Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Bảy, 2024, 12:03:31 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết lịch sử công tác An ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam  (Đọc 2825 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2023, 07:07:20 am »

- Tên sách: Tổng kết lịch sử công tác An ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam - Thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954-1975
- Tác giả:
- Nhà xuất bản: Công an Nhân dân
- Năm xuất bản: 2017
- Người số hóa: macbupda, saoden


TRƯỞNG BAN CHỈ ĐẠO TỔNG KẾT LỊCH SỬ BỘ CÔNG

   THƯỢNG TƯỞNG BÙI QUANG BỂN
   Uỷ viên Trung ương Đảng - Thứ trưởng Bộ Công an


TRƯỞNG BAN NGHIÊN CỨU TỔNG KẾT

   THIẾU TƯỚNG. PGS. TS NGUYỄN BÌNH BAN
   Viện trưởng Viện Lịch sử Công an


BAN NGHIÊN CỨU TỔNG KẾT

   THIẾU TƯỚNG, PGS. TS NGUYỄN BÌNH BAN

   ĐẠI TÁ, TS PHẠM THANH HẢI

   THƯỢNG TÁ NGUYỄN BÁ THU

   THƯỢNG TÁ LÊ VĂN VẤN

   TRUNG TÁ, ThS LƯU THỊ BÍCH NGỌC
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #1 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2023, 07:08:05 am »

LỜI NÓI ĐẦU


Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954-1975), đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn lần lượt triển khai 4 chiến lược chiến tranh vô cùng thâm độc và xảo quyệt ở miền Nam Việt Nam. Chúng huy động các lực lượng, sử dụng nhiều biện pháp và các phương tiện chiến tranh hiện đại nhất hòng tiêu diệt phong trào cách mạng miền Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ hòng đẩy lùi phong trào giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở khu vực Đông Nam Á, đồng thời bao vây, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa khác.


Thực hiện mục tiêu giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã kiên quyết đứng lên, đoàn kết một lòng, "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.


Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc ta, đưa cách mạng nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do cả nước cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này là kết quả của sự lãnh đạo tài tình của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, của khát vọng hòa bình và ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của toàn quân và dân ta, trong đó có đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân nói chung và An ninh vũ trang miền Nam nói riêng.


Trong cuộc chiến đấu quyết liệt này, lực lượng An ninh vũ trang là một bộ phận quan trọng của lực lượng An ninh miền Nam, phát triển từ không đến có và trở thành lực lượng chủ lực, nòng cốt trong công tác bảo vệ cơ quan đầu não Trung ương cục, các khu ủy, tỉnh ủy và cán bộ lãnh đạo các cấp; xây dựng và bảo vệ căn cứ cách mạng; bảo vệ an ninh, trật tự vùng giải phóng; đồng thời luồn sâu vào lòng địch, trừ diệt những tên tay sai, gián điệp của các cơ quan tình báo, cảnh sát địch; phối hợp chặt chẽ với lực lượng quân giải phóng và nhân dân chống càn quét, đẩy lùi các cuộc tấn công vũ trang quy mô lớn của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, bảo vệ vững chắc căn cứ đầu não kháng chiến. Những thành tích xuất sắc, những chiến công chói lọi của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã đóng góp to lớn vào sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và để lại cho hôm nay nhiều bài học quý giá.


Sau 37 năm kết thúc chiến tranh, nhiều công trình nghiên cứu lịch sử trong Công an nhân dân đã được tiến hành, nhưng chưa có công trình nào đề cập tới lịch sử hình thành và phát triển củng như công tác và hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam. Vì vậy, việc nghiên cứu tổng kết, đánh giá toàn diện và có hệ thống để rút ra những bài học kinh nghiệm về công tác an ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam thời kỳ chống Mỹ, cứu nước là việc làm cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, thực tiễn, vừa mang tính nhân văn, giáo dục rất sâu sắc.


Thực hiện Kế hoạch số 58/KH-BCĐ ngày 23-3-2012 của Ban Chỉ đạo Tổng kết lịch sử Bộ Công an và Quyết định số 3422/QĐ-BCA ngày 27-7-2012 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc thành lập Ban Chỉ đạo, Ban Nghiên cứu Tổng kết lịch sử công tác an ninh vũ trang của lực lượng An ninh miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Ban Nghiên cứu Tổng kết đã triển khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài này vào năm 2015, góp phần vào thành công của đề tài chính "Tổng kết lịch sử Công an nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)".


Để góp phần tuyên truyền phổ biến và vận dụng kết quả nghiên cứu đề tài vào thực tiễn, đóng góp thêm luận cứ khoa học cho việc bổ sung, phát triển lý luận về công tác an ninh vũ trang và công tác khoa học công an nói chung, lãnh đạo Bộ chỉ đạo Viện Lịch sử Công an biên tập và cho xuất bản thành cuốn sách tham khảo.


Cuốn sách gồm 3 phần:

- Phần thứ nhất: Quá trình hình thành, phát triển và hoạt động của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975);

- Phần thứ hai: Những bài học kinh nghiệm chủ yếu;

- Phần thủ ba: Một số tư liệu lịch sử;

Nhân dịp xuất bản cuốn sách, Viện Lịch sử Công an trân trọng cảm ơn và ghi nhận sự giúp đỡ, phối hợp và đóng góp những ý kiến quý báu của các đồng chỉ trong Ban Chỉ đạo tổng kết lịch sử Bộ Công an, các đồng chí Công an lão thành, các nhân chứng lịch sử của Đoàn 180, Bộ Tư lệnh cảnh vệ, Công an một số đơn vị, địa phương, các nhà khoa học lịch sử trong và ngoài lực lượng CAND. Trong quá trình nghiên cứu, Ban Biên soạn đã rất cố gắng và cầu thị khoa học, nhưng dù khó khăn về nguồn sử liệu và trình độ tổng kết nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các đồng chí và độc giả tiếp tục góp ý xây dựng để lần tái bản được hoàn chỉnh hơn.

VIỆN LỊCH SỬ CÔNG AN
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #2 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2023, 07:09:35 am »

PHẦN THỨ NHẤT
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
LỰC LƯỢNG AN NINH VŨ TRANG MIỀN NAM
THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC
(1954-1975)


Sau Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, từng bước khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa-xã hội, tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Ở miền Nam, Mỹ thay chân Pháp, ảm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Âm mưu cơ bản của Mỹ nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam, ngăn chặn sự phát triển của phong trào dân tộc, dân chủ và CNXH ở khu vực Đông Nam Á. Đất nước ta tạm thời chia làm 2 miền với hai nhiệm vụ khác nhau nhưng cùng chung nhiệm vụ chiến lược là đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tiến tới thống nhất đất nước.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam là một bộ phận quan trọng của lực lượng An ninh mỉền Nam, gắn liền với sự phát triển của cách mạng miền Nam. Lực lượng An ninh vũ trang miền Nam thực hiện nhiệm vụ bảo vệ cán bộ Đảng và các cơ quan của Đảng. Khi cuộc kháng chiến bước vào giai đoạn quyết liệt, lực lượng An ninh vũ trang miền Nam làm nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não của Đảng, mặt trận, chính phủ lâm thời, căn cứ địa và chính quyền cách mạng vùng giải phóng. Những thành tích, chiến công của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam đã góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam thời kỳ 1954-1975.


I- GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1954 ĐẾN ĐẦU NĂM 1960

Sau khi ký Hiệp định Giơnevơ, thực dân Pháp phải rút quân về nước, công nhận chủ quyền, độc lập dân tộc ba nước Đông Dương. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi.


Tuy nhiên, theo quy định của Hiệp định, vĩ tuyến 17 được lấy làm giới tuyến quân sự tạm thời, phân chia hai miền Nam - Bắc, sau 2 năm sẽ tổ chức tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Từ đây, cách mạng Việt Nam bước vào một thời kỳ mối trong điều kiện đất nước tạm thời chia làm 2 miền với 2 chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, đi lên chủ nghĩa xã hội; miền Nam tạm thời dưới sự thống trị của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta để giải phóng hoàn toàn miền Nam, tiến tới thống nhất nước nhà phải tiếp tục trong một thời gian dài, hết sức gay go và quyết liệt.


Ở miền Bắc, sau khi quân đội Pháp rút vào Nam, nhân dân ta phải tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định cuộc sống, củng cố xây dựng miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cả nước, làm cơ sở cho cuộc đấu tranh thực hiện một nước Việt Nam hòa bỉnh, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Trước mắt, miền Bắc phải đối mặt với những khó khăn do hậu quả của gần một thế kỷ thuộc địa và 9 năm kháng chiến chống thực dân pháp; nhiều tàn dư của chế độ cũ để lại và các thế lực phản động thân Pháp tiếp tục chống phá cách mạng. Khi có Hiệp định đình chiến, địch cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam; đồng thời cài lại nhiều toán gián điệp, các tổ chức phản động để nắm tình hình, gày rối, phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.


Miền Nam tạm thời thuộc quyền kiểm soát của địch; lực lượng cách mạng ở miền Nam phải tập kết ra Bắc. Tình hình đó có tác động mạnh tới tâm tư, tình cảm của đồng bào, đồng chí miền Nam và đặt ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới vô cùng khó khăn, phức tạp.


Từ lâu, Mỹ đã âm mưu thay chân Pháp độc chiếm Đông Dương. Nhân cơ hội Pháp bại trận, Mỹ sử dụng sức mạnh quân sự và đồng đôla để hất cẳng Pháp. Âm mưu cơ bản của Mỹ là chia cắt lâu dài đất nước ta, thôn tính miền Nam, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, ngăn chặn phong trào cộng sản ở khu vực Đông Nam Á; đồng thời lấy miền Nam làm căn cứ tiến công miền Bắc Việt Nam, uy hiếp phe xã hội chủ nghĩa và phong trào cách mạng thế giới.


Thực hiện âm mưu chiến lược này, Mỹ đã thỏa thuận với Pháp, dựng lên một chính quyền tay sai thân Mỹ ở miền Nam. Ngày 16-6-1954, Mỹ ép Pháp và Bảo Đại huộc Thủ tướng Bửu Lộc từ chức, đưa Ngô Đình Diệm lên thay. Ngày 7-7-1954, nội các bù nhìn mớỉ thân Mỹ thành lập do Ngô Đình Diệm làm Thủ tướng kiêm Tổng trưởng quốc phòng. Đến tháng 6-1955, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng được một lực lượng quân sự gồm 10 sư đoàn bộ binh, hàng chục trung đoàn độc lập với một Bộ Tổng tham mưu hoàn toàn thân Mỹ. Cố vấn Mỹ được cài cắm sâu trong Phủ Tổng thõng, Bộ Tổng tham mưu, Nha Cảnh sát, các bộ thuộc chính quyền Sài Gòn và cả đơn vị quân đội, chính quyền ngụy từ vĩ tuyến 17 trở vào. Hệ thống cơ quan tình báo Mỹ - ngụy phát triển, gồm nhiều tổ chức công khai và trá hình. Cụ thể là: Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), chỉ huy mọi hoạt động tình báo ở Việt Nam 1954-1975; Cục Tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ (DIA) là cơ quan tình báo quân sự Mỹ, chỉ đạo toàn bộ hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam; Phái đoàn Quân sự Mỹ tại Sài Gòn (SMM) làm nhiệm vụ cố vấn, tổ chức, huấn luyện tình báo cho quân đội, an ninh, cảnh sát của chính quyền Sài Gòn; Phái đoàn cố vấn tổ chức huấn luyện (ATOM) do CIA chỉ đạo là cơ quan đặc trách viện trợ của Mỹ cho quân đội và an ninh, cảnh sát của chính quyền Sài Gòn; Phái đoàn cố vấn viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MAAG-VN), chuyên theo dõi tình hình chiến sự miền Nam Việt Nam; Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) thuộc Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ, thực hiện nhiệm vụ viện trợ và huấn luyện lực lượng vũ trang ngụy Sài Gòn; các cơ quan Tình báo lục quân Mỹ (AI), cơ quan Tỉnh báo không quản Mỹ (AFI), cơ quan Tình báo hải quân Mỹ (NI) chỉ đạo hoạt động tình báo lục - hải - không quân Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam.


Tháng 6-1954, Đại tá tình báo Mỹ Lansdale đến Sài Gòn để tổ chức mạng lưới tình báo, nắm tình hình và tìm biện pháp lập chính quyền thân Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Để đàn áp, tiêu diệt phong trào cách mạng và tận diệt các cơ sở Cộng sản ở miền Nam Việt Nam, dưới sự chỉ đạo của Mỹ, chính quyền Sài Gòn đã lập một hệ thống tình báo dày đặc từ trung ương đến địa phương. Cụ thể là các tổ chức: Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo thuộc Tổng thống Phủ do Ngô Đình Nhu phụ trách; 3 tổ chức tình báo trá hình mang tên Sở Nghiên cứu Chính trị xã hội do Trần Kim Tuyến làm Giám đốc, Sở Liên lạc do Lê Quang Tung chỉ huy, Liên đội Biệt động1 (Còn gọi là Liên đội Quan sát I) chuyên huấn luyện gián điệp biệt kích. Các cơ quan an ninh quân đội, an ninh, cảnh sát địch hoạt động trên tất cả các lĩnh vực, ở mọi địa bàn, kể cả hoạt động chống phá miền Bắc Việt Nam. Sau này còn có các tổ chức trá hình như Bộ Chiêu hồi, Ủy ban Phượng Hoàng v.v...
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #3 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2023, 07:11:04 am »

Cùng với quá trình xây dựng chính quyền Sài Gòn, Mỹ tăng cường xây dựng bộ máy đàn áp phong trào yêu nước và cách mạng. Chúng tổ chức mạng lưới kìm kẹp nhân dân và đàn áp các cơ sở cách mạng và lực lượng cách mạng đến tận cấp xã, phường, khóm, ấp; hoạt động khủng bố, bắt bớ, giam cầm, tra tấn những người kháng chiến cũ tràn lan, rộng khắp. Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn liên tục mở các chiến dịch dẹp các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên. Từ tháng 5-1955, địch đã mở các đợt "tố Cộng, diệt Cộng" với phương châm "giết nhầm còn hơn bỏ sót". Chúng đã gây ra hàng trăm vụ thảm sát đẫm máu ở Quảng Nam, Bến Tre, Sài Gòn - Gia Định và nhiều nơi khác1 (Chỉ tính trong 7 tháng (từ tháng 7-1955 đến tháng 2-1956), địch đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên và những ngưòỉ yêu nước ở miền Nam Việt Nam).


Cùng với các chiến dịch "tố Cộng, diệt Cộng", Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn ra thông cáo bắt cán bộ ta ra trình diện, phân loại nhân dân, làm tờ khai gia đình, tổ chức các mạng lưới tề điệp, dân vệ, mật vụ ở cấp xã và tổng đoàn dân vệ, đại đội bảo an ỏ cấp huyện nhằm đàn áp phong trào quần chúng đòi hiệp thương tổng tuyển cử, đòi dân sinh, dân chủ, hòa bình. Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn dùng chính sách chiêu hàng, mua chuộc cán bộ và các cơ sở cách mạng của ta. Trong những năm 1955-1957, tổ chức và cơ sở Đảng của ta ở miền Nam bị tổn thất nghiêm trọng.


Nhận định về âm mưu của Mỹ, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6, ngày 15-7-1954, xác định rõ: "Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, và đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2001, tr.225). Trên cơ sở đó, Ban chấp hành Trung ương lần thứ 6 xác định phương hướng của cách mạng nước ta là: "Tranh thủ củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất và hoàn thành độc lập dân tộc, dân chủ trong toàn quốc, tăng cường xây dựng lực lượng quân sự, xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh, thích hợp với yêu cầu của tình hình mới"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2001, tr 225).


Từ xác định đúng kẻ thù chính và những diễn biến mới của tình hình cách mạng, Trung ương Đảng đã từng bước xác định quan điểm, đường lối, bước đi của cách mạng và cụ thể hóa bằng những chỉ thị, nghị quyết. Đây là định hướng hết sức đúng đắn nhằm lãnh đạo toàn quân, toàn dân tích cực chuẩn bị bước vào cuộc chiến đấu mới chống đế quốc Mỹ xâm lược.


Để chủ động đối phó với âm mưu và hoạt động của Mỹ, ngày 5-9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về "Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng". Nghị quyết đã chỉ rõ 5 đặc điểm của nước ta sau khi có Hiệp định Giơnevơ, trong đó nhấn mạnh 2 đặc điểm nổi bật, chi phối nhiệm vụ chiến lược và chính sách của Đảng là: từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; đất nước tạm thời chia cắt làm 2 miền với 2 chế độ chính trị khác nhau. Bộ Chính trị xác định: Nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta chưa phải đã hoàn thành, cuộc đấu tranh ái quốc không vì đình chiến mà kết thúc; cuộc đấu tranh cần phải thay đổi. Chúng ta cần phải hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc trong hình thức đấu tranh mới. Đối với cách mạng miền Nam, Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh đòi đối phương thi hành đầy đủ Hiệp định Giơnevơ, củng cố hóa bình, thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh. Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương cục miền Nam, thành lập Xứ ủy Nam Bộ và Liên khu ủy 5 (riêng Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế tạm giao cho Liên khu ủy IV phụ trách) để lãnh đạo trực tiếp cách mạng miền Nam; chỉ đạo Xứ ủy lập "Ban Nghiên cứu Xứ ủy" để nắm tình hình địch với 3 nhiệm vụ chủ yếu: thu thập tin tức tình báo chiến lược, quân báo, bảo vệ Đảng và phong trào cách mạng.


Để tiếp tục nắm tình hình địch và lãnh đạo cách mạng miền Nam, Trung ương Đảng đã bố trí những cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu chiến trường ở lại miền Nam; một số cán bộ miền Bắc cũng được bô trí, tăng cường cho cách mạng miền Nam. Năm 1955, các đồng chí Trần Lương, Võ Chí Công được cử vào giữ chức Bí thư, Phó bí thư Đảng bộ Liên khu 5.


Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng mà trực tiếp là Xứ ủy Nam Bộ, nhân dân miền Nam ở khắp các tỉnh, từ nông thôn đến thành thị đã dấy lên phong trào đấu tranh chính trị. Những cuộc biểu tình rầm rộ, có tính chất biểu dương lực lượng, với những khẩu hiệu vì hòa bình, ủng hộ Hiệp định và đòi thi hành các điều khoản của Hiệp định diễn ra từ thành thị đến nông thôn. Lo sợ trước làn sóng đấu tranh của nhân dân ta, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tìm mọi cách đàn áp phong trào, khủng bố gắt gao đảng viên và những người kháng chiến cũ.


Mùa thu năm 1956, đồng chí Lê Duẩn soạn thảo "Đề cương cách mạng miền Nam". Đề cương xác định rõ: "Nhiệm vụ cua cách mạng miền Nam là đánh đổ chính quyền độc tài phát xit Ngô Đinh Diệm, tay sai của Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính chất dân tộc, dân chủ để cùng với miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập và dân chủ nhân dân"1 (Lê Duẩn, Tuyển tập, tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2007, tr. 100). Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng và Đề cương cách mạng miền Nam, Xứ ủy Nam Bộ tổ chức Hội nghị đánh giá tình hình, đề ra phương hướng và nhiệm vụ trước mắt là "tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ ở rừng núi". Tại Khu 5, Hội nghị Liên khu ủy 5 đã đề ra phương châm đấu tranh là: "Dùng vũ trang chính trị nhằm tiêu diệt bọn Mỹ, để khởi động tinh thần dân tộc và phong trào chống Mỹ"2 (Bộ Công an, Lịch sử Công an Liên khu V, Nxb Công an nhân dân, HN, 2008, tr. 53).


Trong thời gian này, Xứ ủy thành lập Ban Bảo vệ Xứ ủy Nam Bộ và chỉ đạo các cấp ủy Đảng thành lập ban bảo vệ do đồng chí bí thư hoặc phó bí thư phụ trách, có cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ. Đến đầu năm 1955, Ban Bảo vệ Xứ ủy Nam Bộ và sau đó ban địch tình các khu, tỉnh cũng lần lượt được thành lập và đi vào hoạt động. Riêng các tỉnh thuộc Liên khu ủy Nam Trung Bộ lập ban cán sự Đảng, không có ban địch tình, mà mỗi cán bộ, đảng viên ở lại đều làm công tác địch tình và vận động quần chúng đấu tranh với địch, bảo vệ phong trào cách mạng.


Để phục vụ cho cuộc đấu tranh trước mắt và lâu dài, trong thời gian này, Trung ương Đảng chủ trương tập trung các hoạt động điệp báo cho chiến trường miền Nam, đồng thời chỉ đạo cho các Đảng bộ ở miền Nam bố trí cán bộ và cơ sở điệp báo của Công an và quân báo ở lại chuyển hướng hoạt động cho phù hợp với tình hình mới. Riêng công tác công an ở các tỉnh Khu 5 do Bộ Công an trực tiếp chỉ đạo.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #4 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2023, 07:12:23 am »

Thực hiện chủ trương của Đảng, ngay từ tháng 9-1954 đồng chí Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn đã cử đồng chí Trần Viễn Chi, phụ trách công tác phái khiển của Bộ Công an vào miền Nam truyền đạt chủ trương của lãnh đạo Bộ về công tác phái khiển. Sau khi truyền đạt nội dung nhiệm vụ công tác phái khiển, đồng chí Trần Viễn Chi còn trao đổi với các đồng chí phụ trách Công an Nam Bộ về quy ước thông tin liên lạc giữa Bộ Công an với Công an Nam Bộ. Từ năm 1955 đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đã quyết định thành lập Tổ Cán bộ miền Nam trong Phòng tổ chức cán bộ, trực thuộc Bộ trưởng; năm 1957, đổi thành Bộ phận cán bộ miền Nam để nắm tình hình miền Nam, tuyển dụng cán bộ tăng cường cho công tác công an ở miền Nam.


Sau khi thành lập Liên khu 5, trong 2 ngày 27 và 28-7-1954, Liên khu ủy 5 đã họp Hội nghị mở rộng đến các bí thư tỉnh ủy để quán triệt Nghị quyết Trung ương 6. Hội nghị đề ra 3 công việc cấp bách phải làm ngay: Mở đợt tuyên truyền và giáo dục sâu rộng cho tất cả cán bộ đảng viên, quần chúng về tình hình nhiệm vụ mới, về phương châm đấu tranh; tổ chức lại bộ máy lãnh đạo của Đảng và các tổ chức quần chúng; tổ chức và biên chế lực lượng vũ trang phù hợp với tình hình. Ngày 19-11-1954, Liên khu ủy 5 đã ra Chỉ thị số 106-PV/3 xác định rõ nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân Liên khu V trong giai đoạn mới. Về công tác công an, chỉ thị nêu rỏ: "Đề cao cảnh giác trong cán bộ, nhân dân, đặc biệt tàng cường công tác bảo vệ chính trị và bảo vệ trị an". Nhiệm vụ cụ thể là khôi phục lại phong trào phòng gian bảo mật, củng cố công tác bảo vệ cơ quan, tích cực đối phó với bọn do thám gián điệp, bài trừ lưu manh, ngăn ngừa và đập tan âm mưu phá hoại của bọn phản cách mạng, bảo vệ an toàn việc chuyển quân tập kết ra Bắc và tài sản quốc gia, bảo vệ nhân dân, nâng cao uy thế của chính quyền cách mạng. Để phục vụ cho cuộc đấu tranh trước mắt và lâu dài, Liên khu ủy 5 chủ trương chọn một số cán bộ có sức khỏe, có kinh nghiệm công tác, thông thạo địa bàn ở lại hoạt động hợp pháp, bất hợp pháp hoặc bí mật. Các cấp ủy Đảng chuyển vào hoạt động bí mật, nhất là các Đảng bộ có 300-500 đảng viên.


Thực hiện chủ trương này, hầu hết cán bộ Công an Liên khu 5 tập kết ra Bắc; số được lựa chọn ở lại thực hiện đổi chỗ, chuyển vùng, xã hội hóa, hoạt động trong các tổ chức biến tướng của quần chúng như: Hội hướng đạo, đoàn hát bộ, tổ văn công, đoàn tuần sương, tuần đinh để bảo vệ Đảng và cơ sở cách mạng.


Tháng 6-1956, trước tình hình diễn biến ngày càng phức tạp của cách mạng miền Nam, Bộ Chính trị họp và ra Nghị quyết về tình hình, nhiệm vụ và công tác miền Nam. Nghị quyết xác định: "tính chất cuộc vận động cách mạng của ta ở miền Nam là dân tộc và dân chủ; nhiệm vụ cách mạng của ta ở miền Bắc là phản đế và phản phong kiến"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập. Sđd, Tr. 17). "Hình thức đấu tranh của ta trong toàn quốc hiện nay là đấu tranh chính trị, không phải là đấu tranh vũ trang. Nói như thế không có nghĩa là tuyệt đối không dùng vũ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định hoặc không tận dụng những lực lượng vũ trang của các giáo phái chống Diệm"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập. Sđd, Tr. 224). Bộ Chính trị chủ trương: "Tổ chức tự vệ trong quần chúng nhằm bảo vệ các cuộc đấu tranh của quần chúng và giải thoát cán bộ khi cần thiết"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập. Sđd, Tr. 225); "cần củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng căn cứ làm chỗ dựa. Đồng thời xây dựng cơ sở quần chúng vững mạnh làm điều kiện căn bản để duy trì và phát triển lực lượng vũ trang"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập. Sđd, Tr. 228).


Sau Nghị quyết này, Bộ Chính trị tăng cường chỉ đạo cách mạng miền Nam, trong đó vấn đề quan trọng nhất là xây dựng và bảo vệ lực lượng cách mạng và căn cứ cách mạng. Đây thực sự là bước chuyển hướng đường lối quan trọng của cách mạng miền Nam.


Thực hiện Nghị quyết của Trung ương Đảng, giữa năm 1958, Khu ủy khu 5 ra Nghị quyết về xây dựng căn cứ Tây Nguyên và miền Tây; các tỉnh Trung Nam Bộ củng cố hậu cần và bước đầu xây dựng lực lượng bán vũ trang và một số đơn vị vũ trang tập trung. Khu ủy cũng chỉ thị cho các địa phương tổ chức các đội tự vệ ở các buôn, làng, thôn, xã để bảo vệ cơ sở, hỗ trợ cho các cuộc đấu tranh của quần chúng, giải thoát cho cán bộ bị địch bắt, trừ diệt số ác ôn ngoan cố.


Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ có hiệu lực, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã trắng trợn phá hoại Hiệp định, tiến hành khủng bố, trả thù cán bộ, đảng viên và những người kháng chiến. Để đối phó với địch, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương đưa các tổ chức Đảng ở miền Nam rút vào hoạt động bí mật. Một bộ phận cán bộ chiến sĩ Công an được phân công ở lại tiếp tục bám địa bàn, nắm tình hình địch, sẵn sàng đấu tranh chống khủng bố, bắt bớ. Đồng thời, Xứ ủy thành lập Trung đội Quốc vệ đội do đồng chí Ba Dũng làm Trung Đội trưởng1 (Lực lượng bảo vệ Xứ ủy rút xuống một cấp: B trưởng làm A trưởng, A trưởng làm chiến sĩ. Đây là tổ chức tiền thân của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam). Nhiệm vụ chính của Trung đội Quốc vệ đội là bảo vệ Xứ ủy, bảo vệ căn cứ. Tháng 10-1954, Xứ ủy chủ trương thành lập Ban Bảo vệ Xứ ủy và ban bảo vệ ở các cấp ủy Đảng. Ban Bảo vệ Xứ ủy do đồng chí Văn Viên, Xứ ủy viên phụ trách; các đồng chí Cao Đăng Chiếm (nguyên Phó Giám đốc Sở Công an Nam Bộ), Hoàng Minh Đạo (nguyên Trưởng Phòng quân báo Nam Bộ) làm Phó trưởng ban. Ban Bảo vệ có nhiệm vụ: nắm tình hình địch; xây dựng căn cứ; bảo vệ cán bộ. Tổ chức Ban Bảo vệ gồm 3 bộ phận: Bộ phận địch tình, Bộ phận bảo vệ và Bộ phận thông tin liên lạc. Ban Bảo vệ các cấp ủy Đảng ở miền Nam do đồng chí bí thư hoặc phó bí thư phụ trách, có cán bộ Công an ở lại chuyên trách với nhiệm vụ: vận động phòng gian bảo mật, chống khủng bố, giải thoát cán bộ bị địch bắt; tổ chức nắm tình hình địch; xây dựng, bảo vệ hệ thống giao thông liên lạc; chuẩn bị căn cứ dự bị, đảm bảo an toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng. Các ban bảo vệ của Đảng chính là những tổ chức tiền thân đầu tiên của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam sau này.


Được ban bảo vệ các cấp hướng dẫn và làm nòng cốt, nhân dân miền Nam đã đấu tranh quyết liệt với bọn công an, cảnh sát địch để bảo vệ Đảng, bảo vệ lực lượng cách mạng. Trong thời gian này, ở các vùng nông thôn đồng bằng Nam Bộ và vùng rừng núi Trung Bộ đã xuất hiện phong trào đấu tranh chính trị có vũ trang tự vệ. Nhiều đội vũ trang tập trung, vũ trang tuyên truyền ra đời. Ở Liên khu 5 đã xuất hiện các đội trừ gian. Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, ban địch tình các cấp ở An Giang, Sóc Trăng, Long An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Bến Tre đã hình thành nhiều tổ "Dân cảnh" ở các xã, ấp. Những thanh niên tích cực được tổ chức lại, hoạt động trên danh nghĩa tuần tra, canh gác, chống trộm cướp, nhưng thực chất là chống địch khủng bố nhân dân, bắt bớ cán bộ. Ở Long An và Tây Ninh, nhiều đội dân cảnh bắt bọn do thám, gián điệp ban đêm đi rình mò, tri hô là cướp, buộc tề xã phải xử lý. Đây là những hình thức "đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang" đầu tiên của lực lượng An ninh miền Nam.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #5 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2023, 07:13:35 am »

Xuất phát từ yêu cầu của cách mạng miền Nam, ngày 18-10-1956, tại ấp Xóm Mới, xã Thạch Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Xứ ủy thành lập Đại đội vũ trang đầu tiên, lấy phiên hiệu là C801 (Là đơn vị tiền thân của Đoàn 180 (An ninh vũ trang miền Nam)), do các đồng chí Nguyễn Văn Thuận (Ba Thu), Lâm Quốc Đăng và Lê Thanh (Tám Lẽ Thanh) chỉ huy.


Quân số lúc đầu gồm 120 đồng chí, thành phần là những cán bộ đã được tuyển chọn trong số cán bộ được Đảng phân công ở lại miền Nam và một số thanh niên tuyển chọn từ cơ sở. Nhiệm vụ của Đại đội C80 là: xây dựng căn cứ, bảo vệ các đồng chí Xứ ủy và các cơ quan trực thuộc Xứ ủy. Đến đầu năm 1957, Xứ ủy thành lập các đơn vị C40, C50, C60, C70, C200, C300; trong đó, C60 trực tiếp bảo vệ Xứ ủy và căn cứ, do đồng chí Sáu Huấn chỉ huy; C70 do đồng chí Sáu Tùng chỉ huy; C80 do đồng chí Mười Kỉnh chỉ huy; quân số mỗi đơn vị khoảng 100 đồng chí.


Tại Khu 5, ngày 21-8-1954, đơn vị 32 được thành lập gồm có 9 đồng chí, làm nhiệm vụ bảo vệ tiếp cận Thường vụ Khu ủy, đồng thời làm nhiệm vụ cơ yếu, điện đài, giao liên, phát động quần chúng bảo vệ trị an, xây dựng lực lượng dân quân du kích, tiếp tế, hậu cần và sản xuất. Đơn vị 32 là tiền thân của Tiểu đoàn 10 An ninh vũ trang miền Nam1 (Sau ngày giải phóng miền Nam, đơn vị được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu "Đơn vị anh hùng Lực lượng với trang nhân dân"). Đến năm 1959, đơn vị có 19 đồng chí, lấy mật hiệu là B40, do đồng chí Thuần, đồng chí Lũy phụ trách, ở các tỉnh thuộc Khu 5, các tiểu ban bảo vệ, tổ bảo vệ của cấp ủy được thành lập làm nhiệm vụ bảo vệ căn cứ, các đồng chí lãnh đạo, các cuộc họp của cấp ủy, tổ chức quần chúng tham gia chống địch càn quét, bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở và lực lượng cách mạng, trừ diệt những tên tay sai của địch.


Sau khi được thành lập, tháng 11-1956, lực lượng bảo vệ Xứ ủy đã tổ chức, tham gia cùng các lực lượng vũ trang của Xứ ủy đánh địch tại đầm Vĩnh Cửu (Đồng Nai), diệt 1 trung đội địch, chiếm toàn bộ khu vực Bến Củi, tác động mạnh đến phong trào của quần chúng nhân dân. Tháng 11-1957, lực lượng bảo vệ Xứ ủy đã chủ động tấn công đồn Minh Thạnh (chỉ khu Phước Thành), diệt gọn một dại đội dân vệ địch. Trước đó, tháng 2-1957, lực lượng bảo vệ Xứ ủy được giao nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Lê Duẩn ra Bắc nhận nhiệm vụ mới1 (Đồng chí Lê Duẩn được Trung ương điều động ra Bắc và đến năm 1960 được Đại hội Đảng lần thứ III bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam). Lộ trình chuyến đi của đồng chí được bố trí theo đường dây bí mật, từ chiến khu qua Campuchia, đi Hồng Kông, về Hà Nội và lực lượng bảo vệ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.


Đầu năm 1958, ở Nam Bộ đã hình thành 2 căn cứ cách mạng: căn cứ ở Đông Bắc gọi là chiến khu Đ (thuộc Mã Đà), căn cứ ở Tây Bắc gọi là chiến khu C - Dương Minh Châu (thuộc tỉnh Tây Ninh và một phần tỉnh Long An). Để bảo vệ căn cứ, Xứ ủy chủ trương đánh địch để mở rộng căn cứ và phát triển lực lượng. Thực hiện chủ trương của Xứ ủy, rạng sáng ngày 11-8-1958, lực lượng bảo vệ Xứ ủy đánh địch tại chi khu quân sự Dầu Tiếng, diệt gọn 1 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 13 của địch, thu hàng trăm súng.


Trong những năm 1957-1958, địch tăng cường các chiến dịch "tố Cộng, diệt Cộng", "dồn dân lập ấp", xây dựng căn cứ quân sự làm cho phong trào cách mạng miền Nam gặp nhiều khó khăn, thiệt hại. Luật 10/59 của chính quyền Sài Gòn đã gây cho cách mạng miền Nam nhiều tổn thất nghiêm trọng. Nhân dân miền Nam không có con đường nào khác phải đứng lên chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn thân Mỹ.


Trước tình hình đó, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị lần thứ 15 (mở rộng), để ra nhiệm vụ chính của cách mạng Việt Nam lúc này là phải: "Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 20, Sđd, tr. 62). Hội nghị đề ra phương hướng của cách mạng miền Nam là: Khởi nghĩa giành chính quyền, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân. "Tuy nhiên, khi sử dụng lực lượng vũ trang tự vệ và vũ trang tuyên truyền, cần phải thấu suốt nguyên tắc phục vụ cho đấu tranh chính trị và phục vụ lợi ích của đấu tranh chính trị"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 20, Sđd, Tr. 84).


Nghị quyết 15 (tháng 1-1959) của Trung ương đã thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh vũ trang ở miền Nam. Khí thế đấu tranh của quần chúng sục sôi, hoạt động vũ trang phát triển rộng khắp đã hỗ trợ tích cực cho phong trào đấu tranh chính trị. Nhân dân khắp các tỉnh từ Khu 5 trở vào đến Sóc Trăng Cà Mau đều đứng lên đấu tranh với chính quyền địch, diệt trừ bọn tề điệp, cảnh sát, ác ôn ở cơ sở. Ngày 17-1-1960, phong trào Đồng khởi nổ ra ở huyện Mỏ Cày (tỉnh Bến Tre), mở đầu cho phong trào Đồng khởi toàn miền Nam. Từ đây, cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang3 (Sau này thêm hình thức đấu tranh ngoại giao; tức là ba mũi giáp cóng: chính trị, quân sự, ngoại giao).


Trước sự lớn mạnh của phong trào đấu tranh vũ trang, Xứ ủy Nam Bộ chủ trương đánh tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Tua Hai của địch nằm trên quốc lộ 22 (cách thị xã Tây Ninh 7 km) nhằm mở rộng và phát triển căn cứ cách mạng, đẩy địch ra xa, tạo vành đai an toàn cho cơ quan đầu não của Xứ ủy, đồng thời hỗ trợ cho phong trào Đồng khởi ở Bến Tre. Lực lượng bảo vệ căn cứ do đồng chí Lê Thanh, Tám Xuyến, Mai Chí Thọ chỉ huy đã phối hợp với các lực lượng vũ trang của Xứ ủy và địa phương đánh địch. Trong trận này, lực lượng bảo vệ Xứ ủy làm chủ công, nòng cốt, đã tiêu diệt và bắt sống gần 1.000 tên địch, thu hơn 1.500 súng và nhiều quân trang, quân dụng khác. Sau chiến thắng Tua Hai (1-1960), đơn vị đã hỗ trợ cho quần chúng nhân dân giải phóng 2/3 số xã thuộc Bắc Tây Ninh, mở rộng và phát triển khu căn cứ, tạo khí thế mới cho phong trào Đồng khởi ở miền Nam.


Cách mạng càng phát triển, yêu cầu của công tác bảo vệ Đảng và đánh địch đặt ra càng cấp thiết. Tháng 3-1960, sau khi C80, một trong 3 đơn vị (C60, C70, C80) bảo vệ Xứ ủy, bảo vệ căn cứ bị địch phát hiện và ráo riết theo dõi, các đồng chí Mười Kỉnh (C Trưởng) và đồng chí Tám Lai (Chính trị viên) đã đề nghị và được Xứ ủy chấp thuận cho thay đổi phiên hiệu thành C1801 (C180 sau này thành Trung đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam - Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (nay là Đoàn 180 thuộc Bộ Tư lệnh Cảnh vệ)) (Đại đội 180). Trong thời gian này, Thường vụ Khu ủy 5 quyết định thành lập Ban Bảo vệ căn cứ, do đồng chí Ba Vi từ Quảng Nam về phụ trách.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #6 vào lúc: 29 Tháng Sáu, 2023, 07:14:13 am »

Tháng 7-1960, Xứ ủy Nam Bộ ra Chỉ thị số 01 thành lập Ban Bảo vệ An ninh Xứ ủy (C93B), do đồng chí Phạm Thái Bường (Xứ ủy viên) phụ trách, đồng chí Cao Đăng Chiếm làm Phó trưởng ban. Sau đó, các tỉnh, thành phố và nhiều huyện ở miền Nam đều thành lập các ban bảo vệ an ninh các cấp. Đây là lực lượng nòng cốt của lực lượng An ninh mỉền Nam sau này, trong đó có lực lượng An ninh vũ trang miền Nam.


Do tình hình cách mạng miền Nam có nhiều biến chuyên mới, tháng 10-1960, Xứ ủy Nam Bộ chuyên căn cứ từ chiến khu Đ về căn cứ Dương Minh Châu. Để bảo vệ căn cứ Dương Minh Châu, Xứ ủy quyết định thành lập Ban An toàn khu trực thuộc Xứ ủy; lực lượng gồm Công an và Quân đội, được bố trí thành 1 đại dội trinh sát và 3 đại đội bộ binh.


Từ năm 1960, phong trào vũ trang cách mạng phát triển khắp miền Nam. Nhiệm vụ của lực lượng Bảo vệ Xứ ủy nặng nể hơn, vừa bảo vệ các đồng chí cấp ủy đi công tác, vừa tham gia chiến đấu bảo vệ, xây dựng và mở rộng căn cứ, đồng thời tuyển quân xây dựng lực lượng bổ sung cho bộ đội chủ lực.


Từ tháng 11-1960, Mỹ và chính quyền Sài Gòn tiến hành phá rừng, làm đường để chia cắt lực lượng ta, đồng thời đưa lực lượng địch áp sát căn cứ. Chúng đã lập các đồn, bốt tại Kà Tùm, Sa Mát, Bổ Túc, Cần Đăng, dọc các tuyến đường Kà Tum - Sa Mát, Kà Tum - Bổ Túc - Tống Lê Chân, Đồng Phan Cần Đăng thuộc Tây Ninh. Để bảo vệ an toàn cho căn cứ, lực lượng Bảo vệ Xứ ủy đã chủ động đánh địch, cản trở hoạt động phá rùng, mở đường của địch.


Ở Liên khu 5, cùng với các cuộc càn quét, đánh phá vào các căn cứ của ta trong rừng, Mỹ và chính quyền Sài Gòn còn ráo riết bao vây căn cứ, kiểm soát các ngả đường, ngăn cấm nhân dân tiếp tế cho cách mạng. Tuy bị địch khủng bố, đánh phá rất ác liệt, nhưng phong trào cách mạng ở Liên khu 5 vẫn phát triển, hoạt động vũ trang tuyên truyền vẫn phục vụ tốt cho phong trào đấu tranh chính trị.


Từ năm 1960, phong trào cách mạng ở miền Nam đã chuyển sang khởi nghĩa từng phần, căn cứ địa của các khu và tỉnh được hình thành; công tác bảo vệ phong trào cách mạng, bảo vệ căn cứ đặt ra rất cấp bách. Trước tình hình đó, Bộ Công an đã tuyển chọn 36 cán bộ miền Nam tập kết, đào tạo nghiệp vụ rồi đưa về miền Nam công tác, trực tiếp bảo vệ lãnh đạo và các căn cứ địa. Ban bảo vệ Liên khu ủy 5 và các tổ bảo vệ cấp ủy Đảng đã làm tốt công tác tham mưu trong công tác bảo vệ Đảng, nắm tình hình địch, diệt ác trừ gian, chống địch càn quét vào căn cứ.


Ngày 20-12-1960, Ban Bảo vệ Xứ ủy đã bảo vệ tuyệt đối an toàn Hội nghị thành lập "Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh). Từ đây, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là đại diện chân chính, trực tiếp lãnh đạo nhân dân miền Nam đứng lên chống đế quốc Mỹ xâm lược và chính quyền Sài Gòn thân Mỹ.


Trong những năm 1954-1960, cách mạng miền Nam phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách hết sức nghiêm trọng. Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng đã chỉ đạo kịp thời, đưa cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở miền Nam tiến lên một giai đoạn phát triển mớỉ.


Để đáp ứng yêu cầu tình hình và nhiệm vụ mới, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy và Bộ Công an, lực lượng An ninh miền Nam đã nhanh chóng chuyển hướng tổ chức và hoạt động, chuyển từ hoạt động công khai sang hoạt động bí mật, thực hiện nhiệm vụ nắm tình địch, lãnh đạo phong trào, bảo vệ căn cứ của Đảng; kiên cường bám đất, bám dân để bảo vệ tổ chức đảng, giữ gìn lực lượng cách mạng, vận động quần chúng đấu tranh đòi hiệp thương tổng tuyển cử, chống địch "tố Cộng, diệt Cộng". Trong cuộc đấu tranh đầy cam go, quyết liệt này, lực lượng bảo vệ căn cứ, bảo vệ cấp ủy Đảng - tiền thân của lực lượng An ninh vũ trang miền Nam sau này đã luôn nêu cao tư tưởng tiến công địch, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ căn cứ, hỗ trợ phong trào quần chúng, tiến lên khởi nghĩa từng phần, chuyển thế thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công địch.


Thành tích chiến đấu của cán bộ chiến sĩ bảo vệ căn cứ và các cấp ủy Đảng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần bảo vệ an, toàn các cơ quan của Xứ ủy, các khu ủy, tỉnh ủy. Quá trình làm nhiệm vụ bảo vệ cán bộ lãnh đạo, bảo vệ cơ quan, lực lượng bảo vệ còn tích cực tăng gia sản xuất, xây dựng hầm hào, nhà ở và làm việc, đồng thời đảm bảo yêu cầu thông tin liên lạc an toàn, bí mật của Xứ ủy với Trung ương và Bộ Công an.


Cùng với thắng lợi trên mặt trận đấu tranh với địch, lực lượng bảo vệ từng bước được xây dựng lực lượng vững mạnh về mọi mặt, hình thành nề nếp, quy trình công tác chặt chẽ, nghiêm chỉnh chấp hành các chỉ thị, nghị quyết cũng như tuân thủ sự lãnh đạo của Xứ ủy và khu ủy, gắn bó chặt chẽ và dựa chắc vào nhân dân, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác bảo vệ; phối kết hợp với các lực lượng khác nhất là các lực lượng vũ trang của Xứ ủy, khu ủy, tỉnh ủy trong xây dựng lực lượng và chiến đấu.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #7 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 08:37:13 am »

II- GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1964

Phong trào Đồng khởi của nhân dân miền Nam thắng lợi đã giải phóng một vùng nông thôn rộng lớn, uy hiếp các đô thị lớn, đe dọa sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược chiến tranh đặc biệt để đối phó với phong trào cách mạng miền Nam. Đây cuộc chiến tranh bằng vũ khí Mỹ và lực lượng quân đội ngụy; biện pháp chính là dồn dân lập ấp chiến lược kết hợp với các cuộc hành quân càn quét để tiêu diệt lực lượng kháng chiến. Thực hiện chiến lược này, Mỹ tăng cường củng cố quân đội Sài Gòn và bộ máy đàn áp, tình báo, cảnh sát, tăng viện trợ, tăng cường trang bị các phương tiện chiến tranh hiện đại. Trong chiến lược này, Mỹ đã triển khai hai kế hoạch lớn: Kế hoạch Xtalây Tay lơ, Kế hoạch Giônxơn - Mácnamara.


Trước âm mưu mới của Mỹ, cách mạng nước ta và nhất là phong trào cách mạng ở miền Nam đứng trước những thử thách rất quyết liệt. Tháng 9-1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III họp tại Hà Nội. Đây là "Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miến Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, HN, 2002, tr. 486). Đại hội đã xác định rõ nhiệm vụ chung của cả nước và nhiệm vụ riêng cho hai miền Nam - Bắc.


Để tăng cường cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, ngày 23-1-1961, Ban chấp hành Trung ương quyết định thành lập Trung ương cục miền Nam đế thay Trung ương lãnh đạo cách mạng miền Nam. Nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là ra sức xây dựng lực lượng chính trị, phát triển lực lượng vũ trang, tiếp tục đấu tranh vũ trang, tiến tới đánh đổ hoàn toàn chính quyền địch.


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, tháng 10-1961, Trung ương cục miền Nam tổ chức Hội nghị lần thứ Nhất, tại Chiến khu Đ. Hội nghị xác định phương hướng của cách mạng miền Nam phải tiến hành bằng biện pháp vũ trang khởi nghĩa. Hội nghị cũng quyết định đổi tên Ban Bảo vệ An ninh Xứ ủy thành Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục miền Nam.


Phong trào Đồng khỏỉ phát triển khắp miền Nam đã mở ra nhiều vùng giải phóng do ta làm chủ; nhiều căn cứ cách mạng được hình thành để chỉ đạo kháng chiến ở các khu, tỉnh, huyện; phong trào du kích chiến phát triển đều khắp hỗ trợ cho cuộc đấu tranh chính trị đã tiêu hao nhiều sinh lực địch. Tuy nhiên, phong trào vũ trang chưa phát triển kịp phong trào đấu tranh chính trị; du kích chưa đủ mạnh để bảo vệ xã ấp, bảo vệ nhân dân và chính quyền cơ sở ta; chưa thật sự đi vào quần chúng và phát huy sức mạnh của quần chúng trong cuộc đấu tranh với địch; chưa thật coi trọng công tác bảo vệ tổ chức, nội bộ, cán bộ lãnh đạo và vùng giải phóng. Yêu cầu bảo vệ tổ chức, lãnh đạo, bảo vệ vùng giải phóng và căn cứ đặt ra ngày càng cấp thiết. Lực lượng An ninh được xác định là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ này. Nhiệm vụ chính của lực lượng An ninh là bảo vệ căn cứ, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo của Trung ương cục và Mặt trận, bảo vệ tổ chức Đảng, chính quyền và nhân dân vùng giải phóng. Cùng với công tác bảo vệ, nhiệm vụ của lực lượng An ninh là đấu tranh chống mọi hoạt động phản cách mạng từ bên trong, bọn do thám, gián điệp và chống địch đánh phá từ bên ngoài.


Để thực hiện nhiệm vụ đó, lực lượng An ninh phải củng cố tổ chức và lực lượng, phát động phong trào quần chúng đấu tranh chống do thám, gián điệp. Từ năm 1960, một số khu đã hình thành bộ phận vũ trang cấp trung đội hoặc đại đội; từ năm 1961, hầu hết các khu đều có lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ bảo vệ và đánh địch.


Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương cục, lực lượng An ninh miền Nam cùng quân và nhân dân miền Nam kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, phát triển lực lượng vũ trang.

Vùng giải phóng được mở rộng, yêu cầu vũ trang bảo vệ đặt ra rất cấp thiết, nhiệm vụ vũ trang bảo vệ đặt ra trên cả ba vùng chiến lược: nông thôn, đô thị, miền núi, ở mỗi địa bàn, công tác vũ trang có những đặc thù, yêu cầu bảo vệ khác nhau, phương châm công tác khác nhau. Trong công tác xây dựng và bảo vệ căn cứ ở vùng rừng núi, lực lượng An ninh phải chọn những địa bàn có ưu thế về chính trị, kinh tế, thuận về thiên thời, địa lợi và lòng dân để làm chỗ dựa vững chắc cho cách mạng; phương châm bảo vệ phải đẩy mạnh hoạt động vũ trang, dùng vũ trang để bảo vệ, kết hợp đấu tranh vũ trang với chính trị của phong trào quần chúng. Ở nông thôn, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng phải có lực lượng vũ trang hỗ trợ; dân quân du kích tập trung vào công tác đánh địch từ bên ngoài; lực lượng An ninh thực hiện nhiệm vụ bảo vệ tổ chức, bảo vệ lực lượng, chống do thám, gián điệp xâm nhập, ở các đô thị bị địch tạm chiếm, hoạt động an ninh chủ yếu tập trung vào nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền, bí mật hỗ trợ cho các phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng. Hoạt động của lực lượng An ninh ở ba vùng có vị trí, vai trò, trách nhiệm và những phương châm riêng, nhưng đều quan trọng và hỗ trợ cho nhau, tạo thành phong trào bảo vệ rộng khắp trên tất cả các vùng, các mặt trận, các hình thức đấu tranh đánh địch.


Những thắng lợi bước đầu của lực lượng An ninh miền Nam là: Hình thành được hệ thống tổ chức An ninh đến cơ sở, đẩy mạnh phong trào đấu tranh vũ trang, phát động phong trào quần chúng nhân dân phá thế kìm kẹp của địch, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, xây dựng và bảo vệ an toàn các căn cứ, tổ chức và các đồng chí lãnh đạo, bảo vệ an ninh, trật tự vùng giải phóng, chống các hoạt động do thám, gián điệp của địch.


Từ thực tiễn công tác, lực lượng An ninh miền Nam đã xác định những nhiệm vụ công tác trọng tâm là: Tăng cường công tác vũ trang để thúc đẩy cuộc đấu tranh chính trị của quần chúng nhân dân; đẩy mạnh phong trào du kích chiến với 3 thứ quân; đẩy mạnh công tác binh vận; đẩy mạnh công tác mặt trận, củng cố liên minh, phát triển lực lượng chính trị; xây dựng căn cứ và các lõm căn cứ; tăng cường công tác phòng gian, bảo mật, chống do thám gián điệp; giữ gìn trật tự, an ninh nông thôn; đẩy mạnh phong trào sản xuất, tiết kiệm; tăng cường công tác đô thị, phát triển cơ sở; chia cắt lực lượng địch; tăng cường tuyên truyền chủ trương của Đảng; tăng cường công tác chính trị tư tưởng trong nội bộ và nhân dân. Phương pháp công tác là: Thường xuyên tổ chức hội nghị chuyên đề để rút kinh nghiệm; nắm vững và thực hiện tốt biện pháp quần chúng; phát động quần chúng thực hiện 5 mục tiêu đấu tranh chính trị, giết giặc lấy súng, binh vận địch, tăng gia sản xuất, học tập chính trị và văn hóa; đi sát cơ sở; nắm vững đường lối, phương châm, nhiệm vụ, yêu cầu công tác trước mắt và lâu dài.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #8 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 08:41:26 am »

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương cục miền Nam, từ cuối năm 1961, Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục dần dần được kiện toàn, trở thành "Bộ chỉ huy tối cao" của lực lượng An ninh miền Nam trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhiệm vụ chính lúc đầu là bảo vệ cơ quan, bảo vệ khu căn cứ và các đồng chí lãnh đạo. Lực lượng chủ yếu từ số cán bộ công an và quân đội chưa tập kết, một số cán bộ các ngành được tuyển dụng sang. Lực lượng cấp tỉnh, huyện, xã cũng tuyển chọn số cán bộ cốt cán, trung kiên, có kinh nghiệm, lập trường vững; những thanh niên mới tuyển dụng đều được chọn lọc, qua lớp huấn luyện tân binh về chính trị và chuyên môn; có nơi buộc tân binh phải qua thử thách mối bố trí vào tổ chức và giao nhiệm vụ bảo vệ.


Trong năm 1961, Ban bảo vệ An ninh các khu Trung Nam Bộ (T2), Tây Nam Bộ (T3), Sài Gòn - Gia Định (T4) và Khu 10 (tỉnh Bình Long, Phước Long, Quảng Đức) được thành lập. Trong thời gian đầu, tổ chức ban bảo vệ An ninh các khu có các bộ phận: bảo vệ chính trị, bảo vệ cơ quan và đội bảo vệ vũ trang. Riêng Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định có 2 bộ phận, bộ phận vũ trang mang tên Tiểu đoàn Vinh Quang có nhiệm vụ bảo vệ cán bộ khu ủy, bảo vệ cơ quan và bảo vệ căn cứ; một bộ phận khác chuyên trách công tác an ninh đô thị và vùng địch kiểm soát.


Tháng 8-1962, Trung ương cục miền Nam chỉ định đồng chí Phan Văn Đáng (Phó Bí thư Trung ương cục) làm Trưởng Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục, đồng chí Cao Đăng Chiếm làm Phó trưởng ban và 4 ủy viên. Về tổ chức bộ máy, Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục có: Văn phòng (B1) và các tiểu ban Bảo vệ chính trị (B2), Điệp báo (B3), Bảo vệ Nội bộ, Cảnh vệ (B4), Trung đội Bảo vệ vũ trang, Bộ phận sản xuất, Tổ Cơ yếu, Tổ Điện đài. Trung ương cục còn chỉ thị cho các cấp ủy xây dựng và tổ chức lực lượng An ninh các khu, tỉnh, huyện.


Sau khi Trung ương cục miền Nam được thành lập, lực lượng bảo vệ được bổ sung quân số và phát triển từ Đại đội C260 thành các Đại đội C260.1 do đồng chí Lâm làm C trưởng, C260.2 do đồng chí Mười Thái làm C trưởng, C260.3 do đồng chí Thanh Sơn làm C trưởng; bảo vệ tiếp cận các đồng chí Thường vụ Trung ương cục là Trung đội B1, do đồng chí Tư Bực làm B trưởng, đồng chí Ba Lưu, Hai Trung làm B phó. Ngoài ra các cơ quan dân chính Đảng đều tiến hành xây dựng lực lượng tự vệ, mỗi cơ quan có từ 1A đến 1C. Năm 1963, sáp nhập ba đơn vị bảo vệ căn cứ (C260.1, C260.2, C260.3) thành J120 tương đương cấp tiểu đoàn, do đồng chí Đào Tiến Thưởng (Năm Ngọc) làm Chỉ huy trưởng. Cũng trong thời gian này, Trung ương cục miền Nam còn giao cho Ban Bảo vệ An ninh Trung ương cục nhiệm vụ bảo vệ cơ quan Trung ương Đảng cách mạng Campuchia (đóng gần Suối Mây, Tân Biên, Tây Ninh) lấy bí số là C60, do đồng chí Năm Luông, Ba Hải, Hai Bê phụ trách.


Năm 1962, phong trào cách mạng miền Nam ngày càng phát triển và giành được nhiều thắng lợi lớn. Mỹ ngày càng can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam. Chúng thành lập Bộ Tư lệnh Harkins và một chi nhánh CIA dưới vỏ bọc "Phòng Thông tin Hoa Kỳ" tại Sài Gòn. Tháng 4-1962, cựu Giám đốc cơ quan tình báo Mỹ Allnanlles đến Sài Gòn để nắm tình hình. Mỹ đưa thêm vào miền Nam 200 chuyên viên gián điệp, 600 chuyên viên biệt kích để mở các trường huấn luyện ở Ô Cấp, Long Hải, Rạch Dừa, Nha Trang. Hệ thống cơ quan gián điệp của Pháp, Anh, Nhật, Đài Loan, Philippin, Malaixia cũng được tăng cường, mở rộng mạng lưới hoạt động. Chính quyền Sài Gòn được tăng cường viện trợ quân sự cũng ra sức củng cố lực lượng, đẩy mạnh hoạt động do thám, gián điệp, đàn áp dã man phong trào cách mạng. Những cơ quan do thám, gián điệp chính của địch là: Sở Nghiên cứu chính trị xã hội, Cục Cảnh sát Quốc gia, Cơ quan tình báo quân đội, Nha An ninh quân đội, Sở Liên lạc, Liên đoàn 77. Mỹ còn chi cho Cảnh sát Quốc gia Sài Gòn khoảng 70.000-90.000 triệu đồng Đông Dương cho các hoạt động; chi 300 triệu đồng Đông Dương để tổ chức việc mua chuộc người Thượng ở Tây Nguyên v.v...


Âm mưu hoạt động do thám, gián điệp địch nhằm: Bao vây, khủng bố quần chúng, truy bắt cán bộ, đánh phá phong trào cách mạng, thực hiện kế hoạch lập ấp chiến lược; đồng thời điều tra tình hình các vùng giải phóng và căn cứ của ta; phá hoại khối đoàn kết dân tộc, lung lạc tinh thần cách mạng của quần chúng nhân dân; phá rã nội bộ ta. Hoạt động của địch cũng gảy cho ta một số tổn thất cả ở vùng tạm chiếm và vùng giải phóng như: Cài được một số cơ sở vào lực lượng của ta ở thôn xã, chi bộ, chi đoàn; thu thập được một số tin tức về hoạt động của ta phục vụ cho hoạt động dồn dân, lập ấp chiến lược của địch, đánh phá một số căn cứ của ta v.v...


Tháng 2-1962, Ban An ninh Trung ương cục miền Nam tổ chức Hội nghị chuyên để lần thứ Nhất, tại căn cứ Tây Ninh. Hội nghị đã thống nhất: lực lượng An ninh miền Nam cần tăng cường công tác bảo vệ, chống do thám gián điệp kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị và vũ trang toàn dân.


Trong công tác bảo vệ nội bộ, lực lượng An ninh miền Nam thường xuyên giáo dục cho cán bộ chiến sĩ thực hiện nội quy bảo vệ cơ quan; việc ăn ở, đi lại, phát ngôn, bảo mật thông tin theo nguyên tắc đơn tuyến, bí mật. Giáo dục cho cán bộ chiến sĩ hiểu rõ âm mưu, phương thức hoạt động của do thám, gián điệp đánh vào nội bộ ta, đồng thời động viên ý thức cảnh giác cách mạng, phát hiện những nghi vấn, báo cáo kịp thời và khẩn trương xác minh làm rõ đối tượng hiểm nghi. Trong công tác bảo vệ cán bộ, nhất là bảo vệ các đồng chí lãnh đạo của Đảng đâm bảo an toàn; việc cất giấu tài liệu, vũ khí và các trang bị khác đảm bảo bí mật, gọn gàng, thuận lợi cho việc sử dụng khi cần thiết. Trong công tác tổ chức, công tác quản lý cán bộ dần đi vào nề nếp, chống các hoạt động thám nhập của địch vào nội bộ ta. Về phương châm bảo vệ cơ quan, thực hiện nghiêm nguyên tắc "Thủ trưởng chịu trách nhiệm, Chỉ bộ lãnh đạo, quần chúng thực hiện, đơn vị chuyên môn hướng dẫn về nghiệp vụ". Thông qua đó, đã nâng cao tỉnh thần cảnh giác chính trị trong nội bộ và nhân dân, thu thập được nhiều tin tức có giá trị phục vụ công tác bảo vệ nội bộ và đánh địch; phát hiện nhiều tên tay sai, cơ sở bí mật của địch. Những công tác đó đã góp phần ngăn chặn hạn chế rất nhiều các hoạt động phá hoại của địch, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng.


Trong công tác bảo vệ căn cứ Trung ương cục, các khu tỉnh ủy, do đặc điểm căn cứ của ta thường ở miền núi nên có nhiều khó khăn về địa hình cũng như công tác vận động quần chúng. Vì vậy, lực lượng An ninh vũ trang đã kiên trì bám trụ, lập hệ thống đồ bản, lập kế hoạch bảo vệ ở những điểm chốt đường mòn; đồng thời tăng cường công tác quần chúng, thực hiện chính sách dân tộc thường xuyên, bền bỉ. Việc đi lại của nhân dân, ra vào các buôn, xã và quản lý đối tượng phức tạp về chính trị được tăng cường. Thực hiện chính sách đấu tranh trấn áp phản cách mạng, lực lượng An ninh vũ trang vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, vừa thực hỉện chính sách trán áp đối tượng phán cách mạng. Đã tăng cường công tác xác minh những đối tượng hiềm nghi; chủ động đấu tranh với những đối tượng là tay sai, do thám, gián điệp của địch; đưa những đối tượng nguy hiểm vào trại giam; nghiêm trị những đối tượng ngoan cố.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #9 vào lúc: 17 Tháng Tám, 2023, 08:51:18 am »

Trong công tác điều tra nghiên cứu, lực lượng An ninh vũ trang đã phối hợp với cơ quan, đoàn thể các cấp, các tổ chức Đảng, chính quyền cơ sở lên danh sách những đối tượng phản cách mạng, phân loại đối tượng; tập trung vào những địa bàn trọng điếm, khu vực căn cứ, hành lang vận chuyển của ta, những nơi địch tập trung đánh phá, lập ấp chiến lược. Những tài liệu khai thác từ đối tượng được báo cáo kịp thời lên cấp trên để có biện pháp xử lý phục vụ công tác bảo vệ và đánh địch. Công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi được tiến hành thường xuyên; nhiều chuyên án đã phát huy tác dụng trong công tác phản gián, đưa được cơ sở ta vào nội bộ địch.


Về tổ chức bộ máy an ninh bảo vệ, sau khi thành lập vào giữa năm 1962, Ban An ninh các cấp (J, O, B, H, X)1 (J: Thuộc Trung ương cục; O: cấp khu; B: cấp tỉnh; H: cấp huyện; X: cấp xã) giao cho một đồng chí Thường vụ phụ trách; hệ thống tổ chức từ trên xuống dưới, sử dụng cán bộ địa phương sau khi được huấn luyện phát huy tác dụng tốt; trang bị vũ trang ở cơ sở là những vũ khí thô sơ, tự tạo và lấy được của địch. Lực lượng An ninh vũ trang thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là chống hoạt động vũ trang của địch, nhưng trong hoạt động luôn đảm bảo bí mật, bất ngờ, chuẩn bị kỹ những phương án đánh địch, làm trong sạch địa bàn.


Đánh giá về công tác an ninh vũ trang năm 1962, Ban An ninh Trung ương cục nhận thấy: Địch ngày càng ra sức tấn công ta trên nhiều mặt, hoạt động do thám, gián điệp tăng cường trên tất cả các vùng. Do thám gián điệp địch không những tích cực thực hiện âm mưu thu thập tin tức phục vụ cho hoạt động càn quét, lấn chiếm, lập ấp chiến lược, mà còn thực hiện âm mưu chia rẽ, ly gián, phá hoại nội bộ ta, tăng cường vũ trang đánh vào vùng giải phóng, vùng căn cứ. Địch đánh ta trên nhiều mặt, buộc ta phải đối phó trên nhiều mặt. Tuy nhiên, địch đang gặp phải nhiều khó khăn không thể khắc phục được khi ngày càng lộ rõ bản chất độc tài, tay sai bán nước; phong trào cách mạng của nhân dân ngày càng lên cao; Mặt trận dân tộc giải phóng ngày càng thu hút được các tầng lớp nhân dân tham gia. Vì vậy, công tác an ninh nói chung và công tác an ninh vũ trang nói riêng có điều kiện phát triển thuận lợi, cuộc đấu tranh chống do thám gián điệp và bọn phản cách mạng ngày càng được nhân dân nhiệt tình ủng hộ.


Để đối phó với hoạt động vũ trang của địch, lực lượng An ninh vũ trang đã kiện toàn một bước quan trọng để bảo vệ căn cứ, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo và vùng giải phóng, góp phần tấn công địch bảo vệ lực lượng ta.


Quán triệt sâu sắc tinh thần nội dung công tác bảo vệ trong Nghị quyết Hội nghị của Trung ương cục tháng 10-1962, lực lượng An ninh vũ trang đã biên soạn tài liệu về tình hình, nhiệm vụ và phương châm công tác bảo vệ để các cấp nghiên cứu, học tập, phổ biến. Trung ương cục đã tổ chức cho 427 cán bộ học tập; các khu phổ biến cho cán bộ cốt cán, chi bộ, cán bộ trực tiếp làm nhiệm vụ an ninh. Những tài liệu nghiệp vụ đã góp phán nâng cao nhận thức cảnh giác về công tác bảo vệ, bảo vệ vũ trang cho cán bộ; việc thực hiện nội quy công tác và công tác bảo vệ nội bộ được nâng lên một bước; các kế hoạch, phương án bảo vệ căn cứ và lãnh đạo được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình.


Cuối năm 1962, địch cho trên 500 quân nhảy dù xuống Hồ Ba Mặt để đánh thẳng vào trung tâm chỉ đạo kháng chiến, bắt luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Nhưng lực lượng An ninh vũ trang của ta đã đón đánh, buộc địch phải chạy vào rừng, phải co cụm ở Hồ Ba Mặt và rút chạy. Tháng 6-1962, một tổ công tác bảo vệ (sau này là Tiểu đoàn 1 thuộc Đoàn 180) do đồng chí Tư Lùng chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương cục đi công tác, giữa đường bất ngờ bị 4 máy bay địch oanh tạc dữ dội, tổ bảo vệ đã nhanh chóng đưa đồng chí vào nấp bên một gò mối và ngồi vây quanh che đạn cho đồng chí được an toàn.


Trước tình hình địch ngày càng đàn áp dã man phong trào cách mạng, đánh phá ác liệt căn cứ kháng chiến của ta, Ban An ninh xác định rõ nhiệm vụ của lực lượng An ninh năm 1963 là: Tăng cường nâng cao cảnh giác trong nội bộ và trong nhân dân; tích cực bảo vệ cơ quan, bảo vệ căn cứ, hành lang, bảo vệ các chủ trương, chính sách của Đảng; tích cực phòng chống mọi hoạt động của địch; đẩy mạnh công tác điều tra nghiên cứu trên mọi địa bàn, trên mọi lĩnh vực; phát hiện cho được mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của do thám gián điệp; kiên quyết trừng trị những tên chống phá ngoan cố, nguy hiểm; tranh thủ giáo dục, cải tạo những phần tử tề ngụy cần cải tạo; tich cực đi sâu vào nội bộ địch; đồng thời tiến hành xây dựng lực lượng an ninh các cấp, chú trọng an ninh xã thôn.


Văn bản chỉ đạo cũng xác định rõ những nguyên tắc và phương châm thực hiện là: Quán triệt nguyên tắc "Tích cực bảo vệ mình, chủ động tiêu diệt địch" trong công tác an ninh; quán triệt phương châm đánh địch "Nâng cao cảnh giác không để lọt kẻ địch, đề phòng lệch lạc, không để oan một người ngay"; quán triệt chính sách của Đảng trong công tác trấn áp phản cách mạng "Trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo", "nghiêm trị bọn cầm đầu, chủ mưu, thủ ác, ngoan cố chống lại cách mạng, khoan hồng với những người thật thà hối cải, với những kẻ bị ép buộc, lầm đường, bị mua chuộc, giảm hay miễn tội cho kẻ lập được công, thưởng cho kẻ lập được công lớn" và quan điểm "Dựa vào dân, phát huy tính tích cực của nhân dân trong công tác đánh địch".


Trên cơ sở đó, nhiệm vụ cụ thể của công tác bảo vệ là: Tăng cường công tác bảo vệ nội bộ; củng cố tổ chức vững chăc; xây dựng chế độ, nội quy công tác chặt chẽ; bảo vệ vững chắc căn cứ, vùng giải phóng; tăng cường công tác điều tra nghiên cứu; tiếp tục cải tạo tề ngụy; tăng cường công tác phòng gian bảo mật trong nhân dân; đẩy mạnh công tác đánh địch, công tác điệp báo; xây dựng an ninh xã. Riêng về xây dựng bộ máy an ninh, phải xây dựng bộ máy an ninh từ Trung ương cục đến khu, tỉnh, huyện, xã; xây dựng các bộ môn nghiệp vụ cần thiết cấp Trung ương cục và tỉnh về văn thư - nghiên cứu, bảo vệ chính trị, điệp báo; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng và chuyên môn nghiệp vụ; xây dựng nê nếp làm việc theo tinh thần khẩn trương, gọn gàng, bí mật.


Cuối năm 1962, địch tăng cường hoạt động do thám gián điệp để phục vụ các hoạt động quân sự, giành lại thế chủ động ở một số vùng. Vì vậy, nhiệm vụ của lực lượng An ninh phải tăng cường công tác đấu tranh chống do thám gián điệp, bảo vệ nội bộ, căn cứ và vùng giải phóng. Đây là cuộc chiến đấu không phân tuyến chia vùng, âm thầm nhưng quyết liệt, bằng biện pháp chính trị và vũ trang. Hầu hết cán bộ, chiến sĩ An ninh vũ trang đều quán triệt sâu sắc đường lối, phương châm, nguyên tắc, biện pháp, chính sách đấu tranh chống phản cách mạng. Chính vì vậy, từ đầu năm 1963, trong cuộc đấu tranh chống do thám, gián điệp và hoạt động vũ trang của địch hiệu quả tăng lên rõ rệt mà thiệt hại của ta giảm hẳn.
Logged
Trang: 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM