Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 14 Tháng Bảy, 2024, 02:51:11 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 6518 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #110 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 08:53:51 pm »

Tôi dành nhiều trang nhắc tới lời biểu dương của Bác Hồ với Quân đội ta nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội (22.12.1944 - 22.12.1964) trong cuộc mít tinh tại Trường Đại học nhân dân (nay là cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Xô): "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng".


Tôi phân tích và lý giải kỹ đó là sự khái quát ngắn gọn, đầy đủ và chính xác nhất truyền thống chiến đấu vinh quang của Quân đội ta đã xây dựng nên bằng mồ hôi và xương máu của cán bộ, chiến sĩ ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong suốt 20 năm qua. Đồng thời, đó cũng là những yêu cầu rất cao của việc nâng cao bản chất giai cấp của Quân đội, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội và nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng đất nước được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Và đó là tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp của Quân đội, không được phép để mai một, nghiêm chỉnh thực hiện lời dạy và xứng đáng với lời khen ngợi của Bác Hồ. Điều tôi không ngờ tới là trong bài phát biểu tổng kết khóa học của Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Giám đốc Học viện có ý biểu dương đề tài khóa luận của tôi. Đặc biệt là sau đó đề tài khóa luận đã được Nhà trường đánh máy lại toàn văn gửi về Tạp chí Quân đội nhân dân (sau này đổi thành Tạp chí Quốc phòng toàn dân). Tạp chí Quân đội nhân dân đã mời tôi đến để tóm tắt lại.


Kết thúc khóa học, Học viện tổ chức Lễ bế giảng vào một ngày đầu tháng 1 năm 1978. Buổi lễ được tổ chức tương đối trọng thể, có đồng chí Lê Duẩn, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng đến dự. Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Chu Huy Mân, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đều là Ủy viên Bộ Chính trị, đồng chí Hoàng Tùng, Bí thư Trung ương Đảng, Tổng biên tập Báo Nhân dân và một số khách mời quan trọng khác cũng có mặt.


Tôi biết sơ sơ đồng chí Hoàng Tùng, vì khi làm Chính ủy Trung đoàn 88, có một vài lần qua Hà Nội, tôi ghé thăm anh Trần Kiên bạn cùng Nam tiến năm 1945 và cùng bị Tây bắt với tôi và anh Lê Hoàng ờ bãi biển Ninh Chữ (tỉnh Ninh Thuận), nay là Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân và Hà Đăng bạn cùng học tại Trường Đảng cao cấp trực thuộc Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô đang làm việc ở Báo Nhân dân. Tôi đã giúp hai anh tìm đồng chí Vũ Tuất Việt, vốn là phóng viên của báo Đảng chuyển ra là Chính trị viên đại đội thuộc Tiểu đoàn 6 trong Trung đoàn tôi, được bổ sung cả tiểu đoàn cho chiến trường khi chúng tôi đang trên đường hành quân ở Trường Sơn. Các anh đề nghị cho đồng chí Vũ Tuất Việt trở lại làm báo cho Trung ương Cục vì trong đó đang thiếu cán bộ có tay nghề. Tôi đã giúphai anh việc này và Vũ Tuất Việt sau khi miền Nam được giải phóng trở thành Tổng Biên tập của Báo Sài Gòn giải phóng.


Sau khi kết thúc khóa học đầu tiên của Học viện Quân chính cao cấp, tôi trở về Cục Tuyên huấn tiếp tục công tác, với sự phấn khởi vì có thêm được những kiến thức mới về quân sự và cũng tạm hài lòng với kết quả học tập, nhất là bản khóa luận của mình. Đồng thời, tôi cũng rất băn khoăn về việc xác định đối tượng tác chiến chiến lược của Quân đội ta, về tình hình ở biên giới phía Bắc và cả biên giới Tây Nam ngày càng phức tạp mà các đồng chí học viên ở miền Nam tỏ ra rất bức xúc về những hành động của bọn Pôn Pôt.


Một điều rất bất ngờ đối với tôi, chỉ chưa đầy một tháng sau khi bế giảng lớp học, tôi nhận được Quyết định số 31/CP-QP ngày 27 tháng 2 năm 1978 do Phó Thủ tướng Chính phủ Võ Nguyên Giáp ký, bổ nhiệm làm Cục phó Cục Tuyên huấn. Lúc này đồng chí Văn Phác, Cục trưởng đã có quyết định bổ nhiệm lên làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Hoàng Kim Chính ủy Sư đoàn 308 được bổ nhiệm làm Cục trưởng thay đồng chí Văn Phác. Tôi được phân công phụ trách khối giáo dục chính trị và văn hóa, trước đây do anh Đoàn Chương phụ trách. Tôi quen biết anh Hoàng Kim khi anh được điều về làm Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 308, còn tôi đang chuẩn bị về nhận nhiệm vụ Trưởng phòng Giáo dục chính trị cán bộ vàNhà trường ở Cục Tuyên huấn.


Với nhiệm vụ là Cục phó phụ trách khối giáo dục chính trị và văn hóa rất nặng nề, nhưng lần này tôi tự tin hơn là từ một chính ủy trung đoàn được điều lên làm Trưởng phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường. Tôi tự thấy mình sau 6 năm công tác ở Cục đã phần nào thích nghi và nhập cuộc nhanh hơn công tác nghiên cứu ở một cơ quan cấp chiến lược, chứ không bỡ ngỡ lúng túng như lúc mới được điều động từ đơn vị lên vào cuối năm 1970. Hơn nữa, trong thời gian đó tôi được làm việc với những anh em có kinh nghiệm chuyên môn trong một tập thể đoàn kết, tôn trọng nhau và quan tâm đến nhau, thương yêu giúp đỡ nhau trong công tác cũng như trong đời tư. Cũng phải kể đến Cục phó Đoàn Chương, người tiền nhiệm của tôi, người đã từng làm thư ký riêng cho Đại tướng Nguyên Chí Thanh. Anh là một cán bộ có năng lực, miệng nói tay làm và rất có ý thức bồi dưỡng cho cấp dưới. Khi mới nhận nhiệm vụ Trưởng phòng, từ đơn vị lên, chưa quen công tác cơ quan, tôi có một vài lần va vấp nhờ vả anh, nhưng càng làm việc với anh tôi càng thấy ở anh có nhiều điều tốt về tính tình, về kinh nghiệm công tác mà mình phải học tập. Tôi cũng tự thấy mình có điểm mạnh như đã kinh qua thực tế chiến đấu từ chiến sĩ lên đến cấp trung đoàn, từ khởi nghĩa vũ trang trong Cách mạng Tháng Tám, qua cả công tác quân sự địa phương đến chủ lực, ở các chiến trường Nam, Bắc và quốc tế; tôi lại được đào tạo tương đối cơ bản về quân sự ở lớp bổ túc cán bộ trung sơ cấp thuộc trường Lục quân Việt Nam khóa 6 ở Trung Quốc, được học lý luận cơ bản một khóa 3 năm và tốt nghiệp tại Trường Đảng cao cấp thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (1961 - 1964) và cuối cùng là học lớp bổ túc một năm tại Học viênQuân chính cao cấp của ta (1.1977 - 1.1978). Trong thời gian tôi giữ cương vị Trường phòng, năm nào phòng tôi cũng được Cục biểu dương khen thưởng là một phòng đoàn kết, đều tay và làm việc có chất lượng. Nhưng nếu trong trường hợp nào đó mà Cục trường vắng mặt phải giải quyết công việc ngay thì tôi tự thấy mình còn phải cố gắng rất nhiều, ví dụ như chỉ đạo về công tác tuyên truyền, thông tấn quân sự, văn hóa văn nghệ, báo chí xuất bản, phim ảnh... về các vấn đề này, kiến thức của tôi quá ít ỏi. Trong khi những "cây đại thụ" của Cục như Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên, các cục phó như đồng chí Hồng Cư, Đoàn Chương, Chính Hữu... từ khi Đại tướng Chu Huy Mân làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Đặng Vũ Hiệp về làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục, các anh đều đã được chuyển đi nhận các công tác khác.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #111 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 08:55:19 pm »

Tôi giữ cương vị Cục phó từ tháng 2 năm 1978 đến đầu tháng 3 năm 1979 là thời điểm giao thời có sự thay đổi về nhân sự khá lớn ở Tổng cục, nhất là Cục Tuyên huấn, nên công việc chung vẫn chưa có sự thay đổi rõ rệt lắm. Tuy nhiên lại có những sự kiện in đậm trong ký ức cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ.


Từ tháng 3 năm 1977, đồng chí Chu Huy Mân nhận nhiệm vụ làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thay đồng chí Song Hào chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Tuy nhiên, việc thay đổi về nhân sự ở cấp phó diễn ra trong một thời gian khá dài. Ngoài một số đồng chí đã chuyển đi từ trước, giờ chỉ còn có hai đồng chí cấp phó giúp đồng chí Chu Huy Mân là đồng chí Lê Quang Đạo (đến tháng 10 năm 1978 mới chuyển ra làm Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội) và đồng chí Phạm Ngọc Mậu (giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục đến năm 1988). Đến tháng 10 năm 1977, đồng chí Đặng Vũ Hiệp được bổ nhiệm giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục khi còn đang học ở Học viện Quân chính cao cấp; đồng chí Lê Hai cũng được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm Tổng cục trong thời gian đó (11.1977).


Tình hình ở biên giới phía Bắc lúc này rất phức tạp. Dân Trung Quốc ở bên kia biên giới nhiều nơi lấn chiếm sang đất của ta. Ở cửa khẩu Hữu Nghị quan, hai bên đã có những xô xát. Trong nước, vấn đề người Hoa cũng đang là vấn đề rất căng thẳng và nặng nề và cả những ai có gì quan hệ chút ít với người Hoa. Riêng tôi cũng ở trong một tình hình khó xử. Đức, con trai thứ hai của tôi, là một thương binh, một đảng viên, đang là cán bộ của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và người yêu của nó là một cô gái lai Hoa, một kỹ sư cơ khí đang công tác ở thành phố Nam Định cũng đang có tâm trạng rất hoang mang. Nhưng tôi đã công khai chuyện này từ lâu và luôn tin tưởng vào sự trong sáng của chúng trong tình yêu, nên tôi cho rằng tình hình đó sẽ không thể gây rắc rối đối với mình và nếu có chăng nữa thì tôi cũng đủ bản lĩnh để vượt qua.


Một buổi, tôi được thông báo sẽ tham gia Đoàn cán bộ của Tổng cục ra đảo Bạch Long Vĩ để kiểm tra tình hình đơn vị ở đó. Tôi nhớ năm 1956, khi Thủ tướng Quốc Vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai sang thăm ta và có ký một hiệp định trao trả đảo này chủ yếu là người Trung Quốc đang sinh sống ở đó cho ta và đến thắp hương ở đền thờ Hai Bà Trưng ở quận Hai Bà Trưng bây giờ (theo tin của Báo Nhân dân). Nhưng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của ta, người Hoa vẫn sinh sống và có cả một tiểu đoàn Quân giải phóng Trung Quốc ở đó. Sau này, họ đã phải trao trả lại ta, số người Hoa về nước và tiểu đoàn Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc cũng rút. Bây giờ ta đã có một tiểu đoàn đến đóng ở đó và trên đảo chưa có dân.


Đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị gồm hơn 10 người của các cơ quan chính như Cục Cán bộ, Cục Tổ chức, Văn phòng... đều có mặt. Cục Tuyên huấn chỉ có một mình tôi. Đoàn do đồng chí Đặng Vũ Hiệp làm Trưởng đoàn. Vùng 5 hải quân đã chuẩn bị cho Đoàn một chiếc tàu nhỏ để ra đảo. Hôm đó, trời đẹp, biển lặng, chúng tôi đi từ khoảng 7 giờ sáng đến gần 12 giờ trưa thì đến đảo. Lần này đi biển nhiều giờ đứng trên boong tàu lộng gió, nhưng tôi thấy vẫn bình thường chứ không nôn nao như lần đầu đi mảng ở Sầm Sơn khi ở trại hè năm 1942. Có lẽ, sự rèn luyện trong Quân đội đã giúp mình có một bộ thần kinh tốt hơn rất nhiều. Bữa cơm trưa hôm đó chúng tôi được tiểu đoàn đóng quân ở đảo thiết đãi khá sang trọng, trong đó có một món hải sản quý giá là bào ngư. Đó là nguồn sống của những Hoa kiều trước ở đây vì nó là một đặc sản rất giàu dinh dưỡng, được họ khai thác và cho xuất khẩu. Các đồng chí cán bộ tiểu đoàn không biết kiếm được nguồn tin ở đâu, nói vui với chúng tôi là khẩu phần ăn của nữ hoàng Anh mỗi tuần chỉ có hai con. Còn chúng tôi mỗi người một bữa ăn đến hàng chục con. Vì thế chỉ thêm bữa sau, một số anh em bị rối loạn tiêu hóa.


Trong hai ngày ở Bạch Long Vĩ, ngoài một số thời gian cán bộ tiểu đoàn báo cáo tình hình mọi mặt và công tác hiện tại của đơn vị chúng tôi dành nhiều thời gian đi thực địa. Trước hết, chúng tôi xem cách bố trí các công trình chiến đấu trước kia của Tiểu đoàn quân Trung Quốc. Thì ra toàn bộ công sự chiến đấu của họ được bố trí hướng vào đất liền của ta, nhẹ về các hướng khác. Chẳng biết họ có dụng ý gì? Lúc đó, ở đảo cây cối còn ít, trừ khu vực hiện nay bộ đội ta đang ở. Nhà cửa nói chung có ít, có thể khi họ buộc phải rút khỏi đã dỡ đi. Ta cũng chưa kịp đưa dân ra, diện tích còn nhiều khoảng trống chưa khai thác hết. Bây giờ Bạch Long Vĩ đã thành một huyện đảo thuộc thành phố Hải Phòng trở thành một địa danh ngày càng phát triển và có một vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự và dân sinh đối với ta ở khu vực phía Bắc của vịnh Bắc Bộ. Tôi nghĩ, nếu như ta không nhanh tay dựa vào pháp lý giành lại chủ quyền ở đảo Bạch Long Vĩ thì việc giành lại các đảo của ta bây giờ còn cực kỳ khó khăn hơn.


Sau chuyến đi Bạch Long Vĩ, tôi và một số anh em ở Phòng Giáo dục chính trị lại được cử đi cùng với anh Lê Hai, Phó Chủ nhiệm Tổng cục vào công tác ở biên giới Tây Nam. Vào thời điểm gần cuối năm 1978, bọn Pôn Pốt thực sự đã tiến hành một cuộc chiến xâm lấn lãnh thổ của ta, tàn sát đồng bào ta.


Cuối tháng 7 năm 1978, Quân ủy Trung ương ra quyết định tổ chức Tiền phương Bộ Quốc phòng do Trung tướng Lê Đức Anh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là Chỉ huy trưởng và thay mặt Bộ chỉ đạo ở đó. Nhiều đơn vị của ta như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4, một số sư đoàn của Quân khu 7, Quân khu 5 đã mở các đợt tiến công phối hợp với những lực lượng còn non trẻ của bạn chạy sang ta được ta giúp đỡ đánh lại chúng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #112 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 08:57:11 pm »

Chúng tôi đi trên một xe Commăngca từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Tây Ninh. Một không khí chiến tranh đã bao trùm toàn bộ vùng này. Dấu vết của sự tàn phá của pháo binh địch đã thấy rải rác ở nhiều nơi. Đến gần Trảng Bàng đã rất ít bóng người trên đường, trong làng, trên phố. Xe chạy đã bắt đầu phải đề phòng đạn pháo của địch bẳn. Đến đây thì đường vắng không một bóng người, xe chúng tôi rẽ vào một khu rừng của Tây Ninh, nơi bộ phận tiền phương Bộ Quốc phòng đang làm nhiệm vụ chỉ huy các đơn vị tác chiến. Anh Lê Hai vào làm việc với Bộ Chỉ huy còn chúng tôi ở một cái lán để đợi. Ngày hôm đó, tôi gặp anh Nguyễn Văn Thường là Cục trưởng Cục Địch vận và anh Phạm Đình Thức, Cục phó đang công tác ở đó. Đến sáng sớm hôm sau, anh Lê Hai và chúng tôi lại xuất phát bằng ô tô và anh cho biết sẽ đến công tác ở Sở chỉ huy liền phương Quân đoàn 4, đang ở bên kia biên giới khoảng năm đến sáu kilômét. Xe chúng tôi theo đường ô tô qua Mộc Bài. Một không khí yên lặng rợn người, ngoài tiếng rì rì của động cơ xe và tiếng nẩy của xe do đường rất xóc. Được báo từ trước nên Sở chỉ huy tiền phương của Quân đoàn 4 cử người ra đón và dẫn chúng tôi rẽ vào một phum của người Campuchia không còn bóng người dân nào. Anh Vũ Cao, Tư lệnh phó Quân đoàn 4 tiếp đoàn chúng tôi trên sàn một ngôi nhà của một gia đình Campuchia đã chạy đi nơi khác.


Vừa mới ngồi chưa làm việc và còn đang chuyện trò thăm hỏi nhau thì một tiếng đạn đại bác nổ ngay gần đó và tiếp theo là vài tiếng nổ nữa. Anh Vũ Cao cho biết là địch vẫn thường chỉ bắn thế rồi thôi, có lẽ chúng cũng phải tiết kiệm đạn pháo, vì thời gian này không có những trận đánh lớn. Anh và tất cả đoàn chúng tôi vẫn ngồi yên trên sàn nhà và tiếp tục làm việc. Anh Vũ Cao báo cáo với anh Lê Hai tình hình địch và các hoạt động của ta. Hiện nay chỉ có những hoạt động trinh sát của những toán nhỏ của ta và của địch nên tình hình cũng không có gì đặc biệt. Đồng chí cho biết, ta phải chiếm lĩnh và bố trí sâu vào bên kia biên giới là để ngăn chặn không cho địch tiến qua biên giới sang đất ta lấn chiếm, gây tội ác và chuẩn bị sẵn sàng nhận những nhiệm vụ tiếp sau. Vì ở sát tiền duyên nên cuộc làm việc của chúng tôi chỉ diễn ra không đầy hai giờ. Chiếc ô tô của chúng tôi theo đường cũ ra về, khi xe vừa ra đến đường nhựa vài trăm mét thì một quả đạn pháo của địch bắn rơi ở giữa lòng đường cách mũi xe độ 30 mét, nhưng xe không bị trúng mảnh đạn nào.


Tôi nghĩ, lần này đoàn chúng tôi đến Sở chỉ huy tiền phương Quân đoàn 4 cũng chẳng có nhiệm vụ gì quan trọng mà chỉ là nắm sơ qua tình hình và làm quen với không khí của chiến trường biên giới Tây Nam thôi...


Chúng tôi trở về Hà Nội, tình hình ở biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam ngày càng phức tạp. Công tác của Cục Tuyên huấn chủ yếu xoay quanh việc vạch mặt và lên án cuộc chiến tranh xâm lấn biên giới, tội ác của bọn Pôn Pốt và hành động lấn chiếm khiêu khích ở biên giới phía Bắc. Những công việc cơ bản lâu dài ít được bàn tới.


Thực ra, xung quanh vấn đề Campuchia, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương ta đã chủ động và có sự chuẩn bị rất chu đáo về các mặt. Là Cục phó chuyên phụ trách mảng công tác giáo dục chính trị, giáo dục văn hóa và công tác nhà trường nên tôi không nắm được những quyết định rất quan trọng và những công việc rất khẩn trương của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và tình hình biên giới phía Bắc. Tôi chỉ biết rằng, anh Vũ Chính, Cục phó, nguyên là Bí thư Đảng ủy Cục khoảng giữa tháng 12 năm 1978 được điều vào công tác ở phía Nam. Trước khi đi, anh đến gặp tôi và đề nghị tôi lúc đó là Phó Bí thư Đảng ủy Cục đến gặp anh Hoàng Kim, Cục trưởng mới về thay anh Văn Phác được ít lâu. Trong cuộc gặp chỉ có hai chúng tôi và anh Hoàng Kim, anh Vũ Chính với trách nhiệm của Bí thư Đảng ủy Cục đã có một thái độ rất chân thành và xây dựng. Tôi tuy chưa hiểu sâu về anh Hoàng Kim, nhưng qua vài lần tiếp xúc với anh khi còn ở Sư đoàn 308 và thời gian anh về Cục, tôi nghĩ anh cũng là người ngay thẳng và cần giúp đỡ để anh đoàn kết được anh em trong Cục hoàn thành tốt nhiệm vụ. Anh đã lắng nghe ý kiến của chúng tôi với một thái độ tin cậy, đúng mực...


Những ngày cuối tháng 12 năm 1978, chính quyền Pôn Pốt huy động một lực lượng lớn mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam hòng đánh chiếm sâu vào nhiều nơi ở Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang. Quân đội ta đã mở cuộc tiến công đẩy toàn bộ quân Pôn Pốt về bên kịa biên giới.


Đáp lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tổng phản công đánh đổ chế độ Pôn Pốt, cứu nước nhân dân Campuchia thoát khỏi diệt chủng. Cuộc phản công như vũ bão của các cánh quân của ta đã nhanh chóng giải phóng Phnôm Pênh ngày 7 tháng 1 năm 1979, đồng thời tiếp tục truy quét hoặc truy kích chúng ở các mũi tiến công. Và chỉ hai ngày sau, chúng tôi ở Hà Nội đã được xem một đoạn băng hình ghi từ trên máy bay do phóng viên truyền hình Quân đội gửi về. Đoạn phim ghi cuộc tiến quân của ta vào Phnôm Pênh bằng ô tô trong đó có cả xe buýt dân dụng.


Trong những ngày đó, tình hình biên giới phía Bắc ngày càng căng thẳng, có lúc lên đến đỉnh điểm. Các phương tiện thông tin đại chúng của ta luôn đưa tin về những hành động khiêu khích, gây hấn từ phía Trung Quốc, kêu gọi tinh thần yêu nước, tinh thần cảnh giác, quyết tâm giữ vững chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc. Các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị tuyên bố mạnh mẽ, kêu gọi toàn quân quyết tâm không để địch xâm chiếm một tấc đất nào của Tổ quốc. Phòng Thông tấn quân sự do đồng chí Trần Dũng là Trưởng phòng hằng ngày làm việc rất khẩn trương và giữ liên lạc rất chặt chẽ với Thông tấn xã Việt Nam.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #113 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 09:00:29 pm »

Ngày 17 tháng 2, tức là ngay ngày hôm sau, quân TrungQuốc đã tiến hành cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc và tiến sâu vào lãnh thổ của ta. Và trước cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc, đặt Quân đội ta trước một nhiệm vụ rất nặng nề là phải đánh đuổi chúng ra khỏi đất nước mình.


Mươi ngày sau cuộc tiến công của Trung Quốc trên toàn biên giới phía Bắc, Quân đoàn 2 đang chiến đấu trên chiến trường nước bạn Campuchia cũng được lệnh trở về Tổ quốc để tham gia cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới ở phía Bắc.


Để tăng cường lực lượng bảo vệ Thủ đô ngay thời gian đó, cấp trên quyết định thành lập Sư đoàn Thủ đô. Đồng chí Lê Đình Số, Cục phó Cục Cán bộ gặp tôi thăm dò: "Trên định cử anh về nhận nhiệm vụ Chính ủy Sư đoàn Thủ đô, anh thấy thế nào?". Tôi trả lời vui, cũng rất thật lòng: "Tôi sẵn sàng và nêu chúng đến đây, sẽ quyết tử bảo vệ Thủ đô!". Nói vậy, nhưng tôi cho rằng việc đó sẽ không thể được thực hiện...!.


Vào một ngày cuối tháng 2 năm 1979, đồng chí Cục trưởng Hoàng Kim mời tôi lên phòng anh, nói: "Anh sẽ thay anh Vũ Chính, phụ trách Tiền phương của Cục Tuyên huấn, chúng ta rồi sẽ luân phiên vào thôi". Tôi vui vẻ rất thực lòng nhận sự phân công. Tôi cho rằng như thế là hợp lý và vì tôi cũng muốn thay đổi không khí trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới phức tạp và khó khăn hơn, muốn ở một cương vị độc lập để thể hiện mình. Trước khi đi, tôi bàn với Đức, con trai thứ hai của tôi, lúc này đang ở cùng với tôi trong một phòng ở Lý Nam Đế và đang là cán bộ tuyên huấn của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội về công việc của gia đình, nhất là quan tâm tới mẹ nó và việc học tập của các em. Châu, người yêu của Đức cũng đã tốt nghiệp kỹ sư Khoa Chế tạo máy tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đang công tác tại xí nghiệp đóng tàu xi măng lưới thép tại Nam Định. Đức cũng nói với tôi là nó và người yêu đã viết đơn lên Thủ tướng Phạm Văn Đồng xin được kết hôn với nhau trong khi có những ý kiến trái chiều của cơ quan chúng làm việc. Xem qua đơn của chúng, tôi đồng ý cho các cháu gửi đơn đi, nhưng cũng dặn Đức là phải có nghị lực, bản lĩnh để vượt qua những khó khăn sẽ đến với mình thì mới đặt vấn đề chung sống với nhau được, nếu không như thế thì sau này dễ dẫn đến bi kịch.


Tôi bay vào Thành phố Hồ Chí Minh đến chỗ ở của đồng chí Lê Hai khi ở Campuchia về nước có việc trong khu vực sân bay Tân Sơn Nhất và gặp anh Vũ Chính ở đó. Khi ở Hà Nội tôi chỉ có một ít lần làm việc với anh Lê Hai, cũng chưa quen lắm, còn anh Vũ Chính có lẽ được làm việc nhiều hơn nên anh hiểu rõ hơn.


Cuộc gặp chỉ có ba người, gọi là để anh Vũ Chính bàn giao công việc cho tôi, cho nên nội dung cũng chẳng có gì vì anh chỉ mới đi được hợn một tháng phục vụ cho chiến dịch phản công trên toàn tuyến của quân ta, sau khi giải phóng Phnôm Pênh được ít lâu thì anh được lệnh rút về Hà Nôi.

Mở đầu anh Vũ Chính nói:

-Anh Tiên vào lúc này là rất phù hợp, bây giờ cần giúp bạn đi vào những vấn đề cơ bản nhiều hơn.

Từ nhận thức trước khi nhận nhiệm vụ ở Hà Nội, tôi hình dung nhiệm vụ lần này của mình rất phức tạp và nặng nề nên chẳng cần suy nghĩ gì nhiều, tôi cười và nói ngắn gọn:

-Tôi nghĩ cuộc chiến tranh này bây giờ mới thực sự bắt đầu.

Anh Lê Hai cũng nói ngắn:

-Giá kể anh Vũ Chính tiếp tục nhận nhiệm vụ ở đây thì tốt hơn.

Anh Lê Hai nói thực lòng mà không ngại tôi mếch lòng và tôi hiểu là anh muốn làm việc với người mà anh biết rõ hơn. Đó là việc bình thường. Vì vậy, tôi cũng không chạnh lòng và tự nhủ phải cố gắng làm tốt nhiệm vụ của mình.


Ngay hôm sau (3.3.1979), anh Lê Hai và tôi đi trên chuyến máy bay trực thăng sang Phnôm Pênh. Chỗ làm việc của Tiền phương Cục Tuyên huấn là tòa nhà của Đại sứ quán Đan Mạch thời Pôn Pốt, trong khu vực Điện Chămcamon. Đó là nơi trước kia Quốc vương Campuchia và các nhân vật chủ chốt của Hoàng gia ở đó. Hiện tại là nơi làm việc của Tiền phương Bộ Quốc phòng ta và các cơ quan trực thuộc.


Đại sứ quán Đan Mạch thời Pôn Pốt là một tòa biệt thự nằm trong một khuôn viên rất lý tưởng. Có lẽ vì giàu có nên người Đan Mạch xây một biệt thự ba tầng rất đẹp nằm trong một khuôn viên mà họ bố trí rất gần với thiên nhiên: Nhiều cây cối, có hơn một chục cây xoài các loại và nhiều loại cây khác, có bể bơi, rải rác trong vườn có những phiến đá lớn, có võng nằm nghỉ ngơi, thư giãn, có cột đu…, tầng một có một tiền sảnh rộng rãi, thoáng mát. Nội thất của biệt thự có nhiều phòng có hệthống thông gió, có điều hòa nhiệt độ, có thiết bị tập thể dục... Xung quanh khuôn viên là một hệ thống đèn cao áp bảo vệ, tường rào xung quanh kiên cố, trồng xen kẽ hoa giấy.


Nhưng khi Phnôm Pênh được giải phóng thì toàn bộ những thiết bị hiện đại nhất đã bị bọn Pôn Pốt phá hỏng, nhà cửa của Đại sứ quán này cũng như các nhà cao tầng, lâu đài của Hoàng gia đều ở trong tình trạng như vậy và rác thải bẩn thỉu, bị chúng phóng uế bừa bãi. Mặc dù nơi này đã được bộ đội ta dọn dẹp nhưng những dấu vết cũ còn lại chưa được khắc phục hết, những thiết bị phục vụ cho đời sống hoàn toàn chưa được sửa chữa hoặc thay thế.


Tiền phương Cục Tuyên huấn lúc đó cũng chỉ có lẻ tẻ vài người, dần dần được bổ sung từ Hà Nội sang. Trong số được bổ sung sang đầu tiên đáng chú ý có đồng chí Trần Dũng, Trưởng phòng Thông tấn quân sự, đồng chí Việt Thanh, Phó phòng Tuyên truyền, đồng chí Lê Bảo, Trợ lý của Phòng Giáo dục chính trị chiến sĩ trước đây, đồng chí Lê Thiệu, Trợ lý Phòng Dân vận và một số anh em trợ lý khác. Ngoài ra, chúng tôi còn phải tiếp đón nhiều bộ phận sang làm nhiệm vụ đột xuất trong thời gian ngắn như các đội làm phim, anh em ở Tạp chí Văn nghệ quân đội, các đoàn, đội văn công... Tôi được anh Lê Hai phân công đặc trách dự các cuộc giao ban của B68, lúc đầu do đồng chí Lê Xuân Đồng, Phó Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương phụ trách, mỗi tuần họp một lần. Tôi trực tiếp phụ trách giúp Tiền phương Tổng cục Chính trị và Tiền phương Bộ Quốc phòng về công tác vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở. Ngoài ra, tôi còn được phân công như một sĩ quan liên lạc của tiền phương Bộ và tiền phương Tổng cục Chính trị quan hệ với các đoàn chuyên gia khác bên B68 khi cần thiết, đặc biệt là các công tác thuộc phạm vi tư tưởng, văn hóa và các mặt công tác chính trị khác. Làm nhiệm vụ ở một đất nước hoàn toàn xa lạ với mình, tôi tự xác định việc quan trọng đầu tiên của tôi là phải vừa làm tốt công việc trước mắt vừa phải tìm hiểu sâu tình hình. Vì mới giải phóng nôn bọn tàn quân địch còn hoạt động mạnh ở nhiều nơi. Các đơn vị của ta như Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và nhiều sư đoàn của các quân khu vẫn đang phải ráo riết truy quét địch.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #114 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 09:01:50 pm »

Trong một buổi giao ban của Tiền phương Bộ, có báo cáo địch vừa tập kích vào một phum thuộc huyện Rômêhét ở Soài Riêng gần biên giới ta, là nơi căn cứ của Trung ương Cục ta trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Chúng đã bắn chết một cán bộ phụ nữ của bạn. Đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Lê Hai giao nhiệm vụ cho tôi xuống nghiên cứu trường hợp này vì nơi đây vốn là vùng tương đối an toàn. Tôi cho đây là một dịp tốt để tôi được tiếp cận với tình hình ở cơ sở. Tôi cùng hai đồng chí trợ lý, phiên dịch và đồng chí lái xe mang theo một khẩu AK đi Soài Riêng. Chúng tôi đến chỗ đồng chí trưởng đoàn chuyên gia quân sự tỉnh là đồng chí tỉnh đội phó của Long An, sơ bộ nắm tình hình. Đồng chí cho biết cùng ở với chị cán bộ phụ nữ của bạn còn có cháu Lan, một cô gái chiến sĩ biệt động của ta cũng có mặt đêm đó. Đồng chí cử Lan dẫn chúng tôi đi. Lan là một nữ chiến sĩ biệt động còn rất trẻ, khoảng 20 tuổi, da bánh mật, nhỏ người nhưng rất khỏe. Từ lúc khoảng 14-15 tuổi cháu đã hoạt động ra vào Sài Gòn, khithì làm liên lạc, khi thì đưa vũ khí vào. Cháu được cử đi cùng chị cán bộ phụ nữ của bạn tên là Saran trạc tuổi cháu. Cả gia đình Saran gồm bố mẹ và anh chị em đều bị bọn Pôn Pốt giết hại. Cả hai cô gái xuống phum làm công tác vận động quần chúng và tổ chức phụ nữ bạn. Ngày công tác, tối về ngủ tại một ngôi nhà tranh mới dựng là chỗ làm việc của chính quyền phum. Đêm hôm đó, một số tên địch tiếp cận ngôi nhà và tập kích bằng súng. Vì có quần chúng báo cho biết trước nên hai chị em cảnh giác. Khi chúng ờ ngoài bắn vào, hai cô gái đã bắn trả lại nên chúng rút chạy. Đêm hôm sau, chúng trở lại và vẫn ở ngoài tiếp tục bắn vào nhà. Có lẽ vì mệt, Saran nằm trên võng ngủ bị trúng đạn hy sinh. Một mình Lan đã dũng cảm dùng AK bắn lại, bọn địch lại rút chạy. Từ chỗ làm việc của Trưởng đoàn chuyên gia quân sự tỉnh, Lan dẫn chúng tôi đến chỗ địch tập kích đêm đó. Hiện trường không có gì đặc biệt. Tôi đề nghị được làm việc với một số thành viên của chính quyền và đoàn thể của phum. Họ đến 5-6 người phần lớn ở tuổi 40, 50, chỉ có một anh còn trẻ độ ngoài 30 tuổi. Trông họ có vẻ lo lắng. Tôi đặt một số câu hỏi về tình hình phum và về vụ tập kích của địch. Tất cả mọi câu hỏi của tôi, chỉ duy nhất có anh thanh niên trả lời, còn tất cả đều im lặng. Qua cung cách trả lời quanh co và lúng túng của cậu ta, tôi không có khó khăn gì để thấy rõ họ đã thống nhất với nhau để đối phó, nhưng vẫn không giấu nổi sự dối trá và cũng dễ dàng nhận thấy phum này có chính quyền hai mặt. Sau hơn 1 giờ chỉ có đổi thoại giữa tôi và anh ta, hỏi một vài người khác, họ đều chỉ vào anh ta hoặc anh ta giành lấy trả lời. Buổi làm việc kết thúc và chúng tôi tiếp tục lên đường để gặp Chủ tịch huyện Rômôhét. Tôi không quên dặn anh emđi theo là phải hết sức cảnh giác khi làm việc ở vùng này. Chủ tịch huyện tên là Tích Ron, một người khỏe mạnh trạc gần 50 tuổi. Đang ở nhà mình, chứ không phải trụ sở huyện vì lúc đấy đã gần chiều tối. Anh niềm nở tiếp chúng tôi và chuẩn bị cơm chiều cho chúng tôi ăn. Chúng tôi góp gạo và thức ăn mang theo vì biết dân còn gặp rất nhiều khó khăn về đời sống. Tuy nhiên, bữa cơm mặc dù thanh đạm nhưng cũng không đến nỗi nào và anh còn lấy những ống nước đường thốt nốt đã được chế biến với men mà anh gọi đùa đây là "la de" Campuchia để thết đãi chúng tôi. Thấy cách đối xử thoải mái, cởi mở của anh và nét mặt đôn hậu tôi nghĩ đây là một người tốt. Nhà anh ở là một căn nhà gỗ không có tường rào gì tại một khu đất thoáng đãng. Tuy anh bảo ở khu vực này an toàn, nhưng chúng tôi vẫn phải thay nhau thức để gác.


Sáng hôm sau chúng tôi làm việc ngay tại nhà anh. Anh cho biết tình hình mọi mặt và công việc của huyện đang tiến hành, anh tỏ ra nắm vững công việc. Anh rất chú ý đến các vấn đề chống lại tàn quân Pôn Pốt, vấn đề sản xuất chống đói cho dân và tổ chức các đoàn thể. Ngoài vụ địch tập kích giêt chị Saran ra, trong huyện vẫn chưa xảy ra vụ nào nghiêm trọng. Nhưng anh vẫn tỏ ra chưa thật yên tâm. Có lúc đang làm việc thì một anh thanh niên đến gặp anh, tôi hỏi anh ta là ai thì anh trả lời đó là một tên lính Pôn Pốt mới ra hàng. Tôi hơi chột dạ nhưng anh có vẻ rất tự tin và tiếp tục công việc tôi hỏi anh về cách vận động nhân dân làm theo chủ trương của chính quyền cách mạng thế nào. Anh nói rằng, huyện tổ chức các cuộc họp của cán bộ các phum để phổ biến công việc, sau anh tổ chứctuyên thệ ở một ngôi chùa. Anh lấy một viên đạn ngâm vào rượu rótra cho mọi người cùng nhau thề nếu ai không làm đúng hoặc phản lại thì sẽ chết bằng những viên đạn. Hỏi trước đây anh làm gì thì anh nói là anh đi tu, sau hoàn tục. Tôi hỏi kết quả về lời thề của mọi người thì anh nói là mọi người về đều làm tốt chưa có ai phản bội. Tôi được biết những người đi tu ở Campuchia thường được học hành tử tế, như vậy anh là người có học.


Chúng tôi đến một phum khác để kiểm tra xem ý kiến của Chủ tịch huyện Tích Ron nói có chính xác không. Trưởng phum cũng là một nhà sư hoàn tục nhưng lớn tuổi hơn Tích Ron. Cháu Lan cũng đã từng công tác ở phum này, nói nhỏ với tôi "trưởng phum vừa cưới một cô vợ rất trẻ". Tôi cười nghĩ bụng, nhà sư trở lại đời thường cũng thích nghi rất nhanh với đời sống phàm tục. Khi chúng tôi làm việc với ông thấy ông rất đạo mạo, điềm đạm. Ông cho biết tình hình và những việc phum đang làm tương tự như Tích Ron đã nói. Quả thật khi qua phum này tôi thấy cây cối xanh tốt, đường sá, nhà cửa sạch sẽ, ruộng vườn đã có tác động của bàn tay con người. Tuy mới mấy tháng giải phóng, người còn thưa thớt, mọi người đều bình thản trong một không khí yên lành. Những dấu hiệu đầu tiên của sự hồi sinh đã bắt đầu sau những năm tháng khủng khiếp dưới chế độ diệt chủng Pôn Pốt.


Có một đại đội ta đang đóng quân tại phum khác gần đấy. Đại đội này hoạt động trong đội hình của tiểu đoàn đứng chân ở địa bàn huyện, phụ trách khu vực một số phum được phân công. Tôi thấy Đại đội trưởng mặc thường phục, hỏi tại sao không mặc quân phục, đồng chí ấy trả lời là quân phục không đủ mặc, phải mặc thêm quần áo này. Kiểm tra các ba lô của chiến sĩ thấy đúng là như vậy, mỗi người chỉ có một bộ để thay trong ba lô lép kẹp, một số anh em đang mặc quần áo đã rách. Ăn uống của bộ đội ngày càng kham khổ, đôi khi tiếp tế đến muộn hoặc không đủ. Hỏi về công tác, đơn vị chỉ nhận thức được việc bảo vệ dân, nếu cần cùng bạn truy quét tàn quân Pôn Pốt, còn các việc khác nhận thức còn lơ mơ, nhất là việc vận động quần chúng, xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #115 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 09:03:12 pm »

Trở lại tỉnh, chúng tôi làm việc với đồng chí trưởng đoàn chuyên gia quân sự tỉnh và cho đồng chí ấy biết tình hình ở những nơi chúng tôi đã làm việc. Trao đổi với đồng chí ấy, chúng tôi thống nhất với nhau: Tuy chỉ sau mấy tháng được giải phóng, thời gian còn rất ngắn nhưng ta và bạn đã đạt được một số điểm: Những chủ trương của cấp trên đã được cán bộ, chiến sĩ ta giúp đỡ bạn tương đối tốt như vận động nhân dân sản xuất, cứu đói, cứu đau, tình hình một số nơi ổn định. Qua đó thấy trong cán bộ và nhân dân bạn có nhiều người tốt, việc làm tốt. Ở những nơi địch còn hoạt động có người rất dũng cảm như chị Saran.


Tuy nhiên qua mấy ngày công tác ở cơ sở, chúng tôi thấy có những vấn đề cần chú ý:

-Tình hình phát triển còn chưa đều. Ở những nơi địch còn hoạt động có dấu hiệu rõ của chính quyền hai mặt.

-Cán bộ bạn trình độ còn thấp, cũng như cán bộ, chiến sĩ ta hoạt động ở địa bàn nhận thức nhiệm vụ còn sơ sài, đơn giản, có biểu hiện còn mất cảnh giác với những hoạt động chống phá của địch. Cần phải bồi dưỡng, giúp đỡ nhiều để khắc phục tình hình trên.

-Đời sống của bộ đội ta còn quá khó khăn nhất là những đơn vị hoạt động tại cơ sở, cần được quan tâm giải quyết.

Đồng chí Trưởng đoàn chuyên gia quân sự mời đoàn chúng tôi ngày hôm sau đi dự "đấu tố" một tên "Pôn Pốt" nằm vùng để "phát động quần chúng" và đồng chí cùng đi với chúng tôi. Hôm sau, chúng tôi đến địa điểm của cuộc "đấu tố". Đó là một bãi đất rộng, trên đó đã thấy khoảng độ 100 người, phần lớn là các cháu thiếu niên, lẻ tẻ có một số ít là thanh niên và người lớn tuổi, ở giữa có một người khoảng trên dưới 50 tuổi tay bị trói đứng ở giữa. Không biết có phải vì phiên dịch kém hay vì lý do gì khác, tôi nghe một vài thanh niên lên tố cáo tội ác của người này, nhưng tội cũng không rõ ra tội, mỗi người nói một vài câu rồi thôi. Cuối cùng người bị "đấu" phát biểu. Tôi nghe phiên dịch rõ nhất là câu "các cháu yêu quý...". Mặt mày hắn ta lỳ lợm, những câu sau tôi nghe hắn nói luyên thuyên như lên lớp các cháu thiếu niên quanh đó chứ chẳng phải là nhận tội với cách mạng hay biện hộ cho mình.


Thật tình tôi thấy ngán ngẩm với buổi đấu tố đó và không rõ ai đã "đạo diễn" cho buổi "đấu tố" này. Sau buổi đó, anh em trong đoàn cũng có cảm giác như tôi. Chúng tôi nói thẳng ý kiến nhận xét của mình về cuộc đấu tố đó với đồng chí chuyên gia quân sự. Tuy nhiên, trong cuộc đi cơ sở năm ngày ở huyện Rômêhét và ở tỉnh Soài Riêng, tôi cũng thu hoạch cho riêng mình và bước đầu hình dung được một số nét về cuộc đấu tranh chống lại bọn Pôn Pốt ở một vùng chưa phải là quyết liệt nhất.


Về Phnôm Pênh, tôi có báo cáo lại với đồng chí Lê Đức Anh và Lê Hai về tình hình chúng tôi nắm được. Khoảng vài hôm sau, đồng chí Lê Đức Anh gọi tôi sang cho biết, đồng chí Lê Đức Thọ sắp đến chỗ Tiền phương Bộ để làm việc và chỉ thị cho tôi chuẩn bị báo cáo với đồng chí Lê Đức Thọ trong phạm vi thời gian khoảng nửa tiếng. Tôi hỏi có báo cáo tình hình đại đội tôi đến không, nhất là về đời sống, anh nói: "Cứ báo cáo, càng rõ càng tốt".


Khi đồng chí Lê Đức Thọ đến, sau khi đã làm việc với hai đồng chí Lê Đức Anh và Lê Hai, tôi được gọi sang để báo cáo. Vì quá gấp, trời lại nóng nên tôi chì mặc áo sơ mi sang làm việc. Thời gian được báo cáo quá ngắn, tôi bắt đầu xin phép được làm việc luôn.


Tôi báo cáo gọn, đúng thời gian quy định về những địa điểm chúng tôi đã đến, những việc đã làm, những chuyện cụ thể thú vị để minh họa cho những nhận định của mình. Các đồng chí có vẻ hài lòng về nội dung báo cáo, riêng đồng chí Lê Đức Thọ rất thích thú việc Chủ tịch huyện Rômêhét Tích Ron tổ chức tuyên thệ "uống rượu ngâm viên đạn" ở chùa với các trưởng phum trong huyện, coi như đó là một việc làm sáng tạo, có hiệu quả, phù hợp với trình độ quần chúng trong công tác vận động quần chúng của cán bộ bạn.


Từ sau chuyến đi công tác ở huyện Rômêhét, tôi còn có nhiều lần xuống các vùng quê khác, tiếp xúc với nhân dân,cán bộ chính quyền huyện, phum, các đội công tác của bạn. Thỉnh thoảng, Trung ương bạn có những cuộc họp của các tổ chức quần chúng như thanh niên hoặc bàn về công tác của ngành có giấy mời đại biểu Quân tình nguyện, tôi thường được Bộ Tư lệnh cử đi hoặc đi cùng các anh dự, đặc biệt là nội dung đó có liên quan đến công tác chính trị của Quân đội. Tôi coi đó là những dịp rất tốt đối với mình để ngày càng rõ hơn về tình hình Campuchia, cung cấp cho tôi tài liệu ngày càng phong phú hơn để nghiên cứu, rút ra được những vấn đề thực tiễn phục vụ công tác.


Cũng từ đó, tôi phát hiện ra một điều là ở Campuchia có rất nhiều người biết tiếng Pháp, ngay ở các phum thôn quê, cũng có những anh chị em cũng từng học ở những trường trung học nói được tiếng Pháp, có người có trình độ khá tốt. Tôi biết mình không đủ thời gian để học tiếng Campuchia vì công việc rất bận, nên tôi quyết định tìm cách học thêm tiếng Pháp, phát huy vốn sẵn có của mình, tuy chưa giỏi và đã lâu không dùng. Tôi đề nghị với anh Trần Dũng có quan hệ với các đồng chí chuyên gia của Thông tấn xã Campuchia (SPK) và có anh em Campuchia ở đó, xin cho một bản tin hằng ngày bằng tiếng Pháp. Và mỗi tối tôi dành ra một giờ để đọc bản tin đó, đối chiếu với một bản tin tiếng Việt đã có. Phần lớn các bản tin đó là những từ về chính trị, được viết theo phong cách hiện đại, lại được lặp lại nhiều lần trong các bản tin nên tôi thấy cũng dễ nhớ. Chỉ trong một thời gian ngắn, tôi thấy việc dùng tiếng Pháp của mình có tiến bộ trông thấy nên cũng có hứng thú. Khi tiếp xúc với cán bộ hoặc dân bạn bằngtiếng Pháp, tôi đều thật thà nói với anh chị em rằng tôi đã lâu không dùng nên quên nhiều, đề nghị họ nói một cách đơn giản, không dùng những câu phức hợp. Thường họ cũng rất vui và có vẻ "nể" trong lúc đối thoại. Rất nhiều lần đi công tác tôi không phải dùng phiên dịch.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #116 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 09:05:58 pm »

Lần thứ hai đi công tác ở vùng nông thôn và vùng núi, tình hình nóng và phức tạp hơn rất nhiều so với lần về huyện Rômêhét tỉnh Soài Riêng. Đó là khi ở Mặt trận 979, Bộ Tư lệnh quyết định cùng bạn mở chiến dịch truy quét tàn quân Pôn Pôt đang ẩn náu ở dãy núi Tượng Lăng (chaine des Elépphants) tại huyện Trầm Cốc, tỉnh Tà Keo. Ở đây, bọn Pôn Pốt gây nhiều vụ mất an ninh và làm cho công tác vận động quần chúng của ta và bạn gặp nhiều khó khăn. Vùng này trước đây do tên Tà Mốc là một tên khét tiếng tàn bạo của chính quyền Pôn Pốt cầm đầu. Lần này, kể cả lái xe, chúng tôi có sáu người, không có phiên dịch vì xuống đó có thể có phiên dịch tại chỗ. Trước hết, tôi xuống ngay tiểu đoàn của ta dừng chân ở huyện gặp đồng chí tiểu đoàn trưởng để nắm tình hình và yêu cầu bố trí cho chúng tôi một chỗ ở tương đối an toàn tại đây. Tiểu đoàn trưởng giới thiệu chúng tôi đến một gia đình có nhà cửa tương đổi rộng, ở gần đơn vị. Anh nói đây là nhà chú ruột đồng chí Pensôvan, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia.


Tuy ở gần tiểu đoàn ta nhưng chúng tôi cũng không muốn phiền anh em phải giúp đỡ phục vụ mình mà tự làm lấy tất cả,kể cả việc canh gác. Tôi đề nghị với anh em trong đoàn cho tôi cũng gác nhưng anh em không chịu. Tôi đề nghị cho tôi gác đầu giờ từ 9 giờ đến 10 giờ 30 phút đêm, còn những giờ sau mỗi người thay phiên nhau gác cho đến 5 giờ 30 phút sáng, lúc đó anh em mới đồng ý.


Trước khi xuống đây, tôi qua chỗ anh Tư Phán, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận 979 để biết chiến dịch truy quét địch ở vùng núi Tượng Lăng của Mặt trận. Anh Tư Phán cho biết, ta phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Tà Keo mở chiến dịch này nhưng chỉ quy mô nhỏ. Ta cho một tiểu đoàn vào vùng làng mạc địch kiểm soát phối hợp với bạn làm công tác vận động quần chúng ở cơ sở và địch vận. Còn Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn địa bàn dừng chân ở Tràm Cốc thì cho chúng tôi biết, xuống công tác đợt này có đồng chí Trần Xuân Soạn, nguyên là Phó Bí thư Tỉnh ủy Nam Định hiện đang làm Trưởng đoàn chuyên gia Việt Nam ở tỉnh Tà Keo, một đồng chí nữ của bạn là Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy và đồng chí Huyện đội trưởng dân quân huyện Trầm Cốc của bạn. Anh Soạn đến gặp chúng tôi có vẻ yên tâm, mới nói qua cho chúng tôi biết kế hoạch của tinh, về chị cán bộ của tỉnh Tà Keo, anh cho chúng tôi biết: Chị là một giáo viên cấp III trường tỉnh, chồng bị bọn Pôn Pốt giết, có năng lực và đáng tin cậy. Chúng tôi gặp chị Srey Sron (Xrây Xrông), Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy, trạc ngoài 30 tuổi và Dim Khụth, Huyện đội trưởng Trầm Cốc. Họ cho biết, hôm sau họ sẽ xuống một phum sát khu rừng Tượng Lăng để nói chuyện với bà con. Tôi hỏi chị Srey Sron có nói được tiếng Pháp không, chị nói có. Từ đó, khi thảo luận về công việc,tôi thường trao đổi bằng tiếng Pháp với chị. Chúng tôi đề nghị cùng đi với họ xuống phum và được họ đồng ý.


Cuộc họp ở phum đó có khoảng 40-50 người. Người dân tham gia cuộc họp nhìn xanh xao, có lẽ đo thiếu ăn và bệnh tật nên đón cán bộ tỉnh huyện xuống có vẻ lạnh nhạt. Khi đến gần, tôi định hỏi chị một câu, chị ra hiệu cho tôi không nói. Tôi hiểu chị không muốn để chúng tôi tham gia vào bất cứ việc gì của chị. Chúng tôi tôn trọng ý định của chị và bảo nhau đứng ở vòng ngoài hơi xa một chút để chị làm việc. Dim Khụth nói ngắn, có lẽ là giới thiệu chị để chị nói chuyện. Phiên dịch đi cùng chúng tôi là một chiến sĩ người miền Bắc của tiểu đoàn địa bàn, không dịch nổi. Đứng ở ngoài quan sát, tôi đã thấy dấu hiệu phá đám trong số người nghe. Một tên ngồi ở hàng cuối, buộc một cuống lá chuối khô vào đuôi một con chó của hắn rồi xua chó vào giữa đám người ngồi nghe. Một số người trông thấy cười nhạo có vẻ hưởng ứng. Chị nói khoảng nửa tiếng đồng hồ một cách bình tĩnh và kết thúc. Tôi không được biết rõ chị nói những gì, nhưng cho rằng buổi nói chuyện ít kết quả.


Dù sao tôi cũng thấy rằng việc chị dám đi đến một nơi địch đang hoạt động mạnh để nói chuyện với dân cũng là một việc làm dũng cảm, đáng để noi theo.
   Ra về, chị Srey Sron cho tôi biết là nguồn sống của bà con những phum gần khu rừng núi Tượng Lăng là đốn củi để bán và đào củ rừng để chống đói. Nay bộ đội truy quét địch, cấm bà con vào rừng nên đời sống của bà con rất khó khăn. Tôi cũng được biết thêm cuộc truy quét địch của tiểu đoàn trong một vùng rừng núi rộng bát ngát như vậy chưa có kết quả gì.


Tôi trao đổi với chị Srey Sron là nên để bà con tiếp tục được vào rừng để giải quyết vấn đề đời sống. Chỉ cần cử cán bộ đến các phum hướng dẫn cho dân nếu gặp tàn quân Pôn Pốt thì vận động họ trở về làm ăn, nói rõ chính sách khoan hồng của cách mạng đối với họ, đồng thời bí mật gài người tốt của ta vào những tốp dân vào rừng cùng họ và nắm thêm tình hình địch. Tôi cũng đề nghị chị nếu chị thấy việc đó nên làm thì chị về báo cáo với tỉnh ủy bạn và tranh thủ ý kiến của chuyên gia Việt Nam, dứt khoát không để dân phải đói khổ do lệnh cấm vào rừng. Chị rất vui và đồng ý với ý kiến này, coi như gỡ được một vấn đề nan giải.


Khoảng hai hôm sau, chị đến chỗ tôi và báo là tỉnh ủy cũng như chuyên gia Việt Nam đồng ý hoàn toàn với chủ trương này và bắt đầu triển khai thực hiện. Tôi cũng mừng về chuyến đi này không những nắm thêm được tình hình ở một vùng khá phức tạp mà còn ít nhiều góp được ý kiến có ích cho địa phương. Về nhà ở cũ, tôi được anh em cho biết là lên tầng hai của nhà ông chú đồng chí Pensôvan sẽ thấy có bàn thờ, câu đối bằng chữ Hán. Tôi cũng không biết rõ đó là thuộc văn hóa của người Hoa hay là người Việt và Pensôvan là người gốc Hoa hay là người gốc Campuchia.


Khi Đoàn đã hoàn thành công việc, trước khi về, tôi gặp chị Srey Sron, anh Dim Khụth cảm ơn, chúc mạnh khỏe, công tác tốt và chào tạm biệt, nhưng không cho biết thời gian và đường đi về của chúng tôi, vì thật ra tôi cũng chưa hiểu rõ Dim Khụth lắm.


Sáng hôm sau đi qua chỗ nhà chị Srey Sron ở gần đó, anh em chúng tôi chào chị lần nữa. Khi bắt tay tôi, chị nắm tay khá lâu, vẻ mặt xúc động, cảm ơn tôi nhiều lần. Lên xe, anh em nói đùa "chị Srey Sron có vẻ "mê" thủ trưởng đấy"1 (Năm 2010, khi ở trong Đoàn đại biểu chuyên gia và quân tình nguyện Việt Nam do đồng chí Vũ Oanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị dẫn đầu sang Campuchia theo lời mời của Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia, tôi hỏi chị Men Săm On - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ thì được biết chị Srey Sron đang là Chủ nhiệm của một Ủy ban của Quốc hội Vương quốc Campuchia).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #117 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 09:20:52 pm »

Sau những chuyến đi, trở về cơ quan công việc ngập đầu. Trong khi đó tiền phương Cục Tuyên huấn chưa có biên chế rõ ràng, chưa đủ người của các ngành để giải quyết những công việc hằng ngày. Cũng may là lúc đầu có những đồng chí cấp phòng giàu kinh nghiệm như đồng chí Trần Dũng, Trưởng phòng Thông tấn quân sự, đồng chí Việt Thanh, Phó phòng Tuyên truyền giúp đỡ, vì thế, công việc của chúng tôi vẫn được tiến hành suôn sẻ. Có những bộ phận công tác của Hà Nội cử vào thường xuyên như các tổ quay phim, nhà văn, nhà báo, văn công..., Tiền phương Cục cũng phải tiếp đón, hướng dẫn cho anh chị em công tác nên anh em chúng tôi làm việc rất vất vả, cường độ rất cao. Chúng tôi vừa phải làm những công việc theo chức năng của mình nhưng cũng thường phải phân công kiêm nhiệm những việc khác. Riêng tôi có thể nói là ít khi được đi ngủ trước 12 giờ đêm. Công tác vận động quần chúng giúp bạn xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở là một việc làm lớn có ý nghĩa chiến lược. Bộ Tư lệnh giao cho Tiền phương Cục Tuyên huấn, trong khi đó lúc đầu chỉ có một đồng chí trợ lý giúp việc. Rất may, trước Cách mạng Tháng Tám 1945 và sau khi tham gia Nam tiến vào làm Chính trị viên huyện đội dân quân, biệt phái làm Bí thư Đảng Đoàn thanh niên, Bí thư chi bộ cán bộ dân vận huyện và là Huyện ủy viên một thời gian khoảng hơn ba năm, nên tôi ít nhiều có kinh nghiệm trong hoạt động. Lúc này, tôi mới cảm thấy kinh nghiệm của thời gian đó rất quý giá đối với công tác hiện nay của mình, tránh được những sai lầm ngớ ngẩn, ấu trĩ trong công tác. Đồng chí Phó Tư lệnh Chính trị giao cho tôi trực tiếp phụ trách, vì vậy mọi văn bản hướng dẫn các đơn vị về công tác vận động quần chúng xây dựng thực lực cách mạng ở cơ sở tôi phải viết để cụ thể hóa các chủ trương trên.


Ngoài ra, có những vấn đề quan hệ với bạn có dính dáng đến chuyên gia quân sự hoặc các đơn vị Quân đội ta, tôi cũng được phân công theo dõi và giải quyết. Có một lần tôi được phái đi dự một hội nghị ở B68 do Đoàn chuyên gia quân sự 478 đề xuất. Bộ Quốc phòng bạn đề nghị với Đoàn 478 xây dựng một khán đài ở ngay khán đài cũ của Quốc vương Campuchia vẫn thường dùng trước đây ở ngay cửa Hoàng cung. Việc đó đòi hỏi phải phá cái cũ để xây một khán đài lớn quy mô vài nghìn người. Thiếu tướng Vũ Hải, lúc đó là Trưởng đoàn Chuyên gia quân sự 478 trình bày ý kiến của Bộ Quốc phòng bạn. Chủ trì cuộc họp hôm đó do một đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng ta phụ trách Phó Tổng đoàn trưởng Chuyên gia đoàn Campuchia điều khiển. Đồng chí Nguyễn Bắc, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Hà Nội nay là chuyên gia của Bộ Văn hóa bạn cũng có mặt. Sau khi đồng chí Vũ Hải trình bày, mọi người còn đang suy nghĩ, tôi cảm thấy đây là một ý kiến rất nông cạn và sai lầm. Tôi vội phát biểu ngay quan điểm của mình là phải thuyết phục bạn bỏ ý định ngay. Vì đây là một công trình kiến trúc, gắn liền với tổng thể kiến trúc của hoàng cung, rất hài hòa với cảnh quan xung quanh, phải bảo vệ những công trình như thế, chứ không được xóa bỏ. Nếu bạn muốn có một quảng trường và một khán đài cho hàng nghìn người thì nên nghiên cứu làm chỗ khác. Còn nếu muốn có một khán đài ở đây cho đông người dự thì nên làm tạm thời bằng gỗ ghép có thể dỡ bỏ được và không nên động chạm đến quần thể kiến trúc cũ. Người tán thành đầu tiên ý kiến của tôi là đồng chí Nguyễn Bắc và nói chung hội nghị các chuyên gia hôm đó hoàn toàn nhất trí với quan điểm của tôi. Tôi cũng không ngờ là ý kiến của mình dễ được chấp nhận nhanh đến thế và toàn bộ kiến trúc ở khán đài hoàng cung vẫn được bảo tồn. Kỷ niệm một năm giải phóng Campuchia - ngày 7 tháng 1 năm 1980 đã được làm ở nơi khác với khán đài lắp ghép bằng gỗ cho hàng nghìn người.


Ngay sau đó, Bộ Văn hóa bạn gửi một công văn cho Bộ Tư lệnh 719, đề nghị các đơn vị bộ đội ta trên toàn Campuchia không đóng quân ở các chùa chiền trên toàn lãnh thổ vì trước đây bọn Pôn Pốt cũng sử dụng lung tung. Tôi đã thảo một công văn yêu cầu các đơn vị ta không được đóng quân ở các chùa. Nơi nào đang ở phải tìm chỗ khác và trước khi đi phải dọn dẹp vệ sinh thật chu đáo và bàn giao cho bạn ở địa phương. Việc này được bạn rất hoan nghênh.


Những công việc như thế tưởng như đơn thuần là việc hành chính nhưng chiếm rất nhiều thời gian của chúng tôi. Bộ phận tiền phương của Cục lúc đó có ít người, công việc nhiều, có lúc tất bật như "nhà có người bị cảm cần cấp cứu", nhưng anh em rất tự giác, nhiều khi không đúng chuyên môn của mình vân vui vẻ nhận làm. Ăn uống ở cơ quan kham khổ, chúng tôi thường ăn cá linh kho - loại cá rất rẻ và rau muống luộc. Không hiểu sao kinh phí riêng cho công tác Tuyên huấn không có đến một xu, nhưng chẳng ai có đòi hỏi gì. Các anh em ở trong nước sang công tác thời gian ngắn rồi về cũng thông cảm với nỗi vất vả và thiếu thốn trong sinh hoạt, nên cũng tự mình tìm cách khắc phục khó khăn mà không kêu ca, phàn nàn. Riêng tôi phải làm việc khuya thường xuyên nên thỉnh thoảng cũng được vài chục gói mì ăn liền bồi dưỡng do Văn phòng Tiền phương Bộ cho. Tuy mì tôm từ Sài Gòn gửi sang lúc đó chất lượng rất thấp, lại chỉ ăn suông, nhưng có hôm đói xài đến hai gói mới đủ và vẫn thấy ngon.


Tất cả những công việc được coi như là công tác hành chính thường xuyên, song qua tiếp xúc với bạn, với chuyên gia B68, nghe phản ánh tình hình của những anh em công tác ngắn ngày, tôi cũng tiếp cận với tình hình thực tế rất tốt và coi đó là một nguồn cung cấp tình hình để nghiên cứu những công tác lâu dài về sau của mình.


Giữa tháng 6 năm 1979, Quân đoàn 3 rút quân về nước sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ truy quét bọn Pôn Pốt đến tận Tà Sanh - Săm Lốt, phía tây tỉnh Batambang.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #118 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 09:22:37 pm »

Một tin buồn, thật đau xót đến với Cơ quan Tiền phương Bộ ở Phnôm Pênh: Thiếu tướng Kim Tuấn, Tư lệnh Quân đoàn 3 trên đường từ Tà Sanh về Tiền phương Bộ, ngồi trong ca bin một chiếc xe tải đi lẻ, khi đi qua địa phận huyện Môngcônbôdây của Batambang, bị một toán tàn quân Pôn Pốt phục kích bắn vào chiếc xe đó và đồng chí đã hy sinh. Có lẽ, anh cho là đi trên một chiếc xe tải lẻ như thế thì dễ bất ngờ đối với địch. Nhưng thật không may, chẳng ai có thể lường trước được. Đó là vị tướng duy nhất hy sinh ở chiến trường nước bạn Campuchia, trong khi các đơn vị của ta và bạn đánh địch như chẻ tre, trong đó Quân đoàn 3 đã đánh địch suốt từ biên giới Đông Nam giáp Việt Nam tới sát biên giới Tây Bắc giáp biên giới Thái Lan mà rất ít cán bộ, sĩ quan hy sinh.


Chúng tôi chỉ biết một số tình hình cụ thể ban đầu về Quân đoàn 3 khi đồng chí Vinh, một đại úy của Xưởng phim Quân đội đi theo Quân đoàn trở về Phnôm Pênh. Đồng chí Vinh dẫn một tổ quay phim theo Quân đoàn đến tận Tà Sanh sát biên giới Thái Lan, là sào huyệt của bọn đầu sỏ Pôn Pốt. Tôi nhớ có hai việc mà đồng chí về báo cáo ngay với đồng chí phụ trách Tiền phương Bộ.


Việc thứ nhất là, khi đơn vị đầu tiên của Quân đoàn 3 tiến công đến giáp biên giới Thái Lan thì thấy một bàn tiệc còn đang ăn dở, gần đó có một chiếc xe du lịch. Có lẽ bọn địch, trong đó có cả cố vấn của chúng đang ăn với nhau. Xe ô tô để ngay bên cạnh, khi cần thì lên xe vượt biên giới chạy sang Thái Lan chúng không thể ngờ được quân ta lại ập đến nhanh như thế. Bọn chúng vội vã tháo chạy bằng chân, không kịp lên xe ô tô đúng như kiểu "quàng chân lên cổ mà chạy". Trên bàn, đồng chí Vinh nhặt được một hộ chiếu đi mang tên "Chu Hao", nhưng trong ảnh lại là một tên đầu sỏ khét tiếng gian ác rất quen mặt, nhiều người biết, đó là tên Iêng Xari. Bàn tiệc và chiếc xe còn để gần đó được máy ảnh của đồng chí ghi lại và tấm hộ chiếu được đồng chí mang theo về.


Chuyện thứ hai là, khi đồng chí từ Tà Sanh về thị xã Batambang. Tại đây, trong mấy ngôi nhà một đơn vị Quân đoàn 3 đang ở, đồng chí gặp một gia đình Campuchia khoảng 15 người có cả đàn ông, đàn bà, bà già và trẻ con. Đồng chí Vinh đến hỏi chuyện một người đàn ông khoảng trên dưới 40 tuổi gầy gò, đen đủi do thiếu ăn và đi nắng nhiều, có vẻ là chủ gia đình đó. Đồng chí Vinh biết nói tiếng Pháp tương đối tốt và qua nói chuyện biết ông ta cũng nói tiếng Pháp rất tốt. Ông ta kể với đồng chí Vinh, ông ta tên là Hô Nam Hông, trước đây là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Vương quốc Campuchia tại Cuba. Ông được bọn Pôn Pốt gọi về nước (khi đó ông Xihanúc cũng đang bị bọn Pôn Pốt giam lỏng ở Phnôm Pênh). Chúng cho ông và gia đình ở trong một khu tập trung các đại sứ ở nước ngoài được chúng gọi về cho học tập và cải tạo. Đang ở đó thì ta và bạn tiến công giải phóng Phnôm Pênh. Ông cùng gia đình, trong đó có mẹ đẻ ông tìm đường chạy sang Thái Lan trên các con đường mòn trong rừng. Đến Batambang, trên đường đi biên giới Thái Lan thì gặp một trạm chốt trên đường củaQuân đoàn 3. Bộ đội ta chặn lại hỏi thì ông ta khai thật là đang tìm cách đưa gia đình sang Thái Lan. Trước tình cảnh đói khát của một gia đình người Campuchia chạy loạn, anh em bộ đội ta khuyên ông ta cho gia đình quay lại, cấp gạo cho ăn đường để trở về thị xã, đến ở gần một đơn vị của ta để được giúp đỡ tiếp. Đến đây, ông thấy rất lạ là trời nóng nực, nhưng không hề thấy bộ đội ta lấy dừa có rất nhiều trên cây trong vườn để uống nước. Ông ta hỏi tại sao thì chiến sĩ ta trả lời "đây là dừa của dân, người ta sẽ về, bộ đội không bao giờ tự ý lấy của dân dùng và đó là kỷ luật của quân đội cách mạng". Đồng chí Vinh đến gặp, thăm hỏi mẹ ông ta thì bà cụ vừa khóc vừa nói bằng tiếng Việt Nam, kể lể sự cực khổ của gia đình khi ở với bọn Pôn Pôt và trên đường chạy sang Thái Lan. Đây là một bà mẹ gốc người Nam Bộ. Toàn bộ lời kể và tiếng khóc của cụ được đồng chí Vinh ghi lại trong máy ghi âm.


Nghe chuyện tôi rất vui và trong thâm tâm thấy cán bộ điện ảnh Quân đội ta, ngoài sự dũng cảm theo sát đơn vị chiến đấu để ghi lại những thước phim rất có giá trị còn có cả một sự nhạy cảm về chính trị rất đáng khen.


Sáng ngày hôm sau, trong cuộc giao ban của Tiền phương Bộ tôi được đồng chí Lê Hai đưa cho một tờ giấy. Đó là thư của ông Hô Nam Hông gửi "Ngài Tổng chỉ huy Quân đội Việt Nam tại Campuchia" đã được dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Đại ý trong thư, ông Hô Nam Hông nói, ông là Đại sứ của Vương quốc Campuchia tại Cuba. Trong thời gian ở Cuba ông có quen biết Đại sứ Hà Văn Lâu của ta. Ông và gia đình được bộ đội Việt Nam đối xử và giúp đỡ rất tốt. Ông rất khâm phục kỷ luật và tư cách của các chiến sĩ bộ đội Việt Nam. Ông là cử nhân Luật đã tốt nghiệp tại Pháp và đề nghị được làm một việc gì đó để phục vụ đất nước, tốt nhất là được làm công việc ở ngành Ngoại giao.


Nghe đồng chí Vinh kể lại và được đọc lá thư của ông gửi đồng chí Lê Đức Anh, tôi thấy những phẩm chất tốt đẹp của cán bộ, chiến sĩ ta trong cách đổi xử với gia đình ông đã khiến ông quyết định đi theo cách mạng phục vụ đất nước. Một hành động cụ thể nói lên phẩm chất cao quý, lòng nhân ái của bộ đội cách mạng có một ý nghĩa lớn như thế nào!


Ngay ngày hôm sau, đồng chí Lê Đức Anh đã điều một trực thăng lên Batarabang đón toàn bộ gia đình ông về Phnôm Pênh và bố trí cho gia đình Hô Nam Hông ở một ngôi nhà ngoài điện Chămcamon, không xa Sở chỉ huy của Tiền phương Bộ. Ý của đồng chí là muốn gợi ý bạn nghiên cứu sử dụng một trí thức vào một công việc hợp lý, có thể phát huy được khả năng của ông phục vụ cho chính quyền mới. Trong khi đợi bạn thỏa thuận với ý định của ta, đồng chí Lê Đức Anh đã chỉ thị cho cơ quan cung cấp cho gia đình Hô Nam Hông một mức sống tốt. Một hôm, gặp tôi đồng chí bảo: "Cậu nên bố trí thời gian đến gia đình ông ta thăm hỏi và chuyện trò với ông ấy". Tôi thấy đó cũng là một công việc thú vị, nên tôi đề nghị với đồng chí cử một đồng chí khác có nhiều thời gian hơn tôi để làm việc này. Đồng chí cũng đồng ý mà không hề có ý kiến bắt tôi phải làm.


Ít lâu sau, ông Hô Nam Hông được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Campuchia, giúp Hun Xen khi đó là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ này.

Tôi nghĩ đây là một ý định thật tốt đẹp, vô tư, trong sáng của các đồng chí lãnh đạo Tiền phương Bộ Quốc phòng của ta đối với việc xây dựng đội ngũ cán bộ cho bạn, trong đó phải kể đến công của đồng chí Vinh, phụ trách đội quay phim của Xưởng phim Quân đội và các đồng chí chiến sĩ của Quân đoàn 3.


Khi những đơn vị cuối cùng của Quân đoàn 3 bắt đầu hành quân về nước, đồng chí Phạm Sinh, Chính ủy kiêm Tư lệnh Quân đoàn (người thay thế Thiếu tướng Kim Tuấn đã hy sinh) đến Tiền phương Bộ báo cáo tình hình của đơn vị với các đồng chí lãnh đạo. Sau đó, anh sang chỗ tôi theo ý kiến của đồng chí Lê Hai. Anh cho tôi biết, trong quá trình truy quét bọn tàn quân Pôn Pốt, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 đã nhặt được của địch một số vàng và những của cải khác. Anh cho biết khi lãnh đạo, chỉ huy của Quân đoàn phát hiện tình hình đó, đã phát động trong toàn Quân đoàn một phong trào những ai nhặt được tự nguyện nộp cho đơn vị để trả lại cho chính phủ bạn. Một kết quả không ngờ: Tổng số vàng thu được từ những thứ nhỏ nhât cộng lại được tới 21 kilôgam và một va li, trong đó có hơn 400 đồng hồ đeo tay loại đắt tiền. Tất cả số của cải này đã được làm thủ tục trao lại toàn bộ cho bạn. Một hành động đẹp đẽ mà chỉ có quân đội cách mạng mới có được.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #119 vào lúc: 04 Tháng Tư, 2024, 09:24:05 pm »

Một dịp nữa để tôi có thêm tư liệu về tình hình Campuchia. Đó là việc Trung tướng Hoàng Cầm, Phó Tư lệnh Quân tình nguyện đi thị sát tình hình biên giới phía Bắc Campuchia.Đoàn được tổ chức khá đầy đủ cán bộ các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật đi theo đến một số đơn vị chốt giữ những vị trí trọng yếu ở phía Bắc giáp giới với Thái Lan, tức là đến với các đơn vị chủ lực của ta.


Nơi đầu tiên chúng tôi đến là Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Đoàn 479, sau gọi là Mặt trận 479 gồm hai tỉnh Batambang và Xiêm Riệp. Có thể nói, khu vực hai tỉnh này có nhiều điểm nóng nhất so với các nơi khác vì còn nhiều tàn quân của nhiều đầu sư đoàn bọn Pôn Pốt hoạt động ở đây. Trụ sở của Bộ Tư lệnh 479 đặt tại một khu vực vắng vẻ ở Trung tâm Xiêm Riệp, chỉ cách khu đền Ăngco nổi tiếng của Campuchia bảy kilômét. Trong khu đền Ăngco chỉ có Ăngco Vát là khu vực chính, đồ sộ nhất và tương đối an toàn, còn từ đó vào phía trong Ăngco Thom, bọn tàn quân Pôn Pốt còn lén lút hoạt động.


Sau khi làm việc ở Bộ Tư lệnh Mặt trận, theo ý kiến đồng chí Hoàng Cầm chúng tôi vào khu đền Ăngco Vát trước. Có lẽ, anh cũng muốn kết hợp cho nhiều anh em trong đoàn được tham quan một di tích nổi tiếng. Đi với anh, một cán bộ dầy dạn trận mạc, trưởng thành từ cán bộ cơ sở của Sư đoàn 312, chiến đấu ở chiến trường Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ những ngày đầu tiên, tính tình cởi mở, gần gũi rất dễ mến. Trước khi anh nhận nhiệm vụ làm Phó Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, anh là Tư lệnh Quân đoàn 4.


Cùng đi với đoàn có một phiên dịch tiếng Campuchia. Khi chúng tôi đến Ăngco Vát, người hướng dẫn viên giới thiệu quản lý khu đền là một người khoảng gần 40 tuổi. Trông anh ta bủng beo như người bị bệnh sốt rét rừng, quần áo còn tồi tàn, nhưng giới thiệu về Ăngco Vát rất nhiệt tình, hiểu biết thấu đáo, lịch sự đối với khách tham quan. Khi kết thúc cuộc tham quan, Đoàn cảm ơn anh ta thì anh nói bằng tiếng Pháp muốn đề nghị với chúng tôi một việc. Trong số anh em chúng tôi chắc cũng có người nói được tiếng Pháp nhưng các anh cũng rụt rè chưa muốn nói. Tôi nói với anh ta "có gì anh cứ nói", anh ta tiếp tục nói bằng tiếng Pháp: "Tôi đề nghị với các ông, ở đây có ai biết ông G. (tôi quên mất tên) là nhà khảo cổ học người Pháp đã từng gắn bó với Ăngco nhiều năm, giúp chúng tôi trùng tu, nghiên cứu, quản lý khu đền này. Ông là một chuyên gia khảo cổ học giỏi, là thầy dạy chúng tôi. Từ khi Pôn Pốt cầm quyền, ông G. bỏ về Pháp nay chế độ Pôn Pốt đã sụp đổ, đề nghị các vị ở đây, ai có thể báo cho ông ấy trở lại giúp chúng tôi, chúng tôi xin cảm ơn!".


Tôi trả lời anh ta là trong chúng tôi không ai biết ông ấy, anh nên đề nghị với chính quyền cách mạng Campuchia việc này. Tôi thấy điều rất đáng quý ở anh là trách nhiệm của một người công dân đối với việc bảo tồn văn hóa lịch sử của đất nước mình và tình nghĩa thầy trò đối với nhà khảo cổ học người Pháp.


Sáng hôm sau, rời Mặt trận 479, chúng tôi đi bằng trực thăng đến một địa điểm giáp biên giới Thái Lan. Vị trí này vừa là điểm nóng, vừa là vùng cực kỳ trọng yêu. Đó là khu đền Prết Vihia (Preah Vihcar) cổ kính, trên đó có một tiểu đoàn mạnh của ta đang chốt giữ. Ngôi đền này tọa lạc trên một cao điểm của rặng núi Đăngrếch (Dangrek) (nếu tôi nhớ không lâm) ở độ cao 600 mét so với mực nước biển, về phía Campuchiaphải đi qua một dốc đá khá dài gần như dốc đứng, quanh co khúc khuỷu và phải mất vài giờ đồng hồ mới tới nơi. Còn về phía Thái Lan có một con đường trải nhựa đến tận cổng của khu đền, xe cơ giới có thể đi tốt.


Khu vực dưới chân dốc phía Campuchia có một sư đoàn của Quân khu 5 bố trí ở đó. Sư đoàn này vừa làm nhiệm vụ truy sát tàn quân Pôn Pốt còn lẩn trốn ở đó khá nhiều, vừa bảo vệ khu đền. Trực thăng tiếp đất trên một bãi phẳng tương đối kín đáo trong khu vực đóng quân của sư đoàn. Từ đó, chúng tôi đi bộ qua những khu vực đóng quân của một số đơn vị. Cán bộ, chiến sĩ trú quân ở đây rất tích cực trồng các loại rau, bí để cải thiện sinh hoạt. Đi qua những giàn bí đao trĩu quả, được bộ đội đan lưới đỡ từng quả một, đoàn chúng tôi thấy bộ đội rất trân trọng với thành quả lao động của mình. Tôi nói vui "bí được đeo xu chiêng", anh Hoàng Cầm cũng rất thú vị cười "đúng là xu chiêng thật". Bắt đầu leo dốc khoảng độ một giờ đồng hồ, nhiều người đã đổ mồ hôi như tắm, những vị nặng cân đã bắt đầu thở phì phò.


Đến khu vực đền, mọi người ngạc nhiên thấy đó là một bãi đất khá phẳng phiu, cây cối mọc khá đẹp. Các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn cho biết diện tích khu đền rộng khoảng 50 hécta. Nhà chỉ huy và lán của bộ đội nền được đào chìm khoảng hơn một mét để tránh pháo, cối của địch bắn từ xa. Công sự chiến đấu được bố trí tương đối tốt. Anh Hoàng Cầm và anh em chúng tôi đi theo thấy đơn vị bố trí phòng thủ như vậy, anh đã kịp thời biểu dương anh em và tham gia một số ý kiến bổ sung cho kế hoạch tác chiến phòng ngự.


Đứng ở cổng đền sát ngay đầu đường trải nhựa bên phía Thái Lan, xa xa khoảng một kilômét, tôi nhìn thấy một "barie" chắn ngang đường nhựa, thấp thoáng thấy một vài bóng người lính Thái Lan đi lại có vẻ bình yên. Từ trước đến lúc này chưa có sự va chạm nào giữa binh lính Thái Lan và bộ đội ta.


Khoảng 2 đến 3 giờ chiều, chúng tôi tụt dốc trở lại nơi trực thăng đậu để trở về Batambang, còn một điểm nữa cần kiểm tra đó là Nimít, một cửa khẩu trước đây giáp Thái Lan. Trực thăng khởi hành lúc hơn 5 giờ chiều, bay dọc theo dãy núi Đăngrêch. Đi được một lúc thì trời bỗng tối sầm và một cơn mưa như trút nước đổ xuống kèm theo sấm chớp. Trực thăng bay giữa không gian tối như bưng, thỉnh thoảng một tia chớp lóe lên thấy nước mưa sối vào các ô cửa kính. Một không khí yên lặng rất căng thẳng trong máy bay, không ai nói với ai một câu nào, chỉ thấy tiếng nước mưa quật vào thân trực thăng. Tôi nghĩ mọi người đang lo lắng cho sự an toàn của chuyến bay. Cũng không thấy anh em tổ lái thông báo gì. Tôi nghĩ sẽ rất nguy hiểm nếu trực thăng bay vào một đám mây tích điện thì tai nạn là không thể tránh khỏi, rất may là chuyện đó không xảy ra. Khi gần đến sân bay Batambang thì mưa dần dần tạnh và trực thăng tiếp đất an toàn. Ra khỏi máy bay, dưới ánh điện mờ mờ, tôi thấy mình rất mệt và nhìn vẻ mặt của mọi người thấy rõ sự mệt mỏi sau một chuyến bay rất nguy hiểm và căng thẳng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM