Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Bảy, 2024, 06:08:20 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Liên Xô và Việt Nam trong những năm chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất  (Đọc 3740 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #30 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2023, 07:41:51 am »

6.
Nghị quyết của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn liên bang (Bôn-sê-vích) về việc phê chuẩn dự thảo điện mừng nhân dịp 5 năm ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (kèm nội dung các bức điện mừng của Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô N.M. Sve-rơ-nhích và Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô A.Ia. Vư-sin-xki)

Ngày 31/8/1950
Tối mật

NGHỊ QUYẾT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN TOÀN LIÊN BANG (BÔN-SÊ-VÍCH)

Về dự thảo các bức điện mừng nhân dịp 5 năm ngày Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 02/9)

Phê chuẩn dự thảo các bức điện mừng của các đồng chí N.M. Sve-rơ-nhích A.Ia. Vư-sin-xki được kèm theo đây.

BÍ THƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG


Thông qua ngày 31 tháng 8 năm 1950.

Những người biểu quyết ĐỒNG Ý: Các đồng chí Bê-ria, Bun-ga-nhin, Ma-len-cốp, Mi-cô-i-an, Khơ-ru-sốp.


Nghị quyết:
   Gửi các dồng chí Ma-len-cốp, Vư-sin-xki, ngày 01/9/1950.
   P771 210.

ĐIỆN GỬI CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
NGÀI HỒ CHÍ MINH


Thay mặt Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô và nhân danh cá nhân, xin Ngài hãy nhận lời chúc mừng và những lời chúc tốt đẹp nhất gửi đến nhân dân Việt Nam nhân dịp Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
N. SVE-RƠ-NHÍCH


ĐIỆN GỬI BỘ TRƯỞNG NGOẠI GIAO NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA NGÀI HOÀNG MINH GIÁM


Nhân dịp Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xin Ngài hãy nhận những lời chúc mừng chân thành của tôi cùng với mong muốn tiếp tục tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước chúng ta.

A.VƯ-SIN-XKI

Viện Lưu trữ Lịch sử chính trị-xã hội Nhà nước Nga
Phông 17. ML163. HS 1559. Tờ 144-146
Bản sao
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #31 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2023, 07:51:31 am »

7.
Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Tổng Bí thư Ban Châp hành Trung ương Đảng Cộng sản toàn liên bang (Bôn-sê-vích)

I. V. Xta-lin

Ngày 14/10/19501 (Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là nước đầu tiên công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Chú thích của tài liệu))
Nguyên bản bằng tiếng Anh.


Đồng chí Xta-lin yêu quý,

Tôi vui mừng gửi tới Đồng chí bản báo cáo sau:

Nhờ sự giúp đỡ to lớn của các Đồng chí và Đảng Cộng sản Trung Quốc, giai đoạn thứ nhất cuộc phản công của chúng tôi ở biên giới đã kết thúc thắng lợi.

Mặt trận Cao-Bằng-Đông Khê-Thất Khê có chiều dài gần 70 km và nằm ở vùng núi hiểm trở2 (Bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh do Đại sứ Liên Xô tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa N.V. Rô-sin chuyển đến Mát-xcơ-va và tại đây nhận được ngày 30/12/1950).


Lực lượng của chúng tôi gồm: 25.500 bộ đội chính quy, 970 bộ đội địa phương, 18.000 nông dân cả nam giới và phụ nữ làm nhiệm vụ vận chuyển, mỗi người làm việc 10 ngày.

Lực lượng của địch gồm: 6.000 lính (có gần 1.700 lính da trắng, 2.600 lính Bắc Phi, 700 lính người Việt).

Các giai đoạn chiến đấu:

1) Cầu Đông Khê, từ 16 đến 20/9. Lực lượng địch gồm 350 lính. Chúng đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Chúng tôi chiếm được Đông Khê.

2) Các đội quân địch rút khỏi Cao Bằng hòng đến được Thất Khê cùng với 1.650 binh lính (ngày 03/10). Tuy nhiên khi đến gần Đông Khê, chúng đã bị chúng tôi tiêu diệt. Chỉ huy của chúng là Đại tá Charton cùng quân lính đã phải đầu hàng.

3) Các lực lượng quân địch khác, khoảng gần 2.000 lính, được phái tới Thất Khê để gặp toán quân của Charton. Khi gần đến Đông Khê chỉ cách Charton khoảng 1 km, chúng cũng đã bị chúng tôi tiêu diệt. Viên chỉ huy của chúng, Đại tá Le Page cùng binh lính và Đại tá, Bác sỹ Durif đã phải đầu hàng.

Cuộc chiến đấu bắt đầu ngày 03/10 và kết thúc ngày 11/10.

Kết quả: Chúng tôi đã giải phóng Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê và tịch thu được một lượng lớn chiến lợi phẩm. Chúng tôi đã tiêu diệt gần 2.300 binh lính và sỹ quan địch, bắt làm tù binh khoảng 2.500 người (3 đại tá, 1 sỹ quan chỉ huy, 5 đại úy, 20 trung úy. Các con số này còn chưa đầy đủ).


Theo thông báo mới nhất, quân địch cũng đã phải bỏ lại tỉnh Thái Nguyên ngày 11/10. Chỉ cách đây 10 ngày khi chiếm được tỉnh này (ngày 01/10), đối phương đã gọi đây là "Thủ đô của Hồ Chí Minh" và làm rùm beng về điều đó.


Một kết quả quan trọng khác: Lần đầu tiên chúng tôi tiến hành một trận đánh lớn, chúng tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm và cũng thấy rõ những thiếu sót của mình.

Nhờ sự giúp đỡ của các đồng chí Trung Quốc và thực hiện lời dạy của Lê-nin-Xta-lin, chúng tôi đã làm tất cả có thể để khắc phục các thiếu sót.

Những đồng chí cố vấn của chúng tôi. Tôi cần báo để Đồng chí biết là Bộ Tổng Tư lệnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gửi cho chúng tôi những người có phẩm chất tốt nhất để làm cố vấn và các đồng chí đã giúp chúng tôi rất giá trị. Chúng tối đang chuẩn bị một trận đánh tiếp theo, sau đó quân đội chúng tôi sẽ tạm nghỉ một chút. Chúng tôi hứa với Đồng chí là sẽ chiến đấu ngày càng tốt hơn.


Đồng chí Xta-lin kính mến, liệu tôi có đúng không khi cho rằng thắng lợi của chúng tôi, mặc dù còn chưa lớn, nhưng cũng là một bộ phận trong thắng lợi vĩ đại của chủ nghĩa quốc tế vô sản cách mạng do vị lãnh tụ yêu quý và quả cảm là Đồng chí lãnh đạo?


Khoảng tháng 12 chúng tôi sẽ tiến hành Đại hội toàn quốc để thành lập đảng mới là Đảng Lao động Việt Nam. Nhiệm vụ đầu tiên của chúng tôi là phải "cải tổ" để trở thành một đảng gồm nửa triệu đảng viên được huấn luyện tương đối tốt về học thuyết Mác-Lê-nin. (Hiện nay, chúng tôi có hơn 750.000 đảng viên, nhưng nhiều người trong số đó cần được làm trong sạch).


Tôi hy vọng sẽ nhận được những cuốn sách mà Đồng chí đã hứa viết riêng cho chúng tôi. Tôi sẽ tự mình dịch những cuốn này. Đó sẽ là món quà quý giá nhất của Đồng chí dành cho Đảng chúng tôi.

Tôi xin nhờ Đồng chí chuyển lời chào anh em của tôi đến các đồng chí ở Bộ Chính trị.

Ôm hôn Đồng chí và chúc Đồng chí dồi dào sức khỏe và trường thọ.

Thân ái
Đinh
Cao Bằng, ngày 14/10/1950

Viện Lưu trữ Lịch sử chính trị-xã hội Nhà nước Nga.
Phông 558. ML.11. HS. 295. Tờ 4-6, 7-8.
Cô-nô-lép-va. Một số đặc điểm trong tiểu sử chính trị của Hồ Chí Minh// Các vấn đề lịch sử. 2008. Số 10. Tr. 136-141.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #32 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2023, 07:52:40 am »

8
Thư của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi Chính phủ và nhân dân Liên Xô nhân dịp Kỷ niệm một năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Nhận được kèm với thư của   Dấu đến
Đại diện nước Việt Nam Dân chủ   Bộ Ngoại giao Liên Xô
Cộng hòa gửi Đại sứ Liên Xô tại   Vụ Đông Nam Á
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa   Số đến: 51
Ngày 22/01/1951   Ngày 02/3/1951


"Thư của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam gửi Chính phủ và nhân dân Liên Xô

Ngày 18/01/1950, Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã công nhận Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân cũng đã công nhận đất nước chúng tôi. Để thể hiện lòng biết ơn hành động cao quý và thực tế đó, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã quyết định Kỷ niệm trọng thể một năm ngày thắng lợi ngoại giao vào ngày 18 tháng Giêng trên cả nước.


Nhân ngày lễ vẻ vang này, thay mặt các tổ chức quần chúng và nhân dân Việt Nam, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam xin bày tỏ lòng cảm ơn và sự tin tưởng vào Chính phủ và nhân dân Liên Xô. Nhân dân Việt Nam vô cùng xúc động về sự công nhận này, nguyện sẽ tiếp tục đoàn kết chặt chẽ với phe dân chủ và hòa bình do Nguyên soái Xta-lin đứng đầu, và cương quyết chiến đấu đến cùng để tiêu diệt hoàn toàn thực dân Pháp, làm thất bại mưu đồ can thiệp của Mỹ, bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc, vì hòa bình trên toàn thế giới.

Ngày 18 tháng 01 năm 1950

Các đảng phái và tổ chức thuộc Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam đã ký:

Mặt trận Liên Việt,

Việt Nam Độc lập Đồng minh,

Liên đoàn Lao động Việt Nam,

Hội Nông dân cứu quốc,

Liên đoàn Thanh niên Việt Nam,

Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam,

Đảng Dân chủ Việt Nam,

Đảng Xã hội Việt Nam,

Liên đoàn Cách mạng Việt Nam"

Sao y bản chính: Va-khơ-ru-sốp đã ký

Nơi nhận:
   
Các đồng chí Xta-lin,   Vư-sin-xki,
Mô-lô-tốp,   Grô-mưn-cô,
Ma-len-cốp,   Dô-rin
Bê-ria,   Pốt-txe-rốp,
Mi-cô-i-an,   Vụ Đông Nam Á,
Ca-ga-nô-vích,   Lưu hồ sơ - 2.
Bun-ga-nhin,   
Khơ-ru-sốp,   
Số công văn đi: 85/GX-nx   


Lời phê:
   Gửi đồng chí Mkhi-ta-ri-an
   Lưu hồ sơ 2/3- A.M.

Viện Lưu trữ Chính sách đối ngoại Liên bang Nga.
Phông 79. ML. 5. Cặp 2. HS.1. Tờ 3-4
Bản sao xác thực.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #33 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2023, 07:56:16 am »

9.
Trích bài viết của Đinh (tức Hồ Chí Minh) "Việt Nam những năm 1950 và 1951" về mở đầu cuộc chiến tranh giải phóng ở Việt Nam và vai trò của Liên Xô trong việc thiết lập nền dân chủ"

Tháng 5/1951
Dịch từ tiếng Pháp


VIỆT NAM trong năm 1950 và 1951.

Nhân dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với niềm tin, niềm phấn khởi, hân hoan vui mừng đón Tết năm mới tính theo Âm lịch (ngày 06/02/1951).

Cùng với việc đón năm mới, họ tổng kết năm cũ và chuẩn bị kế hoạch cho năm tới.

Trước năm 1950

Cuối năm 1950 là lúc kết thúc nửa đầu của thế kỷ XX và mở ra cánh cửa cho thời đại tiếp theo.

Trong giờ phút trọng đại này, nhân dân Việt Nam, củng như các dân tộc khác, một lần nữa nhìn lại lịch sử của dân tộc và quốc tế để có những bài học và rút ra kinh nghiệm.

Trong 50 năm qua, đã có nhiều phát minh, đạt được nhiều thắng lợi, xảy ra những cuộc chiến tranh, có những biến động và thay đổi lớn.

Đặc biệt, cuộc Cách mạng Tháng Mười vĩ đại thắng lợi đã đưa nhân loại sang kỷ nguyên mới và hạnh phúc. 34 năm sau đó, Cách mạng Trung Quốc thắng lợi, tiếp tục thúc đẩy cho công cuộc giải phóng dân tộc của nhân dân bị áp bức.


Dưới sự lãnh đạo và giúp đờ của Liên Xô, từ Trung Âu đến Viễn Đông, các nước dân chủ mới đang xây dựng cuộc sống mới và củng cố sức mạnh của mình. Những nước đó chiếm một nửa dân số của nhân loại và là sức mạnh to lớn của thế giới và nền văn minh hiện nay.


Nhân dân Việt Nam đã phải chịu nhiều đau khổ từ hai cuộc chiến tranh thế giới. Họ đã trải qua hai ách thống trị của đế quốc là Pháp và Nhật. Nhân dân Việt Nam đã tổ chức nhiều cuộc khởi nghĩa chống thực dân, mà nổi bật nhất là Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh những năm 1930-1931.


Nhờ có quân đội Xô viết dũng cảm và nhân dân Liên Xô anh hùng dưới sự lãnh đạo của Xta-lin thiên tài, quân phát xít Nhật đã bị đánh bại, và nhờ sự thống nhất và tinh thần yêu nước của Mặt trận Dân tộc Việt Minh dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương, cuộc Cách mạng tháng Tám (năm 1945) đã giành được thắng lợi. Cuộc Cách mạng đó đã đánh đổ cả ách thống trị nghìn năm phong kiến cũng như ách đô hộ tàn bạo kéo dài suốt gần một thế kỷ của bọn đế quốc.


Việt Nam đã trở thành nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập. Chính quyền thuộc về nhân dân. Tuy nhiên chỉ sau một tháng, dưới sự trợ giúp của quân đội Anh và Quốc dân Đảng Trung Hoa, thực dân Pháp, những kẻ 4 năm về trước đã đầu hàng Hít-le một cách đê hèn ở Pháp, đã bắt đầu cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa, không cân sức và tàn khốc. Kẻ địch có đủ các loại lực lượng bộ binh, hải quân và không quân hiện đại. Hơn nữa, chúng lại được phe phản động quốc tế, đặc biệt là đế quốc Mỹ, giúp sức. Trong cuộc đấu tranh chống lại các sức mạnh đó, những người dân Việt Nam mới đầu chỉ được trang bị vũ khí thô sơ bằng những gậy tre. Mặc dù vậy, nhờ sự thống nhất và niềm tin vào sự nghiệp chính nghĩa, nhờ sự đồng tình và ủng hộ tinh thần của các dân tộc hữu nghị trên thế giới trong thắng lợi cuối cùng, nhân dân Việt Nam đang tiến hành cuộc đấu tranh anh dũng và giành được nhiều thắng lợi.


Năm 1950

Đầu năm 1950, Việt Nam đã đạt được một thắng lợi to lớn về chính trị: Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên Xô và các nước dân chủ khác đã chính thức công nhận Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Khi đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: "Thắng lợi này củng cố niềm tin và cổ vũ tinh thần cho quân đội và nhân dân ta. Đây là động lực để giành những thắng lợi quân sự khác. Tuy vậy, chúng ta phải luôn sẵn sàng vượt qua những khó khăn mới nặng nề hơn và lớn hơn gấp nghìn lần. Để vượt qua tất cả những khó khăn đó, chúng ta có một vũ khí không thể đánh bại là sự đoàn kết thống nhất không gì lay chuyển của nhân dân ta. Trên thực tế có những khó khăn mới đang đặt ra trước mắt chúng ta.


Đế quốc Mỹ (và cả đế quốc Anh) trước đây đã giúp đỡ thực dân Pháp, từ năm 1950 bắt đầu trực tiếp tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Chúng cung cấp tiền bạc và vũ khí cho quân Pháp và bọn bù nhìn. Chúng đích thân tham gia ném bom các thành phố và làng mạc Việt Nam. Từ tháng 8/1950-   01/1951, phía Mỹ đã cung cấp cho quân đội Pháp ở Việt Nam: 130 máy bay ném bom, 36 tàu thủy, 6 tàu quét mìn, trang bị đầy đủ cho 12 tiểu đoàn bù nhìn xe tăng, thiết giáp, bom na-pan.


Nhưng dù viện trợ của Mỹ có lớn đến đâu vẫn không thể giúp đội quân viễn chinh Pháp tránh khỏi thất bại nặng nề. Trong năm 1950 nhiều tướng lĩnh và chỉ huy Pháp đã phải than vãn. Đến cuối năm 1950, tổn thất của đội quân viễn chinh Pháp ước khoảng 200.000 lính bị chết, bị thương và bị bắt làm tù binh (Pôn Rây-nô chỉ thừa nhận 1/5 tổn thất đó: Theo tuyên bố của Rây-nô, quân đội Pháp tổn thất 40.447 người, trong đó 10.447 là lính của mẫu quốc).


Đối với Việt Nam, các thắng lợi quân sự vang dội nhất là chiến thắng Biên giới (cuối năm 1950) và chiến thắng ở khu vực Trung du (đầu năm 1951). [...]

Hơn nữa Đờ Tát-xi-ni không thể đánh lừa được cả thế giới. Tạp chí hàng tuần "La Xman" (ngày 22/01/1951) đã viết về điều này như sau: "Tình hình ở Việt Nam trong tuần này được đánh dấu bằng trận đánh ở ngoại ô Hà Nội. Bộ Tổng Tư lệnh Pháp nhận thấy đây là lần đầu tiên quân đội nhân dân Việt Nam tiến hành một trận đánh hiện đại, có tổ chức với các lực lượng được hiệp đồng tốt".


Sau khi tuyên bố về quy mô chiến trận, Bộ tổng Tư lệnh Pháp long trọng ăn mừng thắng lợi. Nhưng bản thân Tướng Đơ Lat-tơ-re đờ Tát-xi-ni phải thừa nhận là chưa loại bỏ được hoàn toàn mối đe dọa từ phía quân đội Việt Nam đối với Hà Nội. Tình trạng lo âu ngày càng tăng đang bao trùm các nhà chức trách Pháp do bị đánh một đòn quyết định trong trận chiến đó. Tổn thất các đội quân tinh nhuệ đã làm cho Bộ Tổng Tư lệnh Pháp rất lo lắng. Bằng cách này hay cách khác, trận đánh ở ngoại ô Hà Nội một lần nữa cho thấy cái thời mà quân đội Pháp chỉ có tấn công đã kết thúc.


Một bài viết của một viên tướng đăng trên Báo "Le Monde" đã nói về tâm trạng lo âu của giới quân sự Pháp. Sau khi chỉ ra rằng các đội quân thiện chiến nhất của Pháp đã được dùng để phòng thủ trong vô vọng và phân tích vấn đề nhân lực, viên tướng này nhắc lại luận điểm của Men-đét Phơ-răng, theo đó việc bảo vệ mẫu quốc sẽ bị đe dọa nếu tiếp tục theo đuổi chính sách này... Oa-sinh-tơn lo ngại trước đòn đánh mạnh mẽ như vậy trong trận chiến đó... Mỹ trao giấy khen cho con ngựa con, muốn vỗ về nó sau khi nó bị những cú đánh mạnh mẽ như vậy. Tuy nhiên, sau hiệp đấu đầu tiên những người đua và những con ngựa vẫn không khỏi bồn chồn lo lắng cho những hiệp đấu sắp tới. Về phía Việt Nam vẫn thể hiện sự bình tĩnh thường thấy cũng như sự quan tâm chân thành đến con người: Sau trận đánh, Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị thả hết các tù binh Pháp bị thương. Hành động cao thượng này đối ngược với hành động của Bộ Tổng Tư lệnh Pháp trắng trợn công nhận đã sử dụng bom na-pan và còn khoe khoang hiệu quả của loại vũ khí này. [...]


Nguồn gốc các thắng lợi của chúng tôi

Có nhiều yếu tố góp phần vào các thắng lợi của chúng tôi: sự ủng hộ tinh thần của các nước hữu nghị, tình cảm của nhân dân lao động và những người dân chủ trên toàn thế giới, sự ủng hộ của nhân dân Pháp, sự lãnh đạo đúng đắn... Tuy nhiên, có một yếu tố cơ bản không thể bàn cãi đó là tinh thần yêu nước vô bờ bến của nhân dân chúng tôi.


Mỗi lần ra thị sát mặt trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều hỏi: "Quân đội chúng ta thuộc về ai?"

- Nhân dân! - Tất cả các chiến sĩ đồng thanh đáp.

- Ai đã cổ vũ các đồng chí lập chiến công?

- Nhân dân ta và bè bạn chúng ta!

Thực vậy, nhân dân Việt Nam thật là vĩ đại trong cuộc đấu tranh yêu nước này.

Việt Nam là một đất nước rất nhỏ bé với nền nông nghiệp lạc hậu, không có nền công nghiệp. Trải qua suốt 80 năm đất nước này đã bị đế quốc đô hộ và bóc lột tàn khốc, về thể chất bị đầu độc bằng rượu, thuốc phiện của những kẻ độc quyền thực dân về tinh thần bị khốn khổ vì chính sách ngu dân. Bọn đế quốc coi nước này như ở trong tình trạng nô lệ. Tuy nhiên, đất nước nhỏ bé đó đã dứng dậy vững vàng như bàn thạch, kiêu hãnh và dũng mãnh như sư tử, quyết chiến đấu hy sinh vì độc lập dân tộc của mình.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #34 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2023, 08:02:02 am »

Trong 5 năm qua, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, Việt Nam đã đấu tranh thắng lợi chống lại bọn xâm lược, những kẻ man rợ thời hiện đại; đồng thời đạt được những thành tựu tuyệt vời trong mọi lĩnh vực. Đây là một vài ví dụ về tinh thần yêu nước của các chiến sĩ và những người yêu nước:


Trong Chiến dịch Biên giới, một chiến sĩ đã dùng lưỡi lê chặt đứt bàn tay phải bị dập nát vì lựu đạn địch và tiếp tục chiến đấu.

Các chiến sĩ bị thương từ chối rời khỏi trận địa cho đến khi kết thúc trận đánh. Các tiểu đoàn không ăn, không ngủ trong vòng bốn ngày để truy đuổi và tiêu diệt đội quân của Đại tá Sác-tơn.

Cùng với nam giới, hàng chục nghìn phụ nữ các dân tộc thiểu số Mán, Mèo, Nùng, Thổ đã tự nguyện tham gia vận chuyển giúp bộ đội. Ban ngày dưới trời mưa như trút họ không quản bùn lầy, trèo đèo lội suối chuyên chở đạn dược và lương thực. Ban đêm, họ ngồi tựa vào nhau trên cánh đồng lúa chờ cho trời sáng. Dù vậy, họ vẫn luôn vui vẻ và hăng hái.


Và những người phụ nữ cũng luôn quan tâm săn sóc các chiến sĩ. Những người phụ nữ luống tuổi gần như cả cuộc đời chưa từng ra khỏi thôn làng quê hương. Nhưng bây giờ họ đã xung phong ra mặt trận, tận tình chăm lo săn sóc bộ đội và thương binh khiến Chủ tịch Hồ Chí Minh vô cùng xúc động trước những hành động ấy, đã ra chỉ thị khen ngợi họ, trong đó một số người được tặng thưởng. Các đội du kích cũng nổi tiếng vì sự dũng cảm quên mình và những chiến công xuất sắc.


Hàng nghìn thanh niên từ các tỉnh khác nhau đã tự nguyện tập hợp thành những đội quân xung phong sẵn sàng thực hiện bất cứ công việc cần thiết nào: như vận chuyển, sửa chữa đường sá, v.v...

Nông dân thi đua với nhau để nâng cao năng suất nông nghiệp và đạt được những kết quả mong muốn. Chính nhờ điều này mà Việt Nam đã tránh được nạn đói mặc dù bị tàn phá nặng nề bởi thực dân Pháp và hạn hán, lụt lội. Tại các vùng tự do cách không xa chiến tuyến, điều kiện đời sống của người dân đã được cải thiện rõ rệt.


Công nhân đang tạo nên những điều kỳ diệu. Nhờ những sáng kiến và lòng kiên trì, họ đã tăng số lượng sản phẩm lên 200-300% chỉ bằng các máy móc cũ kỹ.

Trong số đó có Nguyễn Đức Tịnh, công nhân xí nghiệp quân giới, Ninh Ước và Trần Ngọc Gụ - thợ tiện, Hoàng Tiềm - thợ mộc, đã vượt năng suất 1000%. Công nhân hóa chất Đỗ Văn Cơ hoàn thành định mức 1600%.


Trong phong trào thi đua yêu nước, đứng đầu danh sách khen thưởng được Hồ Chủ tịch ký lệnh khen thưởng vào đầu năm mới có tên nữ công nhân hóa chất Trương Thị Sen. Chị đã tăng năng suất lao động lên 437%.


Các cháu nhi đồng tại các vùng tự do và vùng tạm chiếm cũng tham gia vào sự nghiệp đấu tranh của dân tộc.

Các cháu tham gia canh gác xóm làng khi người lớn làm việc. Các cháu làm liên lạc cho bộ đội, du kích, giúp đỡ các gia đình chiến sĩ, v.v...

Thật xúc động khi nhìn thấy những đứa trẻ 4-5 tuổi đã nhận ra chân dung "Người cha vĩ đại Xta-lin", "Bác Mao", "Bác Hồ" trong số các bức ảnh.

Cũng cần ghi nhận việc các dịa chủ, những cựu quan lại và thành viên cũ của hoàng tộc đã tích cực tham gia vào phong trào của dân tộc.

Ngoài một số ít là những kẻ phản bội, toàn thể nhân dân Việt Nam đang đấu tranh chống lại thực dân Pháp và nhưng kẻ can thiệp Mỹ. Vì thế, họ đã giành được nhiều thắng lợi trên tiền tuyến và ở hậu phương, ở những vùng tự do không còn tồn tại lưu manh, cướp giật, nghiện ngập và mại dâm. Theo số liệu thống kê đến tháng 7/1950, 4/5 dân chúng đã được thanh toán xóa nạn mù chữ, hơn 13 triệu người đã được học đọc, học viết. [...]


Tin tức về việc thành lập Đảng Lao động Việt Nam đã lan nhanh cả nước. Chào mừng sự kiện thành lập Đảng, bộ đội, công nhân và nông dân tổ chức những cuộc thi đấu thể thao và ký giao ước thi đua.


Cũng vào ngày 03/3 đã khai mạc Đại hội thống nhất Việt Minh và Liên Việt.

Tham dự Đại hội có 152 đại biểu (trong đó có 20 đại biểu là nữ) đến từ tất cả các tỉnh thành, kể cả ở vùng tạm chiếm, và đại diện cho tất cả các tổ chức đoàn thể nhân dân và tôn giáo.

Trong số các đại biểu có những cụ già 70-75 tuôi (những trí thức, công nhân, nông dân) với túi khoác trên vai đã đi bộ, vượt hàng trăm cây số đường dài trong vài tuần lễ.

Với mái tóc bạc, chòm râu dài, gương mặt cương nghị và nhiệt huyết như thanh niên, họ đã chiếm được sự kính trọng của tất cả mọi người.

Sau ba ngày làm việc khẩn trương, Đại hội đã nhất trí thông qua "Nghị quyết" về việc thống nhất hai tổ chức Việt Minh và Liên Việt thành Mặt trận Dân tộc thống nhất, lấy tên là Mặt trận Liên Việt.

Cương lĩnh hành động của Liên Việt đề ra nhiệm vụ chủ yếu là đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong mọi lĩnh Vực, đặc biệt là trong sản xuất.

Đại hội đã ra Nghị quyết ủng hộ vô điều kiện các Nghị quyết của Hội đồng Hòa bình toàn thế giới họp tại Béc-lin vừa qua.

Đại hội đã bầu ra Hội đồng quốc dân gồm 45 người, trong đó có 3 nữ. Ngoài các lãnh đạo của các đoàn thể nhân dân, được bầu vào Hội đồng còn có một linh mục, một hòa thượng và một người chú của Bảo Đại hiệu Ưng úy đồng thời là Chủ tịch Liên Việt tỉnh.


Sau Đại hội, các đại biểu Liên Việt, Ít-xa-rắc và Ít-xa-la (các tổ chức Mặt trận dân tộc của Cam-pu-chia và Lào) đã tổ chức Hội nghị đoàn kết nhân dân ba nước để thảo ra Cương lĩnh đấu tranh chung của nhân dân ba nước chống lại kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thành lập Ủy ban Đoàn kết nhân dân Việt-Miên-Lào.


Hồ Chủ tịch đã tuyên bố tại Đại hội: "Vào đầu năm ngoái chúng ta đã giành được một thắng lợi chính trị lớn: Liên Xô, Trung Hoa dân chủ và các nước dân chủ khác đã công nhận nước Cộng hòa chúng ta. Tiếp theo thắng lợi chính trị đó là các chiến thắng ở Biên giới và Trung du.


Đầu năm nay, chúng ta cũng đã có một thắng lợi to lớn về chính trị, đó là việc thành lập Đảng Lao động Việt Nam, thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất từ hai tổ chức Việt Minh và Liên Việt, và Liên minh các Mặt trận dân tộc Việt-Miên-Lào trong tương lai. Dĩ nhiên, tiếp theo những thắng lợi chính trị này phải có các chiến thắng quân sự to lớn hơn nữa.


Đừng quên là còn nhiều khó khăn gian khổ đang đợi chúng ta.

Nhưng cùng với sự đoàn kết thống nhất không gì lay chuyển được của chúng ta, sự đoàn kết thống nhất không gì lay chuyển được của các dân tộc đang đấu tranh bảo vệ tự do dân chủ và hòa bình, chúng ta sẽ vượt qua được mọi khó khăn, chúng ta sẽ chiến thắng mọi kẻ thù của nhân dân và thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về chúng ta".


Những lời này đã nhận được những tràng vỗ tay và hoan hô nhiệt liệt kéo dài.

Hồ Chủ tịch muôn năm!

Xta-lin muôn năm!

Mao Chủ tịch muôn năm!

Với niềm hân hoan không tả xiết các đại biểu đã ôm chầm lẫn nhau trước khi chào tiễn biệt, hứa sẽ ra sức làm việc và hẹn gặp tại Đại hội sau được gọi trước là Đại hội chiến thắng.

ĐINH
(Đề nghị sửa các lỗi chính trị và ngữ pháp)


Người dịch: I-va-nhi-cô-va (Đã ký)

Viện Lưu trữ Lịch sử chính trị-xã hội Nhà nước Nga.
Phông 17. ML 137. HS 740. Tờ 33-35, 37, 39-44.
Bản sao dịch từ tiếng Pháp.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #35 vào lúc: 19 Tháng Chín, 2023, 08:04:19 am »

10.
Ghi chép buổi tiếp Đại sứ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Lương Bằng của Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô A.Ia. Vư-sin-xki

(Trích sổ ghi chép của A.Ia. Vư-sin-xki)
Ngày 22/4/1952

Dấu đến:
   Bộ Ngoại giao Liên Xô, Vụ Đông Nam Á
   MẬT
   Số đến: 448, ngày 23/4/1952.
Mật Bản số 15.

   TRÍCH SỔ GHI CHÉP CỦA A.IA. VƯ-SIN-XKI

BUỔI TIẾP ĐỒNG CHÍ NGUYỄN LƯƠNG BẰNG, ĐẠI SỨ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TẠI MÁT-XCƠ-VA

Ngày 22/4/1952


Hôm nay tôi đã tiếp đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Đại sứ Việt Nam tại Mát-xcơ-va, để bàn về buổi trình Quốc thư sắp tới của Đại sứ lên Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô. Tháp tùng Đại sứ có Bí thư thứ Nhất Đại sứ quán Nguyễn Đức Quý làm người phiên dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp.


Trong buổi tọa đàm chủ yếu có tính chất lễ tân, tôi đã quan tâm hỏi thăm sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tình hình nhân dân ở các vùng giải phóng.

Đại sứ trả lời là Chủ tịch Hồ Chí Minh rất khỏe. Tinh thần của nhân dân Việt Nam rất hăng hái dù còn phải vượt qua nhiều gian khổ. Đại sứ nói thêm, cuộc đấu tranh sẽ còn phải kéo dài và bền bỉ trước khi vĩnh viễn xóa bỏ được chế độ Bảo Đại.


Đối với câu hỏi của tôi về tình hình kinh tế của các vùng giải phóng ở Việt Nam, Đại sứ trả lời, hiện tình hình đất nước đã được cải thiện rất nhiều sau khi tiến hành một loạt các biện pháp hành chính.

Tôi hỏi Đại sứ liệu cuối cùng đã xác định được thủ đô của vùng giải phóng chưa.

Đại sứ trả lời, hiện có một số thành phố, thị xã đang nằm trong tay của quân đội giải phóng, tuy nhiên cho đến nay nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa có thủ đô cố định. Các cơ quan Đảng và Chính phủ trung ương thường xuyên thay đổi chỗ ở chủ yếu ở ba tỉnh - Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang. Đến đây Đại sứ nói thêm là các thành phố, thị xã tại các vùng giải phóng hầu như đã bị phá hủy hoàn toàn.


Trả lời câu hỏi của tôi về việc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có đường sắt hay không, Đại sứ cho biết, quân đội giải phóng kiểm soát một số khu vực đường sắt chủ yếu nằm ở phía Nam đất nước và ở vùng biên giới với Trung Quốc.


Sau đó tôi hỏi có nhiều người Mỹ ở Việt Nam không.

Đại sứ trả lời không có các binh đoàn Mỹ ở Việt Nam. Tại khu vực của Bảo Đại chỉ có phái đoàn quân sự Mỹ.

Kết thúc buổi tọa đàm, tôi nói với Đại sứ là, chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ Đại sứ bất cứ lúc nào nếu ông có vấn đề gì cần hỏi Bộ Ngoại giao Liên Xô.

Đại sứ cảm ơn và nói chắc chắn ông sẽ cần đến sự giúp đỡ của chúng ta bởi vì ông không có chút kinh nghiệm ngoại giao nào.

Khi chào tạm biệt, tôi chúc Đại sứ đạt nhiều thành công trong công việc.

Buổi tọa đàm kéo dài 15 phút. Đồng chí Xta-ri-cốp có mặt tại cuộc tọa đàm.

Vư-sin-xki
   Sao y bản chính: Đã ký (V. Xu-xlốp)
   Nơi nhận:
   Gửi các đồng chí: Xta-lin,    Dô-rin,
            Mô-lô-tốp,    Gu-xép,
            Ma-len-cốp, Bô-gô-mô-lốp;
            Bê-ria,    Pô-đơ-txep,
            Mi-cô-i-an,   Vụ Đông Nam Á,
            Ca-ga-nô-vích,   Vụ Lễ tân,
            Bun-ga-nin,    Lưu hồ sơ - 2.
            Khơ-ru-sốp,
            Grô-mưn-cô,
   Số: 228-c
   Ngày 22/4/1952
   Đã gửi: 18 bản
   Lời phê:
   Lưu hồ sơ ngày 24/4 - AM.

Viện Lưu trữ Chính sách đối ngoại Liên bang Nga.
Phông 79. ML 7.
Cặp 3. HS 4. Tờ 1-2.
Bản sao xác thực.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #36 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2023, 10:38:32 am »

11.
Báo cáo của Vụ Đông Nam Á - Bộ Ngoại giao Liên Xô về "Sự can thiệp của Mỹ ở Đông Dương"[/b

Ngày 15/8/1952
Mật. Bản số 1
Số: 1153/ĐNA

SỰ CAN THIỆP CỦA MỸ Ở ĐÔNG DƯƠNG
(Báo cáo tóm tắt)


Đầu tháng 5/1952, Đại sứ quán Mỹ ở Pa-ri đã công bố bản Thông báo về khoản tiền viện trợ của Mỹ dành cho nước Pháp trong cuộc chiến chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thông báo cho biết, trong tháng 11/1952 Mỹ đã cam kết viện trợ quân sự cho Pháp một khoản trị giá 600 triệu đô-la, trong đó 270 triệu đã cấp cho Pháp dưới hình thức viện trợ kinh tế, còn 30 triệu - dưới dạng những trang thiết bị quân sự của Mỹ mà quân đội thực dân Pháp đang rất cần.


Hiện nay, các đại diện của Mỹ và Pháp đang tiến hành đàm phán về việc cấp cho Pháp nốt khoản tiền còn lại khoảng 200 triệu đô-la, trong đó 20 triệu dự kiến được dùng vào việc mua trang thiết bị quân sự của Mỹ để cấp cho Đông Dương. Theo thỏa thuận đã đạt được với Mỹ, Pháp cam kết trong năm 1952 sẽ thực hiện một chương trình quân sự với chi phí dự kiến là 1.400 tỷ phơ-răng.


Ngày 27/5/1952, phát biểu trước đại diện báo chí, Tổng Chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, Tướng Xa-lăng, đã tuyên bố rằng, "trong vòng 6 tháng tới, Chính phủ Mỹ sẽ thường xuyên cung cấp vũ khí cho Đông Dương"1 (Đài Phát thanh Bra-da-vin ngày 10/5/1952). Trong tuyên bố của Xa-lăng cũng nói rõ là: "Hằng tháng tại các hải cảng của Việt Nam, các tàu hàng của Mỹ đã bốc dỡ khoảng 8 nghìn tấn hàng hóa. Chương trình tiếp tế cho lực lượng bộ binh năm 1951 đã thực hiện được 75%, đã thực hiện xong chương trình viện trợ cho hải quân để ra cho năm 1950: đã cung cấp 46 tàu chiến trong số 89 tàu phải cấp năm 1952"2 (Đài Phát thanh Pa-ri ngày 28/5/1952).


Cuối tháng 5/1952, một chuyến tàu chở hàng thiết bị quân sự thương kỳ của Mỹ đã tới Sài Gòn. Liên quan đến việc này, tờ "Bưu điện Băng Cốc" thân Mỹ xuất bản ở Băng Cốc ra ngày 09/6/1952 đã viết: "Trong một năm qua, viện trợ quân sự cho Đông Dương ngày càng tăng cao. Tháng 5 năm nay, con tàu thứ 150 chở trang thiết bị quân sự của Mỹ đã cập cảng Sài Gòn".


Bình luận về việc Mỹ tăng cường viện trợ quân sự cho thực dân Pháp ở Đông Dương, Đài Phát thanh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nói: "Việc Đài Phát thanh Mỹ đưa tin đế quốc Mỹ đang tăng cường viện trợ cho thực dân Pháp để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược chổng lại Việt Nam cho thấy rõ đế quốc Mỹ ngày càng can thiệp sâu hơn vào công việc nội bộ của Việt Nam và trắng trợn tiếp tục thực hiện kế hoạch xâm lược tại các nước Đông Nam Á. Khi giúp đỡ thực dân Pháp và chính quyền bù nhìn Bảo Đại, đế quốc Mỹ hy vọng sẽ kéo dài cuộc chiến tranh ở Đông Dương nhằm biến Việt Nam thành bàn đạp quân sự để mở rộng xâm lược ở châu Á".


Không đủ khả năng một mình đàn áp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vào mùa hè năm 1952 Chính phủ phản động Pháp đã lại phải thỉnh cầu đế quốc Mỹ "giúp đỡ". Nhằm mục đích này, Cao ủy Pháp ở Đông Dương Lơ-tuốc-nơ đã đi Oa-sinh-tơn để tiến hành đàm phán tăng các trang thiết bị quân sự. Theo tin của Phóng viên "Thời báo New York" Ca-len-đơ thi chủ đề chính của cuộc đàm phán sẽ là vấn đề "giảm bớt gánh nặng của Pháp tại Đông Dương".


Cũng đề cập vấn đề này, phóng viên của một tờ báo Mỹ phản động khác "Christian Science Monitor", Xtan-phoóc, đưa tin từ Oa-sinh-tơ là "Đông Dương sẽ nhận được sự ưu tiên về ngoại giao và quân sự trong cuộc thảo luận sắp tới ở Oa-sinh-tơn liên quan đến tình hình quân sự, chính trị và kinh tế ở Đông Dương". Trong đó, Xtan-phoóc khẳng định, viện trợ của Mỹ sẽ được cấp với "nhịp độ cần thiết và đúng theo kế hoạch".


Ngày 16/6/1952, tại Oa-sinh-tơn đã bắt đầu cuộc đàm phán Pháp-Mỹ về vấn đề Đông Dương. Đoàn đại biểu Pháp gồm Bộ trưởng các quốc gia Liên hiệp Pháp Lơ-tuốc-nơ, Đại sứ Pháp tại Mỹ Bôn-nơ và nhiều chuyên gia khác đã tham gia đàm phán.


Tham gia thành phần đoàn đại biểu Mỹ có cựu Đại sứ Mỹ tại Pa-ri Đa-vít Bru-xơ (Trưởng đoàn) và Đại sứ Mỹ tại Đông Dương Hít vốn là một chuyên gia tình báo nổi tiếng. Trong cuộc hội đàm cũng có sự tham gia của Đại sứ chính quyền bù nhìn Bảo Đại tại Mỹ là Trần Văn Hạ. Những vấn đề chính được thảo luận tại cuộc hội đàm là: 1. Tăng viện trợ của Mỹ cho Đông Dương, 2. Thành lập quân đội "Quốc gia Việt Nam", 3. Thông qua những biện pháp sơ bộ trong trường hợp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhận được sự giúp đỡ vũ trang từ phía nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa"1 (Báo "Bưu điện Băng Cốc" ra ngày 09/6/1952. Thông tấn xã Liên Xô ngày 11/6/1952. Tờ 11-d. (Chú thích của tài liệu). Thông tấn xă Việt Nam ngày 10/6/1952 10-d. (Chú thích của tài liệu). Thông tấn xã Liên Xô ngày 11/6/1952. Tờ 32-0. (Chú thích của tài liệu)).


Mặc dù cuộc Hội đàm diễn ra sau cánh cửa đóng kín, nhưng các đại diện báo chí tư sản đều đồng loạt khẳng định là Hội nghị các đại diện của Pháp-Mỹ đó đề cập "các chiến lược liên minh" ở Đông Dương và cái gọi là sự "giúp đỡ".


Ngày 17/6/1952, Lơ-tuốc-nơ được Tơ-ru-man tiếp và có cuộc tọa đàm kéo dài về tình hình Đông Dương. Theo tin của phóng viên Hãng UPI, Lơ-tuốc-nơ đã "trình lên các đại diện chính quyền Mỹ một bản kế hoạch các nhu cầu của quân đội Việt Nam bù nhìn trong cuộc đấu tranh chống cộng sản"2 (Đài phát thanh Pa-ri ngày 16/6/1952. Tờ 55-p (Chú thích của tài liệu)).


Phát biểu tại buổi họp báo, Lơ-tuốc-nơ khẳng định là ông ta đến Oa-sinh-tơn không phải để "đề nghị lực lượng vũ trang Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tranh hiện đang diễn ra ở Đông Dương tạo cớ cho những người cộng sản Trung Hoa có thể thâm nhập Đông Dương do có sự xuất hiện của quân đội nước ngoài"3 (Thông tấn xã Liên Xô ngày 18/6/1952. (Chú thích của tài liệu)). Theo lời của Lơ-tuốc-nơ thì "Pháp không thể một mình cõng tất cả gánh nặng cuộc chiến ở Đông Dương nhằm bảo vệ toàn bộ Đông Nam Á chống lại sự xâm lăng. Pháp cần sự giúp đỡ thường xuyên và ngày càng tăng của Mỹ. Pháp không có ý định giảm bớt sự nỗ lực của mình ở khu vực đó, tuy nhiên, nước này cũng muốn đóng góp cho châu Âu và Pháp không thể làm gì khác nếu thiếu sự giúp đỡ của Mỹ"1 (Như trên. (Chú thích của tài liệu)).


Sau khi cuộc hội đàm Pháp - Mỹ kết thúc tại Oa-sinh-tơn hai bên đã ra Thông cáo nhấn mạnh "ý nghĩa quan trọng sông còn" của cuộc chiến do thực dân Pháp tiến hành ở Đông Dương. Bản Thông cáo cũng nêu rõ Chính phủ Mỹ quyết định sẽ tăng đáng kể các khoản viện trợ cho Liên hiệp Pháp và các quốc gia Liên hiệp ở Đông Dương trong khuôn khổ một khoản tín dụng được Quốc hội Mỹ phê chuẩn. Trong bản Thông cáo cũng đề ra việc Mỹ đóng góp ngân sách bổ sung cho Pháp nhằm mục đích đẩy nhanh việc thành lập các quân đội bù nhìn ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Sau khi trích cấp bổ sung ngân sách, tỷ trọng chi phí đóng góp của Mỹ cho cuộc chiến tranh Đông Dương chiếm khoảng 40%2 (Như trên. (Chú thích của tài liệu)).


Ngày 19/6 năm nay, Thủ tướng bù nhìn của Việt Nam Nguyễn Văn Tâm đã tuyên bố, nhờ có sự viện trợ bổ sung của Mỹ mà Lơ-tuốc-nơ đã yêu cầu, cuộc chiến chống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được hy vọng sẽ mạnh lên nhiều. "Sự giúp đỡ này - theo lời của Nguyễn Văn Tâm, sẽ tạo điều kiện cho Chính phủ Bảo Đại gọi thêm 45 nghìn quân nhân dự bị nhập ngũ3 (Đài phát thanh Pa-ri ngày 16/6/1952. Tờ 17-p (Chú thích của tài liệu)).


Phát biểu tại cuộc họp báo ngày 18/6/1952, A-che-xơn đã chính thức tuyên bố trong hai năm gần đây Mỹ đã giúp đỡ rất nhiều về vật chất cho Đông Dương và hiện nay nước này đang gấp cung cấp hàng quân sự cho Pháp, đồng thời ông ta cho biết con tàu thứ 150 chở vũ khí đạn dược của Mỹ đã cập cảng Sài Gòn1 (Như trên).


Hiện nay các giới chức của Mỹ đã công khai xác nhận có sự can thiệp trực tiếp của đế quốc Mỹ vào công việc của Đông Dương. Điều này được chứng tỏ qua những lời tuyên bố và phát biểu của một số quan chức chính phủ và ngoại giao. Chẳng hạn, tháng 6/1952 Đại sứ Mỹ ở Đông Dương Hít đã tuyên bố rằng "viện trợ của Mỹ cho Đông Dương chiếm khoảng 1/3 tổng chi phí của Pháp ở khu vực này". Những sự việc nêu trên cho thấy sự can thiệp công khai của Mỹ đứng về phía Pháp và các chính quyền bù nhìn ở Đông Dương chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Lào và Cam-pu-chia.


Bí thư thứ Hai Vụ Đông Nam Á
X. Mkhi-ta-ri-an (X.Mkhi-ta-ri-an)

Gửi hai bản:
   1- Đồng chí Pu-skin;
   2- Lưu hồ sơ.
   Số 1509
   Ngày 07/8/1952.
   Lời phê:
   Lưu hồ sơ. Ngày 20/8. A.M.

Viện Lưu trữ Lịch sử đối ngoại Liên bang Nga. Phông 079.
ML 7. Cặp 4. HS 16. Tờ 4-10.
Bản gốc.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #37 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2023, 10:40:40 am »

12.
Trích lời phát biểu của Đại diện thường trực Liên Xô tại Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc Ia. A. Ma-lic về việc kết nạp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm thành viên Liên hợp quốc và vị thế của các quốc gia bù nhìn ở bán đảo Đông Dương

Ngày 19/9/1952

PHÁT BIỂU CỦA ĐẠI DIỆN THƯỜNG TRỰC LIÊN XÔ
MA-LIC TẠI PHIÊN HỌP CỦA HỘI ĐỒNG BẢO AN NGÀY 19 THÁNG 9 NĂM 1952 VỀ VẤN ĐỀ KẾT NẠP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA VÀ CÁC QUỐC GIA BÙ NHÌN VIỆT NAM BẢO ĐẠI, LÀO VÀ CAM-PU-CHIA LÀM THÀNH VIÊN LIÊN HỢP QUỐC


"Ngoại trưởng Pháp đã trình Hội đồng Bảo an ba đơn xin gia nhập Liên hợp quốc của Việt Nam Bảo Đại, Vương quốc Lào và Vương quốc Cam-pu-chia do giới cầm quyền Pháp lập ra với sự giúp đỡ và ủng hộ của giới cầm quyền Mỹ.


Chỉ cần thông qua việc nộp đơn phải cần đến lời thỉnh cầu chính thức của một Bộ trưởng Pháp thì có thể hình dung cụ thể được các "quốc gia" đó là như thế nào và họ được tự lập đến đâu, hay nói chính xác hơn nếu xét về tính chất, họ không tự lập và là bù nhìn1 (Nguyên bản bằng tiếng Anh. Xem Viện Lưu trữ Lịch sử chính trị-xã hội Nhà nước Nga. Phông 17. ML.137. HS.951.Tờ 62-66).


Trong khi đó, ngay từ ngày 29/12/1951 Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã nhận được Điện của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị kết nạp nước này làm thành viên Liên hợp quốc (S/2466).


Qua việc bức điện nói trên được ban hành dưới hình thức là văn kiện của Hội đồng Bảo an, lần đầu tiên các thành viên Hội đồng biết rằng, ngay từ ngày 22/11/1948 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có đơn đề nghị (S/2780) và lúc đó Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố họ là Chính phủ hợp pháp duy nhất của Việt Nam, xác nhận sẵn sàng chấp nhận các nghĩa vụ nêu trong Hiến chương Liên hợp quốc và tuyên bố sẽ thực hiện các nghĩa vụ này.


Trong lá đơn cũng nói rõ như sau: "Từ ngày 02/9/1945, nhờ chiến thắng của quân Đồng minh trước Nhật Bản, trong đó Việt Nam cũng đã đóng góp một phần lớn xương máu của người dân và tài nguyên của đất nước, nước Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập và có chủ quyền. Quốc gia này đã được nước Pháp công nhận tại Hiệp ước Sơ bộ ngày 06/3/1946. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Quốc hội được bầu ra trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 trên cơ sở quyền phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín, bổ nhiệm một cách hợp pháp".


Qua những văn kiện chính thức do Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố và các thông tin báo chí, mọi người đều biết rằng, 7 năm trước, vào tháng 8/1945, để giành lại tự do và độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam đã đứng lên khởi nghĩa chống lại những kẻ chiếm đóng Nhật Bản lúc đó đang thống trị Đông Dương theo thỏa ước đã nhất trí với những nhà cầm quyền Pháp ở Đông Dương. Cuộc khởi nghĩa của nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi, lật đổ chế độ bù nhìn thân phát xít Nhật.


Như mọi người đã biết, ngay từ năm 1940, giới cầm quyền Pháp đã ký kết hiệp ước với phát xít Nhật, dâng toàn bộ Đông Dương cho Nhật và cho phép Nhật sử dụng lãnh thổ Đông Dương để chống lại nhân dân Trung Quốc.


Quân đội Nhật đã chiếm đóng Đông Dương, biến bán đảo này từ thuộc địa của Pháp thành thuộc địa của Nhật. Vì vậy, ngay từ rất lâu trưởc khi cuộc chiến tranh Thái Bình Dương bắt đầu, nước Pháp đã từ bở Đông Dương sau khi nhường lại bán đảo này cho đế quốc Nhật. Đã có sự giao kèo giữa các giới cầm quyền Pháp và Nhật Bản. Nhân dân Đông Dương đã chuyển từ tay kẻ thực dân này sang tay kẻ thực dân khác. Cuộc giao kèo này được thực hiện sau lưng nhân dân, họ không được thông báo và hỏi ý kiến. Nhân dân đã đáp trả hành động đó bằng cuộc đấu tranh anh hùng và dũng cảm trong những điều kiện khắc nghiệt dưới ách chiếm đóng của Nhật. Năm 1941 đã bước đầu hình thành đội quân du kích, thành lập Mặt trận Dân chủ đấu tranh vì Việt Nam độc lập.


Cuối năm 1944, các đội quân du kích đã giải phóng 7 tỉnh ở miền Bắc Việt Nam. Tại các khu giải phóng đã thành lập ra các cơ quan chính quyền quốc dân.

Mặt trận Dân chủ và các đội quân du kích đã trở thành một lực lượng quan trọng thực sự và ngay cả phát xít Nhật vốn hay kiêu ngạo về "quyền lực vô biên, bách chiến bách thắng" cũng không thể đối phó được sức mạnh này. Chúng đã buộc phải chuyển sang một loạt các thủ đoạn mới. Phát xít Nhật bắt đầu thành lập các "nhà nước quốc gia" bù nhìn do chúng kiểm soát ở Đông Dương, đứng đầu là những thành phần mại bản, địa chủ phong kiến phản động, từng phục vụ thực dân Pháp, sau đó chuyển sang phục vụ quân chiếm đóng Nhật.


Mặt trận dân chủ Việt Nam và quân đội khởi nghĩa của những người yêu nước Việt Nam đã đẩy mạnh cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Các vùng giải phóng được liên kết thành một khu giải phóng thống nhất.


Thất bại quân sự của Nhật và việc Nhật đầu hàng Đồng minh đã làm cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam trở nên thuận lợi hơn.

Ngày 19/8/1945, tại Hà Nội chính quyền đã về tay Ủy ban Giải phóng dân tộc, ngày 25/8 "Hoàng đế An Nam" Bảo Đại, nguyên là kẻ bù nhìn của thực dân Pháp trước Chiến tranh thế giới thứ hai và sau đó làm bù nhìn cho Nhật, đã phải thoái vị và công nhận Chính phủ Lâm thời của nước Cộng hòa. Cuộc cách mạng dân chủ tháng Tám ở Việt Nam đã lật đổ chính quyền của những kẻ xâm lược và chiếm đóng nước ngoài. Ngày 02/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được tuyên bố thành lập và thông qua Tuyên ngôn Độc lập. Việc đế quốc Nhật bị đánh bại và phải đầu hàng đã tạo điều kiện cho chính quyền nước Cộng hòa được thành lập trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam trước khi quân đội Pháp và các đội quân nước ngoài khác xuất hiện tại Việt Nam.


Việc tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhân danh nhân dân Việt Nam là sự thể hiện ước mơ hàng thế kỷ, ý nguyện và chủ quyền của nhân dân Việt Nam muốn được độc lập, tự do, muốn thoát khỏi ách thống trị áp bức của thực dân nước ngoài đã chiếm ruộng đất, tài nguyên của nước này và định đoạt số phận và cuộc sống của người dân Việt Nam trong một thời gian dài.
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #38 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2023, 10:41:39 am »

Ngày 06/01/1946 đã diễn ra cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cuộc bầu cử được tiến hành trên cơ sở quyền phổ thông đầu phiếu và bình đẳng cho tất cả mọi người, không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, địa vị xã hội, giới tính, 92 % cử tri cả nước đã tham gia bầu cử.


Ngày 08/11/1946 một bản Hiến pháp dân chủ đã được ban hành, thể hiện mọi thành quả cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Bản Hiến pháp bảo đảm các quyền cơ bản của công dân như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp và tự do tín ngưỡng. Hiến pháp cũng đề ra việc phổ cập giáo dục ban đầu bắt buộc và miễn phí, chế độ bảo hiểm xã hội, v.v...


Sau khi thành lập xong nhà nước độc lập, tự do và có chủ quyền, nhân dân Việt Nam bắt tay vào công cuộc xây dựng hòa bình, thực hiện các cải cách dân chủ rộng rãi đã được đề ra trong Hiến pháp và các đạo luật chủ yếu của đất nước.


Tuy nhiên, nhân dân Việt Nam chỉ được sống và lao động trong điều kiện hòa bình với thời gian ngắn ngủi. Chẳng bao lâu sau trên lãnh thổ Việt Nam xuất hiện những khách không mời mà đến - quân đội Anh và Quốc dân Đảng đã thâm nhập lãnh thổ Việt Nam dưới chiêu bài giải giáp vũ khí quân Nhật. Tiếp theo đó thực dân Pháp quay trở lại và với sự giúp sức của quân đội thực dân Anh, đã bắt đầu cuộc chiến tranh thực dân xâm lược chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hòng khôi phục bá chủ của mình ở Đông Dương.


Mặc dù vậy, do chưa có đủ lực lượng vũ trang và gặp phải sự chống cự quyết liệt của người dân Việt Nam, chính quyền Pháp đã buộc phải chuyển sang dùng thủ đoạn. Ngày 06/3/1946, Chính phủ Pháp ký Hiệp ước chính thức với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, theo đó nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Pháp công nhận với tư cách là  "một quốc gia tự do, có chính phủ, quốc hội, quân đội và tài chính riêng của mình". Cũng theo Hiệp ước này, Pháp cam kết giữ quân số các lực lượng quân đội của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam không được quá 15 nghìn người và đến tháng 4/1951, toàn bộ quân Pháp sẽ rút khỏi lãnh thổ Việt Nam.


Tuy nhiên, diễn biến các sự kiện tiếp theo cho thấy, giới cầm quyền Pháp không hề có ý định thực hiện những cam kết đã hứa theo thỏa thuận với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngay sau đó, bản Hiệp ước đã bị phía Pháp vi phạm thô bạo. Thay vào việc rút quân đội, giới cầm quyền Pháp bắt đầu triển khai một cuộc chiến tranh thực dân quy mô trên toàn lãnh thổ Việt Nam với việc tập trung một đội quân hơn 100 nghìn người kể cả đội "quân lê dương nước ngoài" chủ yếu gồm những tên quốc xã Hít-le. Cuộc tiến công bội ước tạo điều kiện cho chúng xâm chiếm một loạt các thành phố, thị xã quan trọng, trong đó có Thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, các thắng lợi quân sự của chính quyền Pháp chỉ mang tính chất tạm thời. Cuộc kháng chiến ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Nhờ kết quả cuộc đấu tranh toàn dân, các cuộc tấn công của quân can thiệp nước ngoài đã bị nhân dân Việt Nam đánh bại nhiều lần. Cho đến đầu năm nay, như báo chí đã đưa tin, 90% toàn bộ lãnh thổ Việt Nam nằm dưới sự kiểm soát của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường với một loạt quốc gia.


Bảy năm đấu tranh của nhân dân Việt Nam để giành chiến thắng và độc lập cho đất nước cũng là những năm tháng lao động cần cù và xây dựng một nhà nước dân chủ mới. Việc nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày càng lớn mạnh và củng cố trước hết được thể hiện qua các thắng lợi quân sự của nhân dân Việt Nam trên các mặt trận trong cuộc chiến tranh giải phóng.


Các chiến dịch tấn công liên tục, được chuẩn bị kỹ lưõng và quảng cáo rầm rộ của những kẻ can thiệp nước ngoài với trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại của Mỹ, đã vấp phải sự phản kháng và ý chí quyết thắng không thể lay chuyển của toàn thể nhân dân Việt Nam và đã thất bại. Ngay cả các cơ quan báo chí của Pháp không hề có chút cảm tình với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cũng bắt buộc phải thừa nhận về cuộc chiến tranh thực dân tuyệt vọng ở Việt Nam. Chẳng hạn, Tạp chí Pháp "Annales politiques et economique" viết: "Cuộc chiến tranh ở Đông Dương là sự vô vọng và bế tắc đối với chúng ta... 25 triệu người dân Việt Nam hầu như đều đồng tâm nhất trí muốn chúng ta rút khỏi nơi đó". Sự bình luận là thừa đối với đoạn trích dẫn đó.


Như chúng ta đã biết, ngay từ tháng 6/1950, đồng thời với việc triển khai cuộc chiến tranh xâm lược chống lại nhân dân Triều Tiên, giới cầm quyền Mỹ đã tuyên bố mình là đồng minh và người cùng tham dự với chính quyền Pháp trong cuộc chiến đấu chống lại nhân dân Đông Dương. Từ đó đến nay, kỹ thuật và các đồng đô-la của Mỹ đã được tuôn ra như suối để trợ giúp cho những kẻ can thiệp Pháp ở Đông Dương.


Nhưng cả sự can thiệp của Mỹ cũng chẳng thể giúp gì được. Các kế hoạch hợp tác quân sự Pháp-Mỹ đã bị phá sản.

Theo thông báo cách đây chưa lâu của hãng thông tấn Việt Nam, nhân dịp Kỷ niệm 7 năm ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Việt Nam, Ủy ban Thường trực Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ủy ban Mặt trận Dân tộc thống nhất đã cùng ra Lời kêu gọi gửi nhân dân Việt Nam, trong đó có viết như sau: "Nối tiếp truyền thống anh hùng của Cách mạng Tháng Tám, nhân dân ta đã đoàn kết chặt chẽ và kiên quyết đấu tranh chống lại kẻ thù. Lực lượng của chúng ta đã được củng cố trong cuộc đấu tranh và chúng ta đã đánh bại quân địch trong nhiều chiến dịch tấn công lớn. Kẻ địch đã phải hứng chịu những tổn thất nặng nề và hiện đang ở trong hoàn cảnh khó khăn. Chúng ta cũng đã đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực kinh tế và văn hóa. Sự đoàn kết thống nhất của nhân dân ta ngày càng được củng cố. Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam có cơ sở vững chắc tại tất cả các vùng miền trên cả nước".


Sự thất bại của việc can thiệp quân sự ở Đông Dương cũng đã được Đa-la-đi-ơ, một nhân vật nổi tiếng trong Hiệp ước Muy-ních, viết trên Báo "L’Information" ra ngày 22/11/1951: "Các khoản chi phí chính thức về quân sự cho năm 1951 ở Đông Dương đạt 330 tỷ phơ-răng. Do nguyên nhân giá cả tăng, cũng như số lượng quân đội viễn chinh ngày càng tăng và hiện gồm 188 nghìn người, chi phí này cần tăng thêm 100 tỷ trong năm 1952. Chúng tôi thấy cuộc chiến tranh Đông Dương đem lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho tình hình tài chính cũng như quân sự của chúng ta... Hiện không thể dự đoán được kết cục thắng lợi và nhanh chóng của cuộc chiến tranh đã kéo dài 5 năm rất giống với cuộc chiến tranh Tây Ban Nha thời Na-pô-lê-ông, cũng như cuộc viễn chinh Mê-hi-cô ở triều đại Đế chế thứ hai".


Tờ báo Pháp "L’Intransigeant" ti'ong tháng 12 năm ngoái đã viết như sau: "Nước Pháp đã bị tê liệt vì cuộc chiến tranh ở Đông Dương... Cứ mỗi lần hễ nước Pháp thử ra tay hành động nào đó, thì nước này liền thấy rõ rằng mình đã bị Đông Dương làm cho tê liệt". Cũng trong thời gian đó, Báo "Le Franc-Tireur" đã tuyên bố thẳng: "Hôm nay đã rõ là Pháp đã thất bại hoàn toàn ở Đông Dương".
Logged
nhinrathegioi
Thành viên
*
Bài viết: 1023



« Trả lời #39 vào lúc: 19 Tháng Mười, 2023, 10:42:47 am »

Tất cả những điều đó đã buộc các nhà chức trách Pháp và những người bảo trợ Mỹ của họ ở Đông Dương phải tìm đến kế pháp đã từng được những kẻ chiếm đóng Nhật áp dụng khi không thể đối phó được các lực lượng kháng chiến của nhân dân. Những kẻ này đã chuyển sang dùng cách lập ra các nhà nước bù nhìn. Sao chép kinh nghiệm của những kẻ chiếm đóng Nhật, chính quyền Pháp đã thành lập ba quốc gia bù nhìn ở Đông Dương, cụ thể là Quốc gia Việt Nam Bảo Đại, Vương quốc Lào và Vương quốc Cam-pu-chia, nhưng lá đơn của các quốc gia này xin gia nhập Liên hợp quốc hiện lại do chính Ngoại trưởng Pháp trình ra.


Ngay cả báo chí Mỹ cũng đưa tin cụ thể về sự mất uy tín của các chế độ bù nhìn nói trên. Phóng viên thường trú tại Xin-ga-po của tờ "Thời báo Niu Oóc" đã viết cách đây không lâu rằng, trong lĩnh vực chính trị, lực lượng Bảo Đại rất yếu ớt do tất cả các giới am hiểu về chính trị tại các quốc gia bù nhìn của Đông Dương không coi Hiệp ước ký kết giữa Pháp và Bảo Đại như là một hiệp ước về một nền độc lập thực sự.


Chính phủ Bảo Đại do Pháp lập ra không nhận được sự ủng hộ của nhân dân. Nó chỉ dựa vào một nhóm nhỏ chóp bu tự lập, mà một số kẻ đại diện trong số đó là những người Pháp hơn là người Việt Nam xét theo trình độ văn hóa và nhân sinh quan. "Chính phủ" này trong thời gian hai năm cầm quyền còn chưa thể lập nổi ngân sách và chấn chỉnh thuế khóa. Đối với chế độ bù nhìn ở Cam-pu-chia, cũng chính phóng viên Mỹ nói trên đã cho biết, Hoàng thân Xi-ha-núc được đặt lên ngôi nhờ cuộc đảo chính do Pháp đứng đằng sau và không thể nói đến việc cầm quyền theo hiến pháp.
Đó là đánh giá của báo chí Mỹ dành cho các chính quyền bù nhìn của Pháp ở Đông Dương. Điều này cũng được khẳng định ngay trong đơn xin gia nhập Liên hợp quốc của Việt Nam Bảo Đại. Trong lá đơn này (S/2756), như tôi đã lưu ý tại một trong những phiên họp trước, có nói: "Do những hoàn cảnh nằm ngoài kiểm soát, cụ thể là: Tình trạng hỗn loạn còn đang diễn ra tại một số vùng trên lãnh thổ Việt Nam, Chính phủ Việt Nam (của Bảo Đại) chưa thể lập ra cơ quan Quốc hội do dân cử dù rất muốn".


Không lấy làm ngạc nhiên khi các ông chủ Pháp và Mỹ của các chính quyền bù nhìn này đã buộc phải sử dụng những biện pháp bất thường để nâng cao "uy tín" của các chế độ bù nhìn, trong đó có việc nhỏ đến những phương pháp lạ kỳ như đề xuất kết nạp những kẻ bù nhìn đó làm thành viên Liên hợp quốc.


Tháng 3 năm nay, Ngoại trưởng Mỹ A-che-xơn đã buộc phải thừa nhận là tình hình ở Đông Dương "rất nghiêm trọng" và yêu cầu Bộ Tổng Tư lệnh Pháp thực hiện mọi biện pháp để chuẩn bị lập ra các binh đoàn từ người dân bản xứ. Như vậy, A-che-xơn đã đặt nhiệm vụ cho Bộ Tổng Tư lệnh Pháp phải thành lập các quân đội bù nhìn từ những người bản xứ phản bội Tổ quốc và sử dụng kẻ đó như là tấm bia đỡ đạn để chống lại các lực lượng vũ trang của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và các lực lượng giải phóng dân tộc dân chủ của Lào và Cam-pu-chia.


Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lô-vét tại Ủy ban Đối ngoại của Hạ nghị viện Mỹ lúc đó đã tuyên bố rằng, việc đình chiến ở Đông Dương sẽ giải phóng khoảng 10-15 sư đoàn Pháp giúp cho đội quân của Ai-xen-hao ở Tây Âu. Chính bằng điều này Lô-vét đã cắt nghĩa về lý do A-che-xơn yêu cầu Bộ Tổng Tư lệnh Pháp thành lập các lực lượng vũ trang bù nhìn ở Đông Dương. Mục tiêu đã quá rõ ràng: dùng người Việt đánh người Việt. Một phương pháp thực dân cũ đã từng được thử nghiệm. Hơn thế nữa, khi bình luận ý kiến của Lô-vét về tình hình Đông Dương, "Thời báo Niu Oóc" nhận định về những lời này như sau: "Bộ trưởng Quốc phòng... nêu lên giả thuyết về khả năng Mỹ can thiệp vào Đông Dương cùng với các đơn vị quân đội của các thành viên Liên hợp quốc khác".


Tất cả những điều này đã làm sáng tỏ câu hỏi tại sao chính vào thời điểm này lại đề nghị Hội đồng Bảo an xem xét vấn đề kết nạp ba chế độ bù nhìn ở Đông Dương vào Liên hợp quốc, còn phía Mỹ thì rất tích cực ủng hộ đề xuất này như đã thể hiện rõ ràng qua lời phát biểu hôm nay của ông Ô-xtin.


Dưới ánh sáng của những sự kiện nêu trên, không khó để hiểu tất cả ý đồ thành lập các chế độ bù nhìn Pháp-Mỹ ở Đông Dương và mưu toan đưa họ vào làm thành viên Liên hợp quốc. Không khó để nhận thấy việc người ta đang theo đuổi mục đích gì. Bằng cách này giới cầm quyền Mỹ muốn che đậy sự can thiệp vũ trang trực tiếp và công khai của Mỹ vào cuộc chiến tranh xâm lược chống lại nhân dân Việt Nam. Mục đích của họ là tiến hành cuộc chiến tranh thực dân chống lại nhân dân Đông Dương bằng chính cách thức và phương pháp mà những kẻ xâm lược Mỹ đang sử dụng để tiến hành cuộc chiến tranh chống nhân dân Triều Tiên, có nghĩa là sử dụng lực lượng vũ trang của các quốc gia thuộc địa và các nước phụ thuộc vào Mỹ, đồng thời che đậy tất cả các trò phiêu lưu quân sự thực dân đó dưới "chiêu bài và lá cờ của Liên hợp quốc".


Ngay từ năm 1950, trong một bức thư gửi Liên hợp quốc được ấn hành dưới dạng văn kiện của Hội đồng Bảo an, đại biểu Pháp tại Hội đồng Bảo an đã chính thức tuyên bố rằng, các lực lượng vũ trang Pháp hiện cũng đang thực hiện ở Đông Dương chính cái việc mà các lực lượng vũ trang Mỹ đang làm ở Triều Tiên, nói cách khác, đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược thực dân chống lại nhân dân châu Á. Những lời công nhận này của đại biểu Pháp được thể hiện trong văn kiện S/1586.


Việc kết nạp Việt Nam Bảo Đại do ông vua bù nhìn Bảo Đại đứng đầu, kẻ thoạt đầu phục vụ người Pháp, sau phục vụ người Nhật, tiếp đó lại là người Pháp, cũng như kết nạp Lào và Cam-pu-chia do các ông vua bù nhìn-tay sai dưới sự chỉ đạo của những kẻ can thiệp nước ngoài sẽ là sự sỉ nhục dân tộc đối với nhân dân Đông Dương đang tiến hành cuộc đấu tranh anh dũng vì độc lập, tự do của đất nước. Đó sẽ là một trong những hành động quốc tế bất công nhất.


Câu chuyện chỉ có thể nói đến bây giờ là kết nạp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm thành viên Liên hợp quốc. Đó là một quốc gia tự do và độc lập duy nhất ở Đông Dương có Chính phủ hợp pháp duy nhất của Việt Nam như đã được tuyên bố một lần nữa trong thư chính thức đề nghị tiếp nhận làm thành viên của Liên hợp quốc ngày 29/12/1951. Chính phủ đó đã được chính nước Pháp công nhận theo bản Hiệp ước năm 1946 dù hiện thời đại biểu Pháp đang cố chối bỏ.


Sự thất bại của cuộc xâm lược Pháp-Mỹ ở Đông Dương, cũng như việc nhân dân Việt Nam không những không ủng hộ các chế độ Bảo Đại và các bù nhìn khác, mà còn căm thù họ, đấu tranh chống lại chế độ đó và các ông chủ nước ngoài của họ, đã được thừa nhận cách đây không lâu bởi không ai khác chính là thẩm phản của Tòa án tôi cao Mỹ Uy-li-am Đu-gơ-lát, người vừa có chuyên thăm Sài Gòn. Ngày 01/9 Đu-gơ-lát đã tuyên bố, cuộc chiến tranh ở Đông Dương sẽ kết thúc chi sau vài tuần nếu tất cả quần chúng nhân dân Việt Nam ủng hộ "lực lượng cầm quyền" ở Đông Dương cùng với sức mạnh khòng quân, lực lượng vũ trang và pháo binh của thế lực ấy. Đây là sự công nhận quan trọng của một đại diện có tên tuổi của giới cầm quyền Mỹ về thất bại hoàn toàn của những kẻ can thiệp Pháp và Mỹ dùng mọi mưu toan để hòng khuất phục nhân dân Đông Dương và ép buộc họ phải cam chịu cảnh thống trị của nước ngoài.


Tất cả những điều trên chứng tỏ rằng, các quốc gia bù nhìn do những kẻ can thiệp nước ngoài lập nên ở Đông Dương đều không được lòng dân và không được nhân dân ủng hộ, nên các quốc gia bù nhìn này không thể đại diện cho nhân dân Đông Dương, và vì vậy không thể kết nạp chúng làm thành viên Liên hợp quốc.


Xét theo những điều nêu trên, Đoàn đại biểu Liên Xô phản đối và sẽ biểu quyết chống lại việc kết nạp vào Liên hợp quốc các chế độ bù nhìn do những kẻ can thiệp nước ngoài vội vã dựng nên ở Đông Dương nhằm mục đích xâm lược, nhằm mục đích tước đoạt tự do và độc lập của nhân dân Đông Dương.


Đồng thời, Đoàn đại biểu Liên Xô tán thành đơn đề nghị kết nạp làm thành viên Liên hợp quốc của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Chính phủ hợp pháp duy nhất, được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân ở Việt Nam. Khi ủng hộ lá đơn này, Đoàn đại biểu Liên Xô đã chính thức đưa ra đề nghị kết nạp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa làm thành viên Liên hợp quốc (S/2773) và sẽ bảo vệ để đề xuất này được chấp thuận.

(Hội đồng Bảo an, Phiên họp 603, ngày 19/9/1952, tr. 01-05).
Viện Lưu trữ Lịch sử đối ngoại Liên bang Nga.Phông 079.
ML 8. Cặp 3. HS 1. Tờ 55-68.
Máy in roneo.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM