bom đạn để bảo đảm thông đường phục vụ vận chuyển.


Sau 10 ngày đêm chiến đấu, đợt 1 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta đã tiêu diệt đại bộ phận địch ở Phân khu Nghĩa Lộ. Tiêu khu Phù Yên và Tiểu khu Than Uyên. Ta diệt 500 tên, bắt trên 1.000 tên, trong đó có 300 lính Âu - Phi; thu 1.400 súng trường và tiểu liên, 75 trung liên, 22 trọng liên và đại liên, 34 súng cối, 3 khẩu ĐKZ, 2 pháo 105mm, 14 máy vô tuyến điện và nhiều trang thiết bị quân sự khác; giải phóng một vùng đất đai quan trọng từ hữu ngạn sông Hồng đến tả ngạn sông Đà, từ Vạn Yên đến Quỳnh Nhai... Trong đợt 1, chiến dịch phát triển nhanh, công tác bảo đảm kỹ thuật được tiến hành trực tiếp tại trận địa, ở các hướng, các mũi, nhất là hướng chủ yếu, mũi đột kích; vũ khí trang bị kỹ thuật được bổ sung đầy đủ để bộ đội phát triển tiến công.


Đớt 2, từ ngày 7 đến 22 tháng 11: Sau đợt 1, ta chưa thể chuyển ngay sang đợt 2 như dự kiến, do chưa chuẩn bị đủ vật chất hậu cần theo kế hoạch. Mặt khác, ta chưa nắm chắc địch ở hữu ngạn sông Đà, cần thời gian để nắm địch và chấn chỉnh bộ đội, rút kinh nghiệm chiến đấu và vận chuyển vật chất cho chiến dịch.


Trước nguy cơ mất địa bàn chiến lược Tây Bắc, địch vội vã đổ quân tăng viện, ráo riết củng cố tuyến phòng thủ mới ở Tây Bắc trên hai mặt trận: Phân khu Lai Châu và Phân khu Sơn La1 (Từ ngày 15 tháng 10 đến ngày 2 tháng 11, địch đã điều 5 tiểu đoàn từ đồng bằng lên và 1 tiểu đoàn từ Lào sang. Binh lực địch bố trí ở Phân khu Lai Châu (Tiểu khu độc lập Tuần Giáo, Tiểu khu Thuận Châu) 7 tiểu đoàn và 14 đại đội, trong đó tập trung ở Lai Châu 5 tiểu đoàn và 14 đại đội; Phân khu Sơn La có 6 tiểu đoàn và 13 đại đội). Đồng thời, chúng huy động 3 binh đoàn cơ động mở cuộc hành quân "Loren" đánh lên Phú Thọ, nhằm uy hiếp hậu phương của ta. Cuộc hành quân này ta đã dự kiến nên đã có kế hoạch đối phó, buộc dịch phái rút lui. Thực hiện kế hoạch tác chiến, trên hướng chủ yếu, ta sử dụng 3 đại đoàn: 308, 312 và 316 mỗi đại đoàn có 2 trung đoàn và Đại đoàn công pháo 351, vượt sông Đà, đánh địch trên trục đường 41, đập tan khu vực phòng ngự Mộc Châu, giải phóng Sơn La. Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu: Hướng chủ yếu phải tích cực tiêu diệt dịch, đánh chắc tiến chắc, vây chặt diệt gọn, truy kích đến cùng. Hướng phối hợp đánh nhỏ ăn chắc, đánh du kích diệt từng bộ phận, không chắc không đánh, cơ động linh hoạt, không bỏ lỡ thời cơ khi địch rút chạy. Các hướng giữ gìn lực lượng để tác chiến đến hết chiến dịch.


Quán triệt yêu cầu trên, Cục Quân khí chỉ đạo các ban quân khí tổ chức vận chuyển, cấp bổ sung vũ khí đạn cho các đơn vị chiến đấu ở Phú Thọ, Yên Bái và hữu ngạn sông Hồng; cơ động bảo đảm vũ khí đạn dược cho bộ đội tiến công đánh sâu vào tung thâm. Tổ chức lực lượng đến các đơn vị sửa chữa số vũ khí hỏng hóc; thu hồi và sửa chữa số vũ khí đạn dược thu được của địch bổ sung cho đơn vị. Khi bộ đội tiến công địch trên đường 41, các ngành công binh, thông tin, pháo binh cơ động và trực tiếp bảo đảm kỹ thuật tại trận địa. Việc vận chuyển vũ khí trang bị cho tác chiến lúc này gặp nhiều khó khăn, do đường dài và địch đánh phá ác liệt. Để khắc phục, Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo sửa và mở rộng đường 41 từ Suối Rút lên Xồm Lồm (64km) tới Cò Nòi (87km), để sử dụng ô tô và kết hợp với nhân dân địa phương tổ chức vận chuyển. Trung đoàn công binh 151 mở đường từ Ba Khe qua đèo Lũng Lô đến Tạ Khoa; Đại đội công binh 250 bắc cầu phao từ bến Vạn Yên sang Tạ Khoa, phối hợp với công binh các đại đoàn 308, 312 và 316 bảo đảm kỹ thuật. Đội 83 công binh (Trung đoàn 151) phá gỡ nhiều mìn, bom nổ chậm như bom cam, bom bươm bướm trên dường 13, bảo đảm cho xe ô tô vận chuyển vũ khí đạn dược và vật chất hậu cần ra mặt trận.


Ngày 17 tháng 11, các đơn vị tiến công địch trên đường 41; các cứ điểm Ba Lay, Bản Hoa, Mường Lụm và Mộc Châu của địch bị tiêu diệt. Lực lượng còn lại của chúng rút chạy về Nà Sản, tổ chức thành tập đoàn cứ điểm. Ngày 23 tháng 11, đợt 2 chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta diệt và bắt trên 3.000 tên, trong đó có 3 tiểu đoàn bị diệt gọn, 2 tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, thu nhiều vũ khí trang bị kỹ thuật, giải quyết được một phần khó khăn về bảo đảm kỹ thuật.


Đợt 3, từ 30 tháng 11 đến 10 tháng 12: Sau khi đợt 2 giành thắng lợi. Bộ chỉ huy chiến dịch rút kinh nghiệm và giao nhiệm vụ tiến công đợt 3 để tiêu diệt tập đoàn cứ điểm ở Nà Sản. Thực hiện kế hoạch tác chiến, đêm 30 tháng 11 và ngày 1 tháng 12, ta nổ súng tiến công các cứ điểm Pú Hồng, Bản Hời, Nà Si, Bản Vây, nhưng phòng giữ không tốt, địch phản công chiếm lại Pú Hồng, chưa nắm chắc địch nên hai trận Nà Si và Bản Vây ta thương vong tổn thất lớn. Trước tình hình đó. Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch vào ngày 10 tháng 12 năm 1952.


Bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến ở đợt 3 cơ bản như đợt 2. Lực lượng kỹ thuật các ngành quân khí, thông tin, công binh, pháo binh cơ động cùng bộ đội, trực tiếp bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị tại các hướng, các mũi tiến công; hướng dẫn bảo quản và sửa chữa tại chỗ, nhanh chóng thu hồi vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch để cấp bổ sung hoặc dự trữ chiến đấu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #24 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:38:06 pm »

3. Kết thúc chiến dịch

Chiến dịch tiến công Tây Bắc thắng lợi, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, loại khỏi vòng chiến đấu 13.800 tên; thu một lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật của địch, gồm: 3.002 súng trường, 500 súng tiểu liên, 205 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối 60mm và 81 mm, 11 khẩu pháo (có 2 khẩu 105mm), 89 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép, 100 tấn đạn, bắn rơi 6 máy bay... Mục tiêu có ý nghĩa quan trọng của chiến dịch ta đã đạt được là giải phóng một vùng rộng lớn đất đai (28.500km2) và 250.000 nhân dân các dân tộc Tây Bắc, tranh thủ dân và mở rộng căn cứ địa kháng chiến, nối liền Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc, mở rộng hành lang sang Bắc Lào, phá thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc ở phía tây, với Khu 3 và Khu 4. Đập tan âm mưu lập và củng cố "Xứ Thái", "Xứ Mường", "Xứ Nùng" tự trị và chính sách lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt của địch.


Kết thúc chiến dịch, các ngành kỹ thuật nhanh chóng thu hồi, dồn dịch vũ khí trang bị thu được của địch và của ta trên chiến trường để cấp phát bổ sung cho bộ đội; bí mật, khẩn trương tổ chức bảo đảm và bố trí đủ lực lượng kỹ thuật cho các đơn vị ở lại làm nhiệm vụ nghi binh, kiềm chế địch ở Nà Sản và Sơn La. Ngoài ra, lực lượng kỹ thuật còn cơ động bảo đảm cho bộ đội rút quân bí mật, an toàn về Thanh Hoá, Điện Biên và sang Bắc Lào. Trên đường rút quân, tiếp tục bảo đảm cho các đơn vị đánh địch để cổ vũ khí thế chiến thắng cho đồng bào các dân tộc; tiếp tục sửa chữa, sản xuất, xây dựng kho tàng, trạm xưởng, tiếp nhận vũ khí trang bị kỹ thuật do Liên Xô và Trung Quốc viện trợ để chuẩn bị cho những chiến dịch tiếp theo. Có thể nói thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc là cuộc diễn tập tiến công chiến lược chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc oanh liệt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân dân ta.


Thực tiên "Công tác bảo đảm kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc 1952" để lại nhiều kinh nghiệm quý báu đối với ngành kỹ thuật. Những bài học kinh nghiệm chủ yếu là:

Một là: Ngành kỹ thuật đã quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến của Đảng, nắm vững đặc điểm tình hình chiến trường, chủ động bảo đảm kỹ thuật theo quyết tâm chiến đấu và kế hoạch tác chiến chiến dịch.


Trong chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật (thuộc Tổng cục Cung cấp) đã quán triệt sâu sắc quan điểm tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính trong đường lối kháng chiến kiến quốc của Đang. Cán bộ, nhân viên kỹ thuật của các chuyên ngành quân khí, xe máy, công binh, thông tin, pháo binh đã khắc phục mọi khó khăn ở các khu căn cứ kháng chiến, đề cao trách nhiệm tự lực tự cường, chủ động sáng tạo trong sản xuất và sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật ở hậu phương cũng như ngoài mặt trận. Kịp thời phối hợp với các ngành, các cấp, các địa phương, các sở và Ủy ban hành chính - kháng chiến các tỉnh có liên quan; phân công cán bộ trực tiếp tổ chức chuẩn bị kỹ thuật. Lực lượng kỹ thuật tham gia chiến dịch đã nêu cao tinh thần hy sinh quả cảm, đến tận các đại đội, tiểu đoàn để sửa chữa vũ khí trang bị, vượt qua mưa lũ, bom đạn của địch để sửa chữa và mở đường phục vụ chiến dịch. Trong lúc phương tiện cơ giới còn vô cùng thiếu thốn, nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật đã cùng với dân công trực tiếp gùi, gánh, thồ, vác vũ khí đạn dược tiếp tế mật trận.


Khi Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật đã quán triệt, nhận rõ những thuận lợi và khó khăn của đặc điểm chiến trường Tây Bắc. Đặc điểm nổi bật trong công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch là: Phải khắc phục địa hình có nhiều đèo núi cao, vực sâu, rừng rậm, ít đường giao thông, nhiều sông suối, dân cư thưa thớt, kinh tế nghèo nàn... nên cơ động lực lượng và binh khí kỹ thuật gặp rất nhiều khó khăn. Trong chiến dịch này, hậu phương chiến dịch, các cơ sở kỹ thuật và các khu kho vũ khí trang bị kỹ thuật đều ở xa mặt trận, không thể tổ chức khu kỹ thuật tại địa điểm tập kết. Ngành kỹ thuật đã khắc phục khá tốt những khó khăn trên, cán bộ và nhân viên kỹ thuật quân khí đã nỗ lực bảo đảm đủ 127 tấn vũ khí đạn dược theo kế hoạch tác chiến trong giai đoạn chuẩn bị chiến dịch; tiếp tục bảo đảm hàng trăm tấn vũ khí đạn dược cho đợt 2 và dợt 3 chiến dịch. Cán bộ và nhân viên kỹ thuật công binh đã vượt mưa lũ, bom đạn để sửa chữa và mở đường, rà phá hàng nghìn bom, mìn của địch trên đường 13, bảo đảm an toàn cho dân công và ô tô vận chuyển phục vụ đợt 2 và đợt 3 chiến dịch. Nhiều cán bộ và nhân viên kỹ thuật của các chuyên ngành đã anh dũng hy sinh tại mặt trận.


Tuy đầu năm 1952, các ngành quân khí, xe máy, thông tin, công binh và pháo binh đã nhận được viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô một số loại vũ khí trang bị kỹ thuật. Nhưng so với nhu cầu trang bị của quân đội và yêu cầu tác chiến ở các chiến trường còn rất hạn chế. Vũ khí trang bị kỹ thuật của ta phần lớn là mang vác, chủ yếu là vũ khí lục quân hạng nhẹ đã lạc hậu, tính năng kỹ chiến thuật và uy lực hạn chế so với vũ khí trang bị kỹ thuật của địch. Xuất phát từ thực trạng trên, ngành kỹ thuật tập trung chỉ đạo xây dựng, phát triển trạm, xưởng để sản xuất và sửa chữa vũ khí, đồng thời tích cực sửa chữa và đồng bộ số vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch để cấp phát và dự trữ. Vì vậy, tiếp sau chiến dịch Hoà Bình là chiến dịch Tây Bắc, với quy mô chiến dịch ngày càng lớn, lực lượng đông, thời gian tác chiến dài... nhưng ngành kỹ thuật đã chủ động bảo đảm đủ vũ khí trang bị kỹ thuật cho chiến dịch.


Hai là: Khắc phục khó khăn của chiến trường rừng núi, tổ chức chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật tập trung cho hướng chủ yếu, kịp thời xử lý tình huống để đáp ứng yêu cầu tác chiến chiến dịch.

Ngay sau khi kế hoạch tác chiến được xác định, lường trước những khó khăn trong công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch, các chuyên ngành đã chủ động chuẩn bị kỹ thuật ở hậu phương. Có kế hoạch sẵn sàng vận chuyển, cấp phát, bổ sung vũ khí trang bị sau khi bộ đội vượt sông Hồng cơ động vào khu tập kết. Vì vậy, khi các đơn vị vượt sông trên các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu, lực lượng kỹ thuật ở các trạm, các khu kho cùng dân công tận dụng mọi phường tiện vượt sông cùng bộ đội vận chuyển vũ khí trang bị kỹ thuật. Khi bộ đội cơ động vào vị trí tập kết chiến đấu, ngành kỹ thuật cơ động lực lượng cùng các đơn vị vào triển khai tuyến, rải trạm để vận chuyển vũ khí đạn dược. Đợt 1, lực lượng kỹ thuật cơ động theo 4 tuyến, rải 3 đến 7 trạm vận tải tỏi khu trung tuyến. Đợt 2 và đợt 3, lực lượng kỹ thuật phải cơ động hơn 160 km trên đường 41 để tiếp tế và bảo đảm kỹ thuật cho bộ đội chiến đấu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #25 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:38:45 pm »

Cơ động lực lượng để bảo đảm kỹ thuật gắn với tổ chức chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm tập trung cho hướng chủ yếu, mũi đột kích là vàn đề có ý nghĩa về nghệ thuật quân sự của ngành kỹ thuật trong chiến dịch Tây Bắc. Trong chiến dịch này, các chuyên ngành đã chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm và xử lý tình huống theo đúng tinh thần đó. Cục Quân khí cử đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật xuống các đại đội, tiểu đoàn chủ lực ở hướng chủ yếu như Phân khu Nghĩa Lộ và Tiểu khu Phù Yên trong đợt 1; các cứ điểm Mộc Châu, Bản Hoa, Ba Lay, Mường Lụm trên trục đường 41 trong đợt 2; các cứ điểm Pú Hồng, Bản Hời, Bản Vây và Nà Si xung quanh tập đoàn cứ điểm Nà Sản trong đợt 3. Cán bộ và nhân viên kỹ thuật quân khí trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ bảo quản, sửa chữa tại chỗ những vũ khí trang bị hòng hóc; nhanh chóng thu hồi, sửa chữa và đồng bộ số vũ khí trang bị thu được của địch để bổ sung cho đơn vị. Lực lượng phòng không được Bộ chỉ huy chiến dịch chỉ đạo tổ chức các trận địa bảo vệ đường giao thông, bảo vệ các mục tiêu yếu địa như bến bãi, cầu phà, trọng điểm... bảo đảm an toàn cho bộ đội và dân công vượt sòng, vận chuyển vũ khí trang bị và vật chất hậu cần. Lực lượng công binh, ngoài nhiệm vụ hiệp đồng với các đơn vị trên hướng chủ yếu để bảo đảm kỹ thuật cho các trận then chốt, còn kịp thời làm cầu, phá gỡ bom mìn và cùng dân công sửa chữa, mở rộng đường bảo đảm cho xe ô tô và dân công vận chuyển. Lần đầu tiến công binh đã giải quyết được các vấn đề kỹ thuật, chiến thuật, khắc phục bom, mìn, bảo đảm giao thông trong chiến dịch.


Khi Bộ Tổng tư lệnh quyết định ngừng hoạt động quân sự, tập trung mọi lực lượng để vận chuyển. Thực hiện chỉ thị của Bộ chỉ huy chiến dịch, lực lượng kỹ thuật cùng với bộ đội và dân công kịp thời sửa chữa và mở rộng đường 13, mở thêm đường mới, trực tiếp gánh vác, gùi thồ hàng, góp phần giảm bớt khó khăn trong vận chuyển. Việc xử lý kịp thời tình huống trong tác chiến chiến dịch dược xem là khâu quan trọng trực tiếp quyết định thắng lợi của chiến dịch Tây Bắc.


Ba là: Huy động khả năng bảo đảm kỹ thuật tại chỗ để giảm bớt khó khăn, tiết kiệm công sức, nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội.

Trong chiến dịch Tây Bắc, các chuyên ngành kỹ thuật đã huy động cho chiến dịch hàng chục vạn dân công, với gần chục triệu ngày công. Lực lượng dân công của các địa phương đã vận chuyển gần một trăm tấn vũ khí đạn dược, hàng chục nghìn tấn vật chất hậu cần phục vụ chiến dịch. Từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đến lúc này chưa bao giờ ta huy động được một khối lượng lớn sức người, sức của như vậy. Đường vận tải tiếp tế từ các khu kho xa mặt trận, phải vượt qua nhiều đèo núi cao và sông suối sâu, thời tiết khắc nghiệt, phương tiện thô sơ, vận chuyển chủ yếu bằng sức người. Đây là một cố gắng phi thường, chứng tỏ lòng cảm thù giặc sâu sắc, là biểu hiện vô cùng cao đẹp về ý chí cách mạng và lòng yêu nước của quân và dân ta.


Thực hiện phương châm "... tận dụng khả năng của địa phương và cố gắng lấy của địch mà dùng", khi đợt 1 và đợt 2 của chiến dịch kết thúc thắng lợi, lực lượng kỹ thuật đã nhanh chóng thu hồi, sửa chữa số lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật thu được của địch đê cấp phát bổ sung cho các đơn vị. Gồm: 100 tấn đạn, hơn 3.000 súng trường, 500 súng tiểu liên, hơn 200 trung liên, 35 đại liên, 65 súng cối 60mm và 81mm, 11 khẩu pháo (trong đó có 2 khẩu 105mm), gần 90 máy vô tuyến điện, 7 xe Jeép và nhiều trang thiết bị quân sự khác. Số vũ khí trang bị kỹ thuật này đã góp phần quan trọng vào công tác bảo đảm kỹ thuật tại chỗ, giảm việc vận chuyển tiếp tế từ tuyến sau ra mặt trận, bớt được khó khăn cho bảo đảm kỹ thuật trong tác chiến chiến dịch. Ngoài ra, trong điều kiện dân cư thưa thớt, kinh tế của đồng bào các dân tộc Tây Bắc còn rất nghèo nàn, lại trải qua gần một trăm năm bị địch chiếm đóng, vơ vét cướp phá. Với hàng nghìn tấn gạo, gần một trăm tấn thịt và các loại thực phẩm khác, cùng gần hai trăm nghìn ngày công giúp lực lượng kỹ thuật mà đồng bào các dân tộc Tây Bắc chắt chiu phục vụ chiến dịch, có ý nghĩa to lớn và vô cùng sâu sắc đối với ngành kỹ thuật; nói lên khát vọng độc lập tự do của đồng bào các dân tộc. Khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng, cũng như chủ trương huy động sức người, sức của tại chỗ cho chiến dịch Tây Bắc của Bộ Chính trị, của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh. Một tấn vật chất kỹ thuật huy động tại Tây Bắc có giá trị bằng hàng chục tấn vận chuyển từ Khu 3, Khu 4 lên. Nhưng giá trị to lớn hơn và ý nghĩa to lớn hơn, đó là một trong những yếu tố góp phần tiết kiệm nguồn vật chất kỹ thuật, tiết kiệm công sức, mồ hôi và xương máu của đồng bào, đồng chí trên đường vận chuyển tiếp tế; là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu suất chiến đấu của bộ đội trong chiến dịch.


Tuy nhiên, công tác bảo đảm kỹ thuật cho chiến dịch còn những thiếu sót phải rút kinh nghiệm: Một số đơn vị, lực lượng kỹ thuật chưa nắm chắc thực lực trang bị, nhất là vũ khí đạn dược nên phải bổ sung nhiều lần; có những trường hợp đạn và lựu đạn hỏng, liều phóng đạn cối ẩm, đuôi đạn cong vênh nhưng đề nghị cấp đổi chậm nên bảo đảm kỹ thuật quân khí gặp khó khăn. Khi địch hành quân lên Phú Thọ, Cục Quân khí thông báo chậm, kho Tiểu đoàn 5 ở Đoan Hùng không kịp sơ tán, bị tổn thất gần 100 tấn đạn dược. Vận chuyển vũ khí đạn dược và vật chất hậu cần phục vụ hướng chủ yếu trong đợt 2 chiến dịch, do tư tưởng chủ quan, cán bộ thiếu kiểm tra đôn đốc, nên không đủ khối lượng quy định, làm chậm sự phát triển tiến công chiến dịch. Khó tránh khỏi thiếu sót khuyết điểm trong chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm kỹ thuật cho tác chiến chiến dịch, nhưng nhận rõ khuyết điểm, kịp thời khắc phục để chỉ huy, chỉ đạo bảo đảm tốt hơn, hiệu quả hơn, giành thắng lợi lớn hơn cho những chiến dịch tiếp theo. Đó cũng là bài học có ý nghĩa sâu sắc trong công tác bảo đảm kỹ thuật của chiến dịch Tây Bắc.


Trải qua 60 năm chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, ngành kỹ thuật quân đội từ một số ít chuyên ngành thuộc Tổng cục Cung cấp trong chiến dịch Tây Bắc 1952; đến nay, ngành kỹ thuật quân sự đã và đang lớn mạnh không ngừng theo sự phát triển của vũ khí trang bị kỹ thuật, với gần hai mươi chuyên ngành kỹ thuật, cơ quan và cơ sở kỹ thuật không ngừng phát triển. Từ chỉ đạo và tổ chức bảo đảm kỹ thuật cho các chiến dịch hiệp đồng binh chủng trong kháng chiến chống Pháp xâm lược, đến các chiến dịch hiệp đồng quân binh chủng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngành kỹ thuật đã khẳng định rõ vai trò to lớn trong chiến tranh giải phóng dân tộc, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bão, vũ khí trang bị kỹ thuật không ngừng phát triển, đòi hỏi ngành kỹ thuật phải phát triển đê quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả những vũ khí trang bị kỹ thuật đó. Đây là vấn đề tất yếu trong xây dựng quân đội. Thực hiện các nghị quyết 05, 26, 27... của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp quốc phòng và kỹ thuật quân sự. Đặc biệt là Nghị quyết 382 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về lãnh đạo công tác kỹ thuật trong tình hình mới. Ngành kỹ thuật quân sự đang ra sức phấn đấu xây dựng các chuyên ngành kỹ thuật vững mạnh bảo đảm cho xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #26 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:40:27 pm »

CÔNG TÁC BẢO ĐẢM HẬU CẦN - NHÂN TỐ QUAN TRỌNG
GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Trung tướng NGUYỄN VĨNH PHÚ
Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần


Sau các chiến dịch Trung Du, Đường số 18, Hà Nam Ninh, Tổng Quân ủy nhận thấy mở các chiến dịch tiến công trên hướng trung du và đồng bằng là không phù hợp, vì địch phát huy được thế mạnh về hỏa lực, cơ động và tương quan lực lượng bất lợi cho ta. Vì vậy, sau chiến dịch Hòa Bình, Trung ương Đang chủ trương mở chiến dịch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc, nơi địch có nhiều sơ hở, lực lượng mỏng (8 tiểu đoàn và 41 đại đội, đóng ở 144 cứ điểm, trong đó 40 cứ điểm có 1 đến 2 đại đội), ta có thể tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng đất đai, mở rộng vùng tự do, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện cho Mặt trận Thượng Lào đẩy mạnh hoạt động. Nhưng Tây Bắc xa hậu phương, địa hình rừng núi hiểm trở, thưa dân, kinh tế nghèo nàn, giao thông vận tải rất khó khăn; nguồn lực hậu cần tại chỗ rất hạn chế... phải vận chuyển từ Việt Bắc sang và từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên là chủ yếu.


Nhận rõ khó khăn to lớn đó, từ tháng 5 năm 1952, Tổng cục Cung cấp đã chủ động chuẩn bị chiến trường và phân công ba Đảng ủy viên trực tiếp chỉ đạo trên hướng Tây Bắc; ở Việt Bắc, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp và Cục trưởng Cục Quân nhu chỉ đạo; ở Liên khu 3 và 4, do một Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp chỉ đạo. Tháng 7 năm 1952, Trung ương Đảng quyết định thành lập Ban cán sự đường 41 (gồm các đồng chí Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp và hai Khu ủy viên liên khu (3 và 4), trực tiếp chỉ đạo công tác mở đường phục vụ chiến dịch.


Công tác chuẩn bị được tiến hành một cách khẩn trương, Liên khu Việt Bắc tổ chức mở đường chạy dọc theo bờ tả ngạn sông Hồng từ Phú Thọ đến Yên Bái và đẩy nhanh tu sửa tuyến đường sắt Yên Bái - Mậu A để có thế chạy tàu thường xuyên. Các địa phương khẩn trương thu thuế nông nghiệp, tổ chức xay giã, chuyển gạo về các khu vực tập kết và bến vượt ở tả ngạn sông Hồng. Liên khu 3 sửa đường từ Ghểnh, Nho Quan đi Hòa Bình; đường 41 từ Hòa Bình qua Chợ Bờ đẽn Suốt Rút; chuẩn bị và chuyển gạo từ Yên Mô, Yên Khánh (Ninh Bình) lên Chợ Bờ, Suối Rút. Liên khu 4 sửa đường từ Thanh Hóa lên Ngọc Lạc, Hồi Xuân, Bãi Sang và chuyển gạo từ Tĩnh Gia lên. Ba tháng hè năm 1952, Liên khu 3 và 4 sửa được 170 km đường ô tô, 150 km đường vận tải bộ, huy động được 5.254 tấn gạo nhưng chuyển lên đến Suốt Rút - Bãi Sang chỉ còn 1.390 tấn, vì dân công đã sử dụng hơn 70%.


Tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tây Bắc với phương châm đánh liên tục, dài ngày, từng bước vững chắc, nắm thời cơ thuận lợi để phát triển nhanh chóng, bao vây chặt, truy kích đến cùng, diệt gọn. Lực lượng tham gia gồm các đại đoàn 308, 312, 316; một số đơn vị pháo binh, công binh và lực lượng vũ trang địa phương; tổng quân số hơn 5.000 người, thời gian dự kiến 4 tháng, chia thành 3 đợt. Đợt 1, ta tập trung diệt địch giải phóng Nghĩa Lộ và Phù Yên; đợt 2, phát triển tiến công, quét sạch địch tới bờ sông Đà, tiến lên Sơn La; đợt 3, tiến công địch ở Nà Sản. Nhu cầu hậu cần chiến dịch gồm: 5.250 tấn lương thực, thực phẩm (có 4.335 tấn gạo), 127 tấn vũ khí đạn, cứu chữa hơn 5.000 thương binh, bệnh binh.


Bộ máy hậu cần chiến dịch được thành lập. Sở chỉ huy Tiền phương Tổng cục Cung cấp ở Yên Bái do Chủ nhiệm Tổng cục trực tiếp chỉ huy, làm nhiệm vụ huy động nhân lực, vật lực ở hậu phương và tổ chức các trạm phục vụ bộ đội trên đường hành quân vào khu vực chiến đấu. Cục trưởng Cục Quân nhu - Phó Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch đi cùng Sở chỉ huy cơ bản; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp - Phó Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch - Bí thư Ban cán sự đường 41 đặt sở chỉ huy ở Suối Rút phụ trách việc huy động nhân lực, vật lực từ Liên khu 3 và 4 lên và bảo đảm cho hướng đường 41 trong đợt 2 chiến dịch.


Trên hướng chủ yếu (Phân khu Nghĩa Lộ), hậu cần chiến dịch tập trung hơn 2.000 tấn gạo và 38.000 dân công bên bờ tả ngạn sông Hồng ở Yên Bái, bảo đảm cho các đơn vị hành quân vào tập kết. Đêm 10 và 11 tháng 10 năm 1952, các đơn vị vượt sông Hồng, bí mật tiến quân vào Tây Bắc. Trong ba đêm tiếp theo, hậu cần chiến dịch đã huy rộng 2 phà và 432 chiếc thuyền, trong đó có 415 thuyền nan trọng tải 400 - 500kg để chuyển hơn 1.000 tấn gạo, đạn và thực phẩm vượt sông Hồng ở các bến Mậu A, Cổ Phúc, Âu Lâu. Dân công vượt sông được tổ chức thành từng đại đội, mang theo vật chất, sau đó được rải trạm trên ba tuyến. Tuyến Âu Lâu vào Ca Vịnh - Ba Khe triển khai thuận lợi; nhưng tuyến Cổ Phúc - Sài Lương và Mậu A - Khâu Vác - Nậm Mười rất khó khăn do đường nhỏ hẹp, trơn lầy, qua nhiều đèo dốc, sông suối, có nơi phải bắc "cầu khỉ", chỉ đi được từng người. Từ Mậu A đến Nậm Mười phải vượt qua 4 đèo cao (Khe Giang, đèo Quế, đèo Khâu Vác nhỏ và đèo Khâu Vác lớn) phải tổ chức thành 7 cung. Lực lượng hành quân trên tuyến này lại rất lớn (gồm Đại đoàn 308, 312 và một số đơn vị trợ chiến). Bộ đội chưa tới Nghĩa Lộ, Gia Hội thì dân công đã vào tuyến, chưa kịp triển khai trạm nên đã bị ùn tắc. Dân công chờ đợi, phải ăn vào gạo của bộ đội. Theo kế hoạch, từ ngày 15 tháng 10, phải đưa đến Nậm Mười 14,8 tấn gạo/ngày, nhưng ba ngày sau, gạo mới đến và ngày cao nhất được 7 tấn, có ngày chỉ được gần 1 tấn. Trong 20 ngày, tuyến vận tải Khâu Vác chỉ chuyển vào Nậm Mười được 83 tấn (đạt 28% kế hoạch). Trên tuyến Cổ Phúc - Sài Lương, chỉ chuyển được 3 tấn gạo (đạt 50% kế hoạch), toàn đợt vận chuyển được 40 tấn (60% kế hoạch), sở chỉ huy cung cấp ở hậu phương không nắm được khó khăn ở hai tuyến này nên chỉ huy, chỉ đạo có phần chủ quan dẫn đến hậu cần tuyến Khâu Vác không hoàn thành nhiệm vụ (còn gọi là "Hận Khâu Vác"). Đồng chí Tổng Tư lệnh - Chỉ huy trưởng chiến dịch nghiêm khắc phê bình. Chủ nhiệm Cung cấp chiến dịch đã nhận trách nhiệm về mình và tổ chức rút kinh nghiệm, xác định quyết tâm và đề ra biện pháp sửa chữa tích cực để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các đợt sau.


Ngày 14 tháng 10 năm 1952, chiến dịch Tây Bắc bắt đầu với các trận tiêu diệt các mục tiêu Ca Vịnh, Sài Lương. Tiếp đó, ta diệt Phân khu Nghĩa Lộ, Pú Chạng, Cửa Nhì, bức địch rút khỏi Gia Hội, Tú Lệ. Ở hướng Phù Yên, các vị trí Gia Phù, Bản Mo bị tiêu diệt, địch ở Tiểu khu Phù Yên rút chạy... Nhiều trận công đồn ác liệt đã diễn ra, thương binh lên tới 1.014 người. Quân y chiến dịch triển khai ba đội điều trị (1, 2, 5) ở Nghĩa Lộ, Nậm Mười, Ca Vịnh, Ba Khe cùng đội điều trị các đại đoàn cứu chữa thương binh. Nhưng do thiếu lực lượng, phương tiện, đường sá khó khăn, việc chuyển thương binh về tuyến sau còn chậm, có lúc bị ứ đọng ở các tiểu đoàn, trung đoàn. Vì vậy, quân y chiến dịch đã mở rộng Đội điều trị 1 thành bệnh viện đã chiến để cứu chữa thương binh của các đơn vị. Đợt 1 chiến dịch kết thúc, ta giải phóng khu vực rộng lớn từ Quỳnh Nhai đến Vạn Yên, trong đó có các cánh đồng Nghĩa Lộ, Quang Huy, Than Uyên là cơ sở huy động nguồn lực trong đợt sau.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #27 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:41:42 pm »

Tây Bắc là vùng có nhiều đồng bào các dân tộc ít người; trước khi bộ đội tiến quân lên Tây Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành "Tám điều mệnh lệnh của Chính phủ cho bộ đội và nhân dân vùng mới giải phóng". Chấp hành mệnh lệnh của Người, các đơn vị vừa đánh địch, vừa làm công tác dân vận, chiến lợi phẩm được quản lý sử dụng hợp lý nên đã góp phần tích cực khắc phục khó khăn trong bảo đảm hậu cần.


Chuẩn bị cho đợt 2, Bộ chỉ huy chiến dịch yêu cầu các đơn vị tổ chức lực lượng tham gia sửa đường, vận chuyển gạo, đạn, chuyển thương binh về tuyến sau... Hậu cần chiến dịch được trang bị một số phương tiện thông tin vô tuyến và hữu tuyến để chỉ huy các tuyến vận tải. Do không phù hợp nên tuyến Khâu Vác và Sài Lương được giải thế, lực lượng tập trung về đường 13, tổ chức tuyến vận tải từ Âu Lâu, Ba Khe đến Tông Cao, Gia Phù. Đồng thời, khẩn trương củng cố tuyến Thu Cúc, Quang Huy và Tông Cao, mở đường và tổ chức tuyến vận tải từ Tông Cao đến Suối Cao, Tạ Khoa nối với đường 41 ở Cò Nòi và mở tuyến vận tải xuống Vạn Yên nối với đường 41 ở Lồm Xồm. Liên khu Việt Bắc gấp rút huy động thêm 12.000 dân công, Liên khu 4 huy động 11.000 dân công. Bộ chỉ huy chiến dịch tăng cường cho hậu cần nhiều cán bộ trung, cao cấp để tổ chức chỉ huy các đoàn dân công trên đường 41 phục vụ chiến dịch. Các tuyến vận tải được mở rộng, các trạm bố trí cung độ hợp lý, đời sống dân công được quan tâm hơn... Hậu cần chiến dịch đã sửa chữa 64km (đường 41) từ Suối Rút qua Mộc Hạ đến Lồm Xồm và 61 kín (đường 13) từ Yên Bái đến Ba Khe cho ô tô vận tải hoạt động. Toàn bộ dân công vận tải bộ trên tuyến này được dồn lên phía trước. Tiếp đó, ta tiếp tục sửa đương cho ô tô chạy đến Tông Cao, Gia Phù. Những nỗ lực đó đã đẩy nhanh tiến độ mở đường và vận chuyển tốt hơn đợt 1.


Đồng thời, nhiều đơn vị đã tham gia gặt lúa giúp dân ở vùng mới giải phóng ở Tây Bắc và cùng cán bộ địa phương vận động nhân dân bán gạo cho bộ đội và đi dân công phục vụ chiến dịch. Đồng bào Tây Bắc đã huy động đóng góp 1.140 tấn gạo, 40 tấn thịt, 15.000 lượt người đi dân công (150.000 ngày công). Riêng Nghĩa Lộ, huy động được 160 tấn gạo, 16 tấn thịt... kịp thời đáp ứng nhu cầu tác chiến, đỡ phải huy động, chuyển từ xa lên.


Giữa lúc ta khẩn trương chuẩn bị cho đợt 2, ngày 29 tháng 10, 5 binh đoàn cơ động mở cuộc tiến công lên Phú Thọ, Yên Bái nhằm phá hoại hậu phương chiến dịch của ta cắt đường vận tải từ Việt Bắc sang Tây Bắc. Đồng thời, chúng dùng không quân đánh phá ác liệt các tuyến vận tải từ Việt Bắc sang Tây Bắc. Đèo Giàng trên đường số 3 bị tắc 6 ngày; Đèo Khế tắc 10 ngày... Để đập tan âm mưu của địch, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308 nhận lệnh về Phú Thọ cùng Trung đoàn 246, Liên khu Việt Bắc và Trung đoàn 176, Đại đoàn 316 đánh địch, bảo vệ hậu phương. Tổng cục tiền phương giao nhiệm vụ cho các cơ sở hậu cần ở Phú Thọ, Yên Bái gấp rút sơ tán kho tàng, sử dụng lực lượng tại chỗ vừa phục vụ bộ đội chiến đấu ngăn chặn địch, vừa tiếp tục chuẩn bị cho đợt 2. Bị ta chặn đánh quyết liệt, cuối tháng 11, địch phải rút lui.


Bước vào đợt 2, ngày 15 tháng 11, bộ đội ta vượt sông Đà tiêu diệt các mục tiêu bên bờ hữu ngạn, phá vỡ hệ thống phòng ngự của địch ở Mộc Châu; truy kích diệt địch trên đường 41. Hướng vu hồi, ta đánh vào nam Lai Châu và bắc Sơn La, giải phóng Tuần Giáo, Điện Biên Phủ, Thuận Châu, Sơn La. Ngày 22 tháng 11 năm 1952, địch bỏ các vị trí trên đường 41 từ bắc Sơn La về tập trung quân xây dựng Nà Sản thành tập đoàn cứ điểm để ngăn chặn ta tiến công.


Ban cán sự đường 41 tổ chức dân công gánh gạo, đạn bám sát bộ đội, bảo đảm cho các đơn vị tiến công và truy kích địch trên đường 41. Đồng thời gấp rút sửa đường từ Xồm Lồm lên Mộc Châu, Cò Nòi. Việc vận chuyển được thực hiện theo cung, chặng và cuốn chiếu. Thời gian đầu tập trung lực lượng, phương tiện trên tuyến Suối Hút - Xồm Lồm (64 km), tiếp đó là cung Xồm Lồm - Cò Nòi (87 km). Lực lượng vận tải (gồm: dân công gánh bộ, bộ đội, 461 xe đạp thồ, 168 xe trâu bò kéo, 24 thuyền, 30 ô tô) đã chuyển 528 tấn gạo (410 tấn từ Suối Rút lên, 70 tấn huy động ở Mộc Châu, 23 tấn chiến lợi phẩm ở Mộc Châu và 25 tấn đưa từ đường 13 sang), kịp bảo đảm cho đội phát triển tiến công và dự trữ một phần cho đợt sau. Trên hướng đường 13, hậu cần tập trung chuyển gạo, đạn, từ Yên Bái sang bảo đảm cho các đơn vị vượt sông đánh địch ở hữu ngạn sông Đà. Ta đã mở tiếp đường 13 từ Ba Khe vượt các đèo: Lũng Lô, Bản Ban, Nhọt, Chẹn đến Tạ Khoa, Cò Nòi (130km). Lực lượng vận tải chính trên hướng này là dân công, kết hợp với vận tải ô tô trên một số đoạn. Ngoài 25 tấn gạo đưa sang hướng đường 41, hậu cần đã chuẩn bị 140 tấn cho các đơn vị tiếp tục ở lại Tây Bắc hoạt động sau chiến dịch và chuẩn bị 313 tấn bảo đảm cho bộ đội lui quân.


Ngày 30 tháng 11 năm 1952, đợt 3 bắt đầu với các trận đánh vào tập đoàn cứ điểm Nà Sản (Sơn La) nhưng không thành công, thương binh nhiều (1.200 người). Ngày 10 tháng 12 năm 1952, ta kết thúc chiến dịch, chỉ để lại 2 trung đoàn kìm chân địch và củng cố vùng mới giải phóng.


Sau 58 ngày đêm chiến đấu, ta tiêu diệt 6.000 tên địch (diệt gọn 4 tiểu đoàn và 28 đại đội), giải phóng vùng đất rộng 28.500km2 với 250.000 dân, mở rộng căn cứ kháng chiến, mở đường sang Thượng Lào, phá thế uy hiếp của địch đối với căn cứ địa Việt Bắc ở phía tây. Hậu cần chiến dịch đã bảo đảm 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt, 33 tấn đạn dược, cứu chữa 2.535 thương binh. Để có kết quả trên, ta đã huy động ở 10 tỉnh thuộc các Liên khu Việt Bắc, 3, 4 và ở 4 huyện thuộc Tây Bắc mới giải phóng, gồm hơn 1.000 tấn lương thực, 191.000 lượt dân công (hơn 7 triệu ngày công), 1.101 xe đạp thồ, 258 xe trâu bò và 556 thuyền vận tải, 2 phà, 8 ca nô phục vụ chiến dịch... góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn của chiến dịch. Tổng Quân ủy nhận định: "Thắng lợi của chiến dịch đặt nền tảng cho một căn cứ địa mới - căn cứ địa Tây Bắc. Rồi đây, dù tình hình trở nên khó khăn hay thuận lợi, căn cứ địa Việt Bắc và căn cứ địa Tây Bắc sẽ là một bảo đảm cho cuộc kháng chiến lâu dài của chúng ta và sẽ có ảnh hưởng đối với cách mạng Lào".


Chiến dịch Tây Bắc để lại nhiều bài học quý về tổ chức bảo đảm hậu cần cho một chiến dịch lớn, dài ngày ở chiến trường rừng núi, xa hậu phương, hệ thống đường sá và bảo đảm hầu như chưa có,... Nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, trực tiếp là Tổng Quân ủy, quân và dân ta đã khắc phục mọi khó khăn, tổ chức bảo đảm chặt chẽ với sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa hậu cần ở hậu phương với hậu cần ở tiền tuyến trong nắm tình hình, chỉ huy, chỉ đạo huy động nhân vật lực và bảo đảm cho tác chiến, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Trong đó có bài học sâu sắc về quan điểm thực tiễn, bám sát bộ đội trong tổ chức bảo đảm. Những kinh nghiệm đó đã được nghiên cứu vận dụng, phát triển trong giai đoạn tiếp theo của cuộc kháng chiến chống Pháp cũng như kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. 60 năm đã trôi qua, những bài học kinh nghiệm đó vẫn nguyên giá trị, cần nghiên cứu kế thừa, phát triển trong xây dựng thế trận và tiềm lực hậu cần tại chỗ trên các địa bàn chiến lược đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #28 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:42:57 pm »

BẢO ĐẢM THÔNG TIN LIÊN LẠC TRONG CHIẾN DỊCH TÂY BẮC

Thiếu tướng VŨ DƯƠNG NGHI
Chính ủy Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc


Thu Đông 1952, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc, tiếp tục giữ vững và phát huy quyền chủ động của cuộc kháng chiến. Trong chiến dịch này, vượt qua những khó khăn về địa hình, phương tiện còn nhiều hạn chế, bộ đội thông tin đã tổ chức thông tin liên lạc chặt chẽ, bảo đảm chỉ huy thông suốt vững chắc trong mọi tình huống, góp phần xứng đáng vào thắng lợi chung của chiến dịch.


Tại Hội nghị phổ biến nhiệm vụ, kế hoạch của chiến dịch (9-9-1952), Cục Thông tin liên lạc được giao nhiệm vụ tổ chức bảo đảm thông tin liên lạc cho Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch Tây Bắc và nam Liên khu 3. Triển khai nhiệm vụ, Cục chia thành hai bộ phận: một ở lại căn cứ địa Việt Bắc do Cục trương trực tiếp điều hành để giữ liên lạc với bộ phận tiền phương sở chỉ huy chiến dịch, liên lạc với các đại đoàn, với Liên khu 3 ở chiến trường vùng sau lưng địch. Một bộ phận do Bí thư Đảng ủy Hoàng Bửu Đón làm Trưởng ban và Cục phó Nguyễn Văn Tình làm Phó ban cùng cơ quan, đơn vị trực thuộc đi phục vụ Bộ chỉ huy chiến dịch Tây Bắc. Lực lượng tham gia phục vụ Mặt trận Tây Bắc có Ban Ba chiến dịch, Tiểu đoàn 303 (gồm 2 đại đội điện thoại với 40 máy, 3 tổng đài và 100 km dây bọc, 1 đại đội liên lạc chuyển đạt); đại đội liên lạc vô tuyến điện 101 (có 3 liên đài với 6 máy, 2 đài MK2, 2 đài 694, 2 đài V101). Đội liên lạc chuyển đạt đường dài 231 tổ chức đường chuyển đạt từ tiền phương về hậu phương. Thông tin liên lạc ở các đại đoàn được trang bị được thống nhất, số quân được tăng cường, chất lượng phương tiện kỹ thuật tốt hơn, cán bộ được biên chế sắp xếp đầy đủ.


Để đảm bảo yếu tố bí mật, Cục đã thảo chỉ thị giữ bí mật vô tuyến điện (được Tổng tham mưu trưởng phê chuẩn) quy định việc phát sóng liên lạc vô tuyến điện của tất cả các điện đài phải theo sự chỉ đạo thống nhất của Cục. Những cụm liên lạc vô tuyến điện ở hậu phương được tổ chức trong chiến dịch (Hòa Bình), gồm những điện đài được bố trí ở nơi ổn định, công suất máy phát lớn, máy thu có độ nhạy cao liên lạc xa tốt nay lại phát huy tác dụng, là cụm điện đài tin cậy của Bộ Tổng tư lệnh khi bước vào chiến dịch.


Thực hiện kế hoạch nghi binh của Bộ Tổng tham mưu, Cục đã chỉ đạo các điện đài ở Bộ và các đơn vị tham gia nghi binh trên sóng vô tuyến điện, nhiều bức điện giả được phát xen lẫn với thật. Một số điện đài của các đại đoàn 308, 312, 316, Đại đoàn công pháo 351 và Trung đoàn 148 vẫn ở lại vị trí cũ phát sóng liên lạc với đài của Bộ, sau đó mới hành quân đuổi theo đơn vị. Hoạt động trên sóng vô tuyến điện lúc rầm rộ lúc bình thường kéo dài từ ngày 20 tháng 9 đến 14 tháng 10 năm 1952, khi các đơn vị nổ súng mở màn chiến dịch. Trong khi đó điện đài Ban Ba và các đơn vị tham gia chiến dịch hoàn toàn giữ im lặng trong suốt thời gian hành quân.


Bước vào chiến dịch, để bảo đảm thông tin liên lạc cho công tác chỉ đạo, chỉ huy một lực lượng lớn gồm 3 đại đoàn bộ binh, 1 đại đoàn công pháo vượt sông Hồng trong 2 đêm (10 và 11-10) được nhanh gọn, không ùn tắc và an toàn, một mạng liên lạc điện thoại vượt sông tại các bên được hình thành. Một đường dây từ sở chỉ huy tiền phương chiến dịch đến Ban chỉ huy vượt sông. Từ ban chỉ huy vượt sông có các đường điện thoại tới ban chỉ huy từng bến, ở mỗi bến có một tổ liên lạc điện thoại trang bị gọn, nhẹ rải dây trước qua sông, đặt máy liên lạc. Nhờ có đường liên lạc điện thoại mà sở chỉ huy chiến dịch có thể nắm chắc tình hình các đơn vị vượt sông từ khi khởi đầu cho đến khi kết thúc.


Khi bộ đội vượt sông an toàn, tiến hành "bôn tập", là lúc chiến sĩ thông tin liên lạc, nhất là chiến sĩ điện thoại dây bước vào giai đoạn gian nan vất vả, nhanh chóng thu dây, thu máy kịp hành quân theo hướng phát triển của chiến dịch. Ngay đêm đầu tiên vượt sông Hồng, trời mưa như trút nước. Trên vai mỗi người phải mang vác trung bình từ 30 đến 35 kg dây, máy, lương thực và quân trang, kèm thêm 8 nắm cơm ăn trong 4 ngày. Theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch, sau 4 ngày đêm hành quân, các đơn vị thông tin phải tới vị trí đặt máy, rải dây. Vượt qua mọi khó khăn, thử thách, các chiến sĩ thông tin đã hoàn thành nhiệm vụ đúng ngày giờ quy định.


Theo kế hoạch tiến công đợt 1, Ban Ba chiến dịch có nhiệm vụ dùng ba liên đài tổ chức mạng liên lạc vô tuyến điện để Bộ chỉ huy chiến dịch nắm tình hình của các đại đoàn 304, 320 đang hoạt động ở vùng sau lưng địch ở nam Liên khu 3 và các trung đoàn đang hoạt động ở Phú Thọ; tổ chức mạng lưới thông tin đến các đơn vị của các đại đoàn 308, 304 và 312. Đúng giờ quy định, chiều ngày 14 tháng 10 năm 1952, các điện đài của sở chỉ huy chiến dịch, mở máy phát sóng liên lạc. Điện đài ở các nhánh, các mũi đều nhận được và phát tín hiệu đã sẵn sàng nhận lệnh.


Mở đầu chiến dịch, Trung đoàn 174 tiến công Ca Vịnh, Trung đoàn 141 đánh vào Sài Lương. Để chỉ đạo Trung đoàn 141, khi sở chỉ huy chiến dịch vào đến Khe Lóng, một đôi dây điện thoại đã bí mật được kéo từ Khe Lóng đến Sở chỉ huy trung đoàn để Bộ chỉ huy chiến dịch trực tiếp theo dõi đơn vị. Đường dây rải đúng vào lúc những trận mưa đột ngột, kéo dài, nước lũ làm các con suối ngập tràn chảy xiết, đường vào phải qua địa hình phức tạp, thời gian lại khống chế, nhưng cán bộ, chiến sĩ trung đội điện thoại đã vượt qua hoàn thành nhiệm vụ trước giờ quy định. Tuy vậy, địch đã bỏ chạy trước giờ nổ súng, thông qua liên lạc vô tuyến và điện thoại, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị truy kích địch.


Để Sở chỉ huy tiền phương chiến dịch ở Thẩm Cố chỉ đạo các đơn vị tấn công Nghĩa Lộ. Đường dây được đấu vào tổng đài đặt ở Bản Tư, từ đây kéo xuống Đại đoàn 308 ở bắc điểm cao 793 và Đại đoàn 312 ở suối Lô. Như vậy, hệ thống liên lạc đã được thiết lập từ sở chỉ huy cơ bản chiến dịch ở Khe Lóng đến sở chỉ huy tiền phương với các đại đoàn 308, 312. Để lập nên hệ thống dây này, cán bộ và chiến sĩ liên lạc đã lợi dụng pháo sáng của địch thả từ máy bay xuống để xoi đường và chiếu theo đường thẳng trên bản đồ để rải dây theo đúng ý định.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #29 vào lúc: 20 Tháng Mười Một, 2023, 03:43:57 pm »

Theo kế hoạch, đêm 17 tháng 10, Đại đoàn 308 tiến công Nghĩa Lộ. nhưng khi phát hiện địch tăng cương lực lượng và rời sở chỉ huy Phân khu Pú Chạng, nên Bộ chỉ huy chiến dịch thay đổi kế hoạch, quyết định tấn công Pú Chạng. Bảo đảm thông tin liên lạc cho chỉ đạo, chỉ huy, Ban Ba cho rải một đường dây điện thoại từ sở chỉ huy đại đoàn tới sở chỉ huy Trung đoàn 102. Qua đường dây này có thể liên lạc với Tiểu đoàn súng máy phòng không 387, với đại đội cối 120mm và Trung đoàn 88 đang chuẩn bị đánh vào Nghĩa Lộ. Còn ở Trung đoàn 102, từ sở chỉ huy có ba đường điện thoại xuống ba tiểu đoàn. Mặc dù gặp khó khăn về địa hình (đoạn suối Nậm Đông nước chảy xiết, lòng suối toàn đá hộc phủ đầy rêu trơn) lại phải giữ bí mật tuyệt đối, nhưng trong đêm 16 tháng 10, cán bộ, chiến sĩ liên lạc điện thoại của đại đoàn và trung đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ. Tuy vậy, do không kịp ngụy trang nên trưa ngày 17 tháng 10, địch phát hiện và cắt đoạn dây vượt đường lớn, đồng thời huy động súng cối, đại bác 105mm và máy bay ném bom na-pan làm ta thương vong 34 người. Đây là bài học cho thông tin liên lạc của Trung đoàn 102 trong công tác ngụy trang, bảo đảm bí mật. Bất chấp hiểm nguy, các chiến sĩ thông tin nhanh chóng nối dây, đảm bảo liên lạc được thông suốt. Đúng 17 giờ 5 phút, qua điện thoại, trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng, sau 3 giờ 25 phút chiến đấu ác liệt, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm, liên lạc chỉ huy được giữ vững từ đầu đến cuối trận đánh.


Trên hướng khác, thông tin liên lạc của Trung đoàn 88 (Đại đoàn 309) nhanh chóng tỏa mạng điện thoại bảo đảm cho bộ binh và pháo binh chiếm lĩnh trận địa tiến công dịch ở Nghĩa Lộ. Triển khai nhiệm vụ khi yếu tố bất ngờ không còn, thời gian đòi hỏi rất gấp, lại không nắm vững địa hình, trong lúc máy bay, đại bác địch liên tục bắn phá, trong khi yêu cầu đường dây điện thoại từ sở chỉ huy trung đoàn phải tỏa đi 6 hướng. 18 giờ toàn trung đoàn bắt đầu vào chiếm lĩnh trận địa. Tuy vậy, đường điện thoại từ đại đoàn đã không theo kịp, nên giữa đại đoàn và trung đoàn bị gián đoạn, buộc phải lùi giờ nổ súng từ 2 giờ 00 ngày 18 tháng 10 đến 3 giờ 5 phút, khi tất cả các đường điện thoại từ đại đoàn xuống và từ trung đoàn đến các mũi các trận địa hỏa lực đều thông suốt. Sau hơn 2 giờ chiến đấu ta đã chiếm xong cứ điểm. Từ khi nổ súng cho đến khi kết thúc trận đánh đường dây điện thoại luôn an toàn thông suốt. Thắng lợi của Đại đoàn 308 ở Nghĩa Lộ chứng minh sự trưởng thành của bộ đội ta, trong đó Bộ đội Thông tin liên lạc có bước tiến vững chắc. Đặc biệt là thông tin liên lạc điện thoại đã đảm bảo thông tin cho chỉ huy đánh địch khi yếu tố bất ngờ không còn.


Sau khi làm chủ Nghĩa Lộ, theo lệnh của Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, Ban Ba cấp tốc cho rải đường điện thoại sang phía Trung đoàn 36 (đơn vị đánh đồn Cửa Nhì), đường dây vừa tới nơi thì trung đoàn phát hiện thấy địch trong đồn hoang mang, chuẩn bị rút nên đã đề nghị cho đánh sớm. Đêm 18 tháng 10, Trung đoàn 36 vây chặt, kịp thời nổ súng ngay khi địch chưa kịp tháo chạy. Trong suốt quá trình chiến đấu (khoảng 20 phút) việc liên lạc giữa trung đoàn với Bộ chỉ huy chiến dịch, với Bộ chỉ huy đại đoàn luôn được giữ vững.


Phía Đại đoàn 312, khi đường dây từ tổng đài Bản Tư kéo đến Sở chỉ huy đại đoàn, Bộ chỉ huy chiến dịch đã trực tiếp theo dõi, chỉ đạo đại đoàn chiến đấu. Sau khi làm chủ Nghĩa Lộ, biết địch đã tăng cường quân dù cho Tú Lệ, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Đại đoàn 312 tấn công Gia Hội. Trận chiến đấu diệt viện, công đồn trên đường Gia Hội - Nghĩa Lộ trở thành cuộc chiến đấu truy kích đường rừng dài gần 100 km, từ Gia Hội - Làng Chàng - Tú Lệ - Cao Pha - Ít Ong đến sát tả ngạn sông Đà. Đây là tình huống bất ngờ, khó khăn đối với thông tin liên lạc Đại đoàn 312. Chiến thuật rải dây điện thoại truy kích địch đã được nghiên cứu, học tập nhưng chưa được thực hành trong diễn tập. Hơn nữa lại truy kích đường rừng, liên lạc vô tuyến điện thuận lợi hơn liên lạc điện thoại. Tuy vậy, trước đây bảo đảm liên lạc vô tuyến điện vẫn thường làm việc theo phiên, theo giờ quy định, nay theo yêu cầu mới phải tìm mọi cách thực hiện bằng được liên lạc vô tuyến điện. Điện đài phải canh liên tục giữ vững liên lạc giữa tham mưu trưởng trung đoàn với đại đoàn. Trong truy kích việc canh liên tục hết sức khó khăn, chỉ sơ suất nhỏ là lệnh không kịp nhận, báo cáo bị thất lạc. Đối với chiến sĩ liên lạc phải dồn lại thành một tiểu đội máy và các tiểu đội dây. Một tiểu đội dây chạy trước ra dây, tiểu đội máy bám theo, các tiểu đội dây khác, dây sừng bò trên vai vượt lên trước đón đường rải dây tiếp. Dây, máy có hạn anh em lại phải cuốn dây, đưa máy từ phía sau lên phía trước, cố gắng bám sát chỉ huy, bám sát đơn vị giữ thông liên lạc. Bằng biện pháp sáng tạo rải dây theo kiểu "sâu đo", "cuốn chiếu", suốt 4 ngày 5 đêm đường dây điện thoại đã bám sát đội hình truy kích địch từ Gia Hội đến Tú Lệ, bảo đảm liên lạc cho các đơn vị.


Ở hướng thứ yếu, Đại đoàn 316 chỉ huy Trung đoàn 98 từ Phú Thọ vào nổ súng trước thu hút sự chú ý của địch. Đêm 14 tháng 10, đại đội thông tin liên lạc tổ chức bảo đảm liên lạc để trung đoàn chỉ huy các tiểu đoàn tiêu diệt địch ở Nha Phù và đêm 17 tiêu diệt sở chỉ huy Tiểu khu Phù Yên ở Bản Mo, quét địch ra khỏi tiểu khu. Ngày 18, đơn vị tiến đến Vạn Yên buộc địch bỏ chạy sang hữu ngạn sông Đà.


Phía đông nam Lai Châu, Tiểu đoàn 910 (Trung đoàn 148) từ Lào Cai tiến xuống Quỳnh Nhai. Tiểu đoàn được lệnh vừa tiến quân vừa phát sóng vô tuyến điện làm cho địch lầm tưởng rằng đây là một cánh quân lớn. Sau khi diệt các vị trí Nậm Sỏ, Nà Mu, Quỳnh Nhai, Pắc Nà... tiểu đoàn nhanh chóng tiến sát tả ngạn sông Đà.


Trong suốt đợt 1 của chiến dịch (từ 14 đến 23-10), bộ đội thông tin đã bảo đảm tốt thông tin liên lạc cho công tác chỉ đạo, chỉ huy các cánh, các mũi, góp phần vào những thắng lợi mở đầu. Trong số chiến lợi phẩm thu được của địch có 14 máy vô tuyến điện. Cán bộ, chiến sĩ thông tin liên lạc lại cùng các đơn vị tỏa về đóng ở các bản làng tiến hành công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của Đảng, Chính phủ và Bác Hồ, giác ngộ nhân dân các dân tộc và giúp đỡ cán bộ địa phương xây dựng chính quyền mới.


Sau những thất bại ở Nghĩa Lộ và Phù Yên, địch co hết sang hữu ngạn sông Đà, lập thành một phòng tuyến ngăn chặn quân ta tiến vào Sơn La, đồng thời mở cuộc hành quân tấn công lên Phú Thọ. Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh vẫn chủ trương tiếp tục chiến dịch tiến công Tây Bắc, điều Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) về cùng với lực lượng tại chỗ đánh tiêu hao thật nhiều sinh lực dịch buộc chúng rút khỏi Phú Thọ, bảo vệ hậu phương, tích cực hoạt động ở đồng bằng Bắc Bộ phối hợp với chiến trường Tây Bắc.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM