Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Sáu, 2024, 09:38:24 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết lịch sử công tác An ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam  (Đọc 2582 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #20 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2023, 08:20:51 am »

Ngày 1-8-1970, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Vỉệt Nam ra Nghị định số 112/CP về nhiệm vụ và tổ chức bộ máy Nha An ninh thuộc Bộ Nội vụ; đồng chí Huỳnh Việt Thắng, Ủy viên Ban An ninh Trung ương cục được cử làm Giám đốc, đồng chí Hồ Văn Đại, Ủy viên Ban An ninh Trung ương cục được cử làm Phó Giám đốc Nha An ninh. Nha An ninh có 3 nhiệm vụ chính, trong đó có nhiệm vụ xây dựng hệ thống tổ chức an ninh các cấp, bồi dưỡng nghiệp vụ và đào tạo cán bộ an ninh. Bộ máy Nha An ninh gồm có: Cục Bảo vệ trật tự, an ninh; Cục Bảo vệ Cơ quan và Cảnh vệ; Cục An ninh nhân dân vũ trang; Văn phòng Nha An ninh. Việc thành lập Nha An ninh miền Nam trực thuộc Bộ Nội vụ của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đánh dấu sự phát triển của cách mạng miền Nam. Tuy nhiên, Nha An ninh vẫn do Ban An ninh Trung ương cục trực tiếp chỉ đạo, điều hành.


Tuy bị thất bại nặng nề trong những cuộc hành quân, đánh chiếm, nhưng địch vẫn tăng cường mở các cuộc hành quân càn quét đánh vào căn cứ của ta diễn ra với cường độ ngày càng tăng. Để bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lãnh đạo Trung ương cục, Tiểu đoàn 2 (Đoàn 180) rút một số cán bộ, chiến sĩ để thành lập thêm một khung tiểu đoàn mới gồm 3 đại đội. Tháng 9-1971, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam thành lập Ban Bảo vệ Đảng gồm Trung đoàn 180 làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài căn cứ, lực lượng Cảnh vệ (B24) bảo vệ trong căn cứ.


Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, trong năm 1971, các đơn vị thuộc Ban bảo vệ Đảng đã tổ chức thực hiện 1.658 lần tuần tra bảo vệ; tổ chức 96 lần phục kích đánh địch xâm nhập; xây dựng 8 đài quan sát, 45 trận địa, 395 hầm nghỉ, hầm làm việc và hệ thống giao thông hào chiến đấu. Các đơn vị trực thuộc còn tổ chức đánh 8 trận, tiêu diệt trên 100 tên địch. Trung đoàn 180 tham gia vận chuyển hàng nghìn tấn phương tiện phục vụ công tác và chiến đấu. Lực lượng Cảnh vệ bảo vệ an toàn cho 5 hội nghị lớn của Trung ương cục và triển khai 16 lần bảo vệ các đồng chí lãnh đạo đi công tác đường dài an toàn.


Ban bảo vệ Đảng đã phát động "phong trào phòng gian bảo mật" trong khu vực căn cứ địa; cùng các ban, ngành xây dựng nội quy bảo vệ cơ quan, đơn vị an toàn; tăng cường công tác điều tra canh gác bảo vệ mục tiêu, cửa khẩu; xây dựng thế trận bảo vệ căn cứ; kiếm tra bổ sung các phương án bảo vệ và bảo vệ nghiêm mật các hoạt động và sinh hoạt trong căn cứ.


Ngày 18-1-1972, Ban An ninh Trung ương cục ra Chỉ thị số 08/CTAN-CV về những vấn đề cơ bản trong công tác xây dựng lực lượng cảnh vệ, cận vệ. Chỉ thị xác định rõ nhiệm vụ của lực lượng cảnh vệ, cận vệ là: bảo vệ tiếp cận, bảo vệ địa điểm, bảo vệ an toàn tuyệt đối cho cán bộ lãnh đạo, các cơ quan Đảng, chính phủ, mặt trận các cấp, những tài liệu tuyệt mật, tài sản quan trọng của Đảng mà mục tiêu số một là cấp ủy Đảng. Về đối tượng chiến đấu của lực lượng cảnh vệ, cận vệ là: "đối tượng chung của ngành", chủ yếu là lực lượng bí mật của địch; đồng thời phảỉ chiến đấu với quân đội và lực lượng vũ trang của các loại tình báo, gián điệp địch.


Trong điều kiện căn cứ thường xuyên phải di chuyển, yêu cầu bảo vệ tuyệt đối an toàn cơ quan Thường vụ Trung ương cục và các cơ quan ban, ngành của Đảng đặt ra ngày càng cấp thiết. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương cục, lực lượng An ninh vũ trang đã bảo vệ an toàn nhiều lần di chuyển căn cứ. Cuối năm 1960, bảo vệ việc di chuyển căn cứ từ Mã Đà về khu rừng Tràng Riệc (huyện Tân Biên, Tây Ninh). Cuối năm 1968, bảo vệ an toàn việc di chuyển căn cứ từ Tràng Riệc về Trảng Dầu, Xa Mát (Tây Ninh). Cuối năm 1969, bảo vệ di chuyển căn cứ về Đập Đá, Trảng Tầm Phô (gần Xa Mát). Tháng 6-1970, bảo vệ công tác di chuyển căn cứ từ Trảng Tà Đạt (Tân Phú) về Rừng Com Prơ (huyện Đầm Be, tỉnh Công Pông Chàm, Campuchia). Từ năm 1973, bảo vệ việc di chuyển căn cứ về Trảng Bảy Bàu (xã Tân Lập, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh).


Đối với lực lượng An ninh miền Nam, Bộ Công an thường xuyên quan tâm chỉ đạo về nghiệp vụ và chi viện lực lượng, vũ khí từ miền Bắc vào. Từ năm 1960, Trung ương Đảng giao Đảng đoàn Bộ Công an và trực tiếp là Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang nghiên cứu, đề xuất về tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam và trực tiếp chỉ đạo công tác chi viện cho An ninh vũ trang miền Nam. Ngày 26-3-1961, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang xây dựng Kế hoạch số 35/NC về công tác chuẩn bị chi viện cho An ninh vũ trang miền Nam. Từ năm 1964 đến năm 1968, ngoài các lực lượng Công an khác chi viện cho An ninh vũ trang miền Nam, riêng Công an nhân dân vũ trang miền Bắc đã chi viện 5 đợt, tổng số 1.052 đồng chí"1 (Cụ thể: năm 1964, chi viện 224 đồng chí; năm 1965, chi viện 381 đồng chí; năm 1966, chi viện 68 đồng chí; năm 1967, chi viện 6 đồng chí; năm 1968, chi viện 373 đồng chí).


Trong những năm 1969-1972, lực lượng An ninh vũ trang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu công tác trên ba vùng chiến lược. Do vậy, Đảng đoàn Bộ Công an đã chỉ đạo tăng cường chi viện thêm 3.410 đồng chí cho lực lượng An ninh miền Nam. Trước đó, chi viện cho lực lượng An ninh vũ trang Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế 850 đồng chí (Quảng Trị 400, Thừa Thiên - Huế 450); An ninh vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn 350 đồng chí; An ninh vũ trang Kon Tum 50 đồng chí; An ninh vũ trang 12 tỉnh thuộc Khu 5 và Khu 6 là 1.200 đồng chí2 (Kế hoạch số 13/BTL, ngày 7-4-1972, lưu trữ tại Bộ Tư lệnh Biên phòng).


Thắng lợi của cách mạng miền Nam trên ba vùng chiến lược và thắng lợi của quân dân miền Bắc trong "trận Điện Biên Phủ trên không" tháng 12-1972 đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Cách mạng miền Nam nói chung và lực lượng An ninh vũ trang miền Nam nói riêng chuyển sang giai đoạn mới - Giai đoạn đánh cho ngụy nhào".


Trong những năm 1965-1973, lực lượng An ninh vũ trang cùng quân và dân miền Nam trải qua những năm tháng cực kỳ gay go, gian khổ, ác liệt để đối phó với hai chiến lược "chiến tranh cục bộ", "Việt Nam hóa chiến tranh" của địch. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của chiến trường miền Nam.


Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy Đảng, trực tiếp là Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam với truyền thống kiên cường, bất khuất, bền bỉ chịu đựng mọi gian khổ, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu quyết tâm bám đất, bám dân, tổ chức đánh địch, bảo vệ an toàn các cơ quan đầu não, bảo vệ và giữ được dân vùng căn cứ, giải phóng và xây dựng nhiều căn cứ dự phòng trực thuộc các khu ủy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Quá trình công tác và chiến đấu cũng là quá trình lực lượng An ninh vũ trang miền Nam vừa đánh địch vừa xây dựng, củng cố lực lượng, từ những đội vũ trang nhỏ lẻ đã hình thành các tiểu đội ở cấp xã, trung đội ở cấp huyện, đại đội ở cấp tỉnh, tiểu đoàn ở cấp khu, trung đoàn ở cấp miền và đã trở thành lực lượng vũ trang mạnh, có trình độ nghiệp vụ sắc bén, là nòng cốt trong công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào cách mạng ở miền Nam.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #21 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:25:05 am »

IV- GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1975

Hiệp định Paris được ký kết (1-1973) đã mở ra một thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam. Tuy ký Hiệp định, nhưng Mỹ vẫn tiếp tục âm mưu duy trì chế độ thực dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta và tiếp tục thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", dùng người Việt đánh người Việt.


Trước khi ký Hiệp định, Mỹ tranh thủ thời gian củng cố lại chính quyền Sài Gòn và lực lượng quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Chúng đã cài 600 tên CIA trong các tôn giáo, đảng phái chính trị phản động, gần 700 tên trong học sinh, sinh viên, khống chế sử dụng hàng trăm cán bộ, bộ đội ta làm nội gián. Mặt khác, Mỹ đã ồ ạt viện trợ cho chính quyền Sài Gòn 700 máy bay các loại, 500 khẩu pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và rất nhiều tàu chiến, tăng dự trữ vật tư chiến tranh lên gần 2 triệu tấn cùng với những viện trợ khác trị giá 750 triệu đôla. Năm 1973, Mỹ tiếp tục viện trợ cho chính quyền Sài Gòn 90 máy bay, 100 khẩu pháo và một khối lượng lớn phương tiện chiến tranh. Ngoài ra, Mỹ còn duy trì một lực lượng quân sự lớn ở Đông Nam Á như để hạm đội 7 ở Biển Đông, duy trì căn cứ quân sự ở Thái Lan để uy hiếp phong trào cách mạng trong khu vực.


Để tiếp tục chỉ huy và điều hành cuộc chiến tranh, Mỹ đổi tên Bộ chỉ huy Viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) thành Tùy viên Quốc phòng (DAO), các cố vấn quân sự Mỹ đều khoác áo dân sự do sứ quán Mỹ điều khiển. Tổ chức và nhân viên tình báo CIA hoạt động dưới danh nghĩa trợ lý đặc biệt của đại sứ; các chi nhánh CIA ở 4 vùng chiến thuật Đà Nẵng, Nha Trang, Biên Hòa, Cần Thơ vẫn được duy trì, trực tiếp chỉ huy các cơ quan tình báo, cảnh sát đặc biệt, an ninh quân đội.
   

Theo Hiệp định, Mỹ chỉ để lại 50 tùy viên quân sự, 195 lính thủy đánh bộ canh gác sứ quán, lãnh sự quán, 150 nhân viên tham gia tìm kiếm hài cốt và người mất tích. Nhưng thực tế, Mỹ để lại 24.000 người dưới danh nghĩa cố vấn kinh tế, quân sự, hành chính hoạt động trong các cơ quan đầu não của chính quyền, quân đội, cảnh sát, tình báo, gián điệp. Cuối tháng 3 năm 1973, quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu rút hết về nước. Ngày 29-3-1973, Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ ở Sài Gòn làm lễ cuốn cờ; tướng Uâyen Tổng chỉ huy và Bộ tham mưu Quân viễn chinh Mỹ cùng 2.051 lính Mỹ cuối cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam. Ngày 30-3-1973, Mỹ cử Graham Matin làm Đại sứ tại Sài Gòn.


Nhận được viện trợ của Mỹ, chính quyền Sài Gòn tiếp tục hiện đại hóa quân đội trong 6 năm (1974-1979) để trở thành một đội quân mạnh nhất của Mỹ. Chính vì vậy, Hiệp định ký chưa ráo mực, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tuyên bố "không có hòa hợp", "chỉ có tiêu diệt Cộng sản" và "trả lời bằng súng". Địch tiếp tục thực hiện "kế hoạch bình định ba năm 1973-1975" nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng, xóa bỏ tình trạng hai chính quyền, hai quân đội và ba lực lượng.


Để thực hiện âm mưu đó, chính quyền Sài Gòn đã ráo riết đôn quân, bắt lính. Đến cuối năm 1973, đã có 710.000 quân chính quy, 130.000 cảnh sát đặc biệt, 1.500.000 bảo an, dân vệ ở cơ sở. Chúng sử dụng lực lượng này lấn chiếm vùng giải phóng, tăng cường hoạt động do thám gián điệp, đẩy mạnh chiến tranh tâm lý, vu cáo lực lượng cách mạng vi phạm Hiệp định, gây tâm lý hoài nghi Hiệp định, tiếp tục mở các cuộc hành quân bình định nông thôn, đàn áp phong trào cách mạng của quần chúng.


Để xóa "thế da báo", địch mở các chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ", đưa 60% quân chủ lực vào các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng. Ngay trong đêm 27-1-1973, địch đánh chiếm cảng Cửa Việt (Quảng Trị). Trong tháng 2 và tháng 3, đánh chiếm cảng Sa Huỳnh và một số vùng giải phóng dọc đường 1, đường 14, 19, 21 (Tây Nguyên), tam giác Bình Thuận, đường 20 (Nam Trung Bộ), đường 1, 13, 22 (Đông Nam Bộ), Nam Bắc đường 4 (Trung Nam Bộ), Chương Thiện, Bảy Núi (Tây Nam Bộ) và khu vực vành đai Sài Gòn. Trong năm 1973, địch mở 325.255 cuộc hành quân càn quét, chiếm lại hầu hết các vùng ta mới giải phóng và một số vùng giải phóng từ trước, ở khu Đông Nam Bộ, địch đã mở rộng vùng lấn chiếm, nhất là các vùng ven thị xã, thị trấn và các trục đường giao thông quan trọng.


Trong vùng địch, chính quyền Sài Gòn ra lệnh giải tán 26 đảng phái và các tổ chức chính trị không ăn cánh; ra lệnh bắn bỏ những người kêu gọi nhân dân biểu tình, gây mất trật tự, tuyên truyền chủ nghĩa Cộng sản; bắt giam những người trung lập, những người đòi thi hành Hiệp định và những binh sĩ đảo ngũ...


Trước tình hình âm mưu và hoạt động mới của địch, ngày 28-1-1973, Ban chấp hành Trung ương Đảng và chính phủ ta ra lời kêu gọi quân dân cả nước "tăng cường đoàn kết, luôn luôn đề cao cảnh giác, củng cố những thắng lợi đã giành được, giữ vững hòa bình lâu dài, hoàn thành độc lập dân chủ ở miền Nam, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2004, tr 13). Ngay trong tháng 1-1973, Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về dự kiến tình hình và xác định nhiệm vụ của lực lượng vũ trang trong việc đối phó với các cuộc tiến công của địch.


Cũng trong thời gian này, Bộ Chính trị gửi nghị quyết cho Trung ương cục và các khu ủy ở miền Nam, xác định rõ: Không thể có ảo tưởng địch sẽ thi hành Hiệp định một cách nghiêm chỉnh vì kẻ địch rất lo ngại trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Nhiệm vụ của ta lúc này phải phát huy thắng lợi đã giành được, tăng cường thực lực về mọi mặt, tranh thủ thuận lợi mới để đưa cách mạng tiến lên, sẵn sàng giáng trả đích đáng những gây hấn của địch. Ngay trong tháng 1-1973, Trung ương cục miền Nam đã quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng đến các ban, ngành, đoàn thể, các khu, quân khu. Tư tưởng chỉ đạo chính là đề cao cảnh giác cách mạng, chống tư tưởng hòa bình, nghỉ ngơi, lợi dụng tình hình mới để củng cố tổ chức và lực lượng, sẵn sàng đối phó với hoạt động của địch phá hoại Hiệp định. Trong tháng 2-1973, Thường vụ Khu ủy miền Tây Nam Bộ và nhiều khu ủy khác đã họp quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng và nhận định âm mưu cơ bản của địch về bình định, lấn chiếm, phá hoại Hiệp định; đồng thời xác định nhiệm vụ của ta lúc này là kiên quyết đánh trả địch, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh chính trị, tăng cường công tác binh vận, giữ vững thành quả cách mạng, đưa phong trào tiếp tục tiến lên.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #22 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:25:52 am »

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng, tháng 1-1973, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam ra quyết định thành lập Tiểu ban Cảnh vệ và Bảo vệ nội bộ gồm Đoàn I An ninh vũ trang và các đơn vị làm công tác bảo vệ nội bộ cơ quan; tách Đoàn 180 ra khỏi tiểu ban, đưa về trực thuộc Ban An ninh Trung ương cục miền Nam. Sau khi xem xét lại vấn đề tổ chức của các đơn vị, tháng 9-1973, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam quyết định: tách bộ phận Bảo vệ Nội bộ cơ quan ra khỏi Tiểu ban Bảo vệ Nội bộ, đưa Bộ phận Bảo vệ Nội bộ về trực thuộc Ban An ninh Trung ương cục miền Nam. Đồng thời nhập Đoàn I (gồm Tiểu đoàn I và các đội cảnh vệ trực thuộc) và Đoàn 180 thành Tiểu ban An ninh vũ trang, do đồng chí Mười Thạnh (Uỷ viên Ban An ninh Trung ương cục miền Nam) làm Trưởng Tiểu ban1 (Đến tháng 9-1974, đồng chí Tám Lê Thanh thay đồng chí Mười Thạnh); các đồng chí Sáu Tùng, Sáu Huấn làm Phó trưởng Tiểu ban.


Tiểu ban có hệ thống tổ chức xuống các khu, tỉnh, làm nhiệm vụ giữ gìn trị an, bảo vệ khu căn cứ, vùng giải phóng. Cùng với việc kiện toàn tổ chức, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam còn sắp xếp bổ sung một số cán bộ lãnh đạo cho một số tiểu ban. Đồng chí Bùi Thiện Ngộ (Phó Văn phòng), đồng chí Ngoo Quang Hớn (Phó trưởng Ban An ninh khu 9), đồng chí Nguyễn Duy Hạc được cử làm Phó Tiểu ban Bảo vệ Chính trị; đồng chí Nguyễn Tân (Hai Tân) được cử làm Phó Văn phòng, phụ trách nghiên cứu tổng hợp; đồng chí Ba Bên từ Long Châu Hà được điều động về làm Phó Tiểu ban An ninh vũ trang. Đầu năm 1974, Thường vụ Trung ương cục điểu động đồng chí Lê Thanh Vân từ Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam sang làm Ủy viên Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, phụ trách Tiểu ban An ninh vũ trang. Cũng trong thời gian này, thực hiện Nghị quyết liên tịch của Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Quân ủy Miền, Ban Liên lạc và đại diện 2 tỉnh Tây Ninh, Bình Phước họp bàn về tăng cường công tác giữ gìn an ninh trật tự ở khu căn cứ và vùng giải phóng. Ban An ninh Trung ương cục miền Nam thành lập Ban Căn cứ, do đồng chí Nguyễn An Khương phụ trách. Tiếp đó, Tiểu ban Bảo vệ Chính trị, Tiểu ban An ninh vũ trang từng bước được kiện toàn để bảo vệ an ninh trật tự khu căn cứ, vùng giải phóng ở Tây Ninh và Bình Phước.


Như vậy, đến năm 1973, tổ chức bảo vệ lực lượng Cảnh vệ miền Nam đã đi vào ổn định về tổ chức và lực lượng, đảm bảo cho công tác bảo vệ an toàn tuyệt đối cho các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục và căn cứ kháng chiến.


Thực hiện chủ trương về công tác bảo vệ nội bộ, lực lượng An ninh vũ trang các tỉnh miền Tây Nam Bộ đã tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục cho cán bộ chiến sĩ và nhân dân tinh thần cảnh giác, ý thức cách mạng, kiên trì đấu tranh chống địch do thám, càn quét, lấn chiếm. Tại khu vực Long Mỹ, sau khi ta bẻ gãy cuộc hành quân lấn chiếm của sư đoàn 21, địch tổ chức phản kích nhằm giành lại địa bàn quan trọng này. Ngày 28-1-1973, lực lượng An ninh vũ trang phối hợp với Trung đoàn 10 An ninh vũ trang đánh địch ở Đông Nam và Tây Bắc Long Mỹ, diệt 170 tên, bảo vệ an toàn sở chỉ huy Quân khu và các đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Khu ủy, Lê Đức Anh, Tư lệnh Quân khu.


Tại khu 5, sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, địch dồn lực lượng xuống cơ sở, thực hiện kế hoạch "tràn ngập lãnh thổ" hòng giành đất, giành dân, mở rộng vùng kiểm soát. Để chủ động bảo vệ lực lượng kháng chiến, lực lượng An ninh khu và các tỉnh tiến hành củng cố lực lượng và tăng cường công tác nghiệp vụ. Ở cơ sở, đẩy mạnh công tác lập hồ sơ chính trị xã, xác định địa bàn phản gián, tiến hành công tác sưu tra ở những nơi có điều kiện, đẩy mạnh công tác nắm tình hình. Tháng 5-1973, dưới sự chỉ đạo của Khu ủy, lực lượng An ninh vũ trang đã đánh hàng chục trận vào khu vực Xuân Sơn, Suối Tre, Củng Sơn (Phú Yên), tiêu diệt nhiều thám báo, biệt kích địch, làm rã chính quyền địch. Giữa năm 1973, một tổ An ninh vũ trang gồm 4 đồng chí được lệnh đánh cứ điểm Xuân Sơn, diệt số biệt kích ở đây. Sau 20 phút chiến đấu, phần lớn bọn biệt kích bị tiêu diệt, số còn lại phải tháo chạy khỏi căn cứ. Trận đánh đã khai thông cửa khẩu Xuân Sơn, nối liền đường hành lang từ khu căn cứ đến các huyện trong tỉnh Phú Yên.


Ở khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia, dưới sự chỉ đạo của Trung ương cục và Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, các đơn vị An ninh vũ trang khẩn trương tổ chức lực lượng, bảo vệ biên giới. Ngày 27-1-1973, hai đồn biên phòng Xa Mát và Lò Gò được thành lập và triển khai làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia. Đây là hai đồn biên phòng đầu tiên được thành lập tại vùng mới giải phóng trên biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc tỉnh Tây Ninh.


Trước sự phát triển của cách mạng miền Nam và chuẩn bị cho Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng, ngày 3-4-1973 một số đồng chí lãnh đạo các chiến trường từ Nam Bộ đến khu 5 và Trị - Thiên được triệu tập về Hà Nội để xác định phương hướng công tác. Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng họp tại Hà Nội (từ ngày 19-6 đến 6-7-1973) khẳng định: Mỹ tiếp tục dính líu quân sự vào miền Nam Việt Nam, dùng chính quyền Sài Gòn làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Ở miền Nam vẫn chưa có ngừng bắn, chưa có hòa bình thực sự. Vì vậy, nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới là phải: Tập trung mũi nhọn vào đế quốc Mỹ và tập đoàn thống trị tư sản mại bản, quan liêu quân phiệt, phát xít tay sai đắc lực của Mỹ; đẩy lùi và thắng địch từng bước, đi đến xóa bỏ chính quyền tay sai, xóa bỏ chế độ thực dân mới; thiết lập một chính quyền dân tộc dân chủ thực sự; tiến tới thống nhất nước nhà.


Quán triệt Nghị quyết 21 của Trung ương, tháng 9-1973, Trung ương cục miền Nam tổ chức Hội nghị lần thứ 12 xác định nhiệm vụ, phương hướng công tác trong giai đoạn mới. Hội nghị đã thông qua các đề án quản lý nông thôn, thu hồi đô thị, xây dựng vùng giải phóng và vùng căn cứ địa cách mạng, công tác quân sự, tư tưởng và tổ chức.


Đầu tháng 10, Trung ương cục miền Nam triệu tập Hội nghị Quán chính toàn Miền để quán triệt chủ trương các hội nghị vào chiến dịch mùa khô 1973-1974. Tư tưởng chiến lược của toàn miền lúc này là: Bạo lực cách mạng miền Nam dựa trên lực lượng chính trị và lực lượng quân sự, thực hiện bằng hình thức đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị.


Đầu năm 1974, Ban An ninh Trung ương cục, Quân ủy miền Nam ra nghị quyết về việc tăng cường giữ gìn an ninh, trật tự vùng căn cứ và vùng giải phóng. Từ ngày 2 đến ngày 16-4-1974, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam tổ chức Hội nghị An ninh toàn miền Nam lần 2 để tổng kết công tác và đề ra nhiệm vụ của lực lượng An ninh trong giai đoạn mới.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #23 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:26:30 am »

Được sự chỉ đạo từ bên ngoài và sẵn có những vũ khí hiện đại, chính quyền Sài Gòn tiếp tục phá hoại Hiệp định, mở nhiều cuộc hàng quân càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng, tiếp tục tìm diệt cơ quan đầu não kháng chiến. Trước tình hình mới, yêu cầu vũ trang bảo vệ càng phải được củng cố, kiên quyết đánh địch để bảo vệ Đảng, chính quyền ta và nhân dân vùng giải phóng. Ngày 26-4-1974, lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ bờ biển Kiên Giang tiến công ba tàu thuộc Đội Hải Thuyền và Giang Cảnh của địch, bảo vệ đường vận chuyển của ta trên tuyến biển. Tháng 5- 1974, thông qua công tác nắm tình hình, được quần chúng nhân dân cung cấp tin tức ở xã Hiệp Hòa, Tân Biên, Tây Ninh có tổ chức phản động người Việt và người Khơme hoạt động. Được sự chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương cục, cán bộ Đoàn 180 tập trung xác minh làm rõ tổ chức phản động mang tên "Đầu trắng", do CIA chỉ huy. Chúng đã đưa người vào chính quyền địa phương, lập ra đội du kích, gây ra nhiều vụ giết người, cướp của, cướp tài liệu, phương tiện, tiền bạc của các cán bộ và nhân dân vùng biên giới. Được sự chỉ đạo của cấp trên, ngày 13-5-1974, C1, C3, C4, B5 Đoàn 180 An ninh vũ trang dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Văn Bên, Đặng Văn Thu, Nguyễn Văn Đũa đã bí mật bắt gọn 5 tên chỉ huy và 56 tên khác, thu 2 máy vô tuyến điện, 21 khẩu súng và một số tài liệu quan trọng.


Từ 30-9 đến 8-10-1974, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp, quyết định mở cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam. Bộ Chính trị nêu ra nhiệm vụ chính trước mắt của nhân dân cả nước ta là: Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, đưa chiến tranh cách mạng phát triển đến mức cao nhất, tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ quân địch, đánh chiếm Sài Gòn, sào huyệt trung tâm của địch cũng như tất cả các thành thị khác, đánh đổ ngụy quyền ở trung ương và các cấp, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà. Hội nghị quyết định giải phóng miền Nam trong hai năm 1975-1976.


Trong các trận Phước Long và các chiến dịch Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, lực lượng An ninh vũ trang khu 5 và Khu 6 đã cùng lực lượng quân sự và nhân dân đồng loạt nổi dậy đồng loạt tấn công, tạo lên khí thế cách mạng dồn dập trên mọi chiến trường.


Ngày 17-2-1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên bàn kế hoạch đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Từ ngày 1 đến ngày 10 tháng 3, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc ở Tây Nguyên triển khai lực lượng, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột. Trong trận đánh này, lực lượng An ninh đã góp phần đảm bảo bí mật đến giờ phút nổ súng, đồng thời bố trí cán bộ bám sát các mục tiêu trọng điểm, tập trung xây dựng cơ sở, đẩy mạnh hoạt động nội tuyến. Được ông Phạm Văn Ngọc (Tám Ngọc) cung cấp cho ta bản đồ thị xã, giúp ta xác định hệ thống bố phòng, những mục tiêu quan trọng của địch trong thị xã giúp cho Bộ Chỉ huy mặt trận bổ sung phương án tấn công địch.


Chuẩn bị cho trận đánh, một đội công tác của Ban An ninh do đồng chí Y Ny, Y Ngoan, Lê Tiến Tiếu phụ trách đã bí mật vào thị xã, phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm. Ngày 10-3, quản ta từ bốn hướng bất ngờ đánh thẳng vào thị xã Buôn Ma Thuột. Lực lượng An ninh vũ trang dẫn đường cho các mũi tấn công quân sự; tiến đánh những mục tiêu là cơ quan đàn áp và nhà tù của địch. Chỉ trong thời gian ngắn ta đã chiếm lĩnh hoàn toàn các cơ quan tình báo CIA, ty cảnh sát, nhà giam, và nhiều đồn cảnh sát của địch, đập tan bộ máy chính quyền địch.


Sau 5 ngày chiến đấu, các lực lượng An ninh cùng toàn quân, toàn dân Đắc Lắc tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng địch, bắt sống hai tên Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tiểu khu trưởng Đắc Lắc và Vũ Thế Quang, Sư đoàn phó Sư đoàn 23, giải phóng hoàn toàn thị xã Buôn Ma Thuột.


Chiến thắng của ta ở Buôn Ma Thuột làm cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn bị động, phải rút toàn bộ quân ở Kon Tum và Pleiku về đồng bằng. Ngày 17-3, đồng chí Võ Chí Công, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Khu ủy 5, Chính ủy Quân khu 5 đã vào thị xã Kon Tum và Pleiku kiểm tra tình hình, chỉ đạo cấp ủy ở địa phương và lực lượng vũ trang truy quét địch, ổn định an ninh trật tự, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng.


Từ đầu tháng 3-1975, phối hợp với chiến trường Tây Nguyên, các lực lượng vũ trang và nhân dân Trị Thiên - Huế, khu 5 đẩy mạnh công tác nắm tình hình, tấn công tiêu diệt địch, chuẩn bị tiến lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa.


Bị ta tiến công trên nhiều hướng, đêm 18-3-1975, địch rút bỏ Quảng Trị chạy về Huế và Đà Nẵng. Chớp thời cơ, quân ta nhanh chóng chuyên sang tiến công truy kích địch. Chiều 19-3, Quảng Trị hoàn toàn giải phóng, ở Thừa Thiên - Huế, các đơn vị chủ lực, an ninh và bộ đội địa phương tiến xuống vùng giáp ranh và đồng bằng, tạo thế uy hiếp thành phố Huế.


Ngày 20-3, Bộ Chính trị chỉ thị cho Quân khu Trị Thiên - Huế tập trung hỏa lực đánh địch, chia cắt lực lượng địch, phát động chiến tranh nhân dân và bao vây thành phố Huế. Ở Huế, lực lượng An ninh đi trước một bước, đưa cán bộ chiến sĩ vào nội đô phát triển cơ sở, nắm tình hình, theo dõi biến động của địch, nhất là sở cảnh sát, tình báo, bọn phản động nguy hiểm, tích cực vận động quần chúng đấu tranh diệt ác, phá kiềm giành quyền làm chủ, mở đường cho quân chủ lực về giải phóng thành phố. Đêm 24- 3, các lực lượng vũ trang ta từ các hướng Bắc, Tây, Nam đồng loạt đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố. Ngày 25-3, quân ta giải phóng thành phố Huế, bắt giữ gần 10.000 tù binh, trong đó có nhiều sĩ quan cảnh sát, tình báo, an ninh quân đội địch.


Trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, tàn binh địch từ các mặt trận phía Bắc và phía Nam dồn về Đà Nẵng, tình hình hết sức hỗn loạn, nhưng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn kêu gọi "tử thủ Đà Nẵng bằng mọi giá".


Tình hình Bắc miền Trung có lợi cho ta, Trung ương Đảng và Bộ Chỉ huy chiến dịch chỉ thị tập trung lực lượng từ Trị Thiên - Huế đánh vào và từ Quảng Ngãi đánh ra, nhanh chóng tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thành phố Đà Nẵng. An ninh vũ trang Quảng Đà đã điều 181 cán bộ chiến sĩ lên đường vào Đà Nẵng; đồng chí Hoàng Văn Lai, Trưởng Ban An ninh trực tiếp chỉ huy lực lượng An ninh Quảng Đà tham gia tấn công địch. Ba đại đội An ninh vũ trang C110, C111, C114 làm nhiệm vụ bảo vệ Tỉnh ủy, chính quyền cách mạng, phối hợp với lực lượng Trinh sát vũ trang truy quét tàn binh địch, giữ gìn trật tự thành phố.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #24 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:27:13 am »

Trước sự áp đảo của lực lượng cách mạng, ngày 28-3, tướng Ngô Quang Trưởng, tỉnh trưởng Đà Nẵng chạy về Sài Gòn. Tranh thủ thời cơ, các lực lượng An ninh áp sát mục tiêu, tiến công chiếm lĩnh những cơ quan trọng yếu và 21 điểm của cảnh sát ngụy, giải phóng Đà Nẵng ngày 29-3-1975.


Đến cuối tháng 3-1975, quân địch đã mất sức chiến đấu, chính quyền Sài Gòn bị lung lay đến tận gốc, nguy cơ thất bại đã rõ ràng. Hội nghị Trung ương cục miền Nam lần thứ 15 (ngày 29-3-1975), xác định rõ nhiệm vụ trực tiếp khẩn cấp của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân miền Nam là: vùng lên tổng công kích, tổng khởi nghĩa, đánh sập chính quyền địch, giành chính quyền về tay nhân dân.


Trước tình hình hết sức khẩn trương, ngày 31-3-1975, Bộ Chính trị nhận định: Thời cơ giải phóng Sài Gòn đã chín muồi; ngày 3-4-1975, Bộ Chính trị ra quyết định thành lập Bộ Tư lệnh và Đảng ủy mặt trận; ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị quyết định đặt tên chiến dịch Tổng công kích giải phóng Sài Gòn - Gia Định là Chiến dịch Hồ Chí Minh.


Nhận được sự chỉ đạo của Đảng, lực lượng An ninh vũ trang tham gia vào cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh thẳng vào trung tâm sào huyệt của chính quyền Sài Gòn.


Thực hiện phương châm "An ninh đi trước một bước", lực lượng An ninh các khu, tỉnh, thành phố đã nhanh chóng triển khai lực lượng nắm tình hình địch, chủ động tấn công, mở đường cho quân giải phóng đánh chiếm các thành phố, thị xã các mục tiêu quan trọng của địch. Cùng với công tác tấn công địch, lực lượng An ninh vũ trang vẫn chú trọng các mặt công tác bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng. Nhiều khu, tỉnh đã tăng cường công tác bảo mật phòng gian, đẩy mạnh công tác tuần tra, bảo vệ các mục tiêu trọng điểm.


Chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng thành phố Sài Gòn - Gia Định, từ tháng 3-1975, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam và Đặc khu Sài Gòn - Gia Định đã điều động 1.500 cán bộ chiến sĩ an ninh và khoảng 1.000 cơ sở hoạt động tại nội thành sẵn sàng làm nhiệm vụ phối hợp với lực lượng quân sự và quần chúng tấn công địch, chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công, bảo vệ hồ sơ tài liệu địch để lại, ổn định an ninh trật tự và sinh hoạt của nhân dân.


Theo sự phân công của Trung ương, đồng chí Cao Đăng Chiếm được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban Quân quản, phụ trách công tác an ninh nội chính. Tiểu ban An ninh Nội chính được thành lập do đồng chí Nguyễn Hoàng làm Trưởng Tiểu ban, các đồng chí Bùi Thiện Ngộ, Ngô Quang Nghĩa, Cao Đức Hoàn, Phan Văn Huấn được cử làm Phó Tiểu ban. Từ ngày 12-4-1975, Ban An ninh Trung ương cục và Tiểu ban An ninh Nội chính đã tổ chức nhiều cuộc họp về kế hoạch chiếm lĩnh cơ quan địch và công tác quản lý vùng giải phóng.


Phục vụ cho chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia Định, Ban An ninh Trung ương cục chia làm 2 bộ phận: Bộ phận ở lại bảo vệ căn cứ do đồng chí Lâm Văn Thê, Phó trưởng Ban An ninh Trung ương cục miền Nam phụ trách; Bộ phận tiền phương gồm cán bộ, chiến sĩ An ninh do đồng chí Cao Đăng Chiếm, Phó trưởng Ban An ninh trực tiếp chỉ đạo.


Để tạo điều kiện cho các lực lượng ở Trung ương cục tiến về giải phóng Sài Gòn - Gia Định, 4 giờ 20 phút sáng ngày 23-3-1975, Tiểu đoàn 2 Đoàn 180 An ninh vũ trang do đồng chí Đặng Văn Thu (Tiểu đoàn trưởng) chỉ huy cùng lực lượng D2 Trinh sát vũ trang của Tiểu đoàn Bảo vệ Chính trị và lực lượng quân sự Tân Biên do đồng chí Nguyễn Văn Ngữ, đồng chí Nguyễn Văn Đũa (Phó Huyện đội) nổ súng chiếm vị trí đầu cầu, rồi đánh chiếm vị trí trung tâm. Được sự chi viện kịp thời của đội cối 82 ly và 60 ly, ta đã đánh chiếm toàn bộ Chi khu quân sự Mỏ Công; diệt 26 tên địch, bắt sống 38 tên, thu 1 trọng liên 12 ly 7, 1 cối 81 ly, 2 cối 60 ly, 3 đại liên, 120 súng các loại, 15 máy PRC25, 5 tấn đạn và nhiều hồ sơ tài liệu quan trọng; giải phóng hơn 10.000 dân; làm chủ đoạn đường 22 dàỉ hơn 10 km. Trong trận đánh này, hàng chục chiến sĩ An ninh vũ trang đã anh dũng hy sinh; đồng chí Phạm Thành Lượng mặc dù đã bị thương đến 4 lần vẫn dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng1 (Tháng 9-1976, đồng chí Phạm Thành Lượng được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân).


Ngày 26-4-1975, được lệnh của Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Tiểu đoàn 2 và Trung đoàn 180 An ninh vũ trang chia làm 3 mũi tiến về Sài Gòn. Mũi của Đại đội 2 (C2) do đồng chí Chín Hùng và Năm Đũa chỉ huy gặp Sư đoàn 25 ngụy đóng ở Đồng Dù (Củ Chi) đã chiến đấu ác liệt; diệt 30 tên, chọc thủng phòng tuyến địch, về vị trí tập kết đúng kế hoạch. Tiểu đoàn 1 (D4) nhận nhiệm vụ xây dựng gấp căn cứ tiền phương tại Bến Cát (Bắc Sài Gòn) để Trung ương cục chuyên về chỉ đạo chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Chỉ trong 8 ngày, đơn vị đã làm xong 8 nhà ở, 1 hội trường, 1 nhà ăn và một số công trình phụ khác. Đến ngày 30-4, D2 đã vào thành phố Sài Gòn dưới sự chỉ huy của đồng chí Sáu Huấn, Ba Bên, chiếm lĩnh các mục tiêu đã được phân công như trụ sở Cảnh sát dã chiến, Khám Chí Hòa, Đài Viễn thông...


Đoàn 1 do đồng chí Phan Văn Khi chỉ huy nhận nhiệm vụ đưa toàn bộ Trung ương cục miền Nam và các đồng chí lãnh đạo từ căn cứ Dương Minh Châu về Sài Gòn. Khi công việc di chuyển xong, các cơ quan đóng ổn định ở địa bàn thành phố, một số đồng chí chỉ huy D1 được cử đi bảo vệ trực tiếp các đồng chí lãnh đạo. Đồng chí Tư Châu phụ trách tổ bảo vệ Bộ chỉ huy tiền phương trực tiếp bảo vệ các đồng chí Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Văn Tiến Dũng; đồng chí Phan Văn Khi phụ trách tổ bảo vệ đồng chí Trần Nam Trung; đồng chí Mười Thái được cử về công tác tại Cục Hậu cần Bộ Tư lệnh Công an vũ trang; đồng chí Nguyễn Thanh Sơn được giao chỉ huy D1.


Tại Sài Gòn - Gia Định, ngày 12-4-1975, Thường vụ Thành ủy họp và ra chỉ thị hướng dẫn những nhiệm vụ cần làm ngay trước, trong và ngay sau khi thành phố được giải phóng. Lực lượng chia thành hai cánh: Cánh A do đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư Thành ủy) trực tiếp phụ trách có nhiệm vụ phát động quần chúng nổi dậy ở các quận nội thành và hai huyện Bình Chánh, Nhà Bè; cánh B do đồng chí Nguyễn Thành Thơ (Phó Bí thư Thành ủy) phụ trách có nhiệm vụ chỉ đạo giải phóng các huyện ngoại thành và chiếm thị xã Gia Định. Thành ủy giao lực lượng An ninh T4 nhiệm vụ: bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo Thành ủy; chiếm lĩnh và bảo vệ các tài liệu hồ sơ của Bộ tư lệnh Cảnh sát Quốc gia và Bộ chỉ huy Cảnh sát Đô thành; phối hợp với các ban ngành đoàn thể, chiếm lĩnh các ty cảnh sát, một số cơ sở quan trọng của địch; bảo đảm trật tự xã hội, trật tự giao thông sau khi tiếp quản.


Tại các tỉnh miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng An ninh vũ trang tích cực chủ động tham gia tiến công kìm chân địch, không để địch ứng cứu cho Sài Gòn; đồng thời vận động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm, chiếm lĩnh các cơ quan, công sở của địch.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #25 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:27:56 am »

Sáng ngày 30-4-1975, quân ta từ các hướng đồng loạt tiến công vào nội thành Sài Gòn. Trên các mũi tiến công vào sào huyệt cuối cùng của địch, lực lượng An ninh vũ trang T4 tham gia tích cực trong nhiệm vụ dẫn đường, mở lối cho lực lượng quân sự đánh địch, chiếm lĩnh những cơ quan, công sở của chính quyền Sài Gòn. Mặt khác, lực lượng An ninh vũ trang còn tổ chức cho quần chúng nhân dân đứng lên uy hiếp chính quyền địch, áp đảo lực lượng vũ trang địch, kêu gọi binh sĩ địch hạ vũ khí trở về với nhân dân. Đồng thời, các chiến sĩ An ninh T4 còn nắm bắt tình hình di biến động của số ngụy quyền cao cấp, những đối tượng nguy hiểm cần xử lý sau giải phóng; chuẩn bị thực hiện những kế hoạch đấu tranh chống phản cách mạng sau này.


Theo sự phân công của An ninh khu, An ninh vũ trang Sài Gòn - Gia Định hình thành 4 nhóm xung kích làm nhiệm vụ chiếm lĩnh những cơ quan đàn áp của địch. Nhóm 1 do đồng chí Thái Doãn Mẫn chỉ huy đánh chiếm Bộ Tư lệnh Cảng sát Quốc gia; nhóm 2 do đồng chí Lê Thanh Vân chỉ huy đánh chiếm Bộ chỉ huy Cảnh sát Đô thành; nhóm 3 do đồng chí Bùi Quang Hảo chỉ huy đánh chiếm Ty Cảnh sát Gia Định; nhóm 4 gồm những đồng chí đã ém sẵn trong nội thành có nhiệm vụ kêu gọi và hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở các cơ quan, công sở địch ở các quận. Những cơ sở An ninh, An ninh vũ trang, Trinh sát vũ trang ở nội và ngoại thành đều nổi dậy, cùng lực lượng vũ trang và nhân dân tấn công, tiêu diệt địch.


11h 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên Dinh Độc Lập, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam - Thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.


Sài Gòn được giải phóng, Sở Chỉ huy Trung đoàn 180 An ninh vũ trang chuyên về đóng tại Cống Quỳnh, Sài Gòn, do đồng chí Nguyễn Văn Đũa làm chỉ huy trưởng; các đơn vị trực thuộc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, chính quyền cách mạng, nhân dân và một số mục tiêu quan trọng đặc biệt.


Trong những năm 1973-1975, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam tiếp tục phải đương đầu với bộ máy tình báo gián điệp khổng lồ của địch được trang bị các phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại, thủ đoạn hoạt động rất tinh vỉ, xảo quyệt.


Dưới sự lãnh đạo của trực tiếp của Thường vụ Ban An ninh Trung ương cục miền Nam và các cấp ủy Đảng, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam không ngừng được củng cố về tổ chức, lực lượng và biện pháp công tác. Trong cuộc đấu tranh quyết liệt này, lực lượng An ninh vũ trang tiếp tục phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, khắc phục mọi khó khăn, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Những thành tích cơ bản của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam trong giai đoạn này là: Phối hợp với các lực lượng khác đánh tiêu hao sinh lực địch; diệt ác, phá kìm, chiến đấu chống địch càn quét, lấn chiếm vùng giải phóng; chống do thám, gián điệp, biệt kích; trấn áp các bọn phản cách mạng để bảo vệ căn cứ, bảo vệ cơ quan, bảo vệ biên giới; xây dựng căn cứ, phát động phong trào quần chúng nhân dân đấu tranh với địch; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cấp ủy Đảng, bảo vệ cán bộ các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể; xây dựng lực lượng đáp ứng được yêu cầu công tác thường xuyên và đột xuất. Đặc biệt, trong 55 ngày đêm chiến đấu thần tốc, táo bạo, bất ngờ, hơn 13.000 cán bộ, chiến sĩ An ninh miền Nam đã tham gia tổng công kích, tổng khởi nghĩa, góp phần đánh đổ chính quyền Sài Gòn, hoàn thành nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", tạo nên một Đại thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà.


Trong cuộc chiến đấu ác liệt này, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, chấp nhận nhiều mất mát, hy sinh; trong đó có nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng trong khi làm nhiệm vụ, trong lao tù dã man của địch. Sau này, nhiều tập thể, cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng An ninh vũ trang miền Nam được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là sự ghi nhận xứng đáng những thành tích xuất sắc cũng như sự hy sinh to lớn của lực lượng này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).


Từ đặc điểm và tính chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, sự ra đời và hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam là một tất yếu lịch sử. Đây cũng là sự thể hiện tính chất của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng dân tộc hết sức gay go, phức tạp, quyết liệt, "một mất một còn" giữa ta và địch.


Thắng lợi của công tác An ninh vũ trang miền Nam có tầm quan trọng đặc biệt, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Đó là kết quả của những cố gắng, phấn đấu, hy sinh to lớn của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, cụ thể là:


Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam không ngừng phát triển, từ nhỏ lẻ đến tập trung và phát triển thành một lực lượng vũ trang cách mạng rộng khắp, chính quy, tinh nhuệ. Lực lượng An ninh vũ trang đã chú trọng xây dựng hệ thống tổ chức đến các khu, tỉnh, huyện, xã; không ngừng phát triển lực lượng chinh quy các cấp trung đoàn, tiểu đoàn, đại đội, trung đội, tiểu đội; đồng thòi quan tâm xây dựng lực lượng bán chuyên trách ở cơ sở xã, ấp và phát động phong trào quần chúng vũ trang tự vệ.


Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã bảo vệ tuyệt đối an toàn căn cứ, cơ quan đầu não kháng chiến; bảo vệ an toàn tuyệt đối các đồng chí lãnh đạo các cấp Trung ương, khu, tỉnh, huyện; bảo vệ an ninh trật tự vùng giải phóng. Lực lượng An ninh vũ trang xác định rõ mục tiêu, biện pháp bảo vệ; thực hiện tốt phương châm "tích cực bảo vệ mình, chủ động tiêu diệt địch". Lực lượng An ninh vũ trang được trang bị vũ trang để thực hiện phương án bảo vệ bằng biện pháp vũ trang và sẵn sàng sử dụng biện pháp vũ trang đế đối đầu trực diện với lực lượng vũ trang địch.


Công tác an ninh vũ trang đã góp phần cùng quân và dân miền Nam lần lượt đánh thắng các chiến lược chiến tranh xâm lược của Mỹ và chính quyền Sài Gòn; đánh bại các kế hoạch tình báo, gián điệp của địch trên chiến trường miền Nam. Lực lượng An ninh vũ trang đã phối hợp với các lực lượng khác, đặc biệt là lực lượng quân sự địa phương để bảo vệ các căn cứ. Đối tượng đấu tranh chủ yếu của An ninh miền Nam là các hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, cảnh sát, an ninh, phản động xâm nhập vào khu căn cứ, vùng giải phóng; đồng thời chủ động đánh địch, chống càn quét, tiêu hao sinh lực địch, đập tan các kế hoạch lớn của địch hòng vây bắt, tiêu diệt cơ quan đầu não của ta, phá hoại căn cứ ta.


Về vai trò của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, thực tế đã khẳng định:

Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã làm tốt công tác tham mưu cho các cấp ủy Đảng về công tác bảo vệ căn cứ, bảo vệ cơ quan, đặc biệt là bảo vệ căn cứ địa Trung ương cục căn cứ của các khu, tỉnh. Củng cố, bảo vệ căn cứ kết hợp với xây dựng căn cứ dự phòng đảm bảo an toàn.

Trực tiếp bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, khu căn cứ và vùng giải phóng bằng bỉện pháp vũ trang. Trong các cuộc đối đầu với địch, lực lượng An ninh vũ trang sẵn sàng chiến đấu, chiến đàu anh dùng, góp phần quan trọng đánh bạỉ các kế hoạch chiến tranh bình định, càn quét quy mô lớn của địch bao vệ vững chăc căn cứ kháng chiến, vùng giải phóng.

Lực lượng An ninh vũ trang là lực lượng vũ trang sắc bén tin cậy của Đảng, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, vượt mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong bất kỳ tình huống nào.

Đánh giá về những đóng góp to lớn và sự hy sinh anh dũng của các thế hệ cán bộ An ninh vũ trang miền Nam, Đảng và Nhà nước ta đã phong tặng cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có: 12 Huân chương Độc lập hạng Nhất, Nhì, Ba; nhiều tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt xe cơ giới, Dũng sĩ diệt máy bay và Bằng khen, Giấy khen của Ban An ninh Trung ương cục miền Nam và các khu, tỉnh.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #26 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:35:53 am »

PHẦN THỨ HAI
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHỦ YẾU

Thực tiễn chiến đấu và xây dựng lực lượng của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã để lại cho hôm nay và mai sau nhiều bài học kinh nghiệm; trong đó có 5 bài học kinh nghiệm quý sau:
   

Bài học kinh nghiệm thứ nhất

THƯỜNG XUYÊN QUAN TÂM XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG AN NINH VŨ TRANG VỮNG VỀ CHÍNH TRỊ, TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI ĐẢNG, TỔ QUỐC VÀ NHÂN DÂN, TRỞ THÀNH LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG SẮC BÉN CỦA ĐẢNG


Công an nhân dân Việt Nam nói chung và lực lượng An ninh vũ trang miền Nam nói riêng được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Quá trình xây dựng, chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là của Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương cục miền Nam và các cấp ủy Đảng, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã không ngừng lớn mạnh và trưởng thành về mọi mặt; lập được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác và tạo nên truyền thống tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.


Phẩm chất và truyền thống ấy vừa là nguyên tắc và trách nhiệm chính trị, vừa là lý trí, tình cảm sâu nặng của lực lượng CAND nói chung, của An ninh vũ trang miền Nam nói riêng đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Đây là chuẩn mực thuộc về bản chất của lực lượng CAND, một lực lượng vũ trang cách mạng được Đảng tổ chức và lãnh đạo, được nhân dân nhiệt tình ủng hộ và nuôi dưỡng.


Để có được lực lượng An ninh vũ trang tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, ngay từ những ngày đầu của cách mạng miền Nam, các cấp ủy Đảng đã chú trọng công tác bảo vệ mình, bảo vệ các căn cứ cách mạng, đã tiến hành chọn lựa lực lượng An ninh vũ trang từ những cán bộ công an ở lại miền Nam, chọn lựa những thanh niên trung kiên được cơ sở giới thiệu, tiếp đó là công tác giáo dục tư tưởng, công tác giác ngộ cách mạng, rồi công tác đào tạo bổi dưỡng cho những con người "chỉ biết còn Đảng thì còn mình" để từ đó họ trở thành những cán bộ trung thành với Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ, từ công tác tiếp cận cán bộ lãnh đạo, đến công tác bảo vệ an toàn căn cứ, bất chấp hiểm nguy, chiến đấu gan dạ, kiên cường trong mọi tình huống.


Khi tình hình cách mạng phát triển, yêu cầu mở rộng căn cứ ngày càng lớn, lực lượng bảo vệ ngày càng được tăng cường. Đảng đã chọn lựa lực lượng An ninh vũ trang từ lực lượng Công an miền Bắc chi viện cho miền Nam, từ những thanh niên tiêu biểu trong phong trào cách mạng để bổ sung biên chế cho lực lượng. Trong công tác giáo dục, bồi dưỡng cho lực lượng An ninh vũ trang, Đảng đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác bảo vệ, cảnh vệ. Chính vì vậy mà Đảng đã có một lực lượng bảo vệ tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng trong suốt chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Đáp lại tình cảm và trách nhiệm đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã không ngừng phấn đấu và rèn luyện, ngày một trưởng thành và đã thực sự trở thành lực lượng tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Sự trung thành tuyệt đối của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã được minh chứng bằng những thành tích công tác, chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và đã thể hiện bằng các hành động, việc làm hàng ngày gắn với nhiệm vụ được các cấp ủy Đảng giao phó.


Trước hết, đó là lòng trung thành với mục tiêu lý tưởng của Đảng, với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Mọi cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng An ninh vũ trang miền Nam dù ỏ bất kỳ cương vị nào, hoàn cảnh nào đều trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ. Lòng trung thành đó được cụ thể hóa bằng sự tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi tất yếu của phong trào cách mạng do Đảng lãnh đạo. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang sẵn sàng xả thân hy sinh để bảo vệ căn cứ, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Chính phủ và những mục tiêu được phân công bảo vệ.


Mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân ta là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân của cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam thể hiện trong suốt quá trình công tác với tinh thần tận tụy, hy sinh, phấn đấu vì lý tưởng, mục tiêu của Đảng, của cách mạng. Đây là phẩm chất chính trị, là đạo đức cách mạng; đồng thời thể hiện sự giác ngộ về chính trị, quan điểm lập trường giai cấp của chiến sĩ An ninh vũ trang.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến trường miền Nam vô cùng ác liệt và gian khổ, nhưng cán bộ chiến sĩ An ninh vũ trang luôn kiên định lập trường giai cấp, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Xứ ủy Nam Bộ, Liên khu ủy 5 và sau này là Trung ương cục miền Nam. Cán bộ, chiến sĩ nhận thức và hành động trách nhiệm vì Đảng, vì nhân dân miền Nam thân yêu và vì miền Bắc XHCN. Trong cuộc chiến đấu gian khổ và ác liệt, đội ngũ cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam càng kiên trung, bất khuất, không đồng chí nào đầu hàng, phản bội, đào ngủ, đào nhiệm.


Lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam được bắt nguồn từ tính chất, đặc điểm và tầm quan trọng đặc biệt của nhiệm vụ an ninh vũ trang. Mỗi cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam luôn nhận thức sâu sắc nhiệm vụ thiêng liêng, vô cùng vinh dự, tự hào, nhưng cũng không kém phần gian khổ, hy sinh. Đó là nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo khu ủy, xứ ủy, Trung ương cục, các cấp ủy Đảng cũng như các căn cứ cách mạng miền Nam, đồng thời hỗ trợ cùng các lực lượng vũ trang khác chiến đấu chống địch càn quét, đánh phá. Bảo vệ các đồng chí lãnh đạo cốt cán các cấp và các căn cứ cách mạng miền Nam là bảo vệ nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng miền Nam. Vì vậy, lực lượng An ninh vũ trang phải luôn mài sắc tinh thần cảnh giác, nhận thức rõ âm mưu, bản chất của kẻ địch cùng với những thủ đoạn chống phá tinh vỉ, xảo quyệt, ác liệt của chúng, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tới cùng, kể cả phải hy sinh tính mạng cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.


Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân là yêu cầu hàng đầu của cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng An ninh vũ trang miền Nam.

Khi đưa ra 6 điều dạy Công an nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nội dung: "Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành", vì chỉ có tuyệt đối trung thành thì người cán bộ công an mới hết tâm, hết sức làm tròn được nhiệm vụ bảo vệ của mình. Lòng trung thành ở đây phải được thể hiện ở bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào củng phải tận tụy, hy sinh, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, sẵn sàng vượt qua mọi thử thách, khó khăn, kể cả trong tình huống chiến đấu gay go, ác liệt "một mất, một còn" với đich.


Suốt 21 năm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã trải qua biết bao hy sinh gian khổ; riêng Trung đoàn 180 đã hy sinh hơn bốn trăm cán bộ chiến sĩ. Song chính trong điều kiện khỏ khăn, thiếu thốn từ cuộc sống, sinh hoạt đến phương tiện, vũ khí, trang bị đó đã tạo cho cán bộ chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam ý chí phấn đấu vươn lên, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và ác liệt của cuộc chiến để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Trong công tác bảo vệ, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã mưu trí, dũng cảm, lấy yếu tố bí mật, bất ngờ làm chính, tiến hành hóa trang, cải trang để che mắt địch. Để xây dựng căn cứ địa, bố trí nơi làm việc, nơi ăn nghỉ của các đồng chí lãnh đạo, lực lượng An ninh vũ trang phải tìm địa điểm dựng các lán ngụy trang, xóa dấu vết để giữ bí mật. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, phải thường xuyên đối đầu với kẻ thù, sự hy sinh, sống còn trong gang tấc càng tôi luyện cho các chiến sĩ An ninh vũ trang bản lỉnh chính trị vững vàng; đoàn kết một lòng với đồng chí, đồng đội; anh dũng, kiên cường trong chiến đấu; hiên ngang, bất khuất trong lao tù của địch; dựa chặt vào nhân dân, phát huy lòng yêu nước, cách mạng của nhân dân trong cuộc đấu tranh với địch.


Trong quá trình bảo vệ Đảng, chính phủ và các ban ngành, đoàn thể, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã xây dựng 46 căn cứ, hàng trăm căn nhà, hầm kiên cố để bảo vệ an toàn các đồng chí lãnh đạo Đảng, Mặt trận và Chính phủ lâm thời; bảo vệ 33 lần di chuyển căn cứ và cơ quan Trung ương Cục, 1.277 lần bảo vệ lãnh đạo Trung ương cục đi công tác và nhiều phiên họp, làm việc đặc biệt. Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ, lực lượng An ninh vũ trang đã cùng các lực lượng vũ trang khác chiến đấu, bảo vệ căn cứ, tham gia 413 trận đánh lớn nhỏ, góp phần tiêu diệt và làm bị thương hàng ngàn tên địch, bắn rơi hàng chục máy bay, xe tăng, xe quân sự. Những chiến công của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thật sự là bản anh hùng ca sáng ngời về lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #27 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:37:09 am »

Để bảo vệ tuyệt đối an toàn lãnh đạo các cấp, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã nêu cao tinh thần trách nhiệm bằng việc làm thiết thực và hiệu quả trong công tác điều tra tình hình địch, xây dựng các kế hoạch, phương án bảo vệ thích hợp trong từng hoàn cảnh cụ thể, trên từng địa bàn cụ thể. Lực lượng tiếp cận của An ninh vũ trang trong mọi hoàn cảnh vừa là chiến sĩ trinh sát, vừa là cán bộ bảo vệ, vừa là người phục vụ sinh hoạt và công tác cho các đồng chí lãnh đạo. Lực lượng bảo vệ vòng ngoài, vừa là lực lượng chiến đấu lại vừa là những người sản xuất chăn nuôi giỏi để đáp ứng yêu cầu tự túc lương thực, thực phẩm cho căn cứ.


Để đảm bảo an toàn cho các đồng chỉ lãnh đạo ỏ căn cứ hay trên đường đi công tác, cán bộ chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam đều phải chuẩn bị rất chu đáo về kế hoạch công tác, phương án bảo vệ, điều kiện đảm bảo, sẵn sàng xử lý những tình huống bất thường xảy ra. Chính vì vậy, hầu hết các chuyến đi công tác của các đồng chí lãnh đạo đều được đảm bảo an toàn.


Với lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân phải được kết hợp với đức tính tận tụy, hy sinh trong công tác và tỉnh thần hy sinh, bất khuất trong lao tù của địch.


Từ những ngày đầu của cách mạng miền Nam, khi tình hình cách mạng miền Nam gặp muôn vàn khó khăn, gian khổ, Đảng rất chú trọng vấn đề chính trị tư tưởng, thường xuyên chăm lo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và ý thức bảo vệ Đảng. Để có được đức tính tận tụy, hy sinh quên mỉnh vì nhiệm vụ, lực lượng An ninh vũ trang phải trải qua quá trình rèn luyện, phấn đấu kiên trì, bền bỉ. Người cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang phải biết hy sinh vì nhiệm vụ, phải xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của đối tượng cần bảo vệ.


Nhìn lại chặng đường 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam, biết bao tấm gương hy sinh, tận tụy phục vụ nhiệm vụ bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã minh chứng cho vấn đề này. Tháng 6-1962, một tổ công tác bảo vệ (sau này là Trung đoàn 1 thuộc Đoàn 180) do đồng chí Tư Lùng chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương cục đi công tác. Giữa đường bất ngờ bị 4 máy bay địch oanh tạc dữ dội, tổ bảo vệ đã nhanh chóng đưa đồng chí vào nấp bên một gò mối và ngồi vây quanh che đạn cho đồng chí được an toàn; tháng 12-1965, máy bay B52 của địch bất ngờ ném bom rải thảm trúng ngay căn cứ Trung ương cục, trong đó đồng chí Phan Văn Đáng, Phó Bí thư Trung ương cục đang bị bệnh không kịp ra hầm trú ẩn. Giữa làn bom đạn địch, đồng chí Trung Ngần, Đại đội trưởng Đại đội 1 đã dũng cảm lao vào cõng đồng chí Phan Văn Đáng đưa ra khỏi khu vực địch đánh phá.


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy lực lượng CAND: "Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo" và muốn bảo vệ tốt "phải có kỹ thuật". Sự khéo léo, trong công tác bảo vệ chính là sự mưu trí, sáng tạo trong phương pháp, biện pháp đánh địch; vận động linh hoạt "lai vô bóng, khứ vô hình", "bên ngoài bình thường, bên trong chặt chẽ". Và cùng với sự khôn khéo phải có kỹ thuật hỗ trợ là các phương tiện hoạt động, gồm vũ khí, điện đài và các công cụ hỗ trợ khác. Sự kết hợp giữa trí tuệ và kỹ thuật sẽ góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ, ngăn chặn được mọi mưu đồ tấn công, phá hoại của kẻ địch, đảm bảo an toàn cho lãnh đạo, cho căn cứ.


Lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân còn được thể hiện trong mọi hoàn cảnh, cán bộ chiến sĩ của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam cũng không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.


Từ buổi đầu là các ban bảo vệ, tổ bảo vệ dần trưởng thành lực lượng An ninh vũ trang miền Nam có tổ chức chính quy, với lực lượng hùng hậu là cả một quá trình khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh cả tình cảm gia đình, quê hương để đến chiến trường, đối mặt với những hiểm nguy không lường hết được. Nhưng trong quá trình công tác và chiến đấu, các chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam càng được rèn luyện, tôi luyện cho mình phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức kỷ luật cao và tình đoàn kết, giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh để cùng hoàn thành nhiệm vụ. Trong cuộc sống khó khăn gian khổ đó, cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang với lối sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư luôn đoàn kết một lòng, chia ngọt sẻ bùi, cùng phấn đấu vươn lên. Đó là những phẩm chất cực kỳ quý báu của cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang miền Nam. Điều đó đã tạo nên sức mạnh để mỗi cá nhân và tập thể An ninh vũ trang miền Nam vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Là lực lượng vũ trang nhân dân, với tổ chức và kỷ luật chặt chẽ, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam xác định ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm là nguồn gốc tạo nên sức mạnh; trong đó việc chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh cấp trên các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, của lực lượng An ninh vũ trang là điều kiện tiên quyết, là nội dung phấn đấu của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Ý thức tổ chức kỷ luật, nhất là kỷ luật trong chiến đấu, kỷ luật trong bảo mật, kỷ luật trong công tác là một yếu tố quan trọng để nâng cao sức chiến đấu giành thắng lợi trong công tác bảo vệ và xây dựng đơn vị. Yêu cầu kỷ luật của người cán bộ chiến sĩ An ninh vũ trang phải mang tính tự giác cao, ở mọi nơi, mọi lúc và trong mọi công tác. Vì vậy, khi công tác trong đội ngũ tập thể hay độc lập, khi ở căn cứ hay trên đường đi công tác, làm việc với cơ sở hay trong quan hệ với các đơn vị và quần chúng nhân dân đều phải giữ vững kỷ luật của một lực lượng vũ trang cách mạng. Mọi biểu hiện lơi lỏng ý thức tổ chức kỷ luật hoặc tha hóa về đạo đức, lối sống đều ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, phẩm chất của người chiến sĩ An ninh vũ trang thậm chí ảnh hưỏng đến cả uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Vì vậy, sự đoàn kết thống nhất về ý chí và hành động cùng với việc chấp hành nghiêm ý thức tổ chức kỷ luật đã tạo nên sức mạnh to lớn, giúp cán bộ chiến sĩ lực lượng An ninh vũ trang miền Nam hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong các giai đoạn của cách mạng.


Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa, nhưng các thế lực thù địch và bọn tội phạm quốc tế vẫn tiếp tục chống phá cách mạng nước ta dưới nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt mới. Vì vậy, để phát huy truyền thống tốt đẹp của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam trong thời kỳ kháng chiến chong My, cứu nước, lực lượng Công an nhân dân hôm nay cần quán triệt sâu sắc bài học kinh nghiệm trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ, bảo vệ Đảng phải không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng; nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; rèn luyện sức khỏe; không ngừng học tập để nâng cao trình độ chính trị nghiệp vụ; nắm chắc mọi âm mưu, phương thức, thủ đoạn hoạt động phá hoại, khủng bố của các thế lực thù địch và bọn tội phạm; chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh ngăn chặn mọi hoạt động của địch.


Đây là bài học quý trong công tác giáo dục truyền thống về công tác bảo vệ lãnh đạo Đảng và Nhà nước, bảo vệ nội bộ và khách quốc tế hiện nay.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #28 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:41:21 am »

Bài học kinh nghiệm thứ hai

PHÁT HUY CAO ĐỘ LÒNG YÊU NƯỚC VÀ VAI TRÒ QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN TRONG CÔNG TÁC AN NINH VŨ TRANG

Trong lịch sử cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, nhân dân ta thường phải đối đầu với những thế lực ngoại bang, thực dân, đế quốc mạnh hơn ta gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế, quân sự và có nhiều kinh nghiệm, thủ đoạn, hoạt động trong chiến tranh xâm lược. Vì vậy, một dân tộc nhỏ bé như Việt Nam khi phải đối đầu với những đế quốc lớn thì chắc chắn sẽ gặp phải những khó khăn to lớn và rất dễ bị đánh bại.


Lịch sử dân tộc Việt Nam cho thấy: Những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc chỉ dùng sức mạnh quân sự để chống kẻ thù xâm lược đã dẫn đến thất bại nặng nề; những cuộc đấu tranh, khởi nghĩa được nhân dân ủng hộ thì giành được thắng lợi to lớn. Điều đó đã cho nhân dân ta một bài học kinh nghiệm về vai trò, sức mạnh của nhân dân trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như xây dựng đất nước. Nguyễn Trãi đã chỉ ra "Lật thuyền mới biết dân như nước"; chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định "sự nghiệp cách mạng là của quần chúng"; Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong"; Đảng và Chính phủ ta biết dựa vào dân để giành chính quyền và xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân đã liên tục thắng lợi.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tư tưởng nhân dân được Đảng và Chính phủ ta thấu suốt trong quá trình tổ chức, lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tư tưởng ấy là một nguồn sức mạnh to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như trong sự nghiệp đấu tranh để giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà. Ở miền Nam, trong cuộc đấu tranh quyết liệt, không cân sức giữa ta và địch càng đòi hỏi lực lượng cách mạng nói chung và lực lượng An ninh, An ninh vũ trang phải biết dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân trong công tác đánh địch, bảo vệ mình.
   

Trong cuộc đấu tranh chống phản cách mạng, bảo vệ nội bộ ta, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã sử dụng nhiều lực lượng, thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động rất thâm độc, tinh vi, xảo quyệt và tàn bạo để tiêu diệt lực lượng ta. Chính sự tàn bạo của địch đã tạo ra mâu thuẫn gay gắt giữa chính quyền tay sai, độc tài với nhân dân miền Nam, thổi bùng lên phong trào Đồng khởi nãm 1960 và buộc nhân dân miền Nam phải đứng lên chống Mỹ và chính quyền tay sai thân Mỹ. Trước tình hình đó, yêu cầu của cách mạng miền Nam phải quán triệt tư tưởng nhân dân; tức là dựa dân, phát huy sức mạnh của nhân dân để đánh địch và thúc đẩy cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam.


Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương cục miền Nam, của Ban An ninh Trung ương cục, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã dựa vào dân, phát huy sức mạnh của nhân dân trong công tác.

Trong những năm 1954-1956, trong điều kiện phải hoạt động hoàn toàn bí mật, những cán bộ bảo vệ Xứ ủy và các cấp ủy Đảng ở miền Nam đã phải xã hội hóa, dựa vào nhân dân để hoạt động. Toàn bộ cuộc sống, sinh hoạt, ăn ở hòa vào nhân dân, được nhân dân che chở, nuôi dưỡng, đùm bọc, tạo điều kiện cho công tác bảo vệ được an toàn. Khi Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện Luật 10/59, nhiều cơ sở cách mạng và cán bộ bảo vệ bị bắt, tra tấn, tù đày, nhưng tất cả đều một lòng kiên trung, bất khuất, trung thành với Đảng, giữ vững khí tiết cách mạng trước kẻ thù. Sự che chở của nhân dân đã góp phần bảo vệ được Đảng và cơ sở Đảng trong những năm tháng khó khăn, khắc nghiệt nhất ở miền Nam.


Sau phong trào Đồng khởi 1960, nhân dân toàn miền Nam dứng lên chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, lực lượng An ninh, An ninh vũ trang miền Nam ra đời. Đó là điều kiện thuận lợi của cách mạng miền Nam. Từ đây, nhân dân miền Nam trở thành chỗ dựa vững chắc cho cách mạng, trở thành nguồn nhân lực, cung cấp vật lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Quán triệt tư tưởng nhân dân của Đảng, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã dựa vào dân, phát huy vai trò của quần chúng của nhân dân trong công tác xây dựng lực lượng trong công tác đánh địch, trong công tác bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng và bảo vệ cán bộ lãnh đạo các cấp.


Trong công tác xây dựng lực lượng, An ninh vũ trang miền Nam đã quán triệt sâu sắc tư tưởng "từ nhân dân mà ra", thường xuyên tuyển chọn tân binh từ cơ sở, tuyển chọn những thanh niên khỏe mạnh, tích cực, có giác ngộ chính trị và tinh thần chiến đấu cao. Những khu vực có quần chúng nhân dân giác ngộ cao, phong trào đấu tranh của quần chúng mạnh là nơi cung cấp cho lực lượng An ninh vũ trang nhiều tân binh tốt; những gia đình có truyền thống cách mạng cũng thường bô’ sung cho lực lượng An ninh vũ trang những con em tích cực. Những ngày đầu mới thành lập, lực lượng An ninh vũ trang cấp huyện, xã phần lớn được tuyển dụng từ phong trào quần chúng; nhiều đồng chí đã trưởng thành trong chiến đấu; cũng nhiêu đồng chí đã hy sinh anh dũng, vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng.


Những lúc gian khó nhất của cách mạng như trước năm 1960 và những năm 1968-1969, nhân dân trở thành nguồn cung cấp sức người, sức của cho lực lượng An ninh vũ trang. Nhiêu gia đình đã đào hầm che giấu cán bộ, đã cung cấp lương thực, thực phẩm, thuốc men vào tận căn cứ trong rừng sâu cho cán bộ; nhiều phong trào quần chúng đã cung cấp lương thực, vũ khí thô sơ tự tạo trang bị cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam. Trong nhiều cuộc càn quét ác liệt của địch, và đặc biệt trong Tổng tấn công và nổi dậy 1968, lực lượng An ninh vũ trang đã phát huy vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dần, tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm tan rã hệ thống chính quyền địch.


Trong nhiều hoàn cảnh cụ thể khác, khỉ quần chúng nhân dân được phát huy sức mạnh đã đóng góp tích cực, không tiếc sức người, sức của và cả tính mạng để bảo vệ cách mạng. Lực lượng An ninh vũ trang luôn nhỏ bé trước sức mạnh quân sự của kẻ thù, nhưng nhờ có quần chúng hỗ trợ mọi nơi, mọi lúc, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam ngày càng trưởng thành, có sức mạnh to lớn trong công tác bảo vệ mình, tấn công địch. Nhiều trận càn lớn của địch bị thất bại do lực lượng ta được sự giúp đỡ của quần chúng. Tam giác sắt Củ Chi cách trung tâm Sài Gòn chưa tới 30 km, địch chà đi xát lại nhiều lần, bằng nhiều biện pháp rất quyết liệt, nhưng nhờ có sự ủng hộ của nhân dân mà lực lượng An ninh vũ trang Sài Gòn - Gia Định luôn bám trụ vững vàng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đến ngày Đại thắng mùa xuân năm 1975 lịch sử.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #29 vào lúc: 01 Tháng Chín, 2023, 09:42:57 am »

Dọc các hành lang vận chuyển và đường giao liên quan trọng, nhân dân đã trở thành tai mắt, chân tay, hỗ trợ cho hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang. Đúng như Chủ tịch Hồ Chi Minh dạy lực lượng Công an nhân dân: "Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi tai mới được. Muốn như vậy phải dựa vào dân, không được xa rời dân. Nếu không thế, thì thất bại. Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2011, tr. 270).


Trong công tác đánh địch, lực lượng An ninh vũ trang luôn chú trọng biện pháp quần chúng, dựa vào dân, phát huy vai trò quần chúng nhân dân để đấu tranh với các loại đối tượng. Trước tình hình bọn do thám, gián điệp và các đối tượng hoạt động bí mật với nhiều thủ đoạn rất tinh vi, phát huy được vai trò quần chúng là tạo thành mạng lưới thiên la địa võng trong các khâu phát hiện, đấu tranh và làm thất bại âm mưu, hoạt động của địch. Thực tế cho thấy: Những nơi, những khi phong trào quần chúng phát triển, mọi hoạt động dù nhỏ nhất của các đối tượng phản cách mạng đểu bị quần chúng phát hiện, trực tiếp đấu tranh hoặc báo cho lực lượng An ninh vũ trang xử lý. Những đối tượng do thám gián điệp, biệt kích, chỉ điểm, tề điệp xâm nhập vào vùng ta không qua khỏi sự giám sát của nhân dân. Một số trận càn quét, tập kích của địch vào vùng giải phóng, căn cứ, hành lang do quần chúng phát hiện trước rồi báo cho chính quyền và lực lượng vũ trang ta. Trong nhiều trận chiến đấu ác liệt với quân địch, quần chúng nhân dân trở thành lực lượng hỗ trợ trực tiếp cho các hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang.


Trong công tác bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng, lực lượng du kích và An ninh vũ trang ta luôn phải đối phó với lực quân sự mạnh của địch. Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã dùng mọi lực lượng, mọi biện pháp để tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến miền Nam và các khu, tỉnh, huyện; đồng thời mở rộng vùng chiếm đóng trên khắp các chiến trường. Nhưng chúng luôn vấp phải sự chống trả quyết liệt của lực lượng vũ trang cách mạng, luôn bị thất bại trước sự chống trả quyết liệt của lực lượng quân đội, An ninh vũ trang, du kích địa phương và lực lượng quần chúng nhân dân. Nhân dân Khu 5 trung kiên, bất khuất; nhân dân miền Đông Nam Bộ anh dũng, kiên cường; nhân dân Tây Nam Bộ hiên ngang, quả cảm. Những khí chất ấy đã tạo lên sức mạnh quần chúng to lớn hỗ trợ cho phong trào cách mạng nói chung và lực lượng An ninh vũ trang nói riêng. Có những trận đánh, lực lượng An ninh vũ trang phải rút lui thì nhân dân trở thành lực lượng cản quân địch, bảo vệ lực lượng ta, làm cho địch mất phương hướng truy lùng.


Thực tiễn đã khẳng định vai trò vô cùng to lớn của quần chúng trong công tác an ninh vũ trang ở miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975). Sở dĩ quần chúng nhân dân miền Nam phát huy được sức mạnh, hỗ trợ tích cực cho công tác an ninh vũ trang là do: Lực lượng An ninh vũ trang đã quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo của Đảng về công tác quần chúng; lực lượng An ninh vũ trang đã công tác và chiến đấu vì lợi ích của nhân dân; lực lượng An ninh vũ trang đã biết kết hợp tính tích cực của quần chúng với biện pháp chuyên môn nghiệp vụ.


Trong quá trình quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Đảng về công tác quần chúng, lãnh đạo lực lượng An ninh vũ trang luôn giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân. Sức mạnh của quần chúng nhân dân vừa thể hiện ở lực lượng đông đảo, vừa thể hiện của sức mạnh chính nghĩa. Khi đã được tổ chức, giáo dục, gỉác ngộ quần chúng nhân dân sẽ có sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh với địch. Đó là lực lượng, là nguồn cung cấp sức người, sức của to lớn của cách mạng nói chung và lực lượng An ninh vũ trang nói riêng. Các chỉ thị, kế hoạch công tác bao giờ cũng đề cập tới công tác quần chúng, "phong trào phòng gian, bảo mật", trách nhiệm của tổ chức với quần chúng nhân dân về an ninh, trật tự.


Đi đúng đường lối quần chúng, dựa vào quần chúng, phát huy vai trò của quần chúng là quan điểm chính trị, là tư tưởng chỉ đạo, là biện pháp nghiệp vụ cơ bản của công tác an ninh. Phương hướng tổ chức và vận động quần chúng phải đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng để quần chúng đi đúng đường lối, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp cách mạng. Như trong thời kỳ đấu tranh chính trị, quần chúng là lực lượng chính trong các cuộc đình công, biểu tình theo những khẩu hiệu do Đảng đề ra; trong thời kỳ đấu tranh chính trị kết hợp với biện pháp vũ trang, quần chúng được các lực lượng bán vũ trang hỗ trợ đấu tranh trong các cuộc đấu tranh với chính quyền địch; sau phong trào Đồng khởi thì lực lượng quần chúng trở thành lực lượng to lớn hỗ trợ cho chính quyền bảo vệ an ninh, trật tự vùng giải phóng, căn cứ và những hành lang vận chuyển của ta. Những nội dung, khẩu hiệu hành động của phong trào quần chúng luôn gắn liền với tư tưởng chỉ đạo của Đảng ở từng thời điểm nhất định, ở từng vùng cụ thể, gắn chặt với chủ trương chung của Đảng.


Quần chúng nhân dân gồm nhiều tầng lớp xã hội với những cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa khác nhau. Do đó, vấn đề tổ chức, xây dựng khối đoàn kết toàn dân theo chủ trương của Đảng phải là một quá trình kiên trì, sáng tạo. Đặc biệt, trong hoàn cảnh cuộc đấu tranh địch ta rất quyết liệt, cùng giành đất, giành dân, thì công tác vận động và phát huy vai trò của quần chúng càng khó khăn, phức tạp. Trên lĩnh vực an ninh vũ trang, cả hai tính chất an ninh và vũ trang đều đòi hỏi nguyên tắc cao. Vì vậy, công tác vận động quần chúng phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng thì mới dựa được vào dân, phát huy vai trò của nhân dân trong công tác.


Trong quá trình vận động quần chúng, nội dung và hình thức vận động phải phù hợp với tình hình cụ thể, yêu cầu của cách mạng và gắn với lợi ích của nhân dân. Trong những tình hình, hoàn cảnh khác nhau phải có nội dung và hình thức khác nhau. Trong vùng địch, nội dung vận động quần chúng chủ yếu vạch rõ âm mưu của địch, xu thế thắng lợi của cách mạng; hình thức thông qua những nhân tố quần chúng tích cực, tổ chức vũ trang tuyên truyền công khai hoặc bán công khai, ở vùng giải phóng, công tác vận động quần chúng thông qua các tổ chức chính quyền, hội, đoàn, thanh niên; nội dung chủ yếu gắn với phong trào phòng gian, bảo mật, chống do thám, gián điệp, bảo vệ an ninh, trật tự, cải thiện dân sinh, chống địch càn quét, chiêu hồi, chiêu hàng, ở khu vực căn cứ, nội dung công tác vận động quần chúng gắn với công tác bảo vệ Đảng, tổ chức, các đồng chí lãnh đạo, chống do thám, gián điệp, biệt kích. Dọc các hành lang vận chuyển và giao liên, nội dung của phong trào quần chúng là chống do thám gián điệp, bảo vệ bí mật thông tin, cán bộ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM