Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 11:09:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 3953 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #40 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:26:49 am »

Tôi và một đồng chí nữa phụ trách chỉ huy một đại đội học viên lục quân hành quân về nước. Cuộc hành quân và bàn giao diễn ra suôn sẻ. Sau đó, hai chúng tôi về vùng đèo Khế - Thái Nguyên gặp đại diện Cục Cán bộ - Tổng cục Chính trị để nhận công tác.


Gặp đồng chí đại diện Cục Cán bộ thì tôi được thông báo bổ sung ngay về Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong), còn đồng chí kia - Bùi Cúc được bổ sung cho Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng bằng). Được về công tác ở hai đại đoàn chủ lực có tiếng của Quân đội ta, chúng tôi rất phấn khởi, nhưng nguyện vọng có phần hơi khác một chút. Bùi Cúc thì muốn xin về Đại đoàn 308 vì có anh ruột ở đó, còn tôi thì muốn về Đại đoàn 320 vì quê ở đồng bằng. Nhưng khi phát biểu với đồng chí đại diện Cục Cán bộ, đồng chí cho biết cấp trên đã nghiên cứu kỹ và quyết định rồi. Nghe vậy, chúng tôi cũng vui vẻ chấp nhận ngay vì trong quyết tâm thư sau khi học, mọi học viên đều đã "sẵn sàng nhận bắt cứ nhiệm vụ gì được cấp trên giao cho". Lúc đó, tôi chợt nhớ đến đồng chí Hoàng Tiệm, người đồng hương, đồng chí, đồng đội già đã cùng nhau tham gia khởi nghĩa ở Kim Bảng, không biết bây giờ được phân công công tác ờ đâu. Cũng không thể nghĩ rằng, mãi 22 năm sau (đến năm 1973), chúng tôi mới lại được gặp nhau.


Được biết, Đại đoàn 308 sau Chiến dịch Hà - Nam - Ninh đang đóng quân ở Thanh Hóa, tôi mừng thầm vì trên đường đi từ Việt Bắc về, thể nào cũng phải qua huyện Lạc Thủy và có thể liên lạc để biết tình hình gia đình sau gần một năm rưỡi xa nhà. Thời gian này, việc đi lại từ Liên khu 4, Liên khu 3 lên Việt Bắc và ngược lại dễ dàng hơn trước. Với tốc độ "mã hồi", từ 30 đến 40 kilômét mỗi ngày, chẳng mấy chốc tôi đã tới Chi Nê và được biết từ Do Lễ trở vào vẫn là vùng tự do của ta.


Theo đường 21 từ Chi Nê, tôi ra Cốc Thôn, trong lòng phấp phỏng lo âu không biết tình hình cha mẹ, vợ con, xóm làng mình sống trong vùng địch chiếm đóng ra sao. Đến Cốc Nội, thoáng thấy bên trái đường một quán giải khát núp dưới những bóng cây um tùm xanh tốt để phòng tránh máy bay địch, một loại quán hàng điển hình và rất phổ biến ở vùng tự do của ta, tôi dừng lại ghé vào uống nước. Trên sạp hàng nhiều thứ đồ uống, cốc chén sạch sẽ được bày biện một cách tao nhã, hấp dẫn chứng tỏ chủ hàng chắc là một người thành thị tản cư đến. Vừa bước vào, tôi mừng rỡ vô cùng, ngồi bên trong là vợ chồng anh Ba Cương, anh họ tôi cùng ở thôn Phương Khê Chợ. Pha cho tôi một cốc nước chanh tươi với đường trắng, anh cho tôi biết ngay tình hình ở nhà. Bố mẹ, vợ con tôi vẫn sống cùng với bà con ở phố Mới, cách đồn địch khoảng 200 mét. Toàn bộ khu chợ Quế, trong đó có cả nhà anh và nhà tôi đã bị địch san bằng và xây đồn bốt ở đó. Bà con sống rất căng thẳng trong sự o ép, kìm kẹp của giặc, đặc biệt đối với các gia đình địch nghi có con em đi theo kháng chiến. Nhiều lần ban đêm, chúng cho người giả tiếng tôi gọi bố ra mở cửa cho vào, nhưng bố tôi rất cảnh giác, không khi nào mắc mưu chúng. Đặc biệt là dân xã tôi rất có ý thức bảo vệ nhau, bảo vệ các gia đình có chồng con đi kháng chiến. Dân trong vùng địch chiếm đóng và dân tản cư vào vùng núi vẫn liên lạc được với nhau. Nhiều người vẫn ra vào được bằng cách vượt qua vành đai trắng ở những chỗ địch sơ hở hoặc không đủ quân để canh gác. Anh không biết rõ cụ thể, nhưng cũng cho biết chung ở vùng đồi núi này vẫn còn một số cơ quan ở đây, kể cả các cơ quan huyện vẫn có hoạt động chỉ đạo cuộc đấu tranh của nhân dân trong vùng địch. Một vài ba lần địch có hành quân vào sâu vùng tự do của ta để càn quét, nhưng nói chung ta vẫn an toàn, còn địch thì không đủ quân để trải ra chiếm đóng thêm.


Theo chỉ dẫn của anh Ba Cương, từ Cốc Nội vẫn theo đường 21, tôi ra Cốc Ngoại để gặp một số anh em bà con Phương Khê Chợ tản cư ở đó. Gặp toàn là anh em họ hàng bà con quen biết, phần lớn là mở hàng quán, đón những khách buôn bán bạo gan vượt vành đai trắng mang những nhu yêu phẩm từ "vùng tề" ra bán kiếm lời, tôi cũng biết thêm được nhiều thông tin khác về tình hình gia đình. Trong số những anh em họ hàng có người cho biết là có thể liên lạc được với gia đình, và người trong đó cũng có thể ra gặp được tôi. Tôi cũng được biết thêm là đồng chí Lê Minh Lợi, vốn là Phó Bí thư Huyện ủy Kim Bảng cũng đang ở đây, nhưng ở sâu trong đồi để tránh chỗ phố xá đông người ra vào trong vùng địch dễ bị lộ. Tôi tìm đến chỗ Lê Minh Lợi (nay đã là Bí thư Huyện ủy Duy Tiên) khi anh ở trong một cái lều nhỏ đang dưỡng thương vì trên đường công tác anh bị địch phục kích bắn xuyên bả vai, vết thương chưa lành hẳn. Khá lâu mới được gặp nhau, tôi kể cho anh nghe những chuyện ở Việt Bắc, ở Trung Quốc, về sự lớn mạnh của bộ đội và nhân dân ta, những thuận lợi mới khi biên giới giữa nước ta và Trung Quốc được mở thông. Anh kể cho tôi nghe về những chuyện gian khổ ở địch hậu, lòng dân đối với kháng chiến, những hoạt động đấu tranh đa dạng và phức tạp giữa ta và địch...


Nằm ở lều của anh Lợi, tôi chưa kịp nhờ ai báo tin về cho gia đình ở trong lòng địch thì gần trưa hôm sau đã thấy Phúc, vợ tôi tay cắp nón bước vào cửa lều. Trông thấy tôi, quầng mắt em đỏ hoe, thấy em sắp khóc, tôi nói vui: "A! Chào đồng chí!". Phúc bẽn lẽn cười.


Tôi vui mừng và cảm động vì thấy vợ mình đã không gặp nguy hiểm khi vượt qua vành đai trắng, vượt sông Đáy sang với chồng. Phúc nói chuyện với tôi về cuộc sống căng thẳng trong lòng địch, về những phút rất nguy hiểm đối với một phụ nữ trẻ và sự bảo vệ, đùm bọc của những người thân, họ hàng, làng xóm. Có trường họp trong một trận càn, một tên lính Tây đen sán đến, Phúc ôm chặt con vào lòng, anh ta nhìn thấy cảnh đó, lặng lẽ bỏ đi. Tôi đã nghĩ tìm cách đưa Phúc ra vùng tự do sinh sống, nhưng không thể thực hiện được đối với một anh bộ đội ở một đơn vị chủ lực luôn luôn cơ động ở khắp các chiến trường. Tôi suy nghĩ nhiều về việc này nhưng cuối cùng cách tốt nhất vẫn là để Phúc ở nhà gần gia đình, họ hàng và bà con dân làng.


Ở với nhau khoảng gần 10 hôm thì tôi phải lên đường về đơn vị mới là Đại đoàn 308 đang ở Thanh Hóa. Đợi có người về nhà, tôi mới để Phúc cùng về và tôi ở lại một ngày để theo dõi vợ về có an toàn không. Nghe tin Phúc đã về nhà an toàn, tôi yên tâm lên đường vào Thanh Hóa.


Về sau tôi biết được rằng, địch đánh hơi thế nào, nghi tôi đã về nhà nên ráo riết lùng sục. Đầu tiên, chúng đến nhà anh Ba Khuông, anh rể lấy chị thứ ba của tôi ở thôn Đanh Xá. Gặp chị, chúng tra hỏi là tôi có trốn ở đó không? Chị trả lời là tôi đi đã lâu, không biết đi đâu, không thấy về nhà nữa. Thấy mấy cái nong gác trên xà nhà, chúng sợ tôi nấp trên đó nên nã súng tiểu liên bắn lên mấy cái nong đó mấy loạt rồi mới đi. Chúng lại đến nhà ông ngoại tôi. Có mấy cái hầm tránh máy bay từ trước, chúng cũng bắn xối xả vào miệng hầm nhiều loạt, không thấy gì chúng mới lui.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #41 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:27:48 am »

Tôi ung dung đi trong vùng tự do của ta đến huyện Yên Định (Thanh Hóa) và tìm đến Phòng Chính trị Đại đoàn để nộp hồ sơ, giấy tờ và đợi phân công công tác. Đợi không lâu, tôi nhận được giấy giới thiệu về công tác tại Ban Chính trị Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc). Khi xem qua giấy giới thiệu lại thấy chỉ giới thiệu mình là Chính trị viên phó đại đội, tôi phải báo lại Chính trị viên phó là tự phong ở lớp học, còn chức vụ chính thức của tôi là Chính trị viên trưởng theo quyết định của Tổng cục Chính trị và yêu cầu sửa lại. Đến Trung đoàn 36, tôi được đưa đến gặp Chính ủy Lê Linh và Trung đoàn trưởng Hồng Sơn. Các anh đều lớn tuổi hơn khoảng năm, sáu tuổi, tiếp cán bộ cấp dưới thân mật, tôi thấy dễ chịu vì thấy cấp trên rất dễ gần gũi. Tôi thấy thú vị được gặp Trung đoàn trưởng chính là đồng chí Phạm Thành Chính, "vị cử nhân luật tri huyện tập sự", cùng học với tôi ở Trường Quân chính Việt Nam, cùng Nam tiến và suýt bị địch bắt ở Ninh Chữ năm 1946. Có lẽ Trung đoàn trưởng không nhận ra tôi. Tôi cũng tế nhị không muốn nhận biết anh lúc đó vì e "thấy người sang bắt quàng làm họ". Tôi được giao nhiệm vụ về Tiểu ban Tổ chức, Ban Chính trị Trung đoàn làm Trợ lý Công tác đảng.


Về Ban Chính trị Trung đoàn, ấn tượng đầu tiên của tôi là thấy không khí đoàn kết, vui tươi của các đồng đội trong Ban. Lần đầu tiên được về một đơn vị bộ đội chủ lực trong một đại đoàn cơ động chiến lược, tôi rất thích thú, thấy mình dễ thích nghi với nhiệm vụ mới, dễ hòa nhập với đồng đội.


Sau khi Đại đoàn đã củng cố, bổ sung quân số và tiến hành chỉnh huấn đợt 1 về "Ba dân chủ lớn", Trung đoàn 36 đã cùng với Đại đoàn hành quân từ Thanh Hóa về Phú Thọ để tiến hành đợt 2 của cuộc chỉnh huấn mà lúc đó quen gọi là chỉnh huấn về "Hai phe". Mục đích của chỉnh huấn là nhằm hiểu rõ thêm về tình hình thế giới, về bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội và bản chất phản động của chủ nghĩa tư bản, đế quốc, củng cố thêm lòng tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Đợt chỉnh huấn này, Trung đoàn được Tổng cục Chính trị giao cho làm thí điểm để rút kinh nghiệm cho các đơn vị khác. Đồng chí Hồng Cư, Phó Chính ủy Trung đoàn trực tiếp phụ trách việc này cùng với phái viên của Tổng cục Chính trị là đồng chí Lưu Văn Lợi. Điểm để rút kinh nghiệm là Đại đội 62 thuộc Tiểu đoàn 80, là đại đội chủ công của Trung đoàn. Tôi được chỉ định làm phái viên của Ban Chính trị Trung đoàn, cùng đồng chí Lưu Văn Lợi bám sát Đại đội 62 để rút kinh nghiệm hằng ngày, báo cáo với Trung đoàn. Việc này đối với tôi hoàn toàn mới, tôi không hiểu tại sao cấp trên lại cử một cán bộ làm công tác tổ chức đảm nhiệm. Công việc rất khẩn trương, vất vả. Đồng chí Lưu Văn Lợi và tôi được giao nhiệm vụ ngày thì theo dõi đại đội học tập, đêm phải vượt 6-7 kilômét đường rừng về báo cáo với đồng chí Hồng Cư về tình hình và kinh nghiệm chỉ đạo học tập để kịp báo cáo với Tổng cục. Thực ra, vai trò chính làm việc này là đồng chí Lợi (lúc này, đồng chí Lưu Văn Lợi đã ngoài 30 tuổi, là một trí thức rất giỏi tiếng Pháp và khá nổi tiếng), còn tôi chỉ là phụ. Một lần, vào khoảng 2 giờ sáng, đồng chí Lợi báo cáo với đồng chí Hồng Cư về tình hình và kinh nghiệm học tập thì tôi buồn ngủ quá; mắt díp lại không nghe được gì hết. Sau khi đồng chí Lợi nói hết, đồng chí Hồng Cư nhắc tôi có gì bổ sung thêm, tôi mở mắt chết lặng chẳng nói được gì. Sau buổi làm việc, đồng chí Hồng Cư nói riêng với tôi, trách cứ về chuyện này. Tôi nhận khuyết điểm và thấy thấm thìa bài học đầu tiên về tác phong làm việc cực kỳ khẩn trương, nghiêm túc trong một đơn vị chủ lực là thế nào.


Sau đợt chình huấn chính trị là đến học quân sự. Đối với Trung đoàn, lúc đó chú trọng học chiến thuật đánh công kiên để cho trình độ tác chiến của Trung đoàn được toàn diện hơn. Tôi tính có thể lợi dụng thời gian bộ đội học quân sự, xin phép đơn vị cho nghỉ để về thăm gia đình trước khi bước vào Thu - Dông. Thực ra mới về đơn vị chưa được nửa năm mà đã xin nghi phép, tôi thấy chưa thật hợp lý cho lắm. Do dự, cân nhắc mãi, cuối cùng đơn vị cũng thông cảm cho nghỉ phép.


Đã quen đường đi nhiều lần, tôi nhanh chóng từ Phú Thọ về Chi Nê (Lạc Thủy) và ra Cốc. Tình hình địch - ta ở Kim Bảng cũng không có gì thay đổi lớn lắm so với sáu tháng trước đây. Một lần nữa, Phúc lại vượt vành đai trắng, vượt sông Đáy ra với chồng, lần này mang theo cả con Đinh Cao Phong. Tôi hiểu thêm tình nghĩa vợ chồng sâu nặng thế nào, tình yêu của người phụ nữ mãnh liệt làm sao. Em còn mang cho tôi một món quà tôi rất thích là một đồng hồ Wyler, rất cần cho một cán bộ quân sự. Song niềm vui lớn nhất là được gặp cả vợ và con trai. Lúc này, Phong nói đã sõi, chỉ hơi còm. Hôm hai vợ chồng dắt con đi chơi, Phong chợt chỉ tay lên một mỏm núi đá: "A! Bố ơi, con chó có râu!". Tôi nhìn lên thì ra là một con dê đang nhảy nhót đi kiếm thức ăn.


Lần nghỉ này còn hai sự kiện đáng nhớ:

Chị Đinh Thị Chấn (Kim), chị con chú con bác ruột với tôi, từ công tác phụ nữ ở huyện, lên tỉnh, rồi được điều động lên cơ quan Liên khu ủy 3 làm công tác cơ yếu cũng ra Cốc thăm anh em. Gặp tôi, chị rất mừng và cho biết chị và người yêu là anh Vũ Anh Tuấn, Bí thư Huyện ủy Mai Đà sẽ làm lễ cưới nay mai. Hai chị em cùng học vỡ lòng, cùng học ở Trường Kiêm bị Kim Bảng, có một thời gian cùng sinh hoạt ở Chi bộ cán bộ dân vận của huyện Kim Bảng, tôi cũng rất mừng cho chị. Chị chỉ ở có một ngày, hôm sau đã phải trở về cơ quan công tác.


Sắp hết hạn nghỉ, cũng như lần trước, tôi sắp xếp cho vợ con trở về gia đình trước khi tôi đi vài hôm. Được tin vợ con đã trở về nhà an toàn, tôi mới yên tâm ra đi.

Sau khi vợ con về được một hôm thì một chuyện bất ngờ đến với tôi. Anh Hoàng Hữu Lựu, người mà tôi gọi vui là "Mạnh Thường Quân" đã giúp tiền cho anh Cầu đi về công tác trước Cách mạng Tháng Tám, nghe tin tôi về ra thăm tôi.


Gặp anh, tôi được biết anh là một chi ủy viên của Chi bộ xã Ngọc Sơn, danh nghĩa công tác là một giáo viên làng để hoạt động ngay trong lòng địch. Anh dạy các cháu ở Văn Chỉ thờ Khổng Tử ở thôn Phương Khê Trong, cách đồn địch gần một kilômét, vừa nắm tình hình địch, vừa chỉ đạo phong trào. Gặp anh, tôi rất cảm động nhưng băn khoăn về sự khinh xuất của anh vì anh vào Cốc dễ bị lộ bí mật. Anh cười nói:

- Nhớ anh em nên ra thăm một chút có sao đâu.

Anh hoạt động trong lúc địch khủng bố gắt gao, phong trào ờ xã gặp rất nhiều khó khăn. Bí thư Chi bộ xã thoái chí bỏ nhiệm vụ, nhiều đảng viên sa sút ý chí chiến đấu, nằm im. Huyện ủy phải chỉ định một đồng chí người Hải Dương tên là Nguyễn Xí (tên hoạt động là Thái)1 (Đồng chí Xí sau trở thành một cán bộ của Bộ Giáo dục) về làm Bí thư Chi bộ. Đồng chí này đã đỗ tú tài, được phép lên Việt Bắc để tiếp tục học thêm, nhưng vì tắc đường phải ở lại xã Ngọc Sơn dạy học kiêm sống và hoạt động ở xã. Đồng chí ấy đang cố gắng phục hồi sự hoạt động của Chi bộ và vực phong trào dậy. Đồng chí Xí tin ở tinh thần chiến đấu của anh Lựu nên phân công cho anh nhiệm vụ trên. Anh Lựu kể cho tôi nghe chuyện một người cộng sản ở thôn Phương Khê Trong. Anh ấy tên là Giao, một đồng chí mà tôi rất quen vì anh là một ủy viên trong Ban chấp hành nông dân cứu quốc huyện, đã từng sinh hoạt trong Chi bộ cán bộ dân vận huyện khi tôi là Bí thư Chi bộ đó. Anh Giao đã lớn tiếng lên án và chửi thẳng vào mặt bọn xâm lược và bọn Việt gian bán nước. Anh đã bị bọn giặc ở bốt Quế bắn chết ngay tại chỗ.


Anh Lựu và tôi, hai anh em còn nói nhiều chuyện với nhau rồi anh từ biệt tôi trở về làng. Tiễn anh về, tôi vẫn băn khoăn về việc anh coi thường nguy hiểm, vượt vành đai trắng ra vùng tự do thì dễ bị lộ lắm. Quả nhiên điều tôi lo lắng đã xảy ra. Ít lâu sau, tôi được tin anh bị địch bắt, giam tại nhà tù Nam Định, bị địch tra tấn rất dã man. Giữ vững khí tiết của người cộng sản yêu nước, anh đã bị địch tra tấn và hy sinh trong tù.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #42 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:28:34 am »

Đầu tháng 12 năm 1951, tạm biệt những người thân ở Cốc Thôn tôi lên đường trở về đơn vị cũng là lúc được biết tin địch đã đánh ra Hòa Bình, đường lên Việt Bắc bị tắc. Làm thế nào để trờ về đơn vị trong lúc tình hình khẩn trương như thể này? Tôi tìm đến Tỉnh đội dân quân Hà Nam, khi đó cơ quan ở một khu rừng tại Đầm Đa gần Chi Nê. Đến nơi, gặp được đồng chí Hồng Thanh, lúc đó là Chính trị viên Tỉnh đội. Đồng chí Hồng Thanh cho biết là Tỉnh đội cũng chưa thật nắm vững tình hình đường lên Việt Bắc lúc này ra sao và đang cho người đi trinh sát. Tôi xin chứng nhận của Tinh đội là tôi đã đến liên lạc để tìm đường đi Việt Bắc nhưng đường chưa thông. Tuy nhiên vì rất nóng ruột, tôi quyết định tự tìm lấy đường, đến đâu hỏi dân đến đấy. Gần đến đường 6, dân tản cư hết, vắng ngắt. Tôi tiếp tục đi, may sao gặp một đồng chí bộ đội, không biết của đơn vị nào cũng đang tìm đường đi cho đơn vị. Hai chúng tôi vượt qua đường, đến một bản vừa bị địch đốt, khói lửa vẫn còn cháy dở và có nhiều dấu vết chứng tỏ địch đốt phá cách đây không lâu. Đi sâu vào trong rừng được một đoạn thì người bạn đường tách ra một lối khác. Một mình tôi tiếp tục đi sâu vào rừng hướng về phía bắc. Đến gần tối, tôi mừng rơn thấy một bản trong đó lố nhố người đi lại. Quan sát kỹ, tôi nhận ra đó là đồng bào chạy giặc tản cư về đây. Tôi đến nhà một gia đình thổi cơm ăn và đi ngủ vì mệt quá. Đến gần sảng tỉnh dậy, tôi đến chỗ bà con tản cư, thấy có người nói ở gần đây có bộ đội, tôi đi theo hướng bà con chỉ, được một đoạn dài thì mừng ơi là mừng, gặp một đồng chí quen ở Trung đoàn, về đến Ban Chính trị, thấy mọi người đang tất bật sôi nổi làm việc phục vụ cho tác chiến. Các đồng chí cũng rất vui mừng vì tôi tìm được đơn vị và thông báo đơn vị bạn (e88) đã tiêu diệt được một tiểu đoàn Âu - Phi ở cứ điểm Tu Vũ. Còn Trung đoàn 36 cũng đã lập chiến công, một đơn vị pháo của Trung đoàn phổi hợp với Trung đoàn 88 đánh Tu Vũ và bắn cháy một xe tăng địch, một đơn vị khác bắn cháy ca nô và sà lan địch, đặc biệt là tại bến Lạc Song, ta đã bẳn chìm cả một đoàn năm tàu địch trên sông Đà, trong đó có một chiếc tàu chiến, tiêu diệt toàn bộ một đại đội địch trên tàu.


Trong đợt Trung đoàn bao vây diệt năm cứ điểm tại thị xã Hòa Bình, như thường lệ tôi lại được cử làm phái viên xuống Đại đội 62 chủ công của Trung đoàn. Đại đội 62 được phân công đánh cứ điểm Dốc Son. Trước giờ xuất phát chiếm lĩnh trận địa khoảng nửa giờ, Chi bộ Đảng đã họp bàn xác định nhiệm vụ lãnh đạo của Chi bộ và đảng viên. Đợt này, Trung đoàn giành thắng lợi giòn giã. Riêng Đại đội 62 cũng hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ và chỉ bị thương năm đồng chí.


Đang bận rộn phục vụ chiến dịch, tôi nhận được lá thư của chị Kim (Đinh Thị Chấn). Có lẽ đây là lá thư duy nhất tôi nhận được dưới bom đạn của địch, khi ta đang giao tranh với địch trong một chiến dịch. Trong thư, chị báo tin vui cho tôi biết chị và anh Vũ Anh Tuấn đã làm lễ kết hôn tại cơ quan Liên khu ủy 3. Lễ thành hôn được tổ chức đơn giản nhưng ấm cúng, nhiều đồng chí lãnh đạo của Liên khu ủy dự. Chị cho biết thêm sau khi vợ tôi có bầu con thứ hai, một số bà con không biết chúng tôi đã gặp nhau, gặp mẹ tôi phàn nàn: "Trông thế mà hư". Mẹ tôi thản nhiên đáp: "Thôi, cá vào ao nhà ai người ấy được". Sau này, khi nhà tôi sinh con trai thứ hai, bố tôi đặt tên cho cháu nội thứ hai của mình là Đinh Gia Đức.


Trong khi đang làm nhiệm vụ chiến đấu mà nhận được những lá thư thế này đúng là nhận được một sự động viên lớn, một niềm vui lớn.

Nhưng sự quyết liệt của chiến đấu vẫn tiếp diễn. Sau thất bại nặng nề của địch vừa rồi, địch điên cuồng dùng phi pháo bắn vào đội hình chiến đấu của các đơn vị ta. Ban Chính trị của Trung đoàn 36, một bộ phận lớn chủ chốt, đang làm việc ở dưới lòng một con suối cạn thì mấy chiếc máy bay của dịch gầm rú trên không... Tôi ở sườn đồi lững thững đến chỗ đồng chí Chủ nhiệm Chính trị và một số các đồng chí khác đang ngồi gần đó thì một máy bay của địch nhào xuống, một quả bom tạ rơi xuống cạnh chỗ chúng tôi chưa đầy năm mét, nó nằm nghiêng trên một phiến đá, nhưng... ơn trời, nó không nổ. Tất cả trợn tròn mắt, rồi nhìn nhau... cười.


Vừa bị bao vây và thiệt hại nặng ở Hòa Bình, lại vừa bị Đại đoàn 320 và Đại đoàn 316 đánh mạnh ở địch hậu, ngày 23 tháng 2, lo sợ bị tiêu diệt, địch vội vã bí mật rút chạy khỏi Hòa Bình. Khi rút chạy, địch dùng nghi binh nên ta chỉ kịp đánh vào đội hình phía sau địch, tiêu diệt được thêm hai đại đội nữa. Trong lúc địch rút chạy, tôi thấy Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đang ở Sở Chỉ huy của Trung đoàn, dùng điện thoại chỉ huy các mũi truy kích. Mặc dù trước đó toàn Đại đoàn đã thắng lớn, nhưng đồng chí không hề thỏa mãn và tỏ vẻ không hài lòng với kết quả truy kích địch của đơn vị.


Trong Chiến dịch Hòa Bình, Trung đoàn 36 đã diệt được gần 600 tên địch, bắt hơn 70 tên, có 12 hàng binh, phá bốn khẩu pháo 105mm, bắn chìm bốn tàu chiến, sáu ca nô, hai sà lan, thu hàng trăm súng. Các đơn vị phòng không phối thuộc Trung đoàn bắn rơi tám máy bay.


Ngày 27 tháng 2 năm 1952, trong lễ mừng chiến thắng tại thị xã Hòa Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tuyên dương công trạng của Trung đoàn. Chính phủ và Quốc hội tặng Huân chương Quân công hạng Ba. Bác Hồ gửi tặng Trung đoàn lá cờ thêu bốn chữ vàng "Quyết đánh, quyết thắng" và gửi thư động viên "giữ vững truyền thống lập nhiều chiến công to hơn nữa".


Đây là lần đầu tiên tôi được tham gia một chiến dịch lớn và được chứng kiến thắng lợi to lớn của bộ đội chủ lực ta. So với những gì khi chiến đấu ở Nam phần Trung Bộ cuối năm 1945 và năm 1946 thì thấy trình độ của bộ đội ta tiến bộ rất lớn. Tôi tự thấy mình cũng trưởng thành thêm nhiều và lòng tin càng sâu sắc hơn ở thắng lợi của Cuộc chiến tranh giải phóng.


Suýt nữa một cơ hội lớn để rèn luyện bị tuột mất nếu tôi không quyết tâm tự tìm đường về đơn vị.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #43 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:31:15 am »

Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, tôi theo Trung đoàn hành quân trở về Phú Thọ. Như đã trở thành quy luật, những chiến dịch lớn thường diễn ra trong mùa khô, hoặc là Thu - Đông, hoặc là Đông - Xuân, và sau chiến đấu, bộ đội cần được cùng cố tổ chức, giáo dục chính trị và huấn luyện quân sự. Trung đoàn vừa ổn định vị trí trú quân thì tôi và một đồng chí cán bộ quân lực được cử đi nhận hai đại đội tân binh bổ sung cho Trung đoàn. Hai đại đội này do Liên khu 4 giao cho, gồm những anh em ở Thanh - Nghệ - Tĩnh. Địa điểm nhận quân là một vùng đồi cọ thuộc huyện Phù Ninh (Phú Thọ), cách Trung đoàn một ngày đường hành quân. Tối hôm đó, trên một bãi cỏ rộng dưới chân đồi, các đồng chí cán bộ dẫn quân của Liên khu 4 giới thiệu chúng tôi với anh em tân binh và nói qua về tình hình và kết quả hành quân từ Liên khu 4 ra. Tôi nói vắn tắt với anh em về truyền thống của Trung đoàn và thắng lợi vừa qua trong Chiến dịch Hòa Binh để anh em tân binh thấy vinh dự, tự hào được bổ sung cho một đơn vị có nhiều chiến công nổi tiếng. Nhưng điều tôi thấy rất quan tâm và nói kỹ với anh em là vấn đề bí mật, kỷ luật và những yêu cầu phòng không, kể cả trường hợp địch bắn phá hoặc ném bom vào đội hình ở nơi trú quân và khi hành quân. Quả nhiên, gần trưa hôm sau, trong khi chúng tôi và các đồng chí cán bộ dẫn quân của Liên khu 4 đang bàn giao cụ thể danh sách thì mấy chiếc máy bay phóng pháo của địch nhào tới ném bom và bắn phá ở mấy ngọn đồi cọ, nơi trú quân của hai đại đội tân binh. Chắc chắn là địch đã theo dõi hai đại đội này và có chỉ điểm báo cho chúng. Chúng tôi rất lo sẽ có tổn thất và ảnh hưởng tới tinh thần của anh em; nhưng thật không ngờ, anh em rất bình tĩnh và thực hiện đúng yêu cầu, hoàn toàn không có sự hoảng loạn, vẫn giữ được bí mật vì sau đó không thấy máy bay địch quay lại. Chúng tôi kiểm tra lại quân số, không có ai thương vong, không có ai đào ngũ vì sợ hãi. Ngay tối hôm đó, chúng tôi tổ chức hành quân rất chặt chẽ, bảo đảm tuyệt đối an toàn, hoàn thành nhiệm vụ dẫn anh em về bổ sung cho Trung đoàn để kịp học tập chính trị và huấn luyện quân sự.


Đợt chỉnh huấn chính trị và quân sự lần này là đợt tập trung dài ngày nhất của bộ đội ta từ trước tới nay. Về chính trị, bộ đội được học những vấn đề cơ bản "Mấy vấn đề cách mạng Việt Nam", "Quân đội nhân dân Việt Nam", "Kháng chiến trường kỳ nhất định thắng lợi", về quân sự, bộ đội được học "Năm kỹ thuật lớn", "Hai chiến thuật chủ đạo" là chiến thuật công kiên đánh cứ điểm cỡ một tiểu đoàn địch và chiến thuật vận động đánh quân ứng chiến lớn. Đồng thời, trong thời gian này, Trung đoàn tích cực chuẩn bị tinh thần và vật chất, sẵn sàng đợi lệnh chiến đấu trong mùa Thu - Đông tới.


Cũng như lần trước, tôi được phân công xuống Đại đội 62, chủ công của Trung đoàn, theo dõi và giúp đỡ việc học tập chính trị của Đại đội. Có lúc đồng chí Chính trị viên Đại đội bận việc khác, tôi sẵn sàng giúp thay đồng chí giảng bài và hướng dẫn cho chiến sĩ học tập. Việc này thường được anh em hoan nghênh vì được nghe nhiều phương pháp, phong cách giảng dạy khác nhau, đỡ nhàm chán. Với vốn học quân sự đánh công kiên ở Trung Quốc, đôi khi đàm đạo với Đại đội trưởng, có những vấn đề tâm đắc nên quan hệ giữa tôi và đồng chí Đại đội trưởng rất tốt. Do đó, các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy ở Tiểu đoàn cũng có thiện cảm.


Đầu tháng 9 năm 1952, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Tây Bắc nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân, giải phóng một bộ phận đất đai của Tây Bắc. Chiến dịch Tây Bắc là một chiến dịch lớn, so với Chiến dịch Hòa Bình, ta hoàn toàn chủ động tiến công. Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy sử dụng nhiều đại đoàn chủ lực như các đại đoàn 308, 312, 316 vượt sông Thao bằng thuyền của nhân dân hai tỉnh Phú Thọ và Yên Bái.


Đặc điểm địa hình Tây Bắc rất phức tạp, bộ đội phải theo những con đường xuyên rừng, qua những khe sâu, dốc đứng, núi đá tai mèo và việc vận chuyển lương thực, đạn dược, vũ khí nặng rất khó khăn, cấp trên quy định cho cán bộ, chiến sĩ, ngoài ba lô, súng đạn, mỗi người phải mang theo một bao gạo 12 kilôgam. Cả Trung đoàn hành quân đến vị trí tập kết chiến đấu phải luồn lách qua gần những đồn địch, vừa đi đêm, vừa phải theo dõi động thái của địch, nên có lúc phải dừng lại lâu, có chỗ lầy lội không thể ngồi nghỉ. Muỗi, dĩn bâu vào cổ, vào mặt, đốt ngứa ngáy, rất khó chịu, lại không được gây tiếng động hoặc ho hắng. Đặc biệt là khi phải vượt qua đồn Ca Vịnh, đường lầy lội sau những cơn mưa của mấy ngày qua, trời tối như mực, người sau không trông rõ người đi trước. Một hình ảnh in đậm vào tâm trí tôi cho đến khi tôi đã là Chính ủy Trung đoàn và cả ở vị trí cao hơn. Đó là đồng chí Lê Linh, Chính ủy Trung đoàn trên vai cũng vác một bao gạo 12 kilôgam cùng với ba lô của mình, đứng trước mặt tôi, giữa vũng lầy trong đêm hành quân qua đồn Ca Vịnh đó. Tôi nghĩ, người Chính ủy Trung đoàn mẫu mực như thế thì làm sao cấp dưới và những chiến sĩ của mình làm khác được. Anh luôn là tấm gương sáng để tôi theo. Sau này, có nhiều năm anh là Chính ủy Sư đoàn 308 và tôi làm công  tác ở Ban Tuyên huấn Sư đoàn, tôi thấy anh cũng vẫn tác phong ấy, sự gương mẫu ấy và tôi luôn giữ sự kính trọng và niềm tin yêu đối với anh...


Sau bốn ngày hành quân vất vả gian khổ như thế, Trung đoàn chúng tôi đã đến vị trí tập kết bí mật, an toàn. Lúc này, các đơn vị bạn như Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) đã tiêu diệt vị trí Ca Vịnh, Trung đoàn 141 (Đại đoàn 312) tiêu diệt vị trí Sài Lương, Trung đoàn 102 và Trung đoàn 88 của Đại đoàn 308 tiêu diệt hai vị trí Nghĩa Lộ đồi và Nghĩa Lộ phổ. Trung đoàn 36 được lệnh tiêu diệt đồn Cửa Nhì đã bị cô lập do một đại đội lính lê dương tăng cường thêm bọn lính ngụy người Thái chiếm giữ. Lúc đầu, ta chủ trương địch vận gọi địch hàng nhưng bọn chúng ngoan cố vẫn chiếm giữ. Địch gọi máy bay ném bom napan bắn phá, và trước nguy cơ bị ta tiêu diệt, chúng được lệnh lợi dụng đêm tối bí mật rút chạy. Máy bay địch đã gây cho ta một số thương vong. Theo dõi và phán đoán đúng ý đồ rút chạy của địch, Trung đoàn trưởng quyết định tiến công tiêu diệt. Tôi vẫn đi với Đại đội 62, đã ở gần sát đồn địch, bên cạnh Sở Chỉ huy Trung đoàn. Trước lúc triển khai chiếm lĩnh trận địa ở hướng đột phá chủ yếu, Chi bộ Đại đội 62 đã họp nhanh khoảng 15 phút để quán triệt quyết tâm và xác định nhiệm vụ lãnh đạo. Khi Đại đội bí mật ra vị trí chiến đấu, tôi được phép ở lại Sở Chỉ huy Trung đoàn. Theo lệnh của Trung đoàn trưởng Hồng Sơn, sau một loạt pháo bắn mãnh liệt, các mũi đột phá dùng bộc phá mở hàng rào kẽm gai khá dày của địch, xung phong lên đồn. Đúng vào lúc địch đang tập trung định bí mật rút chạy nên bị ta tiêu diệt gần 100 tên và bị bắt gọn 80 tên, trong đó có hai tên chỉ huy trường và chỉ huy phó người Pháp. Ta thu toàn bộ vũ khí và lương thực của địch dự trữ cho một đại đội của chúng dùng trong ba tháng. Tên chỉ huy là một tên quan hai còn trẻ tên là Lơđu vừa tốt nghiệp ở Trường Võ bị Xanh Xia được điều sang Việt Nam và phải nhảy dù xuống Cửa Nhì trước khi ta tiến công.


Khi đồng chí Lê Kim, cán bộ tuyên huấn nói giỏi tiêng Pháp, hỏi cung hắn để khai thác tình hình địch, hắn nói nịnh:

- Ông học ở đâu mà giòi tiếng Pháp như người Pari?

Đồng chí Lê Kim cười nói mỉa:

- À, đấy là nhờ bọn thực dân các anh đấy!
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #44 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:32:03 am »

Sau 13 ngày chiến đấu, các đơn vị của ta trên toàn Chiến dịch đã giải phóng được một khu vực khá rộng lớn giữa sông Thao và sông Đà. Riêng Trung đoàn, sau chiến thắng Cửa Nhì, còn tiếp tục truy quét một tổ chức thám báo do hai tên sĩ quan Pháp chỉ huy, cùng những nhóm thổ phỉ địa phương tiếp tục những hoạt động phá hoại, chia rẽ các dân tộc, tuyên truyền chống lại cách mạng. Nhưng với sự giúp đỡ của nhân dân, bọn chúng nhanh chóng bị dẹp tan, tình hình vùng mới giải phóng được ổn định.


Trong chiến dịch này, Trung đoàn 36 đã chấp hành rất tốt chính sách dân tộc và kỷ luật chiến trường, được nhân dân tin yêu. Ca khúc "Qua miền Tây Bắc" của nhạc sĩ, chiến sĩ Nguyễn Thành, một chiến sĩ của Sư đoàn 308 đã được sáng tác trong thời điểm hào hùng đó.


Sau chiến thắng đợt 1, tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch ra sức chuẩn bị cho quân ta vượt sông Đà, tiến đánh địch trên cao nguyên Mộc Châu. Riêng với Trung đoàn 36 được cấp trên giao cho một nhiệm vụ đặc biệt: Đó là hành quân gấp về Phú Thọ.


Vừa tiêu diệt xong Cửa Nhì, Trung đoàn chúng tôi về trú quân tại một khu rừng ở Than Uyên thì ngay xế chiều hôm sau, tôi được Thủ trưởng Trung đoàn gọi lên giao nhiệm vụ đi đón đồng chí Song Hào, Chính ủy Đại đoàn ở cách đó gần một kilômét. Trên đường dẫn đồng chí về đơn vị, với sức trẻ, tôi đi hơi nhanh, đồng chí nói với giọng mệt mỏi: "Sao đi nhanh thế?", tôi thấy mình vô tâm quá. Đồng chí vốn không được khỏe, lại qua một đợt lãnh đạo, chỉ huy đơn vị đánh địch rất căng thẳng nên mệt mỏi là điều khó tránh khỏi. Đồng chí làm việc với Ban Chỉ huy Trung đoàn độ nửa giờ thì trở về Đại đoàn. Đồng chí vừa ra về, không khí cơ quan Trung đoàn nhộn nhịp, khẩn trương hẳn lên. Toàn đơn vị chuẩn bị hành quân gấp về Phú Thọ. Tình hình chiến sự rất khẩn trương.


Trong khi ta chuẩn bị đợt 2 của chiến dịch vượt sông Đà thì tình hình địch có nhiều biến động. Một mặt, chúng đổ quân cơ động xuống tăng cường cho Tây Bắc; mặt khác, vào ngày 29 tháng 10 năm 1952 lại đưa ba binh đoàn cơ động vào loại thiện chiến bậc nhất của chúng tiến lên Phú Thọ nhằm đánh phá hậu phương ta, buộc chủ lực của ta phải quay về chống đỡ mà chúng gọi là cuộc hành quân Loren.


Nắm thời cơ tiêu diệt địch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch vừa kiên quyết tiến hành đợt 2 Chiến dịch Tây Bắc, vừa chặn đánh bọn địch ở Phú Thọ. Trung đoàn 36 với truyền thống đánh vận động giỏi, lại vừa được huấn luyện chiến thuật vận động đánh quân ứng chiến lớn, được Bộ điều về cùng một số đơn vị bạn tham gia phá cuộc hành quân này của địch. Tôi lại được cử theo Tiểu đoàn 80, đi trong đội hình của Đại đội 62. Quãng đường từ nơi trú quân ở Than Uyên về vị trí tập kết ở Phú Thọ khoảng 210 kilômét, nhưng với tinh thần bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn thực hiện một cuộc hành quân thần tốc trong ba ngày đêm liền, mỗi ngày đêm đi 70 kilômét. Đi trong đội hình của Tiểu đoàn 80 và Đại đội 62, tôi tuyệt nhiên không hề nghe thấy một lời kêu ca, không nhìn thấy một thái độ mệt mỏi. Công tác chỉ huy hành quân và ngụy trang của bộ đội rất tốt, hành quân ban ngày mà địch không hay biết. Tôi cũng thấy công tác hậu cần phục vụ cho hành quân cực kỳ giỏi: Bộ đội vẫn được ăn ngày ba bữa, trong đó có một bữa cơm nóng, bếp không có khói, về đến Vũ Ẻn, nhìn thấy ánh lửa địch đốt cháy xóm làng, cán bộ, chiến sĩ sôi sục căm thù, nóng lòng diệt địch.


Khoảng 4 giờ 30 phút đến 5 giờ sáng ngày 16 tháng 11 thì toàn Trung đoàn đến vị trí tập kết và triển khai bộ đội trên các ngọn đồi cọ, đào công sự phòng máy bay và sẵn sàng chiến đấu. Trong lúc đó, bộ phận đi chuẩn bị trận địa trên đường 2 do Trung đoàn trưởng Hồng Sơn dẫn đầu đã bắt đầu. Công việc chỉ huy bộ đội ở nhà là Chính ủy Lê Linh và Trung đoàn phó Quang Tuyến. Khoảng 5 giờ 30 phút sáng, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 62 đã hoàn thành việc đào công sự, tôi bỗng nghe thấy dưới chân ngọn đồi gần đấy súng nổ ran. Đã được lệnh từ trước của Chính ủy Lê Linh và Trung đoàn phó Quang Tuyến, nơi nào bị lộ địch đánh lên mới được đánh trả, còn toàn bộ lực lượng phải giữ bí mật đến cùng để vận động đánh địch lớn hơn. Ta phát hiện khoảng ba đại đội địch lùng sục vào nơi trú quân của ta để phát hiện lực lượng ta, bảo đảm cho cuộc rút lui của chúng; nhưng không thấy động tĩnh gì nên chúng lui quân. Sở dĩ như vậy vì sau hai tuần hành quân đánh vào hậu phương ta, nhưng bị Trung đoàn 176, Đại đoàn 316 và 11 đại đội địa phương, dân quân du kích Phú Thọ đánh thiệt hại và cho rằng mục đích hành quân đã đạt yêu cầu nên địch kết thúc cuộc hành quân, rút khỏi Phú Thọ.


Sau khi nắm vững tình hình địch và chọn xong trận địa phục kích, toàn bộ Trung đoàn vận động bí mật ra trận địa và nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu phục kích. Vào khoảng 6 giờ sáng ngày 17 tháng 11, những toán địch trong đơn vị tiền vệ sục sạo vào hai bên đường nơi Trung đoàn bố trí phục kích. Để tránh bị phát hiện và đợi lực lượng chủ yếu của chúng lọt vào trận địa ta mới đánh, các tổ cảnh giới của ta phải lùi sâu yào trong. Tổ của chiến sĩ Lê Văn Hiến, một trong những chiến sĩ mà tôi nhận về trong hai đại đội của Liên khu 4 vừa bổ sung mấy tháng trước, bị địch phát hiện. Lê Văn Hiến bị chúng lôi ra giữa đường tra tấn rất dã man nhưng một mực chỉ nhận mình là du kích địa phương, không khai báo gì cả. Một số chiến sĩ, cán bộ ta chứng kiến cảnh đó thương đồng chí mình, căm thù tột độ nhưng buộc phải giữ bí mật, không dám có hành động gì. Địch nghi ngờ bắn lung tung vào hai bên đường, một số chiến sĩ ta bị thương, có người hy sinh, nhưng toàn đơn vị dằn lòng chịu đựng, tuyệt đối im lặng để giữ bí mật trận địa.


Địch yên chí đó chỉ là một du kích, không quan trọng gì nên hai binh đoàn của địch bắt đầu rút quân. Đầu và cuối đội hình của chúng là xe tăng, thiết giáp, trên trời có máy bay khu trục bảo vệ, ở giữa là bộ binh, lọt vào trận địa của ta. Lập tức, Trung đoàn trưởng phát lệnh nổ súng. Kèn lệnh vang lên, cả trận địa dài hơn một kilômét rền vang tiếng nổ của các loại vũ khí của ta. Từ loạt đạn đầu, hàng chục xe địch bốc cháy, hàng trăm tên địch trúng đạn gục ngã, đội hình địch tan tác. Quân ta ở ven rừng hai bên đường xung phong, tràn xuống đường đánh giáp lá cà diệt địch. Máy bay địch lồng lộn nhưng chỉ dám bắn xa đường, pháo địch cũng chỉ dám bắn vào phía sau của ta. Sau 20 phút, toàn bộ xe cộ và bộ binh lọt vào trận địa của ta bị tiêu diệt và bị bắt.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #45 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:33:05 am »

Chiến sĩ Lê Văn Hiến được bộ đội ta cứu thoát trong tình trạng bị thương nặng. Với phương châm "đánh nhanh, rút nhanh", Trung đoàn cho lui quân. Bọn địch phía sau bị cắt, dừng lại gần tối mới dám đi tiếp, nhưng lại bị Tiểu đoàn 84 của Trung đoàn đuổi đánh suốt bốn kilômét. Trong trận phục kích Chân Mộng - Trạm Thản, Trung đoàn tiêu diệt trên 400 tên, bắt 84 tên, diệt 44 xe cơ giới (trong đó có một xe tăng, xe bọc thép bỏ tại trận địa). Trong số 84 tù binh ta bắt được có tên quan ba, trưởng ban quân báo của GM 1 (binh đoàn cơ động số 1). Đồng chí Lê Kim lại làm nhiệm vụ hỏi cung ngay sau khi nó bị bắt. Tôi cũng có mặt ở đó. Đồng chí hỏi:

- Trước khi đánh lên Phú Thọ, các anh biết được chúng tôi có bao nhiêu lực lượng ở đây?

Nó trả lời ngay:

- Có Trung đoàn 176 và 11 đại đội địa phương.

- Thế còn đơn vị đánh các anh hôm nay? - Đồng chí hỏi tiếp.

Nó trả lời:

- Các anh ở Tây Bắc về.

Đồng chí Lê Kim cười:

- Thế thì chúng tôi từ Tây Bắc bay về à?

Nó nhún vai:

- Điều đó thì chúng tôi không hiểu nổi.

Như vậy, địch nắm tình hình ta rất chắc, có điều chúng không thể hiểu được là tài năng lãnh đạo chỉ huy và tinh thần của bộ đội ta. Đây là một trong những chiến công lớn nhàt của quân và dân ta trong Thu - Đông 1952 và là một trong những trận đánh vận động phục kích tiêu biểu của Quân đội ta.


Hôm Đại đội 62 vận động ra chiếm lĩnh ở trận địa phục kích, vì là phái viên, tôi đề nghị với đồng chí Đại đội trưởng để tôi cùng ra trận địa với bộ đội, nhưng anh kiên quyết không đồng ý vì đề phòng một tổn thất không cần thiết, và yêu cầu tôi ở lại hậu cứ của Đại đội, cách trận địa khoảng 300 mét. Trong lúc bộ đội ta xung phong ra mặt đường tiêu diệt địch, máy bay và pháo địch không dám bắn phá ở đó sợ bắn nhầm vào quân của chúng nên chủ yếu chúng bắn vào phía sau quân ta. Hôm đó, ở hậu cứ của Đại đội, tôi "chịu trận" nửa tiếng đồng hồ do pháo và máy bay địch bắn phá phía sau quân ta.


Sau thắng lợi của trận phục kích ngày 17 tháng 11, Trung đoàn lui quân về hậu cứ gần đó. Để khen thường kịp thời đơn vị và cá nhân có thành tích, Ban Chính trị Trung đoàn phải chuẩn bị danh sách đề nghị khen thưởng. Tôi được giao lên báo cáo với Chính ủy và Trung đoàn trưởng, sắp sửa báo cáo thì đồng chí cơ yếu của Trung đoàn đem một bức điện của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thông báo quyết định đề nghị trên tặng thưởng Trung đoàn trưởng Hồng Sơn và Chính ủy Lê Linh mỗi người một Huân chương Chiến công hạng Nhất vì đã chỉ huy Trung đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong chiến dịch.


Không thỏa mãn với thắng lợi, ngày 23 tháng 11 năm 1952, Trung đoàn quyết định tiếp tục tiến công hai vị trí địch ở đồi Chò, núi Quyết do hai đại đội địch chiếm giữ hòng chặn quân ta truy kích tiếp.

Tôi tiếp tục đi theo Tiểu đoàn 80 và Đại đội 62 làm nhiệm vụ đặc phái viên, trong khi cán bộ, chiến sĩ chưa thật hồi sức sau chặng đường hành quân từ Tây Bắc về và sau trận phục kích ngày 17 vừa qua. Khoảng nửa đêm 22 tháng 11, tôi dự cuộc họp quán triệt nhiệm vụ và phổ biến kế hoạch tác chiến của Tiểu đoàn 80 do Tiểu đoàn trưởng Mai Xuân Tần chủ trì, được tiến hành gần cứ điểm địch. Có đại đội trưởng quá mệt, ngủ gật gần như từ đầu đến cuối. Đến khi đồng chí kiểm tra, yêu cầu đồng chí ấy nhắc lại nhiệm vụ của đại đội thì không trả lời được. Tiểu đoàn trưởng "kêu trời" và lại phải nhắc kỹ lại để đồng chí đó nhớ. Tôi cũng ở trong trạng thái gần như đồng chí đại đội trưởng nọ. Khi kết thúc cuộc họp, tôi không thể cưỡng lại cơn buồn ngủ, ngủ quay lúc nào không biết. Đêm đó bộ đội đánh chác ra sao, tôi cũng không rõ. Khoảng 7 - 8 giờ sáng ngày 23 tháng 11 năm 1952, tiếng đạn pháo nổ ầm ầm xung quanh đánh thức tôi dậy. Tôi bừng tỉnh, ánh nắng buổi sớm của mặt trời làm tôi chói mắt. Tôi đứng dậy thì thấy bên cạnh mình cách vài mét, một chiến sĩ hy sinh, quần áo rách bươm còn ám khói đạn. Đang ngơ ngác không biết mình đang ở đâu thì có tiếng gọi: "Tiên, lên đây!". Nhìn lên thì thấy đồng chí Mai Xuân Tần, Tiểu đoàn trưởng và đồng chí Vũ Sơn, Chính trị viên Tiểu đoàn đứng trong hầm chỉ huy ở sườn đồi dưới một lùm cây cách chỗ tôi độ trên 10 mét. Té ra là vì quá buồn ngủ, sau cuộc họp tôi đã ngủ gục, quên cả trời đất, bất chấp tiếng nổ ran của trận đánh gần mình. Cũng may chỉ là phái viên, không phải chỉ huy ai, nếu không thì đáng bị kỷ luật lắm và cũng may là đạn pháo đã "tránh mình".


Đánh hai vị trí đồi Chò và núi Quyết, Trung đoàn đã tiêu diệt thêm 180 tên, bắt 76 tên. Như vậy, tổng số quân địch bị Trung đoàn tiêu diệt và bắt sống trong cuộc hành quân Loren của chúng lên hơn 600 tên.


Trong Chiến dịch Tây Bắc và Chiến dịch Trung Du (Chiến dịch Trần Hưng Đạo), Quân đội ta đã thu được những thắng lợi rất to lớn. Địch bị tiêu diệt 13.800 tên, bị ta phá hủy và thu nhiều vũ khí, phương tiện quân sự. Nhiều tiểu đoàn và đại đội thuộc lực lượng cơ động thiện chiến của địch bị tiêu diệt gọn. Ngụy quân người địa phương Tây Bắc, chỗ dựa để quân Pháp chiếm đóng tan rã. Một vùng đất rộng lớn ở Tây Bắc được giải phóng. Nhân dân các dân tộc được sống tự do dưới chế độ mới. Trong chiến dịch này, toàn Đại đoàn 308, trong đó có Trung đoàn 36 đã lập được những thành tích xuất sắc, đặc biệt là trong trận vận động phục kích Chân Mộng - Trạm Thản nổi tiếng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #46 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:34:58 am »

Sau Chiến thắng Tây Bắc, Tết âm lịch 1952, trong Hội nghị tổng kết chiến dịch của Đại đoàn, Bác Hồ đã về thăm Đại đoàn lần thứ hai. Tôi cũng có vinh dự là một thành viên trong đoàn đại biểu của Trung đoàn 36 có mặt ở Hội nghị tổng kết của Đại đoàn. Tối hôm đó, tại một khu rừng ở Năng Yên (Phú Thọ), tất cả cán bộ dự Hội nghị tổng kết cùng đại diện cán bộ, chiến sĩ của các cơ quan, đơn vị trực thuộc Đại đoàn bộ được triệu tập trên một bãi cỏ nhỏ kín đáo gần hội trường, xung quanh một đống lửa trại nhỏ. Mọi người vừa yên vị xung quanh đống lửa thì Đại đoàn trưởng Vương Thừa Vũ tháp tùng Bác Hồ đi vào. Mọi người không được báo trước, đứng bật dậy hô vang: "Hô Chủ tịch muôn năm!", "Muôn năm, muôn năm, muôn năm!". Bác tươi cười vẫy tay ra hiệu mọi người ngồi xuống. Mọi người nét mặt phấn khởi, rạng rỡ và cảm động ngắm Bác, thấy Bác mạnh khỏe, nhanh nhẹn. Một ghế gỗ xuềnh xoàng đặt ngay cạnh tôi, Đại đoàn trưởng mời Bác ngồi. Tôi mừng quá vì được ngồi ngay dưới chân, cách Bác chưa đầy nửa mét. Bác mở hộp thuốc lá ra hút, chưa kịp bật lửa, nhìn thấy xung quanh một số cán bộ đang ngây người ngắm nhìn Bác, Bác rút từng điếu một chia cho các đồng chí ngồi gần đó. Đến điếu cuối cùng, Bác cười vui vẻ nói: "Hết rồi". Đại đoàn trưởng nhắc mọi người im lặng để Bác nói chuyện. Bác nói rất ngắn gọn, khen ngợi cán bộ, chiến sĩ trong Đại đoàn vừa lập chiến công xuất sắc trong chiến dịch, khen các đồng chí chỉ huy Đại đoàn, trước khi ra đây đã báo cáo với Bác tình hình đơn vị, đã nắm vững quân số, vũ khí.


Nói xong, Bác nhìn thấy một chị phụ nữ mặc thường phục, áo nâu, quần đen, Bác hỏi:

- Cháu làm công tác gì?

Chị cảm động và hồi hộp quá chưa kịp nói thì Đại đoàn trưởng đỡ lời:

- Thưa Bác, đó là chị Tân làm hộ lý ở Tiểu đoàn Quân y, là Chiến sĩ thi đua của Tiểu đoàn đấy ạ.

Bác hỏi chị Tân:

- Cháu có biết hát không?

Đã lấy lại được bình tĩnh, chị Tân đáp:
   
- Thưa Bác có ạ - Nói xong, chị chỉ hát một câu "Cò lả". Vì xúc động, giọng chị yếu quá.

Nghe xong. Bác nói:

- Cháu phải tập hát cho tốt hơn, là chiến sĩ quân y nên biết hát cho thương, bệnh binh nghe.

Rồi Bác nói là Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô vừa gửi tặng Bác một số Huy hiệu Sao Đỏ, Bác tặng lại cho Đại đoàn chín chiếc để làm phần thưởng cho những cán bộ, chiến sĩ xuất sắc nhất. Mọi người vỗ tay hoan hô và đề nghị Bác cho xem. Bác nói:

- Ai cầm huy hiệu đi quanh một vòng cho tất cả mọi người xem?

Một cánh tay nhanh nhảu giơ lên:

- Thưa Bác, cháu! - Đó là đồng chí Trưởng ban Cán bộ, Phòng Chính trị Sư đoàn.

Bác nói:

- Ai bầu chú?

Anh có vẻ cụt hứng, hạ tay xuống. Bác nói:

- Tôi đề nghị đồng chí Tân, các chú đồng ý không?

Mọi người đồng thanh đồng ý và vỗ tay rất to. Một tốp ba nữ diễn viên của Đội Văn công Đại đoàn đứng lên:

- Thưa Bác, chúng cháu xin múa mừng Bác điệu múa "Khoe giày".
   
Bác nhìn xuống chân ba cô văn công nói:

- Đấy là dép đấy chứ, có phải giày đâu.

Quả nhiên, các cô đều đi dép cao su cả. Các cô múa xong, Bác Hồ đứng dậy nói:

- Bây giờ Bác đánh nhịp cho các chú hát bài "Kết đoàn", hát hai lần, phải hát to, đồng ý không?

Mọi người đồng thanh:

- Chúng cháu đồng ý.

Bác lấy giọng và bắt đầu "hai ba" đánh nhịp. Hát đến nửa bài thì Bác vẫy tay ra hiệu tạm biệt, rồi bước nhanh ra ngoài. Các đồng chí tùy tùng và bảo vệ theo sau ra khỏi rừng. Mọi người miệng vẫn phải hát to mà mắt thì hướng theo bóng Bác đầy lưu luyến.


Đây là lần thứ hai tôi được ở gần Bác Hồ, lần thứ nhất là hôm trực ban bếp ở Trường Quân chính Việt Nam hồi tháng 9 năm 1945 tại Hà Nội. Lần này, tôi mới cảm nhận được phong thái vô cùng giản dị, gần gũi với quần chúng của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.


Việc Bác Hồ đến thăm đơn vị trong dịp đơn vị tiến hành Hội nghị tổng kết Chiến dịch Tây Bắc hiển nhiên là một phần thưởng vô cùng quý giá của Bác đối với Đại đoàn vì những thành tích về mọi mặt của đơn vị trong chiến dịch.


Đối với tôi, đây là lần thứ hai tôi được tham gia một chiến dịch lớn trong đội hình chiến đấu của Đại đoàn 308, Trung đoàn 36, Tiểu đoàn 80 và Đại đội 62. Tôi tự thấy mình trưởng thành một bước lớn hơn so với Chiến dịch Hòa Bình lần trước. Bởi vì những bài học mà tôi thu hoạch được trong chiến dịch này phong phú hơn nhiều.


Trước hết, tôi thấy sự lãnh đạo của cấp trên về chiến lược rất sáng suốt: Từ việc nắm tình hình và phán đoán chính xác về địch, về việc chuẩn bị những nội dung rất thiết thực về mặt chính trị, huấn luyện quân sự cho bộ đội, về việc điều binh khiển tướng rất linh hoạt, đặc biệt là việc điều Trung đoàn 36 từ Tây Bắc về Phú Thọ làm cho địch đã thất bại lại càng thất bại thảm hại hơn.

Thứ hai về việc quán triệt sâu sắc và chấp hành rất nghiêm mệnh lệnh cấp trên của Trung đoàn; sự sáng tạo và quyết đoán của Trung đoàn trưởng Hồng Sơn trong việc chọn trận địa phục kích chọn điểm đánh vào đội hình của chúng trong điều kiện lực lượng của ta ít hơn của địch. Với Chính ủy Trung đoàn Lê Linh, tôi học được sự quán triệt sâu sắc ý định của trên (dù Trung đoàn trưởng vắng mặt, phải đi chuẩn bị trận địa, chuẩn bị ngay kế hoạch tác chiến tại thực địa) đã "không tham bát bỏ mâm", quyết tâm "thả con săn sắt, bắt con cá rô", không đánh ba đại đội địch dưới chân đồi sáng sớm hôm 16 để cùng Trung đoàn trưởng đánh trận phục kích Chân Mộng - Trạm Thản hôm 17 giành thắng lợi lớn hơn nhiều, làm địch thất bại đau hơn nhiều.


Thứ ba là tôi thấy rõ thêm tinh thần yêu nước nồng nàn, lòng thương yêu nhân dân sâu sắc của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn, ba ngày dêm hành quân liên tục, mệt nhọc, gian khổ vượt qua 200 kilômét đường dài, không một tiếng kêu ca, một lời oán thán, chỉ nghĩ đến việc diệt giặc, cứu dân. Tôi rất tin ở tình cảm thiêng liêng cao cả ấy của đồng đội mình và vì đó cuộc kháng chiến nhất định sẽ giành thắng lợi.


Thứ tư là sự hy sinh quên mình kể cả sẵn sàng nhận cái chết vì thắng lợi chung của đơn vị, của những anh em phục kích gần đường đã phải cắn răng chịu đựng sự đau đớn do vết thương, đã hy sinh trước giờ nổ súng của toàn trận địa. Tiêu biêu cho tinh thần đó là người chiến sĩ mới của Trung đoàn - Lê Văn Hiến, dù bị địch tra tấn rất dã man, chỉ nhận mình là một du kích để giữ bí mật cho toàn trận địa trước giờ nổ súng. Cảm phục tâm gương bất khuất của Lê Văn Hiến, bác sĩ Tôn Thất Tùng đã thực hiện những ca phẫu thuật rất công phu để phục hôi một phần lớn sức khỏe cho Hiến.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #47 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:37:20 am »

Trong buổi lễ mừng công của Trung đoàn sau Chiến dịch Tây Bắc, tôi bất ngờ nghe tên mình được tuyên dương vì đã đi sát đơn vị, phát hiện được những vấn đề có ích cho lãnh đạo và là Chiến sĩ thi đua của Cơ quan Chính trị Trung đoàn. Buổi bầu Chiến sĩ thi đua ở cơ quan, tôi vắng mặt vì xuống đơn vị công tác. Một việc nhỏ tôi đã quên nhưng anh em vẫn nhắc tới là một hôm hành quân trời mưa đường trơn, đồng chí Nho là một đồng chí cấp dưỡng lớn tuổi của Ban Chính trị bị ngã. Nồi niêu và những đồ vật đồng chí ấy gánh bị rơi vãi tung tóe, đơn vị thì đang hành quân gấp; tôi đã lùi lại cùng đồng chí thu nhặt gọn lại, giúp đồng chí tiếp tục lên đường. Đồng chí Nho là một nông dân nghèo, lớn tuổi, rất cần cù, chịu khó, luôn bảo đảm cho cơ quan cơm dẻo, canh ngọt; anh em rất quý mến đồng chí ấy. Nhưng chỉ một hành động giúp đỡ nhỏ của tôi đã làm đồng chí cảm động và là một trong những người đề cử tôi là Chiến sĩ thi đua của cơ quan. Nếu tôi ở nhà, tôi đã đề cử đồng chí ấy.


Dư vị ngọt ngào của Chiến thắng Tây Bắc chưa tan hết và vừa tổng kết, mừng công xong thì nhiệm vụ mới đã đến với Trung đoàn. Phát huy thắng lợi của Chiến dịch Tây Bắc, Đảng và Chính phủ ta cùng với Chính phủ kháng chiến Lào quyết định mở Chiến dịch Thượng Lào mùa Xuân năm 1953, tiến công Sầm Nưa nhằm tiêu diệt một phần sinh lực địch, giải phóng đất đai, xây dựng và mở rộng căn cứ du kích, đưa cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp của nhân dân Đông Dương tiến lên một bước mới. Cùng với một số đại đoàn chủ lực của Bộ, Đại đoàn 308 lại được lệnh lên đường tham gia Chiến dịch Thượng Lào.


Lần này, tôi không có vinh dự được đi cùng Trung đoàn tham gia chiến dịch mà phải ở lại hậu cứ ờ Phú Thọ cùng vài đồng chí cán bộ nữa của Đại đoàn làm một số nhiệm vụ khác. Chỉ huy hậu cứ toàn Đại đoàn lúc này là đồng chí Nguyễn Viên, một đồng chí lớn tuổi có nhiều kinh nghiệm lãnh đạo những công việc khá phức tạp của hậu cứ, trong đó có những việc có quan hệ tới việc xây dựng lâu dài đơn vị.


Việc đầu tiên tôi được phân công là phải đi Quảng Nạp - Thái Nguyên để dự một lớp tập huấn về công tác chi bộ đại đội. Trên đường đi, tôi gặp một số các đồng chí ở các đại đoàn bạn cũng được cử đến dự lớp tập huấn đó. Đến gần Quảng Nạp, phải đi qua một chiếc cầu gỗ rất ọp ẹp bắc qua một con suối. Từ mặt cầu đến lòng suối khoảng 5 - 6 mét, tôi đang bước trên một cây gỗ bắc dọc theo cầu thì trượt chân quăng cả người xuống lòng suối. Nhưng nhờ "phúc ấm của tổ tiên", dưới lòng suối có mấy hàng cọc bắt chéo nhau, quai ba lô của tôi mắc vào hai chiếc cọc bắt chéo nhau. Tôi bị treo lơ lửng nhờ hai cái cọc đó và chiếc quai ba lô, không rơi xuống những phiến đá lởm chởm ở lòng suối. Các đồng chí khác vội chạy xuống để đỡ tôi ra khỏi hai cái cọc; tôi qua được một tai nạn có thể gây chết người hoặc thương tật nặng. Lớp tập huấn chỉ tiến hành trong khoảng 10 ngày về các nội dung của công tác chi bộ do Cục trưởng Cục Tổ chức - Tổng cục Chính trị Đồng Sĩ Nguyên chủ trì cùng một cố vấn Trung Quốc. Lớp học cũng giúp chúng tôi một số nội dung bổ ích để bồi dưỡng cho các chi ủy viên và bí thư chi bộ đại đội qua những kinh nghiệm được Cục Tổ chức và Tổng cục Chính trị tổng kết. Ngày 29 Tết Nguyên đán thì lớp học bế mạc: Chúng tôi qua đèo Khế vào buổi chiều 30 Tết và dừng lại vào một nhà dân để trú nhờ. Chủ nhà là một cặp vợ chồng trẻ chưa có con. Chị có vẻ là người thành thị, còn anh trông có vẻ quê mùa đón tiếp rất niềm nở, bảy anh em chúng tôi ở các đơn vị khác nhau. Nhà ở vắng vẻ, kín đáo sau một lùm cây, rất xa các nhà khác. Anh chị chủ nhà nói là trước cũng ở bộ đội, làm ở Cục Quân báo vừa mới phục viên vì sức khỏe yếu, rất vui vì Tết có khách đến nhà đông vui hẳn lên. Hôm đó, có bao nhiêu bánh kẹo đón giao thừa anh chị đem ra thết chúng tôi hết. Sáng sớm đã thấy anh chị cắm lá cờ Tổ quốc trước cửa nhà, mời chúng tôi ra làm lễ chào cờ. Chúng tôi mời anh chủ nhà đã ăn mặc chỉnh tề làm chủ lễ. Sau một phát súng ngắn của một đồng chí mang theo, tất cả đều hát to bài "Quốc ca". Tiếng hát vang vọng giữa rừng vắng nghe thật thiêng liêng đầy cảm xúc. Sáng hôm đó, ông bà chủ thết chúng tôi bằng tất cả thức ăn đã chuẩn bị cho ngày Tết của gia đình. Chúng tôi ai có cái gì có thể làm quà kỷ niệm đều tặng anh chị với những lời chúc tốt đẹp nhất.


Một cái Tết thật giản dị và hết sức ấm cúng cho chúng tôi, những người xa nhà và cho cả anh chị. Chúng tôi từ biệt anh chị với tình cảm quân dân thật là trong sáng. Một ngày đầu Xuân ấm áp đáng nhớ dưới chân đèo Khế.


Tôi về đến hậu cứ của Đại đoàn ở Phú Thọ thì lớp học về công tác chi bộ đã được chiêu sinh. Một ban phụ trách gồm ba người được chỉ định trong đó có tôi, kiêm luôn giảng viên của lớp học. Phần lớn học viên đều là chi ủy viên, chính trị viên phó đại đội. Nội dung chương trình gồm những vấn đề cơ bản của công tác chi bộ được thực hiện trong khoảng ba tuần lễ. Trong khi toàn Đại đoàn đang chiến đấu gian khổ ở Thượng Lào, anh em được bố trí ở lại hậu cứ để học tập nên ai nấy đều tự giác để đạt được kết quả tốt nhất.


Lớp học kết thúc, tôi được đồng chí Nguyễn Viên cử về dự một lớp tập huấn về cải cách ruộng đất do tỉnh Phú Thọ mở, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh đầu tiên của tỉnh thực hiện những yêu cầu của cải cách ruộng đất địa phương.


Vì địa điểm ở gần thị xã Phú Thọ, quá xa, thời gian khai giảng đã đến gần, đồng chí Viên đã phải cho tôi mượn xe đạp riêng của đồng chí đi cho kịp. Lớp học quá đông, nội dung thì mới, giảng dạy cũng không được sâu lắm, nhưng tôi cũng phải cố nắm vững những vấn đề cơ bản để về làm việc.


Trở về Phú Thọ thì hậu cứ của Đại đoàn được lệnh trở về Thái Nguyên.

Lúc này Chiến dịch Thượng Lào đã kết thúc thắng lợi. Đại đoàn cùng toàn mặt trận đã tiêu diệt và bắt gần 2.800 tên địch, giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa, một phần tỉnh Xiêng Khoang và Phong Xa Lỳ (chiếm 1/5 diện tích nước Lào) và gần 30 vạn dân. Vùng giải phóng Lào được mở rộng nối liền với vùng giải phóng của ta.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #48 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:38:24 am »

Khi về tới Thái Nguyên, tôi và một đồng chí chính trị viên phó đại đội được cử phụ trách một đại đội thí điểm cho việc chỉnh quân chính trị gắn liền với cuộc vận động cải cách ruộng đất, có tham dự một cuộc đấu tranh tố khổ của nông dân với một địa chủ ở nơi trú quân để rút kinh nghiệm cho toàn đơn vị. Số anh em trong đại đội thuộc nhiều đơn vị của Trung đoàn được thu dung ở hậu cứ nên trình độ không đều. Nhưng nhờ sự hướng dẫn cụ thể của cấp trên nên việc học tập cũng đạt kết quả tương đối tốt.


Nội dung chính của việc giáo dục chính trị lần này là làm cho anh em nhận rõ được sự bóc lột của giai cấp địa chủ đối với nông dân lao động, có liên hệ thực tế với gia đình, địa phương mình, nâng cao giác ngộ giai cấp, đồng thời học những nội dung để tự xác định thành phần giai cấp cho mỗi người. Qua học tập, anh em xác định được lập trường quan điểm giai cấp, hiểu được nông dân lao động vì sao mà khổ, địa chủ phong kiến câu kết với thực dân đế quốc là kẻ thù của nông-dân, xác định Quân đội phải đứng về phía nông dân trong cuộc đấu tranh giai cấp này...


Nhưng vì là vấn đề mới, phức tạp nên không thể tránh khỏi một số hiện tượng ấu trĩ trong nhận thức của một số anh em.

Có thể nói, cuộc cải cách ruộng đất có ý nghĩa tích cực về chính trị và kinh tế đối với nông dân, tăng thêm sức mạnh của nhân dân ta trong công cuộc kháng chiến chống bọn xâm lược Pháp. Để được như thế, tất nhiên bộ máy giúp Trung ương Đảng thực hiện được chính sách đó phải có bản lĩnh thật vững vàng, có trình độ và không có những bọn cơ hội.


Nhưng nhìn chung, qua thực tế, kết quả của Trung đoàn, cuộc chỉnh quân về cải cách ruộng đất tuy có những thiếu sót nhưng kết quả về chính trị là to lớn. Cuộc chỉnh quân chính trị đã giúp cho cán bộ, chiến sĩ xác định đúng đắn lập trường quan điểm giai cấp; cán bộ, chiến sĩ xuất thân từ nông dân lao động nghèo khổ xóa bỏ được những mặc cảm, tự ti, vươn lên mạnh mẽ với tinh thần làm chủ để xây đựng đơn vị; tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí, đồng đội càng thêm gắn bó; tinh thần yêu nước, yêu nhân dân lao động, căm thù đế quốc, phong kiến càng sâu sắc.


Sau chỉnh quân chính trị, đơn vị bước vào huấn luyện quân sự theo chỉ thị của trên với những hình thức chiến thuật và chiến dịch theo phương hướng đánh tập đoàn cứ điểm và đánh vận động chiến lớn.


Theo chế độ, tranh thủ thời gian bộ đội bước vào huấn luyện quân sự, cán bộ chính trị được luân phiên nghỉ phép năm. Khoảng cuối mùa Hè năm 1953, từ Thái Nguyên, tôi được nghỉ phép về thăm nhà. Giặc vẫn chiếm đóng Kim Bảng và Quế nên tôi vẫn phải về Cốc. Đường đi khá xa nhưng đã quen, dễ đi hơn trước, lại là lính bộ binh nên với tôi chỉ là một cuộc rèn luyện sức khỏe. Tình hình Cốc Nội và Cốc Ngoại về cơ bản sau một năm không có gì thay đổi lớn. Chỉ có khác là đồng chí Lê Minh Lợi đã khỏi vết thương và tiếp tục công tác. Vì vậy, tôi phải nghỉ nhờ ở nhà bà con ngay sát cạnh đường 21.


Không khó gì để báo cho nhà tôi biết là tôi được nghỉ phép đã về Cốc. Ngay ngày hôm sau, Phúc đã vượt qua vành đai trắng ra với chồng, lại mang theo cả hai con trai. Tôi vẫn thấy việc đi như thế của vợ, mang theo cả hai đứa trẻ là rất nguy hiểm. Nhưng hình như với người ở trong vùng tề và những người buôn bán, đi lại giữa vùng địch chiếm đóng và vùng tự do của ta đã quen thuộc nên người ta không sợ gì nữa. Tôi rất mừng vì thấy vợ con đều khỏe mạnh và vẫn được bà con, họ hàng và gia đình đùm bọc, bảo vệ, sống an toàn dưới nanh vuốt của giặc. Phong, thằng lớn ở tuổi lên bốn đã nói sõi, tự đi được; còn thằng nhò - Đức còn phải bế và khá nặng, lúc đẻ được 3,8 kilôgam, nay đã được khoảng 10 tháng rồi. Lần nghỉ này vui hơn vì được gặp cả hai con, lại gặp anh Đinh Mạnh Bổng, anh con bác ruột và anh Hoàng Trọng Biểu, anh con cô ruột tôi cùng ở đây. Tuy đã vợ con cả rồi nhưng ba anh em vẫn vui đùa với nhau như trước kia. Anh Biểu là thợ xẻ, nặng tai nên hay bị anh Bổng trêu đùa. Máy bay dịch đến bắn phá, anh Biểu không nghe tiếng, thấy người khác chạy ra hầm cũng chạy theo. Một lần, mấy anh em đang ăn com, anh Bổng nháy tôi, tôi biết là anh định đùa anh Biểu. Anh Bổng bỏ bát co cẳng chạy, tôi cũng chạy theo, thấy thế, anh Biểu cũng lập tức bỏ bát đũa chạy theo chúng tôi. Mọi người phá ra cười, anh Biểu làu bàu: "Mấy thằng láo". Có lẽ, đấy cũng là một đặc điểm tính cách của người Việt Nam, trong gian khổ, chết chóc của chiến tranh, vẫn sống lạc quan như thế, nhưng nghĩ lại cũng dại dột.


Đã sắp hểt hạn nghỉ phép, cũng như những lần trước, Phúc và các con phải trở về với gia đình, với ông bà nội, ngoại trước khi tôi đi vài hôm. Theo đường 21 hướng về phía vành đai trắng, tôi dắt cu Phong, còn Phúc bế cu Đức (nó cứ đòi mẹ bể), vừa đi vừa phải đề phòng máy bay địch đến bắn phá hoặc pháo của địch bắn vào vùng tự do của ta. Mấy chị buôn bán lớn tuổi hơn chúng tôi, từ vùng địch vào, nói với nhau: "Mấy anh em nhà kia, bố mẹ đâu mà dắt díu nhau đi đâu thế, thật tội nghiệp!". Tôi và Phúc đều nghe thấy, nhìn nhau mỉm cười, thấy mình còn quá trẻ so với tuổi 24, 25 của mình. Phúc vốn là người vô tư, không biết đã nghĩ gì khi nghe câu nói ấy. Riêng tôi, tôi thấy thấm thìa là nếu không có gia đình, bố mẹ, bà con làng xóm cưu mang, giúp đỡ thì chắc tôi không thể yên tâm chiến đấu, còn Phúc cũng khó có thể nuôi nổi hai đứa con thơ trong hoàn cảnh chiến tranh, mà lại ở trong vùng địch.


Hai ngày sau, tôi nhận được một chiếc xe đạp nhãn hiệu "Super Globe" còn tốt, có đủ phanh, đèn của gia đình và Phúc mua cho tôi. Chiếc xe được gửi qua một người bà con tin cẩn đem từ vùng tề vào Cốc. Tôi thực sự cảm động vì việc đó tôi không yêu cầu mà chỉ nói chuyện là đường lên Việt Bắc bây giờ có thể đi bằng xe đạp được rồi. Với chiếc xe đạp đó có thể rút ngắn được thời gian đi đường nhiều ngày.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 143



« Trả lời #49 vào lúc: 25 Tháng Tám, 2023, 09:40:38 am »

Tôi ung dung đạp xe qua Chi Nê, đi tắt qua Gò Chè (Lạc Sơn) để ra đường 6 đi Hòa Bình, là con đường tắt tương đối an toàn; duy chỉ có Dốc Cun, cách thị xã Hòa Bình khoảng 12-13 kilômét là một trọng điểm oanh tạc của máy bay địch để ngăn chặn đường vận chuyển bằng cơ giới của ta từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên Việt Bắc và ngược lại. Ban ngày, không quân địch ném bom và bắn phá dữ dội, vì vậy muốn vượt qua Dốc Cun phải đi vào ban đêm. Đến gần đỉnh Dốc Cun, tôi vào một cái quán nghỉ, hỏi thăm về tình hình đường sá và hoạt động của không quân địch, đợi trời tối sẽ vượt qua. Được biết là hôm trước địch ném bom rất dữ dội, kể cả bom nổ chậm và bom bi suốt từ đỉnh dốc đến cuối dốc về phía Hòa Bình. Không thể biết được công binh ta khi nào thì khắc phục được nên tôi quyết định phải vượt qua ngay tối hôm đó. Đến đỉnh dốc thì trời đã tối mịt. Kiểm tra lại hai chiếc phanh trước, phanh sau và chiếc đèn pha của xe, kể cả đế giày để phanh bàng chân nếu phanh hỏng, tôi bắt đầu thả con dốc dài 12 kilômét xuống Phương Lâm, bên hữu ngạn sông Đà, đối diện với thị xã Hòa Bình. Suốt 12 kilômét dốc ban đêm, không một bóng người, thỉnh thoảng có một biển đề "Có bom nổ chậm", chắc của bộ đội Công binh ta làm, báo cho xe cơ giới của ta và khách bộ hành. Chiếc xe đạp lao vun vút xuống dốc, tôi tập trung toàn bộ sức lực và tinh thần vào tay lái và tay phanh để kịp xử trí tình huống khi cần. Sau khoảng gần nửa giờ cực kỳ căng thẳng vượt qua 12 kilômét, tôi đến được Phương Lâm an toàn. Vượt qua sông Đà bằng đò ngang sang thị xã Hòa Bình, tôi đạp thẳng về Tu Vũ, một cứ điểm cũ của giặc Pháp trong Chiến dịch Hòa Bình mà Trung đoàn 88 đã tiêu diệt một tiểu đoàn Âu - Phi ở đó đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951. Đến Tu Vũ đã gần nửa đêm, ở đó đã có lơ thơ vài cái quán, tôi vào một nhà còn le lói ánh đèn dầu để nghỉ và hỏi về hoạt động của địch. Chị chủ quán cho biết là địch vẫn cho máy bay bắn phá, còn địch ở phía Việt Trì thỉnh thoảng vẫn cho ca nô đi tuần gần đó. Thấy không được an toàn lắm, tôi tiếp tục đi đến gần sáng thì vào nghỉ ở một quán cơm, sâu trong vùng tự do của ta.


Đến đơn vị sớm hơn thời gian cho phép, tôi vẫn tham gia được đợt cuối của đợt huấn luyện quân sự.

Sau cuộc chỉnh quân chính trị và huấn luyện quân sự Hè - Thu 1953, sức chiến đấu của Trung đoàn đã tăng lên rất nhiều và sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Nhưng thật không may, thời gian này tôi bị bệnh sốt rét, nhất là sốt rét cách nhật quật đổ, sốt ly bì, sức khỏe giảm sút rất nhanh. Tôi lo lắng nếu đơn vị được nhận nhiệm vụ chiến đấu thì không đủ sức theo đơn vị. Trong Chiến dịch Thượng Lào, vì nhiệm vụ được phân công phải ở lại hậu cứ, không được tham gia rồi, nay phải ở lại thì buồn lắm. Nhưng được chăm sóc thuốc thang chu đáo nên ít lâu sau đã chấm dứt được sốt rét, tôi chỉ còn gầy yếu thôi. Các đồng chí cấp trên của đơn vị đã gợi ý cho ở lại hậu cứ, nhưng tôi quyết xin đi theo đơn vị. Tôi nhờ một người bán hộ chiếc xe đạp để lấy tiền bồi dưỡng sức khỏe. Các đồng chí lãnh đạo cơ quan thấy tôi khẩn khoản xin đi cùng đơn vị đành phải chấp thuận. Riêng tôi luôn quyết tâm phấn đấu tự bồi dưỡng giữ gìn sức khỏe để cơ quan không phải bận tâm về mình. Đồng chí Nguyễn Quân Sĩ1 (Anh Nguyễn Quân Sĩ sau này là Phó Giáo sư, giảng viên của Học viện Chính trị quân sự), một thanh niên Hà Nội, lúc đó là Trưởng Tiểu ban Tuyên huấn, là một trong những bạn thân của tôi băn khoăn: "Trông Đinh Mộng Tiên yếu quá, không biết có đi nổi không?".


Trong thời gian này, thực đân Pháp âm mưu tiến hành kế hoạch Nava, kế hoạch mang tên của viên tướng vừa được chính phủ bảo thủ, phản động Pháp cử sang làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Theo kế hoạch này, địch hòng tập trung toàn bộ lực lượng quyết chiến với chủ lực ta trên chiến trường miền Bắc giành thắng lợi quyết định.


Tướng Cônhi, Chỉ huy chiến trường Bắc Bộ cho sáu tiểu đoàn nhảy dù xuống Điện Biên Phủ; tăng cường sáu tiểu đoàn cho Lào đánh chiếm Mường Ngòi, Mường Khoa, xây dựng phòng tuyến sông Nậm Hu hòng nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ; tập trung vào việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm, coi đó là một điểm quyết chiến với chủ lực của ta với tham vọng đánh bại chủ lực của ta ở đây.


Ngày 6 tháng 12 năm 1953, theo đề nghị của Tổng Quân ủy, Bộ Chính trị đã quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: "Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng, không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được".


Các đại đoàn chủ lực 308, 312, 316, 304 và các đơn vị binh chủng pháo binh, công binh, cao xạ, thông tin được lệnh tiến vào mặt trận.

Đâu tháng 12 năm 1953, Trung đoàn 36 cùng Đại đoàn bắt đầu hành quân đi Chiến dịch. Phải qua mấy ngày hành quân, cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị mới đoán được hướng hành quân là Tây Bắc. Đêm đi, ngày nghỉ và học tập, mọi người mới được biết sơ bộ chiến dịch này được mang mật danh là "Trần Đình".


Trong lúc Đại đoàn đang hành quân thì các đơn vị của ta ở Lai Châu đã mở đầu cho cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954. Địch hoảng sợ tháo chạy về Điện Biên Phủ hòng bảo toàn lực lượng và tăng cường cho tập đoàn cứ điểm này. Quân ta được lệnh truy kích, tiêu diệt không cho bọn địch ở Lai Châu co cụm về Điện Biên Phủ và ngăn chặn đề phòng địch ở Điện Biên Phủ rút chạy.


Đại đoàn 308 được lệnh cấp tốc hành quân lên bao vây Điện Biên Phủ. Tới Sơn La, theo lệnh của Bộ Tổng Tham mưu, Trung đoàn 36 phải tạt ngay sang Pom Lót, gấp rút bố trí chặn không cho địch ở Điện Biên Phủ bỏ chạy sang Lào.


Đó là một nhiệm vụ rất nặng nề, trong bảy ngày đêm, Trung đoàn phải vượt qua 300 kilômét đường rừng núi hoang vu, vừa đi có chỗ vừa phải mở đường mới. Song với tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh, với quyết tâm không cho địch bỏ chạy, với truyền thống vận động thần tốc, Trung đoàn đã đến được vị trí bao vây tại khu vực Hồng Lếch trước một ngày, cố gắng theo đơn vị trong những ngày hành quân vất vả, đến nơi tôi lại bị sốt mấy ngày liền.


Vừa tới nơi, Cơ quan Chính trị Trung đoàn rất phấn khởi được biết tin đồng chí Dương Quảng Châu trong tổ quân báo đi trước của Trung đoàn mặc dù bị ốm đã cùng một chiến sĩ thông tin ở nhà trông lán trại dũng cảm, mưu trí bắt sống được một trung đội gồm 38 tên địch và thu toàn bộ vũ khí. Bọn tàn quân địch từ Lai Châu chạy về Điện Biên Phủ đi vào khu lán trại của tổ quân báo ta, Dương Quảng Châu đã bình tĩnh táo bạo dùng nghi binh, hạ mệnh lệnh ra bốn phía làm như quân ta rất đông đang bố trí phục kích, hô khẩu hiệu vận động địch đầu hàng. Bọn địch hoảng sợ hạ vũ khí. Châu lệnh cho chiến sĩ cùng ở trông lán với mình ra thu vũ khí của địch, còn anh giải thích chính sách khoan hồng của ta đối với tù hàng binh cho chúng nghe. Với chiến công này, Dương Quảng Châu đã được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và sau này được tuyên dương là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM