Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 10:19:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 3951 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #70 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:29:08 am »

Năm học thứ II (1962 - 1963)
Học tốt nhưng có thêm chuyện rắc rối

Kết thúc năm học thứ nhất, được nghỉ hè dài ngày (khoảng 1,5 tháng), đại bộ phận anh chị em lớp chúng tôi về Việt Nam để thăm gia đình, trừ Hà Đăng, quê ở Phú Yên chưa lập gia đình nên ở lại nghỉ tại Liên Xô. Chi phí đi về phải tự túc, nhưng vì được trợ cấp khá nên với số tiền dành dụm được cả năm học cùng với số tiền Nhà trường cho thêm, mọi người vẫn đủ tiền chi phí và còn có thể mua quà cáp mang theo, thậm chí nếu tiết kiệm tốt, còn mua được vé máy bay khứ hồi. Nhưng tuyệt đại bộ phận chúng tôi đều đi xe lửa vì thời gian trên đường cũng coi như được nghỉ ngơi rồi. Xe lửa qua Mục Nam Quan đã thấy cảnh vật khác hẳn. Cây cỏ, hoa lá xanh tươi, rực rỡ rất đẹp mắt, khác hẳn với cảnh vật đơn điệu ít màu sắc như ở Trung Quốc. Nói chung, mọi người đều có nhận xét đó và tự nhiên trong tôi trào lên một tình cảm dạt dào, yêu quê hương, đất nước mình. Một cảm giác mà tôi không có lời nào diễn tả nổi. Như thường lệ, chúng tôi cùng những anh em khác đi học ở nước ngoài về phải có một vài buổi được thông báo về tình hình trong nước. Tôi nghĩ rằng, đây là một việc làm cần thiết và có ích để anh chị em có thể nắm được sự phát triển của thực tế đất nước.


Gần một tháng ở nhà, tôi được ở gần mẹ, vợ con, họ hàng, bạn bè, được ăn những món ăn quen thuộc chỉ quê mình mới có. Đó là những ngày vui nhưng đồng thời cũng thấy rõ thêm đất nước, quê hương mình còn nghèo quá, vất vả quá.


Hết hè, tôi trở lại Liên Xô học tiếp, trong tâm tư không có vấn đề gì lớn, chỉ thương mẹ vì chưa được chăm sóc mẹ tốt và thương vợ con vất vả. Thỉnh thoảng, cụ bị xuyễn mà không thể tìm được thuốc theo yêu cầu vì đó là loại thuốc rất hiếm, không thể mua được.


Ở Hà Nội, trước lúc ra ga tàu liên vận quổc tế đi Đồng Đăng, do mải nói chuyện với hai bà chị mà tôi quên mất giờ tàu chạy. Đến lúc ra ga thì tàu đã chạy khỏi ga. Rất may, tôi gặp anh Trần Tâm, Lớp trưởng đang nháo nhác tìm tôi. Anh Tâm đi máy bay nên ra tiễn anh chị em đi tàu. Thấy tôi bị nhỡ tàu, anh bèn chạy về Ban Tổ chức Trung ương xin được một chiếc xe Markovic cho tôi đuổi theo xe lửa. Đường bộ từ Hà Nội đi Lạng Sơn có nhiều đoạn đang sửa nên phải đến Đồng Đăng, tôi mới đuổi theo kịp, lúc đó anh chị em đang làm thủ tục xuất cảnh. Tôi chì kịp nói câu cảm ơn đồng chí lái xe rồi vội vào làm thủ tục ngay. Các anh, các chị đều mừng rỡ. Thật hú vía! Chỉ nhỡ quên một chút mà làm phiền bao nhiêu người.


Chúng tôi đến Trường để tiếp tục vào học năm thứ hai thi gặp các anh ở lớp trước đã tốt nghiệp, vừa đi nghỉ mát theo chế độ của Nhà trường, đang chuẩn bị về nước. Trong đó có hai anh trong Quân đội và một số anh ở lại tiếp tục làm luận án phó tiến sĩ. Lúc này, tình hình quan hệ Xô - Trung bắt đầu phức tạp. Các anh trao đổi và phổ biến cho một số kinh nghiệm học tập có ích, đồng thời cũng cho biết thêm ít nhiều về tình hình quan hệ Xô - Trung vì việc này có tác động ít nhiều đến nội bộ ta, kể cả đối với học viên ta đang học ở Trường Đảng của Liên Xô. Trong thời gian này, Đảng ta tiếp tục đưa một đoàn mới sang Liên Xô học, trong đó có anh Trần Nguyên Độ là Trung tá, chính ủy một lữ đoàn pháo binh. Tuy ở trong nước chúng tôi chưa biết nhau, nhưng khi sang đây, anh Độ cũng hay đến chỗ tôi chơi và chuyện trò với nhau. Qua tiếp xúc với các anh em ở hai đoàn, đoàn đã tốt nghiệp sắp về nước và đoàn mới sang, tôi có cảm giác rằng, đoàn chúng tôi đông hơn, các thành viên công tác ở các lĩnh vực khác nhau, đủ cả Bắc, Trung, Nam nhưng rất đoàn kết, nhất trí cao về quan điểm chính trị và thương yêu nhau. Tôi nghĩ điều này là vô cùng cần thiết trong trường hợp học tập ở ngoài nước khi tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp. Điều tôi nghĩ đúng với sự trưởng thành của từng người sau này đối với sự nghiệp cách mạng. Và tôi vui mừng, tự hào về điều đó.


Chúng tôi học tiếng Nga đến giữa năm học thì kết thúc. Từ đó, những buổi lên lớp cho toàn thể học viên của các nước xã hội chủ nghĩa (trừ Trung Quốc, Ba Lan, Anbani không có học viên ở Trường Đảng của Liên Xô), chúng tôi phải nghe trực tiếp bằng tiếng Nga. Đến bây giờ chúng tôi mới cảm thấy sự thiếu hụt vốn tiếng Nga rất rõ, đặc biệt khi nghe giảng viên lên lớp hay dùng những câu dài, phức hợp. Chúng tôi phải khắc phục bằng cách đọc thêm các sách đã dịch của ta và trao đổi giúp đỡ nhau những nội dung chưa hiểu.


Theo chương trình của Nhà trường, bước vào mùa hè, học viên nước ngoài được tổ chức đi tham quan khoảng nửa tháng ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô. Anh Trần Tâm, Lớp trường cho chúng tôi biết đã đề nghị với Nhà trường cho đi xuyên Grudia (quê hương Xtalin), nhưng Nhà trường đã bố trí cho lớp chúng tôi đi Ácmênia rồi. Chúng tôi được một giáo viên hướng dẫn, lại là ông thầy đầu hói có nhiều "duyên nợ" phụ trách, đi bằng máy bay từ Mátxcơva đến Erevan, thủ phủ của nước Cộng hòa Xôviết Ácmênia. Từ trên máy bay nhìn xuống, Erevan là một thành phố không lớn nhưng rất đẹp ở sát ngay sau một vùng đồi núi điệp trùng. Gần đó là ngọn núi Ararát giáp biên giới Thổ Nhĩ Kỳ. Trên ngọn núi quanh năm tuyết phủ. Người đầu tiên tiếp chúng tôi là Chủ tịch Xôviết Erevan, tuổi trung niên, nước da nâu, khỏe đẹp như một pho tượng. Sau khi thầy giáo hướng dẫn giới thiệu chúng tôi và nói tóm tắt về mục đích, nội dung tham quan, ông chăm chú lắng nghe và câu đầu tiên ông nói với chúng tôi không phải là những lời chào mừng khách sáo mà là "Các đồng chí Việt Nam đến đây nghiên cứu sẽ thấy không giống như những điều mà ở Trường người ta dạy các đồng chí đâu!"... Chúng tôi hơi ngạc nhiên về câu nói quá thẳng thắn đó. Còn thầy giáo hướng dẫn thì tỏ vẻ rất khó chịu, nhưng không nói gì. Ông Chủ tịch nói với chúng tôi về những nét đẹp của thành phố, trong đó có một công viên trên cao cách trung tâm thành phố khoảng vài ba kilômét. Với vẻ rất tự hào, ông nói rằng, nguồn nước của thành phố Erevan là nguồn nước sạch nhất thế giới vì được xây dựng ờ một vùng đất đá ong và hầu như các ngôi nhà trong thành phố, kể cả nhà cao tầng đều được xây dựng bằng đá ong.


Ngay hôm ấy, sau khi đã ổn định chỗ ở tại một trung tâm an dưỡng lớn ngay tại Erevan, một trong những khu an dưỡng dùng cho toàn Liên bang, chúng tôi đi tham quan công viên lớn nhất trên dãy đồi cao cạnh thành phố rộng khoảng 50 hécta, đứng đó có thể nhìn thấy toàn thành phố. Ở điểm cao nhất của công viên có một tháp cao, trên đó trước kia có tượng của Xtalin, các chiến sĩ Xôviết và Ácmênia đã hy sinh trong cuộc chiến tranh vệ quốc 1941 - 1945. Nhưng nay, tượng của Xtalin đã bị đập phá, ngọn tháp trông cụt lùn, chưa hết dấu vết nham nhờ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #71 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:29:51 am »

Hôm sau, chúng tôi được một cán bộ của thành phố dẫn đi tham quan một nhà máy thủy điện có công suất đủ cung cấp điện cho cả thành phố. Theo đồng chí nói thì công trình thủy điện này được làm theo chỉ thị của Xtalin bằng ngân sách của Liên bang. Nhà máy đặt trong lòng núi, có thể chống được bom nguyên tử và khách nước ngoài không được vào, nhưng là khách Việt Nam thì được xuống hầm xem một tuốcbin. Cửa vào nhà máy ở ngay sườn núi, được xây xuềnh xoàng như cổng một ngôi nhà, gằn như bị cỏ cây che lấp, ngụy trang. Qua cổng vào trong có đường đi sâu xuống hầm như bậc thang, đồng thời có đường xuống bằng thang máy. Chúng tôi xuống bằng thang máy, đến một phòng rất rộng ở sâu trong lòng đất, có một tuốcbin đang hoạt động và một, hai nhân viên kỹ thuật làm việc ở đó. Chắc quy mô nhà máy còn lớn hơn rất nhiều. Đó là lần đầu tiên tôi được biết một phần nhỏ của một công trình thủy điện mà chắc chắn nó còn có nhiều chức năng quan trọng nữa. Chúng tôi rất thú vị và mong đất nước mình sau này cũng có nhiều công trình hiện đại như vậy.


Ngày tiếp theo, chúng tôi đến một quận để nghe báo cáo thực tế công cuộc xây dựng và thành tựu của quận do một nữ bí thư đảng bộ quận còn trẻ trình bày. Báo cáo xong, chị nói: "Ở quận chúng tôi có một người Việt Nam. Các đồng chí Việt Nam muốn gặp thì ngày mai chúng tôi sẽ cho người dẫn đến chỗ đồng chí ấy!". Ngạc nhiên và tò mò muốn biết tại sao một nước cộng hòa Xôviết ở miền Nam Liên Xô xa xôi như thế mà lại có người Việt Nam ở đây. Tất cả chúng tôi đều rất vui và đề nghị mời đồng chí đó đến. Hôm sau là ngày chủ nhật, buổi sáng chúng tôi chuẩn bị kẹo bánh để đón khách. Theo giờ hẹn, một chị phụ nữ Nga trạc trên dưới 40 tuổi, có một vẻ đẹp rất phúc hậu (ở tuổi thiếu nữ chắc chị đẹp lắm) dắt một cháu bé khoảng 12, 13 tuổi người châu Á, da bánh mật đến. Cháu bé quấn quýt bên chị, thấy chúng tôi cứ ôm cổ chị và gọi mẹ bàng tiếng Nga. Chị giới thiệu với chúng tôi cháu tên là Phạm Văn Đồng do chị đặt để tỏ lòng ngưỡng mộ Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng mà các chuyên gia Liên Xô ở Việt Nam, trong đó có chị rất kính trọng và yêu mến. Chị bảo cháu ra ngoài chơi, khi nào mẹ gợi hãy vào. Cháu vâng lời và ra ngay. Chị nói rằng, chị không muốn nói chuyện về cháu trước mặt cháu. Chị kể với chúng tôi:


Một ngày vào năm 1954, khi nghe có một chuyến tàu biển của Ba Lan giúp chở bộ đội và cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, chị là bác sĩ cùng một số chuyên gia Liên Xô đang công tác tại Việt Nam tham gia đi đón. Lúc tàu cập bến, chị thấy có một số chiến sĩ, cán bộ miền Nam bế một cháu bé độ 2 - 3 tuổi ở tàu lên, chi vào chị và nói với cháu bé: "Đây, mẹ cháu đấy". Thế là cháu đòi chị bế và cứ ôm riết lấy chị. Chị tìm cách hỏi thì được các đồng chí ấy cho biết là bố mẹ cháu đều là liệt sĩ. Cháu được bộ đội mang về nuôi. Trên tàu, cháu cứ hỏi là "Mẹ cháu đâu?", các đồng chí đều nói dối là mẹ cháu đã ở miền Bắc, ra đó cháu sẽ gặp. Khi tàu cập bến, cháu hỏi lại câu đó thì một đồng chí chỉ đại vào chị. Chị rất xúc động và đề nghị được nhận cháu làm con nuôi. Sau khi các anh đã trao đổi kỹ, đề nghị của chị được chấp nhận. Hết hạn công tác ở Việt Nam, chị trở lại Liên Xô và tiếp tục nghề bác sĩ của mình ở Nga. Nhưng vì khí hậu ờ Nga quá lạnh, cháu không quen và luôn yếu đau, chị xin chuyển công tác về Ácmênia thuộc miền Nam Liên Xô, nơi có khí hậu ấm áp có thể giúp cho sức khỏe của cháu tốt hơn. Vì thế mà chị có mặt ở Erevan.


Chị vừa nói vừa khóc, khiến một số chúng tôi cũng không cầm được nước mắt. Chị nói thêm, hiện nay cháu đã học xong lớp 4 và sức khỏe đã khá hơn trước. Chị còn nuôi thêm hai cháu nữa cũng trạc tuổi cháu Đồng. Một cháu là người Nhật, bố mẹ đều chết vị bị nhiễm phóng xạ bom nguyên tử của Mỹ. Một cháu nữa người châu Phi, cũng mồ côi cha mẹ. Mọi người trong chúng tôi đều rất xúc động vì thương các cháu nhỏ, nhất là Đồng, và cả vì tấm lòng nhân hậu, cao cả của một phụ nữ Xôviết. Chúng tôi mời chị và cháu ở lại ăn cơm nhưng chị xin khước từ vì phải về để còn lo cơm nước cho hai cháu ở nhà. Chị chào từ biệt chúng tôi và Đồng cũng lí nhí chào bằng tiếng Nga. Cháu không nói được tiếng Việt. Tôi rưng rưng nhìn theo hai mẹ con chị, chưa hết xúc động.


Những ngày ở Erevan, chúng tôi còn được Trung ương Đảng Ácmênia mời đến chiêu đãi thân mật. Tiếp chúng tôi là một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị. Các đồng chí tỏ ra rất trọng thị đối với khách Việt Nam.


Lúc rỗi, chúng tôi rủ nhau đi chơi. Môi trường ở Erevan thật là lý tưởng, đường phố sạch sẽ, rộng rãi. Ban đêm toàn đèn cao áp, dây ngầm. Vòi nước dọc các đường phố phun nước ngày đêm. Dân đi đường có thể uống trực tiếp ở các vòi nước dọc đường. Ban ngày trời nắng đến 40°C nhưng vẫn cảm thấy dễ chịu, không oi bức. Mật độ người và xe cộ đi trên đường rất thấp, có lúc vắng vẻ. Gặp những người dân dọc dường, biết chúng tôi là người Việt Nam, ai cũng niềm nở, thân thiện.


Sau những ngày đầy ấn tượng ở Erevan, tiếp tục chương trình tham quan, chúng tôi đi xuống nông thôn, về một huyện do một đồng chí Anh hùng Lao động, Ủy viên Trung ương Đảng Ácmênia là Bí thư Huyện ủy. Đồng chí gặp gỡ chúng tôi, không nói gì nhiều và cử một đồng chí trong Huyện ủy hướng dẫn đoàn đến thăm một số cơ sở nông nghiệp. Phải nói thật là đi qua những cánh đồng trồng nho của nông trang tập thể, chúng tôi thấy nho không được chăm sóc tốt nên cứ xơ xác hơn là vườn riêng của nông trang viên. Tuy vậy, ở thời điểm những năm đầu thập niên 60 thế kỷ XX, ở Ácmênia, cứ ba người dân có một xe máy thì đời sống người nông dân tương đối no đủ, khỏe mạnh là cũng khá rồi.


Một hôm chúng tôi được dẫn đi tham quan di tích cổ là một khu rất rộng nhưng công trình cũ thưa thớt, đền thờ có vẻ nghèo nàn, nhưng họ giữ gìn rất cẩn thận, ô tô của chúng tôi chỉ được ở ngoài, còn người phải đi bộ gần hai kilômét mới đến được chỗ tham quan. Gặp một toán thanh niên nam nữ đi "picnic" đang ngồi ăn uống, tôi và đồng chí Trình bị họ kéo vào mời uống rượu. Tôi được họ rót cho một cốc cônhắc nổi tiếng của Ácmênia với nồng độ cao. Khi chạm cốc, có tiếng một cô gái nói: "Anh ơi rượu rất nặng đấy!". Nhưng không kịp nữa rồi, tôi làm một hơi cạn cốc. Lúc đó, bụng đang đói, rượu nặng uống vào tôi lập tức bị say xin, không đứng vững được. Đồng chí Trình thì từ chối và lỉnh đi. Anh em tập trung ra xe về, không thấy tôi. Đồng chí lái xe quay lại thấy tôi say xỉn phải dìu gần hai kilômét mới đến được chỗ đậu xe. Trong đời, có lẽ đó là lần say rượu duy nhất mà khi tỉnh lại tôi thấy xấu hổ. Cũng từ đây, tôi cạch đến già không bao giờ dám uống rượu say nữa.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #72 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:30:59 am »

Buổi cuối cùng ở Ácmênia, chúng tôi đến một nông trường quốc doanh. Buổi trưa, chúng tôi được chiêu đãi một bữa thịt cừu, mà món chả nướng bằng than gỗ cực kỳ ngon chưa từng có. Buổi chiều, chúng tôi đến thăm một tổ lao động ờ vườn mơ của nông trường, cùng dự bữa cơm gà luộc với anh chị em trong tổ lao động rất vui vẻ. Lúc ra về, chúng tôi đã thấy trên xe mấy thùng mơ chín được đóng gói cẩn thận. Anh chị em trong tổ lao động gửi làm quà.


Chuyến tham quan ở nước Cộng hòa Ácmênia tuy ngắn ngày nhưng để lại trong tôi những ấn tượng sâu sắc về tình cảm của người dân Xôviết đối với đất nước chúng ta, về sự đôn hậu, thân thiện của họ. Đặc biệt, câu chuyện về chị bác sĩ đã từng làm chuyên gia ở Việt Nam với cháu Đồng, tôi vẫn nhớ rất rõ đến từng chi tiết cho đến bây giờ.


Về Trường, chúng tôi đem mấy thùng mơ chia tặng các nhà có anh em chúng tôi ở để tặng các chị thường trực, các chị dọn dẹp vệ sinh các phòng, nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh... Món quà tuy nhỏ nhưng các chị rất cảm động trước tình cảm, sự quan tâm của các học viên Việt Nam đối với các chị.


Hết năm học thứ hai, cũng như năm trước, chúng tôi lại chuẩn bị về thăm gia đình và nghỉ hè ở Việt Nam.

Lần này, đi đến Bắc Kinh, chúng tôi phải chờ mất vài ngày mới có tàu liên vận về Hà Nội. Để tiết kiệm chi phí, cũng như lần trước, chúng tôi đến trọ ở Bắc Hải lữ quán, một kiểu nhà hàng bậc dưới khách sạn. Do có thời gian lưu lại Bắc Kinh nên anh em chúng tôi rủ nhau thành từng toán đi tham quan một số nơi trước đây chưa có dịp đi. Đến Bách hóa Đại Lầu, một cửa hàng quốc doanh lớn nhất ở Bắc Kinh, chúng tôi thấy có rất nhiều hàng hóa, nhưng nhiều mặt hàng lại bán theo chế độ cung cấp của thời bao cấp nên có muốn mua cũng không mua được.


Có buổi, anh Đào Nguyên Cát rủ tôi đi chơi Di Hòa Viên, một danh thắng của Bắc Kinh mà Từ Hy Thái hậu triều nhà Mãn Thanh đầu tư khá nhiều tiền của vào đây. Anh Cát biết tiếng Trung Quốc nên tôi cũng muốn đi với anh. Đúng là một công trình văn hóa đồ sộ rộng lớn và phong phú. Vào mùa hè mà chúng tôi thấy dân đi tham quan, du lịch rất ít, có lẽ vì đời sống khó khăn. Gặp một cặp thanh niên Trung Quốc, một trai một gái có vẻ trí thức, cô gái mặc tương đối lịch sự ở thời đó, đeo kính trắng. Anh con trai đến làm quen với chúng tôi, tự giới thiệu là một kỹ sư và giới thiệu em gái ruột của anh cũng vừa tốt nghiệp đại học nhưng chưa có việc làm, chuyện trò một lúc anh than phiền về quan hệ Xô - Trung, về cách ứng xử của Liên Xô trong việc thanh toán nợ nần đối với Trung Quốc... Trước khi chia tay, anh nói là anh rất thích bài hát "Làng tôi" của nhạc sĩ Văn Cao và hát bằng tiếng Việt Nam và tiếng Trung Quốc cho chúng tôi nghe. Tôi thích thú và ngạc nhiên về mức lan tỏa của một ca khúc của nhạc sĩ Văn Cao mà tôi cũng rất thích và cũng đã được nghe đồng chí Mông Cổ hát cho nghe ở Mátxcơva năm trước. Hát xong anh ta mời chúng tôi đến nhà anh ăn cơm tối. Anh Cát nhận lời nhưng lại không dịch cho tôi nghe. Gần tối, bỏ cơm ở nhà hàng, anh rủ tôi đến nhà anh bạn Trung Quốc. Tôi không muốn đi nhưng anh nói đã trót hẹn rồi và cũng muốn xem một gia đình người Trung Quốc sống ra sao. Nể anh, tôi đành phải đi theo. Anh bạn Trung Quốc đón chúng tôi ở cửa một chung cư và dẫn chúng tôi lên tầng hai vào một căn phòng hai ngăn rộng khoảng trên dưới 25 mét vuông. Chưa kịp yên vị quanh một chiếc bàn nhỏ đơn giản thì có tiếng gõ cửa, một cái đầu của một phụ nữ trung niên ló vào. Anh vội ra nói gì đó, sau đó vào nói với chúng tôi đó là bà tổ trưởng của tầng nhà. Hai vợ chồng anh và cô em gái anh sống ở căn buồng đó. Chị vợ anh là một giáo viên tiểu học, vẻ mặt không vui, không niềm nở chuyện trò và miễn cưỡng chuẩn bị cơm mời khách. Mâm cơm được đặt ở trên bàn, chỉ có một đĩa đậu phụ kho mặn với dọc hành và một liễn cơm. Chủ nhân ngượng ngùng mời chúng tôi vào ăn. Anh Cát mời chị vợ và cô em gái vào cùng ăn, nhưng họ từ chối và nói là đã ăn rồi. Trong không khí ấy chúng tôi phải cố gắng lắm mới ăn hết được một bát cơm. Tiễn chúng tôi ra về, anh bạn Trung Quốc lặng lẽ từ biệt và nói: "Chắc các anh hôm nay bị đói!". Tôi và anh Cát trao đổi với nhau chắc vợ chồng anh và cô em gái đời sống khó khăn lắm.


Về đến Hà Nội, cũng như các năm trước chúng tôi phải ở lại một hai hôm để nghe thông báo tình hình trong nước, các chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta.

Quê tôi sau một năm cũng không có gì thay đổi lớn. Riêng về gia đình lại có thêm một thành viên mới, đứa con trai thứ năm của vợ chồng tôi ra đời đã được mấy tháng, mạnh khỏe, khôi ngô. Thương vợ vì quá đông con, tôi khuyên vợ nên dùng biện pháp tránh thai nhưng cô ấy không chịu. Em vẫn nhắc lại với tôi, không nhớ rõ là lần thứ bao nhiêu với vẻ kiêu hãnh về khả năng làm mẹ của mình: "Anh có phải nuôi đâu mà hạn chế, tôi sẽ đẻ cho anh mười đứa con!". Thê thì tôi hoàn toàn chịu "thua" rồi. Nghĩ về mẹ, bà chỉ có một mình tôi là con trai, các chị và em gái tôi đều đã lập gia đình. Tôi hiểu, tuy không muốn nói ra nhưng bà vẫn muốn có tôi sống ở gần. Thương mẹ, tôi chỉ biết nói với các chị và em gái tôi ở quê là về đời sống vật chất của mẹ thì tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm, nhưng đề nghị mọi người ở nhà chú ý giúp tôi chăm sóc bà về tình cảm và những khi "trái gió trở trời". Tôi đã thực hiện đúng như thế.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #73 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:53:18 am »

Năm học thứ III (1963 - 1964)

Trong niên học 1962 - 1963, có lần đồng chí Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương qua Liên Xô đã gặp gỡ anh chị em ở lớp chúng tôi để kiểm tra tình hình học tập và nghe tâm tư nguyện vọng của chúng tôi. Một số đồng chí và tôi có ý kiến về tình hình quốc tế nhất là quan hệ Xô - Trung có những chuyện phức tạp, việc nghiên cứu lý luận Mác - Lênin, học tập chính trị nên cho học ở nhà để được tập trung và có hiệu quả hơn, tránh được những ảnh hưởng tiêu cực. Đồng chí thừa nhận là có thể có ảnh hưởng tiêu cực, nhưng do yêu cầu của vấn đề đoàn kết quốc tế nên phải tiếp tục học và nếu có bản lĩnh vững vàng, nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng thì cũng không có gì phải lo ngại cả. Chúng tôi coi đó là một lời khuyên đúng đắn và tôi tự nhủ phải chú ý quán triệt và thực hiện quan điểm, đường lối độc lập, tự chủ của Đảng minh và yên tâm tiếp tục hoàn thành nốt niên học 1963 - 1964, kết thúc ba năm học với kết quả tốt nhất.


Trở lại Liên Xô lần này, chúng tôi ý thức rõ hơn về sự phức tạp của tình hình quốc tế, nhất là mối quan hệ bất hòa Xô - Trung tại thời điểm này. Tôi tự thấy đối với mình đó là biểu hiện của sự trưởng thành một bước về chính trị, giúp mình có thể tỉnh táo, bình tĩnh hơn trong những trường hợp khó xử.


Lần này, tàu liên vận từ Bắc Kinh đi Mátxcơva qua đường Mông Cổ. Các tàu xe đều có gắn quốc huy Trung Quốc trông rất trang trọng. Được qua Mông Cổ lần đầu tiên tôi cũng thấy thú vị. Tàu băng qua thảo nguyên rộng mênh mông, tôi có cảm giác tốc độ nhanh hơn mọi lần. Từ ga nọ đến ga kia cách nhau khá xa và rất vắng bóng người. Đến Ulan Bato, Thủ đô của Mông Cổ mới thấy có khách lên. Có lẽ ga ở ngoại ô nên chúng tôi chỉ thấy những nhà bạt lớn xen lẫn với các nhà cao tầng nhưng thưa thớt. Một vị khách người Mông Cổ mặc âu phục lên ngồi ghế đối diện với tôi. Đi được một lúc anh mở vali ra, tôi nhìn thấy trong vali có khoảng một nửa con cừu đã quay chín. Anh lấy dao cắt ra một miếng sườn to mời tôi. Toát ra một mùi gây của thịt cừu, tôi cảm ơn và nhã nhặn từ chối với lý do là vừa mới ăn no rồi.


Toa sau của chúng tôi là một toa chở sinh viên và cán bộ, có cả cán bộ quân đội Trung Quốc. Có một cán bộ quân đội của Trung Quốc trạc tuổi trung niên, không đeo quân hàm nhưng tôi đoán có thể là một cán bộ cấp cao, đem một số ấn phẩm sang toa chúng tôi và tặng mọi người. Mọi người trong chúng tôi đều nhận, riêng tôi lấy vài cuốn tiếng Việt và tiếng Nga với mục đích để tăng thêm vốn tiếng Nga phục vụ cho học tập chứ thực ra nội dung cũng đã được đọc, được nghe rồi.


Đến biên giới Mông Cổ - Nga, xe lửa dừng lại ở ga Naútxka bên phía Nga để làm thủ tục nhập cảnh.

Đến Mátxcơva, một cán bộ của Trường đưa xe buýt ra đón với một thái độ hơi lạnh lùng không vui vẻ như lần trước. Khai giảng năm học mới, lớp chúng tôi tiếp tục học tập với một thái độ nghiêm túc, chăm chỉ như thường lệ.


Được vài tháng thì cuối năm 1963, trên tờ báo "Sự thật" của Đảng Cộng sản Liên Xô đăng thông báo Hội nghị lần thứ 9 của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Ngay hôm đó và tiếp sau nhiều ngày, chúng tôi gặp những giáo sư từng dạy học viên Việt Nam, nhất là các thầy lớn tuổi đều tỏ ra tán thành và hoan nghênh quan điểm, lập trường của Đảng ta với những vấn đề có tính nguyên tắc về chiến lược, sách lược trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, về thiện ý và thái độ xây dựng của Đảng ta trong vấn đề đoàn kết quốc tế trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, chống chủ nghĩa xét lại và các trào lưu cơ hội khác. Không chỉ riêng các thầy mà ngay cả những nhân viên thường của Nhà trường, nhiều người cũng tỏ ra rất đồng tình với Đảng ta. Chúng tôi thật sự tự hào và vui mừng về tính đúng đắn đầy thiện chí và tính độc lập, tự chủ trong quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng.


Ngay sau đó, chi bộ các lớp Việt Nam ở Trường Đảng của Liên Xô, theo chỉ thị của Đại sứ quán Việt Nam được nghiên cứu toàn văn Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 của Đảng ta. Sau khi đã quán triệt nội dung của Nghị quyết, các học viên học tại Trường Đảng của Liên Xô theo yêu cầu của Đại sứ quán ta được chia thành các nhóm đến giúp đỡ các đảng viên du học Việt Nam ở các trường đại học và học viện của Liên Xô nghiên cứu Nghị quyết đó.


Tôi và đồng chí Lê Phước (Biên tập viên của Tạp chí "Cộng sản") được phân công giúp đỡ các đảng viên của chi bộ đang học tập tại Học viện Sân khấu của Liên Xô. Tôi và anh Lỗ Phước đến vào một buổi tối theo sự bố trí của Sứ quán và chi bộ đó, bộ phận của chi bộ lại là những nữ đồng chí, trong thảo luận phát biểu rất cởi mở. Nói chung, anh chị em nhất trí với quan điểm, đường lối của Đảng, nhưng một số cũng có tâm tư là đi học ở Liên Xô, sợ dễ mang tiếng là ảnh hưởng chủ nghĩa xét lại, nhất là trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật. Vì nghị quyết có nhiều vấn đề lại chỉ được nghiên cứu trong một buổi tôi nên gần đến 12 giờ đêm mới xong. Lúc tôi và anh Lê Phước ra về thì người thường trực nhất định giữ lại thẻ học viên Trường Đảng Liên Xô của chúng tôi không chịu trả, chúng tôi đành phải bỏ lại và về báo cáo với anh Tâm trong chi bộ. Sự việc được báo cáo lên Đại sứ quán ta và phải tới gần một tuần người ta mới trả lại cho chúng tôi hai cái thẻ đó.


Năm thứ ba là năm cuối cùng, việc học tập của chúng tôi khẩn trương và căng thẳng hơn các năm trước vì phải thi quốc gia để lấy bằng tốt nghiệp. Nghĩ rằng cần phải tiết kiệm thời gian tập trung vào việc ôn ba môn chủ yếu (triết học, kinh tế chính trị, lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô) trong kỳ thi quốc gia nhưng không hiểu sao năm ấy chúng tôi lại tốn thời gian vào những việc khác, không phải việc như nghiên cứu Nghị quyết Trung ương 9 và giúp các đồng chí ở Học viện Sân khâu học tập, mà là những việc chẳng dính dáng gì tới học tập, đặc biệt là việc gặp gỡ bạn bè trao đổi tâm sự vì sự phức tạp chung của tình hình. Tôi hết sức tranh thủ thời gian dành cho học tập, có thể nói ngay từ năm đầu cho đến năm cuối, tôi rất hiếm khi có một ngày chủ nhật để nghỉ. Nhưng năm thứ ba tự nhiên tôi lại có nhiều khách thế.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #74 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:54:27 am »

Người hay đến phòng tôi trao đổi là anh Trần Nguyên Độ, vốn là chính ủy của một lữ đoàn pháo binh ở lớp sau tôi một năm, cán bộ Quân đội duy nhất ở lớp đó. Chúng tôi không bao giờ nói với nhau về tình hình nội bộ của lớp học mình, nhưng anh thường trao đổi với tôi về những vấn đề thời sự nóng hổi và thổ lộ nhiều quan điểm, chính kiến của mình về những vấn đề đó. Qua chuyện trò với nhau, chúng tôi thường có sự nhất trí trên nhiều vấn đề. Có lẽ vì thế mà anh hay đến chỗ tôi chơi và trao đổi, chỉ phải mỗi cái khổ là mất thời gian học và khói thuốc lá mù mịt. Tôi cũng thuộc loại nghiện nặng, nhưng so với anh thì không thấm vào đâu, có lúc không chịu nổi phải mở toang cửa cho thoáng kể cả những ngày đông rất rét. Anh Hồng Sơn, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, sau là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 cũng có lần đến chỗ tôi chơi. Anh là thủ trưởng cũ của tôi và cùng ở trong cấp ủy khi tôi là Bí thư Liên chi ủy, đang học tại Học viện Phrunde. Anh là một cán bộ quân sự chỉ huy giỏi, quyết đoán, nhiều sáng kiến mà tôi học được nhiều ở tác phong chỉ huy của anh. Đến chơi, anh chỉ nói những chuyện thân mật, không dính líu gì đến chuyện chính trị. Biết anh học ở Học viện Phrunde đã lâu nhưng việc anh chủ động đến chơi cũng là chuyện hiếm thấy, nhưng tôi cho rằng tình hình phức tạp việc tìm đến nhau của những người bạn quen biết nhau để chia sẻ có lẽ là một nhu cầu không chỉ của riêng ai.


Năm 1964, tôi có hai cuộc gặp mặt thú vị:

Cuộc gặp mặt thứ nhất là gặp anh Vi Huyền Trác, người đã mổ cho tôi khi tôi bị thương trong đợt tiến quân sang Lào phá vỡ phòng tuyến sông Nậm Hu của thực dân Pháp đầu năm 1954. Anh là Chủ nhiệm Quân y Sư đoàn 308, nay được cử đi học ở Tiệp Khắc. Qua Mátxcơva, anh ghé thăm tôi vì sau lần mổ ấy, chúng tôi sống cạnh nhau khá lâu ở doanh trại của Sư đoàn và trở nên thân nhau. Được khoảng một tháng sau anh về và lại ghé thăm tôi. Tôi ngạc nhiên hỏi sao anh lại về sớm thế? Anh rất vui kể cho tôi nghe là, một vị giáo sư, bác sĩ cao niên ở Tiệp Khắc, khi sắp bước vào học giao cho anh một ca mổ. Thấy anh thao tác thành thạo và mổ rất thành công, vị giáo sư ấy nói rằng: "Anh làm quá giỏi, chúng tôi không thể hơn được và anh không cần phải học thêm nữa". Tôi tin là vị giáo sư đó đã rất thật lòng, vì các bác sĩ quân y của chúng ta đã trưởng thành rất nhanh qua thực tế chiến đấu của Quân đội ta.


Cuộc gặp mặt thú vị thứ hai là gặp anh Phạm Thái, người đồng chí cùng học với tôi ở Trường Quân chính Việt Nam khóa 1, công khai ở Hà Nội, rồi cùng Nam tiến ngày 3 tháng 10 năm 1945, cùng bị Pháp bắt với cả anh Lê Hoàng ở Ninh Chữ. Một buổi trưa chủ nhật tại nhà ăn của Trường, tôi sững người khi thấy đồng chí Hà Đăng dẫn hai bạn của mình đi ăn, trong đó có anh Phạm Thái. Tôi vội đi tới và gọi:

- Anh Phạm Thái có nhận ra tôi không?

Anh ngạc nhiên không kém và nhận ra tôi ngay:

- Có phải Đinh Mộng Tiên đấy không?

Và chúng tôi ôm chầm lấy nhau.

Hà Đăng và vị khách kia cũng sửng sốt không kém. Anh giới thiệu với tôi, đây là anh Thép Mới, Phó Tổng Biên tập Báo "Nhân dân", còn anh Phạm Thái tức là Trần Kiên, phóng viên thường trực của báo tại Liên Xô. Tôi nói với anh Thép Mới và anh Hà Đăng là 18 năm nay chúng tôi mới lại gặp nhau. Anh Thép Mới nói:

- Thật là một cuộc gặp gỡ quý báu sau 18 năm.

Tôi hỏi anh Trần Kiên về anh Lê Hoàng thì anh cho biết anh Hoàng đã hy sinh trong một trận ném bom của địch rôi. Cả hai chúng tôi đều bùi ngùi nhớ tới người đồng chí, người anh lớn tuổi.

Và những chuyện ngốn mất thời gian của chúng tôi ngày càng nhiều, khi thì vị đại sứ của ta ở Cuba về qua cũng ghé thăm các học viên Trường Đảng, nói chuyện về cuộc khủng hoảng đặt tên lửa của Liên Xô ở Cuba, về sự thất thế của Khơrútxốp, về quan hệ Cuba - Liên Xô; khi thi các đoàn ngoại giao nhân dân của ta qua Liên Xô...


Chúng tôi chuẩn bị thi quốc gia để lấy bằng tốt nghiệp Trường Đảng của Liên Xô trong khi có nhiều chuyện, trong đó có những chuyện không vui, đặc biệt là chuyện hai vị sĩ quan cao cấp của ta đào ngũ. Tuy nhiên, với lòng tự trọng, chúng tôi vẫn miệt mài ôn thi để đạt kết quả cao nhất. Đồng thời, chúng tôi cũng thống nhất với nhau, nếu phải trả lời những câu hỏi trong lúc thi trái với quan điểm, đường lối độc lập, tự chủ của Đảng mình, cách trả lời tốt nhất để vừa đạt điểm tốt, vừa khiêm tốn, đoàn kết được với bạn và vừa giữ vững quan điểm lập trường của mình phải như thế nào? Gặp phải trường hợp đó cách trả lời là: Trả lời theo bài giảng của giáo viên, sau đó đề nghị ban giám khảo được trình bày quan điểm của riêng mình khác với bài giảng như thế nào.


Một buổi, tôi tranh thủ sang thăm bạn bè đang học ở Học viện Quân chính Lênin. Đến nơi, tôi gặp anh Vũ Chính, 1 thiếu tá, một bạn cũ từng học tiếng Nga với tôi ở Lạng Sơn trước đây, nay là Bí thư Đảng ủy các chi bộ học viên Việt Nam tại Học viện, đang nói chuyện với một đại tá Liên Xô. Tôi chào hai người và được anh Vũ Chính giới thiệu, vị đại tá đó là Chủ nhiệm Khoa học viên nước ngoài của Học viện và liêp tục câu chuyện với vị đại tá đó.


Chẳng mấy chốc kỳ thi tốt nghiệp đã đến, nói chung chúng tôi đều thực hiện việc thi cử khá suôn sẻ. Những anh chị em bốc thăm phải câu hỏi nhạy cảm thường trả lời đúng như cách chúng tôi đã thống nhất với nhau. Tuy nhiên, chúng tôi thấy các giáo sư trong ban giám khảo cũng có ý tránh để chúng tôi không vấp phải những trường hợp khó xử. Riêng tôi có một kỷ niệm thú vị khi tôi thi môn triết học. Một trong ba vị giáo sư của ban giám khảo là vị giáo sư già hay chơi bóng bàn với tôi. Câu hỏi mà tôi bốc thăm được trình bày về "cặp phạm trù hiện tượng và bản chất". Khi chuẩn bị xong, tôi lên trình bày trước ban giám khảo thì được vị giáo sư, bạn chơi bóng bàn với tôi rất vui vẻ:

- Chào vận động viên bóng bàn, bạn chơi của tôi.

- Xin chào giáo sư và tôi xin được trình bày những ý chính của tôi về phạm trù hiện tượng và bản chất - Tôi trả lời.

Nghe qua những ý chính tôi trình bày, khi tôi định đi vào chi tiết thì giáo sư ngắt lời:

- Đủ rồi, tôi hỏi đồng chí có đọc tin một sân vận động ở Braxin bị sập làm chết và bị thương mấy trăm người trong một buổi đá bóng không?

Sau khi tôi trả lời có đọc tin đó, giáo sư hỏi tiếp:

- Phân tích về mặt triết học, đồng chí thấy gì qua tin đó?

Tôi trả lời gọn:

- Hiện tượng là một tai nạn nhưng về bản chất vấn đề là ở chỗ xã hội tư bản không quan tâm đến tính mạng con người chỉ chú ý bán được nhiều vé để thu tiền.

Cả ba vị giáo sư đều gật đầu tán thành. Giáo sư nhìn tôi mỉm cười:

- Đồng chí đã hoàn thành phần thi triết học!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #75 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:55:20 am »

Tôi thấy cách chấm thi thật thoải mái và yên trí mình sẽ đạt điểm tốt. Vài ngày sau, rất nhanh chóng lớp chúng tôi được triệu tập để nghe thông báo về kết quả thi tốt nghiệp quốc gia của chúng tôi. Mọi người đều vui vẻ vì 22 người của lớp chúng tôi đều tốt nghiệp, 11 người tốt nghiệp loại ưu, trong đó có tôi. Chúng tôi chỉ còn hai việc: Chờ ngày bế giảng toàn khóa rất trọng thể của Nhà trường trao cho bằng tốt nghiệp và sau đó được đi nghỉ mát khoảng nửa tháng theo chế độ của Nhà trường dành cho học viên nước ngoài rồi lên đường về nước.


Cùng lúc đó, lớp của anh chị em Việt Nam kế tiếp chúng tôi sau một năm học tập, đang chuẩn bị lên đường về nước nghỉ hè thì được tin N.C., một thành viên của lớp đó đã trốn ở lại giống như trường hợp L.V.Q. và V.D.. Với chúng tôi, đó là một cú sốc rất mạnh sau trường hợp của L.V.Q. và V.D.


Sau sự kiện trên, cùng một số sự việc nữa, Chi bộ chúng tôi họp, quyết định không dự lễ bế giảng và từ chối nhận bằng tốt nghiệp đã được công bố và bỏ không đi nghỉ mát. Quyết định này được báo cáo lên Ban Cán sự Đảng, Đại sứ quán ta ở Liên Xô và được chuẩn y. Ngay sau đó, các đồng chí trong chi ủy của chi bộ chúng tôi lên thông báo việc này cho đồng chí Giám đốc Nhà trường. Tất nhiên, ông già phúc hậu đó phiền lòng khi nhận được thông báo và chúng tôi cũng chẳng vui vẻ gì. Nghe nói lễ bế giảng và phát bằng tốt nghiệp cho học viên nước ngoài cũng kém vui và dư luận xôn xao. Không biết các đồng chí khác ở lớp tôi thì thế nào, riêng tôi được trực tiếp nghe và trả lời hai đồng chí nước ngoài. Người thứ nhất là đồng chí đảng viên già người Iran ở gần buồng tôi. Sau khi lễ phát bằng kết thúc, đồng chí gặp tôi vẻ mặt trầm buồn, nói:

- Tôi nghĩ dù sao thì các đồng chí cũng nên dự và lấy bằng.

Tôi nói với đồng chí ấy rằng:

- Chúng tôi làm như vậy cũng là bất đắc dĩ. Ngoài việc không dự và không nhận bằng, chúng tôi không thể có hành động nào khác để tỏ rõ sự bất bình của chúng tôi.

Lớp chúng tôi đề nghị Nhà trường cho về sớm. Nhà trường cũng giải quyết mọi vấn đề khá chu đáo nên việc về nước của chúng tôi được thuận lợi. Chúng tôi từ biệt các thầy giáo, anh chị em phục vụ với tư thế của những người mà lẽ phải thuộc về mình, đàng hoàng, có lý, có tình. Tôi có cảm giác nhiều người nhìn chúng tôi với ánh mắt thân thiện, lưu luyến, không có những cái nhìn thù ghét, hằn học. Tôi nhớ một hình ảnh làm anh chị em ở chung cư cảm động: Đó là khi chúng tôi chuyển hành lý ra xe buýt của Trường để ra ga xe lửa, một chị thường trực độ tuổi trung niên vừa mới đến để thay phiên, chạy theo nói với chúng tôi:

- Các đồng chí xử sự như thế là đúng. Chúng tôi nhớ các đồng chí. Chúc lên đường bình an và hẹn gặp lại!

Chúng tôi được bố trí một toa riêng ờ cuối đoàn tàu. Đến gần Xibia thì có thêm một đầu máy đẩy phía sau. Gần chiều tối, một chị phụ nữ trạc tuổi dưới 50, có lẽ là Xa trưởng hành khách. Chị cầm một chiếc đèn pha điện xách tay đi về phía cuối toa rồi vẫy tay gọi:

- Này các anh trai và các cô gái ra đây.

Chị mở cửa sau toa xe và bật đèn pha chiếu sáng. Một số anh chị em đến chỗ chị xem chị bảo gì, thì chị rọi ánh đèn pha vào đầu máy xe lửa, chúng tôi nhìn thấy một phù điêu chân dung Xtalin bằng đồng rất đẹp gắn ở đầu máy. Chị rọi ánh sáng đèn thẳng vào phù điêu Xtalin, xúc động nói: "Đấy Xtalin đấy, Xtalin đấy". Chị cầm đèn để cho chúng tôi lần lượt thay nhau đến ngắm phù điêu cho đến người cuối cùng mới thôi.


Chúng tôi nhận thấy, thì ra trong trái tim người dân Xôviết, người ta vẫn nhớ tới Xtalin mặc dù Khơrútxốp và phe cánh không từ một lúc nào để đả kích nói xấu và đập phá tượng đài, xóa bỏ mọi dấu vết vẫn không làm nổi. Thời gian còn ở Trường, chúng tôi cũng được nghe ngày càng nhiều những câu chuyện tiếu lâm về Khơrútxốp, thấy rõ ràng uy tín của ông ta giảm sút nhanh chóng.


Xe lửa qua biên giới Xô - Trung trong những ngày hè nóng bức. Từ ga Mãn Châu Lý càng về phía nam thì không khí càng oi ả, khó chịu. Có lẽ qua việc làm thủ tục nhập cảnh, cán bộ nhân viên trên xe thừa hiểu chúng tôi là học viên của Trường Đảng Liên Xô tốt nghiệp về nước. Tôi thấy bắt đầu có dấu hiệu cho thấy thái độ phục vụ khách của nhân viên trên tàu đối với chúng tôi không được niềm nở cho lắm. Trong bữa lót dạ buổi sáng, sữa được pha loãng lờ lờ nhạt thếch với một mẩu bánh mì nhỏ. Không biết do khó khăn về kinh tế hay do họ cố ý làm thế. Đến chỗ ngã ba đường đi Triều Tiên và Bắc Kinh thì thay đầu máy. Mọi lần trước, toa riêng cho chúng tôi được nối luôn vào tàu đi Bắc Kinh, không phải chuyển toa. Lần này tự nhiên toa bị cắt ra, chúng tôi phải chuyển hành lý lên một toa của đoàn tàu đi Bắc Kinh cách khoảng 300 mét. Hành lý năm cuối rất nặng, trời lại oi bức, nắng gắt mà chúng tôi phải tự mình vác đến toa mới, không có sự giúp đỡ nào của nhân viên xe lửa. Hành lý của hai chị phụ nữ yếu đuối phải nhờ cánh nam giới xúm vào giúp đỡ. Ai nấy mồ hôi ướt đẫm và rất mệt. Trong khi đó, một nhân viên trên tàu lảng vảng quanh đó thỉnh thoảng liếc nhìn và có những kiểu cười rất thiếu thiện cảm. Anh chị em chúng tôi nhận thấy rất rõ.


Lần này chúng tôi không phải chờ lâu ở Bắc Kinh bởi đã có ngay tàu liên vận đi Hà Nội. Qua Mục Nam Quan, cây cối mùa hè ở đất nước mình xanh tốt, nhiều màu sắc như một vườn hoa lớn, tâm hồn thấy nhẹ nhõm thoải mái, vui vẻ vì sắp được gặp những người thân. Tàu từ từ vào ga Hàng Cỏ, tôi đã nhìn thấy mẹ tôi, nhà tôi và chị cả tôi đón ở đó. Ngồi đối diện với chị Như, tôi chỉ vào ba người giới thiệu với chị. Chị nói:

- Bà cụ đẹp quá, chắc thời trẻ rất đẹp!

Lúc đó, mẹ tôi chỉ mặc một cái áo phin nâu và một chiếc quần lụa đen giản dị kiểu nhà quê. Tôi rất vui vì thấy mẹ tôi và mọi người mạnh khỏe.

Đây là thời điểm mà chúng tôi sắp phải chia tay sau ba năm cùng nhau học tập, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi ở xứ người. Riêng tôi cảm thấy rất tự hào về lớp học của mình, một tập thể đoàn kết, tôn trọng thương yêu nhau, trong sáng, vững vàng về tư tưởng chính trị. Qua những việc vui buồn diễn ra trong ba năm đó, tôi tự thấy mình trưởng thành rất nhiều. Ngoài những kiến thức khoa học xã hội thu được qua nội đung học và tự nghiên cứu, qua những sự kiện chính trị phức tạp được chứng kiến, tôi thấy mình trưởng thành nhiều về mặt chính trị, khăc phục được sự đơn giản, ngây thơ ấu trĩ trong phương pháp tư tưởng trước đây và tự tin hơn trong công tác trước những thử thách sắp tới đối với mình.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #76 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:56:08 am »

Tất cả chúng tôi đều ở nhà khách của Trung ương Đảng để làm mấy việc: Một là, tự kiểm điểm và góp ý cho nhau về ưu khuyết điểm chính trong thời gian ba năm học ở Liên Xô. Hai là, sẽ có một buổi gặp nghe một đồng chí lãnh đạo nói chuyện. Ba là, một số trở về công tác cũ, số còn lại đợi bố trí sắp xếp công tác mới.


Về việc kiểm điểm ưu, khuyết điểm, cả 22 anh chị em chúng tôi không ai có vấn đề gì lớn về quan điểm, tư tưởng, về phẩm chất đạo đức. Tôi thấy tự hào và chắc anh chị em khác cũng thế, chúng tôi đều học tập tốt, quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, giữ vững phẩm chất đạo dức của người cộng sản Việt Nam, sống giản dị, lành mạnh, đoàn kết với bạn bè quốc tế theo đúng quan điểm độc lập, tự chủ của Đảng. Tôi nghĩ sở dĩ được như vậy về khách quan mà nói, đại bộ phận anh chị em chúng tôi đều tham gia hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lúc còn ở tuổi thanh niên, học sinh nhưng đều có bề dày của thử thách, rèn luyện trong cách mạng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đều được chọn lọc kỹ trước khi đưa đi học. Điều quan trọng hơn là chúng tôi tuy ở nhiều ngành công tác khác nhau, ở các miền Bắc, Trung, Nam, miền xuôi, miền ngược khác nhau, trình độ học vấn cũng khác nhau nhưng là một tập thể rất đoàn kết, tôn trọng và thương yêu nhau, chân thành giúp đỡ nhau, sống có nguyên tắc nhưng không bao giờ đao to búa lớn đối với nhau, nhất là khi môi trường chính trị có những vấn đề phức tạp. Cho đến bây giờ đã ở tuổi tám, chín mươi nhưng tình cảm đối với nhau vẫn nguyên vẹn như lúc còn trẻ, gặp nhau là rất vui.


Việc thứ hai, người gặp chúng tôi nói chuyện là đồng chí Tố Hữu, khi đó phụ trách công tác tuyên giáo của Đảng. Đồng chí biểu dương khen ngợi, dặn dò chúng tôi khi nhận công tác mới. Riêng việc chúng tôi không dự lễ bế giảng của Trường và khước từ việc nhận bằng tốt nghiệp, đồng chí nói đại ý: Kể ra dự lễ bế giảng và nhận bằng tốt nghiệp thì tốt hơn vì có thầy giáo và Nhà trường người ta cũng vừa lòng, không băn khoăn gì nhưng không dự và không nhận bằng thì cũng được, không sao. Tôi nghĩ điều này tất nhiên rồi, vì chúng tôi đã được sự chuẩn y của Ban Cán sự Đảng ở Liên Xô và của Đại sứ Nguyễn Văn Kỉnh, Ủy viên Trung ương Đảng lúc đó.


Việc thứ ba là bố trí công tác cho lớp chúng tôi. Tất cả 22 anh chị em trong lớp chúng tôi không ai bị "treo giò" vì đem "chủ nghĩa xét lại" trở về. Có một số đồng chí trở về vị thế công tác cũ, ví dụ như chị Nguyễn Thị Như vẫn về làm Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam kiêm thêm Tổng Biên tập Báo "Phụ nữ". Anh Nguyễn Ngọc Đàm lại về làm Chủ tịch Ủy ban nhản dân tỉnh Quảng Ninh... Còn tôi thì sau khi kiểm điểm, tôi nhận được quyết định thăng cấp lên Thiếu tá nhưng không được trở lại Quân đội, phải chờ để bố trí công tác mới. Đồng chí Vụ trưởng Vụ Cán bộ các cơ quan Trung ương nêu ý kiến điều tôi về làm thư ký về nông nghiệp cho đồng chí Trường Chinh và trao đổi với tôi. Tôi trình bày là tôi không có chuyên môn về nông nghiệp nên không thể làm được. Sau đó, đồng chí cho tôi biết là hiện nay có nhiều nơi thiếu cán bộ đề nghị bổ sung là: Giáo viên Khoa Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, Tổ giáo viên chủ nghĩa Mác - Lênin của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trưởng ban Chính trị Nhà xuất bản Sự thật, Vụ Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu của Ban Liên lạc đối ngoại thuộc Trung ương Đảng, là những công việc Vụ đang nghiên cứu để đề nghị phân công tôi về một trong những nhiệm vụ đó. Tôi tự thấy đấy là những công việc hoàn toàn mới đối với mình. Nhưng xét về kiến thức học được ở trường và vốn hiểu biết tích lũy từ trước, tôi tự thấy mình dễ thích nghi với hai việc, một là ở Ban Liên lạc đối ngoại Đảng, hai là giáo viên ở Khoa Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế ở Trường Nguyễn Ái Quốc. Tôi phát biểu với đồng chí Vụ trưởng như vậy và đề nghị sớm giao công việc cho tôi. Đồng chí bảo tôi là cứ về nghỉ, khi nào được thông qua thì sẽ báo. Tôi về nghỉ đến một tháng ở nhà cũng chẳng thấy gọi. Tôi lại lên Nhà khách Trung ương vốn bố trí cho tôi một phòng nhỏ ở đó để đợi quyết định giao nhiệm vụ.


Khoảng tháng 10 năm 1964, được tin Khơrútxốp bị phế truất, tôi thấy phấn khởi và hy vọng là tình hình Liên Xô và quan hệ Xô - Trung sẽ tốt hơn, nhưng sự thể lại không đơn giản như tôi nghĩ.

Tôi sốt ruột vì đến hơn một tháng rồi mà chưa nhận được quyết định công tác. Tôi gọi từ Nhà khách Trung ương vào Vụ Cán bộ các cơ quan Trung ương hỏi tại sao thời gian giao công tác cho tôi lâu quá thế. Tôi rất ngạc nhiên khi ở đầu dây bên kia có một người trả lời:

- Việc bố trí công tác cho anh Tiên ấy à, anh ta có vấn đề phải nghiên cứu đấy!

Hôm sau, tôi tìm gặp đồng chí Vụ trưởng, hỏi thẳng anh rằng có vấn đề gì cần nghiên cứu về tôi. Đồng chí Vụ trưởng vốn là một cán bộ Quân đội đã chuyển sang công tác này đã lâu, thấy thái độ bất bình của tôi bèn xin lỗi và chỉ hỏi một câu:

- Này cậu! Thế Tiểu đoàn Ninh Thuận - Nam Trung Bộ là tiểu đoàn gì, ở đâu thể?

Tôi hiểu là anh muốn biết về tình hình tôi bị giặc bắt hơn hai tháng khi tôi làm Chính trị viên Trung đội, cùng với anh Phạm Thái (tức Trần Kiên đang là Phó Tổng Biên tập của Báo "Nhân dân") và anh Lê Hoàng (đã hy sinh). Tôi nói cho anh biết Ninh Thuận tức là tỉnh Ninh Thuận, và nói rõ việc này tôi đã trình bày rõ trong tự truyện và trong các lần khai lý lịch, đã có kết luận từ lâu lắm rồi. Có nhân chứng là anh Trần Kiên, nếu có gì cần hỏi thêm. Đến lúc đó, tôi mới hiểu rõ là tại sao tôi phải chờ quyết định công tác lâu đến thế.


Sau đó ít hôm, tôi nhận được quyết định của Thủ tướng Chính phủ, lúc đó là đồng chí Phạm Văn Đồng, ký quyết định điều về làm chuyên viên nghiên cứu thuộc Vụ Liên Xô và Đông Âu của Ban Liên lạc đối ngoại của Trung ương Đảng.


Từ Quân đội chuyển công tác sang một ngành của Đảng ở cấp chiến lược, tôi thấy rõ không thể là một vấn đề đơn giản đối với mình, không chỉ ở nội đung công việc mà còn ở cả môi trường làm việc và quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên... Vì vậy, tôi tự xác định phải khiêm tốn học lập các đồng chí khác. Tuy nhiên, tôi vẫn tự tin là mình nhanh chóng thích nghi bởi được phân công là chuyên viên theo dõi, nghiên cứu về Đảng Cộng sản Liên Xô, vì lịch sử Đảng tôi vừa được học ở trường, hiểu được tình hình thực tế mới nhất trong ba năm trời ở đó, lại có chút vốn liếng tiếng Nga có thể tiếp cận được nhanh chóng những thông tin mới nhất và trước đây cũng được học một thời gian tương đối dài ở Trung Quốc. Nói chung, tôi cho rằng mình đã được nhận một công việc đúng nguyện vọng và có thuận lợi để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Làm công tác nghiên cứu, ít công việc sự vụ nên tôi có nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu, đọc sách báo, ghi những tài liệu cần thiết phục vụ cho công tác và có ý định nâng cao thêm trình độ tiếng Nga và tiếng Pháp của mình, đồng thời tôi cũng được giao một số nhiệm vụ, ví dụ như một vài lần đồng chí Đại sứ Liên Xô đến trao đổi với Ban về tình hình hoặc chuẩn bị tài liệu cho các cuộc hội đàm của các đồng chí lãnh đạo. Có một việc cũng làm tôi tốn nhiều công sức là được Ban phân công đi Hòa Bình chuẩn bị chỗ sơ tán cho Ban sau này.


Từ ngày 5 tháng 8 năm 1964, sau khi gây ra "sự kiện Vịnh Bắc Bộ", Mỹ bắt đầu cho máy bay đánh phá miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân. Công việc đang dần dần đi vào quỹ đạo thì có một việc làm tôi suy nghĩ và phải đi đến một quyết định cho mình. Do Mỹ đã mở rộng chiến tranh ra miền Bắc nên Quân đội ta có nhu cầu lớn về cán bộ đáp ứng cho công việc giải phóng miền Nam. Một số cán bộ Quân đội trước đây được chuyển ra các cơ quan Nhà nước nay được yêu cầu trở lại Quân đội. Trong Ban Liên lạc đối ngoại của Đảng cũng có một số đồng chí được quyết định trở lại Quân đội. Tôi thấy mình hãy còn trẻ so với cấp quân hàm, có lẽ trước sau cũng phải quay lại Quân đội nên tôi đề nghị với Ban và Ban Tổ chức Trung ương cho tôi trở về Quân đội bây giờ và tôi cũng được Cục Cán bộ, Tổng cục Chính trị đồng tình. Một đồng chí Phó ban Tổ chức Trung ương mời tôi lên và ra điều kiện:

"Nếu đồng chí được điều về Quân đội để làm công tác tuyên huấn hay ở cơ quan thì chúng tôi không nhất trí, Quân đội cần cán bộ ở cơ quan thì Ban Tổ chức Trung ương sẽ điều cán bộ ở ngoài vào. Còn nếu Quân đội thiếu người ở đơn vị chiến đấu thì chúng tôi đồng ý để đồng chí trở lại Quân đội".

Tất nhiên là tôi không phải nghĩ ngợi gì nhiều về điều đó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #77 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:58:48 am »

Chương bảy
THAM GIA ĐÁNH GIẶC MỸ XÂM LƯỢC


Tôi rất phấn khởi khi cầm quyết định của Bộ Quốc phòng điều tôi về đơn vị cũ là Sư đoàn 308 và tin chắc rằng Sư đoàn cũng vui lòng đón nhận một cán bộ cũ của mình. Tư lệnh Sư đoàn lúc đó là đồng chí Vũ Yên, còn Chính ủy Sư đoàn là đồng chí Nguyễn Kiện. Tôi được hai anh giao nhiệm vụ xuống Trung đoàn 102 (Trung đoàn Thủ đô), tạm coi như giữ chức Phó Chính ủy Trung đoàn để làm quen với tình hình công việc của đơn vị. Trước khi đi, tôi gặp đồng chí Bình, anh em thường gọi vui là "Bình nhè" vì dáng người to đậm của anh. Và anh chính là người thay tôi đảm trách chức vụ Trưởng ban Tuyên huấn Sư đoàn khi tôi đi học. Anh rất vui vẻ, cởi mở cho biết tình hình chính trị, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ và qua anh, tôi hình dung cái chất "Quân Tiên phong" trong cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn sau gần bốn năm xa cách nay tôi trở lại ngày càng đậm đặc. Riêng ở Phòng Chính trị và các phòng khác của Sư đoàn bộ, về nhân sự có nhiều thay đổi, nhưng những người anh em quen biết cũ cũng còn nhiều. Tôi cảm thấy thật sự mình là người nhà của đơn vị và rất hứng thú với không khí ấy.


Tuy về công tác tại Trung đoàn 102, nhưng qua thông tin tôi cũng được biết là tôi sẽ về Trung đoàn 88. Thời gian này, Trung đoàn 102 đang huấn luyện quân sự và được gặp lại nhiều bạn bè cũ nên rất vui. Gần như toàn bộ thời gian, tôi đều ra thao trường theo dõi anh em luyện tập quân sự, cũng là để học cho mình vì cũng đã gần bốn năm nay "theo nghiệp bút nghiên" mà "rời xa cung kiếm" rồi.


Được gần hai tháng thì tôi có quyết định về Trung đoàn 88. Về đến nơi, tôi được anh Hoàng Kim, Chính ủy Trung đoàn cho biết là toàn Trung đoàn sau một thời gian củng cố tổ chức huấn luyện, vừa mới xuất phát vào Nam đánh Mỹ. Trung đoàn do đồng chí Đỗ Trọng làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Thanh Sơn (bạn học của tôi hồi học quân sự ở Trung Quốc) làm Chính ủy.


Sức khỏe của anh Hoàng Kim hơi kém nên cần tôi về giúp anh lãnh đạo quản lý bộ phận thu dung, có một số tụt ở lại, đồng thời cùng anh Ngô Thế Lương, Trung đoàn trưởng mới sẽ đi tuyển quân để tổ chức Trung đoàn 88 mới (Trung đoàn 88B) trong đội hình của Sư đoàn thời gian này.


Trong khi đang cùng một số cán bộ cơ quan tập trung vào việc giáo dục những anh em thu dung để bồi dưỡng và sử dụng vào việc xây dựng Trung đoàn mới, thì tôi nhận được tin mẹ vừa qua đời ở quê. Tin đến quá chậm và đột ngột làm tôi gần như suy sụp. Được phép của chỉ huy Sư đoàn, cho tôi về chịu tang mẹ, từ một khu rừng sâu của tỉnh Phú Thọ, giao thông trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc rất khó khăn, nên mãi sau ngày mất của mẹ năm hôm tôi mới về được đến nhà. Tôi rất đau buồn vì khi cha mất đã vắng mặt, nay mẹ mất cũng vắng mặt trong khi đang công tác ở ngay miền Bắc. Lúc về đến quê, tôi bị một số người trách cứ về sự vắng mặt đỏ vì tôi là con trai duy nhất, tôi phải cắn răng chịu đựng và bình tĩnh trình bày rõ lý do để mọi người thông cảm. Mẹ mất vào ngày 14 tháng 1 năm 1966 (tức 23 tháng Chạp năm Ất Tỵ 1965) mà mãi đến 6 ngày sau tôi mới có mặt ở nhà. Trong lúc đó, vợ tôi lại vừa sinh con được hai tháng. Qua một cái Tết ảm đạm nhất trong đời, ngày 24 tháng 1 năm 1966 (tức mùng 4 tháng Giêng) tôi trở về đơn vị tiếp tục công tác. Lúc đó, tôi đã có quyết định bổ nhiệm làm Chính ủy Trung đoàn 88B, cùng đồng chí Ngô Thế Lương, Trung đoàn trưởng bắt tay vào việc xây dựng một trung đoàn mới, nằm trong đội hình của Sư đoàn 308.


Trung đoàn trưởng được phân công ở lại khu vực trú quân cũ của Trung đoàn tại huyện Phù Ninh, tình Phú Thọ gần Thậm Thình, dưới chân Đền Hùng (bị máy bay Mỹ ném bom nhiều lần đã đổ nát), để tập huấn khung cán bộ chuẩn bị cho huấn luyện. Còn tôi cùng một số cán bộ ra tỉnh Quảng Ninh tuyển khoảng gần 3.000 tân binh về theo biên chế của Trung đoàn mới. Trong khí thế sôi sục của nhân dân ta chống Mỹ lúc đó, mặc dù máy bay địch ném bom bắn phá liên tục rất ác liệt, nhưng chính quyền, cơ quan quân sự tình và các huyện của Quảng Ninh đã cùng chúng tôi hoàn thành rất tốt nhiệm vụ tuyển quân, đạt cả về số lượng cũng như chất lượng trong một thời gian rất ngắn. Việc tổ chức tiễn đưa thanh niên lên đường nhập ngũ rất đơn giản nhưng không kém phần long trọng. Trong số gần 3.000 tân binh đó, có 400 thanh niên gốc Hoa đều rất khỏe mạnh vì được sinh ra ở một môi trường tự nhiên lý tưởng là các vùng biển và vùng núi. Chúng tôi tổ chức hành quân rất chu đáo, từ Quảng Ninh về Phú Thọ, dưới bom đạn của không quân Mỹ mà bảo đảm được toàn vẹn số quân đến đích là thắng lợi bước đầu. Tôi và anh Ngô Thế Lương cùng anh em ở các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần của Trung đoàn rất phấn khởi, nhanh chóng tổ chức các đơn vị theo biên chế đã quy định, rồi lập tức bước vào huấn luyện.


Đồng thời, với những công việc này, theo chỉ thị của Sư đoàn, chúng tôi phải tổ chức một tiểu đoàn, lấy quân số từ những anh em còn lại của Trung đoàn 88A có sức khỏe, tinh thần tốt để bổ sung kịp thời cho chiến trường miền Nam. Tiểu đoàn này do đồng chí Lương Văn Cảnh làm Chính trị viên và đồng chí Trần Mai làm Tiểu đoàn trưởng. Đây là hai đồng chí có kinh nghiệm và có khả năng độc lập lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Về Tiểu đoàn này, có hai chuyện in đậm trong ký ức tôi: Trước khi Tiểu đoàn lên đường, một đồng chí cán bộ quân lực dẫn một chiến sĩ gầy gò, độ tuổi 18 đến gặp tôi. Anh báo cáo: Đây là Ngô Hải Cao, con út cụ Ngô Tất Tố (một nhà văn lão thành có nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng). Em tốt nghiệp phổ thông trung học loại giỏi và được cử đi học ở Liên Xô, nhưng em xin ở lại nhập ngũ để đánh Mỹ. Vì em không đủ sức khỏe nên đồng chí giữ lại không cho đi cùng Tiểu đoàn, nhưng em không chịu, đòi xin gặp tôi kỳ được, tha thiết bày tỏ nguyện vọng được vào Nam chiến đấu. Tôi đồng ý với đồng chí cán bộ quân lực và hết lời khuyên em ở lại. Em cứ ngồi lỳ và khẩn khoản xin đi kỳ được. Tôi đành chịu "thua" và bảo đồng chí quân lực nói với Tiểu đoàn bố trí công việc phù hợp với sức khỏe của em. Em rất phấn khởi về đơn vị. Sau này, trong một buổi truyền hình có phóng sự về cụ Ngô Tất Tố, tôi được biết về em Ngô Hải Cao đã hy sinh ở miền Nam, tôi xót xa tiếc thương một thanh niên có lòng yêu nước nồng nàn, nhớ tới nét mặt lúc em ở lỳ bên tôi, khẩn khoan xin tôi cho đi chiến đấu, một nét tiêu biểu của thanh niên lúc đó, của một thế hệ vàng thời đại Hồ Chí Minh.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #78 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 07:59:43 am »

Việc thứ hai tôi nhớ là chuyện của Vũ Tuất Việt, một chính trị viên đại đội trong Tiểu đoàn. Việt vốn là một biên tập viên của Báo Nhân dân, nhập ngũ rồi học ở Trường Sĩ quan Chính trị. Ra trường với quân hàm Thiếu úy về làm Chính trị viên phó đại đội tại Trung đoàn tôi, trước khi cùng Trung đoàn vào Nam chiến đấu được phong quân hàm Trung úy và bổ nhiệm làm Chính trị viên đại đội. Một hôm có việc phải về qua Hà Nội, tôi vào tòa soạn Báo Nhân dân thăm anh Trần Kiên, Phó Tổng biên tập và anh Hà Đăng cùng học với tôi ở Liên Xô. Hai anh hỏi tôi về Việt, tôi nói là Việt đã vào Nam cùng Tiểu đoàn, có lẽ là đang hành quân. Hai anh cho biết là Trung ương Cục miền Nam đang xin bổ sung cán bộ làm báo. Tìm được người có tay nghề như Việt rất khó. Các anh có ý đề nghị để Việt về làm báo ở Trung ương Cục. Tôi thấy việc đó không khó, nên đã cho các anh biết số hiệu của Tiểu đoàn để các anh điện vào báo cáo với Trung ương Cục. Tháng 5 năm 1975, tôi vào làm thường trực tại miền Nam, được biết Vũ Tuất Việt đã trở thành Tổng biên tập của tờ "Sài Gòn giải phóng" rồi. Tôi thấy thú vị vì mình đã góp vào một việc làm tốt.


Nhận rõ vai trò quan trọng của đơn vị là cấp đại đội anh Ngô Thế Lương và tôi rất tâm đắc về vấn đề này và tập trung vào việc xây dựng đại đội vững mạnh. Bước đầu, chúng tôi quán triệt cho các cơ quan tập trung vào việc nâng cao sức mạnh toàn điện của đơn vị cơ sở, vì đây là một trong những khâu quan trọng nhất tạo nên sức mạnh chiến đấu của Trung đoàn.


Anh Ngô Thế Lương xuất thân từ gia đình lao động nghèo ở Hà Nội, đã qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trưởng thành từ chiến sĩ qua các cấp đến Trung đoàn trưởng, được đào tạo và tốt nghiệp tại Học viện quân sự Phrunde ở Liên Xô. Anh có nhiều kinh nghiệm chiến đấu và chỉ huy ở đơn vị cơ sở, lại được đào tạo cơ bản, được công tác với anh tôi rất tin tưởng, yên tâm trong vấn đề xây dựng đơn vị và chiến đấu. Là một người sống tinh tế nhưng thoải mái, tôi và anh rất tôn trọng nhau nên trong công tác xây dựng đơn vị rất đoàn kết, ăn ý.


Ý định của chúng tôi trong việc phát động xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh được đồng chí Tư lệnh Sư đoàn Vũ Yên và Chính ủy Sư đoàn Nguyễn Kiện cùng các cơ quan Sư đoàn hoan nghênh. Anh Vũ Yên và anh Nguyễn Kiện lớn tuổi hơn chúng tôi, hay đi cùng với nhau xuống đơn vị thường tranh thủ săn bắn chim. Anh Vũ Yên bắn rất giỏi, nên lần nào xuống đơn vị cũng có một xâu chim dẽ giun hay bồ cu xanh để cải thiện bữa ăn. Anh Vũ Yên thường nói: "Thằng Lương và thằng Tiên, hai thằng đều gầy nên phải bồi bổ cho chúng nó!". Rồi anh gặp cho chúng tôi những cái đùi chim ngon nhất. Một cử chỉ đầy tình thương yêu cán bộ trẻ cấp dưới làm chúng tôi vô cùng cảm động và yêu quý các anh.


Có lần, một đồng chí cán bộ cơ quan hậu cần cho tôi biết, mẹ đẻ, vợ và con nhỏ của đồng chí Ngô Thế Lương đang ở nhờ tại một gian nhà ngang của ngôi đền ở phố Đào Duy Từ (Hà Nội), vừa mới bị Mỹ ném bom gần đó bay gần hết ngói. Tôi được biết doanh trại của Trung đoàn ở Thậm Thình bị Mỹ ném bom nhiều lần đổ nát, nhưng vẫn có chỗ còn ngói lành. Tôi gọi điện cho anh Nguyễn Kiện, Chính ủy Sư đoàn báo cáo hoàn cảnh gia đình anh Lương và xin phép anh cho chúng tôi ra nhặt những ngói lành lấy 500 viên kết hợp với xe tiếp phẩm đi Hà Nội tặng gia đình anh Lương để lợp chỗ ở. Anh Nguyễn Kiện đồng ý, nhưng có một vài cán bộ ở Sư đoàn không rõ hoàn cảnh gia đình anh Lương thắc mắc. Việc đến tai anh Vũ Yên, vốn là một đồng chí rất gương mẫu và liêm khiết. Một hôm, anh Vũ Yên và anh Nguyễn Kiện đến đơn vị, lúc đó anh Lương đi vắng, anh Vũ Yên hỏi tôi về việc này (có cả anh Nguyễn Kiện ngồi đó). Anh cho rằng tôi tự ý giải quyết, hỏi tôi với thái độ nghiêm khắc:

- Ai cho phép làm việc này?

Thực ra có anh Kiện ở đó, tôi cũng hơi lúng túng, nhưng tôi thấy việc đó thực sự là đáng làm để giúp cán bộ trong những lúc gặp khó khăn. Vì vậy, tôi trả lời:

- Thưa anh, tôi thấy việc này là cần thiết để giúp gia đình anh Lương trong lúc gặp khó khăn. Nếu ta không lấy thì dân cũng vào lấy hết thôi.

Anh vặn tôi lần nữa:

- Nhưng ai cho phép cậu?

Thấy tôi hơi bị căng thẳng vì những câu chất vấn của anh Vũ Yên, anh Nguyễn Kiện nhẹ nhàng nói với anh Vũ Yên:

- Tôi, anh ạ!

Lúc đó, anh Vũ Yên mới thôi, về sau cũng không ai thắc mắc về chuyện này nữa.

Phải nói rằng, với vai trò là một sư đoàn chủ lực cơ động chiến lược trực thuộc Bộ, được thành lập đầu tiên trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Sư đoàn 308 thường được giao những nhiệm vụ khó khăn nhất và hoàn thành tốt các nhiệm vụ nên rất nổi tiếng, đến giặc Pháp cũng phải kiêng sợ; được cấp trên tin tưởng, nhân dân yêu mến. Cũng từ đó, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy Sư đoàn đến cán bộ, chiến sĩ luôn luôn nhận thức được trách nhiệm của mình đối với Đảng, với dân, với cấp trên, với truyền thống tốt đẹp của Sư đoàn. Lần này phải đánh thắng giặc Mỹ, một đối tượng tác chiến mạnh hơn nhiều so với Pháp, yêu cầu chất lượng, sức mạnh chiến đấu phải rất cao mới có thể hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, cường độ luyện tập đi đôi với việc giáo dục chính trị cũng yêu cầu rất cao, đặc biệt là về ý chí quyết tâm đánh giặc, về kỹ thuật, chiến thuật, về trình độ chỉ huy tác chiến của các cấp, kể cả các trận đánh lớn ở quy mô sư đoàn. Hằng năm, Sư đoàn có nhiều lần diễn tập ở cấp trung đoàn và sư đoàn. Có những lần, đơn vị hành quân tới 400 - 500 kilômét và diễn tập ở cấp sư đoàn trên các địa hình khác nhau; có những lần chỉ diễn tập bộ tư lệnh, không có thực binh, chủ yếu là nâng cao trình độ lãnh đạo, chỉ huy chiến đấu cho cán bộ.


Trong năm 1967, tôi được dự hai cuộc tập huấn lớn do Bộ tổ chức cho cán bộ cấp trưởng từ trung đoàn trở lên về chiến thuật và chiến dịch. Một lớp được tổ chức ở ngay thôn Phong Khê xã Khả Phong, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (quê tôi) do Quân khu 3 đăng cai. Lớp học hướng về những nội dung lớn của chiến thuật và chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước do đồng chí Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trì. Gần cuối cuộc tập huấn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuống nói chuyện. Buổi nói chuyện của Thủ tướng diễn ra trong một cái động lớn nhât của dãy núi 99 ngọn ở thôn Phong Khê. Với cách nói chuyện rất tình cảm, hào sảng, Thủ tướng đề cập, khơi dậy tinh thần yêu nước, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ cho cán bộ dự lớp. Nhiều đồng chí ở các đơn vị phát biểu hứa quyết tâm thi đua đánh giặc giành thắng lợi cao nhất. Hội nghị được tiến hành rất bí mật nên dù chỉ cách nhà có 4 kilômét, tôi cũng không thể về thăm được.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #79 vào lúc: 26 Tháng Chín, 2023, 08:00:33 am »

Lớp thứ hai được tổ chức tại Học viện Quân sự trung, cao cấp tại chân núi Tam Đảo. Nội dung tôi nhớ lúc đó là được nghiên cứu tình hình địch ở miền Nam, về mưu đồ quân sự, chính trị của chúng và những vấn đề về chiến thuật, chiến dịch nhưng cụ thể hơn lớp tập huấn trước. Lần này lớp tập huấn được đón Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam vừa ở miền Nam ra, đến nói chuyện. Tôi thấy đồng chí lần này gầy yếu hơn trước (so với lần đồng chí về làm việc với Sư đoàn 308 những năm 1960 - 1961). Tuy vậy, vẫn cách nói chuyện nhiệt tình, sôi nổi, rất hấp dẫn, đồng chí cho biết, rất phấn khởi được về gặp Bác Hồ, Trung ương và nói cho lớp học về tình hình trong nước, miền Nam và tình hình thế giới. Lần đầu tiên, tôi thấy đồng chí phê phán về một đảng nọ nói rằng lý luận, quan điểm, đường lối của mình là đỉnh cao của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng chí nói rằng, chưa có một lý luận cách mạng nào cao hơn được chủ nghĩa Mác - Lênin. Tôi không thể ngờ được chỉ sau buổi nói chuyện đó khoảng một tháng, đồng chí bị đột quỵ và mất trước hôm lên đường vào Nam tiếp tục tham gia lãnh đạo cuộc chiến đấu ở trong đó. Một vị tướng hàng đầu của Quân đội, nhất là về mặt công tác đảng, công tác chính trị, đồng chí đột ngột ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho Quân đội ta.


Cũng trong năm 1967, chúng tôi có hai cuộc diễn tập lớn. Lần diễn tập thứ nhất là diễn tập có thực binh của Trung đoàn dưới sự chỉ đạo của Sư đoàn. Trung đoàn từ Phù Ninh, Phú Thọ vượt qua sông Lô, qua dãy núi Tam Đảo xuống Quân Chu (Thái Nguyên), qua Sơn Dương (Tuyên Quang) rồi tổ chức chiến đấu ở Bắc Kạn. Đây là cuộc hành quân dài mấy trăm kilômét, phải qua sông, qua đèo, lội suối, toàn theo đường mòn rất gian khổ, phải có đại đội công binh đi trước khắc phục khó khăn về đường sá, lại phải thực hiện trong điều kiện giới hạn về thời gian.


Khi vượt qua sông Lô không được sử dụng tàu thuyên, bộ đội phải tự khắc phục, toàn bộ Trung đoàn phải bơi qua sông bằng phương tiện cá nhân tự có. Tôi và đồng chí Trung đoàn trương ở diện không cần phải bơi qua sông. Nhưng tôi muốn thử sức mình, không cho Ngô Thế Lương biết, tôi cùng đi với Cơ quan Tham mưu và cùng lội vượt sông với anh em. Nước sông Lô chảy xiết, nhưng hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ bằng những cái "phao" đơn giản được gói kín bằng ni lông, cả người và vũ khí đều vượt sông an toàn. Tôi cũng vượt sông bằng cách của anh em chiến đấu với dòng nước chảy xiết và rồi cũng qua được, nhưng đi được một đoạn thì toàn thân đổ mồ hôi. Khi biết tôi bơi qua sông cùng với bộ đội, Trung đoàn trưởng Ngô Thế Lương phê bình tôi là mạo hiểm, tôi chỉ cười xí xóa.


Vì khống chế thời gian và đường hành quân do Cơ quan Tham mưu Sư đoàn vạch trên bản đồ, có chặng Trung đoàn phải đi ngay cả ngày lẫn đêm, mang vác theo quy định khá nặng nên bộ đội rất mệt. Tôi hành quân cùng bộ đội, mang nhẹ hơn mà cũng mệt rã rời, phồng cả da chân. Tôi thấy một chiến sĩ trẻ vác trung liên vừa chạy vừa khóc vì quá mệt. Hết chặng đường, một cán bộ ở Ban Tác chiến đi mô tô đến, tôi nói với anh ta ràng kiểu hành quân thế này bộ đội sẽ kiệt sức. Anh ta tỏ vẻ khó chịu cho rằng tôi kêu ca. Lời nói của tôi đến tai Tư lệnh Sư đoàn Vũ Yên. Anh hỏi tôi về chuyện này, tôi cho rằng, khi vạch phương án tập cho Trung đoàn, cán bộ Cơ quan Tham mưu quan liêu, không hiểu gì về thực địa mà chỉ căn cứ vào bản đồ. Anh im lặng có vẻ đồng tình.


Lần diễn tập thứ hai có thực binh là diễn tập toàn Sư đoàn kéo dài nhiều ngày đêm trên trục đường 21A qua ba tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình và Thanh Hóa. Cuộc hành quân này cũng xuất phát từ Phú Thọ, qua nhiều địa hình hiểm trở và có nhiều tình huống phải xử lý, ví dụ có tình huống địch dùng chất độc hóa học nên phải sử dụng mặt nạ phòng độc. Sở chỉ huy Trung đoàn của chúng tôi bố trí trên nền một cái hang nhỏ ở chân núi, bị đạo diễn ném mấy quả pháo hơi cay. Tôi đang làm việc phải lấy vội mặt nạ phòng độc ra đeo, nhưng cũng không tránh khỏi ho sặc sụa và chảy nước mắt. Lần này, đường hành quân cũng khá phức tạp, có chỗ còn khó đi hơn cả lần diễn tập cấp trung đoàn. Nhưng vì tổ chức chia từng chặng hợp lý, nên bộ đội giữ được sức để chiến đấu theo phương án. Cuộc diễn tập toàn Sư đoàn lần này đạt kết quả tốt.


Ngoài những lần diễn tập quy mô như vậy, Tư lệnh Sư đoàn Vũ Yên dày dặn kinh nghiệm trận mạc, nên có những sáng kiến trong chỉ đạo huấn luyện rất thiết thực. Một ví dụ mà tôi nhớ mãi là khoa mục giấu quân ban ngày trên địa hình chỉ có cây lúp xúp. Dưới sự chỉ huy, hướng dẫn của Trung đoàn trưởng Ngô Thế Lương và Ban Tham mưu Trung đoàn, Trung đoàn 88 tập rất tốt. Toàn bộ đội hình hơn 2.000 quân bố trí trên một bãi đất rộng chỉ có những bụi cây lúp xúp vào ban ngày, gồm cả việc đào công sự cho cá nhân chỉ cách đường đi bộ mươi mét mà đoàn cán bộ kiểm tra của Sư đoàn đi qua không phát hiện được1 (Nội dung huấn luyện này được đồng chí Tiểu đoàn trưởng Đỗ Trung Dương của Trung đoàn 102 ứng dụng trong một trận đánh ở Đông Hà (Quảng Trị) trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, đã ém quân bí mật toàn Tiểu đoàn cả một ngày giữa hai cứ điểm địch chỉ cách vài trăm mét mà địch không phát hiện được. Vì thế, Tiểu đoàn của đồng chí đêm hôm đó đã tiếp cận và triển khai đội hình tiêu diệt được cứ điểm).


Trong năm 1967, có một việc rất đáng nhớ của Trung đoàn là được tiếp một đoàn khách Cuba đến nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng quân đội của ta trong gần chục hôm. Thực hiện chỉ thị của Bộ, Thủ trưởng Sư đoàn giao việc này cho Trung đoàn 88. Có lẽ trong Quân đội, đây là đoàn đầu tiên của Quân đội Cuba đến với chúng ta. Tôi rất lo lắng vì cách mạng Cuba mới thành công được khoảng 7 năm, hiểu biết của mình về Cuba còn rất hạn chế, vả lại chưa biết được yêu cầu nội dung bạn nghiên cứu là gì. Tôi phải cử cán bộ lên thư viện của Sư đoàn mượn những sách đã xuất bản nói về cách mạng và Quân đội Cuba để đọc. Tôi đọc xong thì đưa Trung đoàn trưởng, cơ quan chính trị đọc để có kiến thức nhất định nào đó về cách mạng Cuba trong khi tiếp xúc với bạn.


Việc đoàn đến thăm cũng được các cơ quan đối ngoại của Đảng và Nhà nước ở Trung ương rất quan tâm. Do địch luôn luôn cho máy bay bắn phá ở các trọng điểm, đường giao thông, bến phà nên Trung ương chỉ thị cho những nơi đoàn đi qua phải chú ý bảo vệ. Đặc biệt là Phú Thọ, ngoài việc phải chú ý bảo vệ suốt trong thời gian đoàn Cuba sang làm việc tại Trung đoàn, còn cử vài đầu bếp của cơ quan đối ngoại của tỉnh đem theo tất cả dụng cụ để giúp Trung đoàn phục vụ việc sinh hoạt của khách.


Toàn bộ Trung đoàn lúc đó phải ở nhờ nhà dân. Cũng may là trước đó chúng tôi cho xây một cái nhà ở sườn đồi có cây cối kín đáo để Thủ trường Trung đoàn làm việc, họp hành và một hội trường cho các cuộc họp. Vì vậy cũng có chỗ tàm tạm để tiếp khách.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM