Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Bảy, 2024, 01:37:22 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 6563 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #90 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:15:14 am »

Sau đợt huấn luyện, theo chế độ nghỉ phép năm, lại tương đối gần nhà, tôi xin phép Sư đoàn về thăm gia đình, đồng thời kiểm tra việc học hành của các con. Về nhà, tôi được biết Đức - con trai thứ hai của tôi đang học lớp 10 chuyên văn, Trường chuyên Lê Hồng Phong (Nam Định) vừa đi thi văn toàn miền Bắc về. Đức lấy máu viết đơn xin vào bộ đội đi chiến đấu, được chấp nhận và được đặc cách tốt nghiệp phổ thông trung học. Đức học khá, có sức khỏe nên cả tôi và mẹ nó đều yên tâm. Hôm làm bữa cơm thân mật để tiễn con lên đường nhập ngũ, nhà tôi mời thầy Đạt - người bí thư chi bộ cộng sản đầu tiên của huyện, bạn rất thân của bố tôi đến dự. Thầy đã về hưu và từ Phủ Lý lên thăm con dâu đang là Hiệu phó Trường trung học phổ thông Kim Bảng. Được gặp thầy bất ngờ trong ngày vui tiễn con lên đường nhập ngũ, tôi rất phấn khởi về tình cảm của thầy đối với Kim Bảng, với các gia đình cơ sở cách mạng vẫn nguyên vẹn như cách đây đã hơn 40 năm. Thầy thân mật nói với tôi, cỏ cháu Đức ở đó: "Này, gia đình anh ba đời làm cách mạng đấy". Tôi coi đó là một lời khen ngợi, động viên của một đảng viên cộng sản lão thành và là một lời nhắc nhở tôi và cháu Đức phải có trách nhiệm phát huy truyền thống cách mạng, yêu nước của gia đình.


Trên đường trở về đơn vị, tôi vui mừng vì thấy con mình đã trưởng thành, học tập tốt, có chí khí phấn đấu, nhưng cũng lo ngại không biết con mình có vượt qua được gian khổ, hy sinh của một chiến sĩ trong thời chiến hay không. Tôi căn dặn Đức: "Học tập, rèn luyện và chiến đấu trong Quân đội, không phải như một cuộc du lịch, một cuộc cắm trại đâu mà đòi hòi phải có một nghị lực rất cao để vượt qua mọi thử thách gian khổ, hy sinh đấy. Nhưng đồng chí, đồng đội mình làm được thì mình cũng làm được. Phải cố gắng, phải chiến thắng được chính mình".


Tôi trở về đơn vị đang vào mùa mưa, Trung đoàn và các đơn vị bạn trong Sư đoàn được cấp trên điều động đi chống lũ lụt ở Hà Nội và Hà Tây. Trung đoàn tôi phụ trách những đoạn đê, kè tại Thanh Trì. Cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn không quản mưa nắng, ngày đêm lao động cật lực để gia cố, hàn gắn những chỗ có nguy cơ dễ bị vỡ, sạt lở, bảo đảm an toàn cho Hà Nội. Trong những ngày ấy, tôi và đồng chí Phó Chính ủy Phạm Bá Hòa thay phiên nhau ngày đêm có mặt trên đê để kiểm tra đôn đốc bộ đội. Hòa không nói với tôi là vợ con Hòa ở ngay Hà Nội, cách nơi chúng tôi ở khoảng hai kilômét và vì công việc cũng không dám tranh thủ về. Nhưng không hiểu sao vợ Hòa lại biết, chị đạp xe đến thăm chồng vì đã lâu không được gặp anh. Nghe tin báo vợ đến thăm, anh có vẻ không bằng lòng vì đang bận việc. Tôi nhắc anh ra gặp vợ ngay và cứ nói chuyện với chị thoải mái, công việc đã có tôi lo và nhân tiện cùng anh ra hỏi thăm chị. Thấy chồng có vẻ không vui, chị hơi tủi thân. Trước đây, tôi được Hòa cho biết, chị là con độc nhất của một gia đình khá giả, bố mẹ đều là cán bộ nên rất chiều con. Chị đã tốt nghiệp Đại học Kinh tế tài chính, hiện đang công tác ở ngành Tài chính. Anh chị đã có hai con trai, cháu lớn đã được hơn 10 tuổi, chị còn trẻ đẹp và có vẻ khỏe mạnh. Tôi thường nói đùa với Hòa: "Ông đúng là chuột sa chĩnh gạo", Hòa chỉ cười. Nhân một buổi chiều rỗi rãi, tôi đề nghị anh dẫn tôi về thăm chị và các cháu. Nể tôi, anh dẫn tôi về nhà. Gọi là nhà nhưng chỉ là một góc nhà ở nhờ, trống trải, tuệnh toàng. Chị và cháu lớn đang thổi cơm chiều trên một cái bếp kê bằng ba hòn đá, bên cạnh là một rá rau muống luộc. Cuộc sống của cán bộ, nhất là cán bộ Quân đội lúc đó còn khó khăn, ăn uống đạm bạc như vậy. Liên tưởng tới vợ con mình, tự nhiên thấy trong lòng nao nao thương nhớ và thông cảm với những khó khăn của những người vợ bộ đội.


Việc tham gia chống lũ lụt của Sư đoàn hoàn thành tốt đẹp. Sư đoàn được Quốc hội và Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì. Nhiều cán bộ, chiến sĩ được tặng Bằng khen, Giấy khen.


Trở về vị trí trú quân, tháng 6 năm 1969, Sư đoàn tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ đánh giá sự lãnh đạo của Đảng bộ trong 4 năm xây dựng và chiến đấu (1964 - 1968), ra nghị quyết về phương hướng nhiệm vụ lãnh đạo trong tình hình mới đối với việc nâng cao trình độ kỹ, chiến thuật, chất lượng chính trị đáp ứng yêu cầu chiến đấu ngày càng cao của Sư đoàn. Trong Đại hội này, tôi tiếp tục trúng cử vào Đảng ủy Sư đoàn, là Đảng ủy viên chính thức.


Đầu tháng 9 năm 1969, một ngày trước khi có thông báo cho toàn dân biết tin rất đau thương (Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời), Đảng ủy Sư đoàn được triệu tập và thông báo trước. Khi đồng chí Bí thư Đảng ủy Sư đoàn Hoàng Phương báo tin dữ này, toàn Đảng ủy lặng đi, rưng rưng nước mắt. Đồng chí Nguyễn Bá Lục, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô) nức nở: "Chúng ta chưa hoàn thành được nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước khi Bác Hồ còn sống để Bác còn vào thăm đồng bào miền Nam ruột thịt".


Mọi người ai cũng nghẹn ngào nhớ tới công lao trời biển của Người đối với cách mạng, với đất nước, với Quân đội, với sự trưởng thành của mỗi người. Trước đau thương, mất mát này, toàn Sư đoàn biếu thị sự tin tưởng tuyệt đối vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục sự nghiệp cách mạng thiêng liêng của Người đến thắng lợi cuối cùng. Trong không khí vô cùng xúc động đó, Đảng ủy đã trao đổi về công tác tư tưởng trong đơn vị, biến đau thương thành hành động cụ thể, xây dựng và chiến đấu trên chặng đường tiếp theo.


Trở về đơn vị, tôi triệu tập gấp cán bộ chủ chốt của các cơ quan, các tiểu đoàn để thông báo tin Bác Hồ mất và những yêu cầu đối với đơn vị và cán bộ, chiến sĩ. Vừa nghe tin Bác mất, một cán bộ của Cơ quan Hậu cần ngã lăn ra bất tỉnh vì quá xúc động phải đưa đi cấp cứu. Không khí của đơn vị chìm ngập trong đau thương, mất mát quá lớn một thời gian dài. Mọi người ít nói hơn, những chiến sĩ trẻ hiếu động giảm đùa nghịch hơn những lúc bình thường. Hiện tượng vi phạm kỷ luật cũng hầu như không xảy ra...


Từ tháng 9 năm 1969 cho đến hết tháng 3 năm 1970, Trung đoàn thực hiện liên tục các đợt huấn luyện, diễn tập đánh địch ở địa hình núi cao, rừng rậm tại vùng đồi núi Hòa Bình. Toàn Trung đoàn trú quân ở huyện Lương Sơn và ăn Tết âm lịch ở đó. Trước Tết, Ban chỉ huy Trung đoàn in thư chúc Tất tới các gia đình cán bộ, chiến sĩ trong Trung đoàn và thông báo cho gia đình tiến bộ của mọi người, do từng cán bộ, chiến sĩ gửi kèm với thư của mình về cho gia đình. Thư có tác dụng tốt, mọi người đều yên tâm phấn khởi ăn Tết ở đơn vị cùng với nhân dân, vơi đi nỗi nhớ nhà, còn các gia đình cũng yên tâm về con em mình được sống trong một đơn vị giàu tình cảm ấm áp giữa đồng chí, đồng đội, giữa cấp trên và cấp dưới. Tết năm ấy, trên bàn thờ đón Giao thừa, theo sáng kiến của chiến sĩ có ảnh thờ Bác Hồ, có đủ bánh chưng xanh, giò chả, hoa quả ngày Tết. Chính ủy Hoàng Phương rất xúc động và thú vị về hình ảnh đó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #91 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:16:01 am »

Sau Tết (từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1970), Trung đoàn có những cuộc rèn luyện cơ động, nâng cao sức dẻo dai của bộ đội bằng các cuộc hành quân đường dài, nhất là ban đêm trên các địa hình phức tạp của rừng núi. Trung đoàn còn được huấn luyện, diễn tập có thực hành trong đội hình của Sư đoàn, hiệp đồng binh chủng quy mô lớn, trong một số tình huống có bắn đạn thật. Kết quả của các đợt huấn luyện, diễn tập này đã nâng cao thêm trình độ và sức mạnh chiến đấu của đơn vị.


Cuối tháng 10 năm 1970, tôi nhận được quyét định của Tổng cục Chính trị điều động lên Cục Tuyên huấn và được bổ nhiệm làm Trưởng phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường. Đồng chí Phạm Bá Hòa, Phó Chính ủy được bổ nhiệm làm Chính ủy Trung đoàn thay tôi. Sau khi bàn giao công việc cho đồng chí Hòa, tôi ở lại đơn vị mấy ngày để đến một số đơn vị chia tay với những đồng đội đã cùng mình đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong 5 năm trời xây dựng và chiến đấu của đơn vị. Hôm cuối cùng, tôi đang ở Tiểu đoàn 6, thì Trung tướng Song Hào, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị xuống thăm đơn vị. Trong lúc đồng chí Chính ủy mới của Trung đoàn đang tiếp và báo cáo tình hình với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, thì một chuyện không may đã xảy ra ở Tiểu đoàn 5, cách Trung đoàn chỉ hơn một kilômét. Tiểu đoàn phó Lại Cá Phềnh và Đại đội trưởng Duy trong khi chuẩn bị đạn đi tập đã sơ ý làm một quả đạn cối phát nổ. Cả hai đồng chí và một chiến sĩ hy sinh ngay tại chỗ. Cả hai cán bộ đó đều là người đã chiến đấu rất dũng cảm ở Mặt trận Đường 9 - Khe Sanh và trưởng thành rất nhanh. Đặc biệt là đồng chí Duy mới 19 tuổi, đã tốt nghiệp Phổ thông trung học và là một cán bộ rất có triển vọng. Trước khi qua Sư đoàn để chào các thủ trường Sư đoàn, tôi đã đến nghĩa trang liệt sĩ của huyện Lương Sơn - nơi an táng các chiến sĩ của Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô) trong Chiến dịch Hòa Bình thời đánh Pháp để viếng các đồng chí và thắp hương tiễn biệt các đồng chí vừa tử nạn hôm trước trong nỗi ngậm ngùi, xót thương.


Khi rời khỏi Trung đoàn, trong tôi dạt dào một tình cảm lưu luyến khó tả đối với những người đã cùng mình chia sẻ những gian truân vất vả, ác liệt trong xây dựng và chiến đấu của đơn vị. Điều mà tôi tự hào nhất khi rời đơn vị, không chỉ là những thành tích trong xây dựng và chiến đấu, mà cái chính với tư cách là một chính ủy, tôi đã chú trọng góp phần xây dựng mối quan hệ gắn bó đồng chí, đồng đội, gắn bó tình cảm giữa những người bạn chiến đấu.


Tôi cho rằng phẩm chất cao đẹp nhất trong những người chiến sĩ cầm súng, từ những vị tướng cho đến người binh nhì là sự hy sinh quên mình, trong đó có cả hy sinh tính mạng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Không thể nói sự hy sinh của vị tướng lớn hơn sự hy sinh của binh nhì. Nếu có khác là ở chỗ sự cống hiến của vị tướng lớn hơn, năng lực cao hơn, là quan hệ giữa những người chỉ huy và người phải chấp hành mệnh lệnh của cấp trên. Từ nhận thức đó, tôi cho ràng giữa người chỉ huy và người lính là sự bình đẳng về nhân cách. Người cán bộ chỉ huy không được phép xúc phạm đến nhân cách của người dưới quyền trong bất cứ trường hợp nào mà phải tôn trọng nhân cách cấp dưới. Bằng nhiều cách như giáo dục, hướng dẫn, tự mình làm gương, thực sự thương yêu cấp dưới, thương yêu chiến sĩ..., tôi yêu cầu cán bộ chính trị, quân sự trong Trung đoàn mình phải như vậy. Do đó, trong hơn 5 năm ở Trung đoàn tôi không có những vụ việc nghiêm trọng nào xảy ra trong quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, giữa cấp trên với cấp dưới, lúc thường cũng như lúc chiến đấu. Tôi thực sự tự hào về điều đó.


Đối với Sư đoàn, khi chuyển đi công tác ở nơi khác, những kỷ niệm và tình cảm tốt đẹp luôn in đậm trong trái tim tôi. Nếu tính cả 3 năm đi học ở Liên Xô, thì tôi đã công tác và chiến đấu ở Sư đoàn 308 hơn 19 năm (6.1951 - 10.1970). Tôi rất phấn khởi khi được về công tác và chiến đấu ở Sư đoàn 308 - Sư đoàn Quân tiên phong - Sư đoàn chủ lực cơ động chiến lược đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Tôi tự hào vì được sống, chiến đấu và công tác ở một đơn vị trong cả hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, mà kẻ thù luôn kiêng nể, khiếp sợ. Tình báo của chúng thường xuyên theo dõi đơn vị, vì đến đâu, đánh ở đâu là ở đó có đánh lớn, ở đó chúng sẽ gặp phải một đối thủ thiện chiến gồm những chiến sĩ quả cảm "có tâm hồn của những người chiến thắng". Ở đó, tôi đã được sống trong một không khí chủ đạo đầy ắp tình cảm gắn bỏ đồng chí, đồng đội; giữa cán bộ, chiến sĩ, giữa cấp trên cấp dưới, dù ở đó có cả anh em Bắc, Trung, Nam. Điều đó là một yếu tố đã tạo nên sức mạnh của đơn vị, đúng như vậy!


Tôi đến chào các đồng chí Thủ trưởng Sư đoàn với tình cảm lưu luyến ấm áp trong một bữa cơm chia tay đạm bạc và một tặng phẩm nhỏ của Sư đoàn là một cái bút máy có khắc một dòng chữ rất đẹp: "Thân tặng đồng chí Đinh Mộng Tiên". Tôi xin phép các anh, trước khi về Tổng cục nhận công tác, được đến Viện Quân y 108 "đại tu" sức khỏe, nhưng chủ yếu là mổ lấy long siêu ở mắt rất khó chịu mặc dù thị lực còn rất tốt.


Tháng 11 năm 1970, từ Viện Quân y 108 tôi về Cục Tuyên huấn với một tâm trạng khó tả. Ở đó, tôi sẽ được gặp anh Hồng Cư là Thủ trưởng cũ khi tôi ở Trung đoàn 36 và khi công tác ở Ban Tuyên huấn Sư đoàn, lúc này là Cục phó Cục Tuyên huấn; gặp đồng chí Đỗ Hữu Lâm trước cũng công tác ở Ban Tuyên huấn Sư đoàn, nay công tác ở phòng mà tôi sắp đến nhận nhiệm vụ. Như vậy là tôi đã có những đồng chí thân quen để có thể học hỏi những kinh nghiệm công tác ở đây. Tôi được thu xếp ở khu nhà tập thể cấp 4 cho những anh em gia đình không ở Hà Nội, mà anh em nói vui với nhau là thuộc vào loại "ăn nhà tập thể, ngủ giường cá nhân".


Phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường là một trong vài phòng chủ chốt của Cục Tuyên huấn. Nơi làm việc là một căn phòng lớn khoảng 60 mét vuông của một trong những tòa nhà hai tầng được xây dựng rất kiên cố, có hành lang rộng và mát mẻ. Trước đây, khu này là doanh trại của những binh đoàn cơ động lính lê dương của thực dân Pháp, nằm trong nội thành, nay là nơi làm việc của Bộ Quốc phòng và những cơ quan chủ yếu trực thuộc Bộ như Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần...
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #92 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:16:58 am »

Hôm đầu tiên tôi đến phòng làm việc đã được gặp ngay những nụ cười thân thiện của nhiều đồng chí. Có lẽ đồng chí Đỗ Hữu Lâm trước đây đã công tác với tôi vài năm ở Ban Tuyên huấn của Sư đoàn 308 đã giới thiệu sơ qua với các đồng chí về tôi. Tuổi chúng tôi cũng sàn sàn như nhau, chỉ hơn kém nhau khoảng một hai tuổi, đều tham gia cách mạng và nhập ngũ sớm nên cũng dễ hòa đồng. Quan sát thấy mỗi đồng chí ngồi làm việc ở một bàn, mỗi người một góc, hơi lộn xộn, tôi "bạo phổi" đề nghị sắp xếp lại thành hai hàng bàn quay mặt vào nhau thẳng tắp, chẳng sợ các đồng chí mất lòng. Các đồng chí hưởng ứng ngay, có đồng chí giải thích trước đây sở dĩ như thế là vì sợ ngồi đối diện với nhau mất tập trung, mà việc viết lách đòi hỏi phải tập trung suy nghĩ nhiều. Hôm sau, đồng chí Đoàn Chương, Cục phó Cục Tuyên huấn phụ trách khối giáo dục chính trị, văn hóa và nhà trường đến thăm cười nói: "A! Trông gọn ghẽ đàng hoàng nhỉ!", mọi người đều cười vui vẻ. Anh Đoàn Chương trước đây là Thư ký riêng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh (đã mất năm 1967). Anh Chương đã qua một số công tác ở đơn vị, trong đó có thời gian làm Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân chủng Phòng không - Không quân, sau được điều về làm Cục phó Cục Tuyên huấn. Nghe anh em nói, anh Chương là người có trí nhớ rất tốt, thông minh, viết lách chặt chẽ, trình độ nghiên cứu tốt. Anh em cũ trong phòng cho biết Cục trưởng là đồng chí Nguyễn Trọng Yên - con trai của cố nhà văn Nguyễn Trọng Thuật, tác giả tiểu thuyết "Quả dưa đỏ", đã tốt nghiệp tú tài, tham gia khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Yên và là Chủ tịch Ủy ban nhân dân lâm thời tỉnh Quảng Yên, sau được điều vào bộ đội. Các đồng chí Cục phó gồm có; anh Hồng Cư phụ trách mảng tuyên truyền, thông tấn quân sự, báo chí. Anh Chính Hữu, phụ trách khối công tác văn nghệ, văn công. Anh Đỗ Chính, phụ trách công tác nội bộ và vấn đề giáo dục chiến sĩ, đồng thời là Bí thư Đảng ủy Cục Tuyên huấn. Cục Tuyên huấn lúc đó có quân số cán bộ rất đông, phụ trách nhiều nội dung lớn trong công tác chính trị.


Tôi từ một chính ủy trung đoàn nặng về công tác lãnh đạo, công tác thực tế và chiến đấu, tuy có thời gian làm công tác tuyên huấn ở đơn vị và đã qua đào tạo cơ bản, nhưng công tác ở cơ quan chiến lược không dễ dàng thích nghi được trong thời gian ngắn. Nhận rõ như vậy, nên tôi hết sức chú ý đến việc học hỏi các đồng chí cũ đã có thời gian công tác lâu ở cơ quan, đặc biệt là những anh em đang công tác ở trong phòng do tôi phụ trách. Anh em cho biết, trước tôi đã có hai đến ba đồng chí là cán bộ giỏi ở đơn vị được điều về phụ trách phòng nhưng vì chậm thích nghi nên không trụ nổi ở đây. Tôi có phần lo lắng, nhưng tự xác định là phải cố gắng, kiên trì học hỏi các đồng chí xung quanh, quyết phấn đấu nhanh chóng thích nghi với công việc mới. Tôi có một thuận lợi lớn là các đồng chí cùng công tác ở trong phòng thấy tôi có thái độ khiêm tốn học hỏi, không giấu dốt nên rất ủng hộ, thân tình, thẳng thắn góp ý kiến. Trong phòng cỏ hai phó phòng là các đồng chí Lê Ngọc Tuân và Đào Thế Châu. Đây là hai đồng chí lão thành, tham gia hoạt động đấu tranh trước Cách mạng Tháng Tám 1945. Đồng chí Nguyễn Văn Định trước là Tổ trưởng giáo viên chính trị tại Học viện Hậu cần cũng là một đồng chí lão thành cách mạng là trợ lý, đều là những đồng chí khiêm tốn, đúng mực nên trong phòng rất đoàn kết, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, tuyệt nhiên không có chuyện kèn cựa cá nhân. Cho đến bây giờ, khi tất cả đã về hưu, tình cảm của chúng tôi vẫn nguyên vẹn như lúc còn công tác cùng nhau.


Việc đầu tiên tôi được giao là nghiên cứu về vấn đề giáo dục chính trị ở các nhà trường trong Quân đội. Một đề án công tác quá lớn, phải huy động kinh nghiệm và trí tuệ của cả phòng, nhất là đối với những anh em đã qua công tác giáo dục chính trị ở các trường.


Đề án do tôi chủ trì và chấp bút vừa hoàn thành bước đầu, thì một sự kiện rất bất ngờ không ai có thể nghĩ tới. Khoảng cuối năm 1970, giặc Mỹ liều lĩnh dùng máy bay trực thăng mang vũ trang bí mật tập kích ban đêm khu đền Và (Sơn Tây) chỉ cách Hà Nội khoảng 40 kilômét hòng cứu bọn tù binh phi công bị ta bắt giam tại đó (nhưng trước đó ta đã di chuyển tù binh đi nơi khác). Cuộc giải cứu tù binh của địch không đạt được mục đích, nhưng cũng đặt ra cho ta phải nâng cao cảnh giác đối với những hành động liều lĩnh của chúng. Đồng thời, đế quốc Mỹ dùng không quân tiếp tục đánh phá một số nơi trên miền Bắc và đưa Hạm đội 7 của chúng vào Vịnh Bắc Bộ.


Tình hình diễn ra trong bối cảnh chiến lược "Chiền tranh cục bộ" của chúng đã bị phá sản sau thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở miền Nam của quân và dân ta. Do đó, địch bị động chuyển sang một chiến lược khác mà chúng gọi là "Việt Nam hóa chiến tranh" theo học thuyết Níchxơn (viên Tổng thống Mỹ cực kỳ hiếu chiến thuộc Đảng Cộng hòa). Chiến lược này theo báo chí phương Tây lúc đó gọi một cách mỉa mai là chiến lược "thay màu da trên xác chết". Có nghĩa là, chúng muốn đẩy quân ngụy Sài Gòn tự gánh lấy cuộc chiến tranh do chính bọn xâm lược Mỹ gây ra, đồng thời cũng nhằm mục đích hòng đề cao bọn ngụy tay sai Sài Gòn thực hiện mưu đồ của chúng, mà chúng chỉ giữ vai trò trợ giúp. Đây là một âm mưu rất thâm độc của đế quốc Mỹ.


Trước sự đánh phá ác liệt của không quân địch ở Hà Nội, các bộ phận không cần thiết của cơ quan Bộ Quốc phòng phải gấp rút sơ tán về những nơi an toàn đã chuẩn bị từ trước. Riêng phòng chúng tôi phải sơ tán lên xóm Đợn, một xóm hẻo lánh thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình để tiếp tục làm việc.


Ngày 30 tháng 1 năm 1971, địch bắt đầu cuộc hành quân Lam Sơn - 719 hòng đánh phá hành lang vận chuyển của ta ở Trung, Nam Lào, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc đối với miền Nam; đồng thời nuôi tham vọng giành thắng lợi để chứng minh sức mạnh của lực lượng ngụy quân tay sai và cũng là để chứng minh cho thắng lợi của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Vì vậy, chúng huy động một lực lượng rất lớn, gồm những đơn vị thiện chiến và trừ bị chiến lược, lực lượng lúc cao nhất lên tới 55.000 quân (quân đội Sài Gòn: 40.000; quân Mỹ: 15.000), huy động hơn 500 xe tăng và xe bọc thép, gần 300 khẩu pháo và 1.000 máy bay các loại; đồng thời còn nhận được sự hỗ trợ từ quân đội phái hữu Lào (chín tiểu đoàn thuộc hai binh đoàn cơ động GM30 và GM33) phía tây đường 91 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự, Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Viện Khoa học quân sự xuất bản 1987, tr. 13).
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #93 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:18:02 am »

Đúng lúc ấy, tôi nhận được lệnh của Cục trở về Hà Nội gấp để nhận nhiệm vụ. Về đến nơi, tôi được biết phải chuẩn bị tư trang và những thứ cần thiết cùng đồng chí Cục phó Hồng Cư ra trận phục vụ Chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào. Anh Hồng Cư sơ bộ cho tôi biết, anh mang theo thư của Bộ Chính trị gửi cán bộ, chiến sĩ toàn Mặt trận Đường 9 - Nam Lào vào trong đó sẽ in gửi cho các đơn vị tham gia chiến dịch, coi đó là nội dung chủ yếu trong công tác tư tưởng động viên mọi người có quyết tâm cao, kiên quyết giành thắng lợi trong Chiến dịch này.


Tôi rất phấn khởi lại được tham gia một chiến dịch, lại được cùng đi với anh Hồng Cư - người tôi từng làm việc nhiều năm ở Sư đoàn 308. Sớm tinh mơ hôm sau, trên chiếc "Com măng ca" của Liên Xô, theo đường 1, chúng tôi hướng thẳng về phía Nam. Đường trong chiến tranh rất xấu, có chỗ phải qua phà, mãi 12 giờ trưa chủng tôi mới tới được Thanh Hóa. Dừng chân ăn qua loa bữa trưa, chúng tôi đến trạm giao liên ở ngoại ô Vinh. Trên đường đi từ Hà Nội vào Vinh, xe của chúng tôi thường gặp một chiếc xe buýt Hải Âu của Liên Xô chở khoảng 40 cô gái mặc quân phục Trung Quốc, đầu đội mũ lưỡi trai mềm, lúc đi trước, lúc đi sau. Khi thấy xe chúng tôi có biển đỏ quân sự, bên trong lại có hai anh bộ đội Việt Nam, các cô gái tươi cười vẫy tay chào thân thiện. Vào đến trạm khách ở Vinh, tôi mới được biết đấy là các nữ chiến sĩ Campuchia được đào tạo ở Trung Quốc trên đường về nước chiến đấu. Trưởng đoàn của chiếc xe đó là một người đàn ông trung niên lầm lỳ, mặt lạnh tanh1 (Năm 1979, khi tham gia đánh bọn diệt chủng Pôn Pốt ở Campuchia, xem ảnh Tà Mốc, một trong những lãnh tụ Khơme Đó khét tiếng tàn bạo, tôi thấy đúng là tên dẫn dầu trên chuyến xe buýt hôm đó). Đoàn Campuchia được anh chị em ở trạm khách giao liên đón tiếp rất trọng thị, ăn ở rất chu đáo. Sau một đêm ngủ đẫy giấc ở Vinh, sớm hôm sau vượt phà Bến Thủy, chúng tôi phóng xe một mạch đến Quảng Bình, rẽ vào khu vực Sở chỉ huy chiến dịch.


Đến nơi, tôi ngạc nhiên thấy Sở chỉ huy đã được tổ chức rất chắc chắn ở một khu rừng kín đáo, gần cạnh các bản của đồng bào Vân Kiều. Bộ máy chỉ huy đã hoạt động nhộn nhịp, không khí rất khẩn trương. Trong Sở chỉ huy đã thấy các đồng chí Văn Tiến Dũng, Lê Quang Đạo, Lê Trọng Tấn. Cơ quan Chính trị Mặt trận: Chủ nhiệm là đồng chí Ngô Thành Vân ở Đoàn 559 cử sang, Phó Chủ nhiệm là đồng chí Hồng Cư, Cục phó Cục Tuyên huấn và đồng chí Nguyễn Văn Thường, Cục phó Cục Địch vận thuộc Tổng cục Chính trị, những người khá quen biết với tôi.


Anh Hồng Cư thông báo cho tôi biết: Tôi được phân công phụ trách tuyên huấn của Mặt trận, được bố trí ở một cái lán khá rộng, cách Sở chỉ huy khoảng 300 mét ở phía ngoài, gần sát với một bản Vân Kiều. Việc đầu tiên tôi phải làm là cho in bức thư của Bộ Chính trị gửi các đơn vị tham gia chiến dịch và chuẩn bị kế hoạch hướng dẫn quán triệt nội dung bức thư đó cho cán bộ, chiến sĩ Mặt trận. Khi nghiên cứu bức thư tôi cảm nhận rất rõ mấy quan điểm khác với chiến dịch chống Pháp và chống Mỹ mà tôi đã từng trài qua:

- Thư rất súc tích, ngắn gọn

- Khẳng định rất rõ âm mưu của Mỹ, ngụy

- Biểu thị rất rõ quan điểm của lãnh đạo

- Toát lên một vẻ lạc quan, tin tưởng tất thắng

- Được quán triệt sau một số trận của các đơn vị tham gia chiến dịch một điều hiếm thấy. Có nghĩa là chiến dịch đã được chuẩn bị rất gấp và lá thư kêu gọi bộ đội nêu cao quyết tâm: "Nhất thiết đánh thắng trận này dù có phải động viên sức người, sức của và hy sinh như thế nào; vì đây là một trong những trận có ý nghĩa quyết định về chiến lược"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự, Chiến dịch phản công Đường sổ 9 - Nam Lào năm 1971, Viện Khoa học quân sự xuất bản 1987, tr. 21).


Tất cả những cảm nhận khi nghiên cứu bức thư này đưa tôi đến một linh cảm, đúng hơn là sự tin tưởng chiến dịch này sẽ thắng to. Tôi khẩn trương tiến hành việc phổ biến nội dung bức thư và kế hoạch hướng dẫn quán triệt đến các đơn vị đầu mối của chiến địch với một tinh thần hứng khởi, lạc quan đặc biệt.


Ở các đầu dây điện thoại bên kia của các đầu mối đơn vị, các đồng chí phụ trách cơ quan chính trị hay phụ trách tuyên huấn khi nhận được nội dung thư và hướng dẫn cũng đều tiếp thu một cách rất phấn chấn và không hề có một băn khoăn nào.


Khu vực xung quanh Sờ chỉ huy chiến dịch, địch vẫn cho máy bay ném bom, bẳn phá nhưng đều ở khoảng cách xa, gần nhất là độ một kilômét, chứng tỏ Sở chỉ huy vẫn giữ được bí mật. Trong khi đó, các đoàn cán bộ ở hậu phương vào công tác ở đây vẫn ùn ùn kéo đến. Để tránh lộ Sở chỉ huy, các đoàn vào chỉ được phép ở một địa điểm cách đó ba kilômét và Sở chỉ huy sẽ cử người ra làm việc, trừ một số trường hợp cá biệt. Để quán triệt thư của Bộ Chính trị cho các đoàn cán bộ mới vào anh Hồng Cư thường báo cho tôi biết, rồi tôi phải ra gặp và phổ biến cho anh em nội dung tinh thần bức thư đó. Có một điều lạ là khi nghe xong, ai cũng phấn chấn hẳn lên. Tôi thấy rất rõ sức mạnh động viên của bức thư Bộ Chính trị đến mọi người. Tình hình đó lại càng củng cố thêm lòng tin vững chắc cho chúng tôi ở thắng lợi của chiến dịch.


Khi giao ban ở Sờ chỉ huy, có tin chiến thắng hoặc tin gì quan trọng, anh Hồng Cư lại truyền cho tôi để tôi chuyển về Cục Tuyên huấn ở Hà Nội. Có hôm mở đài bán dẫn nghe đồng chí Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên nói về Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào với học viên Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương và những thắng lợi đầu tiên của chiến dịch với khí thế sôi nổi vốn có ở anh, tôi thấy rõ hậu phương quan tâm và phấn khởi đối với những chiến thắng đầu tiên của chiến dịch như thế nào.


Các văn nghệ sĩ, cán bộ Xưởng phim Quân đội cũng được khẩn trương cử vào công tác. Tất nhiên đó là "khách" mà tôi phải tiếp và tiến hành những việc cần thiết với anh em, trong đó việc chính là truyền đạt tinh thần nội dung bức thư của Bộ Chính trị. Đoàn văn nghệ sĩ có khoảng sáu đến bảy người do nhạc sĩ Huy Du và nhà văn Nguyễn Khải dẫn đầu. Xưởng phim Quân đội chỉ có một mình đồng chí Nguyễn Thông (sau này là Nghệ sĩ Nhân dân) mang cả máy quay phim đi theo. Tất cả làm việc với tôi xong, nghỉ lại một đêm, rồi hôm sau chia nhau về các đơn vị theo hướng dẫn và thu xếp của anh Hồng Cư. Chỉ có anh Nguyễn Thông là ở lại với tôi. Cái lán của tôi khá rộng, đủ chỗ ngủ cho các vị khách đó, một vài anh có vẻ thao thức không yên giấc, nhưng sáng hôm sau đều vui vẻ phấn khởi xuống các đơn vị công tác.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #94 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:19:45 am »

Diễn biến chiến dịch giữa ta và địch ngày càng sôi động. Sở chỉ huy liên tiếp nhận được tin chiến thắng của các đơn vị, nhất là từ khoảng trung tuần tháng 2 đến gần cuối tháng 3 năm 1971, trong đó có những trận đánh tiêu biểu gây cho địch những thiệt hại rất nặng nề, có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng lớn đến cục diện của chiến dịch có lợi cho ta. Đặc biệt là từ đầu tháng 3, khi Sở chỉ huy chiến dịch phát hiện địch đã rơi vào tình thế khốn quẫn, có nhiều dấu hiệu sẽ rút chạy. Đó là trận đánh ngày 25 tháng 2 của Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 được pháo binh và xe tăng của ta chi viện tiến công tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn 3 cùng một tiểu đoàn pháo và lữ đoàn bộ lữ đoàn 3 quân dù địch, diệt và bắt 500 tên trong đó có tên đại tá Nguyễn Văn Thọ, lữ đoàn trưởng. Đó là trận đánh trong ngày 16 tháng 3 của Sư đoàn 2 quân ta tiến công tiêu diệt hầu hết trung đoàn 1 thuộc sư đoàn 1 bộ binh ngụy, diệt hơn 1.800 tên, bắt 80 tên, sau đó diệt tiếp hai tiểu đoàn của sư đoàn 1 bộ binh ngụy.


Để động viên kịp thời các đơn vị đánh thắng, Bộ chỉ huy Mặt trận có những bức điện biểu dương, khen ngợi. Việc thảo những bức điện này là nhiệm vụ của công tác tuyên huấn. Có lúc quá bận, tôi phải nói qua nội dung với đồng chí Nguyễn Thông, nhờ đồng chí giúp thêm thảo bức điện đó. Anh Thông là người rất nhiệt tình say mê làm phim, vừa biên kịch, vừa đạo diễn lại vừa quay phim, việc nào cũng làm giỏi, nhưng không quen với việc này. Khi anh thảo xong, tôi thấy không đạt, phải viết lại. Hóa ra việc nào làm cũng phải có nghề mới làm được!


Có lần đồng chí Lê Quang Đạo gọi tôi lên trực tiếp giao cho việc thảo bức điện động viên một đơn vị đang làm nhiệm vụ chốt chặn trên đường 9, quyết tâm ngăn chặn không để địch chạy về Đông Hà. Trong bức điện, tôi có dùng một cụm từ "bằng bất cứ giá nào không để địch chạy thoát" và nghĩ rằng nói mạnh như vậy để đơn vị thấy rõ quyết tâm của cấp trên và trách nhiệm chặn địch, tiêu diệt địch của đơn vị. Tôi ngồi tại chỗ để thảo bức điện và đưa cho đồng chí. Xem xong, đồng chí suy nghĩ một lúc rồi bảo tôi: Không nên nói "bằng bất cứ giá nào". Tôi chưa nghĩ ra được nên sửa thế nào, thì đồng chí nói tiếp: Nên viết là "tìm mọi cách không để địch chạy thoát" được không? Tôi sửa lại bức điện thay cụm từ mà anh vừa gợi ý vì thấy nó đúng mức và chính xác. Qua việc này tôi học thêm được một điều, trong công tác tư tưởng đối với nhiệm vụ chiến đấu, người làm công tác chính trị không nên cường điệu, áp đặt theo ý muốn chủ quan mà phải đúng mức, khêu gợi được sự tự giác và tính sáng tạo của cấp dưới, của quần chúng để thực hiện nhiệm vụ một cách tốt nhất, tránh được những hành động cực đoan, gây tổn thất không cần thiết, không đáng có, nhất là đối với xương máu của chiến sĩ. Cũng qua việc này, tôi thấy ở anh một phẩm chất, một sự thận trọng của người lãnh đạo, người chỉ huy đối với xương máu của cán bộ, chiến sĩ thế nào.


Vào ngày cuối trung tuần tháng 3, nhận được điện thoại của anh Hồng Cư, tôi thấy anh Nguyễn Thông tất tả vác máy quay phim chỉ kịp nói nhỏ với tôi: "Anh Văn đến". Tôi cũng vội vàng theo anh chạy vội vào Sở chỉ huy đứng ở một góc thuận lợi nhất cho việc quay phim. Chỉ vài phút sau thì Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí đi cùng theo đường mòn vào Sở chỉ huy. Đại tướng mặc quân phục giản dị, không đeo quân hàm, đứng lại cười tươi với đồng chí đứng gác. Gặp ai đi qua đồng chí cũng trao đổi vài lời mà chúng tôi nghe không rõ nhưng thấy mọi người đều rất vui vẻ. Đồng chí Nguyên Thông quay được hết những cảnh đó và chạy theo ghi lại những cảnh tiếp theo sau khi Đại tướng vào gặp các đồng chí trong Bộ Tư lệnh chiến dịch.


Trong không khí phấn khởi trước những Chiến thắng vang dội của các đơn vị, Sở chỉ huy Chiến dịch càng thêm nhộn nhịp. Có những đơn vị đã hoàn thành xong nhiệm vụ, các đồng chí chỉ huy về báo cáo trực tiếp với Bộ Tư lệnh Chiến dịch và nhận chỉ thị mới.


Có một chuyện còn in đậm trong trí nhớ của tôi. Đó là cuộc gặp gỡ giữa đồng chí Xuân, Chủ nhiệm Chính trị của Binh chủng Tăng - Thiết giáp với đồng chí Hồng Cư và tôi khi chúng tôi đang trao đổi công việc. Tôi đã gặp anh Xuân một vài lần khi về công tác tại Binh chủng Tăng - Thiết giáp. Khuôn mặt đẹp trai vốn có của anh, trong dáng vẻ cân đối và cường tráng của một chàng trai thành thị, sau những trận đánh ác liệt của đơn vị, lúc này gầy đi, mặt đượm buồn. Anh kể rằng, những đại đội tăng của ta lần này đối đầu với một lực lượng lớn xe tăng, thiết giáp của bọn ngụy quân hơn hẳn ta về số lượng. Các chiến sĩ tăng của ta chiến đấu rất anh dũng, xông thẳng vào đội hình địch đê tiêu diệt chúng, hiệu suất chiến đấu rất cao. Nhưng khi trận đánh đã kết thúc, địch đã bị tiêu diệt thì xe tăng của ta cũng bị cháy hỏng gần hết và rất ít những chiến sĩ dũng cảm của chúng ta sống sót và anh rất buồn. Nghe anh kể, tôi rất cảm thông với nỗi đau của người chỉ huy khi mất những đồng đội, chiến sĩ dũng cảm của mình, một cái giá rất đắt để đổi lấy chiến thắng. Anh Hồng Cư nét mặt cũng trầm hẳn, nhưng rất nhanh, anh nói với anh Xuân: "Dù có mất xe, cầm cờ chạy bộ thì ta cũng giành thắng lợi lớn, vẫn là người chiến thắng có phải không?". Nét mặt anh Xuân giãn ra sau câu nói đó. Tuy không nói ra nhưng nỗi buồn của anh Xuân khi nói về đồng đội của mình cũng gợi cho tôi nỗi nhớ và tiếc thương khi được tin đồng chí Nguyễn Quang Việt, nguyên Phó Chính ủy Trung đoàn 88, khi tôi là Chính ủy, anh chuyển sang làm Chính ủy Trung đoàn 36 và đã hy sinh trong chiến dịch này. Tôi cũng nhớ tới đồng chí Khổng Quốc Mão, Tham mưu phó Trung đoàn 88, cùng với các cán bộ, chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 88 đã chiến đấu và hy sinh trong trận đánh tiểu đoàn 39 biệt động quân ngụy và nhiều cán bộ, chiến sĩ tôi còn nhớ tên trong nhiều trận đánh khác của chiến dịch.


Một câu chuyện bi hài khác mà "bi" nhiều hơn "hài", tôi được biết qua đồng chí Nguyễn Văn Hường, Cục phó Cục Địch vận, Tổng cục Chính trị đang là Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận. Anh đưa cho tôi xem một trong những lá thư của vợ một lính ngụy gửi cho chồng mà chiến sĩ ta thu được trong một trận đánh thắng. Chị ta viết đại ý: "Anh ơi, ra đánh trận nếu anh thấy cái nồi, cái xoong nhôm nào của Việt cộng, anh lấy về cho em; xoong, nồi nhôm của Việt cộng tốt lắm!". Nghe rất khôi hài, nhưng đọc xong tôi không thể cười được. Không hiểu sao người vợ lính ngụy ấy thấy cuộc đời lính đánh thuê cho bọn Mỹ xâm lược của chồng mình lại quá đơn giản như một trò đùa vậy. Nếu như không có cuộc chiến tranh tội ác của Mỹ, chị ta có thể là một người vợ, một người phụ nữ tốt biết lo việc nội trợ của gia đình, còn anh lính tội nghiệp kia sẽ là một người chồng hạnh phúc, bây giờ có thể đã phơi xác thay cho bọn lính Mỹ ở đường 9 - Nam Lào.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #95 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:20:36 am »

Theo những tài liệu tổng kết, trong chiến dịch lịch sử này, ta đã tiêu diệt hai lữ đoàn, một trung đoàn bộ binh, tám tiểu đoàn pháo binh, bốn thiết đoàn xe tăng, thiết giáp, đánh thiệt hại nặng một số lữ đoàn, trung đoàn khác, loại khỏi chiến đấu hơn 21.000 địch (bắt 1.142), bắn rơi và phá hủy 556 máy bay, 528 xe tăng, xe bọc thép, 112 khẩu pháo, cối, thu hai máy bay trực thăng, 24 xe quân sự, 78 khẩu pháo, cối, hơn 2.000 súng bộ binh...1 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Viện Lịch sử quân sự, Chiến dịch phản công Đường số 9 - Nam Lào năm 1971, Viện Khoa học quân sự xuất bản 1987, tr. 61 -62). Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào là một trong những chiến thắng lớn nhất của ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng các chiến dịch khác trong Xuân - Hè 1971 góp phần quyết định làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng, chuyển biến cục diện chiến trường có lợi cho ta.


Theo tôi bây giờ nhìn lại, phải đánh giá cao hơn ý nghĩa của thắng lợi Đường 9 - Nam Lào. Nếu như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) là một đòn đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ngồi đàm phán với ta ở Hội nghị Pari, phải bị động chuyển từ chiến lược "Chiến tranh cục bộ" sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", là tiếng cồng báo hiệu sự cáo chung âm mưu xâm lược bằng quân sự Mỹ đối với nước ta, thì thất bại thảm hại của địch tại đường 9 - Nam Lào là dấu hiệu đi xuống không thể gượng dậy được nữa và tất yếu sẽ dẫn đến sự tan rã của chúng sau này.


Trở về Hà Nội, tôi thấy trong lòng phơi phới như mở hội. Suốt cả chiến dịch, nhờ công tác hậu cần tiếp tế cho Mặt trận rất chu đáo, ăn uống rất tốt, sữa, đường, thuốc lá "Thăng Long", "Thủ Đô" tương đối đủ, nên dù vất vả nhưng sức khỏe tốt. Anh Hồng Cư yêu cầu tôi cùng anh chuẩn bị dự thảo Tổng kết công tác chính trị chiến dịch, tôi tham gia viết một phần về nội dung. Anh không có ý kiến gì và đồng ý, nhưng về cách thể hiện, anh nói vui: "Văn ông là văn giáo dục". Tôi nhớ có một lần anh Đoàn Chương lại bảo tôi: "Văn ông là văn tuyên truyên". Tôi nghĩ đúng là mình chưa đạt được tốt ở các thể văn chính luận và phải tiếp tục phấn đấu học tập, nhưng vẫn phải giữ nét riêng của mình.


Phục vụ xong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, tôi lại trở về bắt tay vào những công việc chuyên môn của Phòng mình.

Phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường của chúng tôi là một phòng nghiên cứu và đề xuất những vấn đề cơ bản trong giảo dục chính trị cho cán bộ và các trường Quân đội, có những sản phẩm phục vụ công tác giáo dục tương đối cơ bản lâu dài nhằm nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng cho cán bộ tác chiến cũng như đang học ở các nhà trường, nâng cao trình độ lý luận về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện những nhiệm vụ chính trị trọng tâm là kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, có những việc đột xuất trước mắt cấp bách cũng phải có sản phẩm, tài liệu giáo dục.


Theo chỉ thị của Tổng cục Chính trị, chúng tôi phải biên soạn một tài liệu bồi dưỡng cấp tốc tại chức cho cán bộ chính trị ở đại đội chiến đấu về công tác đảng và công tác chính trị. Sở dĩ đặt vấn đề như vậy, vì việc đào tạo cán bộ chính trị đại đội dài hạn ở Trường Sĩ quan Chính trị lúc đó không thể đáp ứng nổi số lượng cán bộ chính trị sơ cấp cho các đơn vị chiến đấu theo yêu cầu của chiến trường. Tài liệu phải ngắn gọn, thiết thực, dễ hiểu, dễ nhớ, dùng để bồi dưỡng tại chức trong một thời gian ngắn cho những anh em chưa được qua đào tạo dài hạn ở trường, nhưng có triển vọng trở thành cán bộ chính trị ở các cơ sở, để phục vụ kịp thời cho chiến đấu. Lúc sinh thời, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị cùng đồng chí Song Hào, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị rất quan tâm tới việc tổng kết công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội và trực tiếp chỉ đạo làm việc này. Cho đến nay, những tổng kết đó vẫn là tài liệu căn bản để các trường Quân đội đưa vào biên soạn các giáo trình về công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Cũng dựa vào đó, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Cục phó Đoàn Chương, anh em trong Phòng một số lớn đã trưởng thành từ cán bộ chính trị cơ sở, phân công nhau làm. Vận dụng những vấn đề lý luận đã tổng kết, kết hợp với những kinh nghiệm nóng hổi qua thực tế chiến đấu ở đại đội, chúng tôi soạn thành 12 bài công tác chính trị ở đại đội, in thành một tập khoảng 400 trang. Với tôi, trưởng thành từ chiến sĩ đã qua công tác chính trị từ trung đội, đại đội đến chính ủy trung đoàn và ở cương vị này khoảng hơn 5 năm, tôi rất thú vị với công việc này, vì thấy mình cũng tạm đủ vốn sống để viết. Tôi nhận trực tiếp viết hai bài chính: "Công tác chi bộ đại đội" và "Nhiệm vụ, yêu cầu đối với chính trị viên đại đội". Tập sách sẽ được in với số lượng lớn khoảng 20.000 cuốn và phải được nhanh chóng gửi tới các đơn vị, các nhà trường. Đó là một việc đột xuất trước mắt nhằm phục vụ yêu cầu cấp thiết đào tạo cán bộ chính trị cơ sở cho chiến đấu. Với đòi hỏi cấp bách đó, Phòng chúng tôi hầu như tập trung toàn bộ lực lượng và tâm sức vào việc đó để đảm bảo chất lượng và xuất bản càng sớm càng tốt.


Sau khi hoàn thành các bài của cuốn sách và soát lại lần cuối cùng, chúng tôi gửi đi in. Vì các nhà in của Quân đội và của các ngành ờ Hà Nội một mặt rất nhiều việc, mặt khác cũng phải lo sơ tán để bảo vệ máy móc, bảo vệ tài sản nên không nơi nào nhận in. Mãi sau mới tìm được một nơi nhận in là nhà máy in của tỉnh Ninh Bình. Tôi cử một đồng chí trợ lý của Phòng trực tiếp mang tài liệu xuống Ninh Bình và ở luôn đó để sửa "morát" xong xuôi mới trở về. Sách in xong do Ban Hành chính của Cục vận chuyển về và gửi tới các đơn vị trong toàn quân theo kế hoạch. Tôi trực tiếp đọc lại tất cả các bài thấy có rất nhiều lỗi về chấm, phẩy và một số lỗi khác do sự sơ suất, thiếu tỷ mỷ, chu đáo của người sửa "morát" và không được hài lòng. Tôi phê bình để đồng chí trợ lý ấy cũng thấy thiếu sót của mình. Với hai vạn cuốn đã nhận và gửi đi, nhà in không có trách nhiệm sửa lại, nên chúng tôi phải khắc phục bàng cách gửi thông báo cho các đầu mối sửa những lỗi quan trọng nhất. Đây cũng là một kinh nghiệm cho những người chịu trách nhiệm về in ấn tài liệu.


Đầu tháng 3 năm 1972, cấp trên có nghị quyết về kế hoạch tiến công chiến lược năm 1972. Đen cuối tháng 3, ta bắt đầu mở chiến dịch tiến công trên Mặt trận Quảng Trị. Cuộc chiến đấu của quân ta ở đây diễn ra cực kỳ ác liệt, đặc biệt là ở Thành cổ Quảng Trị. Lúc này, đế quốc Mỹ đã trở lại và đánh phá quyêt liệt nhiều nơi trên miền Bắc, đặc biệt là Hà Nội, Hải Phòng. Ở cơ quan, chúng tôi bồn chồn theo dõi tình hình chiến sự và trước những cuộc ném bom bắn phá liên tiếp của địch ở Hà Nội, chúng tôi vẫn phải làm việc ở nơi sơ tán tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vào khoảng đầu tháng 12 năm 1972, những bộ phận còn lại ở nơi làm việc tại Hà Nội cũng phải sơ tán ngay trong thành phố, không làm việc trong các tòa nhà cũ vì địch đã bắn phá bằng tên lửa ngay các tòa nhà ở nội thành, có quả đã trúng gần sát hai tòa nhà của Văn phòng Tổng cục Chính trị và Cục Tuyên huấn. Cục trưởng Nguyễn Trọng Yên cũng rời ra làm việc tại Thư viện Quân đội ở cuối phố Lý Nam Đế và cũng bị tên lửa của máy bay địch bắn sát gần đó. Nhờ có công sự kiên cố nên vẫn được an toàn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #96 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:21:33 am »

Cuối tháng 12, trước thất bại của quân ngụy trên chiến trường Quảng Trị, trong khi cuộc đàm phán giữa ta và địch vẫn đang diễn ra tại Pari, thì đế quốc Mỹ điên cuồng huy động một lượng lớn không quân của chúng trong đó có cả pháo đài bay B-52, lực lượng không quân chiến lược tối tân nhất của chúng lúc đó, đánh phá dữ dội Hà Nội, Hải Phòng và một số tỉnh, thành miền Bắc hòng khuất phục nhân dân ta. Chúng không từ một tội ác nào, bắn phá và ném bom vào các khu dân cư như khu phố Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai và nhiều nơi khác ở Thủ đô của ta. Tình hình này diễn ra đúng như Bác Hồ đã tiên đoán trong bài phát biểu tại Hội nghị Chính trị đặc biệt năm 1965 được tổ chức tại Hội trường Ba Đình ngay sau khi giặc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh bằng không quân đánh phá ác liệt toàn miền Bắc. Cả nhân loại tiến bộ, trong đó có cả nhân dân Mỹ, hết sức phẫn nộ lên án tội ác dã man của bọn cầm quyền Mỹ, cổ vũ mạnh mẽ Quân đội và nhân dân ta. Cả nước, đặc biệt là Hà Nội, đứng trước một thử thách nặng nề, vô cùng khốc liệt. Song nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, phán đoán đúng âm mưu của địch, chủ động chuẩn bị từ trước, Trung ương Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo trực tiếp, sát sao, lực lượng phòng không và không quân dũng cảm, mưu trí đánh địch; nhân dân Thủ đô nêu cao truyền thống cách mạng, trong 12 ngày đêm vẫn hiên ngang đứng vững cùng bộ đội đánh giặc giành thắng lợi lớn, đánh bại hoàn toàn âm mưu hành động của địch, làm nên một chiến thắng "Điện Biên Phủ trên không" oanh liệt, diệt 81 máy bay trong đó có 34 máy bay B-52, năm chiếc F-111.


Giữa khoảng 12 ngày đêm ấy, tôi được Thủ trưởng Cục gọi về tham gia Đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị do đồng chí Lê Đình Sô, Cục phó Cục Cán bộ phụ trách vào dự Tổng kết chiến đấu của Sư đoàn 308 rút từ chiến trường Quảng Trị ra huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh để củng cố. Tôi mang theo một số cuộn 12 bài công tác chính trị ở đại đội vào hướng dẫn cho một số anh em cán bộ của Phòng Chính trị Sư đoàn để bồi dưỡng kịp thời cho cán bộ chính trị đại đội.


Được trở về công tác ít hôm tại đơn vị cũ, trên đường đi tôi bồi hồi nhớ lại những khuôn mặt bạn bè thân quen trong Sư đoàn và anh em cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 88 đã cùng mình xây dựng và chiến đấu trên 5 năm trời. Trước khi đi, tôi cũng đã biết tin nhiều đồng chí đã hy sinh trong chiến dịch này, nhất là những anh em đã tham gia bảo vệ Thành cổ và Đông Hà.


Khu vực trú quân của Sư đoàn 308 ở Hương Khê những ngày này thỉnh thoảng cả ban ngày và ban đêm vẫn bị máy bay bắn phá. Có buổi tối, địch cho cả máy bay B-52 đến ném bom rải thảm. Nhưng nói chung, cả nhân dân và bộ đội ở đây đều có hầm chống máy bay ném bom bắn phá, nên địch cũng không gây được tổn thất gì nhiều cho ta. Tuy nhiên, tối hôm địch ném bom rải thảm bằng B-52 xong, tôi cũng nghe thấy tiếng khóc của vài gia đình ở gần chỗ nhà một người dân chúng tôi ờ nhờ.


Nhờ kế hoạch phòng không chu đáo, nên Hội nghị tổng kết chiến dịch của Sư đoàn vẫn diễn ra an toàn. Trong tổng kết về quân sự, tôi chú ý đến một báo cáo chiến lệ rất hay của đồng chí Đỗ Trung Dương, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 71 trung đoàn 102. Ngày 19 tháng 4 năm 1972, Tiểu đoàn được lệnh đánh địch ở điểm cao 37, đến 7 giờ sáng, do chưa chuẩn bị kịp, nên Tiểu đoàn dũng cảm triển khai giấu quân ở một địa hình chỉ có cây lúp xúp và đã giữ được bí mật từ rạng sáng cho đến tối ở một khu vực xung quanh có các cứ điểm của địch, chỉ cách vài trăm mét mà chúng không phát hiện được. Đến tối, Tiểu đoàn tổ chức tập kích mãnh liệt tiêu diệt gọn một cụm bộ binh thiết giáp, gồm một đại đội biệt động quân và sáu xe tăng của địch. Đồng chí Đỗ Trung Dương đã áp dụng cách giấu quân bí mật ban ngày trên địa hình chỉ có cây lúp xúp mà đồng chí Sư đoàn trưởng Vũ Yên đã huấn luyện cho cả Sư đoàn từ năm 1967. Trận đánh giành được thắng lợi tuyệt vời do đã sáng tạo, vận dụng được khoa mục huấn luyện trước đây, giữ được yếu tố tuyệt đối bí mật, bất ngờ. Chỉ tiếc là trong báo cáo, người đã có sáng kiến và chỉ đạo luyện tập cho bộ đội cách giấu quân là Sư đoàn trưởng Vũ Yên nhưng không được ai nhắc tới1 (Đồng chí Đỗ Trung Dương sau này trưởng thành rất nhanh là Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam).


Sau khi dự tổng kết của Sư đoàn, tôi được phân công của Đoàn thâm nhập xuống đơn vị cũ là Trung đoàn 88. Gặp đồng chí Phạm Bá Hòa, Chính ủy Trung đoàn (khi tôi còn ở Trung đoàn anh Hòa là Phó Chính ủy), tôi đề nghị cho tôi xuống Tiểu đoàn 5 - Tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn đã từng phối hợp với Trung đoàn 48 bảo vệ Thành cổ Quảng Trị. Trước khi đi, đồng chí Hòa nói với tôi: "Tiểu đoàn 5 trong nhiệm vụ cùng đơn vị bạn bảo vệ Thành cổ Quảng Trị thương vong nhiều, đề nghị anh đừng quá xúc động!". Điều này nói chung tôi đã biết khi đang ờ Hà Nội được nghe về tình hình chiến sự. Những cuộc chiến đấu ở Quảng Trị rất ác liệt, bộ đội ta thương vong nhiều, đại đội chỉ còn 10 đến 12 tay súng, có lúc tiểu đoàn chỉ còn 40 người, đặc biệt là các đơn vị bảo vệ Thành cổ. Có đại đội được bổ sung quân vào ban đêm, cán bộ chưa biết mặt, chưa thuộc hết tên, hôm sau chiến đấu nhiều anh em đã hy sinh hoặc bị thương. Có đại đội, cán bộ chỉ huy trong thời gian bắt đầu cho đến cuối chiến dịch phải 9 lần thay thế do thương vong. Khi tôi đến Tiểu đoàn 5, đồng chí Chính trị viên phó Tiểu đoàn - quyền cấp trưởng cho biết khi kết thúc nhiệm vụ bảo vệ Thành cổ, vượt sông Thạch Hãn về tới Trung đoàn, cả Tiểu đoàn chỉ còn năm anh em trong đó có đồng chí. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 5 đã chiến đấu rất dũng cảm, xứng đáng là tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn. Trở về Trung đoàn hỏi về tình hình Đại đội Quân y, đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, vì đã có thành tích xuất sắc trong việc xây dựng đơn vị, cứu chữa thương binh trong hai chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh 1968 và Đường 9 - Nam Lào 1971, về bác sĩ, Đại đội trưởng Đỗ Trọng - người bác sĩ có tinh thần trách nhiệm đối với thương bệnh binh, luôn sôi nổi, lạc quan, người đã trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật cứu một sản phụ Công giáo khi đơn vị trú quân tại Thọ Xuân (Thanh Hóa), tinh thông cả Đông - Tây y mà trước đây tôi rất tin cậy và yêu mến, thì anh em cho biết đồng chí Đỗ Trọng đã hy sinh trong khi đang làm nhiệm vụ ở chiến dịch này. Bác sĩ Đỗ Trọng cũng là người có công đầu trong việc xây dựng Đại đội Quân y trở thành đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân do Chủ tịch nước phong tặng. Tôi bùi ngùi thương tiếc một đồng đội có phẩm châất của một lương y, có kiến thức sâu rộng và năng lực thực hành cả Tây và Đông y.


Trước khi trở lại Hà Nội, tôi cũng đã kịp giới thiệu cuốn 12 bài công tác chính trị ở đại đội cho đồng chí Chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn và các anh em phụ trách công tác giáo dục trong Ban Tuyên huấn.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #97 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:22:35 am »

Hôm 26 tháng 1 năm 1973 là ngày cuối cùng tại Sư đoàn, chúng tôi chuẩn bị quay trở lại Hà Nội. Cả ngày hôm đó, máy bay Mỹ bắn phá, hết tốp này đến tốp khác xuống khu vực trú quân của Sư đoàn suốt từ sáng đến chiều. Sáng ngày 27 tháng 1 năm 1973, qua máy thu thanh bán dẫn, chúng tôi được tin Hiệp định Pari đã được ký kết.


Cả Đoàn tràn ngập niềm vui, ô tô bon bon trở về Hà Nội. Chủng tôi mở đài bán dẫn nghe không biết chán ca khúc "Đường chúng ta đi" của nhạc sĩ Huy Du liên tục được Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi. Dọc hai bên đường 1, từ Hà Tĩnh ra Hà Nội, ở các làng xóm xen lẫn với các tán lá xanh tươi của cây côi là những lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ và những khuôn mặt phấn khởi tươi rói của khách bộ hành. Cảnh vật tuyệt đẹp của các làng quê hai bên đường và tiếng nhạc, tiếng hát mượt mà trữ tình, hùng tráng của ca khúc nổi tiếng của Huy Du tạo nên trong lòng người một sự rộn ràng vui sướng và tự hào vô cùng. Quân dân ta, dặc biệt là lực lượng phòng không, không quân của bộ đội chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng phòng không của dân quân tự vệ đã đánh bại lực lượng không quân hùng mạnh, kể cả lực lượng không quân chiến lược B-52 hiện đại nhất của giặc Mỹ, lập nên một "Điện Biên Phù trên không", giành thắng lợi vang dội đúng như dự báo của Bác Hồ lúc sinh thời.


Đến Phủ Lý, tôi mời các đồng chí trong đoàn rẽ vào nhà tôi chơi vì chỉ cách Phủ Lý khoảng bảy kilômét, các anh vui vẻ đồng ý. Về đến nhà, tôi hơi bị bất ngờ, vì Phúc (vợ tôi) vừa sinh được thêm một cháu gái hôm 18 tháng 1 năm 1973 (cách đây mới được 9 hôm). Các anh vui vẻ chúc mừng và đồng chí Trưởng đoàn Lê Đình Số chủ động bào tôi ở lại nhà ăn Tết cùng gia đình, đến mùng 3 Tết có mặt tại cơ quan, anh sẽ báo cáo với Thủ trường Tổng cục Chính trị và thông báo cho Cục Tuyên huấn. Tôi rất phấn khởi cảm ơn các anh, mời các anh ở lại ăn cơm nhưng các anh viện cớ phải về gấp để chuẩn bị báo cáo với Tổng cục Chính trị về đợt công tác xuống Sư đoàn 308 vừa rồi.


Tết năm đó, Đinh Gia Đức - con trai thứ hai của tôi cũng được về ăn Têt cùng gia đình sau tôi vài hôm. Sau đợt huấn luyện tân binh năm 1969, Đức được biên chế trong một đơn vị tân binh bổ sung cho miền Nam. Sau một cuộc hành quân vượt Trường Sơn, Đức được bổ sung cho một đại đội bộ binh của Trung đoàn 141 thuộc Sư đoàn 312. Trong trận chiến đấu đầu tiên, là Tổ trường một tổ B41, Đức đã bắn trúng và tiêu diệt hai xe tăng địch, được tặng danh hiệu "Dũng sĩ diệt tăng", sau đó ít lâu được kết nạp Đảng ở tuổi 18. Đến trận thứ hai, chiến đấu gần như là giáp lá cà ở đường 22 Tây Ninh, thì bị thương nặng do mảnh lựu đạn của địch bắn vào làm hỏng một mắt và một mảnh găm vào gáy. Đức được chuyển ra Bẳc điều trị và đang ôn thi vào đại học trong một trường văn hóa của Quân đội. Do điều kiện về kỹ thuật lúc đó còn hạn chế, nên con mắt hỏng về mặt thẩm mỹ làm không được tốt lắm, anh chàng có vẻ mặc cảm về điều này.


Một hôm trước Tết Nguyên đán, Đức đưa cho tôi xem một tập phong bì thư khoảng độ trên dưới 20 lá thư của một bạn gái tên là Ngọc Châu gửi cho Đức. Lần này, Đức mới được ở gần bố nhiều ngày, qua chuyện trò tâm sự với bổ, thấy có thể chia sẻ nên mới mạnh dạn đưa toàn bộ tập thư của bạn gái Đức cho bố. Lúc đưa tập thư này, Đức có nói với tôi chuyện quan hệ của hai đứa.


Bạn gái của Đức là một bạn học sinh cùng ở Trường chuyên Phổ thông trung học Lê Hồng Phong tại thành phố Nam Định. Sau khi Đức cùng tốp học sinh giỏi văn của Trường đi thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc trở về Trường, thì có một đợt tuyển quân. Đức trích máu viết đơn tình nguyện xin gia nhập Quân đội đi chiến đấu. Nhà trường nhiệt liệt biểu dương, nêu gương trong toàn Trường, cho tốt nghiệp đặc cách và đồng ý cho Đức đầu quân, lúc đó Đức mới chớm bước sang tuổi 18. Từ lúc Đức vào chiến đấu ở miền Nam, cô bạn gái đó liên tục gửi thư cho Đức, nhưng vì số hiệu hòm thư quân sự thay đổi, thư lại quay trở về với người gửi, nhưng Châu cứ kiên trì gửi tiếp. Khi Đức được chuyển ra miền Bắc để điều trị vết thương, vì mặc cảm với thương tật của mình, Đức quyết định không liên lạc với cô bạn gái đó (đang là sinh viên Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), mặc dù trong thâm tâm đó là một việc Đức không muốn làm.


Song cô bạn gái đó quyết tìm kỳ được. Qua các nguồn tin từ bạn bè của Đức, Châu cùng một cô bạn thân đến trại điều dưỡng thương binh và xin được gặp Đức. Không thể lảng tránh được nữa, Đức buộc lòng phải ra gặp. Châu rất xúc động, lẳng lặng đưa toàn bộ những lá thư Châu viết cho Đức bị trả về để Đức đọc. Đến đó thì Đức không nói thêm gì với tôi nữa, tôi cũng không hỏi thêm.


Tôi chú ý đọc từng lá thư theo thứ tự thời gian. Trong tất cả khoảng 20 lá thư đó, tuyệt nhiên tôi không thấy có những lời nói yêu đương một cách rõ ràng, vẫn là tình cảm của những người bạn học và những lời động viên thân mật giữ vững quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, nhưng lời lẽ ngày càng thắm thiết. Nhưng tôi hiểu tình cảm giữa hai đứa đã đến mức sâu nặng lắm rồi.


Trong bối cảnh chính trị lúc đó, quan hệ giữa ta và Trung Quốc đang căng thẳng, cái họ Tần của Châu tôi đoán có thể gia đình Châu là người Hoa. Tôi hỏi Đức về gia cảnh của Châu thì Đức nói ông nội của Châu là một người Hoa, là thợ kim hoàn có một cửa hiệu kim hoàn nhỏ ở phố Hàng Bạc (Hà Nội), bà nội là người Việt Nam. Như vậy, bố Châu là người Hoa lai Việt Nam, nhưng mẹ lại hoàn toàn gốc Trung Quốc, cả hai người đang là giáo viên của một trường tiểu học ở thành phố Nam Định. Tôi nghĩ tình cảm giữa Đức và Châu trong sáng, chúng có thể đã thực sự yêu nhau, song nếu tiến tới hôn nhân trong bổi cảnh chính trị lúc bấy giờ, người Hoa ùn ùn kéo về nước hoặc đi các nước khác, tình hình có thể sẽ không được thuận lợi. Nghĩ như vậy, tôi hỏi Đức:

- Đã thực sự hiểu nhau và yêu nhau chưa?

Đức trả lời:

- Khá sâu rồi ạ!.

Trong thâm tâm, tôi lo lắng tình yêu ấy nếu đi tới hôn nhân của hai đứa sẽ gặp trắc trở, qua những lá thư của Châu gửi cho Đức và việc Châu tìm cho được Đức và trao những bức thư của mình cho Đức, ít nhiều tôi cũng có cảm tình vì nghĩ rằng đó là một người con gái tốt, có một tình yêu sâu sắc, không thực dụng, vụ lợi.


Sáng mồng 1 Tết, nhà tôi đang sửa soạn làm cỗ cúng năm mới thì bất ngờ có hai cô gái trẻ, ăn mặc giản dị, quân dài đen, áo sơ mi trắng, áo len cộc tay vào nhà lễ phép chào hỏi vợ chồng tôi. Đức luống cuống nói nhỏ lý nhí với bố mẹ:

- Châu và bạn đến chơi đấy ạ!.

Tôi vui vẻ thân mật hỏi:

- Thế cháu nào là Châu?.

Một trong hai cháu chỉ vào cháu xinh đẹp hơn và cười:

- Châu đây ạ! Còn cháu là Hoa.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #98 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:23:12 am »

Hai cháu gái đó vào và làm quen rất nhanh với các con tôi. Các cháu thay nhau ẵm Mai Hạnh, con gái út của vợ chồng tôi mới được hơn 10 ngày tuổi rất bụ bẫm, lúc mới sinh dù là con thứ 8 nhưng đã cân nặng 3,8kg. Hai cháu gái thích thú truyền tay nhau bế em nhỏ rất khéo, không khí gia đình ngày đầu Xuân rất ấm áp. Qua chuyện trò, tôi biết gia đình Châu đang tản cư ở một xã của huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam), cách nhà tôi khoảng 10 kilômét để tránh bom đạn Mỹ, hôm nay vẫn đang ở đó gồm bà nội, bà ngoại của Châu, bố mẹ, một em gái và hai em trai, các em đều học giỏi. Tôi hiểu đó là một gia đình đông người nhưng có nền nếp, có văn hóa, con cái được giáo dục chu đáo.


Sau buổi gặp gỡ ấy, vợ tôi cũng tỏ ra rất ưng ý nếu có được một cô con dâu như Châu. Còn Đức thì phấn khởi vì phía gia đình thế là thuận lợi, nhưng tôi cũng thấy ở Đức với sự nhạy cảm về chính trị của một đảng viên cũng đã hình dung được một phần những khó khăn và có thể nói là rào cản mà mình sẽ gặp phải trong bối cảnh chính trị lúc đó. Sở dĩ tôi kể tỷ mỷ và hơi dài về chuyện này vì nó là một chuyện đeo bám tôi trong một thời gian dài mà với tư cách là một đảng viên, một cán bộ trong Quân đội, tôi phải ứng xử sao để khỏi có những sai lầm đáng tiếc đối với nhiệm vụ của mình cũng như đối với tình cảm gia đình. Do đó, khi trở về đơn vị, tôi tự xác định cho mình một cách ứng xử tốt nhất là phải tuyệt đối trung thực với Đảng, với Quân đội, đồng thời quan tâm theo dõi sự phát triển về quan hệ tình cảm của con trai mình và người yêu của nó, nếu thực sự trong sáng, tốt đẹp thì phải ủng hộ, bảo vệ chứ không thể phũ phàng, phủ định để cốt yên thân mình một cách hèn nhát, thiếu tình người. Vì vậy, lúc về cơ quan, với anh em trong phòng, tôi tâm sự về chuyện riêng của mình, về tình yêu của Đức trong từng chi tiết cụ thể. Và trong một cuộc họp chi bộ Đảng của phòng, tôi báo cáo với chi bộ một cách tóm tắt chuyện của Đức và nói rõ cách ứng xử của tôi và nói chung để được các đồng chí trong chi bộ cảm thông và nhất trí. Mặt khác, đối với các đồng chí ở các cơ quan mà tôi quen thân như Cục Cán bộ, Cục Bảo vệ... tôi cũng tâm sự, trao đổi và tranh thủ ý kiến của các đồng chí ấy để có thể có cách ứng xử đúng đắn nhất sao cho họp lý, hợp tình.


Sau những ngày ăn Tết được coi là khá vui vẻ với gia đình, tôi trở về cơ quan trong tâm trạng vui, buồn, lo lẫn lộn. Vui vì thắng lợi của ta ở trên chiến trường cũng như trên bàn thương lượng tại Hội nghị Pari, được gặp thằng con trai thương binh tội nghiệp, có thêm được một đứa con gái kháu khỉnh. Buồn và thương nhớ những đồng đội của mình ở đơn vị cũ là Trung đoàn 88 đã anh dũng hy sinh trong Chiến dịch Quảng Trị. Lo vì tình yêu của đứa con trai thương binh thông minh mà mình kỳ vọng sẽ là đứa con có khả năng phát triển cống hiến được nhiều cho đất nước không gặp được thuận lợi và cũng phải nói rõ là làm mình rơi vào một tình thế khó xử. Nhưng tôi tin ở sự trung thực, bản lĩnh vượt qua khó khăn, thái độ khiêm tốn đoàn kết của mình với đồng chí, đồng đội sẽ giúp mình có cách ứng xử và giải quyết vấn đề tốt nhất, trọn vẹn nhất. Tôi đã làm đúng những điều tôi đã suy nghĩ.


Về đến cơ quan, một việc cấp thiết trước mắt phải khẩn trương làm là chuẩn bị một nội dung giáo dục cho các cán bộ, chiến sĩ của ta bị địch bắt làm tù binh. Sau khi Hiệp định Pari được ký kết, có cuộc trao đổi tù binh giữa ta và Mỹ. Bên ta trao cho Mỹ mấy trăm tên phi công bị ta bắt khi máy bay của chủng bị ta hạ trên bầu trời miền Bắc. Phía địch phải trao trả ta những cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt khi chiến đấu ở miền Nam, bị chúng giam ở Côn Đảo, Phú Quốc. Tôi nghĩ ra một chủ đề rất đúng đắn với anh em là những người "chiến thắng trờ về" để cổ vũ những con người anh dũng bất khuất trong nhà tù vô cùng khắc nhiệt và tàn bạo của Mỹ, ngụy, trở về tiếp tục cống hiến cho đất nước. Nhưng dưới sự chỉ đạo của đồng chí Cục phó Đoàn Chương, nội dung các bài chúng tôi viết làm tài liệu giáo dục lại nặng về việc chống những ảnh hưởng chiến tranh tâm lý của địch. Tôi đã bị địch bắt cùng anh Lê Hoàng, một ủy viên Ban Cán sự Việt Minh (Hài Phòng) đã hy sinh và anh Phạm Thái (tức Trần Kiên - Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân sau này) là một học sinh đã đậu tú tài phần thứ nhất, cùng hoạt động bí mật ở Hải Phòng trước Cách mạng Tháng Tám 1945, theo tiêu chí bây giờ đều là những lão thành cách mạng. Cả ba chúng tôi tuy bị địch bắt mà không bị lộ mình là bộ đội cách mạng và chỉ phải ở tù gần ba tháng, chỉ bị địch hành hạ bằng lao động khổ sai nặng nhọc, kể cả lúc ốm đau đói khát cực khổ, mà không bị địch dùng cực hình tra tấn, không có tổ chức đảng lãnh đạo nhưng cũng biết giữ vững khí tiết cách mạng, có lòng tự tôn dân tộc, biết giữ vững nhân cách trước bọn giặc ngoại xâm và bọn tay sai của chúng. Huống chi, các đồng chí của ta bị địch bắt làm tù binh, bị cực hình tra tấn dã man, bị đầy đọa vô cùng cực khổ lâu dài mà giữ vững được khí tiết cách mạng, giữ vững phẩm chất của người đảng viên, người cán bộ, chiến sĩ của quân đội cách mạng, hơn nữa lại có tổ chức đảng trong nhà tù lãnh đạo, giáo dục, giám sát. Với trải nghiệm thực tế của bản thân, tôi thấy cách đặt vấn đề nặng nề, gột rửa những ảnh hưởng chiến tranh tâm lý của địch là không thỏa đáng, là xúc phạm đến lòng tự trọng của anh em, là đánh giá thấp đối tượng giáo dục. Tôi trao đổi với một số anh em trong phòng mình nhưng sự đồng tình cũng không rõ lắm, tôi cũng báo cáo với anh Đoàn Chương về suy nghĩ của mình nhưng chắc không được chấp nhận, mặc dù chẳng ai phê phán hay phản đối mạnh mẽ ý kiến của tôi. Tài liệu được hoàn thành, được thông qua và đưa đi in với số lượng khá lớn đủ để anh em "chiến thắng trở về" có tài liệu học tập. Khi sử dụng cho lớp đầu tiên, anh em phản ứng khá dữ dội, nghĩ rằng coi thường anh em. Ngay lập tức, đồng chí Dương Quốc Chính (tức đồng chí Lê Hiến Mai), Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị yêu cầu viết lại cho các lớp sau với tinh thần thật sự tôn trọng anh em đúng với tinh thần những người "chiến thắng trở về" chứ không phải là nạn nhân chiến tranh tâm lý của địch. Đồng chí Lê Hiến Mai là đồng chí thuộc thế hệ thứ nhất của cách mạng và cũng là người đã từng bị bọn thực dân Pháp và chính quyền phong kiến tay sai của chúng bắt và bỏ tù khá lâu. Như vậy, tài liệu lại phải gấp rút biên soạn lại cho đúng đối tượng. Qua việc này, tôi thấy vốn sống thực tế là vô cùng quan trọng đối với người làm nhiệm vụ giáo dục, đồng thời phải nghiên cứu thật kỹ đối tượng trước khi viết tài liệu cho họ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #99 vào lúc: 17 Tháng Mười Một, 2023, 10:24:06 am »

Khi làm xong tài liệu này, anh em chúng tôi từ chỗ sơ tán được trở về Hà Nội và làm việc ở trong Thành như cũ. Việc tiếp sau đó đã in đậm trong trí nhớ và làm tôi phải suy nghĩ là những chuyện đã diễn ra trong Hội nghị tổng kết Chiến dịch Quảng Trị do Quân ủy Trung ương triệu tập. Là Trưởng phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường, lại là một thành viên trong đoàn cán bộ của Tổng cục Chính trị đã dự Hội nghị tổng kết Chiến dịch Quảng Trị của Sư đoàn 308, nên tôi cũng được triệu tập tham dự. Thành phàn được triệu tập là các cán bộ chủ chốt sư đoàn, trung đoàn đã tham gia chiến dịch, cán bộ chủ chốt của các cơ quan Bộ như Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần. Trên bàn Chủ tịch đoàn Hội nghị có đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp, đồng chí Văn Tiến Dũng, đồng chí Song Hào, đồng chí Lê Quang Đạo... Khi Trung tướng Lê Trọng Tấn, Tư lệnh chiến dịch lên đọc Báo cáo Tổng kết nêu rõ thắng lợi to lớn của chiến dịch, đồng thời vạch rõ những hạn chế, thiếu sót và lúc nói về tình trạng thương vong nhiều, tôi thấy đồng chí rất xúc động. Bằng cách "nói bộ", không nhìn vào văn bản, đồng chí nêu rõ một trong những thương vong nhiều nhất là do tư tưởng chỉ đạo về việc vận dụng cách đánh. Trong chiến dịch, cán bộ, chỉ huy không ai dám nói đến "phòng ngự", mà chỉ nói "tiến công", "tiến công" nên rất hao quân. Tôi không rõ đồng chí chỉ trích ai, nhưng ý thì nói tới cấp "thượng đỉnh" và bằng một giọng gay gắt đồng chí nói: "Nếu ai nói rằng chỉ nói "tiến công" thôi, mà không nói tới "phòng ngự" để giành chiến thắng thì là không đúng". Tôi hiểu đây không phải là nói tới cấp cao nhất trong Quân đội. Tôi được biết đồng chí Lê Trọng Tấn là một trong những tướng đánh giỏi, giàu kinh nghiệm trận mạc, cũng là một vị tướng rất trung thực, cương trực, giàu tình cảm đối với cấp dưới, với chiến sĩ, là vị tướng được nhiều cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ngưỡng mộ, kính trọng và yêu mến, trong đó có tôi. Tôi suy nghĩ và cũng có thể hiểu được ý đồng chí Lê Trọng Tấn là không nên chỉ nói "một chiều tiến công" mà trong chiến tranh và trong một chiến dịch phải nắm vững tư tưởng tiến công là chính, nhưng trong một số trường hợp cụ thể, thời điểm cụ thể phải có phòng ngự và tác hại của tư tưởng quân sự một chiều này ảnh hưởng tiêu cực đến các cấp chỉ huy trong Quân đội...


Thắng lợi của ta ở Mội nghị Pari đánh dấu việc thực hiện thắng lợi mong ước "Đánh cho Mỹ cút" của Bác Hồ, nhưng quân dân cả nước ta còn đứng trước một nhiệm vụ rất nặng nề nữa là "Đánh cho ngụy nhào" để đạt tới mục đích thiêng liêng: Thống nhất đất nước.


Và toàn quân, toàn dân ta đang nỗ lực hết mình hướng tới mục tiêu lớn lao, cao cả ấy. Trước đây, tôi được trên quyết định bổ sung vào Đàng ủy Cục Tuyên huấn. Đầu năm 1973, sau khi Hiệp định Pari được ký kết thì Cục Tuyên huấn tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ đề ra Nghị quyết về phương hướng, nhiệm vụ của nhiệm kỳ tới, bầu Đảng ủy Cục và đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Tổng cục Chính trị. Trong Đại hội đại biểu Đảng bộ Cục, tôi trúng cử vào Đảng ủy với số phiếu tuyệt đối và được Đảng ủy mới phân công làm Phó Bí thư Đảng ủy.


Ngoài nhiệm vụ chuyên môn, bây giờ tôi phải kiêm nhiệm thêm những nhiệm vụ của công tác đảng nữa. Trong khi đó, tại Chi bộ Phòng Giáo dục chính trị cán bộ và Nhà trường, các đồng chí vẫn tín nhiệm và bầu tôi làm Bí thư Chi bộ mà không thể từ chối.


Một hôm, đồng chí Bí thư Đảng ủy Cục cho tôi biết là trên định cử tôi làm Trưởng đoàn cán bộ chính trị đi Liên Xô học, làm nghiên cứu sinh tại Học viện Quân chính Lênin ở Mátxcơva vì tôi đã tốt nghiệp ở Trường Đảng cao cấp trực thuộc Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Tôi vốn ham học và nếu được học thêm thì cũng tốt, đồng thời cũng thấy mình có điều kiện thuận lợi để chuẩn bị cho một luận án phó tiến sĩ. Tuy nhiên, tôi suy nghĩ thấy mình đã lớn tuổi, 44 tuổi rồi cũng muốn ở nhà để tham gia sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Vì vậy, tôi đề nghị với đồng chí Bí thư Đảng ủy Cục cho tôi ở nhà công tác sẽ có ích hơn và nên cử những đồng chí trẻ tuổi hơn đi học. Tôi tiến cử đồng chí Lê Hoa - một trợ lý của phòng tôi (đã từng học tại Học viện Quân chính Lênin) và được chấp nhận.


Tôi tiếp tục bắt tay vào một công việc mà từ trước đến nay chưa được đề cập tới. Anh Đoàn Chương, Cục phó trao đổi với tôi là hiện nay cán bộ trung, cao cấp của Quân đội rất nhiều người muốn đi vào nghiên cứu, học tập những tài liệu kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và nên tập trung vào việc học tài liệu nào mà gắn được với thực tế và đặc biệt phục vụ cho nhiệm vụ trước mắt. Tôi suy nghĩ đến hai tác phẩm của Lênin có thể giới thiệu cho cán bộ trung, cao cấp toàn quân nghiên cứu tại chức:

1- Tác phẩm "Bệnh ấu trĩ "tả khuynh" trong phong trào cộng sản quốc tế". Nội dung tác phẩm này có nhiều ý nghĩa về sách lược. Lúc đó nghe phong thanh, nếu thống nhất đất nước, có thể có một chính phủ liên hiệp nhiều thành phần. Tài liệu này giúp cán bộ nhận rõ mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược, giữ vững mục đích, nguyên tắc chiến lược và mềm dẻo về sách lược.

2- Tác phẩm "Cách mạng vô sàn và tên phản bội Causky" khẳng định vai trò có tính nguyên tắc của chuyên chính vô sản và sự ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhằm giúp cán bộ nâng cao được lập trường giai cấp công nhân, khẳng định nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hơn gấp nhiều lần nền dân chủ tư sản.

Khi báo cáo lên Tổng cục Chính trị, đồng chí Lê Quang Đạo, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị phụ trách khối tư tưởng, văn hóa quyết định cho cán bộ học tác phẩm thứ hai.

Học chuyên đề toàn vẹn một tác phẩm kinh điển, có mấy khó khăn chính:

Thứ nhất, tất nhiên là tôi phải chuẩn bị nội dung là chính. Trong khi đó, thời học ở trường Đảng tại Liên Xô, chưa bao giờ chúng tôi được học trọn vẹn một tác phẩm kinh điển dài như hai tác phẩm trên, mà chỉ đọc từng đoạn có tính chất tham khảo phục vụ cho bài giảng chính theo hướng dẫn của giảng viên. Muốn hướng dẫn tốt cho cán bộ nghiên cứu, bản thân tôi phải đọc toàn văn tác phẩm đó rất kỹ, hiểu được bối cảnh và ý nghĩa, mục đính ra đời của nó.

Thứ hai, để giúp cho mỗi cán bộ có một cuốn để đọc nghiên cứu nghiền ngẫm kỹ đòi hỏi một số lượng sách vài vạn cuốn, không thể in kịp. Không thể để tình trạng hàng chục cán bộ mới có một cuốn thì chất lượng nghiên cứu học tập sẽ rất hạn chế. Tôi báo cáo tình hình này với Cục, rất may là các đồng chí đã tìm ra giải pháp: Đó là nhờ Đại sứ quán Liên Xô giúp đỡ và đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình. Chưa đầy hai tháng, chúng tôi đã nhận được khoảng hai vạn cuốn "Cách mạng vô sản và tên phản bội Cauxky" bằng tiếng Việt Nam in tại Mátxcơva gửi đến. Chúng tôi nhanh chóng gửi tới các đơn vị và nhà trường.


Trong khi tôi tập trung toàn bộ trí lực, thời gian để nghiên cứu tác phẩm và chuẩn bị bài giới thiệu, để khai thác sự giúp đỡ của Học viện Chính trị quân sự, tôi đề nghị các đồng trí ở đó soạn kế hoạch hướng dẫn cho các đơn vị nghiên cứu.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM