Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Bảy, 2024, 09:27:13 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Đường 9 Nam Lào 1971 - Tầm vóc ý nghĩa và bài học lịch sử  (Đọc 2108 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #20 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 05:46:36 pm »

Đảng ủy và Bộ Tư lệnh chiến dịch đã nhanh chóng quán triệt tinh thần cơ bản Chỉ thị của Quân ủy Trung ương đến các hướng, các đơn vị. Công tác lãnh đạo tư tưởng lúc này có nhiệm vụ hết sức quan trọng là tập trung làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là đánh bại quân địch đang tăng cường sang phía Nam Sê Pôn, động viên các đơn vị trên hướng Nam Sê Pôn nâng cao quyết tâm vừa diệt địch, vừa bảo vệ kho tàng, bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược; đồng thời kiên quyết tiêu diệt địch nếu chúng liều lĩnh tiến đến Sê Pôn. Ở các hướng khác, tiếp tục động viên tinh thần tiến công liên tục, kiên quyết cắt đứt Đường 9, chuẩn bị tư tưởng đánh dài ngày với địch và sẵn sàng nắm vững thời cơ đánh địch nếu chúng rút chạy. Chiến sự diễn ra nhanh chóng và quyết liệt. Bằng các trận đánh tiêu diệt lớn khi địch đổ quân xuống các điểm cao, vây ép chúng tại các điểm cao 748, 723, 550, 532 ở cánh Nam Sê Pôn; các trận tập kích tiêu hao, tiêu diệt địch ở khu vực Bản Đông; ngăn chặn giữ vững các điểm tựa trên Đường 9, ta đã chia cắt, cô lập địch trên từng khu vực. Bị đánh thiệt hại nặng trên tất cả các hướng, cả phía trước và phía sau, trước nguy cơ bị bao vây và có thể bị tiêu diệt trên từng khu vực, địch buộc phải rút chạy từng bộ phận. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: không cho quân địch rút nhanh, rút có tổ chức; nhanh chóng chuyển sang tiến công, tập trung lực lượng đánh trận then chốt quyết định. Công tác lãnh đạo tư tưởng ở các đơn vị đã tập trung vào việc nhận rõ tình thế, thời cơ thuận lợi, động viên khí thế anh dũng xốc tới, hành động táo bạo, kiên quyết vây chặt, ép sát, đánh mạnh, đánh liên tục, không cho địch chạy thoát. Ngày 14 tháng 3, Bộ Tư lệnh phát lệnh động viên tới các đơn vị trên toàn mặt trận: "Thời cơ tiêu diệt lớn quân địch và giành toàn thắng cho chiến dịch đã đến". Lệnh động viên đã có tác động cổ vũ sâu rộng và mạnh mẽ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội. Trên khắp các mặt trận, phong trào thi đua lập công diễn ra sôi nổi giữa các đơn vị, các hướng. Cán bộ, chiến sĩ bước vào giai đoạn cuối chiến dịch với khí thế quyết tâm cao, nắm chắc thời cơ tiêu diệt địch, với một nguyện vọng mong muốn lập công, góp phần xứng đáng vào thắng lợi. Trên các hướng, các đơn vị đều nỗ lực chiến đấu và giành thắng lợi.


Sau những thắng lợi liên tiếp của ta ở các điểm cao 723, 660, 550, 532 (Nam Đường 9) và trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn ở Bản Đông, ngày 18 tháng 3 năm 1971, địch bắt đầu rút chạy khỏi Bản Đông. Để phát huy thắng lợi, một bộ phận lực lượng ta tiếp tục đánh địch từ biên giới Lào - Việt về phía Đông. Ngày 23 tháng 3, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi.


Như vậy, trải qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu liên tục, vượt mọi khó khăn, gian khổ, thử thách quyết liệt trong chiến đấu, đơn vị nào, binh chủng nào cũng đánh thắng, hướng nào cũng lập công; tinh thần quyết chiến, quyết thắng của bộ đội ta đã được phát huy cao độ, thể hiện trên các mặt sau đây:


Thứ nhất, các đơn vị đã quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, kịp thời triển khai lực lượng trên các hướng. Đặc biệt, các đơn vị Binh đoàn B70 đã chạy đua với địch, hành quân cơ giới với khối lượng lớn binh khí kỹ thuật, vượt đường dài, vượt núi rừng hiểm trở, vượt trọng điểm đánh phá, kể cả ban ngày. Một số đơn vị đang làm nhiệm vụ khác, được lệnh tham gia chiến dịch đã khẩn trương hành quân, vượt cung trạm, vừa đi vừa chuẩn bị, đến vị trí đã tham gia chiến đấu được ngay. Trong quá trình phát triển chiến dịch, một số đơn vị được lệnh cơ động chuyển hướng đã chấp hành nhanh chóng mệnh lệnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chiến dịch.


Thứ hai, các đơn vị tại chỗ và chủ lực đều quyết tâm thực hiện thắng lợi từng bước, từng nhiệm vụ của chiến dịch như quyết tâm đánh tiêu diệt một số căn cứ hỏa lực quan trọng, đánh bại một số trận phản kích có xe tăng, thiết giáp của địch; kiên quyết tiêu diệt cánh quân đột xuất của địch tiến ra nam Sê Pôn; tiến công và truy kích tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch ở Bản Đông rút chạy; đánh vào bàn đạp hành quân, hậu cứ, kho tàng, đường bộ, đường sông của địch; vừa đánh địch vừa vận chuyển chi viện liên tục cho các chiến trường.


Thứ ba, các đơn vị đã quyết tâm thực hiện các cách đánh có hiệu quả như vây lấn kiên trì, áp sát vây chặt, lấn đến đâu giữ đến đó, xen kẽ với địch, đánh liên tục ngày đêm cho đến khi dứt điểm; các chốt kiên cường chặn đường tiến, đường rút của địch; đánh thiết giáp địch bằng vũ khí bộ binh, đánh bại các cuộc đổ quân bằng trực thăng; đánh tê liệt các cụm pháo binh địch; luồn sâu, đánh hiểm vào hậu cứ, kho tàng, sở chỉ huy địch...


Trong chiến dịch, rất nhiều tấm gương hy sinh, chiến đấu dũng cảm, mưu trí. Cán bộ chỉ huy các cấp có trách nhiệm cao, tác phong sâu sát; đảng viên, đoàn viên gương mẫu xung phong, nhiều chiến sĩ mới đã trở thành dũng sĩ, nhiều đơn vị trở thành đơn vị quyết thắng, đơn vị anh hùng... Tất cả đều nêu cao quyết tâm vượt qua khó khăn gian khổ, ác liệt, lập chiến công, góp phần đưa chiến dịch đến toàn thắng.


Trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, tinh thần quyết chiến, quyết thắng là truyền thống vô cùng quý báu của quân đội ta. Truyền thống đó được xây dựng trên cơ sở giác ngộ về chính trị, lòng yêu nước và lòng căm thù giặc sâu sắc. Trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, việc phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng là nhân tố cơ bản, là cơ sở vững chắc để cán bộ, chiến sĩ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong từng đợt chiến dịch; đồng thời là nhiệm vụ trọng tâm của công tác lãnh đạo tư tưởng. Công tác lãnh đạo tư tưởng phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong chiến dịch đã đạt hiệu quả cao, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch. Từ thực tiễn công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng nhằm phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong chiến dịch có thể rút ra những kinh nghiệm chủ yếu sau đây:


Một là, việc xây dựng và phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong chiến dịch phải gắn liền với quá trình giáo dục chính trị cơ bản từ trước. Đó là quá trình giáo dục những vấn đề cơ bản về lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chính trị, đường lối quân sự của Đảng, tình hình nhiệm vụ cách mạng, chức năng của lực lượng vũ trang, truyền thống anh hùng, bất khuất của dân tộc, bán chất và truyền thống cách mạng của quân đội. Kết quả của việc giáo dục cơ bản đó đã góp phần nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của bộ đội, xây dựng lý tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ luôn nhận rõ tình hình nhiệm vụ, nhận rõ âm mưu của địch, đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng, nhận rõ sức mạnh chính nghĩa và tất thắng của ta, không ngừng nâng cao ý chí chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng.


Hai là, để phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng đòi hỏi phải quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, mục đích, yêu cầu tác chiến chiến dịch đến từng đơn vị, cán bộ, chiến sĩ, từ đó làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ có quyết tâm chiến đấu cao kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch. Thực tiễn chiến dịch cho thấy, ngay từ khi quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã đề ra yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể của chiến dịch là: Tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn tác chiến của chúng; kiên quyết bảo vệ tuyến vận tải chiến lược, căn cứ, kho tàng của ta; phối hợp với các chiến trường trên toàn miền Nam và các chiến trường Lào, Campuchia làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của đế quốc Mỹ. Về yêu cầu tác chiến là: tiến hành các trận đánh lớn hiệp đồng binh chủng, đánh liên tục, tiêu diệt thật nhiều địch, làm chủ chiến trường, thu nhiều vũ khí, giữ vững quyền chủ động trong điều kiện chiến dịch phản công diễn ra hết sức khẩn trương, phức tạp và ác liệt. Việc quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, yêu cầu chiến dịch đến các đơn vị đã động viên, khích lệ tinh thần chiến đấu của bộ đội trên tất cả các hướng và trong từng đợt chiến dịch. Các đơn vị tham gia chiến dịch đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiêu diệt lực lượng lớn quân địch1 (Trong chiến dịch, ta đã tiêu diệt 2 lữ đoàn, 1 trung đoàn, 5 tiểu đoàn bộ binh, 8 tiểu đoàn pb, 4 tiểu đoàn xe tăng, thiết giáp; đánh thiệt hại nặng 2 trung đoàn bộ binh, 1 lữ đoàn biệt động quân, 1 lữ đoàn và 3 tiểu đoàn khác), giữ và bảo vệ vững chắc tuyến vận tải chiến lược. Đặc biệt, bộ đội chủ lực, lực lượng cơ động chiến lược đã phát huy được sức mạnh chiến đấu hiệp đồng binh chủng giữa bộ binh, pháo binh, xe tăng phòng không và các binh chủng kỹ thuật khác, góp phần giành thắng lợi trong các trận then chốt chiến dịch ở cánh Bắc, cánh Nam Đường 9 và Bản Đông.


Ba là, xây dựng, bồi dưỡng tinh thần chiến đấu giữ vững quyết tâm phải được tiến hành liên tục trong suốt quá trình chiến dịch, coi đó là một biện pháp quan trọng để duy trì, nâng cao sức chiến đấu của bộ đội. Trong chiến tranh nói chung và trong chiến đấu nói riêng, tư tưởng luôn diễn biến theo quy luật: thắng lợi thường phát sinh chủ quan, coi thường địch; khó khăn, ác liệt thường dẫn đến bi quan, thiếu tin tưởng vào khả năng đánh thắng. Vì vậy, kinh nghiệm lãnh đạo tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm trong chiến đấu là phải nhạy bén trước mọi diễn biến tình hình, từ những thay đổi trong quá trình phát triển chiến dịch, các tình huống phức tạp nảy sinh, đến diễn biến tư tưởng của bộ đội..., trên cơ sở đó dùng nhiều biện pháp giáo dục, động viên, khích lệ, kết hợp đấu tranh với những biểu hiện dao động, thiếu quyết tâm trong chiến đấu. Thực tiễn chiến dịch cho thấy, sau khi có phương châm và kế hoạch chiến dịch đúng, thì việc nhạy bén lãnh đạo, giải quyết tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng quyết tâm có tác dụng quyết định đối với việc thực hiện phương châm và kế hoạch để giành toàn thắng cho chiến dịch.


Với Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, việc xây dựng và phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng là một thành công điển hình, một trong những yếu tố quyết định đưa chiến dịch đến thắng lợi. Tinh thần quyết chiến, quyết thắng đó thể hiện ở chỗ: bộ đội ta "dám đánh, biết đánh và biết thắng địch". Việc coi trọng nhân tố tinh thần, xây dựng và củng cố quyết tâm cao trong chiến đấu bằng mọi biện pháp lãnh đạo tư tưởng kết hợp với công tác tổ chức là một bài học lớn rút ra từ thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Nó chứng tỏ, chiến tranh càng ác liệt thì tinh thần của bộ đội càng giữ vai trò quan trọng. Đúng như V.Lênin đã khẳng định: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tâm trạng của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"1 (Dẫn theo: Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1974, tr. 257). Những bài học về xây dựng, phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào đến nay vẫn còn nguyên giá trị, sẽ góp phần vào sự nghiệp xây dựng quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #21 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 05:55:29 pm »

TỔNG HÀNH DINH CHỈ ĐẠO CHIẾN DỊCH
PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Đại tá TRẦN TRỌNG TRUNG
Cựu chiến binh


Sau cuộc đảo chính ở Campuchia (18-3-1970), Tổng hành dinh đã nhận thấy đường chiến lược 559 - con đường vận chuyển duy nhất giữa hai miền Bắc - Nam, địch có thể tập trung đánh phá quyết liệt hòng cô lập chiến trường miền Xam.


Nghiên cứu tài liệu Kế hoạch hỗn hợp - mục tiêu chiến lược do tướng Mỹ Abram và Cao Văn Viên, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn ký tháng 2 năm 1970 và phân tích tình hình mấy tháng đầu năm 1970, Tổng hành dinh cho rằng dịch đang trù liệu kế hoạch phong tỏa các cảng biển sử dụng bộ binh đánh sang Campuchia, Lào và tuy tình hình, chúng có thể tiến công vào căn cứ, hành lang của ta. Tổng hành dinh cũng không loại trừ khả năng dịch dùng bộ binh có mức độ đánh ra phía Nam Khu 4.


Do dự kiến trước âm mưu dịch, nên ngay từ cuối tháng 3 năm 1970 Tổng hành dinh đã chỉ đạo xúc tiến công tác chuẩn bị lực lượng, dự trữ hậu cần, xây dựng kế hoạch sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hành lang.


Cuối tháng 3 năm 1970, Mặt trận Trung - Hạ Lào (Đoàn 968) được thành lập, trực thuộc Quân ủy Trung ương để thống nhất chỉ huy các lực lượng ở Trung - Hạ Lào. Một trong những nhiệm vụ của mặt trận này là phối hợp với Bộ Tư lệnh 559 và với Quân đội cách mạng Lào, sẵn sàng đập tan mọi cuộc tiến công lấn chiếm của địch vào đường chiến lược 559. Ngay sau đó, một số đơn vị đã triển khai đánh giao thông của địch trên các khu vực Tam Tanh - Rào Quán - Làng Vây, đồng thời lực lượng công binh được tăng cường để mở thêm đường mới, nối đường 16 với đường 70, qua Đường 9 đến Ka Lung, tạo thếm điều kiện cho việc chuyển quân khi cần.


Đầu tháng 6 năm 1970, sau khi phân tích khả năng địch có thể tiến công khu vực S9 - đường 45 - La Hạp, hành lang 559 - Bản Đông và lấn chiếm A Tô Pơ, Tổng hành dinh chỉ thị các lực lượng trên địa bàn (đặc biệt khu vực Bản Đông) triển khai sẵn sàng chiến đấu, nhằm đánh bại cuộc hành quân của địch.


Sau khi quân Mỹ tiến công sang Campuchia và rút về (khoảng giữa năm 1970), Tổng hành dinh nhận định chúng có thể đánh sang Nam Lào trên hai hướng Đường 9 và vùng ba biên giới để chặn đường vận chuyển của ta. Trên cơ sở phán đoán mục tiêu và thủ đoạn tiến công của địch, cơ quan tham mưu Tổng hành dinh bắt đầu nghiên cứu các kế hoạch tác chiến và thiết bị chiến trường, kế hoạch điều động và triển khai lực lượng, đồng thời phối hợp với hậu cần "lót ổ" cơ sở vật chất kỹ thuật trên từng hướng...


Ngày 24 tháng 8 năm 1970, khi nghe báo cáo tình hình chiến sự Đường 9 - Bắc Quảng Trị, Thường trực Quân ủy Trúng ương nhấn mạnh quyết tâm: trong bất kỳ tình huống nào cũng phải giữ vững hành lang Trung - Hạ Lào, coi đây là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Thường trực Quân ủy Trung ương chỉ thị: theo tinh thần đó, khi xây dựng kế hoạch tác chiến mùa khô, Bộ Tổng Tham mưu cần dự kiến: nếu địch đánh ra Trung - Hạ Lào chúng có thể huy động từ 20 đến 25 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn, một bộ phận quân Mỹ, khoảng 15-20 tiểu đoàn quân phái hữu Lào và không loại trừ khả năng có 1-2 trung đoàn quân Thái Lan đứng đằng sau. Trong dự thảo kế hoạch, phải quyết tâm giữ vững một số khu vực trên Đường 9, nhanh chóng tiêu diệt địch, giải phóng Sê Pôn, Mường Phìn (nếu địch đánh chiếm) và Pha Lan, Keng Kọc. Do tầm quan trọng của yêu cầu bảo vệ đường vận chuyển chiến lược và đánh bại một bước cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, Bộ Tổng Tham mưu được Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị và trực tiếp điều hành chiến dịch phản công sắp tới.


Ngày 10 tháng 10 năm 1970, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 (B70), gồm các sư đoàn bộ binh 304, 308, 320 và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật, do Đại tá Cao Văn Khánh làm Tư lệnh. Đại tá Hoàng Phương làm Chính ủy - Bí thư Đảng ủy. Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 là tổ chức trực thuộc Bộ Quốc phòng về mọi mặt, quyền hạn tương đương một Bộ Tư lệnh Quân khu. Binh đoàn 70 là lực lượng cơ động chiến lược của Bộ, có nhiệm vụ làm nòng cốt cùng các lực lượng tại chỗ tiêu diệt địch trong các chiến dịch lớn do Bộ chỉ đạo. Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70 ra đời thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Thống soái tối cao về phương hướng tác chiến quy mô ngày càng lớn của lực lượng dự bị chiến lược. Riêng trên Mặt trận Đường 9, với chủ trưởng thành lập Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70, Tổng hành dinh đã đi trước một bước có ý nghĩa quyết định, trên cơ sở phán đoán âm mưu chiến lược mùa khô của địch. Do không loại trừ khả năng quy mô tác chiến chiến dịch có thể cao hơn, vượt khả năng đảm nhiệm của Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70, cho nên một số cán bộ trung cao cấp của Bộ Quốc phòng đã được dự báo sẵn sàng lên đường vào chiến trường nếu Tổng hành dinh tổ chức Binh đoàn chiến dịch quy mô lớn hơn Bộ Tư lệnh B70. Cũng do dự kiến như trên cho nên từ tháng 10, các phái đoàn của Bộ đã vào các quân khu 4 và 5, Bộ Tư lệnh 559 để truyền đạt quyết tâm của Quân ủy Trung ương, lấy ý kiến các chiến trường về phương hướng tác chiến chiến dịch phản công và thống nhất việc điều động lực lượng của các Bộ Tư lệnh nói trên trong chiến dịch sắp tới.


Ngày 15 tháng 12 tháng 1970, trước những triệu chứng địch khẩn trương chuẩn bị hoạt động trên hướng Đường 9 và Quân khu 4, cơ quan tham mưu Tổng hành dinh điện cho các Bộ Tư lệnh B70, Mặt trận phía Đông Đường 9 và Quân khu 4, nhấn mạnh nhiệm vụ theo dõi chặt chẽ việc địch tăng cường hoạt động trinh sát đường không và vận chuyển dự trữ vật chất ở Đông Hà, đồng thời chỉ thị điều ngay lực lượng vào chiếm lĩnh địa bàn Bắc Khe Sanh sẵn sàng đánh địch bảo vệ hành lang vận chuyển trên đường 16, xây dựng căn cứ đứng chân lâu dài.


Kế hoạch tác chiến chiến dịch phản công được Quân ủy Trung ương thông qua lần cuối vào tháng 12 năm 1970. Sau đó, trong diện gửi Tư lệnh Quân khu 5 - Chu Huy Mân và Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên - Hoàng Minh Thảo, Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn nêu rõ yêu cầu phối hợp tác chiến khi địch đánh ra hành lang 559 ở Hạ Lào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #22 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 05:57:02 pm »

Ngày 31 tháng 1 năm 1971, nhiều đài phát thanh nước ngoài đưa tin: địch điều một lực lượng cơ động chiến lược lớn của quân đội Sài Gòn, có sự yểm trợ hỏa lực của quân Mỹ, bắt đầu triển khai đội hình hành quân trên Đường 9, mở đầu cuộc tiến công lớn vào hành lang chiến lược của ta.


Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định: Cuộc hành binh của địch là nhằm mục đích đánh phá kho tàng, ngăn chặn đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam, phá cuộc tiến công mùa khô đồng thời thăm dò quyết tâm và khả năng phản ứng của ta. Đây còn là ý đồ chiến lược nhằm tăng cường rèn luyện để quân đội Sài Gòn có thể độc lập tác chiến, tạo điều kiện đẩy nhanh "Việt Nam hóa chiến tranh" và tiếp tục rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam. Đánh bại cuộc phản công chiến lược này của địch có ý nghĩa rất lớn không chỉ về quân sự, chính trị mà cả về ngoại giao, cả trước mắt cũng như lâu dài đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương xác định quyết tâm: Trong bất kỳ tình huống nào cũng phải đánh bại cuộc hành binh của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược của chúng, bảo vệ cho kỳ được kho tàng và bảo đảm đường vận chuyển chi viện cho các chiến trường.


Sau cuộc họp, cơ quan tham mưu Tổng hành dinh chuyển lệnh của Bộ Chính trị cho các chiến trường Nam Bộ, Đoàn 559, Tây Nguyên, Trị - Thiên và Khu 5, nêu rõ yêu cầu: nhân lúc một bộ phận quan trọng lực lượng cơ động chiến lược tinh nhuệ quân đội Sài Gòn bị điều ra Đường 9, lợi dụng thế dịch sơ hở, đẩy mạnh tác chiến (kể cả đánh phá bình định) tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp đắc lực với chiến trường chính.


Trên cơ sở kế hoạch tác chiến đã được thông qua, ngày 1 tháng 2, Quân ủy Trung ương điện chính thức giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh B70 tham gia Chiến dịch Đường 9. Quân ủy Trung ương nhắc:

- Cần nhận rõ ý nghĩa to lớn cả về quân sự và chính trị của việc đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch. Đây là trận chiến đấu đầu tiên của Bộ Tư lệnh B70 từ khi thành lập, vì vậy cần quán triệt quyết tâm của Quân ủy Trung ương, làm cho cấp ủy, cán bộ, đảng viên, chiến sĩ có quyết tâm cao, trong lần đầu xuất quân, nhất thiết phải hoàn thành tốt nhiệm vụ quan trọng này.

- Cần phân tích cụ thể đặc điểm của cuộc hành quân của địch để chỉ đạo tác chiến có kết quả và phát huy sáng kiến của các cấp chỉ huy, cán bộ và chiến sĩ. Cuộc hành quân của địch gồm một lực lượng cơ động khá lớn, có nhiều binh chủng kỹ thuật và phương tiện cơ động, có sự yểm trợ hỏa lực mạnh của Mỹ. Tuy nhiên, địch có nhược điểm rất lớn là tinh thần chiến đấu rất kém, hành quân xa căn cứ, trên địa hình không thuận lợi và cơ động chủ yếu bằng trực thăng... Do đó, nếu ta có quyết tâm cao, có cách đánh giỏi, thì đây là cơ hội tốt để tiêu diệt lực lượng cơ động tinh nhuệ của địch.

- Về lãnh đạo và chỉ huy tác chiến trong chiến dịch cũng như trong chiến đấu, Bộ Tư lệnh B70 cần nắm vững những điểm sau:

+ Tích cực và chủ động, cơ động và linh hoạt, bí mật, bất ngờ, phán đoán địch phải sắc bén, phát hiện những ý định mới của chúng.

+ Tranh thủ thời gian, hoạt động kịp thời và nhanh chóng sáng tạo thời cơ và nắm vững thời cơ đánh địch và tiêu diệt địch (cần có biện pháp cụ thể).

+ Kết hợp chặt chẽ giữa đánh vừa, đánh nhỏ và đánh lớn; trong lúc sáng tạo để đánh những trận tiêu diệt lớn, cần sử dụng lực lượng quy mô vừa và nho, vận dụng mọi hình thức chiến thuật để diệt địch rộng rãi (đây là điểm quan trọng).

+ Cần theo dõi sát hành động của địch, có dự kiến và kế hoạch đánh địch trong suốt thời gian cuộc hành binh của chúng, lúc chúng mới đánh ra, lúc cuộc hành binh đang diễn biến cũng như lúc chúng thu quân.

+ Chú trọng các công tác bảo đảm, phát huy hiệu suât chiến đấu của mọi lực lượng, mọi binh chủng, thực hiện đánh liên tục và dai sức.

Tiếp theo điện ngày 31 tháng 1, ngày 2 tháng 2, Quân ủy Trung ương lại điện nhắc Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền: Cần tranh thủ thời gian đẩy mạnh hoạt động phối hợp, chú trọng hướng Tây Bắc Sài Gòn, đồng bằng sông Cửu Long cũng như chiến trường Campuchia, nhằm phối hợp có hiệu quả với Mặt trận Đường 9, đồng thời triệt để lợi dụng sơ hở của chúng, đẩy mạnh đánh phá bình định, tiêu diệt sinh lực địch.


Ngày 6 tháng 2 năm 1971, Thường trực Quân ủy Trung ương nghe Cục Tác chiến báo cáo về tình hình chiến sự Mặt trận Đường 9.

Sau khi nhắc lại binh lực của địch, mục đích và hướng của cuộc hành binh (Bản Đông - Sê Pôn - Mường Noòng), Cục Tác chiến dự kiến hai tình huống: một là, chúng đánh ra khu vực hành lang, phá kho tàng, ngăn chặn đường vận chuyển, thời gian khoảng ba tuần đến một tháng, rồi rút; hai là, chúng đánh ra khu vực hành lang, chốt lại suốt mùa khô để phá kho tàng, ngăn chặn vận chuyển hoặc đánh ra một thời gian ngắn rồi cụm lại ở khu vực Lao Bảo - Khe Sanh - Tà Cơn - Tam Tanh, làm căn cứ hành quân thường xuyên đánh phá kho tàng, ngăn chặn vận chuyển suốt mùa khô. Do đó, ta cần có kế hoạch đánh địch trong cả Đông - Xuân.


Cục Tác chiến dự kiến cuộc hành binh của địch có thể diễn ra thành hai bước, trong đó bước hai chúng có thể dùng máy bay đổ quân chiếm các điểm cao, kết hợp với bộ binh cơ giới hành quân trên ba hướng: theo trục Đường 9, Làng Vây - Tam Luông và Tà Cơn - Cha Ky. Mục đích trước mắt là chiếm Bản Đông, Tam Luông, Mường Noòng (cần đề phòng địch đổ bộ xuống Sê Pôn). Sau đó, tùy theo tình hình hoạt động của ta mà địch có thể tiến ra khu vực Sê Pôn hoặc co cụm lại ở Bản Đông hoặc khu vực Lao Bảo - Khe Sanh - Tam Tanh.


Sau khi nhắc lại chủ trương và quyết tâm của ta, nhiệm vụ của Mặt trận Đường 9, Cục Tác chiến dự kiến chiến dịch phản công của ta sẽ diễn ra thành 3 bước: bước một, đánh địch hành quân vượt biên giới; bước hai, nếu địch co cụm lại hoặc rút lui, ta sẽ tiến hành vây ép đi đến tiêu diệt các điểm co cụm của địch; bước ba, tùy tình hình sẽ phát triển tiến công trên hai hướng Tây Quảng Trị và Keng Kọc.


Sau 10 ngày triển khai lực lượng trên Đường 9 nhằm thăm dò phản ứng của ta, ngày 8 tháng 2, dưới sự yểm trợ hỏa lực của pháo binh và không quân Mỹ, quân đội Sài Gòn chia thành ba cánh ồ ạt vượt biên giới Việt - Lào. Cánh quân chủ yếu tiến theo Đường 9 qua Lao Bảo.


Cùng ngày, trên cơ sở dự kiến trước đây về quy mô chiến dịch phản công, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận 702 (Mặt trận Đường 9), dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương về mọi mặt. Đảng ủy Mặt trận 702 gồm các đồng chí Lê Quang Đạo (Bí thư), Hoàng Phương (Phó Bí thư). Tiếp đó, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 (Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9), do Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn làm Tư lệnh, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Lê Quang Đạo làm Chính ủy, Tư lệnh B70 Cao Văn Khánh làm Tư lệnh phó. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh 702 có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ huy tác chiến trên Mặt trận Đường 9, bao gồm các đơn vị thuộc B70, Khu 4, Khu 5 và các đơn vị thuộc 559 hoạt động trên Đường 9. Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng được cử làm dại diện Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng tại mặt trận.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #23 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 05:58:29 pm »

Cũng trong ngày 8 tháng 2 năm 1971, Bộ Quốc phòng triệu tập Hội nghị cán bộ cao cấp để thông báo tình hình chiến sự Đường 9 - Nam Lào. Phát biểu tại Hội nghị, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp nói rõ nhận định trước đây của Bộ Chính trị và nghị quyết của Quân ủy Trung ương về tình hình và nhiệm vụ quân sự năm 1971 có quan hệ trực tiếp tới cục diện chiến trường Đường 9 hiện nay.


Thực tế cuộc phản công của địch đang chứng minh dự kiến chính xác của Tổng hành dinh về những hành động phiêu lưu mới của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Ta dự kiến Mỹ có thể tiến quân sang Campuchia, có thể đánh vào hành lang vận chuyển chiến lược và cũng có thể mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Cùng với nhận định đó, từ rất sớm Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo chuẩn bị chiến dịch này, nhằm tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn, bảo vệ đường chi viện cho tiền tuyến, phối hợp với các chiến trường bạn đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai. Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định về chiến lược, ta phải có quyết tâm rất lớn, phải đánh tháng. Thắng lợi của chiến dịch ảnh hưởng rất lớn đến chiến trường miền Nam cả về quân sự và chính trị đồng thời ảnh hưởng lớn đến các chiến trường toàn Đông Dương, ảnh hưởng không những với Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hòa, mà còn đối với tình hình chính trị nước Mỹ và quan hệ trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc.


Đại tướng Tổng tư lệnh phân tích chỗ mạnh chỗ yếu của địch, những thuận lợi khó khăn của ta và khẳng định quyết tâm của Tổng hành dinh là kiên quyết giành thắng lợi trong chiến dịch này.


Sau khi nhắc lại nhiệm vụ của các cơ quan Tổng hành dinh, của các đơn vị phía trước và của hậu phương lớn, Đại tướng kết luận: Thời kỳ khẩn trương này là một dịp để chúng ta tiêu diệt địch đồng thời qua đó mà rèn luyện cơ quan, đơn vị, nâng cao chất lượng công tác và chiến đấu của toàn quân.


Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị: Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào.

Sau khi phân tích nguyên nhân hành động phiêu lưu quân sự của địch sau những thất bại ở miền Nam, Campuchia và Lào, chỉ rõ hành động phiêu lưu đó bộc lộ thế khốn quẫn bị động của Mỹ và tay sai, Quân ủy khẳng định quyết tâm và nhiệm vụ tiêu diệt thật nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, đánh bại mọi âm mưu của chúng, kiên quyết bảo vệ đường Hồ Chí Minh bảo vệ tuyến vận tải tiếp tế, căn cứ kho tàng của ta để bảo đảm liên tục chi viện cho các chiến trường, làm thất bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và âm mưu "dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương" của đế quốc Mỹ.


Quân ủy yêu cầu các cấp ủy Đảng, các cấp chỉ huy phải ra sức động viên chính trị, làm cho mọi người nhận rõ tình hình và nhiệm vụ, ý nghĩa quan trọng và yêu cầu của chiến dịch, có quyết tâm chiến đấu, hy sinh cống hiến cao nhất cho dân tộc.


Cuối cùng, bản chỉ thị của Quân ủy Trung ương viết: Thời cơ lập công diệt địch đã đến, hãy phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc và quân đội ta, tập trung tất cả tinh thần và sức lực, dũng mãnh tiến công, liên tục tiến công, tiêu diệt thật nhiều sinh lực tinh nhuệ của địch, bảo vệ con đường Hồ Chí Minh, xốc tới giành thắng lợi cao nhất trong chiến dịch quan trọng này.


Hôm sau, Quân ủy Trung ương điện trực tiếp cho các Bộ Tư lệnh B70, 559, B5 và Trị - Thiên, quán triệt tinh thần đó của Tổng hành dinh. Điện chỉ rõ: cuộc hành binh của địch không những nhằm gây cho ta những khó khăn trước mắt mà còn tạo điều kiện thuận lợi mới để chúng thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" trong những năm tới và chuẩn bị cho cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2 của Níchxơn. Sau khi nêu những điểm mạnh và khó khăn của địch, Quân ủy chỉ rõ những thuận lợi cơ bản của ta, đó là bộ đội và chiến trường đều được chuẩn bị tốt, hậu cần thuận lợi hơn chiến trường khác. Vì vậy, đây là cơ hội thuận lợi để ta tiêu diệt địch. Quân ủy Trung ương dự kiến: do địch mở cuộc hành quân quy mô lớn, trên diện rộng, diễn biến có thể phức tạp, cho nên trong chỉ đạo tác chiến cần phải phát huy sức mạnh tiến công của các đơn vị, các binh chủng và các cấp; nắm vững phương châm tác chiến kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, phải biết đánh nhỏ, đánh vừa, đồng thời phải tạo điều kiện để đánh những trận tiêu diệt lớn, tiêu diệt rộng rãi và liên tục quân địch, tiêu diệt từng đơn vị lớn của chúng. Có như vậy mới tranh thủ được thời gian, mới tạo được cơ hội và kịp thời nắm cơ hội giành thắng lợi lớn cho chiến dịch.


Sau 7 ngày theo dõi diễn biến của chiến dịch, ngày 14 tháng 2 năm 1971, Bộ Tổng Tham mưu gửi điện chỉ đạo riêng Quân khu Trị - Thiên và Bộ Tư lệnh 559 về nhiệm vụ tác chiến phối hợp trực tiếp với Mặt trận Đường 9. Sau khi nhận định: quân ta đã giành được thắng lợi bước đầu, đã tạo được thế có lợi chuẩn bị cho những trận đánh tiêu diệt lớn hơn, Bộ Tổng Tham mưu nêu lên một số điểm cụ thể về nhiệm vụ của các Bộ Tư lệnh Trị - Thiên và 559: để phối hợp đắc lực với Mặt trận Đường 9, ngoài việc đẩy mạnh hoạt động ở đồng bằng, giáp ranh, tác chiến bảo vệ vận chuyển, kho tàng, chủ lực của Trị - Thiên cần trực tiếp tham gia tác chiến trên Đường 9. Riêng Bộ Tư lệnh 559 cần chỉ đạo bảo đảm vật chất cho Bộ Tư lệnh nhẹ của Sư đoàn 324 (của Quân khu 4) và Sư đoàn 2 (của Quân khu 5), tổ chức hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng tại chỗ của 559.


Từ thực tế chiến trường sau gần một tháng chiến đấu, ngày 2 tháng 3 năm 1971, Thường vụ Quân ủy Trung ương điện bổ sung gửi Đảng ủy Mặt trận 702 về phương hướng lãnh đạo giành toàn thắng trong Chiến dịch Đường 9.


Sau khi khẳng định quyết tâm nhất thiết phải giành thắng lợi trong chiến dịch quan trọng này, bức điện nhấn mạnh: sự chỉ đạo tác chiến, việc sử dụng lực lượng, động viên chính trị cũng như các mặt công tác khác đều phải bảo đảm đánh địch và thắng địch trong một thời gian dài càng đánh càng thắng, càng đánh càng mạnh. Sự chỉ đạo của các cấp ủy phải quán triệt phương châm nói trên, kiên quyết và vững chắc, táo bạo khi cần thiết, cơ động linh hoạt, đánh địch và thắng dịch trong một thời gian tương đối dài, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt địch trong trưồng hợp chúng rút sớm.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #24 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 05:59:56 pm »

Cuộc chiến đấu càng kéo dài trên chiến trường này thì cơ hội của ta càng lớn, ta có điều kiện tiêu diệt địch đồng thời giữ được địch trong thế phân tán chiến lược, tạo điều kiện để các chiến trường nội tuyến, ở nông thôn cũng như ở đô thị, kết hợp tiến công và nổi dậy, đập tan một bước quan trọng âm mưu bình định của địch. Đó là ý nghĩa quan trọng của chiến dịch đối với cục diện chung của cuộc kháng chiến.


Thường vụ Quân ủy Trung ương nêu lên 4 nội dung thắng lợi của chiến dịch này: 1. Tiêu diệt nhiều sinh lực địch đi đôi với rèn luyện và củng cố lực lượng ta; 2. Giữ vững được tuyến vận chuyển chiến lược; 3. Hậu phương lớn miền Bắc đủ sức mạnh đập tan mọi hành động phiêu lưu của địch; 4. Phối hợp với các chiến trường và tạo điều kiện tốt cho các chiến trường vừa tiêu diệt địch vừa đánh bai kế hoạch bình định của chúng.


Sau khi chỉ rõ yêu cầu chỉ đạo tác chiến chiến dịch, về sử dụng và bố trí lực lượng, chỉ đạo công tác hậu cần, công tác chính trị trong những ngày tối, Thường vụ Quân ủy Trung ương nhắc Bộ Tư lệnh 702 cần nhanh chóng rút kinh nghiệm đổ kịp thời phát triển cách đánh của ta cả về kỹ thuật và chiến thuật, riêng B5 cần kết hợp hai nhiệm vụ tiến công quân sự đi đôi với đẩy mạnh công tác phá bình định, vận động nhân dân, phát triển lực lượng mọi mặt trong địa phương.


Dựa vào tinh thần bức điện trên đây của Thường vụ Quân ủy Trung ương gửi Bộ Tư lệnh 702, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp thông báo tình hình chiến sự Đường 9 nhân cuộc hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân họp hôm sau (3-3-1971).


Đồng chí Bộ trưởng nhận xét: Ngay từ đầu chiến dịch, cùng với kết quả tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, ta đã làm thất bại nhiều thủ đoạn chiến thuật của địch, như chiến thuật vận động, đổ bộ bằng trực thăng (diệt hơn 200 máy bay lên thẳng) hay chiến thuật phòng ngự từng tiểu đoàn trong công sự dã chiến của địch... Thực tế chiến đấu đã chứng minh và khẳng định kết quả công tác huấn luyện vừa qua, nhất là đợt tập huấn cán bộ năm 1970. Trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ có nhiều tiến bộ, hiệu suất chiến đấu của bộ đội được nâng lên rõ rệt, là nguyên nhân khiến cho nhiều cách đánh của ta được phát triển như đánh xe tăng ban ngày, đánh cơ giới địch vận động tiến công căn cứ hậu cần của địch bằng pháo binh và đặc công có hiệu quả và thương vong ta ít.


Tuy nhiên, quân ta còn phải cố gắng nhiều hơn nữa vì thắng lợi chưa đều khắp, có đơn vị đánh chưa tốt, có trận tiêu diệt chưa gọn. Sau khi nói về âm mưu và sự cố gắng mới của địch trên chiến trường Đường 9, về phương hướng nhiệm vụ của bộ đội ở phía trước và của các cơ quan Tổng hành dinh ở hậu phương lớn, đồng chí Võ Nguyên Giáp kết luận: Tóm lại, vừa qua ta thắng lớn nhưng mới chỉ là bước đầu. Bộ đội đang đứng trước thời cơ thuận lợi, phải cố gắng rất lớn để giành toàn thắng cho chiến dịch này...


Trải qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu liên tục, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi.

Ngày 28 tháng 3, Bộ Tư lệnh 702 tổ chức hội nghị sơ kết chiến dịch. Thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng đã dự và phát biểu tại hội nghị.

Sau khi nói về ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của chiến dịch, đồng chí Văn Tiến Dũng phân tích từng đặc điểm và tính chất của Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào: 1. Ta chủ động từ đầu đến cuối chiến dịch; 2. Chiến dịch thể hiện khả năng đánh tiêu diệt của bộ đội khá cao; 3. Hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị, các binh chủng trong chiến dịch đạt trình độ rất cao và toàn diện; 4. Chiến dịch mang tính chất chiến lược.


Về mặt thiếu sót của chiến dịch, Tổng tham mưu trưởng nêu lên mẩy vấn đề cụ thể về tổ chức chỉ huy ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chiến dịch:

1. Trong bao vây chiến dịch, ta đã để lỡ thời cơ tiêu diệt hai lữ đoàn dù và thiết giáp địch sau khi tiến công vào Bản Đông, đặc biệt là để một lực lượng nòng cốt là sô sĩ quan địch chạy thoát;

2. Việc nắm tình hình còn chậm, còn qua nhiều khâu trung gian;

3. Thông tin chậm và không vững chắc, trinh sát mặt đất quá yếu. Riêng việc mã và giải mã các bức điện quá chậm.

Từ thực tế kết quả chiến dịch, Tổng tham mưu trưởng rút ra những điểm chủ yếu cần suy nghĩ nghiên cứu sắp tới:

1. Quân ta đã tiêu diệt được chủ lực quân đội Sài Gòn quy mô lớn (có không quân Mỹ chi viện tác chiến mức độ cao nhất), điều đó khẳng định việc xây dựng lực lượng vũ trang của ta về phương hướng, tổ chức, trang bị, huấn luyện chiến thuật và kỹ thuật và các mặt khác đều chính xác, đúng đắn. Tuy nhiên cũng còn những vấn đề cần nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm và rút ra những kết luận để xây dựng cho phù hợp hơn nhằm nâng cao hơn nữa sức chiến đấu của bộ đội.

2. Việc tổ chức lực lượng và chuẩn bị tác chiến bảo vệ miền Bắc vừa qua (trước đối tượng tác chiến là quân Mỹ và quân đội Sài Gòn), cũng chỉ ra nhiều vấn đề mới. Về lâu dài, với những đối tượng khác, ta cần nghiên cứu những kinh nghiệm vừa qua để giải quyết một loạt vấn đề như: bảo vệ miền Bắc theo hướng chiến lược nào; xây dựng, sử dụng và cách đánh của lực lượng tại chỗ; xây dựng lực lượng cơ động và dự bị chiến lược như thế nào cho phù hợp, để có thể giành được thắng lợi có ý nghĩa quyết định trước nhiều đối tượng tác chiến chiến lược khác nhau, trên nhiều chiến trường khác nhau.

Thực tế trên đây cho phép khẳng định: một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thắng lợi to lớn của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là tầm nhìn chiến lược và dự kiến chính xác của Bộ Thống soái, là sự chủ động trong chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, toàn diện và cụ thể của Tổng hành dinh trong suốt quá trình diễn biên của chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #25 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 06:03:26 pm »

SỰ LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO ĐÚNG ĐẮN, CHÍNH XÁC CỦA ĐẢNG TRONG CHIẾN DỊCH PHẢN CÔNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO

Thượng tá, ThS ĐỖ NHUẬN
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
Thiếu tá NGUYỄN NGỌC TÙNG
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Ngày 30 tháng 1 năm 1971 quân đội Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào. Chủ động đánh bại cuộc hành quân này của địch, Quân giải phóng miền Nam có sự phối hợp chiến đấu của Quân giải phóng nhân dân Lào đã mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.


Tuy bị thất bại nặng nề ở Cánh Đồng Chum (Lào) và nhất là trong cuộc tiến công xâm lược Campuchia, nhưng Tổng thống Níchxơn và giới hiếu chiến Mỹ vẫn chủ quan cho rằng kế hoạch "Bình định cấp tốc" ở miền Nam đã có kết quả, quân đội Sài Gòn đã ngày càng mạnh lên, trong khi trên chiến trường vẫn còn 28 vạn quân Mỹ thì cần "tranh thủ hành động" nhằm hoàn tất các mục tiêu của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh". Tình báo Mỹ ước tính 90% vật chất cung cấp cho các lực lượng cách mạng ở miền Nam được miền Bắc chuyển qua tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Nhằm tiêu diệt chủ lực đối phương, cắt đứt nguồn chi viện về người, vũ khí, lương thực, đạn dược, xăng dầu của đối phương, ngày 20 tháng 1 năm 1971, Tổng thống Níchxơn chính thức phê duyệt kế hoạch hành quân "Lam Sơn 719". Đây là cuộc tiến công lớn nhất, quan trọng nhất của Mỹ và quân đội Sài Gòn trong thời kỳ "Việt Nam hoá chiến tranh".


Những toan tính của Mỹ và quân đội Sài Gòn đã được Đảng ta tiên liệu từ rất sớm.

1. Đảng ta sớm đánh giá đúng âm mưu của địch.

Đánh giá đúng bản chất hiếu chiến của Níchxơn cũng như những âm mưu thủ đoạn mới của Mỹ và quân đội Sài Gòn, ngay từ cuối năm 1969, đầu năm 1970, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta mà trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh đã nhận định: trong mùa khô 1970-1971, địch có thể mở những cuộc tiến công quy mô vừa và lớn bằng lực lượng quân đội Sài Gòn, có sự hỗ trợ của hỏa lực và một bộ phận quân chiến đấu Mỹ. Mục tiêu của địch là đánh vào vùng Trung - Hạ Lào và vùng Đông Bắc Campuchia nhằm tiêu diệt cơ sở cách mạng, phá huỷ cơ sở hậu cần và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta, cô lập chiến trường miền Nam. Các chiến trường, nhất là các đơn vị ở khu vực Đường 9 - Nam Lào được lệnh khẩn trương chuẩn bị đối phó với địch.


Theo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, từ Xuân Hè năm 1970, Bộ Tổng Tham mưu bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào.


Ngày 19 tháng 6 năm 1970, Bộ Chính trị họp ra nghị quyết chỉ rõ âm mưu của Mỹ và chính quyền Sài Gòn hiện thời là: "Tiêu diệt cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến miền Nam Việt Nam, cắt đứt đường tiếp tế và các cơ sở hậu phương của ta"1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 222). Mỹ phải xuống thang chiến tranh nhưng "vừa xuống thang, vừa phản công bộ phận, giành giật quyết liệt với ta, không những trên chiến trường Việt Nam mà cả trên chiến trường Campuchia và Lào. Sắp đến... đế quốc Mỹ còn có những hành động phiêu lưu khác. Chúng có thể đánh vào lãnh thổ Lào, tăng cường tập kích bằng không quân đối với miền Bắc nước ta..."2 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sđd, tr. 230 - 231).


Việc Mỹ và chính quyền Sài Gòn tập trung lực lượng tiến công ra Đường 9 - Nam Lào đã được Đảng ta sớm xác định: "...Tăng cường đánh phá hành lang chi viện của ta là một trong những âm mưu quan trọng nhất của Mỹ trên chiến trường Lào. Chúng sẽ đặc biệt chú trọng đánh phá vùng Trung, Hạ Lào, không những dùng không quân và lực lượng biệt kích, mà có thể bằng những lực lượng hỗn hợp ngụy Lào, ngụy miền Nam và quân Thái Lan, khi cần có thể dùng cả quân Mỹ để mở những đợt tấn công lớn"3 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sdd, tr. 234).


Bám sát diễn biến của cuộc kháng chiến trên toàn chiến trường ở ba nước, sớm nhận rõ những âm mưu và thủ đoạn của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thể hiện tinh thần sáng tạo, chủ động của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh. Trên cơ sở đó Đảng đã kịp thời đề ra những chủ trương đối sách thích hợp, tối ưu để đánh bại kẻ địch.


Trên cơ sở đánh giá đúng, kịp thời âm mưu và hành động của địch trên chiến trường, Đảng ta khẳng định: Việc địch mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" không phải là chúng đang mạnh lên, mà ngược lại chính thế và lực của chúng đã và đang yêu thêm bởi phải căng sức chống đỡ trên tất cả các mặt trận, trong khi quân chiến đấu Mỹ và đồng minh của Mỹ đang phải rút dần ra khỏi miền Nam. Mặt khác, một bộ phận quân đội Sài Gòn phải sang tác chiến trên chiến trường Campuchia. Chính bởi vậy, Mỹ và quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra Đường 9 - Nam Lào sẽ là "điều kiện thuận lợi, cơ hội tốt để tiêu diệt lực lượng địch, phá vỡ từng mảng trong hệ thống bố trí của chúng"1 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sđd, tr. 225); đánh bại một bước cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của chúng.


2. Sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng trong Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào.

Theo chủ trương của Bộ Chính trị, tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 (B70) gồm 3 sư đoàn bộ binh (304, 308, 320) và các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng. Binh đoàn có nhiệm vụ làm lực lượng nòng cốt cùng các đơn vị tại chỗ tiêu diệt địch trong các chiến dịch lớn. Việc thành lập Binh đoàn 70 đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tác chiến của quân đội ta trong giai đoạn mới và là tiền đề cho sự ra đời của các quân đoàn chủ lực sau này.


Đồng thời, Bộ Tổng Tham mưu cũng chỉ đạo cho các đơn vị, lực lượng tham gia chiến dịch gấp rút làm công tác chuẩn bị mọi mặt, đáp ứng kịp thời, hiệu quả cho tác chiến khi chiến dịch mở màn. Theo đó, ở khu vực Đường 9, bộ đội Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị (B5), Quân khu Trị - Thiên (B4) và Đoàn 559 gấp rút điều chỉnh lực lượng, bố trí thế trận, sẵn sàng phối hợp chiến đấu với các đơn vị chủ lực cơ động của Bộ.


Quân chủng Hải quân được giao nhiệm vụ: đẩy mạnh đánh phá Cảng Cửa Việt, ngăn chặn tuyến giao thông đường thủy của địch từ Cửa Việt đến Đông Hà hòng tiếp tế cho các đơn vị của chúng ở Đường 9 - Nam Lào.


Tổng cục Hậu cần thành lập cơ quan chỉ huy tiền phương cùng các đơn vị thuộc Đoàn 559 xây dựng tuyến hậu cần chiến dịch ở nam sông Gianh. Các đơn vị công binh, thanh niên xung phong trên tuyến chi viện chiến lược mở thêm một số đường mới, bảo đảm cho các đơn vị vận tải cơ giới đẩy mạnh vận chuyển vật chất vào các khu vực tập kết của bộ đội. Đến tháng 1 năm 1971, dự trữ vật chất của các binh trạm thuộc Đoàn 559 trên các hướng chiến dịch đã lên tới 6.000 tấn, cùng với dự trữ của Bộ Quốc phòng bảo đảm cho 5 đến 6 vạn quân tác chiến trong thời gian 4 đến 5 tháng. Ngoài ra, Đoàn 559 còn dự trữ hơn 3 vạn tấn hàng sẵn sàng đưa đến các khu vực chiến dịch trong thời gian từ 2 đến 3 đêm. Mạng lưới quân y chiến dịch được hình thành trên cơ sở các bệnh viện, bệnh xá của Đoàn 559 và của các mặt trận B4, B5 cùng các đội điều trị, trạm phẫu thuật của Cục Quân y, có khả năng cấp cứu và điều trị hàng nghìn thương, bệnh binh.


Đề phòng tình huống địch có thể mở rộng tiến công bằng bộ binh ra phía Nam Quân khu 4, Bộ Tổng Tham mưu giao thêm nhiệm vụ cho Binh đoàn 70 chuẩn bị kế hoạch tác chiến, phối hợp với các lực lượng vũ trang Quân khu 4 sẵn sàng tiêu diệt địch, đồng thời điều vào Quân khu 4 mười tiểu đoàn pháo cao xạ nhằm tăng thêm lực lượng bảo vệ các tuyến giao thông vận tải và yếu địa, tăng cường cho các huyện ven biển từ Thanh Hóa đến Nam Hà 10 đại đội bộ đội địa phương sẵn sàng đánh địch tập kích đường biển.


Đúng như dự đoán của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, ngày 30 tháng 1 năm 1971, được hỏa lực và một bộ phận quân chiến đấu Mỹ yểm trợ, quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào. Hơn 4 vạn quân chủ lực quân đội Sài Gòn gồm những đơn vị được coi là tinh nhuệ nhất như sư đoàn dù, sư đoàn lính thủy đánh bộ, Sư đoàn 1 bộ binh... cùng một lực lượng lớn binh khí kỹ thuật gồm 580 xe tăng và xe bọc thép, 320 khẩu pháo, 1.000 máy bay (trong đó có 600 máy bay lên thẳng, 45 máy bay chiến lược B-52) được huy động vào cuộc hành quân. Phối hợp với quân Sài Gòn, quân đội phái hữu Lào cũng huy động 4 tiểu đoàn thuộc GM30, GM33 từ Đồng Hến đánh ra khu vực Mường Pha Lan, phía Tây Đường 91 (Lịch sử Đoàn 559 Bộ đội Trường Sơn Đường Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 424).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #26 vào lúc: 27 Tháng Mười, 2023, 06:13:17 pm »

Mục tiêu của địch trong cuộc hành quân này là cắt đứt hoàn toàn tuyến vận tải chiến lược của ta, làm cho lực lượng của ta ở các chiến trường không còn nguồn chi viện về người và vật chất kỹ thuật để mở các cuộc tiến công, tạo điều kiện rèn luyện và thử thách quân đội Sài Gòn - lực lượng chủ yếu để thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" dần thay thế quân Mỹ ở chiến trường miền Nam và Đông Dương. Địch cho rằng thắng lợi của cuộc hành quân sẽ tạo thếm thế mạnh trên chiến trường nhằm ép ta nhân nhượng trong cuộc đàm phán ở Pari.


Có thể nói, cuộc hành quân "Lam Sơn 719" cuộc hành quân đầy tham vọng, có quy mô lớn nhất, điển hình nhất trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ và cũng là đỉnh cao của cuộc chiến tranh ngăn chặn nhằm cắt đứt hoàn toàn tuyến chi viện chiến lược của ta.


Kiên quyết đánh bại cuộc hành quân của địch, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở chiến dịch phản công tiêu diệt lớn quân địch ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Trên cơ sở lực lượng của Binh đoàn 70 đã được tổ chức trước đó, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9 - Nam Lào (mật danh là Mặt trận 702); cử Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh; Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy. Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam được cử làm đại diện Quân ủy Trung ương trực tiếp chỉ đạo Mặt trận 702 và các chiến trường phối hợp phản công, tiến công tiêu diệt địch. Lực lượng ta tham gia chiến dịch có 5 sư đoàn bộ binh (308, 304, 320, 324, 2), 2 trung đoàn bộ binh (27, 278), 8 trung đoàn pháo binh, 3 trung đoàn công binh, 3 tiểu đoàn xe tăng, 6 trung đoàn phòng không, 8 tiểu đoàn đặc công và các lực lượng binh chủng khác... Số quân chiến đấu và phục vụ chiến đấu lên tới trên 60.000 cán bộ, chiến sĩ1 (50 năm Quân đội nhân dân Việt Nam (Biên niên sự kiện), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 269).


Đầu năm 1971, Ban Chấp hành Trung ương Đảng kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Mặt trận Đường 9 - Nam Lào: "... trận này là một trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược. Không những để giữ vững tuyến vận chuyển chiến lược mà còn nhằm tiêu diệt nhiều đơn vị dự bị chiến lược của địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng âm mưu "Việt Nam hoá chiến tranh", đẩy cuộc kháng chiến tiến lên mạnh mẽ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, làm tròn nhiệm vụ quốc tế vẻ vang và rèn luyện bộ đội chủ lực... Quân đội ta nhất định phải đánh thắng trận này..."1 (Lịch sử Quân đội nhân dân, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 377).


Ngày 9 tháng 2 năm 1971, Bộ Chính trị điện cho Quân ủy Trung ương, Trung ương Cục khẳng định: "Đây là một cuộc hành quân lớn có ý nghĩa chiến lược quan trọng, thu hút một khối lượng và phương tiện chiến tranh lớn của Mỹ - ngụy, trong đó có phần lớn các đơn vị cơ động chiến lược... Đối với ta trận này là một trong những trận quan trọng"2 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sdd, tr. 246), do vậy, phải coi đây là "cơ hội thuận lợi để đẩy mạnh mọi hoạt động, thực hiện nhiệm vụ trung tâm đã đề ra nhằm đập tan âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của địch, tiêu diệt địch, giữ vững hậu phương và hành lang chiến lược thì mới tạo được điều kiện gây chuyển biến trong cục diện quân sự, chính trị giành được thắng lợi lớn"3 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sdd, tr. 246).


Trung ương dự kiến "Cuộc hành binh ra Đường 9 của địch có thể kết thúc trong vòng một tháng, cũng có thể kéo dài vài tháng hay hơn nữa. Do đó cần có kế hoạch kịp lợi dụng cơ hội và kế hoạch tiếp tục lâu dài và giữ gìn lực lượng trong mọi tình huống"4 (Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 31, Sdd, tr. 246).


Với chủ trương đúng đắn, chính xác của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta cùng với quân và dân Lào anh em đã đập tan cuộc hành quân của Mỹ và quân đội Sài Gòn. Quân ta đã tiêu diệt phần lớn sinh lực địch, giáng một đòn nặng nề vào âm mưu kéo dài cuộc chiến tranh, trực tiếp là chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Mỹ, giữ vững hậu phương và hành lang chiến lược chi viện cho tiến tuyến lớn miền Nam. Thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào đã làm xoay chuyển căn bản cục diện chiến tranh.


Thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào là thắng lợi của sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Trung ương Đảng, của Quân ủy Trung ương, đồng thời là thắng lợi của nghệ thuật tổ chức, phối hợp chiến đấu ở quy mô lớn. Đường 9 - Nam Lào là chiến dịch lần đầu tiên ta tổ chức tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn với sự tham gia của 5 sư đoàn, nhiều trung đoàn chủ lực cơ động của Bộ cùng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích của các quân khu các đơn vị binh chủng pháo binh, công binh, đặc công, phòng không, tăng thiết giáp, hải quân, đặc biệt hơn là có sự phối hợp chiến đấu kịp thời, hiệu quả của quân và dân Lào anh em. Với việc loại khỏi vòng chiến đấu 19.960 tên địch, bắt làm tù binh 1.142 tên, bắn rơi và phá hỏng 556 máy bay, 43 tàu cùng nhiều phương tiện chiến tranh, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào đã tạo nên bước đột biến, làm thay đổi cục diện chiến trường và so sánh lực lượng giữa ta và địch.


Thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào đã tạo ra bước ngoặt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc ta. Quân đội Sài Gòn, lực lượng nòng cốt thực hiện học thuyết Níchxơn ở Đông Dương bị một đòn nặng nề. Thắng lợi của chiến dịch không chỉ khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành chiến tranh đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, mà còn là mốc son đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của nghệ thuật quân sự, trình độ tổ chức phối hợp chiến đấu quy mô lớn, quy mô rộng của Bộ Thống soái tối cao, sự phối hợp chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam với cách mạng Lào. 40 năm đã trôi qua nhưng ý nghĩa và những kinh nghiệm của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #27 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 08:52:41 pm »

CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO, SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỂ CÁCH ĐÁNH TÀI GIỎI

Đại tá, TS LÊ VĂN THÁI
Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử tư tưởng quân sự -
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh - bộ phận trọng yêu trong tư tưởng Hồ Chí Minh - là tài sản tinh thần quý báu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Tư tưởng đó của Người gồm nhiều nội dung phong phú, trong đó có nội dung về cách đánh giặc. Theo Người để chiến thắng kẻ thù, các lực lượng vũ trang "phải có cách đánh rất tài giỏi", thực hiện nghệ thuật quân sự cách mạng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về cách đánh giặc, quân và dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc đều đánh giỏi, thắng lớn, từng bước đẩy đối phương vào thế thua không thể cứu vãn. Mùa Xuân năm 1971, phát huy thế tiến công chiến lược, quân và dân ta cùng với quân và dân Lào anh em đánh bại cuộc hành quân lớn của địch trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào, giữ vững hành lang chi việnchiến lược Bắc - Nam Đông Dương, tạo đà cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiếp tục phát triển đến thắng lợi hoàn toàn.


Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách đánh giặc được đề cập phong phú trong nhiều tác phẩm; trong các chỉ thị, huấn thị của Người. Ngay trong thời kỳ mới về nước cùng Trung ương Đảng lãnh đạo khởi nghĩa vũ trang, bên cạnh việc biên dịch hai cuốn sách"Phép dùng binh của Tôn Tử" và "Cách huấn luyện cán bộ quân sự của Khổng Minh", Người còn viết tác phẩm "Cách đánh du kích"1 (Trong nguyên bản, ngoài bìa sách ghi "Chiến thuật du kích", Việt Minh xuất bản, tháng 5 năm 1944) 13 chương. Trong tác phẩm đó, Người xác định 4 nguyên tắc chính của cách đánh du kích là: 1. Giữ quyền chủ động; 2. Hết sức nhanh chóng; 3. Bao giờ cũng giữ thế công; 4. Phải có kế hoạch thích hợp và chu đáo"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 tr. 474, 508). Khi quyết định thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người chỉ rõ cách đánh của đội quân chủ lực đầu tiên là: "Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 tr. 474, 508).


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Người đề ra cách đánh cho lực lượng vũ trang là bám dân, bám đất, đẩy mạnh chiến tranh du kích; kết hợp chặt chẽ du kích chiến với vận động chiến và công kiên chiến; đánh địch cả trước mặt và sau lưng theo cách đánh do ta lựa chọn, không cho địch đánh theo cách sở trường củachúng... Cuối cuộc kháng chiến, Người còn nhấn mạnh đến phương châm hành động: "Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt" và nguyên tắc "Đánh chắc thắng".


Bước sang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đối tượng tác chiến của lực lượng vũ trang thay đổi. Ta phải đương đầu với nhiều lực lượng, bao gồm quân Mỹ, quân các nước đồng minh Mỹ và quân Sài Gòn, được trang bị vũ khí và các phương tiện chiến tranh hiện đại. Trước tình hình đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo các lực lượng vũ trang thay đổi cách đánh cho phù hợp với đối tượngtác chiến và đặc điểm chiến trường. Khi đế quốc Mỹ ồ ạt đưa quân vào miền Nam Việt Nam, tại cuộc họp Bộ Chính trị ngày 31 tháng 7 năm 1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu vấn đề: "Phải nghiên cứu cách đánh, xem có gì thay đổi không"1 (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh -Biên niên tiểu sử, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008,tr. 281, 333). Hai tháng sau, tại cuộc họp Bộ Chính trị bàn vô tình hình miền Nam, Người nói: "Vì quân Mỹ đông, lại có hỏa lực mạnh, nên khi ta tiến công tiêu diệt sinh lực địch thì không chỉ tiêu diệt về số lượng, mà phải chú ý đến tiêu diệt những đơn vị chủ chốt, những cơ quan đầu não của chúng"2 (Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh -Biên niên tiểu sử, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 281, 333). Người căn dặn Bộ đội Phòng không: "Lúc chiến đấu phải hiệp đồng cho tốt, ai đánh tầng thấp, ai đánh tầng giữa, ai đánh tầng cao, phải phân công rõ ràng"3 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam - Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự, Chủ lịch Hồ Chí Minh vái sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việl Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 119). Với Bộ đội Không quân, Người dạy: "Các chú hãy học tập Quân giải phóng miền Nam: Phát huy lối đánh gần, bám thắt lưng địch mà diệt chúng"1 (Chủ tịch Hồ Chí Minh với Bộ đội Phòng không - Không quân, Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân xuất bản, Hà Nội, 1975, tr. 20).


Sau cuộc họp Bộ Chính trị ngày 28 tháng 12 năm 1967 chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968, Người chỉ thị cụ thể cho các chiến trường: "Kế hoạch phải thật tỉ mỉ. Hợp đồng phải thật ăn khớp. Bí mật phải thật tuyệt đối. Hành động phải thật kiên quyết. Cán bộ phải thật gương mẫu"2 (Vũ Kỳ, Bác Hồ với Tết Mậu Thăn năm ấy, Báo Văn Nghệ, số Tết Mậu Dần 1998). Tiếp đó, trong thư chúc mừng năm mới gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước năm 1969, Người khái quát tư tưởng chỉ đạo chiến lược về cách đánh bằng câu thơ "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".


Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về cách đánh, các lực lượng vũ trang và nhân dân ta đã nỗ lực chiến đấu đánh thắng giặc từng bước, càng đánh càng mạnh, tiến lên giành thắng lợi mới. Tháng 6 năm 1970, trên cơ sở đánh giá đúng bản chất gây chiến, phiêu lưu và những thủ đoạn mới của đế quốc Mỹ trong chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", Bộ Chính trị đã nhận định trong mùa khô 1970 - 1971,địch có thể mở những cuộc tiến công đánh vào vùng Trung, Hạ Lào và vùng đông bắc Campuchia nhằm phá hoại cơ sở cách mạng hai nước này, phá hủy cơ sở hậu cần và cắt đứt hành lang vận chuyển chiến lược của ta, cô lập chiến trường miền Nam. Từ nhận định đó, Bộ Chính trị chủtrương: "Động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trên cả hai miền nước ta, tăng cường khối đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước Đông Dương, làm cho lực lượng ba nước trở thành một khối thống nhất, có một chiến lược chung, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến cứu nước của nhân dân ba nước chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai"1 (Nghị quyết Bộ Chính trị, ngày 19 tháng 6 năm 1970. Lưu tại Viện Lịch sử quân sự Việt Nam). Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân uy Trung ương nhất thiết phải động viên sức người, sức của đánh thắng địch, làm thất bại cố gắng cao nhất của chúng trong quá trình thực hiện "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo nên những chuyên biến căn bản có tính chất chiến lược cho phong trào cách mạng ba nước Đông Dương.


Quán triệt và vận dụng sáng tạo luận điểm "ta phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 314) của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nghị quyết tháng 6 năm 1970 của Bộ Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu bắt đầu vạch kế hoạch tác chiến, điều động lực lượng và chỉ đạo việc chuẩn bị chiến trường ở khu vực Đường 9 - Nam Lào.


Tháng 10 năm 1970, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thành lập Binh đoàn 70 gồm 3 sư đoàn bộ binh 304, 308, 320 và một số trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng, ở khu vực Đường 9, bộ đội Mặt trận B5, B4 và Đoàn 559 gấp rút tổ chức thế trận, sẵn sàng phối hợp chiến đấu với lực lượng chủ lực cơ động. Tổng cục Hậu cầnthành lập cơ quan chỉ huy tiền phương, cùng các đơn vị thuộc Đoàn 559 xây dựng tuyến hậu cần chiến dịch nam sông Gianh. Đến tháng 1 năm 1971, dự trữ vật chất của các binh trạm Đoàn 559 trên các hướng chiến dịch đã lên tới 6.000 tấn, cùng với dự trữ của Bộ, đủ đảm bảo cho năm đến sáu vạn quân tác chiến trong thời gian bốn đến năm tháng. Chủ độngđối phóvới mọi tình huống, Bộ Tổng Tham mưu giao nhiệm vụ cho Binh đoàn 70 chuẩn bị kế hoạch tác chiến, phối hợp với lực lượng vũ trang Quân khu 4 sẵn sàng tiêu diệt địch, nếu chúng liều lĩnh mở rộng tiến công bằng bộ binh ra phía Nam Quân khu 4.


Đúng như nhận định của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, bước vào Đông Xuân 1970-1971, đế quốc Mỹ ráo riết chuẩn bị tiến hành các cuộc tiến công ra chiến trường ba nước Đông Dương. Tháng 11 năm 1970, Tổng thống Mỹ quyết định mở cuộc hành quân đánh ra Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và ngã ba biên giới. Ngày 2 tháng 2 năm 1971, giới cầm quyền Mỹ thông qua kế hoạch ba cuộc hành quân đó với mật danh "Lam Sơn 719", "Toàn Thắng 1-1971" và "Quang Trung 4". Trong ba cuộc hành quân đó thì cuộc hành quân "Lam Sơn 719" đánh ra khu vực Đường 9 - Nam Lào là có quy mô và ý đồ lớn nhất; bởi theo tính toán của Mỹ thì nơi đây tập trung nhiều kho tàng dự trữ chiến lược của đối phương, là "cuống họng" của đường Hồ Chí Minh, nếu chiếm được địa bàn chiến lược này thì chẳng những đe dọa miền Bắc, uy hiếp cách mạng Lào, mà còn bịt được tuyến vận tải chiến lược vào chiến trường miền Nam. Mặt khác, thông qua cuộc hành quân "Lam Sơn 719", giới cầm quyền Mỹ muốn kiểm nghiệm khả năng của quân đội Sài Gòn, qua đó kiểm nghiệm kết quả của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" sau hơn hai năm thực hiện. Đểđạtđược mục tiêu mang nhiều tham vọng chủ quan đó, Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ và Sài Gồn đã huy động lực lượng lớn, gồm 42.000 quân (33.000 quân Sài Gòn, 5.000 quân Mỹ), có nhiều máy bay, xe tăng, thiết giáp và pháo binh yểm trợ1 (Lực lượng của địch trên địa bàn chiến dịch lúc cao nhất có 55.000 quân, gồm 15 trung đoàn bộ binh, 3 thiết đoàn 587 xe tăng, xe bọc thép, 318 pháo, 700 máy bay các loại. Ngoài ra còn có 2 Binh đoàn ngụy Lào). Mục tiêu đầu tiên của địch trong cuộc hành quân này là nhanh chóng chiếm Sê Pôn, chiếm giữ Đường 9 doạn Bản Đông - Sẽ Pôn, lập phòng tuyến ngăn chặn, cắt đôi Đông Dương, lùng sục đánh phá kho tàng, đường sá xung quanh Sê Pôn; tiếp đó chuyển xuống đánh phá kho tàng khu vực Sa Đi - Mường Noòng đến A Túc, A Sầu, A Lưới.


Trước hành động liều lĩnh của địch, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào tiêu diệt một bộ phận lớn quân địch, tạo điều kiện đánh bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ. Do tầm quan trọng của chiến dịch, Bộ Chính trị cử Thượng tướng Văn Tiến Dũng, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam làm đại diện của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh tại mặt trận. Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận được thành lập do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn,Tổng Tham mưu phó làm Tư lệnh, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm Binh đoàn 70, Sư đoàn 2, Sư đoàn 324, 3 tiểu đoàn xe tăng, xe thiết giáp, 4 trung đoàn pháo binh, 4 trung đoàn pháo phòng không, 3 trung đoàn công binh, một số tiểu đoàn đặc công và lực lượng chiến đấu tại chỗ của Mặt trận B5, B4, Đoàn 559 và các đơn vị bộ đội tình nguyện ở Hạ Lào; tổng quân số khoảng 6 vạn quân. Với lực lượng chiến đấu và phục vụ chiến đấu đó, lại có những cán bộ dày dạn kinh nghiệm chỉ huy tác chiến tập trung, khi địch bắt đầu triển khai đội hình hành quân thì quân ta đã nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa; do đó, thế trận tốt thuộc về ta. Theo binh pháp Tôn Tử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh biên dịch thì: "Được thế tốt... lúc đánh, thì thế như lăn đá trên xuống dốc núi cao mấy nghìn thước"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009 tr. 523).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #28 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 08:54:36 pm »

Ngày 8 tháng 2 năm 1971, quân Sài Gòn được sự yểm trợ của quân Mỹ chia làm 3 cánh vượt qua biên giới Việt - Lào; cánh quân chủ yếu theo Đường 9 qua Lao Bảo tiến đến Bản Đông, hai cánh quân khác đổ bộ bằng máy bay lên thẳng xuống một số điểm cao ở bắc và nam Đường 9, nhằm bảo vệ sườn cho cánh quân chủ yếu.


Theo kế hoạch tác chiến, Bộ Tư lệnh mặt trận nhanh chóng điều lực lượng chặn đánh địch. Do đây là một chiến dịch phản công, có nhiều lực lượng tham gia chiến đấu, lại diễn ra trên đất ta và đất Lào, nên việc "Hợp đồng phảithật ăn khớp" trong quá trình tác chiến. Do đó, khi quân địch bắt đầu hành quân, đồng thời với một bộ phận quân ta chặn đánh địch trên Đường 9 thì lực lượng vũ trang Mặt trận B5 liên tục tập kích, pháo kích các căn cứ quân Mỹ, phục kích trên các đường giao thông, đánh chìm nhiều tàu quân sự trên sông Cửa Việt. Cuộc chiến đấu của lực lượng tại chỗ đã gây nhiều thiệt hại cho giặc, góp phần làm chậm bước tiến của chúng. Trên hướngchủ yếu, thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh chiến dịch, bộ đội ta đã chủ động đón đánh từng cánh quân của địch, kết hợp với lực lượng phòng không được bố trí dày đặc ở những nơi mà trước đó ta dự kiến địch sẽ đổ quân, bắn rơi nhiều máy bay lên thẳng. Từ ngày 12 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 năm 1971, lực lượng chủ lực của ta đã hiệp đồng chiến đấu, tiến công dồn dập, bẻ gãy cánh quân chủ lực của địch phía bắc Đường 9, tiêu diệt các cụm cứ điểm then chốt ở điểm cao 500, 543; đập tan cuộc phản kích của Lữ đoàn số 3 và Trung đoàn thiết giáp số 17, bắt sống đại tá Nguyễn Văn Thọ và toàn bộ ban tham mưu lữ đoàn địch.


Trước đòn phản công mạnh của quân ta, địch điều lực lượng lớn từ Bản Đông lên phản kích hòng chiếm lại điểm cao 543. Suốt 6 ngày liền, Trung đoàn bộ binh 36 (Sư đoàn 308) và một bộ phận Trung đoàn bộ binh 64 có hai đại đội xe tăng phối hợp và pháo binh mặt trận chi viện hỏa lực, đã đập tan cánh quân phản kích của địch, uy hiếp mạnh căn cứ Bản Đông của chúng. Trong khi đó ở phía tây Trung đoàn 141 bộ binh (Sư đoàn 2) và Trung đoàn 48 bộ binh (Sư đoàn 320), phối hợp với một bộ phậncủa Quân giải phóng Lào đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn quân ngụy Lào1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 380).    


Cũng cần nói thêm là trước đó, thực hiện chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, Đoàn chuyên gia quân sự 565 và quân tình nguyện ở Hạ Lào đã tổ chức lực lượng, thường xuyên phối hợp chặt chẽ với bộ đội Lào nắm chắc địch và đẩy mạnh hoạt động sau lưng chúng. Sau khi mở đợt tiến công dãy điểm cao phía đông Bô Lô Ven tiêu diệt nhiều sinh lực địch, ngày 9 tháng 1 năm 1971, ta tiêu diệt căn cứ Huội Sài, cùng bạn chuẩn bị chiến trường.


Đầu tháng 3, mặc dầu lâm vào tình thế bất lợi, Bộ chỉ huy hành quân địch vẫn quyết định tung lực lượng dự bị chiến dịch vào cuộc chiến. Lúc này, địch chuyển cánh quân phía nam thành hướng tiến công chủ yếu và tiếp tục thực hiện kế hoạch đánh lên Sê Pôn. Nhưng nỗ lực mới của địch vấp phải sự chặn đánh quyết liệt của quân ta. Với tinh thần "Hành động phải thật kiên quyết", Bộ Tư lệnh mặt trận ra lệnh cho quân ta trên các hướng chiến dịch đồng loạt phản công địch. Hơn 4 vạn sĩ quan, binh lính quân đội Sài Gòn tham gia cuộc hành quân "Lam Sơn 719" rơi vào tình thế khốn đốn. Ngày 13 tháng 3 năm 1971, toàn bộ lực lượng tham gia chiến dịch của ta được lệnh gấp rút chuyển từ phản công sang tiến công trên toàn tuyến. Quân địch ở Đường 9, Bản Đông không chịu được sức ép ngày càng gia tăng của quân ta nên đã dồn lại, dựa lưng vào nhau để chống trả. Càng chống trả điên cuồng, thì dự trữ đạn dược càng chóng cạn; trong khi đó, nguồn tiếp tế chủ yếu bằng máy bay, nhưng máy bay lên thẳng vũ trang cũng như máy bay vận tải C130 chuyển hàng hóa và vũ khí tiếp viện cho tập đoàn cứ điểm Bản Đông không thể thực hiện được do mạng lưới phòng không nhiều tầng của ta khống chế quyết liệt1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 275). Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân địch phải tháo chạy khỏi Bản Đông. Chớp thời cơ, bộ đội ta nhanh chóng chuyển sang truy kích, diệt và bắt nhiều tên địch, bắn cháy nhiều xe tăng, xe bọc thép, phá hủy nhiều máy bay của chúng. Cùng thời gian này, quân ta cũng giành thắng lợi lớn, diệt nhiều sinh lực địch ở điểm cao 660, 550. Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi.


Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng, đã "mở ra những triển vọng vô cùng tốt đẹp đứa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến toàn thắng2 (Thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng gửi cán bộ, chiến sĩ, Đảng viên, đoàn viên trên mặt trận Đường số 9 ngày 31 tháng 3 năm 1971. Hồ sơ 594, Trung tâm lưu trữ Bộ Quốc phòng). Phát biểu tại Hội nghị tổng kết Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào do Quân ủy Trung ương tổ chức (7-1971), đồng chí Lê Duẩn - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định lại một lần nữa ý nghĩa chiến thắng Đường 9 - Nam Lào "không phải chỉ là tiêu diệt được một, hai vạn tên địch, mà ý nghĩa chiến lược của nó là ở chỗ ta đã đánh bại quânchủ lực ngụy, mở ra triển vọng hiện thực đánh bại chính sách "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ về quân sự"1 (). Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về cách đánh tài giỏi, quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn trên Mặt trận Đường 9 - Nam Lào. Đồng chí Lê Duẩn nhấn mạnh: "Trong những trận sắp tới, chúng ta phải tiếp tục nắm địch, nghiên cứu cách đánh"2 (Lê Duẩn, Về chiến tranh nhân dân Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 417, 418) để giành thắng lợi to lớn hơn nữa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #29 vào lúc: 13 Tháng Năm, 2024, 09:03:31 pm »

CHIẾN THẮNG ĐƯỜNG 9 - NAM LÀO VÀ CUỘC ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG NĂM 1971

Đại tá, PGS, TS HỒ KHANG
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Trong chiến tranh, quan hệ giữa quân sự và ngoại giao luôn là mối quan hệ chặt chẽ, quy định và chi phối lẫn nhau. Quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao thể hiện đậm nét trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước qua thế đánh - đàm sau thắng lợi của Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào 1971. Thắng lợi này đã thúc đẩy đấu tranh ngoại giao phát triển lên những bước mới, phát huy hiệu quả tối ưu trên các bình diện khác nhau của mặt trận ngoại giao và quân sự.


1. Hình thành thế vừa đánh, vừa đàm.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, gắn kết chặt chẽ hai mặt đấu tranh quân sự - đấu tranh ngoại giao đã trở thành truyền thống, được nâng lên ở tầm nghệ thuật - nghệ thuật của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự kiên cường với đấu tranh ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt; lấy thắng lợi quân sự thúc đẩy đấu tranh ngoại giao, sử dụng đấu tranh ngoại giao để củng cố, mở rộng, nhân lên thắng lợi quân sự. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, tạo thế đánh, đàm thực sự là một nét độc đáo, in đậm dấu ấn vào kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.


Năm 1965, khi đưa quân trực tiếp xâm lược miền Nam và tiến hànhchiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất, đế quốc Mỹ đã tiến hành nhiều cuộc vận động ngoại giao, gọi là để giải quyết vấn đề Việt Nam, song lại đòi chúng ta thương lượng không điều kiện. Lúc này, Đảng nhấn mạnh hai nhiệm vụ song trùng: 1. Quyết tâm chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược; 2. Đập lại mọi luận điệu hoà bình giả hiệu, đòi thương lượng không điều kiện của đế quốc Mỹ. Bên cạnh đó, chúng ta cũng đã tính đến việc đưa Mỹ vào cục diện vừa đánh, vừa đàm và việc chọn đúng thời điểm là cả một vấn đề nghệ thuật. Quá trình đó diễn ra như sau:


Trải qua hai năm (1965-1966) ráo riết tăng cường lực lượng và đẩy mạnh hoạt động quân sự, "nhằm chuyển biến hẳn cục diện trên chiến trường, giành lại thế chủ động"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tập 28, tr. 86), địch đã vấp phải những thất bại to lớn. Trên thế thắng, chúng ta đã "đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ nhất; liên tục tiến công để mở rộng thắng lợi trong mùa mưa; bước đầu đánh bại cuộc "phản công chiến lược" mùa khô thứ hai; đánh bại chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc trên âm mưu cơ bản"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sđd, tr. 87). Khẳng định về ý nghĩa, giá trị của những thắng lợi mang tính chiến lược đó, Đảng nêu rõ: "Thắng lợi có tầm quan trọng rất lớn về chính trị và quân sự, về chiến lược và chiến thuật. Đó là thắng lợi đối với hiệp đầu của chiến lược chiến tranh cục bộ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sđd, tr. 89); những thắng lợi này đã khiến đế quốc Mỹ "bị một đòn phủ đầu choáng váng hết sức bất ngờ"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sđd, tr. 89), đẩy Mỹ vào thế bị động và cùng với việc trên thế giới, "Mỹ bị cô lập chưa từng thấy, cả những đồng minh gần gũi của Mỹ cũng không ủng hộ chính sách, chiến tranh xâm lược Việt Nam"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sdd, tr. 116), thì đây chính là những tiền đề cơ bản, vững chắc, để toàn quân, toàn dân ta bước sang năm 1967 một cách vững tin, chuẩn bị cho những phát triển mới của cuộc kháng chiến.


Trong tình hình đó, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 (1-1967) - Hội nghị bàn về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, chủ động tiến công địch, quyết định đưa chiến tranh cách mạng miền Nam sang một giai đoạn mới - giai đoạn "ra sức đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam"4 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd, tập 28, tr. 170). Hội nghị xác định: "Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao"5 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd, tập 28, tr. 170) và "đi đôi với đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam, ta cần tiến công địch về mặt ngoại giao, phối hợp với hai mặt đấu tranh đó để giành thắng lợi to lớn hơn nữa"6 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sdd, tập 28, tr. 170). Như vậy, Hội nghị Trung ương lần thứ 13 đã chọn đúng thời cơ để mở đòn tiến công ngoại giao, kéo Mỹ vào bàn đàm phán, khi chúng ta đang ở thế thắng. Và bắt đầu từ Hội nghị Trung ương lần thứ 13 Đảng đã đưa ngoại giao lên thành một mặt trận với nguyên tắc "chúng ta chỉ có thể giành được trên bàn hội nghị những cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường"1 (Đảng Cộng sàn Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 28, Sdd, tr. 170). Cũng từ thời điểm này, hai mặt đánh - đàm (trên nền tảng thắng lợi quân sự thúc đẩy thắng lợi ngoại giao và ngược lại) trong đấu tranh cách mạng ở miền Nam được kết hợp hết sức chặt chẽ cả trong nước lẫn trên trường quốc tế, đan quyện một cách khéo léo, linh hoạt, dựa trên những phân tích, phán đoán, nhận định tình hình một cách kịp thời, khách quan, khoa học, mang lại những hiệu quả to lớn, tạo ra những bước ngoặt mang tính đột phá để chúng ta có thể nhanh chóng kết thúc một cuộc chiến tranh diễn ra trên phạm vi một nước nhỏ, xa xôi, nhưng lại là nơi hội tụ những mâu thuẫn và xung đột mang tính thời đại, giữa tiến bộ và phản tiến bộ, giữa hòa bình và chiến tranh; trở thành tiêu điểm chú ý và thức tỉnh lương tri thời đại, lương tri loài người.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM