Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Tư, 2024, 01:41:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết lịch sử công tác An ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam  (Đọc 2128 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #10 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 08:52:17 am »

Tháng 1-1963, địch phát hiện được khu vực căn cứ của Trung ương cục miền Nam. Chúng cho tiểu đoàn dù số 7 nhảy dù xuống Trảng Ba Mặt và Trảng An Khắc, cách Văn phòng Trung ương cục 500m. C260 là đơn vị An ninh vũ trang bảo vệ Trung ương cục đã tổ chức đánh địch tại Trảng Ba Mặt. Đơn vị cận vệ làm nhiệm vụ bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục tổ chức đánh địch tại Suối Mây. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt, các đơn vị đã anh dũng chiến đấu, tiêu diệt một trung đội địch, làm bị thương nhiều tên khác, buộc địch phải tháo chạy.


Từ năm 1963, địch đẩy mạnh chiến lược chiến tranh đặc biệt, mở hàng loạt cuộc dồn dân lập ấp chiến lược. Trong các khu ấp chiến lược, địch ra sức tổ chức và củng cố bộ máy tề điệp, đảng phái, hội đoàn phản động, đồng thời tăng cường các hoạt động do thám, gián điệp để theo dõi và chống phá các tổ chức cách mạng. Biện pháp chính của địch là xây dựng hệ thống cảnh sát xã và mạng lưới tay chân bí mật; thực hiện biện pháp quản lý công khai như lên danh sách, kê khai lý lịch nhân dân, quy định chế độ khai báo tạm trú, tạm vắng; tận dụng các tổ chức tề ngụy, đảng phái, phản động trong các đảng phái, tôn giáo để nắm tình hình; thực hiện chính sách chiêu hồi, chiêu hàng để khai thác tình hình ta.


Trước tình hình đó, các địa phương đã coi trọng công tác đấu tranh chống do thám, gián điệp, phục vụ tốt công tác đấu tranh phá thế kìm kẹp của địch, phá bộ máy tề ngụy trong các ấp chiến lược. Tuy nhiên, một số nơi còn chủ quan, mất cảnh giác, hoạt động lộ liễu, thiếu ý thức bảo vệ bí mật lực lượng và cơ sở quần chúng, chưa thật tích cực phát hiện và trấn áp bọn tề điệp, phản động. Vì vậy, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam ra Kế hoạch sở 8/HA về phục vụ công tác phá ấp chiến lược của địch và tổ chức công tác đánh địch.


Sau Hội nghị An ninh toàn miền lần thứ Nhất (tháng 1- 1963), lực lượng An ninh miền Nam nói chung và công tác an ninh với trang nói riêng phát triển cả về tổ chức, lực lượng và chuyên môn nghiệp vụ. Công tác sưu tra được tăng cường đã bổ sung vào danh sách sưu tra nhiều đối tượng mới, có sự phân loại rõ ràng; đối tượng hiểm nghi được khẩn trương xác minh; cơ sở bí mật và mật hộ viên được xây dựng có chọn lọc, rộng khắp các vùng; công tác phát động quần chúng phòng gian, bảo mật được đẩy mạnh; công tác cải tạo ngày càng vào nề nếp. Trong công tác bảo vệ cơ quan, căn cứ, hành lang, lực lượng An ninh vũ trang đã xác định rõ là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên và lâu dài. Lực lượng An ninh các tỉnh đã tăng cường xây dựng lực lượng An ninh vũ trang, giao cho một đồng chí trong cấp ủy phụ trách, tập trung bảo vệ căn cứ, cơ quan và các đồng chí lãnh đạo. Nhiều khu, tỉnh có nội quy bảo vệ cơ quan, quy định về công tác bảo mật, quy chế hoạt động vũ trang, chế độ thông tin báo cáo. Trong công tác bảo vệ căn cứ và hành lang vận chuyển, lực lượng An ninh vũ trang đã bám chắc địa bàn, tăng cường công tác nắm tình hình địch, phát động quần chúng phòng gian bảo mật, bố phòng chặt chẽ các yếu điểm, có phương án chiến đấu và bảo vệ lãnh đạo khỉ địch đánh vào. Trong công tác bảo vệ vùng giải phóng, lực lượng An ninh vũ trang dưới sự chỉ đạo của cấp ủy đã thực hiện bố phòng nghiêm ngặt, bảo vệ chính quyền và nhân dân, sẵn sàng đối phó với hoạt động quân sự của địch. Riêng ở khu vực giáp ranh, lực lượng An ninh vũ trang phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân sự, du kích bảo vệ chính quyền ta, chống hoạt động đánh phá của địch.


Ngày 22-5-1963, Trung ương cục miền Nam ra Chỉ thị số 69/CTR xác định những vấn đề cơ bản về đường lối, phương châm, nguyên tắc, chính sách cũng như nội dung, biện pháp cụ thể để đẩy mạnh cuộc đấu tranh của ta. Trung ương cục miền Nam yêu cầu ban bảo vệ an ninh các cấp khẩn trương củng cố, kiện toàn tổ chức bộ phận an ninh vũ trang. Ngoài nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho cán bộ và cơ quan lãnh đạo các cấp, Ban an ninh Miền còn quy định thêm nhiệm vụ của an ninh vũ trang là bảo vệ biên giới, hải phận, các địa bàn và mục tiêu trọng điểm. Căn cứ vào thực tiễn hoạt động, từ năm 1963, theo gợi ý của Bộ Công an và đề xuất của Ban An ninh Miền, hầu hết các khu ủy ở miền Nam đều thành lập một lực lượng chiến đấu mới với tên gọi là "Tiểu ban An ninh vũ trang".


Thực hiện Chỉ thị số 69/CTR và Kế hoạch số 8/HA, lực lượng An ninh miền Nam đã quán triệt yêu cầu công tác và triển khai những nhiệm vụ cụ thể trong công tác đánh địch. Yêu cầu công tác là: "Đẩy mạnh công tác đấu tranh chống gián điệp, phản động trong khu ấp chiến lược; ra sức bảo vệ lực lượng cách mạng và phục vụ tốt yêu cầu phá bộ máy kim kẹp tiến tới phá ấp chiến lược; góp phần tích cực bảo vệ vùng giải phóng. Cụ thể là: Điều tra nghiên cứu nắm vững tổ chức và hoạt động của bọn gián điệp, phản động; làm tốt công tác tranh thủ phân hóa nội bộ địch, trấn áp bọn ác ôn ngoan cố. Bảo vệ tốt cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng và cơ sở vũ trang trong khu ấp chiến lược. Điều tra phát hiện đầu mối gián điệp từ ấp chiến lược đánh ra vùng uy hiếp và vùng giải phóng"1 (Kế hoạch công tác an ninh phục vụ phá khu ấp chiến lược, tr. 1). Nhiệm vụ cụ thể tập trung vào công tác điều tra nghiên cứu nắm vững tổ chức và hoạt động của gián điệp, tề, ngụy, đảng phái, hội đoàn phản động trong khu ấp chiến lược; tăng cường công tác giáo dục, vận động quần chúng tham gia chống do thám gián điệp; tích cực tranh thủ phân hóa nội bộ bọn gián điệp, phản động, tề, ngụy, đồng thời kiên quyết trấn áp những tên ác ôn ngoan cố; tích cực bảo vệ cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng, cơ sở vũ trang trong khu ấp chiến lược; xây dựng tổ chức an ninh xã.


Trong công tác bảo vệ cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng trong ấp chiến lược, lực lượng An ninh miền Nam thực hiện nguyên tắc ngăn cách, bí mật, gọn nhẹ, trọng chất lượng, tính toán lâu dài. Giáo dục cho những cơ sở thấy rõ âm mưu và hoạt động của tề điệp, kiên định lập trường cách mạng, phương pháp hoạt động bí mật, đề cao cảnh giác ở các ấp đã giành quyền làm chủ. Về xây dựng lực lượng An ninh, tăng cường công tác an ninh vũ trang cấp khu, tỉnh; chú trọng phát triển lực lượng An ninh vũ trang huyện, xã; tăng cường chỉ đạo lực lượng An ninh, trực tiếp theo dõi công tác an ninh, từng bước vũ trang cho lực lượng về vũ khí và các phương tiện hoạt động khác. Những xã đã bị địch dồn dân lập ấp chiến lược, xã ủy phải tăng cường theo dõi tình hình do thám, gián điệp, tề ngụy, đảng phái phản động; thực hiện chế độ thông tin kịp thòi, bí mật.


Sau cuộc đảo chính ngày 30-1-1964, nội bộ địch thêm rối ren, khí thế cách mạng càng lên cao. Trước tình hình đó, địch tăng cường hoạt động quân sự để trấn áp phong trào cách mạng; hoạt động gián điệp cũng được tăng cường để mở đường cho hoạt động quân sự. Hệ thống tình báo và an ninh quản đội, công an cảnh sát, tình báo an ninh, dân vệ, mật vụ địch hoạt động rất ráo riết; tập trung vào nhiệm vụ thu thập tin tức tình hình, nội bộ ta; thực hiện chính sách chiêu hồi, chiêu hàng.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #11 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 08:55:11 am »

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị An ninh toàn Miền và Chỉ thị số 113/AN (ngày 3-6-1964) về công tác an ninh, lực lượng An ninh vũ trang đã nghiên cứu và đề ra biện pháp công tác phù hợp với tình hình mới. Nhiệm vụ tập trung vào công tác bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng, hành lang vận chuyển, cửa khẩu, vùng giáp ranh; bảo vệ các đồng chí lãnh đạo; bảo vệ nội bộ.


Để tăng cường công tác bảo vệ an toàn khu và khu căn cứ, ngày 29-7-1964, Trung ương Cục miền Nam triệu tập hội nghị gồm đại diện của quân sự, an ninh và ATK"1 (ATK: Mật hiệu của "An toàn khu"). Thường vụ thống nhất thành lập Ban An ninh vũ trang chuyên trách công tác bảo vệ ATK.


Ban An ninh vũ trang và các lực lượng bảo vệ ATK có nhiệm vụ:

Chống mọi hình thức hoạt động của địch ở ATK và vùng căn cứ của ta như do thám, biệt kích, càn quét, tổ chức kiểm soát đường ra, vào các cửa khẩu, ATK, căn cứ địa, bảo vệ lực lượng cách mạng; xây dựng chế độ nội quy bảo vệ ATK, căn cứ địa và hướng dẫn xây dựng nhiệm vụ chuyên trách, bảo vệ cơ quan, đơn vị, trường lớp, doanh trại trong căn cứ địa; xây dựng phương án tổ chức sẵn sàng chiến đấu; điều tra nghiên cứu xây dựng cơ sở mọi mặt để bảo vệ ATK, căn cứ địa dự bị, chủ động di chuyển cơ quan khi cần thiết, đảm bảo an toàn và hoạt động liên tục của các cơ quan đầu não. Ban An ninh vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương cục miền Nam.


Trước tình hình cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam ngày càng quyết liệt, ngày 4-10-1964, Trung ương cục miền Nam ra Chỉ thị số 10/LL về việc xây dựng lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ với nhiệm vụ "chiến đấu bằng mọi hình thức chính trị, vũ trang, nghiệp vụ để tiêu diệt do thám, biệt kích, chống càn quét và phi pháo của địch, trấn áp phản cách mạng, bảo vệ tuyệt đối an toàn cán bộ, cơ quan, lãnh đạo; đảm bảo cho cơ quan, lãnh đạo hoạt động thường xuyên, liên tục trong mọi tình hình, lúc bình thường cũng như lúc biến động". Về biên chế, Chỉ thị quy định: Cấp huyện tổ chức một trung đội An ninh vũ trang, quân số 33 người; cấp tỉnh tổ chức một đại đội, quân số 120 người; cấp khu tổ chức một tiểu đoàn, quân số 480 người. Trong quá trình xây dựng tổ chức, cần coi trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ an ninh về tình hình, nhiệm vụ mới, xây dựng ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, chống mọi biểu hiện cầu an, dao động, sợ Mỹ, ngại khó khăn, gian khổ, sợ hy sinh.


Ngày 6-12-1964, Trung ương cục miền Nam ra Chỉ thị số 65/CT về việc thành lập lực lượng An ninh vũ trang. Chỉ thị xác định: Lực lượng An ninh vũ trang có nhiệm vụ chiến đấu bằng mọi hình thức chính trị, vũ trang, nghiệp vụ để tiêu diệt bọn do thám, biệt kích, chống phi pháo và càn quét của địch, trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ tuyệt đối an toàn cho cán bộ, cơ quan lãnh đạo hoạt động thường xuyên liên tục bình thường cũng như khi biến động và bảo vệ biên giới chống gián điệp xâm nhập và phá hoại; lực lượng An ninh vũ trang phải khẩn trương xây dựng nghiệp vụ an ninh và vũ trang, tuyệt đối trung thành với Đảng, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của Đảng giao trước mắt và lâu dài; lực lượng An ninh vũ trang củng như giải phóng quân là lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, do nhiệm vụ và công tác an ninh vũ trang có nhiều mối quan hệ chặt chẽ với an ninh nên giao cho cơ quan an ninh địa phương xây dựng và sử dụng theo nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ đã quy định. Các ban quân sự cũng có trách nhỉệm phối hợp với ban an ninh các cấp xây dựng lực lượng An ninh vũ trang; về chế độ cấp phát, An ninh vũ trang được cấp phát theo chế độ của quân giải phóng.


Đến lúc này, lực lượng An ninh miền Nam đã được kiện toàn về mọi mặt, cả về hệ thống tổ chức, biên chế, trang bị vũ trang và thực hiện chức năng nhiệm vụ quan trọng đặc biệt của mình, cùng với lực lượng An ninh miền Nam và các lực lượng vũ trang khác vừa tích cực bảo vệ mình, vừa chủ động tiêu diệt địch trên mọi mặt trận.


Quá trình chiến đấu và bảo vệ của lực lượng An ninh miền Nam trong những năm 1961-1964 đã khẳng định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của lực lượng là phù hợp với tình hình, yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam. Sự chuyên biến từ chức năng bảo vệ Đảng thêm những chức năng bảo vệ chính quyền và nhân dân, khu vực căn cứ và vùng giải phóng; từ biện pháp đấu tranh bí mật của cơ quan an ninh đã lập ra lực lượng An ninh vũ trang và thực hiện biện pháp vũ trang để đáp ứng yêu cầu của tình hình cách mạng miền Nam lúc bấy giờ.


Những thành tích, chiến công tiêu biểu của lực lượng An ninh bằng biện pháp đấu tranh vũ trang thời kỳ này là: Bảo vệ an toàn các cấp ủy Đảng và chính quyền, căn cứ và vùng giải phóng trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp nhất; thúc đẩy phong trào quần chúng, phát huy vai trò tích cực của nhân dân trong cuộc đấu tranh chống do thám, gián điệp, biệt kích địch; góp phần đấu tranh làm thất bại kế hoạch gom dân lập ấp chiến lược của địch; xây dựng tổ chức và lực lượng An ninh vũ trang để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chống chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ trong giai đoạn 1965-1973.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #12 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 09:21:19 am »

III- GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1965 ĐẾN NĂM 1973

Sự phát triển lớn mạnh của phong trào cách mạng miền Nam đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào nguy cơ thất bại. Để cứu vãn tình thế, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, ồ ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân. Chiến tranh cục bộ là một trong ba loại hình chiến tranh xâm lược trong chiến lược quân sự toàn cầu của Mỹ. Nội dung của chiến lược này là: Sử dụng sức mạnh quân sự Mỹ và viện trợ Mỹ, phương án tác chiến chính là "tìm diệt và bình định".


Thực hiện kế hoạch "tìm diệt và bình định", Mỹ dự định tiến hành 2 cuộc phản công chiến lược vào mùa khô 1965-1966 và 1966-1967; hướng đánh phá chủ yếu tập trung vào những vùng căn cứ kháng chiến, những nơi đứng chân của cơ quan lãnh đạo và bộ đội chủ lực của ta ở Tây Nguyên, đồng bằng khu V và Đông Nam Bộ. Lực lượng quân đội Sài Gòn tiếp tục đẩy mạnh hoạt động bình định nông thôn để "tát nước bắt cá"; miền Đông Nam Bộ là chiến trường chủ yếu.


Để phục vụ cho các hoạt động quân sự, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã tăng cường chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng; tăng cường lực lượng cảnh sát, nhất là cảnh sát đặc biệt; củng cố hệ thống chính quyền, lôi kéo các đảng phái phản động chống phá cách mạng, ở các vùng tranh chấp, vùng căn cứ, và vùng giải phóng, địch tăng cường xây dựng cơ sở mật báo, chỉ điểm, dùng gián điệp hoạt động theo phương thức "con thoi", thực hiện phương thức tình báo đại chúng, khai thác bọn đầu hàng, đầu thú, gảy chiến tranh tâm lý và tăng cường các hoạt động biệt kích, thám báo.


Ngay sau khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam, quân Mỹ được điều lên địa bàn chiến lược Tây Ninh, tiến hành xây dựng các căn cứ quân sự và sân bay ở Trâm Vang (Gò Dầu), Thiện Ngôn (Tân Biên), Trảng Lớn (Châu Thành), chốt sâu vào các vùng Xa Mát, Đồng Pan, Kà Tum, Bổ Túc, Suối Bà Chiêm nhằm bao vây, tiêu diệt căn cứ địa kháng chiến của ta. Chúng liên tục mở các cuộc hành quân, đánh phá ác liệt các khu vực trọng điểm của ta ở Củ Chi (Sài Gòn), Bời Lời, Bà Nhã, Bầu Đốn (huyện Trảng Bàng, Tây Ninh); đánh phá các tỉnh An Giang, Vĩnh Long, Gò Công, Định Tường, Kiến Tường, Sóc Trăng, Cần Thơ; càn quét huyện Bến Cầu và một phần huyện Trảng Bàng (Tây Ninh).


Trong kế hoạch mùa khô 1965-1966, địch sử dụng tổng hợp các lực lượng của Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo, Sở Liên lạc, Biệt đội sưu tầm, gián điệp con thoi, biệt kích, thám báo điều tra nơi đóng quân, cơ quan, hành lang vận chuyển để chỉ điểm cho lực lượng quân sự càn quét, cho máy bay, phi pháo bắn phá.


Để thực hiện nhiệm vụ được giao, lực lượng An ninh vũ trang đã phát động quần chúng phòng gian, bảo mật, thực hiện quy ước nông thôn; bảo vệ nội bộ, chính quyền và nhân dân, giữ gìn an ninh, trật tự vùng giải phóng; chống hoạt động do thám của tể điệp; chống lực lượng vũ trang địch đánh vào từ bên ngoài.


Trong công tác vận động quần chúng, lực lượng An ninh vũ trang đã tăng cường công tác giáo dục chính trị, nâng cao cảnh giác trước âm mưu và hoạt động của địch; nhận thức rõ đường lối, phương châm của ta trong đấu tranh chống phản cách mạng; chống địch chiêu hồi, chiêu hàng; nâng cao tinh thần đoàn kết dân tộc, tôn giáo và các tầng lớp xã hội dưới ngọn cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam; tích cực tham gia phong trào bảo vệ trị an, bảo vệ Đảng, chính quyền và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Trong công tác cải tạo những phần tử phức tạp mà địch dễ lợi dụng, đã lên danh sách những đối tượng hiềm nghi, có phương án đấu tranh với từng loại đối tượng, kết hợp gia đình và tổ chức quần chúng để cải tạo, thực hiện biện pháp giáo dục chính trị tại chỗ là chính, mạnh dạn sử dụng những người tiến bộ làm cơ sở bí mật, điệp báo. Trong công tác bảo vệ nội bộ, đã tranh thủ cấp ủy Đảng để mở những lớp tập huấn ngắn ngày về ý thức cảnh giác cách mạng, tinh thần trách nhiệm trong công tác, biện pháp bảo vệ, cách phát hiện hiềm nghi, nguyên tắc xử lý những vụ việc liên quan đến công tác bảo vệ nội bộ. Trong công tác bảo vệ lực lượng vũ trang, đã phối hợp với chính quyền thực hiện tuyển dụng tân binh đủ tiêu chuẩn chính trị, phối hợp với du kích phát triển lực lượng vũ trang ở cơ sở, làm trong sạch địa bàn đóng quân, hành quân, tích trữ kho hàng quân sự. Trong công tác bảo vệ căn cứ, là lực lượng vũ trang chính chống địch càn quét, tập kích, phá hoại, do thám, lực lượng An ninh vũ trang phối hợp với du kích làm trong sạch địa bàn, tổ chức bảo vệ trị an, bố phòng chặt chẽ, kiểm soát nghiêm ngặt các cửa ngỏ ra vào, thực hiện các quy định về bảo vệ an toàn căn cứ và các đồng chí lãnh đạo. Trong công tác bảo vệ hành lang, đã chủ động nắm chắc tình hình địch, quan hệ chặt chẽ với giao liên, có phương án bảo vệ thích hợp trên từng địa bàn, xây dựng lực lượng vũ trang bí mật để đánh địch khi có tình huống xấu xảy ra. Trong công tác điều tra nghiên cứu, đã mở các lớp tập huấn chuyên đề nghiệp vụ, tổ chức nghiên cứu về tình hình, tổ chức địch, tập trung về tổ chức do thám gián điệp địch, các kế hoạch của địch đánh phá căn cứ và vùng giải phóng; nghiên cứu về tình hình phản động trong các đảng phái, tôn giáo, dân tộc; các vụ án lớn trong vùng giải phóng.


Ở vùng tranh chấp giữa ta và địch luôn trong tình trạng đấu tranh ác liệt, diễn biến phức tạp nhiều mặt, lực lượng An ninh vũ trang đã tăng cường công tác vận động quần chúng, nắm tình hình địch, tăng cường công tác đấu tranh chống do thám gián điệp, tăng cường lực lượng và trang bị vũ trang, phối hợp chặt chẽ với du kích lên kế hoạch bố phòng, sẵn sàng tác chiến khi địch tấn công. Riêng vùng địch kiểm soát, yêu cầu chung của cách mạng là xây dựng lực lượng chính trị, phát triển vũ trang, lãnh đạo quần chúng đứng lên đấu tranh dưới mọi hình thức, phá thế kìm kẹp của địch, làm mất ổn định hậu phương địch, tiến tới giải phóng từng vùng khi có điều kiện. Lực lượng An ninh vũ trang đã xác định vùng tạm chiếm nông thôn phạm vi rộng, chính quyền địch lỏng lẻo, công tác đánh địch thuận lợi hơn. Nhiệm vụ chính là phải khẩn trương điều tra nghiên cứu tình hình địch, đối tượng phản cách mạng, xây dựng lực lượng bí mật, có kế hoạch trừ diệt số đối tượng nguy hiểm ngoan cố, chủ động quản lý và bảo vệ địa bàn sau khi giành quyền làm chủ. Đối với những đô thị do địch kiểm soát gồm thị xã, thị trấn, lực lượng An ninh vũ trang tăng cường công tác nắm tình hình, lập thẻ đối tượng phản cách mạng, xin ý kiến cấp ủy trừ diệt những tên nguy hiểm, có nợ máu; xây dựng cơ sở điệp báo trong các tổ chức do thám gián điệp của địch1 (Các tổ chức tình báo của CIA, cảnh sát ngụy (công an dã chiến, công an chiến đấu, mật vụ)); xây dựng lực lượng bí mật theo tỷ lệ 500 dân/01 an ninh bí mật; xây dựng lực lượng trinh sát vũ trang từ số quần chúng tích cực, gan dạ để tiêu diệt số ác ôn nguy hiểm.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #13 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 09:22:01 am »

Trong công tác xây dựng lực lượng, do tình hình phát triển mạnh, chủ trương của Trung ương cục phát triển lực lượng các ngành; các khu ủy, quân ủy cũng tăng cường lực lượng vũ trang. Do đó, lực lượng An ninh vũ trang tăng cường công tác xây dựng lực lượng vũ trang các cấp. Ở cấp Trung ương cục, Trung đoàn U70 được thành lập, do đồng chí Thành làm Trung đoàn trưởng, gồm D1, D2, D3; sau rút đi D1 và D2, còn D3 ở lại làm cơ động, ở cấp xã, lực lượng An ninh vũ trang tăng cường lực lượng An ninh thường trực, lực lượng bảo vệ trị an, lực lượng bí mật, lực lượng điệp báo, trinh sát vũ trang, an ninh đô thị.


Đầu năm 1965, cách mạng miền Nam giành được nhiều thắng lợi to lớn; lực lượng vũ trang cách mạng ngày càng lớn mạnh; phong trào đấu tranh cách mạng ngày càng phát triển từ nông thôn đến thành thị và cả miền núi; vùng giải phóng được mở rộng; căn cứ cách mạng ngày càng vững chắc. Trong khi đó, ba chỗ dựa chủ yếu của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược là quân đội, chính quyền Sài Gòn và hệ thống ấp chiến lược đều bị rệu rã. Mặt khác, các chiến lược quân sự và cuộc chiến tranh gián điệp cũng bị thất bại nặng nề khiến cho Kế hoạch Mắc Namara lâm vào tình thế bị thất bại hoàn toàn.


Nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiếp tục thực hiện những âm mưu mới. Chúng tăng cường hoạt động do thám, gián điệp để nắm tình hình; lập các chi nhánh CIA ỏ tất cả các tỉnh, thành; phát triển lực lượng biệt chính, biệt kích, cảnh sát; xây dựng cơ sở bí mật trong các thôn, xã, ấp; đầu tư tài chính để chiêu hồi, chiêu hàng, thưởng cho cơ sở thu thập được những tin tức có giá trị. Phương thức hoạt động chính nhằm thu thập tin tức nội bộ ta, vùng giải phóng, căn cứ kháng chiến.


Trong khi đó, Mặt trận dân tộc giải phóng ngày càng thu hút được nhiều tầng lớp tham gia; vùng giải phóng ngày càng được mở rộng; uy tín với phong trào cách mạng thế giới ngày một cao. Chính vì vậy, ngày càng nhiều các đoàn phóng viên, báo chí, làm phim từ Liên Xô, Trung Quốc, Cu Ba, Triều Tiên, Úc, Pháp... vào thăm vùng giải phóng, khu căn cứ Củ Chi, Long An, Tây Ninh. Ban An ninh Trung ương cục giao nhiệm vụ cho lực lượng Cảnh vệ An ninh vũ trang và an ninh các địa phương bảo vệ an toàn cho các đoàn.


Trong công tác vận động quần chúng, lực lượng An ninh vũ trang đã đi sáu, đi sát quần chúng, giáo dục quần chúng ý thức cảnh giác cách mạng, âm mưu và thủ đoạn hoạt động của địch, cách thức đấu tranh với từng loại đối tượng do thám, gián điệp, tề ngụy, phản động; đấu tranh với những hoạt động của địch trong thu thập tin tức, chia rẽ đoàn kết, chiêu hồi, chiêu hàng; đấu tranh chống những phần tử phức tạp phát ngôn bừa bãi, làm lộ bí mật, gây mất trật tự trị an. Đối với những thân nhân của đối tượng theo địch, cán bộ An ninh vũ trang đã tìm mọi cách để tranh thủ, cảm hóa, giáo dục, tạo điều kiện cho con em họ trở về với cách mạng, ở nhiều thôn xã đã xây dựng được nội quy, quy định về công tác an ninh, góp phần đưa sinh hoạt của nhân dân vào nề nếp, đấu tranh có hiệu quả với các đối tượng do thám, gián điệp của địch.


Trong công tác bảo vệ nội bộ, lực lượng An ninh vũ trang đã phối hợp với Ban An ninh các cấp củng cố ban bảo vệ cơ quan, ban hành nội quy bảo mật phòng gian, quy định về việc tuyển nhân viên, bố trí cán bộ, củng cố tổ chức. Công tác bảo vệ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo và tài liệu dần đi vào nề nếp; các vụ việc mất tài liệu, số vụ địch đánh trúng cơ quan, nơi trú quân của quân giải phóng ngày càng giảm. Trong công tác giáo dục cải tạo những cơ sở xã hội phức tạp có nhiều tiến bộ; đã làm cho nhiều đối tượng nhận thức được xu hướng tất yếu của cách mạng, yên tâm làm ăn, giảm thiểu chống phá, hạn chế bị địch lợi dụng.


Trước yêu cầu bảo vệ an ninh vùng giải phóng và mở rộng hoạt động an ninh trong vùng địch, ban An ninh các cấp dần được củng cố và phát triển về tổ chức và lực lượng. Biên chế An ninh khu khoảng 10 cán bộ; biên chế An ninh tỉnh dưới 10 cán bộ; biên chế An ninh huyện khoảng 3-4 cán bộ; biên chế An nính xã 1-2 cán bộ.


Trước sự lớn mạnh của các khu căn cứ địa cách mạng tháng 2-1965, Trung ương cục quyết định đổi tên đơn vị U25 (bảo vệ khu căn cứ) trực thuộc Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục miền Nam thành U70 và thành lập Trung đoàn bảo vệ E70, do đồng chí Lê Thanh (Tám Lê Thanh) làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Đào Tiến Thưởng (Năm Ngọc) làm Tham mưu trưởng, đồng chí Sáu Bình làm Chính trị viên. Tổ chức E70 gồm 03 tiểu đoàn: Tiểu đoàn 1 (Từ đơn vị J120 của U25 cũ chuyển sang) là tiểu đoàn cơ động chiến đấu do đồng chí Triệu chỉ huy; Tiểu đoàn 2 bảo vệ khu Quản ủy miền Nam do đồng chí Thuần chỉ huy; Tiểu đoàn 3 bảo vệ khu dân chính do đồng chí Tư Thục chỉ huy. B1 bảo vệ trực tiếp Thường vụ Trung ương cục do đồng chí Trung Ngàn chỉ huy.


Đến giữa năm 1965, được sự quan tâm của Trung ương cục, lực lượng An ninh miền Nam đã kiện toàn một bước; hình thành bộ máy thống nhất, hệ thống từ Trung ương cục, đến các khu, tỉnh, huyện, xã; một số thôn, ấp cũng có cán bộ làm công tác an ninh; lực lượng An ninh vũ trang cũng được tăng cường thêm sức mạnh, góp phần cùng các lực lượng An ninh miền Nam trong công tác bảo vệ chính quyền ta, phá chính quyền địch. Trong cuộc đấu tranh với địch, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam phối hợp với An ninh Bình Long, Phước Long và quân chủ lực miền tấn công căn cứ Phước Long, chi khu Phước Bình, Bù Đăng, Bù Đốp và nhiều ấp chiến lược, tiêu diệt hàng nghìn tên địch, trong đó có nhiều tên gián điệp, biệt kích, mật vụ, thu nhiều vũ khí và tài liệu quan trọng. Tại Thu Dầu Một, từ giữa năm 1965, các đội An ninh vũ trang và Trinh sát vũ trang liên tục tấn công vào các địa điểm đóng quân dã chiến của Mỹ ở Nhà Đỏ, Bông Trang, Bầu Bàng, Bến Cát; diệt gọn một tiểu đoàn địch.


Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng, tháng 3-1966, Trung ương cục họp Hội nghị lần thứ 4, xác định "quyết tám đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất kỳ tình huống nào". Về nhiệm vụ công tác an ninh, Trung ương cục chỉ đạo: "nâng cao cảnh giác, tăng cường bảo mật phòng gian, tích cực và chủ động trừ gian, trấn áp do thám gián điệp và phản động, đảm bảo trong sạch vùng căn cứ, giải phóng; tranh thủ diệt ác, trừ gian, phản động trong vùng địch kiểm soát, ra sức xây dựng lực lượng An ninh nhân dân trên quan điểm dựa vào quần chúng, tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên môn, kiện toàn bộ máy và chấn chỉnh lề lối làm việc của an ninh các cấp để đảm bảo cho sự trấn áp và chuyên chính với kẻ thù". Nhiệm vụ cụ thể của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam là thực hiện công tác bảo vệ các đồng chí lãnh đạo của Đảng, cán bộ Trung ương cục miền Nam, các đồng chí lãnh đạo các địa phương trong cơ quan tỉnh ủy, thành ủy, huyện ủy; bảo vệ căn cứ, vùng giải phóng của ta; trực tiếp diệt ác, phá kìm, trấn áp tiêu diệt bọn tình báo, gián điệp, bọn mật báo, bọn tể ngụy, ác ôn.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #14 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 09:22:57 am »

Cuối tháng 3-1966, Trung ương cục điều động đồng chí Cao Đăng Chiếm, Trưởng ban An ninh Sài Gòn - Gia Định (T4) về Ban An ninh Trung ương cục làm Phó trưởng Ban An ninh Trung ương cục, trực tiếp chỉ đạo công tác an ninh vũ trang. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương cục và Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục, tháng 6-1966, Ban Bảo vệ căn cứ thuộc Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục được thành lập (phiên hiệu C66), do đồng chí Hai Chiến làm Trưởng ban, các đồng chí Sáu Thanh, Đào Tiến Thưởng (Năm Ngọc), Mười Kỉnh và Tám Lai làm Phó trưởng ban. Về tổ chức: D3 của U70 cũ chuyển thành D1 của C66 làm nhiệm vụ cơ động chiến đấu. D2 vẫn giữ nguyên tên cũ và làm nhiệm vụ bảo vệ khu dân chính; B1 trực tiếp bảo vệ Thường vụ Trung ương cục.


Do chủ động nắm được kế hoạch của địch, lực lượng An ninh vũ trang Sài Gòn - Gia Định đã phối hợp với quân giải phóng chiến đấu dũng cảm, đánh trả quyết liệt, kìm chân địch không để chúng tiến sâu vào khu vực căn cứ của Khu ủy tại phố Bò, Phú Hiệp, Củ Chi. Đội An ninh vũ trang bảo vệ Khu ủy do đồng chí Lê Văn Lên chỉ huy mưu trí, chia lực lượng làm 2 cánh: một cánh cùng du kích và bộ đội quân khu chiến đấu kìm chân địch; một cánh quân phá vòng vây đưa các đồng chí lãnh đạo Khu ủy về căn cứ dự bị. Trong 3 ngày chiến đấu, Đội An ninh vũ trang bảo vệ Khu ủy và bộ đội đặc khu đã bắn rơi 10 máy bay các loại, tiêu diệt hàng trăm tên địch, bẻ gãy hàng chục đợt tấn công của chúng. Riêng đồng chí Lê Văn Lên với 15 viên đạn tiêu diệt 15 tên Mỹ. Bị thất bại, địch dùng máy bay B52 rải thảm, trút hàng nghìn tấn bom đạn xuống khu vực căn cứ nhưng không đạt được ý đồ tiêu diệt cơ quan đầu não của ta.


Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, các cơ quan đơn vị phải thường xuyên di chuyển, nơi ở và làm việc phân tán, lực lượng An ninh vũ trang và bảo vệ căn cứ phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ bám sát các mục tiêu bảo vệ, xây dựng hàng chục căn cứ liên hoàn vững chắc. Đặc biệt, Ban An ninh khu 5, khu miền Đông Nam Bộ, Đặc khu Sài Gòn - Gia Định đã xây dựng được những căn cứ liên hoàn ở Hố Bò, Phú Hiệp (Củ Chỉ); Bời Lời, Bà Nhã (Tây Ninh); An Thành, Lạch Kiến, Thanh An, Phú An (Bình Dương); Bù Đốp (Lộc Ninh); Tiên Phước (Quảng Nam), ở mỗi căn cứ, lực lượng An ninh vũ trang phải đào đắp hàng chục hầm làm việc, hầm hội họp; hàng tràm hầm bí mật, công sự chiến đấu, hàng nghìn mét thông hào, địa đạo để đối phó với phi pháo và các cuộc càn quét của địch. Riêng Đội An ninh vũ trang bảo vệ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định, trong 2 năm (1965-1966) đã đào 2.800 m địa đạo, 300 hầm bí mật. Từ cuối năm 1966, lực lượng An ninh vũ trang toàn miền đẩy mạnh các hoạt động diệt ác trừ gian, phá kế hoạch "bình định" của địch.


Trong chiến dịch mùa khô 1966-1967, Mỹ tiếp tục tăng quân vào miền Nam đồng thời chuẩn bị mở cuộc phản công chiến lược đánh vào miền Đông Nam Bộ; mục tiêu trọng điểm là tỉnh Tây Ninh nhằm tìm diệt cơ quan lãnh đạo Trung ương cục, Bộ Chỉ huy Miền, Mặt trận dân tộc giải phóng và các đơn vị chủ lực của ta. Ngày 14-9-1966, địch huy động 30.000 quân mở cuộc hành quân Attơnborơ đánh vào chiến khu Dương Minh Châu (Tây Ninh). Phối hợp với các đơn vị chủ lực quân giải phóng và các lực lượng vũ trang địa phương, lực lượng An ninh vũ trang chiến đấu vô cùng dũng cảm, đánh bật nhiều đợt tấn công của địch. Điển hình là lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ phối hợp với Trung đoàn 16 chủ lực đánh bật 12 đợt tấn công của địch, diệt 2 tiếu đoàn Mỹ, làm thiệt hại 2 tiểu đoàn ngụy, bắn rơi 7 máy bay địch, bảo vệ an toàn cho cán bộ và cơ quan lãnh đạo. Trong 72 ngày đêm chiến đấu kiên cường, các lực lượng vũ trang cùng quân và dân Đông Nam Bộ loại khỏi vòng chiến đấu 1.700 tên Mỹ, 2.800 tên ngụy, bắn và phá hủy 65 máy bay, bắn cháy 500 xe tăng và xe bọc thép của địch.


Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị quyết tâm đánh bại cuộc phản công mùa khô lần thứ 2 của địch, dưới sự lãnh đạo của Trung ương cục và Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang giải phóng, công tác bảo vệ khu căn cứ đã được vũ trang hóa viên các cơ quan đóng trong căn cứ. Lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ Trung ương cục C66 là đơn vị nòng cốt, cùng các lực lượng khác vừa nắm tình hình địch, vừa trực tiếp đánh địch.


Từ ngày 3 đến 26-1-1967, địch tiếp tục tập trung lực lượng, mở cuộc hành quân Xêđaphôn đánh vào vùng "tam giác sắt" gồm khu vực Bến Cát (tỉnh Thủ Dầu Một), Củ Chi (Sài Gòn) và Trảng Bàng (Tây Ninh). Phối hợp với các lực lượng vũ trang quân khu và du kích địa phương, lực lượng An ninh vũ trang bố trí lực lượng vừa làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, vừa làm nhiệm vụ trực tiếp chiến đấu tiêu diệt địch. Bộ phận An ninh vũ trang đã bảo vệ đưa các đồng chí lãnh đạo vượt vòng vây của địch đến nơi an toàn. Bộ phận trực tiếp chiến đấu kiên cường bám trụ suốt 6 ngày đêm, đánh lui hàng chục đợt tấn công của địch; diệt 15 tên, bắn rơi 1 máy bay lên thẳng.


Cùng với lực lượng vũ trang quân khu và du kích Củ Chi, tiểu đoàn An ninh vũ trang Vinh Quang (Sài Gòn - Gia Định) do đồng chí Võ Văn Vân chỉ huy vừa làm nhiệm vụ bảo vệ văn phòng Khu ủy vừa phối hợp với các lực lượng khác chống càn, góp phần tiêu diệt 500 tên địch, bắn cháy 18 xe bọc thép. Phát hiện được nơi làm việc của Khu ủy, địch tập trung hỏa lực bắn phá dữ dội và tổ chức nhiều đợt tấn công liên tiếp hòng tiêu diệt cơ quan đầu não của ta. Các chiến sĩ An ninh vũ trang T4 phối hợp với du kích đánh bật 15 đợt tấn công của địch, diệt 90 tên, bắn rơi 1 máy bay HU1A. Địch tổ chức lực lượng chặn đường rút quân của ta qua sông Sài Gòn, các chiến sĩ đã bình tĩnh, mưu trí đưa cán bộ Khu ủy theo đường địa đạo xuống phía Nam Củ Chỉ, vượt khỏi vòng vây của địch. Trong đợt chống càn đã xuất hiện nhiều tấm gương mưu trí, dũng cảm, tiêu biểu là đồng chí Võ Văn Vân, ngoài việc chỉ huy đơn vị chiến đấu diệt nhiều tên địch còn có sáng kiến dùng đạn pháo lép của địch chế thành mìn, diệt 3 xe tăng địch. Sau 18 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, lực lượng An ninh vũ trang Đông Nam Bộ cùng với quân và dân địa phương đã tiêu diệt 4.500 tên địch, trong đó có 2.500 tên Mỹ, bắn rơi 6 máy bay, bắn cháy 150 xe quân sự, dồn địch vào thế bị động, lúng túng trên chiến trường.


Sau thất bại liên tiếp của hai cuộc hành quân lớn, ngày 1-2-1967, địch tiếp tục mở cuộc hành quân Big Spinh đánh vào chiến khu D và mở cuộc hành quân Túc Xon đánh vào căn cứ Long Nguyên (Thủ Dầu Một). Từ ngày 14-2 đến 18-2, chúng mở cuộc hành quân Garden đánh vào Lò Gò, Cần Đăng, Thiện Ngôn và Trảng Tà Xỉa (Tây Ninh). Đặc biệt, ngày 22-2-1967, địch mở cuộc hành quân Gianxơnxity đánh vào chiến khu Dương Minh Châu. Chúng đã huy động lực lượng lớn về quân sự gồm 45.000 quân, hàng trăm xe tăng, xe bọc thép và máy bay, đồng thời tăng cường sử dụng bọn tình báo, gián điệp, biệt kích, cảnh sát đặc biệt, sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại để điều tra, thu thập tin tức tình báo phát hiện cán bộ, cơ sở và lực lượng ta phục vụ cho cuộc càn quét.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #15 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 09:24:01 am »

Nắm được âm mưu của địch, Ban An ninh Trung ương cục giao nhiệm vụ cho Đoàn An ninh vũ trang 180 và bộ phận An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ phối hợp với các lực lượng khác triển khai kế hoạch chống càn. Lực lượng An ninh đã chia làm hai bộ phận: một bộ phận làm nhiệm vụ bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục và cán bộ di chuyển sang biên giới Việt Nam - Campuchia, một bộ phận ở lại bám trụ chiến đấu. Qua 50 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, lực lượng An ninh vũ trang và Trinh sát vũ trang phối hợp chặt chẽ cùng các đơn vị chủ lực, dân quân du kích và nhân dân địa phương bẻ gãy các mũi tấn công của địch vào khu căn cứ, loại khỏi vòng chiến đấu 14.000 tên địch, bắn rơi và phá hủy 160 máy bay, 992 xe quân sự.


Trong chiến công chung đánh bại cuộc hành quân Gianxơnxity của địch, các chiến sĩ An ninh vũ trang đã chiến dấu kiên cường với tinh thần "sống anh dũng, chết vẻ vang", một số chiến sĩ An ninh vũ trang đã anh dũng hy sinh để bảo vệ căn cứ và các đồng chí lãnh đạo.


Thực hiện sự chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương cục, lực lượng An ninh vũ trang các khu, tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Bộ được củng cố và phát triển. Tuy biên chế quân số chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ, nhưng các chiến sĩ An ninh vũ trang đã phát động phong trào quần chúng, phối hợp với các lực lượng An ninh khác nắm tình hình địch, bám trụ kiên cường, dũng cảm chiến đấu với địch.


Ở Khu 6, từ tháng 1-1967 đến tháng 3-1967, địch càn quét ồ ạt, liên tục, ác liệt, có tới 20 cuộc càn lớn vào căn cứ giáp ranh hai tỉnh Lâm Đồng - Bình Thuận. Khi lực lượng ta chuyển về Cà Tót, địch tiếp tục tổ chức nhiều đợt càn quét dài ngày, đánh phá ác liệt. Tháng 4-1967, địch thả bom trúng nơi đóng quân của Đội An ninh vũ trang khu (C15) do đồng chí Đinh Chuông phụ trách, có trên 30 cán bộ chiến sĩ, nhưng không gây ra tổn thất gì đáng kể. Tháng 12-1967, C15 phối hợp với lực lượng quân sự địa phương đối phó với 18 tiểu đoàn quân Mỹ bao vây Khu ủy, đã đánh lui 6 đợt tấn công của 4 tiểu đoàn địch; riêng tiểu đội của đồng chí Đinh Chuông chặn đánh 1 tiểu đoàn địch, không cho địch vượt qua cây cầu dài chưa đầy 10 mét, diệt 35 tên1 (Cùng với nhiều thành tích xuất sắc khác, C15 - Đội An ninh vũ trang, Ban An ninh Khu 6 được Chính phủ Cách mạng làm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ngày 24-1-1975).


Trên chiến trường Khu 5, địch huy động 27 tiểu đoàn quân Mỹ, 21 tiểu đoàn quân Nam Triều Tiên mở các cuộc hành quân đánh vào căn cứ Khu ủy và các đơn vị chủ lực của ta ở địa bàn Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Đà. Lực lượng An ninh vũ trang Khu 5 phối hợp với các lực lượng khác chiến đấu dũng cảm, bẻ gẫy nhiều đợt tấn công của địch, bảo vệ an toàn căn cứ và cán bộ Khu ủy. 05 cán bộ chiến sĩ An ninh vũ trang Phú Yên chiến đấu liên tục 3 ngày đêm với 2 tiểu đoàn chủ lực địch có không quân và pháo binh yểm trợ, đẩy lùi hàng chục đợt tấn công của địch, diệt 52 tên, bảo vệ an toàn cơ quan và các đồng chí lãnh đạo. Đội An ninh vũ trang Bình Định bảo vệ căn cứ, anh dũng chiến đấu bẻ gẫy nhiều đợt tấn công của địch. Trong cuộc chiến đấu ác liệt này đã xuất hiện nhiều tấm gương tiêu biểu như đồng chí Đinh Nhua, một mình diệt 18 tên Mỹ, bắn rơi 01 máy bay trực thăng; đồng chí Đinh Troi làm nhiệm vụ bảo vệ kho bạc, độc lập tác chiến, diệt 15 tên Mỹ, bắn rơi 01 máy bay trực thăng địch; đồng chí Bùi Văn Lai lấy thân mình che cho đồng chí cán bộ lãnh đạo Khu ủy khi bị địch ném bom.


Tại chiến trường miền Tây Nam Bộ (Khu 9), để chủ động chống phá các cuộc càn quét của địch, bảo vệ an toàn căn cứ, lực lượng An ninh tham mưu giúp Khu ủy xây dựng hai loại hình căn cứ là "căn cứ" và "căn cứ đứng chân"; tăng cường lực lượng Cảnh vệ đảm nhiệm công tác bảo vệ căn cứ theo mô hình "vòng trong" và "vòng ngoài". Rạch Giá là địa bàn trọng điểm của Khu 9, lực lượng An ninh vũ trang phối hợp với bộ đội binh vận, tuyên truyền vũ trang, làm rã ngủ gần 300 tên địch; hỗ trợ quần chúng vùng lên phá kìm, bức rút, bứt hàng 150 đồn bốt, giải phóng 20 xã, ấp.


Sau mùa khô 1966-1967, cục diện chiến trường miền Nam chuyển sang hướng có lợi cho ta, quân và dân ta hoàn toàn chủ động về chiến lược. Tuy nhiên, Mỹ vẫn tiếp tục tăng cường chiến tranh, ráo riết chuẩn bị cho cuộc phản công chiến lược trong mùa khô 1967-1968. Được sự chi viện của Bộ Công an, Thường vụ Trung ương cục bổ sung đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương) và đồng chí Hồ Văn Đại (Sáu Đại) làm Ủy viên Ban An ninh Trung ương cục.


Từ căn cứ diễn biến thực tế trên chiến trường miền Nam, Bộ Chính trị họp (từ ngày 20 đến 24-10-1967) chủ trương "Tổng công kích, tổng khởi nghĩa" vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, ngày 15-12-1967, Thường vụ Trung ương cục miền Nam ra Chỉ thị số 32/CT-NT về nhiệm vụ, phương hướng công tác an ninh trong thời gian tới; nêu rõ 6 vấn đề cơ bản, trong đó đề cập đến công tác xây dựng bộ máy an ninh đến cơ sở, tăng cường các bộ phận nghiệp vụ để đánh địch, truy kích địch. Tháng 12-1967, Ban An ninh Trung ương cục ra nghị quyết về việc củng cố và xây dựng lực lượng An ninh vũ trang, Tiểu đoàn 2 (Đoàn 180 An ninh vũ trang) được thành lập, có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài, đánh địch đổ bộ, biệt kích để bảo vệ căn cứ Trung ương cục và các cơ quan lãnh đạo cách mạng miền Nam. Ở các khu, lực lượng An ninh vũ trang được xây dựng đến cấp tiểu đoàn; ở các tỉnh biên chế cấp đại đội.


Thực hiện chủ trương của Đảng về Tổng tiến cõng và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, ngay từ tháng 10-1967, Thường vụ Trung ương cục quyết định thành lập Khu trọng điểm bao gồm Sài Gòn - Gia Định và một phần đất thuộc các tỉnh lân cận do đồng chí Nguyễn Văn Linh (Phó Bí thư Trung ương cục) trực tiếp làm Bí thư, đồng chí Võ Văn Kiệt (Ủy viên Trung ương cục, Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định) làm Phó Bí thư; Ban An ninh Trung ương cục tổ chức 6 đoàn cán bộ1 (Mỗi đoàn có 1 trưởng đoàn gồm các đồng chí: Chín Nghĩa, Sáu Thanh, Năm Trà, Tư Ngãi, Tư Thông, Hướng Anh) tăng cường cho 6 cánh quân của an ninh 6 phân khu. Đảng ủy tiền phương Khu trọng điểm được thành lập do đồng chí Trần Văn Trà (Phó Tư lệnh quân giải phóng miền Nam) và đồng chí Võ Văn Kiệt phụ trách. Trung ương cục quyết định thành lập 2 phân ban Đảng ủy và Bộ Tư lệnh tiền phương: Bộ Tư lệnh tiền phương I (cánh Bắc) gồm các đồng chí Trần Văn Trà, Lê Đức Anh và Mai Chí Thọ; Bộ Tư lệnh tiền phương II (cánh Nam) có đồng chí Võ Văn Kiệt, Trần Bạch Đằng.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #16 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 09:24:33 am »

Đồng chí Phan Văn Đáng, Phó Bí thư Trung ương cục, Trưởng ban An ninh Trung ương cục được cử về miền Tây Nam Bộ (T3) để chỉ đạo công tác chuẩn bị tổng tiến công; đồng chí Phạm Thái Bường (Ba Bình), thường trực Trung ương cục được điều về phụ trách Ban An ninh Trung ương cục. Trung ương cục chủ trương giải thể Ban An ninh miền Đông Nam Bộ (T1), điều động đồng chí Nguyễn Văn Còn (Mười Thạnh) và một số đồng chí khác về Ban An ninh Trung ương cục, rút Đội bảo vệ Chính trị và Ban căn cứ 105 về Ban An ninh Trung ương cục, số khác bổ sung cho tỉnh Tây Ninh; thành lập Đại đội An ninh vũ trang do các đồng chí Chín Dũng và Tám Kế chỉ huy. Khu ủy, Ban An ninh các phân khu, các ban ngành đều có 2 bộ phận chỉ đạo; một bộ phận hoạt động nội thành, một bộ phận ở lại bảo vệ căn cứ. Ban lãnh đạo An ninh Khu trọng điểm cử một tổ tiền trạm do đồng chí Huỳnh Văn Cang cùng đồng chí Minh và Dân phụ trách xuống địa bàn để xây dựng căn cứ cho Bộ Tư lệnh tiền phương. Lực lượng An ninh vũ trang, bảo vệ căn cứ, bảo vệ lãnh đạo khu ủy được bổ sung thêm quân số, phát triển thành đại đội, các đơn vị khác được phiên chế thành tiểu đội, trung đội tập trung tại Ba Thu (cách Sài Gòn 60 km về phía Nam), chuẩn bị tiến công vào nội thành. Ngoài ra, Ban An ninh Khu Sài Gòn - Gia Định quyết định thành lập đơn vị An ninh vũ trang với nhiệm vụ đánh vào các mục tiêu Tổng nha Cảnh sát và Nha Cảnh sát đô thành.


Các khu đều tích cực chuẩn bị cho tổng tấn công và nổi dậy. Tại Khu 5, Khu ủy chỉ thị cho lực lượng An ninh tăng cường công tác nắm tình hình địch, nhất là bọn gián điệp, phản động, chủ yếu là Việt Nam Quốc dân đảng ở Đà Nẵng. Lực lượng An ninh vũ trang xâm nhập vào nội thành xây dựng cơ sở, đào hầm bí mật, ém quân chờ lệnh. Tại Khu Trị Thiên - Huế, từ tháng 12-1967, Khu ủy Trị Thiên - Huế lập kế hoạch chia lực lượng thành 2 bộ phận: một bộ phận phụ trách tuyến giáp ranh và bảo vệ căn cứ do đồng chí Quỳnh (Sơn) phụ trách; bộ phận tiền tiêu do đồng chí Nguyễn Thành Khiêm (Bảy Khiêm) phụ trách, ở Khu 6, lực lượng An ninh được phân công đi thị sát 2 mặt trận chính để chỉ đạo công tác chiến đấu, các ban an ninh đều bố trí tăng cường xuống địa bàn, xây dựng cơ sở và nắm tình hình địch để phục vụ tổng tiến công. Tại Khu 9, lực lượng An ninh được bổ sung cán bộ và phân công lãnh đạo chỉ đạo từng mũi tiến công. Tại Khu 10, lực lượng An ninh có kế hoạch cụ thể hướng dẫn an ninh các tỉnh chuẩn bị phục vụ tổng tiến công và nổi dậy; in 20 vạn tờ truyền đơn và các loại thư từ kêu gọi binh lính, cảnh sát, công chức địch ra hàng.


Trước giờ nổ súng, quân chủ lực và lực lượng An ninh vũ trang địa phương đánh một số trận ở Lộc Ninh, Đắc Tô, Tuy Phước, Hậu Nghĩa, Khe Sanh nhằm kéo giãn lực lượng và đánh lạc hướng địch. Đêm 30 rạng 31-1-1968 (đêm giao thừa Tết Mậu Thân), cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta ở miền Nam bắt đầu. Các lực lượng vũ trang ta đồng loạt nổ súng tiến công địch trên khắp các chiến trường, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, căn cứ, kho tàng, sân bay, sở chỉ huy của Mỹ và chính quyền Sài Gòn.


Tại khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, lực lượng An ninh vũ trang được giao nhiệm vụ bảo vệ và dẫn đường cho các mũi tấn công địch. Ngày 29-1-1968, các lực lượng bắt đầu xuất phát từ Ba Thu (Long An) hành quân đến địa điểm tập kết tại Long Cang (Long An), chia làm 3 mũi tiến vào thành phố. Mũi thứ nhất gồm 12 chiến sĩ An ninh vũ trang do đồng chí Phạm Minh Trung và Lê Văn Tăng chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ, dẫn đường Bộ Tư lệnh tiền phương II bí mật vào thành phố, đến trường đua Phú Thọ Hòa. Vừa đến nơi thì bị địch phát hiện, 12 chiến sĩ An ninh vũ trang chốt lại Chợ Thiếc (trường đua Phú Thọ Hòa) chiến đấu kìm chân địch 5 ngày đêm, diệt 120 tên địch, bắn cháy 11 xe (1 xe tăng và 5 xe bọc thép). Ta lần lượt hy sinh 10 đồng chí, chỉ còn 2 đồng chí Trung và Tăng bị địch bắt và đưa đi thủ tiêu.


Hai Đội An ninh vũ trang mới thành lập ngày 15-12-1967 được giao nhiệm vụ đánh vào Tổng nha Cảnh sát và Nha Cảnh sát đô thành. Đội 1 gồm 15 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Tám Hợi chỉ huy cùng 1 bộ phận của Bộ Tư lệnh tiền phương II xuất phát từ ngày 26-1-1968. Ngày 4-2-1968, đội vào đến đường Hậu Giang (quận 6) thì gặp địch. Đơn vị đã triển khai đội hình chiến đấu, diệt 37 tên cảnh sát. Phân đội tiếp tục chiến đấu, diệt 28 tên, làm bị thương nhiều tên khác. Về phía đơn vị, 7 đồng chí hy sinh, 4 đồng chí khác bị thương. Phân đội 2, đội 1 An ninh vũ trang Khu trọng điểm do đồng chí Ba Anh chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ dẫn đường đưa Bộ Tư lệnh tiền phương I vào nội thành và chiếm lĩnh Nha Cảnh sát đô thành. Sau 10 ngày hành quân, phân đội đưa đoàn cán bộ vượt qua nhiều đồn bốt, trận địa của địch vào đến khu vực Phú Thọ Hòa gặp ổ phục kích của địch. Phân đội phối hợp với lực lượng vũ trang tại chỗ đánh địch, diệt 25 tên. Sau khỉ bố trí một bộ phận đưa đoàn cán bộ đến nơi an toàn, bộ phận còn lại của phân đội phối hợp với Đoàn 10 tổ chức chống càn, tiêu diệt 1 đại đội địch, bắn cháy 8 xe M113, bắn rơi 2 trực thăng. Ngày 28-2-1968, trên đường rút về căn cứ, đến Mỹ Hạnh, Đức Hòa (Long An), đơn vị bị địch phục kích, dũng cảm chiến đấu, diệt 10 tên biệt kích. Cùng lúc đó, Đội An ninh vũ trang thuộc Phân khu 2 phối hợp với bộ đội địa phương diệt và bắn bị thương hàng chục tên địch.


Tại khu 8 (Trung Nam Bộ), chấp hành lệnh Tổng tiến công, quân và dân miền Trung Nam Bộ đã đồng loạt nổi dậy, đánh thẳng vào các cơ quan đầu não, hậu cứ, kho tàng của địch. Lực lượng An ninh vũ trang các tỉnh làm nhiệm vụ bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, dẫn đường cho các lực lượng tiến công vào các trụ sỏ chính quyền tỉnh, các ty cảnh sát, cơ quan tình báo, bình định, chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, bảo an và bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở.


Tại khu 9 (Tày Nam Bộ), trước khi Tổng tiến công và nổi dậy, lực lượng An ninh khu đã tăng cường lực lượng cho An ninh các tỉnh. Khi Tổng tiến công, lực lượng An ninh vũ trang Vĩnh Long phối hợp với các lực lượng khác tấn công tòa hành chính, dinh tỉnh trưởng, cơ quan tình báo CIA, đài truyền tin, ty cảnh sát, đánh sân bay, phá hủy 60 trực thăng, bắn rơi 6 chiếc khác, diệt và làm tan rã 1.200 cảnh sát, tiêu diệt 1 đại đội biệt kích, phá trại giam giải thoát cho 500 tù nhân, bắt giữ 9 tên ác ôn, gọi hàng 138 tên tề điệp, truy bắt 185 tên cảnh sát, nhân viên chiêu hồi. Lực lượng An ninh vũ trang Rạch Giá tiến công vào các mục tiêu ty cảnh sát, dinh tỉnh trưởng, kho bạc, phá trại giam giải thoát cho cán bộ và nhân dân bị địch giam giữ. Tại Cà Mau, lực lượng An ninh vũ trang đã đánh chiếm các phường 9,12, đánh sập tòa hành chính, ty cảnh binh, ngân hàng, đánh sân bay, tiêu diệt 17 tên cảnh sát.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #17 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2023, 08:16:19 am »

Trên chiến trường Tây Nguyên, các lực lượng An ninh vũ trang, Trinh sát vũ trang phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và nhân dân đồng loạt nổi dậy tấn công vào các thị xã, thị trấn như Pleiku, Kon Tum, Đắc Lắc, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt. Đặc biệt, lực lượng An ninh vũ trang Đắc Lắc tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột, diệt nhiều tên cảnh sát dã chiến, bắt tên đại tá, trưởng đoàn USOM Mỹ và một số tên chỉ huy FULRO.


Tại khu Trị Thiên - Huế, 2 giờ sáng ngày 31-1, quân ta đồng loạt nổ súng vào 40 mục tiêu của địch ở nội ngoại thành. Lực lượng An ninh tấn công 17 cơ quan quan trọng của địch như cơ quan CIA, bình định nông thôn, sắc tộc, tòa hành chính, chiến tranh tâm lý, ty cảnh sát, cơ quan sưu tầm vùng I. Sang ngày thứ ba, ta hoàn toàn làm chủ thành phố Huế. Khi tình hình tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên tất cả các chiến trường miền Nam đã lắng xuống, nhưng quân và dân ta ở Huế vẫn kiên cường bám trụ, chiến đấu ác liệt. Ngày 5-2-1968, địch bắt đầu bao vây thành phố, phản công dữ dội; dùng máy bay và phi pháo đánh phá thành nội. Những chiến sĩ An ninh vũ trang tiếp tục chiến đấu, giành giật với địch từng đường phố, cửa ô, giữ vững những vị trí trọng điểm. Lực lượng An ninh vũ trang khu đã phối hợp với lực lượng Trinh sát vũ trang tổ chức đón một số nhân sĩ, trí thức lên chiến khu.


Ở mặt trận Tây Ninh và khu căn cứ Trung ương cục, cuộc chiến đấu của lực lượng An ninh vũ trang để bảo vệ căn cứ diễn ra vô cùng quyết liệt

Ngày 11-1-1968, ta phát hiện 1 đoàn xe bọc thép của địch hành quân từ Thiện Ngôn theo quốc lộ 22 xuống cầu Cần Đăng. Được sự chỉ đạo của Ban An ninh Trung ương cục, Đại đội 1, Tiểu đoàn 3, Đoàn 180 An ninh vũ trang do đồng chí Nguyễn Văn Cứu (Ba Cứu) làm Đại đội trưởng và đồng chí Nguyễn Hồng Châu (Tư Châu nhỏ) chỉ huy đã bắn cháy 13 xe M113, 2 xe GCM, diệt 50 tên địch, bắt sống 1 tên Mỹ.


Ngày 18-1-1968, Tiểu đoàn 3 An ninh vũ trang được lệnh phối hợp với Tỉnh đội Tây Ninh đánh vào Chi khu quân sự ấp chiến lược Cao Xá (Tây Ninh); trận đánh do đồng chí Nguyễn Văn Cứu (Ba Cứu) và Lê Hoàng Hiệp (Chín Hiệp) chỉ huy. Trong trận này, các chiến sĩ An ninh vũ trang phá lô cốt địch, diệt 30 tên. Cuối năm 1968, Tiểu đoàn 3 An ninh vũ trang sáp nhập vào đội hình chiến đấu của Tỉnh đội Tây Ninh, tham gia nhiều trận đánh, bắn cháy nhiều xe tăng, diệt nhiều tên địch.


Cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta năm 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, phá tan kế hoạch "tìm diệt và bình định" của địch, buộc Mỹ phải ngồi vào đàm phán với ta tạỉ Hội nghị Paris.


Tháng 3-1968, để tăng cường công tác bảo vệ cơ quan đầu não, Ban An ninh Trung ương cục ra nghị quyết về việc xây dựng lực lượng vũ trang miền Nam. Trung ương cục điều động đồng chí Lâm Văn Thê (Ba Hương) - Ủy viên Trung ương Cục, Trưởng ban An ninh T3; đồng chí Thứ trưởng Nguyễn Quang Việt vừa được Bộ Công an tăng cường vào làm Phó ban An ninh Trung ương cục; đồng chí Nguyễn Hoàn (Hai An) được cử làm Ủy viên Ban An ninh Trung ương cục, trực tiếp phụ trách lực lượng An ninh vũ trang. Ngày 26-4-1968, Thường vụ Ban An ninh Trung ương cục miền Nam tổ chức hội nghị thảo luận về việc xây dựng lực lượng An ninh vũ trang trên cơ sở Nghị quyết tháng 3-1968.


Ngày 27-4-1968, một đại đội biệt kích địch từ căn cứ Thiện Ngôn càn quét vào khu căn cứ. Đại đội 1 (Đoàn 180) bảo vệ căn cứ nhanh chóng triển khai đội hình, phục kích, diệt hàng trăm tên, thu nhiều vũ khí và phương tiện khác. Cũng trong tháng 4, Đại đội 3 (Đoàn 180) tiêu diệt 1 đại đội địch, đánh thiệt hại 1 đại đội khác của tiểu đoàn biệt kích xâm nhập vào khu căn cứ.


Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968, lực lượng An ninh miền Nam trong đó có lực lượng An ninh vũ trang bị tổn thất, hy sinh nhiều, vùng giải phóng và vùng căn cứ của ta bị địch lấn chiếm, càn quét ác liệt. Để tiếp tục tấn công địch, làm phá sản kế hoạch bình định của chúng, Ban An ninh Trung ương cục chủ trương: Các ban an ninh khu, tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã kiện toàn về tổ chức, bổ sung lục lượng, nhất là các bộ phận nghiệp vụ như bảo vệ chính trị, bảo vệ nội bộ, cảnh vệ, an ninh vũ trang.


Ngày 9-6-1968, Thường vụ Trung ương cục ra Chỉ thị số 17/CTNT về việc xây dựng lực lượng An ninh vũ trang. Về phương hướng, chỉ thị xác định: "Dựa trên phương châm tích cực, khẩn trương, kịp thời, gọn nhẹ, sắc bén, chú trọng cả về số lượng và chất lượng vì có nơi chưa xây dựng hay có cũng rất ít, xây dựng đến đâu, tổ chức chiến đấu đến đó, vừa chiến đấu, vừa xây dựng, tiến lên một cách vững chắc, từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến hoàn chỉnh".


Về tổ chức: Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam được tổ chức thành hệ thống hoàn chỉnh, bao gồm các đơn vị An ninh vũ trang tập trung, các đội cảnh vệ, cận vệ, các đội trinh sát vũ trang. Các đơn vị này được biên chế từ tiểu đội, trung đội, đại đội đến tiểu đoàn. Về nhiệm vụ: Các đơn vị An ninh vũ trang tập trung có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài căn cứ, tổ chức tuần tra cảnh giới, thường trực canh gác; sẵn sàng chiến đấu, chuẩn bị đầy đủ kế hoạch, biện pháp một cách chủ động, đảm bảo an toàn cho các địa bàn hoạt động của các cấp ủy, các cơ quan chính quyền trong mọi tình huống. Các đơn vị cảnh vệ và cận vệ có nhiệm vụ bảo vệ tiếp cận, bảo đảm an toàn mục tiêu và các đồng chí lãnh đạo cao cấp; canh gác trại giam, quản chế tội phạm, bố phòng chiến đấu chống phi pháo, chống địch đánh phá. Về nguyên tắc lãnh đạo chỉ đạo lực lượng An ninh vũ trang: Lực lượng An ninh vũ trang ở cấp nào phải chịu sự lãnh đạo tuyệt đối của cấp ủy cấp đó; chịu trách nhiệm xây dựng huấn luyện, quản lý sử dụng lực lượng An ninh vũ trang theo sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đó.


Chỉ thị số 17 của Thường vụ Trung ương cục có tác dụng thúc đẩy việc xây dựng lực lượng An ninh vũ trang phát triển lên một bước mới, hoàn thiện hệ thống tổ chức và khẳng định vị trí, chức năng nhiệm vụ của An ninh vũ trang trong sự phát triển chung cùng các lực lượng vũ trang khác. Thường vụ Trung ương cục giao cho ba đồng chí Lâm Văn Thê, Nguyễn Quang Việt, Nguyễn Hoàn thay mặt Ban An ninh miền Nam trực tiếp chỉ huy, chỉ đạo mọi mặt về công tác an ninh vũ trang.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #18 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2023, 08:18:44 am »

Thực hiện quyết định của Trung ương cục, Ban An ninh giải thể C66, thành lập những đơn vị bảo vệ mới trực thuộc Ban An ninh Trung ương cục miền Nam là Đoàn I và Đoàn 180 An ninh vũ trang1 (Một tài liệu khác ghi: Năm 1969, Ban An ninh Trung ương Cục đã quyết định thành lập Tiểu ban Bảo vệ nội bộ và Cảnh vệ. Tiểu ban này do đồng chí Hồ Văn Đại (Sáu Đại) làm Trưởng tiểu ban đồng chí Sáu Tùng làm Phó trưởng tiểu ban. Tiểu ban có 2 bộ phận một bộ phận có chức năng làm công tác bảo vệ nội bộ, một bộ phận làm công tác cảnh vệ. Bộ phận cảnh vệ gồm có Đoàn I và Đoàn 180 An ninh vũ trang. Các đơn vị thuộc Đoàn I làm nhiệm vụ bảo vệ cấp ủy (các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Trung ương cục) và các cơ quan khác như Mặt trận I, Mặt trận II, Chính phủ cách mạng lâm thời. Các đơn vị Đoàn 180 làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài và cơ động chiến đấu chống địch càn quét vào căn cứ). Đoàn I có nhiệm vụ bảo vệ trực tiếp Thường vụ Trung ương cục và các cơ quan Văn phòng Trung ương cục. Chỉ huy Đoàn I là đồng chí Đào Tiến Thưởng (Năm Ngọc), Chính trị viên là đồng chí Trần Văn Hiền (Năm Hiền), Đoàn phó gồm 02 đồng chí Phan Văn Khỉ (Tư Châu lớn) và Mười Thái. Chính trị viên phó gồm 02 đồng chí Nguyễn Thanh Sơn (Năm Sơn) và đồng chí Nguyễn Hồng Châu (Tư Châu nhỏ). Tổ chức có 1 tiểu đoàn (D1) và cơ quan đoàn bộ với tổng số 200 cán bộ chiến sĩ. Đoàn 180 gồm có Tiểu đoàn 2 (D2) cũ của C66 và một số đơn vị trực thuộc. Nhiệm vụ của Đoàn 180 là vũ trang bảo vệ vòng ngoài khu căn cứ Trung ương cục, quản lý biên giới, cửa khẩu, đồng thời khỉ cần thiết thì đánh chặn địch từ xa. Tháng 4-1968, Đoàn 180 được nâng cấp thành Trung đoàn 180 An ninh vũ trang, do đồng chí Sáu Huấn chỉ huy. B1 trước đây làm nhiệm vụ bảo vệ tiếp cận Thường vụ Trung ương cục được bổ sung thêm quân và nâng cấp thành Đại đội 1 (C1). Tiếp đó thành lập hai đại đội C2 và C3 làm nhiệm vụ bảo vệ khu vực làm việc và ăn ở của Văn phòng Trung ương cục; quân số mỗi đại đội khoảng 50-60 người.


Để bảo vệ Đại hội thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (ngày 6-6-1969), Ban An ninh Trung ương cục đã thành lập Tiểu ban Bảo vệ Đại hội, do đồng chí Hai An (Nguyễn Hoàn) làm Trưởng Tiểu ban; các đồng chí Tám Lai (Chỉ huy phó Đoàn 180) và Phạm Cứu (phụ trách công tác cảnh vệ thuộc Tiểu ban Bảo vệ Nội bộ và Cảnh vệ thuộc Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục) làm Ủy viên.


Tháng 7-1969, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 về công tác an ninh, Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục củng cố lại tổ chức, gồm 11 đơn vị: 1/Văn phòng do đồng chí Ngô Quang Nghĩa làm Chánh Văn phòng, các đồng chí Bùi Thiện Ngộ, Nguyễn An Khương (Bảy Tiến), Lê Văn Bê (Hai Bê) làm Phó Văn phòng; 2/Tiểu ban Bảo vệ Chính trị, do đồng chí Lâm Văn Thê (Ba Hương), Phó trưởng Ban kiêm Trưởng Tiểu ban, đồng chí Hai Tiền, Phó Tiểu ban; 3/Tỉểu ban Bảo vệ Nội bộ và Cảnh vệ, do đồng chí Bắc Hồng làm Trưởng Tiểu ban, đồng chí Mười Long làm Phó Tiếu ban; 4/Tiểu ban An ninh vũ trang, do các đồng chí Nguyễn Quang Việt, Phó ban An ninh Trung ương cục làm Trưởng Tiểu ban, giúp việc có các đồng chí Thông, Nga, Thụy, Biên, Sơn; đồng chí Phi Hổ phụ trách Trường An ninh vũ trang.


Cùng với nhiệm vụ đẩy mạnh công tác xây dựng và củng cố lực lượng, các đơn vị An ninh vũ trang đã triển khai công tác đánh địch trên các mặt trận. Ngày 3-9-1968, Đoàn 180 phối hợp với Sư đoàn 9 quân chủ lực miền Đông Nam Bộ dùng chiến thuật "bao vây, khuấy nhão, rút củi" đánh căn cứ biệt kích Thiện Ngôn. Các đơn vị C1, C2, C3, B5 bao vây đánh địch xung quanh căn cứ Thiện Ngôn từ ngày 3 đến 9-9-1968. Các đơn vị luân phiên bám rào, đào công sự, bắn máy bay, dùng súng B40, cối 82 ly bắn vào cứ điểm; diệt 50 tên, bắn cháy 5 máy bay địch.


Ngày 11-10-1968, 1 tiểu đoàn ngụy đổ bộ xuống Trảng Bò (Tây Ninh). Sư đoàn 9 quân chủ lực miền Đông bao vây, chặn đánh quyết liệt. Địch phải dùng nhiều máy bay trực thăng, khu trục, phản lực đến ném bom bắn phá hỗ trợ cho quân rút vào Trảng Xa Mát. Phát hiện hướng rút quân của địch, tổ B5 trinh sát gồm 6 đồng chí do đồng chí Nguyễn Phước Tấn (Ba Tấn) chỉ huy nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu; diệt 35 tên, bắn cháy 4 máy bay địch.


Ngày 15-12-1968, sau nhiều trận giao chiến bị thất bại, địch dùng trực thăng đổ 1 tiểu đoàn thủy quân lục chiến xuống Trảng Ba Chân, bám theo đường mòn vào căn cứ địa của ta. Trung đội 3, Đại đội 1, Đoàn 180 do đồng chí Nguyễn Thanh Bình (Bình Thẹo) và Nguyễn Văn Liệt (Sáu Liệt) chỉ huy đã chiến đấu anh dũng, đẩy lùi 9 đợt tấn công của địch; Trung đội 3 do đồng chí Nguyễn Phong Giang chỉ huy đang tuần tra cũng phối hợp đánh địch; diệt 45 tên.


Đến cuối năm 1968, tổ chức An ninh vũ trang phát triển thành một lực lượng mạnh, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ ở chiến trường miền Nam. Lực lượng An ninh vũ trang được củng cố tổ chức, phát triển lực lượng. Các đơn vị ATK có tới 482 đồng chí; đơn vị bảo vệ Trung ương cục có 150 đồng chí; 7 chốt biên phòng có 85 đồng chí; các đại đội canh gác trại giam có 90 đồng chí; bảo vệ MT11 (MT1: Mục tiêu 1) có 27 đồng chí, bảo vệ MT22 (MT2: Mục tiêu 2) có 35 đồng chí.


Do nhu cầu chiến đấu, bảo vệ, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam thành lập thêm 2 tiểu đoàn cảnh vệ dự bị, gồm 200 đồng chí; 3 tiểu đoàn An ninh vũ trang có 1.000 đồng chí, 50 chiến sĩ lái xe. Mặt khác, Ban An ninh còn kiến nghị bổ sung cho lực lượng An ninh vũ trang 10 cán bộ huyện ủy, 5 cán bộ tỉnh ủy để phụ trách các công tác Đảng, tham mưu, chính trị, cảnh vệ. Trong năm 1968, Bộ Tư lệnh Công an vũ trang đã bổ sung 373 cán bộ, chiến sĩ cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam.


Năm 1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp ra nghị quyết "Về tình hình và nhiệm vụ trước mắt của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta", chủ trương "tiếp tục đẩy mạnh tổng công kích, tổng khởi nghĩa". Quán triệt chủ trương của Đảng, đầu năm 1969, Ban An ninh Trung ương cục ra Chỉ thị số 06/CT yêu cầu lực lượng An ninh "phải chủ dộng nắm toàn diện, cụ thể, chính xác về tổ chức, âm mưu, thủ đoạn hoạt động của gián điệp Mỹ - ngụy, các tổ chức trá hình, các cơ quan đàn áp, bình định", đồng thời đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống kế hoạch Phượng Hoàng của địch.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #19 vào lúc: 22 Tháng Tám, 2023, 08:19:38 am »

Nắm vững phương châm "đánh sâu, đánh mạnh, đánh trúng đối tượng", lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã chủ động nắm tình hình, tiến công vào tận hang ổ của địch. Đối với các khu căn cứ, công tác bảo vệ căn cứ Trung ương cục và các khu ủy được chú ý và tăng cường. Các đơn vị An ninh vũ trang khắc phục mọi khó khăn, gian khổ để bảo vệ an toàn cho cán bộ lãnh đạo. Tiêu biểu là Tiểu đoàn 1 An ninh vũ trang bảo vệ Trung ương cục, Đại đội 32 thuộc Tiểu đoàn 10 An ninh vũ trang bảo vệ Khu ủy khu 5, các đội An ninh vũ trang bảo vệ Khu ủy khu Trị Thiên - Huế, Khu ủy khu 6, Khu ủy khu Đông Nam Bộ, Khu ủy khu 8, Khu ủy khu 9.


Những đơn vị này đã có những trận đánh điển hình như: Ngày 20-3-1969, địch ném bom, bắn phá dữ dội và cho một đại đội biệt kích đánh vào căn cứ Trung ương cục. Đoàn 180 An ninh vũ trang do đồng chí Trần Văn Nhiều và Dương Ngọc Lâm chỉ huy đã kịp thời bảo vệ các đồng chí lãnh đạo di chuyển đến căn cứ dự bị an toàn; diệt 15 tên biệt kích, bắn rơi 2 trực thăng địch. Ngày 12-4-1969, một đại đội biệt kích từ căn cứ Thiện Ngôn bí mật xâm nhập vào khu vực căn cứ ta, Đại đội 3 do đồng chí Hồ Bi và Sáu Hớn chỉ huy đã tổ chức đón đánh ở bắc Trảng Tràm (Tây Ninh); diệt 35 tên, bắt 2 tên, thu 9 súng. Ngày 1-6-1969, một trung đội thám báo địch tập kích vào căn cứ, Đại đội 2 An ninh vũ trang (Đoàn 180) chủ động tấn công; diệt hàng chục tên. Đêm 16 rạng sáng 17-8-1969, một tổ trinh sát của ta đã đột nhập vào căn cứ biệt kích Thiện Ngôn, đặt mìn định hướng chờ sáng 18-8 địch tập trung quân đi càn thì cho mìn nổ; diệt 20 tên, phá hủy 2 xe quân sự, bẻ gãy cuộc hành quân của chúng. Ngày 21-9-1969, địch cho một tiểu đoàn biệt kích đổ bộ xuống Trảng Bảy Bàu để đánh vào căn cứ Trung ương cục. Ngay khi quân địch tiếp đất, một phân đội của C2 thuộc D2, Đoàn 180 An ninh vũ trang đã tiến công địch, diệt 30 tên; đơn vị trính sát của tiểu đoàn cùng C1 diệt toàn bộ ban chỉ huy của địch, diệt và làm bị thương 82 tên, thu 7 súng; các chiến sĩ C2 tiếp tục đón lõng, diệt thêm 40 tên, thu 02 súng, bắn rơi 1 máy bay địch1 (Với chiến công này, Đoàn 180 được Bộ Chỉ huy Miền tặng Huân chương Chiến công hạng Hai và Huân chương Chiến công hạng Ba; C1 và B5 trinh sát vũ trang được tặng giấy khen). Ngày 17-10-1969, địch cho tiểu đoàn biệt kích Xuyên Sơn từ cứ điểm Thiện Ngôn xâm nhập vào khu vực bắc Tây Ninh; Trung đội 9, Đại đội 3 do đồng chí Nguyễn Văn Hớn chỉ huy đón đánh, diệt 38 tên; Đại đội 2, Tiểu đoàn 2 An ninh vũ trang do đồng chí Nguyễn Tự Cường, Nguyễn Văn Lạc (Mười Lạc) chỉ huy đã tổ chức truy tìm, diệt tiếp 49 tên.


Phát huy những thắng lợi đã đạt được, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam tăng cường công tác phát động phong trào phòng gian, bảo mật sâu rộng trong nội bộ Đảng, các tổ chức cách mạng, trong quần chúng, đánh bại âm mưu và hoạt động do thám, gián điệp, nội gián, chiến tranh tâm lý chiêu hàng của địch; tích cực bảo vệ nội bộ Đảng, chính quyền và đoàn thể cách mạng, giữ gìn trật tự an ninh cho nhân dân; bảo vệ hành lang vận chuyển phục vụ cho chiến đấu của quân đội và đấu tranh chính trị của quần chúng, góp phần tích cực đánh đổ hệ thống ngụy quyền, đồng thời ra sức chuẩn bị lực lượng và điều kiện tiến lên đập tan mọi âm mưu, hành động chống phá cách mạng lâu dài của địch.


Trong lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang diễn ra rất gay go, ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu từ trần. Tại Khu căn cứ kháng chiến, Trung ương cục miền Nam đã tổ chức lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng An ninh vũ trang đã bảo vệ an toàn tuyệt đối lễ truy điệu.


Tháng 3-1970, Mỹ câu kết với chính quyền Lonnon (Campuchia) mở chiến dịch hai gọng kìm hòng tiêu diệt căn cứ của Trung ương cục miền Nam đóng trên đất Campuchia và các cơ quan của Chính phủ cách mạng đóng sát biên giới Campuchia.


Thực hiện mệnh lệnh của Thường vụ Trung ương cục, từ cuối tháng 3-1970, Đoàn 180 An ninh vũ trang đã phối hợp với các lực lượng vũ trang tiến công cứ điểm Krết, theo quốc lộ 7 lên Xuông và Tonlêbết, đánh địch ở khu vực Tà Súa, Tà Rao và chiếm phà Niếc Lương. Cùng lúc đó, Tiểu đoàn 1 của Cảnh vệ phối hợp với quân chủ lực tiến công Mimốt lên Srêcốc và cứ điểm địch ở Rùm Chiếc, mở đường đưa các đồng chí lãnh đạo Trung ương cục, văn phòng và các đoàn thể về căn cứ dự bị của ta tại Công Pông Chàm (Campuchia).


Lực lượng An ninh vũ trang và Cảnh vệ của Trung ương cục vừa chiến đấu chống địch trên đất ta, vừa phối hợp với lực  lượng vũ trang của ta và bạn đánh địch, giúp cách mạng Campuchia giải phóng một vùng rộng lớn, bảo vệ an toàn Trung ương cục và các cơ quan trực thuộc, làm thất bại cuộc hành quân càn quét của địch. Riêng Tiểu đoàn 2, Đoàn 180 An ninh vũ trang đã chiến đấu hàng chục trận, phá hủy 27 xe cơ giới, diệt hàng trăm tên địch.


Tại Khu 8, giữa năm 1970, địch tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét đánh vào căn cứ. Khu ủy quyết định rời căn cứ sang đất Campuchia giáp với tỉnh An Giang. Tiểu đoàn 29 An ninh vũ trang bảo vệ Khu ủy tổ chức bảo vệ, dẫn đường, đưa gần 1.000 cán bộ tới căn cứ mới an toàn. Lực lượng An ninh vũ trang của ta còn phối hợp với lực lượng quân sự của bạn đánh địch, giải phóng hoàn toàn 5 tỉnh và phần lớn 6 tỉnh Đông Bắc Campuchia. Ở vùng mới giải phóng, lực lượng An ninh vũ trang giúp bạn củng cố lượng chính trị, phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền cách mạng. Theo yêu cầu của bạn, Ban An ninh Trung ương cục và ban an ninh một số khu đã cử cán bộ sang giúp bạn xây dựng lực lượng an ninh. Ban an ninh Trung ương cục cử đồng chí Phạm Cứu (Toàn Thắng) mở các lớp đào tạo cán bộ an ninh cho bạn; đồng chí Tám Lai và Huỳnh Song sang giúp bạn xây dựng lực lượng an ninh vũ trang.


Ở các khu, lực lượng An ninh vũ trang bảo vệ đã phát huy vai trò nòng cốt trong công tác bảo vệ Đảng, căn cứ và nhân dân vùng giải phóng. An ninh vũ trang Khu ủy 9 bám trụ kiên cường, vừa tổ chức các phân đội hoạt động phân tán, luồn sâu tập kích sau lưng địch khi chúng tập trung lực lượng càn quét, diệt nhiều tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, bảo vệ an toàn cho lãnh đạo dl chuyến vào căn cứ mới sâu trong rừng U Minh. Tại Khu 6, tháng 5-1972, địch cho một tiểu đoàn càn quét vào căn cứ trong khỉ Khu ủy 6 đang họp. Sáu chiến sĩ An ninh vũ trang bảo vệ căn cứ do đồng chí Lê Hồng Nhị chỉ huy đã chiến đấu dũng cảm, tạo điều kiện thời gian cho lãnh đạo Khu ủy rút lui an toàn. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, cả 6 đồng chí đã hy sinh anh dũng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM