Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 12:24:42 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết lịch sử công tác An ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam  (Đọc 2513 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #30 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:43:32 am »

Nội dung công tác quần chúng phải gắn chặt với lợi ích của nhân dân trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, an ninh trật tự. Về kinh tế là quan tâm đến đời sống chung và cả những gia đình có hoàn cảnh đặc biệt; về chính trị là mở rộng đối tượng khoan hồng; về an ninh trật tự phải làm cho quần chúng hiểu và ủng hộ cuộc đấu tranh địch ta gắn liền với cuộc sống bình yên của nhân dân. Thực tế đã cho thấy: Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam làm tốt công tác quần chúng, đã dựa được vào dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng và bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo các cấp.


Trong quá trình dựa vào dân và phát huy vai trò của nhân dân phải kết hợp chặt chẽ tính tích cực của quần chúng nhân dân với nghiệp vụ chuyên môn. Tính tích cực của quần chúng nhân dân trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự cần có sự hướng dẫn của cơ quan an ninh. Nội dung định hướng cho phong trào quần chúng về chuyên môn là: Nhận thức rõ âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng do thám, gián điệp, tề ngụy, phản động lợi dụng yếu tố tôn giáo, dân tộc ở từng địa bàn cụ thể; làm cho quần chúng nêu cao tinh thần cảnh giác, không để địch thu thập tin tức, lôi kéo, chiêu hồi, chiêu hàng, mua chuộc, khống chế sử dụng; cách thức phát hiện những đối tượng địch xâm nhập vào địa bàn, nội bộ ta; phối hợp với lực lượng An ninh vũ trang đấu tranh ngăn chặn âm mưu và hoạt động của địch. Đấu tranh với những đối tượng cải tạo tại chỗ, phong trào quần chúng có tác dụng rất lớn, làm cho đối tượng cải tạo về tư tưởng, trở lại với gia đình và cộng đồng.


Dựa vào quần chúng nhân dân là dựa vào một lực lượng đông đảo, mạnh mẽ nhất trong xã hội; phát huy vai trò của quần chúng nhân dân là phát huy tiềm lực về sức người, sức của, ý thức cách mạng của quần chúng nhân dân trong công tác đấu tranh với địch, bảo vệ ta. Lực lượng An ninh vũ trang đã trang bị cho quần chúng những kiến thức cơ bản về công tác vũ trang. Cụ thể là: Đã giáo dục cho quần chúng nhân dân hiểu rõ âm mưu và hoạt động vũ trang của địch; hoạt động do thám gián điệp của địch luôn hỗ trợ cho hoạt động vũ trang, đánh phá tổ chức và vùng giải phóng của ta; nhiệm vụ của lực lượng du kích và An ninh vũ trang trong việc bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng và nhân dân; nhiệm vụ của quần chúng nhân dân phải hỗ trợ cho hoạt động vũ trang của ta lúc bình thường cũng như khi bị địch đánh phá; vũ trang tự vệ cho quần chúng bằng những vũ khí thô sơ, tự tạo; làm cho nhân dân nắm được phương án tác chiến cơ bản để có kế hoạch phối hợp khỉ có tình huống xảy ra. Nhờ đó mà lực lượng An ninh vũ trang được quần chúng ủng hộ, phối hợp, tạo thành sức mạnh to lớn trong công tác đánh địch, ơ nhiều nơi, quần chúng đã tích cực tham gia chống địch càn quét, diệt trừ số ác ôn ngoan cố, bảo vệ các đồng chỉ lãnh đạo trên đường đi công tác. Nhiều quần chúng tích cực ở Tây Nguyên và Tây Nam Bộ đã sáng chế ra nhiều vũ khí tự tạo để đánh địch.


Thực tế cho thấy, khi nhân dân đã giác ngộ chính trị và được hướng dẫn về nghiệp vụ chuyên môn thì càng phát huy cao độ tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong cuộc đấu tranh với địch. Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân dã phát hiện rất nhiều do thám, gián điệp địch xâm nhập vào căn cứ, vùng giải phóng, thậm chí thâm nhập vào nội bộ ta; đã cùng lực lượng An ninh vũ trang đánh trả hàng ngàn trận càn quét của địch trên khắp các vùng chiến lược; đã cùng lực lượng An ninh vũ trang giáo dục hàng ngàn đối tượng cải tạo tại chỗ và trừ diệt nhiều tên ác ôn ngoan cố; ngăn chặn và làm thất bại âm mưu "tình báo hóa nhân dân" của địch; góp phần bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng và những cán bộ cốt cán của ta.


Sau khi có Hiệp định Paris năm 1973, lực lượng An ninh vũ trang không mắc vào tư tưởng hòa bình, nghỉ ngơi; tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, củng cố lực lượng, trang bị vũ trang; vận động quần chúng nhân dân củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tập trung mũi nhọn vào chính quyền tay sai thân Mỹ, chống địch lấn chiếm vùng giải phóng. Khi nhân dân được giác ngộ, thấy rõ xu hướng phát triển của cách mạng càng ra sức ủng hộ chính quyền ta, càng hỗ trợ tích cực cho công tác bảo vệ an ninh nói chung và an ninh vũ trang nói riêng.


Trong thời gian này, nội dung và hình thức vận động quần chúng rất đa dạng, phong phú. Lực lượng An ninh vũ trang vẫn tiếp tục vận động quần chúng thực hiện "phong trào phòng gian, bảo mật", có nơi phát triển thành "phong trào bảo vệ trị an". Các tổ chức quần chúng tích cực được trang bị vũ trang bằng những vũ khí thô sơ, tự tạo như súng kíp, cung nỏ, mã tấu, gậy tầm vông. Nhiều trận càn quét lấn chiếm của địch vấp phải sự chống trả quyết liệt của nhân dân đã thất bại thảm hại; nhiều tên tay sai địch phải đền tội; nhiều đốn bốt lẻ của địch bị cô lập phải rút chạy.


Ở các khu căn cứ của Trung ương cục, khu, tỉnh, lực lượng An ninh vũ trang vẫn tiếp tục vận động quần chúng, phát huy vai trò của nhân dân trong công tác bảo vệ căn cứ. Chính vì vậy, địch nhiều lần âm mưu dùng biệt kích tập kích vào căn cứ một số khu, tỉnh nhưng đều bị thất bại.


Dựa vào dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng, một phương hướng công tác thường xuyên của lực lượng An ninh vũ trang. Đó là nhân tố tạo lên sức mạnh to lớn của công tác an ninh nói chung và an ninh vũ trang nói riêng. Chính vì vậy, lực lượng An ninh vũ trang đi đến đâu cũng được quần chúng nhân dân ủng hộ, nhiệt tình tham gia công tác bảo vệ an ninh, trật tự, hỗ trợ tích cực cho hoạt động vũ trang của ta.


Những năm 1973-1975, lực lượng An ninh vũ trang đã không ngừng phát triển, gây dựng được phong trào quần chúng mạnh mẽ khắp miền Nam, trang bị cho nhân dân ý thức cảnh giác cách mạng và những kiến thức cơ bản về phòng chống địch. Chính vì vậy, lực lượng cách mạng ngày càng trưởng thành về tổ chức và lực lượng, đồng thời có sự hỗ trợ to lớn của nhân dân miền Nam.


Trên cơ sở đánh giá tương quan lực lượng ta và địch, kể cả lực lượng quần chúng, Trung ương Đảng đã quyết định Tổng tấn công và nổi dậy giải phóng hoàn toàn miền Nam. Nhờ có sự ủng hộ của nhân dân, lực lượng vũ trang cách mạng đã nhanh chóng giải phóng Táy Nguyên, khu 5 và mỏ Chiến dịch Hồ Chi Minh lịch sử, giành Đại thắng Mùa xuân năm 1975.


Thực tiễn hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam về vấn đề dựa vào dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân đã khẳng định: Lực lượng An ninh vũ trang đã quán triệt sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng về công tác quần chúng, phát huy vai trò của quần chúng trong công tác đấu tranh với địch để bảo vệ mình; nội dung, biện pháp, hình thức vận động quần chúng tùy nơi, tùy lúc khác nhau nhưng đều tập trung thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng về công tác bảo vệ an ninh, trật tự; phong trào quần chúng được lực lượng nòng cốt định hướng đúng đắn đã phát huy cao độ tiềm lực của nhân dân; góp phần đấu tranh có hiệu quả với những đối tượng nguy hiểm, những hoạt động đánh phá ác liệt của địch.


Kết quả của công tác vận động quần chúng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước còn có ý nghĩa, tác dụng to lớn trong công cuộc ổn định tình hình an ninh, trật tự ở miền Nam sau ngày giải phóng.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #31 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:27:24 am »

Bài học kinh nghiệm thứ ba

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG AN NINH VŨ TRANG PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH KHÔNG NGỪNG VỂ TỔ CHỨC, LỰC LƯỢNG VÀ CHÍNH TRỊ TƯ TƯỞNG


Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của công tác bảo vệ các đồng chí lãnh đạo cao cấp, bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng và các căn cứ cách mạng, ngay từ khi ra đời, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam được Đảng giao trọng trách là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục, lãnh đạo các khu ủy, tỉnh ủy và các căn cứ, vùng giải phóng; trực tiếp diệt ác, phá kìm, bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng và bảo vệ nhân dân.


21 năm chiến đấu và trưởng thành, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử được Đảng giao phó. Có được kết quả đó bởi các thế hệ cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam có lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, một lòng một dạ theo Đảng, trọn đời chiến đấu vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân.


Là một bộ phận của An ninh miền Nam, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam ra đời, chiến đấu trong hoàn cảnh có những đặc thù riêng, với mục tiêu, nhiệm vụ đặc biệt, với vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng liên quan đến sự sống còn của Đảng, sự thành bại trong cuộc chiến tranh cách mạng. Trên chiến trường miền Nam, sự khốc liệt của chiến tranh, nơi đối đầu trực diện với sự hy sinh, mất mát, nhưng lực lượng An ninh vũ trang luôn nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, chính quyền cách mạng các cấp và xây dựng lực lượng trưởng thành về mọi mặt, góp phần cùng quân và dân miền Nam đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.


Từ yêu cầu của cách mạng miền Nam, Trung ương Đảng đã sớm quán triệt đường lối chính trị và tổ chức của Đảng trong việc xây dựng lực lượng An ninh vũ trang thành lực lượng trọng yếu, tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là lực lượng phải vững mạnh về mọi mặt, mang bản chất cách mạng triệt để của giai cấp công nhân trong mục tiêu chiến đấu, cơ cấu tổ chức và cơ chế lãnh đạo.


Nắm vững những quan điểm và tư tưởng của Trung ương Đảng và Trung ương cục, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam đã xác định xây dựng lực lượng An ninh vũ trang miền Nam thành lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, có liên hệ mật thiết với quần chúng, có tính chất vũ trang, sức chiến đấu cao, có tổ chức chặt chẽ, thông thạo về nghiệp vụ, được trang bị vũ khí và phương tiện thích hợp.


Trong những năm 1954-1960, về tổ chức tuy chưa có một hệ thống thống nhất giữa các vùng, miền nhưng lực lượng cánh vệ, cận vệ làm nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ quan có đơn vị tríển khai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ khu căn cứ mới được hình thành. Củng trong thời gian này, nơi nào những cơ sơ Đảng, cán bộ của Đảng bám trụ đều có cơ sở quần chúng tổ chức bảo vệ. Đó chính là lực lượng nòng cốt xây dựng và phát triển lực lượng An ninh vũ trang. Lực lượng này do Xứ ủy Nam Bộ tuyển chọn, xây dựng. Từ năm 1960, phong trào Đồng khởi miền Nam đã thúc đẩy các tổ chức Đảng và các tổ chức cách mạng khác được hình thành và phát triển thì yêu cầu bảo vệ thành quả cách mạng càng đặt ra cấp thiết. Chính vì vậy lực lượng An ninh miền Nam ra đời, trong đó có lực lượng an ninh bảo vệ Đảng, căn cứ và vùng giải phóng được trang bị vũ trang; được gọi với các tên khác như đội phòng thủ, đội cơ động, đội cảnh vệ, đội trinh sát, đội ATK. Nhiệm vụ chính của lực lượng này là: bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng và chính quyền ta; bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng; diệt ác, phá kìm để mở rộng căn cứ, vùng giải phóng.


Trươc yêu cầu củng cố và bảo vệ căn cứ cách mạng đặt ra ngay càng cấp bách, đòi hỏi lực lượng An ninh vũ trang phải được phát triển và củng cố vững mạnh, ngày 4-8-1961, Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị số 06/CT về việc "Đấu tranh chống gián điệp và xây dựng tổ chức an ninh bảo vệ của ta" và xác định xây dựng tổ chức "Ban An ninh bảo vệ" từ Trung ương đến cơ sở, trong đó chú trọng việc xây dựng lực lượng an ninh cơ sở do cấp ủy Đảng lãnh đạo.


Ngày 22-5-1963, Thường vụ Trung ương cục ra Chỉ thị số 69/CTR đã đặt ra những vấn đề cơ bản về đường lối, phương châm, nguyên tắc, biện pháp, chính sách cũng như nội dung đẩy mạnh cuộc đấu tranh của ta. Ban bảo vệ An ninh các cấp khẩn trương củng cố, kiện toàn tổ chức bộ phận an ninh vũ trang. Từ năm 1963, hầu hết các khu ủy ở miền Nam đều thành lập tiểu ban An ninh vũ trang.


Trước tình hình địch ngày càng leo thang chiến tranh, nhiệm vụ đặt ra cho lực lượng An ninh vũ trang toàn miền Nam có hệ thống tổ chức tập trung, thống nhất, đảm bảo sự chỉ đạo hiệu quả cao. Ngày 4-10-1964, Thường vụ Trung ương cục miền Nam ra Chỉ thị số 10/LL về việc xây dựng lực lượng An ninh vũ trang để bảo vệ tuyệt đối an toàn cán bộ, cơ quan lãnh đạo, đảm bảo cho cơ quan lãnh đạo hoạt động thưòng xuyên, liên tục, lúc bình thường cũng như lúc biến động. Về tổ chức, lực lượng An ninh vũ trang phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy cùng cấp; cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng phải được tuyển chọn theo đúng tiêu chuẩn quy định, đảm bảo tuyệt đối trung thành với Đảng và cách mạng; phải thông thạo về quân sự và nghiệp vụ, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ được giao. Dựa trên sự chỉ đạo đó, các khu ủy, tỉnh ủy đã gấp rút xây dựng lực lượng An ninh vũ trang; ở cấp khu tổ chức một tiểu đoàn với quân số khoảng 480 người, ở cấp tỉnh tổ chức một đại đội, quân số khoảng 120 người, cấp huyện tổ chức một trung đội, quân số khoảng 33 người.


Sau Tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu Thân 1968, trước tình hình lực lượng An ninh vũ trang miền Nam bị tổn thất nghiêm trọng, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam ra Chỉ thị số 17/CT-NT (ngày 9-8-1968) về đẩy mạnh tốc độ triển khai xây dựng lực lượng An ninh vũ trang miền Nam thành hệ thống hoàn chỉnh, bao gồm các lực lượng An ninh vũ trang tập trung, các đội cảnh vệ, cận vệ, các đội trinh sát vũ trang với nhiệm vụ hết sức cụ thể. Chỉ thị nhấn mạnh: Để đảm bảo cho lực lượng An ninh vũ trang vững mạnh về chính trị, tư tưởng, giỏi về quân sự và nghiệp vụ an ninh, phương hướng xây dựng lực lượng An ninh vũ trang là "tích cực khẩn trương, kịp thời gọn nhẹ, sắc bén, chú trọng cả chất lượng và số lượng, xây dựng đến đâu tổ chức đến đó, vừa chiến đấu, vừa xây dựng tiến lên một cách vững chắc, từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến hoàn chỉnh".


Quá trình hình thành, xây dựng và phát triển tổ chức An ninh vũ trang miền Nam gắn liền với giai đoạn lịch sử của cách mạng. Tuy ra đời muộn nhưng các tổ chức tiền thân lại có từ rất sớm, điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng, cho thấy lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của Đảng, của cách mạng để từng bước xây dựng, củng cố. Tổ chức An ninh vũ trang được xây dựng hợp lý, toàn diện theo hướng chuyên sâu sẽ chủ động bố trí lực lượng, thực hiện các kế hoạch, phương án, biện pháp nghiệp vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn cho cán bộ cấp cao của Đảng, đảm bảo quán xuyến bảo vệ chặt chẽ căn cứ an toàn trên mọi địa bàn. Nhiều tổ công tác của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã chủ động lên kế hoạch, phương án bảo vệ an toàn các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt đi lại hoạt động từ căn cứ đến các vùng xung yếu để chỉ đạo công tác, hay bảo vệ an toàn các đồng chí Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng vào chiến trường miền Nam chỉ đạo những công tác lớn, mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Là một trong những lực lượng vũ trang trọng yếu, tin cậy của Đảng, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam ngay từ khi ra đời luôn được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tập trung, thống nhất của Bộ Công an và Ban An ninh Trung ương cục miền Nam. Đó là yếu tố hàng đầu, quyết định đảm bảo cho lực lượng An ninh vũ trang hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị. Mặt khác, đặc thù của công tác an ninh vũ trang và tính chất của lực lượng vũ trang đòi hỏi phải đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng, Trung ương cục miền Nam, mà trực tiếp là Ban An ninh Trung ương cục miền Nam. Thực tiễn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng An ninh vũ trang luôn luôn được sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất nên đã tạo ra sự đoàn kết, nhất trí cao về ý chí và hành động, kỷ luật nghiêm minh, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh đế hoàn thành nhiệm vụ.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #32 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:28:21 am »

Trong thời kỳ 1954-1975, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết và tư tưởng chỉ đạo của cấp trên, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị được giao để xây dựng, cúng cố tổ chức và lực lượng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí cán bộ lãnh đạo, bảo vệ các khu căn cứ.


Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy "muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5 (1947-1948), Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2011, tr. 280). Đồng chí Lê Duẩn cũng chỉ rõ: "Đảng lựa chọn Công an trong những người trung thành nhất với Đảng, những người chỉ biết sống chết với Đảng chỉ biết còn Đảng thì còn mình"2 (Bộ Công an, Hệ thống hóa văn bản các Hội nghị Công an toàn quốc (1955-1964), Bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 13 (tháng 1-1959), lưu trữ tại X25, tr. 279). Vì vậy, lực lượng An ninh vũ trang các cấp phải thực hiện đúng đường lối giai cấp, tiêu chuẩn cán bộ về lý lịch, về phẩm chất chính trị, văn hóa, thể lực, theo phương châm "trọng chất hơn lượng".


Thực tiễn lịch sử trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã chứng minh việc lựa chọn những người ưu tú nhất trong giai cấp công nhân, nông dân và lực lượng trí thức đã được rèn luyện thử thách trong chiến đấu và công tác để bổ sung cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam là hoàn toàn đúng đắn và có hiệu quả cao.


Trong công tác bảo vệ tiếp cận, bảo vệ căn cứ đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang những phẩm chất trung thành khôn khéo, nhẫn nại và kiên quyết, có nghiệp vụ giỏi có ý thức trách nhiệm cao, đạo đức cách mạng tốt và được rèn luyện, thử thách trong chiến đấu, có khả năng và ý chí kiên định trước mọi hoàn cảnh.


Được thử thách, tôi luyện trong chiến đấu, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam không ngừng trưởng thành. Nhân tố quyết định sự trưởng thành ấy là mọi cán bộ, chiến sĩ đều nêu cao tinh thần tiến công cách mạng, đồng thời có sự lãnh đạo chặt chẽ của Trung ương cục miền Nam và Ban An ninh Trung ương cục miền Nam.


Sự trưởng thành của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam là sự trưởng thành về chính trị tư tưởng, tổ chức, lực lượng và kinh nghiệm công tác.

Từ thực tiễn cuộc chiến tranh ác liệt, yêu cầu đặt ra đối với lực lượng An ninh vũ trang miền Nam lúc này là: làm tròn chức năng chuyên chính của Đảng, của chính quyền cách mạng, trở thành mũi nhọn tấn công sắc bén và bảo vệ vững chắc căn cứ, sự an toàn tính mạng của các đồng chí lãnh đạo. Thực tế đã chứng minh, cán bộ chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam đã luôn tỏ rõ lập trường quan điểm vũ trang cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng và nhân dân; dũng cảm, kiên cường, bất khuất chiến đấu, khắc phục mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ được giao.


Qua thực tiễn, đã cho chúng ta thấy rõ rằng, sự trưởng thành về chính trị là động lực thúc đẩy nghiệp vụ phát triển. Nghiệp vụ phát triển trên cơ sở chính trị là sự đảm bảo chắc chắn nhất, làm cho hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang không đi chệch hướng, chệch mục tiêu, không phạm sai lầm về chính trị, đồng thời cũng là đảm bảo chắc chắn nhất để đánh trúng, đánh mạnh vào đối tượng. Sự trưởng thành về chính trị còn làm cho lực lượng An ninh vũ trang nhạy bén trong đấu tranh, vững vàng trước mọi thử thách.


Để đối phó với âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam đã thực hiện tốt vai trò vừa chiến đấu, vừa bảo vệ, bảo vệ ta phải gắn liền với tấn công địch. Đồng thời biết dựa vào quần chúng phát huy khả năng sáng tạo và tính tích cực của quần chúng trong phong trào "phòng gian bảo mật", "toàn dân làm công tác an ninh". Trong cuộc đấu tranh sinh tử với kẻ thù, lực lượng An ninh vũ trang càng được tôi luyện về ý chí và hành động, về nghiệp vụ và kinh nghiệm đánh địch, góp phần xây dựng lý luận cách mạng của ngành Công an nhân dân Việt Nam.


Nghiệp vụ của công an thực chất là nghiệp vụ chính trị, đấu tranh chống phản cách mạng thực chất là cuộc đấu tranh chính trị. Vì vậy, sự trưởng thành về chính trị, tư tưởng, các biện pháp nghiệp vụ luôn đồng hành trong quá trình tiến tới sự hoàn thiện lực lượng. Thực tiễn cho thấy: Một trong những nhân tố tạo thành sự lớn mạnh của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, ngoài việc quán triệt tư tưởng cách mạng bạo lực, tư tưởng cách mạng tiến công, còn phải có sự kết hợp chặt chẽ yếu tố chính trị và nghiệp vụ, trong đó nghiệp vụ phải phục vụ chính trị; nghiệp vụ phát triển trên cơ sở nhận thức chính trị phát triển tương ứng.


Từ tính chất ấy, trong quá trình xây dựng lực lượng, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng để nâng cao lập trường giai cấp; lấy mục tiêu phấn đấu "Vì an ninh Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc".


Về tổ chức, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Trung ương cục miền Nam, mà trực tiếp là Thường vụ Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, có một lực lượng chiến đấu vững mạnh, có tính chất vũ trang, có tổ chức kỹ luật chặt chẽ và thông thạo về nghiệp vụ.


Về thành phần, đảm bảo chặt chẽ tiêu chuẩn tuyển chọn, thành phần công nông là cốt cán, công tác giáo dục chính trị tư tưởng đóng vai trò quan trọng quyết định. Và luôn luôn xác định: quá trình xây dựng lực lượng An ninh vũ trang miền Nam cũng là quá trình xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ an ninh ngày càng vững mạnh. Sự hình thành ấy trong điều kiện cụ thể của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã mở rộng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ ngoài thành phần công nông còn có những trí thức đã được rèn luyện, thử thách, giác ngộ.


Trong quá trình đấu tranh và trưởng thành, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam rất đáng tự hào là một lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành với Đảng, được Đảng tin cậy; trung dũng, kiên cường, mưu trí, nhạy bén, tận tụy, hy sinh, trên dưới một lòng hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà Đảng và nhân dân giao phó. Sự đóng góp xứng đáng của lực lượng này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận sâu sắc.


Ngày nay, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, một bộ phận lực lượng An ninh vũ trang miền Nam trở thành những cán bộ, chiến sĩ cảnh vệ, cận vệ trong lực lượng Công an nhân dân đang làm nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn tuyệt đối của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, các mục tiêu quan trọng của Đảng và Nhà nước; một bộ phận trở về trong đội ngũ Công an nhân dân vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bờ biển hải đảo; nhiều chiến sĩ An ninh vũ trang năm xưa đã được nghỉ theo chế độ, nhưng sự hy sinh và những chiến công hiển hách trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã để lại cho hôm nay một truyền thống tốt đẹp và bài học quý này.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #33 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:29:29 am »

Bài học kinh nghiệm thứ tư

LUÔN CHỦ ĐỘNG NẮM CHẮC TÌNH HÌNH ĐỊCH VÀ SỬ DỤNG ĐỒNG BỘ CÁC BIỆN PHÁP NGHIỆP VỤ TRONG CÔNG TÁC AN NINH VŨ TRANG



Về phép dụng binh, Tôn Tử (514-496 TCN) đã đưa ra triết lý rất sâu sắc "tri bỉ, tri kỷ, bách trận chiến, bách trận thắng" (biết địch, biết ta, trăm trận chiến, trăm trận thắng), vì vậy, trong cuộc đấu tranh địch ta, công tác nắm tình hình địch rất quan trọng, có tính chất quyết định thắng lợi trong cuộc chiến. Nắm tình hình địch để thấy chỗ mạnh, chỗ yếu của địch để có biện pháp, kế hoạch đánh địch thích hợp. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta thường phải đương đầu với nhiều kẻ thù mạnh hơn ta gấp nhiều lần, ông cha ta đã đúc rút ra nghệ thuật quân sự "lấy yếu chống mạnh", "dùng ít địch nhiều", "lấy chí nhân thay cường bạo"... Để thực hiện thành công nghệ thuật quân sự này, yêu cầu công tác nắm tình hình địch phải rất sâu sắc, cụ thể, tỉ mỉ, chính xác. Trên cơ sở đó mà tìm ra chỗ mạnh của địch để tránh, nhằm vào điểm yêu của địch để đánh, làm cho kẻ địch suy yếu dần, dẫn đến thất bại. Từ việc phân tích tình hình địch ta, đồng chí Lê Duẩn đã đưa ra phương châm của cách mạng miền Nam là: "đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn"1 (Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xả hội, tiến lên giành thắng lợi mới, Nxb Sự thật, HN, 1972).


Thực tế cho thấy: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đế quốc Mỹ và các nước đồng minh đã huy động nhiều lực lượng, thực hiện nhiều chiến lược chiến tranh nguy hiểm, sử dụng nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, hòng tiêu diệt phong trào cách mạng, biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Để chiến thắng địch trong cuộc chiến tranh ác liệt này, công tác chủ động điều tra nắm chắc tình hình địch, đánh giá đúng về địch để xác định đường lối, phương châm, nguyên tắc, biện pháp đánh địch có hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc kháng chiến. Để đối phó với những âm mưu, phương thức thủ đoạn, hoạt động của địch, Trung ương Đảng rất coi trọng công tác nắm tình hình địch nên đã bố trí nhiều lực lượng với nhiều biện pháp để tìm hiểu địch trên mọi phương diện. Các cơ quan tình báo chiến lược, tình báo quản đội, tình báo phản gián của Đảng, Quân đội, Công an đều tham gia công tác nắm tình hình địch trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, nắm tổ chức, lực lượng, âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động, kế hoạch đánh phá của địch. Nhờ công tác nắm tình hình địch sâu và rộng nên mọi hoạt động của địch ta đều nắm chắc và đây là những luận cứ quan trọng để đề ra những chủ trương, đối sách và biện pháp đấu tranh thích hợp.


Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, lực lượng quân sự Mỹ và chính quyền Sài Gòn đả thực hiện nhiều kế hoạch để đàn áp phong trào cách mạng. Chúng đánh phá căn cứ cách mạng hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến, thực hiện nhiều kế hoạch đánh chiếm vùng giải phóng để "giành đất, giành dân, giành thế chủ động", sử dụng nhiều do thám, tình báo, gián điệp, biệt kích để nắm tình hình ta, phá nội bộ ta, tiêu diệt lực lượng cách mạng và chính quyền ta.


Vì vậy, cuộc đấu tranh địch ta trên mặt trận tình báo, gián điệp diễn ra hết sức phức tạp, quyết liệt, tác động lớn đến sự thành bại trong cuộc chiến.

Lực lượng An ninh vũ trang được Đảng, Nhà nước giao vụ, trong đó bảo vệ căn cứ và các đồng chí lãnh đạo là nhiệm vụ chủ yếu. Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ, lực lượng An ninh vũ trang phải nắm chắc tình hình địch làm cơ sở tham mưu cho các cấp ủy Đảng đề ra chủ trương, đối sách, biện pháp bảo vệ thích hợp.


Yêu cầu nắm chắc tình hình địch đối với công tác công an nói chung và của lực lượng An ninh vũ trang nói riêng là tất yếu khách quan, rất cần thiết và được xác định là biện pháp công tác có vị trí hết sức quan trọng. Trên cơ sở nắm tình hình địch, nắm tình hình an ninh trật tự trong khu căn cứ, vùng giải phóng và tình hình có liên quan để chủ động xây dựng các kế hoạch, phương án bảo vệ phù hợp.


Trong quá trình xâm lược Việt Nam, Mỹ và chính quyền Sài Gòn thường xuyên thay đổi phương thức, thủ đoạn hoạt động, ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Chính vì vậy, lực lượng An ninh vũ trang phải liên tục điều tra, nắm tình hình địch sâu sát, toàn diện, cụ thế, phải tìm ra cái mới trong âm mưu hoạt động của địch để định ra đối sách kịp thời, thích hợp. Khi địch thay đổi âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động thì công tác bảo vệ cũng phải thay đổi để sẵn sàng, chủ động đối phó với hoạt động mới của địch.


Nắm tình hình địch trong công tác an ninh vũ trang tập trung thu thập thông tin về tình hình có liên quan đến an ninh trật tự về âm mưu, phương thức thủ đoạn hoạt động của địch đối với vùng căn cứ; dự báo những khả năng về hoạt động của địch đánh phá bằng không quân, thám báo, biệt kích, càn quét căn cứ. Mặt khác, nắm tình hình địch còn phục vụ công tác phản gián, phát hiện kịp thời việc địch cài cắm người vào nội bộ ta; nắm các tổ chức, cơ quan do thám, gián điệp, công an, cảnh sát, biệt kích, các cơ quan đàn áp, bộ máy hành chính của địch gần căn cứ và vùng giải phóng. Đồng thời phải nắm chắc đặc điểm của từng đối tượng địch, nhất là số chỉ huy, ác ôn, có nhiều nợ máu với cách mạng. Đồng thời, phải nắm được tình hình hoạt động của các đối tượng chính trị, hình sự trong địa bàn bảo vệ và khu vực xung quanh căn cứ và dọc hành lang bảo vệ.


Trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể tập trung nắm tình hình, biến động bất thường trong nội bộ. Đặc biệt là những cán bộ ở những khâu công tác trọng yếu, tiếp cận lãnh đạo, mới đến công tác. Nắm rõ lý lịch, quá trình công tác, quan hệ xã hội, tư tưởng chính trị và cá tính của họ.


Khi các đồng chí lãnh đạo đi công tác, cần có kế hoạch bảo vệ chu đáo trên đường đi, nơi ăn nghỉ, làm việc và những vấn để khác liên quan đến công tác bảo vệ, kể cả các phương án xử lý tình huống đột xuất, bất ngờ nhất.


Trong công tác bảo vệ căn cứ, do tầm quan trọng đặc biệt của căn cứ địa cách mạng nên kẻ địch dùng mọi âm mưu, phương thức thủ đoạn tinh vi, thâm độc xảo quyệt để chống phá, dùng mọi lực lượng để đánh phá quyết liệt. Một trong những thủ đoạn kẻ địch thường sử dụng là dùng do thám, gián điệp, chỉ điểm, biệt kích xâm nhập vùng căn cứ để nắm tình hình vị trí, địa điểm căn cứ của ta, tìm hiểu lực lượng và cách bố phòng của ta, nắm tình hình về các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và địa điểm nơi làm việc, sinh hoạt hàng ngày. Từ đó địch có kế hoạch, phương án sử dụng lực lượng thích hợp để tấn công, tập kích, đánh phá căn cứ, tiêu diệt lực lượng ta hoặc chỉ điểm cho máy bay địch oanh tạc hoặc ám sát, bắt cóc, sát hạỉ các đồng chí lãnh đạo.


Vì vậy, nhiệm vụ của lực lượng An ninh vũ trang là phải bảo vệ bí mật căn cứ, chống các hoạt động do thám, gián điệp, biệt kích của địch, nắm chắc tình hình hoạt động của địch, bảo vệ nội bộ các cơ quan Đảng, đoàn thể đóng trong căn cứ, ngăn ngừa không để kẻ địch xâm nhập và có biện pháp đấu tranh với địch có hiệu quả.


Về công tác bảo vệ căn cứ, lực lượng An ninh vũ trang phải thông qua công tác nắm tình hình để lựa chọn những địa bàn có tình hình an ninh chính trị tốt, đảm bảo yêu cầu bí mật, nhưng tiến lui thuận tiện, thông tin nhanh chóng, hậu cần đảm bảo. Quy định bảo mật phải cụ thể hóa thành nội quy công tác và sinh hoạt. Các cơ quan Đảng, chính quyền đoàn thể nằm trong căn cứ đều phải quán triệt nội quy, quy chế hoạt động để đảm bảo bí mật và sẵn sàng chống địch tập kích, đánh phá, càn quét.


Đối với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng ỏ Trung ương cục và các khu, lực lượng An ninh vũ trang đếu bố trí lực lượng bảo vệ tiếp cận và đều có phương án bảo vệ khi cần thiết.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #34 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:30:38 am »

Về công tác chống địch thu thập tin tức về căn cứ, lực lượng An ninh vũ trang xác định hành lang bảo vệ rồi lập các trạm kiểm soát, dựng các chòi canh, bố trí lực lượng cảnh giới để kịp thời phát hiện người lạ xâm nhập khu căn cứ bằng đường không, đường bộ, đường thủy. Đồng thời, thường xuyên tổ chức các đội tuần tra để phát hiện những dấu hiệu nghi vấn. Trong khu vực căn cứ, lực lượng An ninh vũ trang phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đoàn thể làm tốt công tác bảo vệ nội bộ, làm trong sạch địa bàn. Cùng với các đội du kích, bảo vệ cơ quan, lực lượng An ninh vũ trang xây dựng các phương án tác chiến, củng cố hệ thống hầm hào chiến đấu, chống các hoạt động do thám, chiêu hồi, chiêu hàng, chiến tranh tâm lý của địch; đồng thời phát động quần chúng nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đẩy mạnh phong trào "phòng gian, bảo mật" trong căn cứ và vùng lân cận.


Để tăng cường công tác nắm tình hình địch, lực lượng An ninh vũ trang phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với các lực lượng nghiệp vụ khác như chấp pháp, trại giam, thông qua công tác xét hỏi đối tượng địch bị ta bắt giữ để nắm tình hình địch và tình hình ta; đồng thời qua đó sử dụng người của địch đánh vào hàng ngũ địch để nắm tình hình địch phục vụ cho công tác bảo vệ.


Trong quá trình bảo vệ vùng giải phóng, công tác nắm tình hình địch càng hết sức cán thiết để kịp thời đấu tranh với âm mưu và hoạt động của địch hòng "giành đất, gỉành dân", phá chính quyền ta. Từ sau phong trào Đồng khởi 1960, vùng giải phóng hình thành và dần được mở rộng ở nông thôn, đồng bằng và miền núi, tạo điều kiện cho ta về nhân lực, vật lực và thế chủ động tấn công tiêu diệt địch.


Vì thế, địch liên tục mở các chiến dịch quân sự, càn quét đánh chiếm hòng "giành đất, giành dân" với ta, các chiến dịch này kéo dài kể cả sau khi Hiệp định Pari năm 1973 được ký kết. Chúng tung nhiều toán gián điệp, biệt kích, thám báo, chi điểm vào vùng giải phóng để nắm tình hình lực lượng, bố phòng, tiềm lực quân sự để đánh chiếm, càn quét, lập lại chính quyền địch.


Để chiến thắng địch trong cuộc đấu tranh này, lực lượng An ninh vũ trang đã cùng với quần chúng nhân dân và các lực lượng khác tập trung nắm tình hình địch bằng nhiều hình thức, phát động nhân dân "phòng gian, bảo mật", củng cố chính quyền, tổ chức canh gác, kiểm soát người qua lại giữa hai vùng, cùng các lực lượng quân đội, dân quân du kích xây dựng kế hoạch sẵn sàng đánh địch khi địch lấn chiếm, bảo vệ chính quyền ta và tính mạng, tài sản của dân.


Do nắm chắc tình hình địch và có sự chuẩn bị các phương án phối hợp đánh địch trong mọi tình huống, lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ vùng giải phóng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Công tác nắm tình hình địch giúp cho lực lượng An ninh vũ trang chủ động đề ra chủ trương, phương án và kế hoạch bảo vệ thích hợp, chặt chẽ để đấu tranh ngăn chặn kịp thời với mọi âm mưu, hoạt động của địch.


Công tác điều tra nắm tình hình của lực lượng An ninh vũ trang phải được tiến hành một cách khoa học, tỉ mỉ, khách quan, toàn diện và chính xác, công tác này tiến hành bằng biện pháp công khai, bí mật và bằng các biện pháp nghiệp vụ khác. Chỉ trên cơ sở làm tốt công tác nắm tình hình mới nhận định đúng đối tượng đấu tranh trong từng giai đoạn cách mạng, điều tra nắm tình hình đúng, chính xác sẽ là cơ sở khoa học phục vụ nghiên cứu xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ và bố trí lực lượng, phương tiện kỹ thuật, biện pháp bảo vệ an toàn.


Những công tác trên có mối quan hệ mật thiết với nhau. Có nắm tình hình tốt mới đánh giá đúng đối tượng để xây dựng kế hoạch đúng sát, có kế hoạch tổ chức tốt và đấu tranh có hiệu quả cao.

Trong thực tế từ cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đến thời kỳ xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, do nắm vững âm mưu ý đồ của Pháp, Mỹ và các thế lực phản động từ bên ngoài, Đảng đã xác định rõ đối tượng đấu tranh chính để đề ra chủ trương đường lối, chính sách, phương pháp đấu tranh thích hợp, linh hoạt và sáng tạo. Nhờ đó mà cách mạng nước ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để từng bước tiến lên, giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và giành thắng lợi hoàn toàn.


Nắm chắc tình hình địch và xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ ta là hai mặt công tác có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ tác động lẫn nhau. Thực tiễn trong công tác An ninh vũ trang cho thấy: Khi đã nắm được đầy đủ thông tin về tình hình địch, tình hình khu vực, địa bàn bảo vệ là những cơ sở khoa học để xây dựng phương án bảo vệ và áp dụng các biện pháp bảo vệ phù hợp với từng mục tiêu, địa bàn, đối tượng bảo vệ. Trong công tác An ninh vũ trang, đối tượng bảo vệ là cơ quan và các đồng chí lãnh đạo các cấp ủy Đảng các cơ quan trọng yếu của Trung ương, khu ủy, tỉnh ủy. Mục đích cao nhất của công tác bảo vệ là phải đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các đối tượng bảo vệ trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, đặc biệt là các phương án bảo vệ trong những tình huống phức tạp có thể xảy ra. Kế hoạch và phương án bảo vệ phải được cấp trên phê duyệt để đáp ứng yêu cầu và tình hình bảo vệ cụ thể.


Để bảo vệ tuyệt đối an toàn cho các mục tiêu, lực lượng An ninh vũ trang đã làm tốt công tác nắm tình hình, xây dựng kế hoạch, phương án bảo vệ, phối hợp với nhiều lực lượng và sử dụng các biện pháp nghiệp vụ công an nói chung và nghiệp vụ bảo vệ nói riêng để phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác bảo vệ.


Sự phối hợp hiệp đồng trong công tác An ninh vũ trang là sự phối hợp giữa các lực lượng tham gia bảo vệ các cấp, các ngành, chính quyền địa phương, từ Trung ương tới cơ sở. Đây là mối quan hệ mật thiết, khăng khít, cùng bổ sung hỗ trợ cho nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp "phòng ngừa, ngăn chặn từ trước, từ xa", bịt kín mọi sơ hở, thiếu sót trong công tác bảo vệ. Bên cạnh sự phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp, với lực lượng An ninh các đơn vị, địa phương, với lực lượng Quân đội nhân dân rất quan trọng.


Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, để bảo vệ tuyệt đối an toàn căn cứ địa, các cơ quan đầu não và lãnh đạo Trung ương cục và các khu, tỉnh, cán bộ chiến sĩ An ninh vũ trang đã thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các đơn vị quân giải phóng miền Nam, quần chúng nhân dân và lực lượng dân quân tự vệ, chiến đấu dũng cảm chống địch càn quét, chống bọn biệt kích, thám báo, bảo vệ căn cứ địa và vùng giải phóng. Đoàn 180 An ninh vũ trang đã chủ động phối hợp với các đơn vị bộ đội chủ lực, dân quân du kích, tự vệ cơ quan và nhân dân tổ chức chặn đánh nhiều đợt tấn công, càn quét của địch vào căn cứ.


Trong trận càn Junction City mùa khô năm 1967 của địch, do nắm chắc tình hình và có biện pháp bảo vệ thích hợp, lực lượng An ninh vũ trang đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Trong trận càn này, địch tập trung 45.000 quân và hàng ngàn xe tăng, xe bọc thép, sử dụng cả máy bay B52, trọng pháo yểm trợ tấn công vào khu căn cứ. Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Trung ương cục, Đoàn 180 đã chủ động đưa các đồng chí lãnh đạo đến căn cứ dự phòng và phối hợp với Sư đoàn 9 quân giải phóng, du kích, tự vệ địa phương chiến đấu, đập tan cuộc hành quân của địch. Với chiến công này nhiều cán bộ chiến sĩ đoàn 180 đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ, dùng sĩ diệt xe cơ giới. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn, thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, rạng sáng ngày 23-3- 1975, cán bộ chiến sĩ Đoàn 180 đã phối hợp với bộ đội địa phương tấn công tiêu diệt chỉ khu quân sự Mỏ Công (Tây Ninh), giải phóng 10.000 dân và làm chủ 10 km trục lộ 22 dài 10 km.


Vừa bảo vệ, vừa tham gia chiến đấu đập tan các cuộc hành quân càn quét của địch với tỉnh thần quả cảm, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, cán bộ chiến sĩ Đoàn 180 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã tham gia 400 trận đánh, tiêu diệt và làm bị thương 4.700 tên địch, bắn rơi gần 30 máy bay lên thẳng, 1 máy bay AD 6, bắn cháy và phá hủy gần 80 xe tăng xe bọc thép và nhiều xe quân sự khác, thu hơn 2.300 khẩu súng các loại cùng 15 tấn đạn dược, 70 máy vô tuyến điện và nhiều đồ dùng quân sự của địch.


Để chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động phá hoại, bắt cóc sát hại với các đối tượng bảo vệ, lực lượng An ninh vũ trang đã sử dụng nhiều biện pháp của ngành Công an như: biện pháp phát động quần chúng, biện pháp trinh sát đặc tình, biện pháp điều tra xét hỏi, biện pháp khoa học kỹ thuật, biện pháp vũ trang và các biện pháp bảo vệ chuyên ngành như vũ trang chiến đấu chống địch càn quét đào hầm trú ẩn tránh pháo kích máy bay địch oanh tạc, bảo vệ tiếp cận các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các đoàn khách quốc tế... Mỗi biện pháp nghiệp vụ có vị trí, tác dụng khác nhau nhưng có mối quan hệ thống nhất, hỗ trợ, bổ sung cho nhau, trong đó biện pháp phát động quần chúng là biện pháp cơ bản chiến lược, là cơ sở để phát huy tác dụng các biện pháp khác.


Trong quá trình sử dụng các biện pháp công tác, lực lượng An ninh vũ trang đã vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể, có sự phối hợp các biện pháp đó với nhau để phát huy tác dụng tổng hợp của các biện pháp trong công tác đánh địch. Trong việc phối hợp các lực lượng và biện pháp đấu tranh phải khắc phục tình trạng chổng chéo, cục bộ làm ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác.


Trải qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng An ninh vũ trang luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu công tác điều tra nắm tình hình địch, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, giữ gìn bí mật, xây dựng và thực hiện các phương án, kế hoạch bảo vệ thích hợp. Đây là bài học quý rút ra từ những thành công to lớn của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #35 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:31:38 am »

Bài học kinh nghiệm thứ năm

QUAN HỆ HỢP TÁC VÀ PHỐI HỢP CHẶT CHẼ VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG VÀ NHÂN DÂN LÀO, CAMPUCHIA ĐỂ HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ ĐƯỢC GIAO


Ngay sau khi có Hiệp định Giơnevơ, tháng 7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng ta đã xác định rõ: Mỹ đang trở thành kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam, Campuchia và Lào.

Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ không chỉ âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, mà còn là một căn cứ quân sự để đàn áp phong trào yêu nước và cách mạng trong khu vực, chống phá sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản và sự lớn mạnh của các nước XHCN khác. Mỹ đã áp dụng chiến lược toàn cầu phản cách mạng vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mỹ đã cấu kết chặt chẽ, sử dụng lực lượng của nước đồng minh và các căn cứ quân sự trong khu vưc Đông Nam Á để chống phá cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia.


Trước tình hình đó, Trung ương Đảng ta xác định rõ: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta mang tính thời đại rất sâu sắc; sự ủng hộ của các nước XHCN giữ vai trò quan trọng và sự phối hợp chiến đấu trên chiến trường ba nước Việt Nam - Campuchia - Lào rất cần thiết. Trên cơ sở quan điểm tư tưởng đó, Trung ương Đảng và các cấp, các ngành, các lực lượng quán triệt trong công tác cụ thể.


Quan hệ Việt Nam - Lào - Campuchia có truyền thống tốt đẹp trong quá trình đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc. Trước yêu cầu phải đấu tranh với một kẻ thù chung, chiến đấu trên một chiến trường chung, vì một lý tường chung, sự ra đời của Đảng cộng sản Đông Dương năm 1930 là một tất yếu lịch sử. Đây là thể hiện sâu sắc nhất nhu cầu giải phóng dân tộc của nhân dân ba nước, là thể hiện cao nhất về yêu cầu đoàn kết, hợp tác gắn bó trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho mỗi dân tộc, là sự thể hiện cao nhất về liên minh chiến đấu của ba dân tộc anh em. Thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ cũng trở thành thắng lợi chung của nhân ba nước trên bán đảo Đông Dương. Đó là nền tảng vững chắc cho liên minh chiến đấu của nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và chính quyền tay tay sai thân Mỹ.


Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng và dựa trên nền tảng quan hệ truyền thống lâu đời của nhân dân ba nước trên bán đáo Đông Dương, lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam đã tăng cường hợp tác chiến đấu cùng nhân dân, cách mạng Lào và Campuchia chống đế quốc Mỹ xâm lược. Lực lượng An ninh Miền nam nói chung và lực lượng An ninh vũ trang miền Nam nói riêng cũng đã quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về sự phối hợp chiến đấu cùng nhân dân cách mạng Campuchia và Lào chống kẻ thù chung.


Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu công tác, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã không ngừng tăng cường quan hệ hợp tác chiến đấu cùng nhân dân và lực lượng vũ trang bạn; đặc biệt ở khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia, Việt Nam - Lào.


Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác an ninh vũ trang phối hợp, hợp tác với bạn chủ yếu trên các mặt nắm tình hình địch; xây dựng căn cứ địa; củng cố chính quyền và phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh trật tự; chống do thám gián điệp của địch; bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, căn cứ và vùng giải phóng; chống các hoạt động đánh phá của địch dưới mọi hình thức. Đó là sự phối hợp, hợp tác vì sự phát triển của cách mạng nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia.


Về phối hợp trong công tác nắm tình hình địch, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam không chỉ nắm tình địch trong nước mà còn phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia và Lào nắm tình hình địch trên đất bạn, nhất là khu vực lân cận, khu vực biên giới hai nước. Đặc biệt, các đơn vị An ninh vũ trang thuộc Trung ương cục, các đơn vị vũ trang từ khu VI trở vào đã tăng cường công tác nắm tình hình địch trên đất Campuchia; chú trọng khu vực biên giới giữa hai nước. Mục tiêu công tác nắm tình hình ở khu vực biên giới nhằm xây dựng căn cứ địa của Trung ương cục dự bị và các khu, khi cần thiết có thể rút sang nước bạn; đồng thời tạo điều kiện cho căn cứ cách mạng Campuchia thêm vững chắc, có thể rút sang bên ta khi cần thiết. Do căn cứ cách mạng hai nước dựa vào nhau, tạo được sự liên thông nên công tác nắm tình hình địch hỗ trợ cho nhau rất nhiều; công tác đấu tranh chống địch thu thập tin tức, càn quét, đột kích, tập kích đạt kết quả cao.


Từ năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam, Hoàng thân Norodom Shihanuk công khai chống Mỹ và tạo điều kiện cho miền Bắc Việt Nam mượn đường chi viện cho cách mạng miền Nam thi sự phối hợp trong công tác nắm tình hình địch càng thuận lợi và ngày càng đi vào chiều sâu. Nội dung công tác nắm tình hình địch tập trung vào vấn đề tổ chức, bố phòng lực lượng quân sự địch; bộ máy do thám gián điệp và âm mưu, phương thức hoạt động của chúng; tình hình và hoạt động của số đối tượng phản cách mạng mà địch dễ lợi dụng; những kế hoạch của địch đánh phá căn cứ, vùng giải phóng của ta. Trên cơ sở đó, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam có phương án bảo vệ an toàn cho các đồng chí lãnh đạo, căn cứ và vùng giải phóng.


Do sự phối hợp trong công tác nắm tình hình tốt nên trong nhiều tình huống phức tạp, lực lượng An ninh miền Nam có biện pháp đối phó tích cực, chủ động. Để đối phó với nhiều trận càn quét lớn của địch, lực lượng An ninh vũ trang đã chủ động đưa các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục và Mặt trận sang đất Campuchia ở những địa điểm đã được chuẩn bị từ trước, đảm bảo tuyệt đối an toàn.


Về công tác xây dựng căn cứ, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã cùng bạn khảo sát địa hình, địa vật, tình hình địch, tình hình nhân dân khu vực biên giới để xác định những khu vực an toàn, những địa điểm xây dựng căn cứ cho Trung ương cục, các khu, tỉnh, huyện giáp biên giới hai nước. Những địa điểm thuận lợi cho công tác xây dựng căn cứ dọc biên giới tạo điều kiện cho căn cứ hai nước dựa vào nhau, hỗ trợ cho nhau trong công tác bảo vệ, đánh địch hoặc di chuyển khi cần thiết.


Trong điều kiện lúc bấy giờ, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam phải chủ động trong công tác xây dựng căn cứ cho cách mạng hai nước; bạn tạo điều kiện thuận lợi cho ta trong công tác khảo sát địa bàn, xây dựng cơ sở vật chất, bố phòng và các phương án phối hợp, hỗ trợ, đánh địch khi cần thiết. Trong thời gian căn cứ Trung ương cục và các ngành phải rút sang Campuchia, sự phối hợp, giúp đồ của các chiến sĩ cách mạng và nhân dân Campuchia đà tạo thuận lợi cho công tác bảo vệ rất nhiều; đảm bảo an toàn tuyệt đối cho cơ quan đầu não kháng chiến của ta.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #36 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:32:15 am »

Về phối hợp trong công tác phát động quần chúng, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã cùng lực lượng yêu nước Campuchia và Lào vận động quần chúng nhân dân khu vực biên giới nêu cao tinh thần cảnh giác, chống mọi hoạt động phản tuyên truyền, chia rẽ, xuyên tạc, vu khống của địch, tham gia bảo vệ tích cực an ninh trật tự vùng giải phóng, ở các khu vực căn cứ của hai nước, nội dung phát động quần chúng gắn liền với công tác "phòng gian, bảo mật", nắm tình hình địch, giữ gìn an ninh trật tự, giáo dục những đối tượng mà địch dễ lợi dụng, cùng lực lượng vũ trang bảo vệ căn cứ, chống địch tập kích, đánh phá. Dọc đường mòn Hồ Chí Minh có đoạn bên ta, có đoạn bên bạn, công tác vận động quần chúng là tăng cường "bảo mật, phòng gian", ngụy trang kho tàng, đường vận chuyển của ta, cùng lực lượng vũ trang bảo vệ lực lượng và phương tiện chi viện vào chiến trường miền Nam. Lực lượng yêu nước cùng nhân dân hai nước Campuchia và Lào đã phối hợp củng lực lượng An ninh vũ trang các khu, tỉnh, huyện giáp biên giới bảo vệ chính quyền ta, chống các hoạt động thu thập tin tức tình báo của địch. Nhiều đồng bào người dân tộc đã phát huy tinh thần sáng tạo trong sản xuất vũ khí phục vụ công tác chiến đấu; nhiều làng bản dân tộc đã cung cấp lương thực và giúp đỡ lực lượng vũ trang ta. Trong những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt như sau Tổng tấn công và nổi dậy Mậu thán 1968, nhân dân Campuchia và Lào đã giúp đỡ, che chở nhiều đơn vị, cán bộ ta thuộc Khu 5, Khu 6, Khu 7 ẩn náu trên đất bạn.


Về công tác chống hoạt động do thám, gián điệp, biệt kích của địch, lực lượng cách mạng hai nước luôn xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên ở khu vực biên giới. Chống do thám, gián điệp của địch nhằm bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo căn cứ, lực lượng vũ trang bảo vệ. Lực lượng An ninh vũ trang đã phối hợp với lực lượng vũ ừang cách mạng của bạn phát động phong ừào quần chúng "phòng gian, bảo mật", giáo dục quần chúng nêu cao tinh thần cảnh giác, cách phát hiện những đối tượng lạ xâm nhập vào căn cứ. Ở vòng ngoài căn cứ, lập các trạm kiểm tra, canh gác; kiểm soát chặt sự đi lại trên các ngả đường vào căn cứ; phát giấy thông hành cho nhân dân hai nước sinh sống trong khu vực căn cứ. Những hiện tượng bất thường, sự xuất hiện của những đối tượng nghi vấn được quần chúng báo cho chính quyền và lực lượng vũ trang ta. Những đối tượng do thám địch bị phát hiện, lực lượng vũ trang hai nước phối hợp khai thác, giam giữ và xử lý.


Thực tế cho thấy: Sự phối hợp của lực lượng An ninh vũ trang với bạn trong công tác chống do thám đã hạn chế được nhiều hoạt động của địch thu thập tin tức, tình hình căn cứ và nội bộ ta hạn chế được hoạt động đánh phá của địch vào cơ quan đầu não Trung ương cục, các khu, tỉnh, huyện giáp biên giới.


Về công tác bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, căn cứ và vùng giải phóng, lực lượng An ninh vũ trang đã phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng bạn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ bên trong. Trong công tác bảo vệ các đồng chí lãnh đạo cốt cán, phối hợp trong công tác bảo vệ thường xuyên, trên đường đi công tác hoặc khi bị địch đánh phá, phải di chuyển đến địa điểm mới. Trong công tác bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng là sự phối hợp trong công tác chống do thám, gián điệp địch thu thập tin tức; chống các hoạt động đánh phá, càn quét, lấn chiếm của địch.


Khi địch mở các cuộc càn quét đánh phá vào căn cứ, vùng giải phóng ác liệt, lực lượng An ninh vũ trang đã phối hợp với lực lượng cách mạng bạn bảo vệ từ xa, có phương án chủ động di chuyển đến địa điểm mới an toàn; hoặc chuyên căn cứ của ta sang đất bạn, hoặc chuyển căn cứ của bạn sang đất ta.


Về công tác chống địch đánh phá, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam làm nòng cốt trong công tác chống địch càn quét, đánh chiếm; lực lượng vũ trang bạn luôn hỗ trợ công tác vận chuyển và dẫn đường trên đất bạn. Mỗi khi có tình huống bất thường, các lực lượng ta và bạn đều cùng nhau thực hiện nhiệm vụ đánh địch, bảo vệ căn cứ. Trong chiến dịch hai gọng kìm của địch đánh vào căn cứ Trung ương cục, lực lượng An ninh vũ trang niền Nam cùng lực lượng vũ trang bạn vừa đánh tiêu hao sinh lực địch, vừa bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục và Mặt trận. Khi Shihanouk bị lật đổ, chính phủ Lonnol lộ mặt làm tay sai cho Mỹ, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã giúp cách mạng Campuchia xây dựng căn cứ cách mạng ở khu vực giáp biên, chống địch càn quét, đánh phá. Riêng chống địch đánh phá vùng giải phóng thuộc khu vực biên giới, hai lực lượng cùng chiến đấu, hỗ trợ cho nhau, bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo cấp Trung ương, khu, tỉnh, huyện.


Sự phối hợp giữa lực lượng An ninh vũ trang miền Nam và lực lượng cách mạng hai nước Campuchia và Lào đã tạo ra sức mạnh của lực lượng cách mạng ở khu vực biên giới, bảo vệ an toàn các căn cứ của cách mạng mỗi nước, vùng giải phóng của ta và bảo vệ sự chi viện của miền Bắc cho cách mạng miền Nam.


Quan hệ hợp tác quốc tế giữa cách mạng ba nước nói chung, trên lĩnh vực an ninh nói riêng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã thể hiện sâu sắc tình đoàn kết truyền thống trong đấu tranh chống kẻ thù chung, vì lợi ích chung của nhân dân ba nước, góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân ba nước.


Sau năm 1975, sự phối hợp lực lượng vũ trang nói chung và trên lĩnh vực an ninh vũ trang nói riêng vẫn được duy trì và phát triển. Cuộc đấu tranh chống quân Polpot xâm lược ở khu vực biên giới Tây Nam và giải phóng Campuchia là kết quả của tình đoàn kết chiến đấu trong sáng chống kẻ thù chung, vì hòa bình, độc lập, phồn vinh của nhân dân mỗi dân tộc.


Thực tiễn công tác an ninh vũ trang ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định rõ: Trong cuộc chiến đấu với kẻ thù xâm lược, địch luôn sử dụng mọi âm mưu, phương thức thủ đoạn hoạt động rất tinh vi, xảo quyệt và vô cùng nham hiểm để tiêu diệt lực lượng vũ trang ta, tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, tiêu diệt phong trào yêu nước cách mạng của nhân dân ta. Để đối phó với âm mưu và hoạt động của địch, cách mạng phải sử dụng lực lượng vũ trang cách mạng gồm lực lượng quân đội và An ninh vũ trang. Lực lượng quân sự chính quy (quán giải phóng) trực tiếp đương đầu với quân chủ lực của địch, tấn công đẩy lùi địch trên chiến trường; lực lượng An ninh vũ trang chống các hoạt động do thám, gián điệp, biệt kích của địch, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, căn cứ và vùng giải phóng; phối hợp với quân giải phóng tổ chức chống càn, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.


Quá trình hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ đã để lại cho hôm nay nhiều bài học quý về công tác bảo vệ ta và đánh địch trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Nhiều biện pháp nghiệp vụ trong chiến tranh vẫn là những bài học có giá trị trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm; đấu tranh với các thế lực phản cách mạng và tội phạm khủng bố hiện nay.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #37 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:33:15 am »

LỜI KẾT


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhân dân Việt Nam phải đối đầu với một cường quốc hùng mạnh, "tên sen đầm quốc tế" có sức mạnh vượt trội hơn ta gấp nhiều lần về cả tiềm lực kinh tê và khoa học kỹ thuật quân sự, an ninh, có âm mưu và kinh nghiệm chiến tranh xâm lược hết sức thâm độc. Nhưng, nhân dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng, quyết tâm đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương cục miền Nam và Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã không ngừng củng cố về tổ chức và lực lượng thực hiện thành công biện pháp vũ trang trong công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ lãnh đạo, bảo vệ căn cứ và vùng giải phóng theo chức năng, nhiệm vụ được phân công.


Thực tiễn công tác an ninh vũ trang của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khẳng định 9 vấn đề sau:

1. Trong cuộc đấu tranh địch - ta rất quyết liệt, vấn đề bảo vệ an toàn cơ quan đầu não kháng chiến, căn cứ và vùng giải phóng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, phải được đặt ra thưòng xuyên, cẩn trọng, chu đáo và mang tính quyết định sự thành bại của cách mạng.

2. Công tác bảo vệ lực lượng kháng chiến trong chiến tranh tất yêu phải sử dụng lực lượng vũ trang và biện pháp vũ trang; và chỉ có lực lượng vũ trang và biện pháp vũ trang mới có thể đánh bại hoạt động vũ trang của địch; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, thám độc của kẻ thù.

3. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ chính của lực lượng An ninh vũ trang trong kháng chiến là bảo vệ căn cứ, lãnh đạo, vùng giải phóng bằng biện pháp vũ trang; đánh địch bằng biện pháp vũ trang cũng nhằm mục tiêu bảo vệ căn cứ, lãnh đạo, vùng giải phóng.

4. Công tác an ninh vũ trang bao gồm xây dựng tổ chức bộ máy vũ trang mang tính cách mạng, đội ngũ cán bộ chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng, được trang bị những vũ khí cần thiết phục vụ công tác bảo vệ, phải có tổ chức chặt chẽ, có kế hoạch bảo vệ lực lượng ta và đánh địch bằng biện pháp vũ trang trong mọi tình huống.

5. Lực lượng An ninh vũ trang phải đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, thường xuyên, trực tiếp của các cấp ủy Đảng, có sự phối hợp chặt chẽ với các lực lượng vũ trang khác như quân giải phóng, du kích, quân sự địa phương và các tổ chức quần chúng ở cơ sở, nhất là trên khu vực địa bàn đóng quân.

6. Công tác an ninh vũ trang không thể tách rời sự ủng hộ, giúp đỡ của quần chúng nhân dân, phải dựa vào sức mạnh chính trị của quần chúng, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí cách mạng của quần chúng nhân dân, dựa vào dân để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

7. Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã đóng vai trò xứng đáng và có những đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần tô thắm thêm truyền thống Công an nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp hảo vệ an ninh Tổ quốc.

8. Thắng lợi của công tác An ninh vũ trang miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bắt nguồn từ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về quan điểm xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng; biết dựa vào dân; phối hợp chặt chẽ với lực lượng Quân đội nhân dân và các lực lượng khác; chủ động đánh địch, tích cực bảo vệ mình; xây dựng lực lượng chính quy, trong sạch và được trang bị vũ khí, phương tiện chiến đấu ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ.

9. Công tác an ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam đã để lại cho hôm nay nhiêu bài học kinh nghiệm quý về công tác vũ trang đánh địch, bảo vệ mình. Đó là những bài học về xây dựng lực lượng An ninh vũ trang vững về chính trị, phát huy được vai trò của quần chúng nhân dân, có những trang bị vũ trang cần thiết, nắm chắc tình hình địch, hợp tác quốc tế chặt chẽ với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Lào, Campuchia.


Sau Đại thắng mùa xuân năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất, cùng đi lên CNXH. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam chuyên một bộ phận sang Bộ Quốc phòng, thành Bộ đội biên phòng; một bộ phận ở lại Bộ Công an sáp nhập vào Cục Cảnh vệ, tiếp tục công tác bảo vệ lãnh tụ và các mục tiêu trọng yếu của Đảng và Nhà nước. Dù ở cương vị nào, các chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam năm xưa cũng đều phát huy tốt truyền thống anh hùng, trung thành với Đảng, dũng cảm trước địch, vì nước quên thân, vì dân phục vụ.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #38 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:35:23 am »

PHẦN THỨ BA
MỘT SỐ TƯ LIỆU LỊCH SỬ


I- MỘT SỐ VĂN BẢN VỀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG, TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM, NHÀ NƯỚC, BỘ CÔNG AN, BAN AN NINH TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM VỀ CÔNG TÁC AN NINH VŨ TRANG Ở MIỀN NAM

1. NGHỊ QUYẾT CỦA HỘI NGHI BAN CHẤP HÀNH TRƯNG ƯƠNG LẦN THỨ VI MỞ RỘNG (Họp từ ngày 15 đến ngày 17-7-1954)

Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chúng đang ráo riết xúc tiến việc thành lập khối xâm lược Đông Nam Á, dùng Đông Dương làm bàn đạp để mở rộng chiến tranh xâm lược. Chúng cố giữ tình hình quốc tế căng thẳng để lợi dụng bán vũ khí kiếm lời, ráo riết chuẩn bị chiến tranh, uy hiếp hòa bình thế giới. Vì vậy đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân Đông Dương. [...].


Hội nghị quyết định về phương châm sách lược đấu tranh của ta trong giai đoạn mới là chĩa mũi nhọn đấu tranh vào đế quốc Mỹ và hiếu chiến Pháp, dựa trên cơ sở những thắng lợi đã đạt được mà phấn đấu để thực hỉện hòa bỉnh ở Đông Dương, phá tan âm mưu của đế quốc Mỹ kéo dài và mở rộng chiến tranh Đông Dương củng cố hòa bình và thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn quốc. [...].


Nhiệm vụ và công tác trước mắt của toàn Đảng và toàn dân ta là:

1. Tranh thủ và củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc.

2. Tăng cường lực lượng quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yêu cầu của tình hình mới.

3. Tiếp tục thực hiện người cày có ruộng, ra sức phục hồi sản xuất, chuẩn bị điều kiện kiến thiết nước nhà.

(Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng)


2. CHỈ THỊ CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

Về tình hình mới và nhiệm vụ công tác mới của miền Nam (Ngày 6 tháng 9 nảm 1954)

Kẻ thù cụ thể trước mắt ta: đế quốc Mỹ, hiếu chiến Pháp và tay sai của chúng (cụ thể là chính phủ Ngô Đình Diệm). [...].

Nhiệm vụ chung của miền Nam là: củng cố hòa bình đòi tự do dân chủ và cải thiện dân sinh, tiến tới thực hiện thống nhất và hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc. [...]. Nhiệm vụ trước mắt của miền Nam Có ba loại:

1. Thi hành triệt để Hiệp định ngừng chiến (tập kết Quàn đội, rút quân ra Bắc, v.v...). Đấu tranh đòi Pháp phải thi hành đúng Hiệp định (đòi thả hết tù binh, tù chính trị và thường dân bị bắt; chống tuyển mộ thêm Ngụy binh; chống đàn áp, bắt bớ những người kháng chiến; chống phá hoại cơ sở của ta, w...). Cần dựa vào những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ và những điểu thỏa thuận ở Trung Giã mà đấu tranh với Pháp và lôi kéo dư luận.

2. Chuyển hướng công tác thích hợp với điều kiện hòa bình: học tập nhiệm vụ, phương châm, chính sách mới của Trung ương; sắp xếp cán bộ, bố trí lực lượng; đảm bảo vừa che giấu được lực lượng vừa lợi dụng những khả năng thuận lợi mới mà hoạt động để thực hiện chủ trương chính sách và khẩu hiệu mới của Đảng.

3. Đoàn kết rộng rãi, tập hợp mọi lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình, đấu tranh để đánh đổ chính phủ Ngô Đình Diệm thân Mỹ, vận động lập nên một chính phủ:

- Không thân Mỹ, phản đối khối xâm lược Đông Nam Á của Mỹ

- Tán thành đình chiến và hòa bình

- Thừa nhận quyền tự do dân chủ của nhân dân. Tán thành thống nhất bằng Tổng tuyển cử

- Cải thiện dân sinh

- Tán thành thương lượng với chính phủ ta.

Trong 6 điều trên đây, 4 điều trên là cần thiết nhất. [...].

1. Tổ chức và lãnh đạo của các Đảng bộ ở miền Nam

- Tổ chức Đảng phải bí mật. Dù có khả năng để một bộ phận công khai cũng phải lấy bộ phận bí mật làm chính. Song phải cho tranh thủ cho Đảng có địa vị công khai, hợp pháp.

- Tổ chức Đảng cần trong sạch, nghiêm mật, vững mạnh tuyệt đối không để cho bọn gian tế, bọn hợp tác với Pháp, bọn tay sai của Mỹ, bọn bóc lột chui vào.

- Những chi bộ xí nghiệp và nông thôn đều được chú ý.

- Các cơ quan lãnh đạo phải vững chắc, gọn gàng, bí mật.

- Bỏ Cục Trung ương miền Nam, thành lập Xứ ủy Nam Bộ và các Khu ủy.

- Ở Liên khu V, giữ Khu ủy và thành lập ba Liên tỉnh ủy.

- Thừa Thiên, Quảng Trị (bộ phận Pháp tạm đóng quân) tạm thời giao cho Khu ủy V phụ trách; nhưng sau này giao thông liên lạc trở lại bình thường thì sẽ giao cho Khu ủy V trực tiếp lãnh đạo.

Trung ương sẽ thành lập một bộ phận giúp Trung ương chỉ đạo miền Nam, bộ phận này do một đồng chí trong Bộ Chính Trị phụ trách.

(Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng)
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #39 vào lúc: 14 Tháng Chín, 2023, 08:36:35 am »

3. NGHỊ QUYẾT CỦA BỘ CHÍNH TRỊ
Về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng
   (Ngày 7 thảng 9 năm 1954)

Ngày nay đã đình chiến nhưng hòa bình chưa được củng cố, đất nước ta vẫn còn tạm thời phân chia làm hai vùng, miền Nam giới tuyến quân sự Pháp vẫn còn tạm đóng quân, chính quyền vẫn còn do bọn Bảo Đại nắm giữ. Vì vậy nhiệm vụ của Đảng ở miền Nam trong giai đoạn hiện tại là: lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ (tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do đi lại, v.v...) cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập. Đồng thời phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống những hành động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách mạng, chống những hành động tiến công của địch, Ngụy, giữ lấy quyền lợi quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến nhất là ở những vùng căn cứ địa và vùng du kích của ta.

   
(Tài liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng)


4. NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG LẦN THỨ 15 (mở rộng)

Về tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà (Họp từ ngày 12 đến 22 tháng 1 năm 1959)

II. Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam ở miền Nam:

1. Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi cách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dán chủ, giàu mạnh.

2. Nhiệm vụ trưòc mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giớỉ.

3. Phương hướng phát triển của cách mạng ở miền Nam Cách mạng Việt Nam ở miền Nam nói chung không thể đi ra ngoài quy luật chung của cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa từ trước tới nay cho nên con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở Việt Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tinh thần cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thi con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân. Đó là mục tiêu phấn đấu của toàn dân miền Nam hiện nay.

(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập20, Nxb Chính trị quốc gia, HN,2002, tr 57, 92)


5. NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ III CỦA ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ NHIÊM VỤ VÀ ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
   (Ngày 10 tháng 9 năm 1960)

Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược:

Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

Hai nhiệm vụ chiến lược ấy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau.

- Nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam hiện nay là: tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới.

- Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là: đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Đình Diệm tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới.

(Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002, tr 913)
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM