Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Bảy, 2024, 12:32:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 6634 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #30 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 07:46:21 am »

Đối với tù nhân thường, bọn giặc bắt lao động khổ sai rất cực nhọc bất kể già trẻ, ốm đau thế nào, dù là công việc rất nặng nhọc. Một bữa. chúng huy động khá nhiều tù nhân đi lao động, có cả bọn lính phản chiến của chúng nữa. Tôi đi riêng một tốp khá đông có cả người lính Đức tên Hans cùng đi. Anh Hoàng và anh Thái thì đi ở tốp khác. Tốp của tôi đi theo một hàng dọc trên đường phố Phan Rang ra ngoại ô. Tôi đi ở đầu hàng, bỗng nhìn thấy chị y tá đã tiêm thuốc cứu tôi hôm tôi bị ngất ở cứ. Chị đang gánh trên vai một gánh cháo bán rong, trông thấy tôi, vẻ xúc động, chị dừng lại một chút rồi đi tiếp. Đi một đoạn nữa, tôi gặp anh Châu Nài, Trung đội phó người Chăm cùng ở và chiến đấu đánh Nhật với tôi ở Phan Rang. Anh đứng sững, trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên một lúc rồi mới đi. Anh này là cai khố xanh đã đi lính cho Pháp nhiều năm. Sau Cách mạng Tháng Tám tham gia bộ đội, rồi giải ngũ. Với anh, tôi không ngại vì anh là người hiền lành, chất phác, quan hệ đối với tôi rất tốt. Tốp tù nhân có tôi trong đó đến một khu bọn giặc đang củng cố các công sự cũ. Tôi và anh chàng lính Đức Hans làm ở một lô cốt có một tên lính Pháp ở đó trông coi. Chúng tôi phải khuân những đoạn gỗ, hoặc những bao cát đắp thêm vào lô cốt. Tôi đang làm thì giật mình nhìn thấy Thảo, Tiểu đội trưởng của trung đội tôi đã chống lệnh không hành quân ra Nha Trang và đòi ở lại chiến đấu ờ quê. Tôi đã phẫn nộ tước lại khẩu súng anh ta đang giữ và để anh ta ở lại. Anh ta đang lảng vảng ở đó, không rõ làm gì và cũng nhận ra tôi. Không biết có đúng là anh ta chiến đấu ở quê nhà hay không? Chiến đấu làm gì, có phải là trinh sát của ta không hay theo giặc? Anh ta có vẻ để ý tôi, tôi hơi ngại anh ta và nghĩ rằng có thể có khả năng xấu nhất vì có những kẻ bất mãn cá nhân mà phản bội Tổ quốc. Tôi đang khuân gỗ và bao cát với Hans thì lên cơn sốt rất cao, chân tay rã rời không làm được nữa. Anh lính gốc Đức này vốn thô lỗ, tôi chờ đợi anh ta sẽ đánh đập hay ít nhất là cáu kỉnh với mình. Nhưng chuyện đó không xảy ra, anh ta ra hiệu cho tôi được ngồi nghỉ và một mình anh ta khuân củi hoặc bê bao cát đến lô cốt. Về trại giam, hôm ấy anh ta đem đến cho tôi một mẩu bánh mì lớn ra hiệu cho tôi ăn mà không nói gì. Hóa ra người lính lê dương gốc Đức mà tôi cho là thô lỗ, cục cằn ấy cũng biết cảm thông và có tình người. Mấy hôm sau cuộc gặp gỡ những người mà tôi gặp hôm đi lao động khô sai đó, tung tích tôi vẫn không bị lộ, địch vẫn không biết gì. Đặc biệt, cuộc chạm trán với Thảo, người Tiểu đội trưởng chống lệnh bị tôi tước súng, làm tôi lo ngại, cũng không đem lại một tai họa nào đối với tôi. Ngay buổi chiều hôm đi lao động ấy, tôi kể lại chuyện cho anh Hoàng và anh Thái nghe, thì được hai anh kể cho nghe một chuyện kỳ lạ. Buổi ấy, hai anh được chúng giao cho nhặt cỏ và dọn dẹp vệ sinh ở sở mật thám của địch. Lúc các anh đang lúi húi nhổ cỏ ở sân thì một người Việt Nam ngồi ở bàn giấy đi ra đến gần chỗ các anh làm và khẽ gọi tên hai anh làm các anh rất sửng sốt và có phần hốt hoảng. Lúc đó vắng người, anh ta nhìn quanh không thấy ai khác, liền kín đáo đưa cho anh Hoàng một số tiền và nói nhanh: "Các anh cầm lấy mà dùng" rồi quay ngay vào phòng làm việc. Các anh nói với tôi là không hề quen biết người này. Các anh đoán là khi các anh chỉ huy đơn vị ở Lâm Đồng, có lẽ người đó biết hai anh và đây có thể là người của ta cài vào hàng ngũ địch. Nhờ có số tiền đó, chúng tôi có thể gửi người mua cho những thứ cần thiết giúp cho cuộc sống của chúng tôi đỡ khổ một thời gian.


Có hôm, cả ba chúng tôi bị địch bắt đi kéo xe ba gác chờ gạo hoặc thứ gì đó trong bao bì, việc cũng khá nặng nhọc. Lân này bọn Tây giao cho mấy tên lính ngụy đi kèm. Lúc mệt quá, chúng tôi xin bọn lính ngụy cho dừng lại nghỉ. Một người dân ngồi trong một quán hủ tiếu gần đó đi đến chỗ bọn lính ngụy, xin với chúng cho ông ta đãi chúng tôi mỗi người một bát hủ tiêu. Mấy tên lính ngụy do dự, ông cứ khẩn khoản nói với chúng: "Anh em ốm đau, lại phải làm việc nặng nhọc, xin các anh cho đãi anh em chút ít để lấy lại sức...". Tốp lính ngụy đồng ý; tất nhiên chúng tôi, hằng tháng trời ăn toàn cơm gạo mốc và cá khô mục, không thể từ chối một món quà ngon như vậy từ tấm lòng nhân hậu của một đồng bào mình. Ông ta ngồi ở bàn bên, khi nghe chúng tôi nói tiếng miền Bắc, nét mặt trầm ngâm, im lặng nhìn chúng tôi ăn cho đến hết. Không nói ra nhưng chúng tôi rất xúc động trước nghĩa cử của một người dân không quen biết.


Cai quản chúng tôi ở nhà giam vẫn là những người lính phản chiến cũng bị giam ấy, trong đó có một anh người Tây Ban Nha. Khác với những người lính Tây khác, anh này người cao lớn, da trắng mịn màng, đeo kính trắng, đi đứng đĩnh đạc, ít nói. Một hôm anh ta trông thấy tôi thắt chiếc dây lưng da đẹp mà Phú tặng trước khi tôi đi học ở Trường Quân chính Việt Nam. Tôi không hiểu vì lý do gì anh ta rất thích nó và tỏ ý muốn mua lại. Tôi cũng tiếc vì đây là vật kỷ niệm mà Phú tặng tôi nhưng tôi thấy cho anh ta chiếc dây lưng có thể cũng là cách gây cảm tình với anh ta và có lợi cho anh em mình. Tôi cho anh ta và từ chối không lấy tiền. Từ khi nhận chiếc dây lưng đó của tôi, mỗi ngày một lần anh ra đem suất thức ăn của mình đến cho tôi, thường là một chiếc bánh mì và ít đồ hộp thịt hoặc cá. Đối với tù nhân, ăn uống cực kỳ kham khổ thì suất ăn ấy là rất quý giá. Tôi nhận và chia đều cho cả anh Hoàng và anh Thái. Việc đó liên tục diễn ra hằng ngày. Một hôm, anh ta đưa một gói cơm và thức ăn rất ngon cho tôi. Chúng tôi nhận ra ngay đó là gói cơm thăm nuôi của gia đình, người thân của một tù nhân nào đó đã bị địch giết hại hoặc chuyển đi nơi khác nên kiên quyết từ chối. Và cũng từ chuyện này, chúng tôi biết người lính lê dương gốc Tây Ban Nha ấy đã nhịn ăn đem suất ăn của mình để đền ơn cho tôi. Bữa sau anh đem suất ăn đến cho tôi, tôi nói: "Đủ rồi, cảm ơn anh, anh cũng cần ăn". Anh ta đặt tay lên vai tôi, vẻ mặt xúc động, từ đó mới thôi không đưa nữa.


Trong đội quân xâm lược của thực dân Pháp, có những người lính như anh lính người Pháp "tao là một người Pháp đích thực" đã giải thích cho tôi một cách đơn giản lý do vì sao Pháp xâm lược Việt Nam; như anh lính lê dương gốc Tây Ban Nha phân biệt rõ đâu là chính nghĩa, đâu là phi nghĩa chạy sang hàng ngũ ta ở Tri Thủy và đã bị trao lại cho giặc Pháp; như anh lính lê dương thô lỗ Hans gốc Đức cùng lao động với tôi đã lặng lẽ đem cho tôi mẩu bánh mì khi tôi bị sốt; như người lính Tây Ban Nha đã nhường suất ăn của minh cho tôi vì đã lấy của tôi chiếc dây lưng da - họ còn mang đậm tính người. Còn đại bộ phận bọn sĩ quan và bọn lính trong đội quân xâm lược ấy, mặc dù các đơn vị đều có những tuyên úy Thiên Chúa giáo, rao giảng kinh thánh, nhưng vẫn bộc lộ một cách trắng trợn bản chất khát máu, tàn ác, ăn cướp... của chúng. Đi đến đâu là chúng giết chóc, hiếp dâm, cướp của đến đấy, quên hết cả những lời Chúa dạy.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #31 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 07:47:24 am »

Tôi nhớ tới một việc tưởng là nhỏ không đáng kể, nhung tôi không bao giờ quên được. Một buổi sáng, anh Hoàng, anh Thái và tôi bị chúng giải đi đến một kho xăng để chuyển những thùng xăng bằng sắt cỡ 25 lít lên xe vận tải. Với sức lực của những bệnh nhân đang còn sốt rét và những bàn tay ghẻ lở mưng mủ, việc bốc một thùng xăng nặng lên xe quả là một cực hình. Nhưng chúng tôi vẫn phải nghiến răng làm nêu không sẽ bị chúng đánh đập. Đột nhiên, tên chỉ huy tốp lính đó trông thấy chiếc nhẫn bạc anh Hoàng đang đeo, chắc là một vật kỷ niệm của anh. Nó bắt anh tháo chiếc nhẫn ra nộp cho nó. Anh xoay mãi chiếc nhẫn ra khỏi ngón tay đeo nhẫn mà không được, chiếc nhẫn ở sát kẽ tay trong khi các đốt tay đều sưng lên và mưng mù, không thể kéo chiếc nhẫn ra được. Tên chỉ huy Tây có vẻ sốt ruột, nét mặt giận dữ. Anh cố rút chiếc nhẫn ra vẫn không được. Bỗng tôi nghe anh gọi tôi:

- Tiên! Em rút ra cho anh.

Tôi do dự, anh khe khẽ rít lên, như ra lệnh cho tôi:

- Mau lên! Không thì chết cả bây giờ.

Anh đưa bàn tay về phía tôi, tôi cầm chiếc nhẫn xoay xoay mấy cái, quay mặt đi, không đám nhìn nét mặt đau đớn của anh, rút rất mạnh chiếc nhẫn ra khỏi bàn tay anh. Máu mù tóe ra ờ ngón tay anh, cũng là lúc nước mắt tôi trào ra. Tôi đưa anh chiếc nhẫn, anh lau sạch nó bằng vạt áo và đưa cho thằng Tây. Nét mặt tên chỉ huy vô cảm, cực kỳ tàn nhẫn, nó thản nhiên cho chiếc nhẫn vào túi. Về sau này, khi nhớ tới anh Lê Hoàng, hình ảnh đầu tiên hiện ra trong tôi là câu chuyện tên chỉ huy Tây cướp chiếc nhẫn của anh mà tôi không thể quên một chi tiết nào.


Ở trong nhà lao Phan Rang, chúng tôi vẫn nghe được ít nhiều tin tức từ bên ngoài. Tin phái đoàn Phạm Văn Đông sang Pháp dự Hội nghị Phôngtennơblô, rồi tin Bác Hồ sang Pháp là khách mời của Chính phủ Pháp, tin phái đoàn của đồng chí Võ Nguyên Giáp tới Đà Lạt thương lượng với bọn Pháp. Những tin ấy đến với những người tù làm lóe lên những tia hy vọng được trả lại tự do. Nhưng mặt khác, nói thật lòng là chúng tôi cũng không tin lắm ở kết quả của những cuộc thương lượng này vì chúng tôi thấy rất rõ bản chất của bọn thực dân Pháp qua cách ứng xử của bọn chúng đối với ta trên chiến trường.


Rồi một hôm, chúng tôi thấy lão Tây già phụ trách nhà lao đến phòng giam chúng tôi, lần này không thấy Tân đi theo. Hắn đến hỏi vài người:

- Quê ở đâu?

Vài anh em trả lời:

- Quê ở Bắc Kỳ.
   
Lão ta nhún vai nói:

- Ô, phải rồi, Bắc Kỳ là chỗ dựa của Việt Minh mà (Oh! Oúi, le Tonkin est le soutien des Việt Minh) - Rồi lão ta nói tiếp - Người ta sẽ thả các anh cho về Bắc Kỳ. Chả lẽ người ta lại để các anh chết thối rữa ở đây à?


Chúng tôi hoàn toàn không tin ở câu nói thả chúng tôi về miền Bắc. Bởi vì từ lâu, khi vào trại giam, chúng tôi được nghe nhiều lần chúng đưa tù nhân ra biển và bắn chìm thuyền để thủ tiêu. Chúng tôi cho rằng mình cũng khó thoát khỏi số phận như thế và sẵn sàng chờ đợi cái chết đến với mình.


Một đêm tối trời, có ba cái xe tải lớn đến nhà lao. Trên hai chiếc xe, có khoảng một trung đội lính Pháp ăn mặc gọn ghẽ, trang bị súng đạn đầy người, do một sĩ quan khá trẻ chỉ huy. Nét mặt viên chỉ huy có vẻ đăm chiêu, không dữ dằn như những tên khác mà tôi thường thấy. Chúng lùa chúng tôi khoảng 30 người mà chúng cho là người miền Bắc lên chiếc xe thứ ba. Đoàn xe xuất phát, xe chúng tôi đi giữa, đi về phía Nam. Đi khá lâu, khoảng đến nửa đêm thi xe đến một bãi biển. Nghe thấy tiếng xì xào trong đám tù nhân: "Đây là Cap Padaran" ở Phan Thiết, có vài người trong số tù nhân nhận ra địa điểm này.


Một không khí im lặng đáng sợ, ảm đạm, không ai nói với ai câu gì. Xa xa ngoài khơi cách bờ khoảng một kilômét, có hai chiếc thuyền đi biển khá lớn được neo ở đó. Bọn lính dùng xuồng nhỏ của dân địa phương đưa số tù nhân xuống một chiếc thuyền, còn chiếc kia dành cho đội quân áp giải. Thuyền dành cho tù nhân có năm đến sáu người dân làm ở đó. Anh em nói với chúng tôi chiếc thuyền này là của một người chủ ở Phú Yên chở hàng vào phía Nam, bị quân Pháp bắt. Hàng bị chúng tịch thu, còn người chủ bị chúng bắt, không biết bây giờ ở đâu. Số anh em này đều là người làm thuê và được biết là bọn Pháp cho anh em trở về Phú Yên cùng với chiếc thuyền này.


Sau khi tất cả đã lên thuyền, cả hai thuyền đều nhổ neo, kéo buồm lên đường hướng ra phía Bắc. Đi độ khoảng hai giờ đồng hồ thì chiếc thuyền chở trung đội lính áp giải rẽ vào bờ. Chúng tôi vẫn chưa yên tâm, nghĩ rằng đến sáng rõ, địch sẽ cho máy bay bắn chìm thuyền để thủ tiêu chúng tôi. Tôi không được ngủ cả đêm, người rất mệt, lại buồn đi đại tiện. Sóng ngoài khơi hơi cao, thuyền dập dềnh, muốn đi đại tiện phải ngồi ở mạn thuyền và cho xuống biển. Người yếu, sóng to, các anh sợ tôi rơi xuống biển phải ngồi cạnh giữ chặt lấy tôi cho tôi đi đại tiện. Sáng ra, tôi lại lên cơn sốt và ít có lúc thức tỉnh. Tôi mê mệt ở trên thuyền mấy hôm, ăn uống ra sao, ỉa đái thế nào tôi không nhớ được. Không biết vì sao thuyền không bị bắn chìm, cũng chẳng ai rõ lý do. Rồi chiếc thuyền của chúng tôi cũng vào được bến Phú Yên. Tôi được các anh đánh thức dậy và như người vừa qua một cơn ác mộng dài, tỉnh ra mới biết mình thoát chết. Tất cả mọi người trên thuyền bảo nhau phải đến trình diện tại Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh. Chủ tịch tỉnh, một người còn trẻ, dáng hoạt bát, nghe nói tên là Vương Duy Ái, ra gặp chúng tôi với thái độ thông cảm và thu xếp cho chúng tôi ăn nghỉ chu đáo. Anh Hoàng thay mặt cho tôi và anh Thái khai báo với Ủy ban về tình hình của chúng tôi. Sau khi đã nắm vững tình hình của chúng tôi, đại bộ phận những anh em còn khỏe được đưa vào tiếp tục chiến đấu và công tác trong Quân đội.


Chỉ hơn hai tháng bị địch bắt và giam cầm, hành hạ tại nhà lao Phan Rang, tôi mới thấm thía câu "Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại". Đây là một trong những thử thách nếu không muốn nói là thử thách lớn nhất của đời tôi khi chỉ mới 16, 17 tuổi đời. Song chính nhờ thử thách đó mà tôi đã rèn luyện được cho mình sức chịu đựng trước những gian khổ, nguy hiểm chết người tưởng chừng không thể vượt qua nổi. Nhưng đấy chỉ là một mặt, mà mặt khác là tôi đã thu hoạch được những nhận thức mới. Đó là lòng yêu nước, sự hy sinh cao cả, bản lĩnh kiên cường, tình cảm cao thượng của những người như anh chiến sĩ bị địch đánh đập, tra tấn trước những người tù ở nhà lao Phan Rang; như những anh em trong Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Ninh Thuận. Đó là những người dân đã đùm bọc, che chở cho chúng tôi trước mặt kẻ thù. Đó là những đồng chí mình hoạt động thầm lặng trong lòng địch, hướng về Tổ quốc. Đó là những người lính trong đội quân xâm lược nhận rõ chính nghĩa của ta, phi nghĩa của địch đã phản chiến hoặc tránh những hành động tàn bạo, độc ác với nhân dân ta.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #32 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 08:18:11 am »

Với tôi, lúc thử thách quyết liệt nhất lại là lúc lòng tin ở thắng lợi của cách mạng, của dân tộc mình được nâng cao và được củng cố vững chắc.

Ba chúng tôi sức khỏe kém, được giới thiệu ra Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam tại Quảng Ngãi do đồng chí Nguyễn Sơn làm Chủ tịch giải quyết.

Sau khi được kiểm tra sức khỏe, anh Hoàng và anh Thái được tiếp tục ở lại Quảng Ngãi để điều trị, an dưỡng và nhận công tác do Ủy ban quyết định sau. Còn tôi vì bệnh nặng quá, sức quá yếu nên được quyết định ra điều trị tại Huế và được nghỉ dài hạn. Quyết định do Chủ tịch Nguyễn Sơn ký. Tôi bịn rịn chia tay hai anh với một cảm giác rất cô đơn, chỗ dựa tinh thần vững chắc của tôi trong những giờ phút gian nguy nhất, trong những thử thách quyết liệt nhất khi bước vào đời mà tôi chưa từng trải qua. Ở hai anh, tôi học được những phẩm chất cao quý: Tinh thần kiên cường, bình tĩnh trong mọi tình huống, tình cảm bao la, cao thượng, tình yêu thương sâu sắc đối với đồng chí, đồng đội. Với hai anh, tôi không những coi như những người anh thân thiết mà còn là những người thầy đáng kính trong những bước đầu tiên vào đời của mình.


Lúc đến Ủy ban để lấy giấy giới thiệu ra Viện Quân y Mang Cá - Huế và tiền trợ cấp đi đường, tôi không biết đường vì trước đó chỉ có anh Hoàng đến Ủy ban giải quyết những việc chung cho chúng tôi. Đi trước tôi là một "anh" bộ đội, tôi rảo bước đến đằng sau anh nhờ anh chỉ đường. Vừa mới nói được hai tiếng "Anh ơi..." thì một giọng nói the thé quát lên: "Anh, anh cái gì...". Một cái đầu tóc cắt ngắn như con trai quay lại. Trời! Té ra là một cô gái. "Bà" ấy hầm hầm nhìn tôi, vẻ mặt không bằng lòng. Tôi vừa buồn cười, vừa sợ vẻ mặt hầm hầm của "bà", không dám nói gì thêm, phải hỏi người khác tôi mới đến được Ủy ban. Sau mới biết ở Quảng Ngãi có phong trào của chiến sĩ gái trong bộ đội cắt ngắn tóc để tỏ rõ là mình cũng mạnh mẽ và bình đẳng với nam giới. Cách mạng đem lại nhiều cái mới, nhưng cũng có cái mới thật lạ và bất ngờ!


Tôi lên đường ra Huế với một tâm trạng trống rỗng, một phần vì xa hai anh, chẳng có ai để nói chuyện, một phần như một người vô định không biết sau này mình sẽ đi đến đâu. Tôi đến Viện Quân y Mang Cá - Huế, được bố trí nằm trên tầng hai. Ở đây ăn uống tốt hơn, ngon hơn nhiều các nơi khác theo chế độ cho thương, bệnh binh, nhưng giường thì rất nhiều rệp. Trong hàng ngũ nữ y tá có nhiều Công Tôn Nữ, Công Tằng Tôn Nữ trong họ hàng triều Nguyễn. Các cô xinh đẹp, duyên dáng, ăn nói ngọt ngào, mặc áo choàng, mũ y tế trắng muốt. Tôi thì vừa ghẻ lở, lại thêm sâu quảng ở chân, chân bắt đầu phù, vẫn còn sốt rét. Hằng ngày, tôi được tiêm thuốc sốt rét, được rửa những mụn ghẻ lở, nhưng sợ nhất là lúc các cô cầm kéo và bông rửa những chỗ sâu quảng. Có lúc đau quá, tôi xuýt xoa, các cô động viên tưởng như các chiến sĩ đã từng không sợ bom đạn thì không được quyền kêu đau nữa, nên rửa càng mạnh tay hơn.


Một buổi trưa, tôi ngủ rất say, lúc tỉnh dậy tôi thấy một anh hơn tôi độ vài tuổi ngồi cạnh tôi. Thấy tôi đã tỉnh, anh nói với tôi là tôi bị rệp đốt nhiều quá, anh đã ngồi giết rệp cho tôi ngủ. Tôi cảm ơn anh và qua chuyện trò với anh, tôi được biết anh chiến đấu ở một vùng thuộc Tây Nguyên và sắp đi ra Bắc. Biết anh sẽ đi qua ga Phủ Lý, tôi vội viết một lá thư gửi về cho bố mẹ là tôi đang ốm nằm ở Viện Quân y Mang Cá - Huế. Tôi rất yên tâm là thư sẽ đến nơi với sự giúp đỡ của người đồng đội tốt bụng đó, nhưng lại quên hỏi tên anh.


Nằm ở Viện được ít lâu thì bệnh sốt rét chấm dứt, ghẻ lở cũng đỡ ít nhiều, riêng sâu quảng thì còn nhiều chỗ chưa khỏi, bệnh phù thũng nhất là ở hai chân chưa có chuyển biến. Vì sốt ruột, muốn được về nhà sớm, tôi đề nghị được ra Viện. Đề nghị được chấp nhận, Viện cho tôi một giấy ra viện và một giấy giới thiệu tôi ra trụ sở của Hội giúp binh sĩ bị nạn Huế xin tiền trợ cấp đi đường về ga Phủ Lý. Đến trụ sở hội, tôi nhanh chóng được nhận một số tiền tạm đủ để về được đến Phủ Lý. Ngồi trên tàu, hai cái chân phù của tôi bị xuống máu càng phù to hơn và rất nhức nhối, nhiều lúc phải co chân lên để khỏi bị máu dồn xuống. Đến ga Ninh Bình thì được chuyển sang ô tô ray chạy tiếp đi Hà Nội.


Vừa lên xe ngồi xuống ghế thì nghe thấy tiếng gọi của một người ngồi ở ghế bên:

- Tiên ơi, Tiên ơi, sao cậu lại như thế này?

Tôi nhìn sang thì ra là Tế, một anh bạn quê ở ngoại ô thị xã Ninh Bình cùng học với tôi năm thứ nhất ở Trưởng thành chung Nam Định. Tế nhắc lại:

- Sao lại thế này?

Tôi đã rất mệt nên trả lời giọng rất yếu:

- Mình chiến đấu ở Nam Trung Bộ, bị ốm nên được nghỉ, thế Tế đi đâu thế?

Tế trả lời:

- Mình nghi bị lao nên đi Hà Nội để kiểm tra, nếu cần phải ở lại để điều trị luôn - Trả lời xong, Tế rút ra một đồng bạc Đông Dương đưa cho tôi - cầm lấy mà đi đường về nhà.

Tôi vốn khái tính, không muốn phiền người khác, nên không nhận:

- Cậu phải chữa bệnh, giữ lấy mà chữa bệnh, mình sắp về đến nhà rồi.

Tế gặng lại một lần nữa, nhưng tôi vẫn không nhận. Tôi đã chẳng biết rút kinh nghiệm vì cái bệnh khái tính thái quá, không muốn phiền người khác nên suýt chết ở bờ rào hôm ông Chín Rỗ đưa tôi đến quân y ở cứ khi ở Tri Thủy. Đến ga Phủ Lý, tôi chào từ biệt Tế rồi xuống ô tô ray một cách rất khó khăn. Xuống khỏi xe, đi được dăm bước, tôi không thể lê đi được nữa, ngồi bệt xuống nghỉ. Từ ga đến trại Vệ quốc quân chỉ cách khoảng 200 mét. Tôi lê vài bước lại phải ngồi xuống nghỉ. Người đi đường có lẽ thấy tôi như một kẻ ăn xin ốm yếu nên cũng chẳng để ý làm gì. Cố gắng lắm, phải lê bước một lúc lâu tôi mới đến được trạm gác. Đưa tờ giấy phép có chữ ký của tướng Nguyễn Sơn và giấy ra viện cho đồng chí bộ đội gác và nhờ anh chỉ cho chỗ văn phòng của tiểu đoàn. Lê đến nơi, qua cửa tôi thấy một người trẻ tuổi, mặt mày sáng sủa, mặc bộ quần áo kaki vàng vải ngoại rất đẹp ngồi trước bàn. Tôi đến trước bàn cố đứng vững chào anh ta rồi đưa giấy tờ cho anh ta. Tất nhiên trong giấy có ghi rõ chức vụ của tôi là Chính trị viên trung đội. Anh ta hỏi không được lịch sự lắm: "Anh muốn gì?".
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #33 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 08:19:28 am »

Tôi nói tôi muốn xin một bộ quần áo bộ đội và tiền đi đò về Quế. Sở dĩ tôi xin một bộ quần áo tử tế để giữ uy tín cho Quân đội vì quần áo tôi đang mặc nhếch nhác quá. Anh ta nói:

- Quần áo thi tiểu đoàn không có, còn từ đây đến Quế không xa lắm, anh đi bộ cũng được.

Uất ức lên đến tận cổ, tôi quắc mắt nhìn thẳng vào mặt anh ta và chỉ vào đôi chân của mình, bất biết anh ta giữ chức vụ gì:

- Anh hãy nhìn đôi chân của tôi đây này!

Không thèm chào anh ta, tôi quay ngoắt ra cửa, quên cả đôi chân phù rất đau đớn. Vừa đi tôi vừa nghĩ những hạng công tử bột như này, nếu trực tiếp cầm súng chiến đấu thì đồng đội không ai có thể tin được. Đang đi ra cổng trại, có tiếng gọi giật giọng:

- Cậu Tiên ơi, sao cậu lại như thế này?

Tôi nhìn lên thấy Phan, cháu họ gọi tôi bằng cậu tuy hơn tôi hai tuổi, mẹ nó là chị con cô con cậu ruột với tôi. Lúc đó, những giọt nước mắt uất ức của tôi mới trào ra không thể kìm lại được. Nó nói tiếp:

- Anh Nhạc, Đại đội trưởng ở trong kia kìa, cậu ạ!

Nó biết tôi là bạn của Đỗ Đình Nhạc, em đồng chí Đỗ Đình Phát, Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa ở huyện Kim Bảng. Nhạc cũng là người cùng học với tôi ở Trường Quân chính Việt Nam và cũng là bạn học cũ của tôi ở Trường Kiêm bị Kim Bảng. Nó chạy đi tim Nhạc. Chi một thoáng, Nhạc đi nhanh ra chỗ tôi, nhìn tôi cảm động, dắt tôi vào, đưa tôi đi tắm, lấy một bộ quần áo bộ đội còn mới của Nhạc cho tôi thay. Tôi hỏi Nhạc về người ngồi ở bàn giấy và nói qua chuyện diễn ra ở đó cho Nhạc nghe. Nhạc nói với tôi: "Nó là thư ký của tiểu đoàn thôi". Cùng lúc ấy, anh Nguyễn Du, là người đã xử hai tên mật thám trước khởi nghĩa ở Kim Bảng, nay là Tiểu đoàn phó vừa đi công tác về. Anh và Nhạc dắt tôi ra một cửa hàng gần trại cùng ăn phở. Ăn xong, chùng chình mãi đã hơn 9 giờ tối, Nhạc dắt tôi ra bến đò Phủ Lý, thuê đò dọc để tôi về Quế. Đò đi ngược dòng mãi đến nửa đêm mới về tới nhà. Bước chân lên bến đò thân quen, chỉ cách nhà khoảng 100 mét, lòng tôi rộn ràng những cảm xúc đan xen thật khó tả. Tòi bước lên thềm vừa gõ cửa vừa nghẹn ngào gọi:

- Thầy ơi!

Có ánh đèn dầu Hoa Kỳ le lói hắt ra và tiếng guốc gỗ. Cửa hé ra, tôi chưa kịp nói câu gì thì bố tôi đã hỏi:

- Ông là ai, có việc gì thế ạ?

Lúc đó, tôi không thể nói được một câu dài hơn:

- Con đây mà, Tiên đây mà!

Tôi cảm động, thấy chân tay ông cuống quýt, gọi mẹ tôi:

- Bà ơi, bà ơi, Tiên nó về rồi!

Một hành động tôỉ chưa từng thấy ở ông bao giờ. Ngọn đèn Hoa Kỳ được vặn to lên, ông bà ngắm nhìn tôi một lúc lâu, không nói gì và chuẩn bị cho tôi đi ngủ.

Sáng hôm sau, mọi người mới biết tin tôi về. Cả đứa em gái tôi ngủ say, mãi sáng mới biết. Bà con đẽn thăm rất đông. Hôm đó, đủ mọi chuyện, nhưng ai cũng mừng cho tôi còn sống vì có nhiều người cho là tôi đã hy sinh rồi. Mẹ tôi cho biết vừa nhận được thư của tôi, đã chuẩn bị đủ tiền, định hôm sau đi tàu vào Huế để đón tôi về. Ông Lê Minh Đường, một cán bộ Việt Minh hoại động tại địa phương đến nói riêng với tôi: "Nghe tin cậu Nam tiến, sợ ông ấy (bố tôi) sốc, tớ phải nói dối là nó nhận một việc gì đó rất quan trọng bên cạnh Cụ Hồ nên không thể về nhà được". Anh Lê Minh Lợi là Huyện ủy viên Huyện ủy Kim Bảng nói với tôi: "Nghe tin cậu hy sinh, nếu đúng, nhiều người có ý kiến đề nghị lấy tên cậu để đặt tên cho Trường Kiêm bị Kim Bảng". Vài hôm sau, đồng chí Đỗ Mười, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam về công tác ở Kim Bảng cũng ghé qua vào thăm sức khoẻ tôi. Tiếp đó, chị Lê Thị Hiền, Bí thư Huyện ủy cũng đến chơi, chắc thấy tôi còn quá trẻ nên bảo khi nào khỏe thì lên huyện làm công tác thiếu nhi... Trong niềm vui chung của gia đình, họ hàng và sự ân cần thăm hỏi, động viên của mọi người, tôi cũng thấy phấn khởi nhưng bên cạnh đó nhiều lúc cũng cảm thấy tiếc và buồn vì chiến đấu chưa được bao lâu đã phải quay về.


Ở nhà, tôi được bố mẹ chăm sóc tốt nên chấm dứt được sốt rét, ghẻ lở khỏi, không còn phù thũng nữa nhưng bệnh sâu quảng còn hành hạ và ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe, đặc biệt là một nốt chỉ to hơn hạt ngô một chút nhưng rất sâu ở kẽ ngón chân cái. Như thành quy luật, từ 9 đến 10 giờ đêm cho đến sáng, nốt sâu quảng ấy gây đau nhức không thể nào ngủ yên; việc phục hồi sức khỏe tiến triển rất chậm. Mọi thứ thuốc Tây đặc hiệu cũng không có tác dụng gì. Mẹ tôi theo dõi thấy tôi mất ngủ nhiều đêm, bà rất băn khoăn. Một hôm mẹ tôi bảo: "Nghe nói bà cu Thịnh chữa bệnh này giỏi lắm, thử đến chữa xem sao". Tôi biết rõ bà này là một bà đồng cốt, rất mê tín nên không tin lắm nhưng vì quá đau và cũng là để mẹ vui lòng nên cũng theo mẹ đến nhà bà cu Thịnh. Bà mời mẹ tôi ăn trầu và cũng lấy một miếng bỏm bẻm nhai. Bà xem chỗ nốt sâu quảng rồi im lặng. Bà lấy một loại hạt gì đó để vào một cái đĩa rồi nhổ quết trầu vào đó. Tôi nhăn mặt nhìn nhưng bà trông thấy ngay cái nhăn mặt của tôi. Bà ngưng tay trộn, nhìn thẳng vào mặt tôi bốp chát:

- Này, tôi nói cho anh biết, nếu anh không tin tôi thì tôi không chữa cho anh nữa.

Tôi đấu dịu cười, mẹ tôi thì nói:

- Bà cứ chữa cho cháu đi.

Bà vê vê tiếp rồi đánh chỗ hạt trộn với cốt trầu đắp vào nốt sâu quảng ở kẽ chân cho tôi và buộc lại.

- Anh không được vất đi, khi nào nó khô bong ra thì anh lên đây tôi đắp miếng khác cho - Bà dịu giọng vì thấy tôi cười và chịu để yên cho bà làm thuốc.

Thật kỳ lạ, không thể tưởng tượng nổi, đêm hôm đó tôi hoàn toàn không thấy đau nhức nữa, ngủ yên một mạch từ tối đến sáng. Đến trưa, chỗ thuốc đó khô và bong ra, tôi nhìn thì thấy ngón chân bớt sưng, nốt sâu quảng đầy lên gần như bình thường. Đến miếng thứ hai thì vết sâu quảng ấy lên da non và hoàn toàn khỏi, không phải dùng đến miếng thứ ba. Tôi hôi mẹ tôi: "U cỏ biết cái hạt bà cu Thịnh trộn với quết trầu đó là hạt gì không?". Mẹ tôi bảo là hạt cà độc dược.


Tôi nghĩ đó là thần dược trị bệnh sâu quảng (sau này khi là Chính ủy của Trung đoàn 88, tôi đã nói với Chủ nhiệm Quân y Trung đoàn và Đại đội trưởng Quân y về bài thuốc này. Các đồng chí ấy đã dùng những nguyên liệu trên ấy chế biến thành một loại dung dịch bôi lên vết sâu quảng và chữa khỏi được bệnh này cho nhiều người dân ở các nơi đóng quân của đơn vị).


Từ hôm chữa khỏi sâu quảng, ngủ được nên sức khỏe của tôi hồi phục rất nhanh. Các chị tôi đến chơi nói:

- Cậu đạo này đã có da có thịt, mông đã thấy đầy đầy rồi đấy, thôi lấy vợ đi.

Tưởng các chị nói đùa cho vui nhưng đó là những lời thúc giục thật sự và cũng là điều mong mỏi của bố mẹ tôi.

Ở xế trước cửa nhà tôi có một bà góa trạc tuổi bố mẹ tôi là bà Hậu Mềm. Bà có một gánh hàng vải lớn và có ruộng cho phát canh thu tô, lại hà tiện nên giàu có. Trước đây, bà có anh con cả tên là Mỏng và hai cô con gái, cô lớn tên là Vịt, cô thứ hai là Ngỗng. Bà định hỏi chị ruột thứ hai của tôi cho anh Mỏng nhưng rồi anh này chết yểu. Ít lâu sau, tiếp đến cô Ngỗng cũng theo anh về với lổ tiên. Bố mẹ tôi vì muốn giữ chân tôi và đặc biệt là muốn có cháu nội nối dõi nên tìm mọi cách thuyết phục tôi lấy cô Vịt. Bố tôi là người rất tiến bộ nhưng ông vẫn chưa thoát khỏi "đạo lý" "bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại" (hiểu nôm na là: Người không có hiếu có ba điều, không có con trai nối dõi là điều lớn nhất). Tôi không chịu cái "đạo lý" lạc hậu ấy mà bị ép lấy vợ sớm và lấy người mình không yêu nên kiên quyết chống lại. Ông lại hiểu tôi không bằng lòng vì cái tên Vịt của cô ấy xấu, nên ông dỗ tôi: "Hay đổi tên cho nó là Việt". Bị thúc ép nhiều, đôi khi tôi cũng thấy phiền lòng dù tôi vẫn rất tôn trọng bổ mẹ nhưng đôi lúc nghĩ mình cũng phải chiều lòng bố mẹ, và muốn "bay nhảy" cũng cần phải kiếm lấy một cô vừa ý, nên tôi cũng bắt đầu chú ý quan sát để chọn lấy một cô ở trong vùng mình. Cô Tuyết con ông giáo Lanh, bạn thân của bố  tôi, đã cùng học vỡ lòng với tôi và chị Chấn (Kim) thuở nhỏ thì lại hơn tôi tới hai tuổi và không đẹp. Ông Nho Kỷ cũng là bạn của bố tôi có cô con gái tên là Ngọ, kém tôi một tuổi, không hiểu sao từ lúc học lớp dự bị, sơ đẳng ở trường huyện, tôi đã bị nhiều người trêu bằng câu ca dao:

   "Nhà ông Nho Kỷ có vại nước trong
   Có cô con gái phải lòng cậu Tiên"

Cũng chẳng hiểu vì lý do gì, ông Nho Kỷ thắt cổ tự vẫn, việc đó gợn lên trong lòng tôi một sự nghi ngại khó hiểu. Cô thứ ba mà tôi chú ý hơn là cô Ôn, con ông giáo An ở làng Đanh Xá, quê mẹ tôi. Cô Ôn cùng học với tôi ở lớp Nhất và cùng thi đỗ Sơ học Pháp - Việt (Xéctifica). Ôn xinh xắn, nhưng không có duyên lắm, vẻ mặt lúc nào cũng hơi buồn. Những cô gái ấy chỉ nằm trong suy nghĩ của tôi thôi chứ tôi chưa thổ lộ với ai.


Trong khi đó, sức khỏe đã dần dần được hồi phục, vốn tính hiếu động, lại là người đã tham gia hoạt động cách mạng, tham gia chiến đấu ở miền Nam, tôi thấy mình phải tiếp tục hoạt động, không thể ngồi yên.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #34 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 08:21:54 am »

Chương bốn
THAM GIA CUỘC TRƯỜNG CHINH CHỐNG THỰC DÂN PHÁP


Sau Hiệp định Sơ bộ (6.3.1946), giặc Pháp gây hấn ở Hà Nội và một số nơi khác. Chúng chưa từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tôi thấy minh là một người từng tham gia khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám ở quê nhà, đã từng Nam tiến cầm súng chiến đấu với giặc ở cực Nam Trung Bộ nên không thể nửa đường bỏ dở. Cũng đúng lúc đó, Ban chấp hành tự vệ chiến đấu huyện vận động tôi đi huấn luyện cho dân quân tự vệ, tôi vui vẻ nhận lời. Tôi mượn tập vở của anh Nguyễn Duy Tâm, anh rể tôi đang làm nhiệm vụ huấn luyện dân quân ở Nam Định, soạn những nội dung huấn luyện về kỹ thuật bắn súng, ném lựu đạn, về chiến thuật (chủ yếu là đánh phục kích nhỏ). Thực tế lúc đó chỉ có một số nơi có phong trào khá và có điều kiện mới yêu cầu mở lớp như xã Khả Phong, thôn Bút Sơn, xã Thanh Sơn. Thời gian huấn luyện khoảng một tuần đến 10 ngày. Nhưng đó chỉ là hoạt động bán chuyên nghiệp của tôi và cũng không liên tục, phần lớn thời gian tôi vẫn ở nhà và hoạt động ở làng.


Đầu tháng 3 năm 1947, thực dân Pháp dùng bộ binh và cơ giới từ Hà Nội đánh ra một số vùng của tỉnh Hà Đông và Hà Nam để giải vây cho quân lính của chúng ở Nam Định đang bị quân dân Nam Định đánh mạnh, nhất là ở thành phố. Đường 21, đường 22 qua huyện Kim Bảng đều có chiến sự lan tới. Theo yêu cầu của cấp trên, dân quân tự vệ các làng xã phải tăng cường canh gác, chú trọng phát hiện, đề phòng địch tiến công để bảo vệ nhân dân. Hầu hết dân ở các vùng giặc có thể hành quân qua đã tản cư đến những nơi an toàn, xa đường 21 và đường 22, là những đường cơ giới mà địch có thể bất ngờ ập tới. Ở thôn Phương Khê Chợ lúc đó chỉ còn hơn một chục dân quân tự vệ và lác đác vài người đàn ông có tuổi ở lại, trong đó có cả Thanh, bạn cùng học với tôi ở Nam Định, được gia đình cụ Ký Rượu cho ở lại để trông nom nhà cửa. Mấy hôm đó, Thanh và tôi thường thổi cơm và ăn chung với nhau. Có tối đói quá, chúng tôi thịt cả chim bồ câu nhà nuôi để nấu cháo ăn vì hai nhà ở sát nhau. Một buổi tối, có tin địch ở cống Ba Đa và Phủ Lý chỉ còn cách chợ Quế khoảng bảy kilômét. Vào lúc gần 10 giờ đêm, ông binh Hồng, một lính khố đỏ cũ, nhà ở phố Mới, cách chỗ chúng tôi đang gác khoảng gần 300 mét, hốt hoảng vừa thở vừa báo cho chúng tôi là thấy ông binh Khắc, anh ruột ông cũng là một lính khố đỏ cũ ở nhà sát bên có lẽ bị bọn thám báo địch đi trước bóp cổ ằng ặc, kêu ú ớ. Tôi hội ý chớp nhoáng với tổ dân quân tự vệ đến tiêu diệt tổ thám báo cứu ông binh Khắc. Trời tối đen như mực nên chúng tôi đề ra kế hoạch phải bí mật tiếp cận nhà ông binh Khắc, cách độ 10 đến 15 mét thì bật lửa đốt đuốc được tấm dầu (đã có sẵn) rồi xung phong đồng loạt vào nhà ông binh Khắc diệt và bắt bọn địch. Đến cách nhà ông binh Khắc độ 100 mét thì thấy tiếng uỳnh uỵch vật nhau, đi kèm là những tiếng kêu rất nhỏ. Từ tiếng kêu đó, hai dân quân vì trời tối quá, người đi sau vấp vào người đi trước, hai "vị" ấy tưởng thám báo tấn công mình, mới nhận ra nhau... Đội ngũ nhanh chóng được chỉnh đốn và lại tiến lên tiếp theo một hàng dọc. Cách mục tiêu độ 10 mét, theo một hiệu lệnh nhỏ, mấy bó đuốc được đốt lên bừng sáng, toàn tổ xung phong vào nhà ông binh Khắc. Đến giữa nhà thấy ông binh Khắc ngồi bật dậy, mắt tròn xoe hốt hoảng: "Các anh làm gì thế?". Chẳng thấy tên thám báo nào, cũng chẳng thấy dấu vết gì. Hóa ra là ông ấy bị bóng đè khó thở, ú ớ kêu và phát ra những tiếng ằng ặc; ông em nhà ở sát bên cạnh, tưởng ông anh bị thám báo của địch bắt, lẻn đi báo dân quân tự vệ. Một trận tập kích hụt; sau đó là một trận cười vỡ bụng.


Nhưng đến hôm sau thì địch đến thật. Bên kia sông, ở làng Quyển Sơn, địch đã nổ súng, sục sạo vào các xóm. Chúng bắn vu vơ cả sang chợ Phương Khê, đạn bay vèo vèo. Trên đường từ Cống Ba Đa đến Quế, chúng tôi đã nghe thấy tiếng ầm ì của xe tăng và ô tô của địch. Tổ dân quân tự vệ chúng tôi đã nắm chắc được những ai ở lại trong thôn, nhanh chóng báo cho họ chạy về phía các làng ở đồng chiêm, những nơi cơ giới địch không thể vào được. Anh em chúng tôi cũng nhanh chóng rút sau, chỉ tiếc là không có mìn gài lại để diệt địch. Lần địch tiến công càn quét đó, trong làng không có ai bị địch giết và bắt, của cải không bị mất mát gì lớn. Sau khi địch rút một, hai ngày, bà con dân làng dần dần trở về đông đủ.


Do những hoạt động tích cực cùng với những thành tích trong cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và thành tích chiến đấu khi Nam tiến, tôi được Đại hội toàn thể đảng viên của Đảng bộ Kim Bảng (khoảng hơn 100 người) quyết định kết nạp Đảng trong dịp kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ (19.5) và giao cho Chi bộ Ngọc Sơn làm lễ kết nạp. Ngày 23 tháng 5 năm 1947, tôi vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Trong buổi kết nạp đó, tôi còn nhớ có cả Phó Bí thư Huyện ủy Phan Kỳ tham dự. Lúc đó, tôi gần 18 tuổi, thiếu độ hơn ba tháng.


Cũng trong tháng 5 năm 1947, Bộ Quốc phòng quyết định tổ chức hệ thống dân quân tự vệ toàn quốc từ cấp xã trờ lên. Tôi được Huyện ủy quyết định điều lên huyện làm cán bộ dân quân của Huyện đội Kim Bảng, hoạt động chuyên nghiệp. Tôi được phân công hoạt động trong một khu vực gồm năm xã. Trong những xã tôi phụ trách, các tổ chức dân quân tự vệ được củng cố vững chắc và phát triển nhanh.


Ngày 7 tháng 9 năm 1947, tôi được công nhận là đảng viên chính thức trước thời hạn (chưa đầy bốn tháng) và được Huyện ủy cỉì định luôn làm Bí thư Chi bộ Huyện đội; đồng thời nhận nhiệm vụ làm Chính trị viên Huyện đội thay đồng chí Chính trị viên cũ là ủy viên Thường vụ Huyện ủy được giao nhiệm vụ công tác khác. Lúc đó tôi vừa tròn 18 tuôi.


Trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 1947, đối với tôi có hai sự kiện lớn trong cuộc đời mình. Đó là việc sau khi bị địch bắt rồi bị ốm rất nặng, sức khỏe được phục hồi, tôi lại phấn đấu tiếp tục hoạt động. Việc thứ hai là tôi lấy vợ khi mới tròn 18 tuổi. Tôi muốn ghi lại kỹ hai việc đan xen nhau này.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #35 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 08:25:01 am »

Hồi đầu tháng 3 năm 1947, trước khi địch tiến công càn quét Kim Bảng, tôi đạp xe lên nhà chị thứ ba tôi lấy chồng ở Đanh Xá để xem anh chị tôi chuẩn bị tản cư, chạy giặc thế nào. Khi đang chuyện trò với chị, tôi nhìn sang nhà bên cạnh là nhà anh ruột của anh rể tôi, thấy một cô gái đứng ở hiên nhà. Nhìn xa thấy cô gái dáng người thanh thanh, nét mặt thanh tú, nước da trắng mịn, có một vè đẹp khá hấp dẫn, tôi hỏi chị ba tôi: "Chị ơi, cô kia con nhà ai thế?".


Chị tôi mỉm cười rất ý nhị: "Ơ, thế cậu không biết à? Nó là cái Phúc, con ông bà xã Thường đấy. Trước đây, cậu thường cân củi của ông nhà ta bán cho lò gốm của ông bà Thưởng mà cậu không biết nó à? Hôm nay nó gánh đồ đạc lên gửi ở nhà bác Dong đấy".


Tôi thấy cái cười rất ý nhị, rất nhạy cảm của chị mình mới thấy mình "dại" vì đã để lộ ra cảm xúc của mình trước cô gái đó. Quả nhiên, chả cần hỏi ý tôi ra làm sao, chị ba tôi đến nói ngay với bố mẹ và các chị khác của tôi.


Tôi nói là tôi "dại" vì đó mới là cảm xúc ban đầu khi chỉ mới nhìn qua vẻ ngoài của cô gái đó. Tuy mới ở tuổi 18 nhưng tôi cũng đủ lý trí để thấy rằng người vợ sẽ là người đồng hành gắn bó nhất với minh trong suốt cả cuộc đời nên tôi muốn có thời gian để tìm hiểu sâu thêm về người con gái đã đem đến cho những rung động đầu tiên của trái tim. Mặt khác, khi bố mẹ và các chị thấy tôi hé lộ chút xíu "thích" trong việc vợ con là sẽ tìm mọi cách dấn tới, bất chấp sự thận trọng, cân nhắc của tôi ra sao. Nhưng dù sao thì sự hấp dẫn của cô gái ấy vẫn cứ đeo bám tôi từ lần gặp đầu tiên đó.


Nhưng rồi công việc vẫn lôi cuốn tôi. Ngay sau đó, Huyện ủy báo cho tôi biết là tôi được cử đi học Lớp đào tạo bí thư chi bộ của các đơn vị lực lượng vũ trang trong tỉnh do Tinh ủy mở. Thực ra, lớp học đó cũng chỉ là lớp bồi dưỡng ngắn ngày về công tác chi bộ và diễn ra trong nửa tháng. Học xong, tôi về nhà thì được biết gia đình đã đánh tiếng và sau khi có sự phản hồi thuận lợi về phía gia đình ông bà xã Thưởng, đã lập tức mang trầu cau làm lễ hỏi và đã được ông bà chấp nhận. Tôi đứng trước một việc đã rồi và không thể làm gì hơn là "ngoan cố” nhất định sẽ kéo dài thời gian, không cưới vội để có điều kiện tìm hiểu sâu thêm về cô ấy. Tôi "hạch" chị cả tôi:

- Cô ấy bao nhiêu tuổi?

Chị tôi cười:

- Cô ấy 17, kém cậu một tuổi - Chị thừa biết là tôi không thích lấy vợ hơn tuổi mình.

Tôi lại tìm cách nhờ chị ruột của cô ấy, lúc đó chị là cảm tình Đảng của chi bộ xã, tạo điều kiện hoặc xin phép gia đình cho tôi được gặp gỡ, nói chuyện với cô ấy cũng không được vì lúc đó ở quê tôi chưa hề có chuyện trai gái được gặp nhau để tìm hiểu. Các cô gái làm chuyện đó thường bị gán cho là người "không đứng đắn".


Có nhiều lần tôi và Phúc gặp nhau trên đường ở phố Quế. Tôi nhìn thẳng vào Phúc xem em có phản ứng gì không; lần nào cũng thế, chỉ thấy em e lệ đi sát vào mép đường, không dám nhìn thẳng vào tôi với một vẻ đầy nữ tính. Tôi thất vọng vì không tiếp cận được để nói chuyện với em, nhưng sự e lệ đầy nữ tính dó lại thêm một sự quyến rũ nữa đối với tôi.


Khoảng tháng 9 năm 1947, khi tôi đã nhận nhiệm vụ Chính trị viên Huyện đội, cấp trên chủ trương xây dựng ở mỗi huyện một làng kháng chiến kiểu mẫu. Sau khi khảo sát kỹ, chúng tôi quyết định lấy làng Lưu Xá của xã Nhật Tựu để xây dựng. Lưu Xá là một làng lớn, có lũy tre dày đặc bao quanh làng, dân cư đông đúc, ngoài làm ruộng còn là một làng có nghề dệt vải, kinh tế khá giả, địa hình thuận lợi cho việc chiến đấu phòng thủ. Tôi chịu trách nhiệm trước Ban Chỉ huy Huyện đội chỉ đạo toàn bộ công việc từ đầu đến cuối. Công việc rất bận rộn từ việc quy hoạch trận địa, công sự, chuẩn bị vật liệu đến việc huy động nhân công tại chỗ và các xã khác đến giúp..., đều phải có mặt từng ngày, từng giờ để điều hành, đôn đốc, kiểm tra.


Vừa triển khai được vài ngày thì chiều 21 tháng 9 năm 1947, anh Lê Minh Lợi, Phó Bí thư Huyện ủy đến gặp tôi. Tường anh ra để kiểm tra việc xây dựng làng kháng chiến, nhưng không phải. Anh gọi tôi ra một chỗ vắng, thân mật trao đổi:

- Ở nhà chuẩn bị làm đám cưới cho cậu đêm nay. Ông cụ (bố tôi) nói với mình ra bảo cậu về bây giờ cho kịp.

Quá bất ngờ không thể tưởng tượng nổi, tôi phát khùng:

- Tôi không về, sao chẳng cho tôi biết gì cả.

Mới đầu, tôi định không về, muốn ra sao cũng được, ngay chuyện làm lễ hỏi cũng tự ý làm, nay làm lễ cưới cũng không thèm hỏi ý kiến tôi, gia đình toàn làm những chuyện đã rồi đối với tôi. Anh Lợi vẫn ôn tồn:

- Không được, ông bà nhà cậu là người lớn, cậu là cán bộ, cậu không về sẽ mang tiếng lắm, thôi về giải quyết cho xong đi.

Tôi thấy mình hoàn toàn bị động về việc này, rắc rối quá; nhùng nhằng một lúc, tôi cũng phải hậm hực dắt xe đạp cùng anh đạp trên bảy kilômét về nhà vào lúc 9 giờ tối. Bố mẹ tôi thấy tôi không vui, có vẻ không bằng lòng với việc làm của gia đình nên giải thích cho tôi:

- Bác Cựu (bác ruột tôi) đang hấp hối, con vào thăm bác đi, rồi lên rước dâu cho kịp. Để đến sáng, nhỡ máy bay địch đến bắn phá thì lại khổ.

Tôi nghĩ, té ra là "các cụ" cưới chạy tang cho tôi. Tôi vội sang nhà bác tôi ngay, ông đang rất mệt. Thấy tôi, ông nói như thở hắt ra:

- Bác không biết sống chết lúc nào, "em" về cưới cho xong đi để bác và bố mẹ "em" vui lòng - Ông gọi tôi là "em" rất âu yếm như khi tôi còn nhỏ ông vẫn gọi tôi như thế.

Tôi vốn rất quý ông, nhớ lúc còn nhỏ hay ốm đau, ông thường mua cho bánh mỳ hay bánh sừng bò sữa mà ông cho là những thức ăn lành cho tôi. Trước lời khuyên của người bác ruột thân yêu sắp mất, tôi không cầm được nước mắt và nghẹn ngào "Vâng". Tôi nắm bàn tay gầy guộc của ông một lúc khá lâu rồi về nhà đi đón dâu. Tâm trạng tôi lúc đó hoàn toàn không có sự vui vẻ của một chú rể, mà gàn như vô cảm. Tôi vẫn mặc bộ quần áo kaki lúc làm việc hằng ngày, đi bộ cùng một số người thân lên nhà vợ, thẫn thờ, ai nhắc gì làm cái đó, bảọ lễ tổ tiên cũng chắp tay vái vài cái, bảo lễ bố mẹ vợ cũng chắp tay lạy. Nói chung là đám cựới không vui, tẻ nhạt. Họ nhà gái tiễn dẫu cũng chỉ hơn một chục người. Dưới ánh sáng của vài ngọn đèn dầu ba dây, cả hai họ ăn cỗ cưới khoảng độ dăm mâm.


Tôi không ăn uống gì, khoảng gần 4 giờ sáng, tôi cáo từ mọi người đạp xe về Lưu Xá, tiếp tục công việc xây dựng làng kháng chiến.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #36 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 08:26:56 am »

Năm hôm sau thì công việc xây dựng làng kháng chiến kiểu mẫu hoàn thành1 (Làng kháng chiến Lưu Xá sau này có một đơn vị bộ đội địa phương của tỉnh đã dựa vào đó để đánh một trận tiêu diệt được nhiều địch). Tôi trở về nhà, trong lòng nghĩ không biết buổi gặp mặt đầu tiên với vợ mình sẽ như thế nào. Có lẽ từ bây giờ mới bắt đầu tìm hiểu người mà mình sẽ gắn bó suốt đời nhưng trong thâm tâm thấy thương vợ vì năm ngày qua chắc buồn tủi lắm, và cũng thấy rạo rực khi lần đầu tiên tiếp xúc với một người con gái có nhiều nét quyến rũ mình.


Về nhà chỉ thấy có vợ ngồi đấy một mình, chưa kịp hỏi gì thì ông Lê Minh Đường vừa ở Thanh Liêm thăm nhà, đến chơi chúc mừng hai vợ chồng. Chưa kịp giới thiệu ông Đường là chú họ thì cô ấy đã nói, tôi không nhớ rõ nội dung, nhưng cách nói bỗ bã đúng là dân xóm lò gốm Đanh Xá. Tôi hơi ngượng, nhưng thấy ông Đường cười độ lượng vẫn tiếp tục nói chuyện vui vẻ, chắc ông đã quen với cách ăn nói của dân xóm lò rồi. Khi ông ra về, tôi nói ông là chú họ và trách nhẹ sao lại nói bỗ bã như thế, Phúc thanh minh:

- Em không biết.

Đó là điểm đầu tiên tôi hiểu về tính cách của em.

Tối hôm ấy nằm bên nhau tâm sự, tôi nói:

- Lấy anh, em sẽ khổ đấy, đang kháng chiến, anh công tác chiến đấu, khó lo được đủ việc nhà, em sẽ vất vả, có chịu được không?

- Em chịu được - Phúc trả lời ngay.

Rồi Phúc nói với tôi về sự băn khoăn, lo lắng khi sắp cưới mà tôi vẫn vắng mặt, nếu không có chú rể thì sẽ tủi hổ thế nào:

- Như thế thà chết đi còn hơn.

Tôi rất thương em, đưa cánh tay để Phúc gối đầu. Hỏi em về tuổi, em nói em 19, tuổi Thìn, như vậy hơn tôi một tuổi. Hóa ra bà chị cả đã nói dối tôi. Nhưng bây giờ em có hơn một tuổi cũng không còn quan trọng nữa vì "ván đã đóng thuyên", vì em trông còn trẻ hơn cả cô em gái út của tôi. Hai cơ thể trẻ trung đầy sức sống sát cạnh nhau, nhưng không ai muốn mình là người thô lỗ, sỗ sàng cả. Thời đó, chúng tôi chưa có kiến thức về sinh hoạt tất yếu trong đời sống vợ chồng, mặc dù đã rất muốn hòa vào nhau, tan vào nhau. Tôi thì lóng ngóng, còn em thì xấu hổ, bị động nên chỉ âu yếm, vuốt ve và chuyện trò chán rồi ngủ. Đêm thứ hai cũng vẫn trong tình trạng như đêm trước. Đến đêm thứ ba, em đã bạo dạn hơn một chút, rồi cái gì đến sẽ đến, em kêu khẽ một tiếng, đưa tay ôm lấy cô tôi. Một lúc lâu sau, khi đã tới đỉnh điểm, em ôm chặt tôi, hơi hốt hoảng: "Anh ơi, cái gì thế, anh có làm sao không?".

- Em đừng sợ, của anh đấy - Tôi sung sướng trả lời.

Sau này, chúng tôi hiểu là đêm ấy chúng tôi đã trao cho nhau sự nguyên vẹn trong sáng của mình mà tạo hóa đã ban cho những cặp trai gái mới kết hôn. Đó là một kỷ niệm đẹp, thiêng liêng, một trong những yếu tố bảo đảm cho cuộc sông vợ chồng được lâu dài đến đầu bạc răng long1 (Sau này, khi gần gũi nhau, chúng tôi thỉnh thoảng vẫn nhắc tới kỷ niệm đẹp đó. Chúng tôi đã là bạn đời của nhau tính theo dương lịch là 61 năm 7 tháng 7 ngầy, âm lịch là 61 năm 8 tháng 21 ngày cho đến lúc nhà tôi mất ngày 23 tháng 5 năm 2009 (29 tháng 4 năm Kỷ Sửu)).


Tuy mới lấy vợ, tôi vẫn phải tiếp tục những công việc bận rộn của Huyện đội: Tuyển quân, tổ chức dân công phục vụ chiến đấu, kiện toàn cơ quan... Trong suốt thời kỳ tôi trở lại hoạt động, công tác, bạn Thanh vẫn ở với ông bà ngoại. Chúng tôi vẫn quan hệ với nhau rất tốt. Thanh không từ chối một việc gì khi tôi yêu cầu nhưng khi tôi rủ Thanh vào biên chế của cơ quan Huyện đội, Thanh từ chối.


Công việc đang suôn sẻ thì Tỉnh đội dân quân Hà Nam quyết định điều động tôi lên công tác ở Tỉnh đội.

Huyện Kim Bảng lúc đó đang thiếu cán bộ, nhất là khối công tác dân vận, đặc biệt là công tác vận động thanh niên. Huyện ủy đã đề nghị với tỉnh cho tôi ở lại công tác ở huyện, coi như cán bộ quân sự biệt phái để tăng cường cho công tác dân vận, đặc biệt là công tác vận động thanh thiếu niên. Tôi được chỉ định là Bí thư Đảng Đoàn thanh niên. Hai đồng chí là Ủy viên Đảng Đoàn: Đồng chí Đinh Văn Can là Bí thư Ban chấp hành Thanh niên cứu quốc huyện, đồng chí Trần Gia Tĩnh là Huyện đoàn trưởng Đoàn Thanh niên Việt Nam huyện. Một số đảng viên khác không tham gia Đảng Đoàn nhưng cũng giữ những vị trí quan trọng trong hai tổ chức thanh niên trên và trong công tác vận động thiếu niên, nhi đồng. Cũng trong thời gian này, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức quần chúng khác như Liên Việt, Phụ nữ, Thanh niên, Nông dân, Công đoàn... cũng được kiện toàn. Một chi bộ gồm các đảng viên trong khối dân vận được thành lập đủ cả nam, phụ, lão, và là chi bộ đông đảng viên nhất trong các chi bộ trực thuộc Huyện ủy. Trong đại hội chi bộ đầu tiên, tôi được bầu làm Bí thư chi bộ. Đó là một chi bộ rất đoàn kết, thân ái, tôn trọng nhau dù là trẻ hay già, nam hay nữ, sống vô tư trong sáng. Trợ cấp cho hoạt động chưa đủ cho tiêu vặt, anh chị em đi cơ sở chủ yếu dựa vào quần chúng, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với họ. Vậy mà mỗi lần về họp ở huyện, gặp nhau vui như Tết.


Từ đó, phong trào quần chúng sôi nổi hẳn lên, có nhiều hoạt động thiết thực. Công tác vận động thanh thiếu niên cũng như các tổ chức quần chúng khác có nhiều tiến bộ. Trong cuộc vận động thanh niên tòng quân, chúng tôi bàn nhau phải khắc phục bệnh hình thức, chống kiểu "đánh trống ghi tên" cốt cho có số lượng, mà phải đi vào chất lượng. Thanh niên ghi tên tòng quân phải dựa trên cơ sở tự giác, với động cơ đúng đắn, có tinh thần cứu nước, cứu dân thực sự. Trong đợt vận động đầu tiên, tổng số thanh niên tự nguyện ghi tên là 12.000 người, có chữ ký cam kết. Số anh em này không phải là đi một lúc, mà tùy theo yêu cầu về số lượng của từng đợt tuyển quân. Việc bảo đảm về số lượng và chất lượng của từng đợt được thực hiện thường là vượt chỉ tiêu. Sau đợt vận động này, thanh niên Kim Bảng được Ban chấp hành Thanh niên Liên khu 3 tặng Cờ thi đua. Tôi được biết, tuy chưa thống kê được số anh em ghi tên trong cuộc vận động này, nhưng nhiều người về sau trở thành cán bộ trung, cao cấp của Quân đội.


Khoảng đầu quý IV năm 1948, Huyện ủy lại điều động tôi về Ban Tổ chức của Huyện ủy và phân công phụ trách khu vực. Tôi được phân công và công tác qua hầu hết các xã trong huyện. Khoảng cuối năm 1948 thì tôi được phân công phụ trách ba xã Thụy Lôi, Khả Phong và Ba Sao. Công tác thời kỳ này chủ yếu tập trung vào việc xây dựng, củng cố các chi bộ xã, tăng cường chất lượng và sự lãnh đạo của các chi bộ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #37 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 08:27:30 am »

Đầu tháng 12 năm 1948, giặc Pháp tập trung lực lượng càn quét ở huyện Thanh Liêm và trung tuần tháng 12, chúng đã tiến vào càn quét một số xã ở phía nam huyện (Châu Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn). Đến cuối tháng 12 năm 1948, từ Vân Đình (ứng Hòa - Hà Đông), chúng theo đường 22 và ven sông Đáy càn quét ở phía tây bắc huyện (Khả Phong, Thụy Lôi). Trong trận càn lần này, giặc gây nhiều tội ác rất dã man, bắn giết nhân dân, đốt phá nhà cửa, hãm hiếp phụ nữ. Máy bay địch bắn phá với mật độ dày đặc các khu đông dân cư gây cho ta rất nhiều khó khăn về đời sống và sản xuất. Nhiều nơi như các làng ờ xung quanh huyện phải chạy lên vùng đồi núi Do Lễ, Khả Phong và tìm các mô đất ở cánh đồng đào hầm tránh bom. Nhiều dân thường chết hoặc bị thương. Trong một lần ném bom, em trai vợ tôi bị chết cháy ngay trước cửa hầm. Do bị bom cháy đen nên không thể nhận dạng được thi thể nữa. Một lần khác, máy bay địch xả trọng liên xuống phiên chợ Phương Khê đang họp; cô Vịt, đối tượng mà bố mẹ tôi định hỏi cho tôi trúng đạn của máy bay địch tử vong. Bà Hậu Mềm mất người con cuối cùng, kêu khóc thảm thiết và cứ gọi tên tôi trong lúc than khóc, nghe mà não ruột. Có lẽ bà cho rằng nếu cô lấy tôi thì số phận có thể khác đi.


Trong thời gian địch càn xã Thụy Lôi ở giữa đường 22 và ven sông Đáy có vị trí rất quan trọng nên tôi ở đó cùng các đồng chí trong Chi bộ xã phải bàn kỹ việc chống càn, đồng thời dự kiến đối phó với cả trường hợp địch chiếm đóng lâu dài. Tôi và đồng chí Thể, Bí thư Chi bộ xã, sau khi chỉ đạo việc sơ tán của nhân dân trong xã, đã khẩn trương đến từng tổ Đảng bố trí gài đảng viên ở lại và sơ bộ hướng dẫn các đồng chí ấy hoạt động trong trường hợp xã bị địch chiếm đóng. Khi nghe thấy súng của địch nổ ran gần đó, hai anh em mới vội vã rút lui vượt qua cánh đồng phía đông đến mấy thôn không có địch, thoát khỏi vòng vây càn quét của chúng. Hành động của địch lần này rất tàn bạo, chúng xả súng vào bất cứ ai chúng phát hiện được. Sau khi chúng rút khỏi Thụy Lôi và các xã của Kim Bảng, thiệt hại về người và của lớn hơn các lần trước. Riêng ở Thụy Lôi, một số dân thường bị chúng giết. Ông Chánh Tích, Chủ tịch xã Thụy Lôi ẩn trong một đụn rạ ở giữa cánh đồng bị chúng bắn chết ngay tại chỗ. Một đồng chí đảng viên lớn tuổi được chúng tôi bố trí ở lại ngay từ đầu nếu địch chiếm đóng lâu dài cũng bị bắn chết khi đang ngồi trên phản trong nhà. Chúng tôi còn được biết tin cụ bà, vợ của cụ Bùi Bằng Đoàn, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa (tức Chủ tịch Quốc hội, nguyên là Thượng thư Bộ Hình của triều Nguyễn), ngồi gõ mõ tụng kinh tại nhà ở gần thị trấn Vân Đình (ứng Hòa - Hà Đông) cũng bị địch bắn chết tại chỗ.


Sau khi đồng chí Thể báo cáo tình hình chống địch càn quét ở Thụy Lôi, Huyện ủy đã biểu dương sự lãnh đạo của Chi bộ xã.

Cuối quý I năm 1949, tôi nhận được quyết định của Liên khu ủy Liên khu 3 bổ sung vào Huyện ủy Kim Bảng. Tháng 9 năm 1949, tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện bàn về nhiệm vụ lãnh đạo thời gian tới, tôi được bầu vào Huyện ủy khi vừa tròn 20 tuồi và được phân công tiếp tục phụ trách khu vực. Cũng trong thời gian này, thỉnh thoảng tôi được phân công giảng bài về một nội dung nào đó cho các lớp ngắn hạn bồi dưỡng quân chúng cảm tình của Đảng. Một lần đến giảng cho một lớp các ông cảm tình Đảng do Mặt trận Liên Việt huyện tổ chức, tôi thấy phần lớn các ông đều là bạn của bố mình. Trong số này, có ông, khi tôi còn nhỏ, tôi có lỗi sắp bị bố đánh đòn đang mếu máo, ông đã xin bố tôi tha tội cho tôi. Tôi cười thầm với mình khi nhớ tới chuyện đó và nghĩ không biết "cụ" có còn nhớ chuyện đó không? Vốn quý trọng các ông, tôi lễ phép trình bày nội dung bài giảng, như con cháu nói chuyện với cha ông. Các ông rất chăm chú lắng nghe giảng viên chỉ đáng tuôi con cháu mình, nghiêm chỉnh nêu thắc mắc, nghiêm chỉnh nghe giải đáp. Tôi rất thú vị khi nhớ tới những kỷ niệm như thế, thấy các cụ ta ngày xưa rất có văn hóa.


Đầu tháng 2 năm 1950, tôi nhận được quyết định của Tỉnh ủy cử lên Việt Bắc, theo đường giao liên đến Trạm Thống Nhất của Trung ương Đảng để giới thiệu sang Tổng Quân ủy dự Lớp Chính trị viên Lê Hồng Phong. Theo chủ trương của Trung ương, để chuẩn bị cho giai đoạn Tổng phản công, cần bổ sung cho Quân đội một đội ngũ cán bộ chính trị lấy từ những cán bộ đang làm công tác đảng là huyện ủy viên hoặc có trình độ tương đương để bồi dưỡng làm chính trị viên đại đội trở lên. Tất nhiên tôi đã là chính trị viên trung đội rồi lại làm chính trị viên huyện đội dân quân nay phải trả lại cho Quân đội.


Lúc này, tôi và Phúc, vợ tôi, đã có một con trai vừa tròn một tuổi. Và đây là một thuận lợi để tôi trở lại chiến đấu trong Quân đội vì tôi không "vô hậu" nữa đối với gia đình, với ông cha.

Nhưng vợ chồng trẻ "hai năm hương lửa đang nồng, trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương" thi làm sao tránh khỏi bồi hồi lưu luyến, nhất là đối với phụ nữ. Mấy hôm trước khi đi, những lúc vắng vẻ chi có hai vợ chồng và con, đôi mắt buồn của vợ lúc nào cũng đầy nước mắt. Nhưng "người tráng sĩ chỉ nắm đốc gươm chứ không nhìn mây trắng, nắm đốc gươm mà đi chứ không nhìn mây trắng mà về". Bố mẹ và các chị tôi cũng không có lý do gì đổ giữ tôi ở lại. Chỉ còn một nỗi niềm trong lòng tôi: Rất thương vợ con, đang lúc địch cho máy bay ngày đêm ném bom và bắn phá quê hương mình; những lúc ác liệt nhất, vợ lại phải ôm con chạy ra đồng, chui xuống hố cá nhân để tránh bom đạn. Bà Hậu Mềm dạo này thân thiện hơn với vợ tôi gần gũi với hai mẹ con cô ấy và yêu cháu bé. Ba người con đều chết trẻ, bà mẹ cô đơn ấy thật tội nghiệp, tôi thấy vui vui khi bà gần gũi, thân thiện với vợ con mình...


Tôi đến trạm giao liên đầu tiên trên đường đi Việt Bắc là Chợ Bến (Mỹ Đức - Hà Đông). Đường đi Việt Bắc phải qua gần vị trí đóng quân của giặc rất nguy hiểm, nhất là phải vượt qua đường 6, đoạn Dốc Kẽm và nhiều điểm khác ở Hòa Bình. Nhưng nói chung các trạm giao liên của ta năm tình hình địch rất chắc. Khách từ các liên khu 3, 4... lên Việt Bắc phải qua những con đường mòn xuyên rừng để đến Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tuy nhiên, cũng có nhiều lần địch phục kích gây trở ngại cho ta.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #38 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 08:28:30 am »

Ở Quảng Nạp được vài ngày, tôi được giới thiệu đến Trường Lê Hồng Phong ở Bãi Soi (Đồng Hỷ - Thái Nguyên). Gọi là trường đào tạo chính trị viên nhưng học viên vẫn phải ở nhờ nhà dân. Trong khi chờ đợi khai giảng, cấp trên cử một cán bộ đại đội phó của Trường Lục quân Việt Nam đến đề huấn luyện đội ngũ và kỹ thuật cá nhân cho học viên. Học viên đến đủ, phần lởn là những cán bộ đã từng chiến đấu, có kinh nghiệm chỉ huy và công tác đảng, công tác chính trị. Một bất ngờ rất thú vị là tôi gặp đồng chí Hoàng Tiệm, người đã từng tham gia khởi nghĩa -vũ trang giành chính quyền ở huyện Kim Bảng ngày 20 tháng 8 năm 1945. Đồng chí Hoàng Tiệm lại là người cùng làng, ở thôn Phương Khê Trong, vốn là một lính khố đỏ của Pháp đã từng bị đưa sang Pháp phục vụ Chiến tranh thế giới thứ hai ở Pháp, sau giải ngũ về quê. Xuất thân từ một nông dân nghèo khổ, đồng chí được giác ngộ cách mạng và trở thành một tổ viên trung kiên; hôm khởi nghĩa ở huyện được giao một trong vài khẩu súng hiếm hoi và bắn phát súng hiệu lệnh đầu tiên, tấn công từ ngoài vào, phối hợp với tổ vào bắt sống viên tri huyện. Sau khởi nghĩa, đồng chí được bổ sung về tiểu đoàn biệt động, hoạt động trong nội thành Hà Nội cho đến nay và là Chính trị viên trung đội. Đồng chí Tiệm đã ngoài 40 tuổi, người nhò bé nhưng sức khỏe còn rất tốt. Chúng tôi rất vui mừng được gặp nhau vì vừa là đồng chí, vừa là đồng nghiệp, lại là đồng hương, nên tuy tuổi tác chênh lệch như cha con nhưng lại là một đôi bạn vong niên rất thân thiết.


Vì tổ chức còn tạm bợ và phải thay nhau nấu cơm nên việc ăn uống của chúng tôi rất kham khổ. Cơm thổi thường bằng gạo hẩm ở kho do bảo quản không tốt. Thức ăn duy nhất kéo dài là một thùng phuy canh nấu bằng mấy cân cà chua với nước sông Công và muối trắng. Thời gian này tôi lại bị sốt rét, người rất yếu. Để bồi dưỡng sức khỏe, tôi phải bán một số dồ dùng cá nhân có giá trị lấy tiền ăn thêm ở bên ngoài (đồng hồ, giày dép, quần áo thường phục còn mới…).


Ít lâu sau, Lớp Chính trị viên Lê Hồng Phong được tổ chức lại thành một đại đội bổ túc cán bộ sơ cấp, sáp nhập vào Trường Bổ túc cán bộ trung, sơ cấp thành Tiểu đoàn bổ túc học viên cán bộ trung, sơ cấp (gọi tắt là Tiểu đoàn trung, sơ cấp), gồm một đại đội cán bộ trung cấp và hai đại đội cán bộ sơ cấp. Tiểu đoàn này là đơn vị trực thuộc Trường Lục quân Việt Nam khóa 6. Cuộc đấu tranh chống tác phong quan liêu, quân phiệt trong công tác huấn luyện của học viên Lớp Chính trị viên Lê Hồng Phong đã có ảnh hưởng rất tích cực đối với việc mở rộng dân chủ cho các lớp của Trường Lục quân sau này. Toàn bộ Trường Lục quân Việt Nam khóa 6 được đưa sang Vân Nam - Trung Quốc. Khoảng cuối mùa Hạ, đầu mùa Thu năm 1950, Trường Lục quân Việt Nam, trong đó có Trường Bổ túc cán bộ trung, sơ cấp, nay đã trở thành Tiểu đoàn cán bộ trung, sơ cấp trực thuộc Trường, hành quân theo đường bộ sang Trung Quốc. Từ một khu rừng ở Sòi Mít (huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên), chúng tôi hành quân qua Tuyên Quang. Đến gần huyện Sơn Dương, bộ đội được nghỉ một ngày, tôi xin phép rẽ vào huyện Sơn Dương để thăm đồng chí Lê Tùng, lúc này đang là Bí thư Huyện ủy Sơn Dương. Anh Tùng sau khi học ở Trường Quân chính Việt Nam lại không công tác trong Quân đội mà theo yêu cầu công tác đoàn thể phải chuyển ra ngoài. Ít lâu sau, anh được điều động lên tăng cường cho Khu căn cứ địa Việt Bắc và trở thành Bí thư Huyện ủy Sơn Dương. Khi qua phố huyện Sơn Dương, tôi rẽ vào một cửa hàng ăn và giải khát để nghỉ nhưng không ngờ, chủ quán lại là anh Đỗ Đình Các và vợ là chị An, con gái của một cụ già, chủ một cửa hiệu tạp hóa lớn ở phố Phương Khê Chợ. Anh Các trước cũng là một tổ viên Việt Minh bí mật, là em trai đồng chí Đỗ Đình Phát, Chủ tịch Ủy ban khời nghĩa Kim Bảng, anh ruột Đỗ Đình Nhạc, bạn tôi và là anh vợ đồng chí Lê Tùng. Anh chị rất vui mừng vì gặp tôi và cho biết quê nhà đã bị giặc Pháp chiếm đóng. Tôi nghe mà lo cho bố mẹ, vợ con, không biết ở trong vùng địch số phận sẽ ra sao. Tôi rẽ vào thăm vợ chồng anh Lê Tùng theo chỉ dẫn của anh Các. Đến nơi, thấy tôi mặt đỏ bừng vì say nắng, chị vợ anh Tùng liền chạy ra vườn hái một nắm lá tiết dê, giã nhỏ vắt lấy nước pha đường, nước đông như thạch. Tôi uống vào thấy rất mát và giải được cơn say nắng. Hàn huyên với người đồng chí, người anh lớn tuổi đã cùng mình tham gia khởi nghĩa ở Kim Bảng, cùng mình đi học ờ Trường Quân chính Việt Nam một hồi lâu không muốn dứt. Tôi tặng anh chiếc khăn quàng cổ bằng Flanel màu xám hồng mà tôi rất thích làm kỷ niệm rồi từ biệt anh chị trở về đơn vị.


Từ Tuyên Quang, đơn vị hành quân về phía Hà Giang. Đến tỉnh lỵ Hà Giang hoang vắng, tiêu điều, đơn vị được nghỉ một ngày lấy sức để hôm sau qua cầu Thanh Thủy, vượt Cổng Trời qua biên giới. Tối hôm sau, đại đội tôi liên hệ với địa phương tổ chức một buổi diễn kịch cho nhân dân xem, theo một kịch bản chuyên nghiệp đã được anh em trong đơn vị luyện lập từ trước. Tuy thời chiến, ban ngày ít người qua lại nhưng tối đó dân đến khá đông xem bộ đội diễn kịch. Đề tài của vờ kịch nói về kháng chiến được biểu diễn rất thành công, khán giả rất hoan nghênh và thích thú vì từ rất lâu ở đây không có hoạt động văn nghệ.


Sớm hôm sau, chúng tôi đã phải hành quân vượt biên giới. Lúc này mọi người được phổ biến là bộ đội ta phải mang một tên mới là "bộ đội Lưỡng Quảng”, nếu dân Trung Quốc hỏi thì phải nói là "Lẻng quàng pu tuây". Qua cột mốc biên giới ở phía bên kia Cổng Trời, nhiều anh em ngoái cổ lại xúc động "tạm biệt" Tổ quốc.


Thời gian này, Trung Quốc vừa mới được giải phóng, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời chưa đầy một năm, nhiều đoạn đường còn rất vắng vẻ, có nơi bọn thổ phỉ còn ẩn náu và hoạt động. Qua biên giới một đoạn, thấy vài người dân ăn mặc lam lũ ra đón hô khẩu hiệu "Hoan nghênh bộ đội Lưỡng Quảng", "Đảng Cộng sản Trung Quốc muôn năm"...; có người còn kéo nhị đón mừng. Buổi chiều thì đại đội tôi đến Maliphô, một thị trấn nhỏ ở biên giới. Người ra đón phần lớn là các em học sinh mặc đồng phục sạch sẽ, có vẻ thích thú thấy những anh "bộ đội Lưỡng Quảng" vui vè, tươi cười và hiền lành; đặc biệt là các anh em học viên lục quân trẻ trung được các em và các cô rất thích, dễ thân. Chúng tôi còn phải hành quân bộ nhiều ngày nữa mới đến được Khai Viễn, nơi có ga xe lửa để đi bằng xe lửa đến gần Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam.


Trên đường hành quân, có những chuyện gây cho bộ đội ta ấn tượng không đẹp. Ở nhiều chỗ trú quân, có những lạch nước chung để rửa ráy, giặt giũ, nước đen như nước cống, trông phát khiếp. Chỗ ngủ thường là doanh trại cũ của quân Tưởng, hoặc nhờ nhà dân thường rất nhiều bọ chó, nhất là các doanh trại cũ của Tường. Chúng tôi nằm ngủ thường bị bọ chó đốt tịt hết cả người, ngứa ngáy không thể ngủ yên.


Trên đường đi, chúng tôi gặp những anh em của Đại đoàn 308 hành quân trở về nước, sau thời gian luyện tập và chuyển vũ khí của nước bạn Trung Quốc viện trợ. Mặc dù mới giải phóng chưa được bao lâu, đất nước còn nhiều khó khăn nhưng bạn rất tích cực giúp đỡ ta.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #39 vào lúc: 11 Tháng Tám, 2023, 08:31:52 am »

Tiểu đoàn cán bộ trung, sơ cấp đến Khai Viễn vào một buổi chiều. Chúng tôi được thông báo là Quân đoàn 13 của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc phụ trách việc cơm nước cho chúng tôi. Đến một cái sân rộng đã thấy cơm bày ra ở dưới sân. Thức ăn cũng khá, có thịt, có miến nấu, với quân ta bữa ăn như thế là sang. Tư lệnh Quân đoàn đi một lượt qua các mâm kiểm tra. Trong hoàn cảnh chung lúc đó, chúng tôi thấy bộ đội bạn đối với mình cũng khá chu đáo. Đến tối thì chúng tôi lên xe lửa đi Côn Minh trên những chiếc toa đen. Như thế đã cảm thấy là sướng lắm rồi.


Địa điểm Tiểu đoàn trung, sơ cấp đến là vị trí đóng quân của một cơ quan tình báo Mỹ bên bờ hồ Dương Tông Hải, cách Côn Minh khoảng 30 kilômét. Anh em ở các đơn vị lục quân, đào tạo chủ yếu là cán bộ trung đội ở doanh trại cũ của quân đội Tưởng trong khu vực Đào Viên cách chúng tôi khoảng bốn đến năm kilômét. Ở giữa đoạn đường từ Tiểu đoàn trung, sơ cấp đến Đào Viên là Minh Hồ, ở đó có một lớp cán bộ pháo binh của ta đang học.


Lớp bổ túc cán bộ trung, sơ cấp được tổ chức chính thức thành ba đại đội: Một đại đội cán bộ trung cấp (C150); một đại đội cán bộ sơ cấp, chủ yếu là cán bộ quân sự (C152); một đại đội sơ cấp thứ hai, chủ yếu là cán bộ chính trị, học viên của Trường Lê Hồng Phong chuyển sang (C151), tôi và đồng chí Hoàng Tiệm cùng ở một trung đội của đại đội này. Ban Chỉ huy Tiểu đoàn gồm: Đồng chí Đàm Quang Trung (sau này là Thượng tướng) là Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Đàm Quang Thìn (sau là Thiếu tướng) là Chính trị viên, đồng chí Cao Xuân Hổ là Tiểu đoàn phó1 (Đồng chí Cao Xuân Hổ là một đồng chí đã lớn tuổi, sau này tôi không rõ ở đâu). Một điều khá thú vị là tại đây tôi gặp lại đồng chí Cao Thanh Trà, nguyên Trung đoàn trưởng khi tôi chiến đấu ở Nam Trung Bộ, anh từ miền Nam ra học ở lớp bổ túc cán bộ trung cấp.


Trong khi đang chuẩn bị khai giảng thì cả trường được lệnh chuyển vũ khí, đạn dược do Trung Quốc viện trợ về nước bằng đường bộ. Toàn bộ lớp bổ túc cán bộ trung, sơ cấp cũng được huy động tham gia đợt này. Mọi công tác tổ chức vận chuyển trên vai được chuẩn bị rất chu đáo, nhất là việc bảo đảm sức khỏe và công tác chính trị. Đây là một thử thách lớn, đồng thời cũng là cuộc rèn luyện về thể lực cho mọi người, đặc biệt đối với học viên lục quân vốn đại bộ phận là học sinh phổ thông mới được tuyển vào và các đồng chí cán bộ trung cấp đã lớn tuổi. Đường đi qua nhiều đèo dốc, đòi hỏi về thể lực rất cao, một số anh em tưởng chừng khó vượt qua nổi. Song nhờ tinh thần tự giác và sự cố gắng vượt bậc, anh em đã hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tuy nhiên cũng xảy ra một tổn thất: Một học viên lục quân quê ở thôn Vân Lâm, Kim Bảng (quê tôi) khi lên đến đỉnh một đèo cao, vì quá sức đã hy sinh.


Một hình ảnh khó quên là nhạc sĩ Đỗ Nhuận, thời gian đó công, tác tại Trường Lục quân Việt Nam, vừa sáng tác những ca khúc cổ vũ cho việc vận chuyển vũ khí, vừa tự mình theo bộ đội đến những chỗ khó khăn nhất, cất cao tiếng hát động viên bộ đội.


Sau khoảng hai tháng liên tục và khẩn trương vận chuyển, một khối lượng lớn vũ khí, đạn dược được chuyển về Hà Giang để cung cấp cho bộ đội ta chiến đấu. Sau này, khi Chiến dịch Biên Giới bắt đầu (16.9.1950) đến khi kết thúc thắng lợi rực rỡ (14.10.1950), chúng tôi mới được biết rằng, số vũ khí mà toàn bộ học viên khóa 6 của Trường Lục quân Việt Nam đưa về nước đợt đó là để phục vụ Chiến dịch Biên Giới và mọi người đều rất tự hào đã được đóng góp sức mình vào thắng lợi to lớn của chiến dịch.


Trong không khí rất phấn khởi với chiến thắng rực rỡ ở trong nước, chúng tôi chính thức bước vào khóa huấn luyện.

Chương trình của khóa học cho Lớp bổ túc cán bộ trung, sơ cấp chủ yếu gồm các môn: Tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông, nguyên tắc chiến thuật Lâm Bưu (... đánh công kiên là chính), các kỹ thuật cơ bản như đánh bộc phá, ném lựu đạn, thủ pháo, bắn súng..., về chính trị gồm: Quân đội nhân dân, tam đại dân chủ (quân sự, chính trị, kinh tế)... Đội ngũ giáo viên hoàn toàn là người Trung Quốc do một đồng chí sư đoàn trưởng dày dạn kinh nghiệm chiến đấu và huấn luyện phụ trách chung, các giáo viên cũng là những người có kinh nghiệm. Phiên dịch đều là những đồng chí cán bộ trung cấp giỏi, có trình độ như đồng chí Nguyễn Văn Thường (sau này là Cục phó Cục Địch vận của Tổng cục Chính trị), đồng chí Vương Quỳnh Anh, Tiểu đoàn trưởng, con trai của Vua Mèo Vương Chí Sình ở Hà Giang.


Phải nói rằng, những nội dung chương trình nói trên lúc đó với chúng ta là rất cơ bản và mới lạ. Những nội dung đó sau này được Quân đội ta vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiên chiến đấu của Việt Nam rất có hiệu quả.


Bề phương pháp học tập cũng có những điểm mới. Học có kiểm tra, chủ yếu bằng phương pháp trắc nghiệm mà các bạn Trung Quốc gọi là "phương pháp công nông", thích hợp với người có trình độ học vấn thấp như những anh em xuất thân là công nhân, nông dân thời đó ít được học hành.


Ngoài những nội dung chính, sinh hoạt ngoại khóa như thực hành ba dân chủ lớn (chính trị, quân sự, kinh tế) trong các buổi sinh hoạt theo chế độ ở đại đội, kể chuyện về tội ác của giặc Pháp đối với gia đình, họ hàng mình, sinh hoạt văn hóa văn nghệ, tự phê bình và phê bình trong tổ ba người (tam tam chế)... đều được thực hiện có nền nếp. Ca khúc "Vì nhân dân quên mình" của đồng chí Doãn Quang Khải, cũng là học viên trong đại đội tôi, đã được sáng tác sau khi học về quân đội nhân dân (ca khúc được nhạc sĩ Đỗ Nhuận sửa chữa, sau này trở thành ca khúc nổi tiếng của Quân đội ta).


Giáo viên bạn giảng dạy tốt, mô phạm, phiên dịch giỏi, học viên có kinh nghiệm chiến đấu, thông minh, nhận thức nhanh, thái độ nghiêm túc, thầy trò tôn trọng nhau nên quan hệ rất tốt.

Kết thúc khóa học, có một điều không phù hợp là Nhà trường cho học viên "tự phong" chức vụ của mình. Một số anh em vốn là cấp trưởng (chính trị viên hoặc đại đội trưởng) nay "khiêm tốn" tự phong xuống cấp phó, tôi cũng ở trong số đó. Nhưng khi về nước, tình trạng này được Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị ta chỉnh đốn ngay, không cho làm như thế vì ngay số lượng, đội ngũ cán bộ ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của Quân đội.


Trong sáu tháng học tập, có một lần ông Tống Nhiệm Cùng, ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, một nhân vật quan trọng ở Hoa Nam đến thăm Tiểu đoàn. Ông nói chuyện với toàn thể học viên bằng một thái độ thân mật, khiêm tốn, để lại ấn tượng tốt đối với mọi người.


Sau sáu tháng học tập, khóa học của chúng tôi đã hoàn thành. Lễ bế mạc diễn ra đơn giản, gọn nhẹ nhưng ấm cúng. Vị Sư đoàn trưởng, Trưởng đoàn cố vấn - giáo viên (có một bà vợ trẻ "cấp dinh" (tiểu đoàn), phát biểu dặn đò học viên. Khi nói đến việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức của người quân nhân cách mạng, có chỗ ông nói: "Thấy gái đẹp phải nhắm mắt lại", anh em mình bấm bụng cười. Khi về, cánh trẻ nói vui với nhau: "Mắt ti hí nhìn một chút cũng được chứ sao".


Chia tay nhau, thầy trò, bạn bè đều lưu luyến nhưng chủ yếu vẫn là không khí nao nức chuẩn bị lên đường trở về Tổ quốc để nhận nhiệm vụ. Bộ khung của Nhà trường vẫn ở lại để chuẩn bị cho khóa 7. Lớp trung sơ cấp được phân công dẫn học viên lục quân đã tốt nghiệp về nước bàn giao cho cơ quan chịu trách nhiệm phân bổ cho các đơn vị.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM