Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 15 Tháng Bảy, 2024, 06:12:04 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Những năm tháng không quên  (Đọc 6558 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #20 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:28:49 am »

Theo cuốn "Lịch sử truyền thống cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Kim Bảng", hết ngày 22 tháng 8, tức là hai ngày sau khởi nghĩa thắng lợi ở huyện, tất cả các xã ở Kim Bảng đã thành lập xong các ủy ban nhân dân lâm thời. Cờ đỏ sao vàng tung bay ở các thôn xóm, nơi nơi rộn ràng những bài ca cách mạng. Nhân dân vui sướng được sống trong không khí tự do. Ban đêm, ánh đèn đuốc tươi vui tỏa sáng trong các cuộc hội họp, học hành.


Sáng sớm ngày 24 tháng 8 năm 1945, trên sân vận động Kim Bảng, dưới ánh nắng ban mai của một ngày đẹp trời, hàng nghìn quần chúng với một rừng cờ và biểu ngữ đỏ thắm, mang theo gươm, giáo, mã tấu đã chỉnh tề đội ngũ. Theo lệnh của Ủy ban khời nghĩa, sau ba phát súng, đoàn biểu tình dẫn đầu là trung đội giải phóng quân đầu tiên của huyện tiến về tỉnh lỵ Phủ Lý, phối hợp cùng các huyện bạn chiếm tỉnh lỵ, thiết lập chính quyền nhân dân cách mạng của tỉnh Hà Nam. Trước khí thế sôi sục cách mạng của 15 vạn người biểu tình có vũ trang, tên tuần phủ bù nhìn Đàm Huy Huyến đã phải cúi đầu nộp ấn tín, hạ vũ khí đầu hàng. Cuộc khởi nghĩa ở các huyện đồng bằng và bán sơn địa ở Hà Nam đã thành công rực rỡ, chỉ còn lại châu Lạc Thủy vùng núi là chưa xong. Châu Lạc Thủy, trong đó có những đồn điền của thực dân Pháp, lúc đó thuộc địa giới hành chính của tỉnh Hà Nam.


Tôi được yêu cầu đi theo anh Lê Quán vào Cốc Nội, giáp với châu Lạc Thủy công tác. Tôi cũng chẳng được nói rõ nhiệm vụ của mình là gì, nên anh Quán phân công việc gì làm việc nấy. Được mấy hôm thì anh bảo tôi cùng vào Chi Nê, trung tâm của châu Lạc Thủy, đồng thời cũng là trung tâm đồn điền Lơcông (Leconte). Cư dân của Lạc Thủy số đông là thuộc dân tộc Mường, xen kẽ người Kinh, chủ yếu là nhân viên hoặc phu đồn điền. Tôi đoán nhiệm vụ của anh Quán là do Ban Cán sự tỉnh giao, theo dõi và giúp đỡ châu Lạc Thủy giành chính quyền, thiết lập chính quyền cách mạng. Một buổi sáng sớm, anh Quán bảo tôi cùng vào Chi Nê. Chúng tôi vào đó đúng lúc một cuộc biểu tình lớn đang diễn ra ở châu lỵ. Có một điều mà tôi rất thú vị là có một thiếu nữ người Pháp cũng chạc tuổi tôi giương cao một lá cờ đỏ sao vàng khổ lớn đi đầu trong cuộc biểu tình. Cuộc biểu tình đó không có tiếng súng, không có xung đột.


Tôi và anh Quán lại trở về Cốc Nội. Trụ sở chỉ có hai anh em là anh Quán và tôi cùng với gia đình một người quản lý trông coi phần đất thuộc đồn điền của chủ Tây. Gia đình đó cũng phục vụ luôn việc ăn uống của chúng tôi.


Hôm sau, vào buổi trưa thì có một người đi một chiếc xe đạp lốp đặc ở huyện Kim Bảng vào báo với anh Quán là tôi phải về huyện gấp. Không biết việc gấp như thế nào mà anh Quán phải bảo người quản lý chuẩn bị cho tôi con ngựa để về cho kịp. Tôi chưa biết cưỡi ngựa bao giờ, nhưng vì việc gấp cũng đành phải dùng nó vậy. Tôi từ biệt anh Quán, trở lại Kim Bảng. Từ đó không bao giờ tôi còn được gặp lại anh nữa. Ngôi trên yên ngựa, tôi thấy rất chênh vênh, sợ nhất là lúc xuống dốc, chiếc xe đạp đi trước đổ dốc rất nhanh, ngựa bám theo phi nước đại cũng rất nhanh. Tôi cố giữ thăng bằng trên lưng ngựa nhưng cũng mấy lần suýt bị ngã, thật hú vía! Đến chiều về đến huyện, người đau như dần vì cuộc cưỡi ngựa bất đắc dĩ đó. Tôi được các anh báo cho biết là phải về nhà chuẩn bị ngay để mai tập trung lên tỉnh lấy giấy giới thiệu của Ban Cán sự tỉnh lên học lớp quân sự của Trường Quân chính Việt Nam1 (Tiền thân là Trường Quân chính kháng Nhật, thành lập ngày 15 tháng 4 năm 1945. Từ ngày 7 tháng 9 năm 1945 đổi tên là Trường Quân chính Việt Nam. Ngày 15 tháng 10 năm 1945 đổi tên thành Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam. Ngày 17 tháng 4 năm 1946 đổi tên thành Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn. Tháng 2 năm 1948 đổi thành Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn. Tháng 12 năm 1950 là Trường Lục quân Việt Nam. Tháng 1 năm 1956 là Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam. Năm 1976 là Trường Sĩ quan Lục quân I) ở Mà Nội.


Tôi chuẩn bị rất nhanh và tối hôm đó tôi gặp Phú, báo cho Phú biết tin đó. Thấy tôi chưa có dây lưng da, Phú tặng tôi một chiếc dây lưng bằng da rất đẹp của bố Phú (đã mất) mua ở Thượng Hải để lại. Tôi không thể ngờ rằng chiếc dây lưng da này tôi dùng cũng có số phận của nó sau này.


Trong đoàn học viên ở Kim Bảng đi học lớp quân sự có khoảng dăm người do anh Lê Tùng, em ruột anh Lê Hồ ở Cao Mật làm Trưởng đoàn. Chúng tôi đến Hà Nội khoảng thượng tuần tháng 9 dương lịch, sau khi Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử tại Quảng trường Ba Đình gần 3 tuần. Đến trường, việc đầu tiên của chúng tôi là phải khai sơ yếu lý lịch. Lúc đó, tôi vừa tròn 16 tuổi. Sợ nếu khai đúng tuổi sẽ không được học, tôi nói chuyện đó với anh Lê Tùng và hỏi cho tôi khai lên 18 tuổi có được không? Anh Lê Tùng đồng ý, thế là tôi yên tâm khai mình 18 tuổi, còn các điều khác thì theo đúng như mẫu. Mỗi học viên được phát hai áo sơ mi cộc tay, hai quần soóc bằng kaki, một mũ calô, một đôi giày đinh của lính khố đỏ cũ. Tôi được biên chế vào một tiểu đội phần lớn là các anh lớn tuổi ở Hà Nội, Hải Phòng, trình độ học vấn cao, nhiều người là sinh viên đại học, cá biệt có người đã tốt nghiệp đại học hoặc là tri huyện tập sự. Tôi ít tuổi nhất, trình độ mới chỉ hết năm thứ nhất trung học (Thành chung) nên cũng sợ bị loại. Hôm khai mạc lớp học, thấy giới thiệu một người là đồng chí Thận đến nói chuyện, các anh nói với nhau "anh Đặng Xuân Khu đây". Tôi chỉ biết vậy, chứ cũng không biết đấy là Tổng Bí thư Đảng Trường Chinh. Chương trình học tập có cả quân sự và chính trị, thời gian là 15 ngày, về quân sự, chúng tôi chỉ học đội ngũ, bắn súng trường, ném lựu đạn, chiến thuật tiểu đội, 10 lời thề, 12 điều kỷ luật của Quân giải phóng... về chính trị, chủ yếu là chương trình Việt Minh (10 chính sách của Việt Minh). Giảng viên quân sự và cũng là Đại đội trưởng của chúng tôi là đồng chí Trương Văn Quyển (sau này chính là đồng chí Vũ Lập); Trung đội trưởng là đồng chí Bảo Cường. Cả hai trước đây là chiến sĩ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, đều là người dân tộc Tày, đồng thời cũng là huấn luyện viên quân sự. Về chính trị, giảng viên chính là đồng chí Trần Tử Bình. Chương trình học có cả mấy ngày hành quân dã ngoại diễn tập chiến thuật và được bắn một viên đạn thật trong phần kỹ thuật. Có lúc ở tiểu đội, tôi chỉ phát biểu được một câu ngắn cụt lủn trong khi thảo luận chính trị, đôi khi làm các anh lớn tuổi cười.


Một ngày chủ nhật, tôi được phân công xuống trực bếp. Đang đi quanh quản ở bếp xem các chị cấp dưỡng nhặt rau, có một ông già gầy gò, mặc quần soóc và áo vét kaki vàng đi vào bếp. Thấy tôi, ông hỏi tôi làm gì ờ đây, tôi đáp tôi là học viên, hôm nay làm trực bếp. Ông không nói gì, đi xem bếp một lượt rồi đi. Sau tôi mới biết đó là Bác Hồ. Hôm đó, Người đến làm việc với các đồng chí lãnh đạo của Trường rồi ra về, không nói chuyện với học viên.


Có lần, sau khi học đội ngũ đã tạm được, đi đều tương đối đẹp, đại đội tôi đi tập dọc theo một phố ở Hà Nội. Tôi nhớ có lẽ đó là đường Quán Thánh, nơi có trụ sở của bọn Quốc dân đảng. Đại đội trưởng hô "một, hai" rất dõng dạc, tiếng giày đinh rầm rập trên đường phố. Tôi liếc nhìn thấy một phụ nữ mặc binh phục, đội mũ lưỡi trai đen, cầm súng đứng gác ở cổng trụ sở của bọn Quốc dân đảng, gườm gườm nhìn chúng tôi rất thiếu thiện cảm; trong lúc bà con đi hai bên đường rất vui vẻ chào đón, hoan hô chúng tôi. Có thể Nhà trường đã kết hợp việc luyện tập với việc biểu dương sức mạnh của Quân giải phóng trước nhân dân và thị uy trước mặt bọn phản động Quốc dân đảng.


Một buổi khác, tiểu đội tôi trực gác ban ngày trước cổng trường. Tôi được đồng chí canh gác gọi ra gặp người quen. Tôi ra và rất vui mừng gặp anh rể lấy chị thứ hai của tôi. Anh là Nguyễn Duy Tâm, trước đây là đội thơ lại khố xanh ở trại giám binh của Pháp ở thị xã Phú Thọ. Khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, trại khố xanh của Pháp chuyển tên là trại bảo an binh, anh Tâm được quân Nhật cử thay thế tên giám binh người Pháp vì lúc đó anh đã là đội nhất thơ lại (Sergent chef secrétaire). Anh cũng đã biết phong trào Việt Minh đang phát triển mạnh khi đồn trú ở Lạng Sơn. Một lần anh về phép, tôi đã từng nói với anh về phong trào Việt Minh ở quê, cho nên khi nhân dân Phú Thọ khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã, anh không chống lại và nộp toàn bộ vũ khí cho cách mạng. Còn lính bảo an, ai muốn xin vào Quân giải phóng thì ở lại, ai muốn về quê thì được cấp lộ phí để về. Sau đó, anh được giới thiệu về Bộ Quốc phòng. Hôm ấy, anh ăn mặc rất bảnh: Quần áo dài kaki, đầu đội mũ calô đeo quân hiệu của Giải phóng quân, bên hông đeo một khẩu súng lục rất đẹp. Tôi rất vui mừng và lự hào thấy anh rể mình đã đi theo cách mạng, được cách mạng tin dùng.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #21 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:30:35 am »

Chương ba:
NAM TIẾN - THỬ THÁCH ĐẦU TIÊN
   

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp gây hấn tại Nam Bộ dưới sự hỗ trợ của quân đội Anh - Ấn đến Việt Nam để tước khí giới của quân đội Nhật ở miền Nam Việt Nam. Cả nước phẫn nộ trước âm mưu của bọn thực dân Pháp muốn quay lại đặt ách thống trị lên nhân dân Việt Nam một lần nữa. Ở Trường Quân chính, không khí cũng nóng lên sôi sục. Mọi việc như khẩn trương hơn. Đến cuối tháng 9 thì khóa học thứ 4 hay còn gọi là khóa 1 công khai bế giảng. Nhiều đơn vị Quân giải phóng mới được thành lập ở miền Bắc đã Nam tiến chi viện cho Nam Bộ. Khóa học chúng tôi cũng cử một bộ phận học viên mới tốt nghiệp vào tăng cường cho Nam Bộ, Nam Trung Bộ.


Hôm công bố danh sách 72 học viên của Nhà trường được Nam tiến chi viện cho Nam Bộ và Nam Trung Bộ có tên tôi.

Anh Lê Tùng, Trưởng đoàn học sinh của huyện Kim Bảng đến bảo tôi đi với anh. Tôi không biết anh bảo tôi đi theo anh để làm gì, sau đó anh dẫn tôi đến gặp đồng chí Trần Tử Bình, là một trong những đồng chí lãnh đạo của Nhà trường. Gia đình anh Lê Hồ và anh Tùng là cơ sở mà trước đây đồng chí Trần Tử Bình và nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng đã qua lại để hoạt động. Anh Lê Tùng gặp anh Trần Từ Bình ở ngay ngoài hiên tầng một của Trường và nói ngay:

- Anh ạ, Tiên nó còn nhỏ tuổi quá, đề nghị các anh cho ở lại.

À, té ra là thế, anh dẫn tôi đi là để xin cho tôi ở lại. Thật ra, khi nghe tên tôi được đi trong đoàn học viên Nam tiến, tôi một mặt cũng tự hào và muốn đi, mặt khác cũng không được tự tin lắm, không hiểu mình có vượt qua được gian khổ, ác liệt trong cuộc chiến đấu hay không, kể cả về mặt sức khỏe nữa. Trước đây, khi nhận giải thường cuốn "Sách Hồng" trong cuộc thi văn lớp Nhất của thầy giáo Ngân sau một buổi dã ngoại, tôi thấy có một câu của một bà mẹ nói với con là một tráng sĩ: "Người tráng sĩ chỉ nắm đốc gươm chứ không nhìn mây trắng. Nắm đốc gươm mà đi chứ không nhìn mây trắng mà về". Tôi rất thích câu nói này. Bởi vậy, khi thấy tên mình trong danh sách Nam tiến mặc dù có chút băn khoăn về sức chịu đựng của mình, nhưng nhớ tới câu nói đó, tôi không nói những băn khoăn của minh với ai và tự nhủ: "Phải đi, xin ở lại thì hèn quá”.


Nghe thấy anh Tùng đề nghị cho tôi được ở lại, đồng chí Trần Tử Binh hỏi tôi:

- Thế nào, có đi được không?

Tôi vẫn bình thản và sắp trả lời đồng chí là tôi có thể đi được thì đồng chí nói tiếp:

- Thôi, cứ đi đi, càng trẻ tuổi càng tốt.

Tôi chỉ trả lời gọn một tiếng "Vâng!" rất quả quyết.

Hà Nội tổ chức tiễn chúng tôi rất trọng thể. Đích thân Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Trần Duy Hưng chủ trì buổi lễ tiễn và tiệc tiễn đưa ở Nhà hát lớn vào tối mùng 2 tháng 10.

Sáng ngày 3 tháng 10 năm 1945, toàn bộ 72 học viên của Trường Quân chính lên một toa xe lửa dành riêng cho đoàn. Dưới sân ga, người ra tiễn cũng đông, tôi không nhớ hết. Tôi lấy trong túi ra xem quyết định của Bộ Quốc phòng bổ nhiệm chức vụ cho từng học viên thì thấy mình được bổ nhiệm là Tiểu đội phó và đây cũng là giấy giới thiệu với đơn vị mới.


Tàu dừng tại ga Phủ Lý, tôi thấy đông đảo bà con, tay cầm cờ nhỏ vẫy chào và hoan hô đoàn quân Nam tiến. Tôi ngồi bên cửa sổ nhìn ra thấy ngay anh Bùi Tăng, quen gọi là anh Tư Tăng, là em ruột ông Chánh Khiết (một trong những đảng viên đầu tiên của chi bộ cộng sản ở Kim Bảng và cũng là bạn của bố tôi, đã mất trước Cách mạng Tháng Tám). Anh Tư Tăng là thành viên trong Ủy ban khởi nghĩa ở Kim Bảng, đã từng bị Tri huyện Trần Gia Thoại "mời" lên huyện cảnh cáo nhiều lần, nay là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Quân giải phóng ở Hà Nam. Hôm nay, anh mặc quân phục rất diện ra ga đón và tiễn chúng tôi. Anh biết tôi vì hồi còn hoạt động bí mật trước khởi nghĩa, tôi đã cùng anh chuyển tài liệu và truyền đơn của Việt Minh cho anh Trần Quyết, cán bộ Việt Minh phụ trách huyện Binh Lục và cũng đã nhiều lần gặp nhau trước đây. Trông thấy tôi, trong tiếng ồn ào, anh gọi lớn: "Tiên, đi mạnh khỏe nhé!" và tươi cười vẫy tay. Tàu chỉ dừng lại mươi phút rồi đi tiếp.


Đến Ninh Binh, dưới sân ga đã thấy nhiều đồng chí lãnh đạo và bà con ở thị xã Ninh Binh ra đón. Một số các anh trong đoàn chỉ một đồng chí mặc comple nhưng da mặt còn xanh như sốt rét: "Anh Văn Tiến Dũng đấy". Tối hôm đó, đoàn chúng tôi nghỉ ở Ninh Bình và "bị" ăn một bữa tiệc đứng rất thịnh soạn. Các cô gái của thị xã Ninh Bình thướt tha trong những bộ quần áo dài các màu, tiếp thức ăn liên tục đến nỗi không muốn ăn nữa vẫn cứ buộc phải ăn. Trong đoàn chúng tôi có anh Trần Nghiêm (Trần Văn Nghiêm), người Ninh Bình, rất đẹp trai (theo tôi, các siêu mẫu nam bây giờ còn thua xa) được các cô gái đặc biệt quan tâm "chăm sóc" lúc ăn rất tình cảm (Anh Hai Nghiêm trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ đều chiến đấu ở Nam Bộ, sau này trở thành Trung tướng, Tư lệnh Quân khu 9). Sau bữa tiệc đó, tôi bị rối loạn tiêu hóa và mặc dù đang tuổi ăn, tuổi ngủ vẫn thấy khiếp những buổi tiệc như thế.


Chuyến xe lửa hôm sau chúng tôi đi tiếp là một chuyến tàu đặc biệt chở một đơn vị quân Tưởng Giới Thạch mà bà con ta hồi đó gọi chúng là "Tàu phù" vì chúng ăn ở rất bẩn, bệnh tật và rất nhiều tên bị bệnh phù thũng. Toa riêng của chúng tôi được mắc vào đoàn tàu đó và ngoài toa vẫn treo một lá cờ đỏ sao vàng. Đến ga Thanh Hóa thì thấy một tên sĩ quan trẻ của bọn "Tàu phù" ăn mặc chải chuốt khác hẳn bọn lính của chúng đến toa chúng tôi đòi gỡ bỏ lá cờ đỏ sao vàng, nhưng chúng tôi không chịu, tàu hỏa là của mình, toa là toa riêng.


Đến Huế không biết vì lý do gì, chuyến tàu đó phải dừng lại một ngày. Đoàn chúng tôi tranh thủ vào Đại nội, tham quan các cung điện của triều Nguyễn. Lúc đó, toàn bộ khu vực cung điện vắng bóng người, cảnh vật hiu quạnh. Vì thời gian ít, chúng tôi chỉ đi qua được mấy cung điện Cần Chính, Đông Các, Văn Minh, Võ Hiển, hồ Tịnh Tâm... Ấn tượng ghi lại một ngày ở Huế đối với tôi là mấy cung điện của triều Nguyễn và món ăn ở Huế rất nhiều ớt, ăn vào cay chảy cả nước mắt. Hôm sau, tàu đi tiếp vào Đà Nẵng, bọn "Tàu phù" vẫn đi chuyến đó. Khi tàu bắt đầu chạy, bọn Tàu Tưởng đưa một tên ốm bệnh, mùi hôi thối nồng nặc lên đầu toa chỗ bậc lên xuống của chúng tôi, hình như nó “bĩnh” cả ra quân. Mấy anh đoán là có lẽ nó "hốc" nhiều bún bò Huế quá nên mới thể. Chúng tôi phản đối, nói với tên chỉ huy ở toa trên phải đưa về toa của chúng nó và chúng đã phải làm theo yêu cầu đó.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #22 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:31:23 am »

Xuống ga Đà Nẵng, bà con và một số đồng chí lãnh đạo của thành phố Đà Nẵng cũng cầm cờ, biểu ngữ ra chào đón. Còn bọn "Tàu phù" thì lủi thủi xuống mà chẳng ai quan tâm đến chúng. Tôi trông thấy tên lính ốm hôm trước được chúng khiêng xuống, quẳng vào một xó, chẳng có người ở bên cạnh trông nom. Một số Hoa kiều ở Đà Nẵng mang cờ hoa ra đón đoàn quân "chiến thắng" của Tưởng Tổng Tài1 (Tưởng Giới Thạch), làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Việt Nam. Họ mặc quần áo chỉnh tề, những cô thiếu nữ váy đen, sơ mi trắng là lượt, nhìn thấy đội quân "Tàu phù" bẩn thiu, nhếch nhác, mặt tiu nghỉu, buồn thiu, quên cả vỗ tay hoan hô, cũng chẳng thèm đến chăm sóc những tên lính ốm. Một số lặng lẽ bỏ ra về.


Tới Đà Nẵng thì đoàn cán bộ 72 người của Trường Quân chính Việt Nam khóa 1 công khai được phân đi các nơi từ Nam phần Trung Bộ tới Nam Bộ. Tôi và đồng chí Phùng Như Cương, khoảng 19, 20 tuổi, quê ở huyện Thạch Thất, Sơn Tây được một đồng chí cấp trên đến nhận. Anh trạc tuổi trung niên, mặc bộ quân phục do địa phương tự may, đầu đội mũ kêpi trắng trên vành có một dải kim tuyến nhỏ đính ở đằng trước thêu dòng chữ "Tư lệnh Nam phần Trung Bộ". Những người xung quanh gọi anh là đồng chí Tê đơ (T2 - số 2 tiếng Pháp là đơ = deux). Sau này, chúng tôi mới biết đó là đồng chí Phạm Kiệt, một trong những người chỉ huy của Đội du kích Ba Tơ. Có lẽ vì kết hợp với nhiều công tác khác nên anh đưa tôi và đồng chí Cương cùng anh đi bằng ô tô của anh lúc thì ở Quy Nhơn, lúc thì ở Ninh Hòa... và cuối cùng đến Phan Rang, tỉnh lỵ của Ninh Thuận, trao chúng tôi cho Tiểu đoàn tỉnh Ninh Thuận.


Ngày đầu chúng tôi ăn ở chung với các đồng chí trong Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Có bữa ngồi ăn chung với các anh trong Ủy ban từ Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh đến nhân viên, mọi người vào ăn rào rào, tôi theo thói quen ở ngoài Bắc nâng bát cơm mời to: "Mời các anh ăn cơm". Thế là mọi người cười ầm, tôi ngượng đỏ cả mặt.


Hôm sau, chúng tôi được anh Đinh Văn Thanh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Ninh Thuận gọi vào giao nhiệm vụ: Tôi và anh Cương mỗi người về một đại đội làm chính trị viên đại đội. Anh Cương thì tôi không rõ, nhưng với chức vụ là tiểu đội phó ghi trong quyết định của Bộ Quốc phòng, tôi thấy nhiệm vụ chính trị viên đại đội là quá lớn và nặng đối với tôi. Tôi xin Tiểu đoàn trưởng được nhận làm chính trị viên trung đội, chứ không làm được chính trị viên đại đội. Tiểu đoàn trưởng ngần ngừ một chút rồi đồng ý với đề nghị của tôi. Anh Cương đi về một đại đội, còn tôi được cử xuống làm chính trị viên một trung đội của một đại đội khác. Trung đội trưởng của tôi vốn là một viên đội khố xanh cũ còn trẻ, tên là Hướng, có vẻ là một người có học. Còn Trung đội phó là một cai khố xanh, dân tộc Chăm, tuổi trung niên, hiền lành, ít nói, tên là Châu Nài. Anh gặp tôi với thái độ niềm nở, thân tình. Tôi cảm thấy không khí ban đầu là rất thuận lợi, vì tôi tuy còn nhỏ tuổi nhưng cũng được các anh ấy tôn trọng. Đáp lại, tôi cũng rất thân thiện và cởi mở với các anh ấy. Trung đội tôi đồn trú ở trụ sở của một tên Tây đoàn cũ trên bãi biển nghỉ mát Ninh Chữ, cách Phan Rang độ bảy kilômét. Ngôi nhà khang trang, mát mẻ, dưới nền là một bể nước lớn chứa nước mưa sinh hoạt. Ngoài việc luyện tập và học kỷ luật, hằng ngày, chúng tôi có nhiệm vụ canh giữ cả một vùng biển rộng lớn quanh đó.


Đời sống của chúng tôi tương đối đầy đủ, vì chiến sự ở Nam Bộ còn xa. Thức ăn hằng ngày xen kẽ có thịt dê, thịt cừu, thịt bê hoặc cá biển. Món canh phổ biến là cá cơm nấu với me chua rất ngon. Mỗi ngày, mỗi người được phát 15 điếu thuốc lá cuốn của địa phương và một bao diêm. Tôi mắc thói xấu nghiện thuốc lá từ đó. Tuy đời sống khá đầy đủ nhưng mẹ anh Hướng vẫn gửi người mang đến cho anh những món ăn ngon nấu ở nhà. Hướng thường mời tôi và Châu Nài cùng thưởng thức.


Có lần, dân quân ở vùng núi sát biển Phương Cựu đến báo có một thuyền lạ đậu ở ngoài khơi. Đáng lẽ việc này phải do cán bộ quân sự giải quyết, nhưng tôi "gương mẫu" nhận đi thay. Từ Ninh Chữ đến Phương Cựu khoảng 6 - 7 kilômét, họ chuẩn bị cho tôi một con ngựa không có yên để đi. Trời tối, tôi cùng hai dân quân địa phương đi xuồng ra kiểm tra. Đó là một con thuyền nhỏ của một thương nhân người Hoa. Ông ta khai là vào phía trong Nam để buôn bán. Chẳng kiểm tra giấy tờ, cũng không lục soát gì hết, tin lời chủ thuyền khai, chúng tôi trở về. Lần ấy trờ về tôi thấy mình thật là ngốc, rất mất cảnh giác. Nếu như gặp bọn Việt gian hay hải phỉ thì thật rất nguy hiểm, không biết sẽ ra sao.


Vào khoảng tháng 12 năm 1945, tôi không nhớ rõ ngày, có tin quân ta ở Phan Rang đã tập kích vào một đơn vị quân Nhật cỡ đại đội đóng tại trại giám binh cũ của Pháp. Đơn vị quân Nhật này đang chờ quân Anh đến giải giáp. Tôi không hiểu rõ ta chủ trương đánh để làm gì vì không được thông báo. Có thể, phía ta cho rằng, quân Anh đến giải giáp bọn Nhật ở đây thì bọn lính Pháp núp sau quân Anh có thể mở rộng chiến sự ra các tỉnh Nam Trung Bộ và bọn Nhật sẽ bị chúng sai khiến, lợi dụng để đánh ta. Tôi nghe nói lãnh đạo ở tỉnh Ninh Thuận đã nhiều lần thương lượng với bọn Nhật đưa vũ khí cho ta; đổi lại, ta sẽ bảo đảm cuộc sống cho họ và tìm cơ hội để cho trở về Nhật. Trên thực tế thì cũng đã có một số sĩ quan Nhật chạy sang hàng ta, đã và đang chiến đấu hoặc huấn luyện cho bộ đội ta. Nhưng bọn Nhật ở đây không chịu và cảnh giác, tăng cường canh gác để tự vệ đợi quân Anh đến. Tôi có nghe nói, cuộc lập kích của ta được tiến hành bí mật vào ban đêm, dùng bốn người bắn giỏi bắn chết bốn tên lính gác ở bốn bốt gác quanh trại, sau đó đội cảm tử xung phong vào các phòng ngủ của chúng ném lựu đạn, thủ pháo tiêu diệt chúng. Sau hiệu lệnh tấn công, bốn tên lính Nhật gác ở bốn điểm bị bắn chết, đội cảm tử xung phong vào, dùng thủ pháo, lựu đạn ném và đánh giáp lá cà với bọn lính Nhật. Nhưng trong số lựu đạn của ta có nhiều quả không nổ, chỉ diệt được một số mà không dứt điểm được và bị đánh bật ra. Các đơn vị ta phải tổ chức bao vây, củng cố lực lượng để tổ chức tiến công tiếp.


Trung đội tôi được lệnh phải về gấp Phan Rang để tăng cường cho mặt trận. Trung đội trưởng Hướng bị ốm không đi được. Tôi và Châu Nài phải đi nhận nhiệm vụ và chỉ huy trung đội. Nhiệm vụ cụ thể của chúng tôi là phải vào đình Dinh, một ngôi đình chỉ cách trại giám binh khoảng gần 200 mét, phá một kho gạo gần đình và chốt giữ lấy đình, chờ thời cơ xung phong tiêu diệt bọn lính Nhật.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #23 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:32:42 am »

Tôi và Châu Nài cho một tổ sục sạo đi trước để trinh sát, phát hiện địch, số còn lại của trung đội do tôi và Châu Nài dẫn đầu, hàng một, lợi dụng địa hình bí mật đi dọc phố tiến về phía đình Dinh. Trên đường phố, thỉnh thoảng gặp một xác người của ta bị lính Nhật bắn chết. Bọn lính Nhật không phát hiện được bộ đội ta nên trung đội tôi dễ dàng chiếm lĩnh được đình Dinh. Việc đầu tiên chúng tôi phải làm là triển khai ngay đội hình chiến đấu bảo vệ ngôi đình. Một bộ phận làm nhiệm vụ phá kho gạo như tiểu đoàn đã giao. Gọi là kho nhưng thực tế chỉ có khoảng độ hơn hai tấn gạo đựng trong các bao tải. Có lẽ cấp trên lệnh phá chỗ gạo này đề phòng quân Nhật có lương thực, sẽ kéo dài sự chống cự của chúng để đợi quân Anh đến. Không thể có chỗ đốt nên chúng tôi tìm cách đổ tung tóe ra khắp xung quanh, địch có vét lên cũng không thể dùng được. Đồng thời, chúng tôi cử liên lạc về báo cáo với cấp trên là trung đội đã chiếm lĩnh được đình Dinh và phá xong kho gạo. Ngay hôm sau, có những tờ bướm báo tin thắng lợi là quân ta chiếm được đình Dinh là có ý biểu dương trung đội chúng tôi. Buổi tối hôm đó, chúng tôi được bổ sung một tiểu đội dân quân toàn là người dân tộc. Tôi thấy các chiến sĩ trong trung đội gọi là dân quân Bà Râu (tên làng của tiểu đội dân quân đó), được cử đến để phối hợp chiến đấu. Anh em phần lớn còn đóng khố, mình trần, được trang bị cung nỏ và cả giáo nhọn. Không biết sử dụng tiểu đội dân quân thế nào cho phù hợp để họ phát huy được thế mạnh của mình, tôi và Châu Nài phài bố trí anh em nằm phục sát những bức tường thấp bao quanh sân đình để nếu có bọn Nhật sục sạo ra thì dùng cung nỏ tiêu diệt. Khoảng sáng sớm hôm sau, bọn lính Nhật sục sạo ra thật, chúng phát hiện thấy anh em liền liên tiếp tung lựu đạn vào đội hình của anh em và dùng tiểu liên bắn liên tục vào đội hình bố trí của trung đội. Chúng tôi bắn trả lại bằng súng trường, nhưng đạn có nhiều viên hỏng không nổ. Một lúc sau, bọn lính Nhật chỉ có khoảng vài tên đi sục sạo cũng rút. Thấy tình hình bất lợi vì địch đã phát hiện, nếu chúng huy động lực lượng đông hơn đánh ra thì ta không đủ sức chống lại sẽ tổn thất, chúng tôi cho bộ đội và tiểu đội dân quân rút xuống cách đình Dinh độ 300 mét, địa hình thuận lợi hơn cho việc bố trí chiến đấu. Tiểu đội dân quân có vài người bị thương cũng rút hết và không tham gia chiến đấu nữa.


Tôi viết báo cáo tình hình chiến đấu, cả việc rút xuống cách dinh Dinh 300 mét về tiểu đoàn và xin tiếp tế thêm cho đạn loại tốt. Đến gần chiều tối thì Tiểu đoàn trưởng Đinh Văn Thanh đến. Anh yêu cầu tôi đưa đơn vị lên đánh chiếm lấy một vài nhà tầng ở phía trên đình Dinh và anh, với súng lục trong tay tiến lên đầu tiên. Trước sự gương mẫu của một đồng chí chỉ huy cấp trên, tôi cũng xách khẩu "mousqueton" (súng trường của Pháp) chạy lên. Tôi và anh vọt qua một quãng trống, chắc địch phát hiện được. Tôi thấy đạn địch xé không khí "chiu chiu" bay về phía chúng tôi. Tôi vọt đến sau một ngôi nhà hai tầng cửa khóa, dùng báng súng phá cửa để vào. Vài chiến sĩ theo sau tôi cùng vào. Mặc dù dịch phát hiện và liên tục bắn về phía đơn vị, nhưng chúng tôi vẫn chiếm lĩnh được một số nhà và bố trí chiến đấu ở đó, một đường phố chính của Phan Rang, nơi có những cửa hiệu lớn nhất. Tôi theo cầu thang lên tầng trên, các chiến sĩ theo tôi cũng thận trọng lần lượt bước lên. Trời về chiều, ánh sáng nhạt dần. Tầng trên là một căn phòng rộng. Nhìn vào tường bên cạnh, tôi thấy một chiến sĩ mặc bộ quần áo tím than, tay xách khẩu súng. Tôi mừng quá tưởng là chiến sĩ của một đơn vị bạn đã đến trước, bèn "a" lên một tiếng mừng rỡ tiến về phía anh ta định giơ tay ra bắt, cũng thấy anh ta tươi cười tiến về phía mình. Đến gần té ra là một cái gương lớn, người trong gương lại chính là mình. Chỉ có mấy hôm chiến đấu căng thẳng, mặt mày đã biến đổi đến nỗi không nhận ra mình nữa. Tôi cười thầm và tẽn tò vì sự nhầm lẫn của mình. Bình tĩnh lại, tôi thấy đó là một cửa hiệu vải lụa. Chủ của nó nghe đâu là một người Java (Nam Dương). Mấy chiến sĩ theo sau tôi lên cũng nghiêng ngó có vẻ lạ lẫm. Tôi dặn anh em là không được lấy bất cứ cái gì của họ, giữ nghiêm kỷ luật với dân. Đối diện với ngôi nhà này, bên kia đường, trung đội tôi cũng đã chiếm lĩnh được một ngôi nhà hai tầng. Đó là một cửa hiệu tạp hóa lớn của một người miền Bắc, một thương gia nổi tiếng ở thị xã Phan Rang. Cửa hiệu mang tên Hiệp Thạnh nên dân ở đó quen gọi là ông Hiệp Thạnh1 (Ông Hiệp Thạnh đến ngày 6 tháng 1 năm 1946 là một trong ba ứng cử viên đại biểu Quốc hội ở Ninh Thuận nhưng không trúng cử). Sáng hôm sau, ông Hiệp Thạnh về nhà, thấy cửa nhà, hàng hóa còn nguyên, ông mừng rỡ và nói với anh em chúng tôi: "Có gì ăn được các anh cứ dùng" rồi vội vã đi ngay.


Có tin Chi đội Nam Long2 (Chi đội lúc đó là trung đoàn, do đồng chí Nam Long chỉ huy (sau này là Trung tướng)) từ phía trong ra, chi viện cho Ninh Thuận để giải quyết dứt điểm bọn Nhật ở đây. Chi đội triển khai bao vây phía sau doanh trại của bọn lính Nhật, phía bên kia sông Đinh. Con sông này vào mùa khô có nhiều đoạn cạn có thể lội qua được. Như vậy, vòng vây quanh bọn lính Nhật đã siết chặt thêm, vấn đề còn lại là chuẩn bị khẩn trương kế hoạch toàn mặt trận tiến công tiêu diệt chúng. Bọn lính Nhật đã phát hiện được nguy cơ đối với chúng, lợi dụng một đêm mưa to, bí mật vượt qua đoạn sông ta sơ hở, hành quân chạy về Đà Lạt. Trong khi đó, doanh trại của chúng vẫn nổ súng bắn ra như thường lệ. Khi ta phát hiện được có một bộ phận chúng bí mật rút chạy thì chúng đã cao chạy xa bay. Ta tổ chức tiến công, bọn còn lại chống trả quyết liệt. Cuối cùng, ta xung phong tràn vào, chỉ thấy một số tên còn lại toàn là những tên đã bị thương không hành quân được nữa. Chúng liều chết ở lại đánh đến cùng để đại bộ phận chạy thoát, trong đó có tên chỉ huy cao nhất của chúng đã bị thương nát cả hai chân.


Sau khi đã tiến hành giải quyết nhanh chóng việc thu dọn chiến trường, tình hình Phan Rang trở lại bình thường. Trung đội chúng tôi được chia một số chiến lợi phẩm của bọn lính Nhật trong kho quân trang của chúng, trong đó có một màn tuyn màu xanh rộng cho cả trung đội. Cán bộ mỗi người được một áo sĩ quan của chúng. Riêng tôi được chia một chiếc áo gabađin mùa đông của sĩ quan Nhật còn mới, mặc rất vừa. Nhưng tôi chẳng dùng tới vi ở Ninh Thuận "không có mùa đông"!


Trung đội tôi đóng quân ở Phan Rang mà không phải trở lại Ninh Chữ nữa. Nhưng có một điều lạ, chẳng thấy cấp trên nói trung đội thuộc biên chế của đại đội nào, cũng chưa bao giờ thấy cán bộ đại đội đến cả. Một cán bộ ở tiểu đoàn đưa cho tôi một tài liệu tuyên truyền phát triển Đảng, nhưng cũng chẳng hỏi gì thèm vì lúc đó mới sắp bước sang tuổi 17.


Tỉnh mở một lớp bồi dưỡng ngắn ngày giáo viên bình dân học vụ cho cả bộ đội, tôi được chỉ định tham dự. Ở đây, tôi gặp bạn An, là Chính trị viên một trung đội khác cũng vừa học ở Trường Quân chính Việt Nam khóa 2 về, và Tân, Trung đội phó, một bạn thân của An. An và Tân trước đều là học sinh, gia đình giàu có, trạc tuổi 18, 19, cùng vào bộ đội sau Cách mạng Tháng Tám. Những ngày nghỉ, An và Tân thường mời tôi đi ăn hiệu. Tuổi trẻ, đều là học sinh cũ nên chúng tôi cũng dễ thân nhau, tuy chưa hiểu sâu về nhau nhiều. Trong những buổi tối sinh hoạt văn nghệ, chúng tôi, nhất là tôi và An đều có tiết mục tham gia.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #24 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:33:42 am »

Trong thời gian này, khoảng cuối tháng 12 năm 1945, đầu tháng 1 năm 1946, toàn tỉnh Ninh Thuận chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Những ngày đó, thị xã Phan Rang chăng đầy băng, cờ, biểu ngữ rực rỡ như ngày hội. Cuộc tuyên truyền, vận động bầu cử Quốc hội được tiến hành sôi nổi, rầm rộ. Cả tỉnh Ninh Thuận được bầu một đại biểu và có ba ứng cử viên; một là ông Trần Thi, một đảng viên cộng sản lão thành, hai là ông Nguyên, Tri phủ Diễn Châu (Nghệ An), người làng Tri Thủy thuộc huyện Ninh Hải, đang ở quê, ba là ông Hiệp Thạnh, thương gia ở thị xã Phan Rang. Trong ngày bầu cử, một không khí tươi vui tràn ngập khắp nơi. Mọi người hào hứng, phấn khởi đi bỏ phiếu, thấy nhân dân mình được thực sự làm chủ đất nước mình. Cuối cùng, đại bộ phận cử tri bầu cho nhà cách mạng lão thành Trần Thi.


Đang tận hưởng dư vị của không khí tưng bừng sau thắng lợi của cuộc bầu cử Quốc hội và thư giãn sau những căng thẳng của cuộc chiến đấu với bọn lính Nhật vừa rồi thì trung đội tôi được lệnh khẩn cấp và bí mật lên Đà Lạt. Bọn lính Nhật ờ Đà Lạt, cộng thêm số còn lại ờ Phan Rang chạy lên, vẫn còn chiếm đóng thành phố. Lúc này, các anh Hướng và Châu Nài đã xin giải ngũ vì lý do sức khỏe và gia đình. Trung đội trưởng mới thay thế dẫn bộ đội đi bằng xe lửa ban đêm đến Km 8 Đà Lạt, cùng một số đơn vị bạn triển khai bao vây Đà Lạt. Đường xe lửa từ Tua Chàm lên Đà Lạt lúc này có đường răng cưa ở giữa, còn chạy được.


Còn tôi, vì còn phải dự nốt lớp bồi dưỡng giáo viên bình dân học vụ, đi hôm sau. Tôi chẳng kịp chia tay với anh Phùng Như Cương, đại đội anh cũng đang ở Phan Rang và hai bạn An và Tân. Khuya hôm đó, Tiểu đoàn bố trí tôi đi nhờ xe con của một cán bộ cao cấp cũng đến Đà Lạt công tác. Đêm đó, trăng sáng rất đẹp, trên con đường vắng vẻ từ Phan Rang đến Đà Lạt, thỉnh thoảng dưới ánh đèn pha ô tô, từng đàn lợn rừng hoặc vài con hoẵng vọt qua đường. Khoảng nửa đêm, xe dừng lại nghỉ ở Dran (Đà Rằng). Ra khỏi xe, trời lạnh, tôi phải lấy chiếc áo gabađin chiến lợi phẩm ra mặc. Chủ xe vào một quán nhỏ còn le lói ánh sáng của một chiếc đèn dầu gọi ba cốc cà phê. Ba anh em nhấm nháp cốc cà phê cho ấm bụng và tỉnh táo xong, từ biệt cái phố núi hiu hắt và yên tĩnh đến nao lòng ấy, lên đường tiếp. Đến đèo Ngoạn Mục (Bellevue), ô tô dừng lại nghỉ giữa đỉnh đèo cho nguội máy. Chúng tôi ra khỏi xe, trời lạnh giá, ngắm nhìn cảnh vật xung quanh. Phía rất xa, thấp thoáng mờ ảo dưới ánh trăng vàng trong vắt là những bãi cát vàng và biển khơi bát ngát. Thảo nào người ta gọi đây là đèo Ngoạn Mục, tiếng Pháp là Bellevue. Giá như không có bọn xâm lược, không có chiến tranh, với những cảnh đẹp mê hồn như vậy của đất nước thì đời sống của con người sẽ êm đềm và hạnh phúc biết bao.


Tôi đến đơn vị đã thấy anh em trung đội ở trong một cái hầm lớn và những đường hào chiến đấu. Tiểu đoàn trưởng của tiểu đoàn mà trung đội tôi phối thuộc tên là Trần Tử Oai, đẹp trai, quần áo bảnh bao, có vẻ là người có học. Anh đến thăm đơn vị, nhưng cũng chẳng nói với tôi điều gì về nhiệm vụ của riêng đội tôi. Còn tôi cũng đơn giản hiểu rằng đơn vị mình đến để chiến đấu ngăn không cho quân Nhật đánh ra. Việc cung cấp ăn uống cho trung đội cũng do nhân dân đảm nhiệm. Các chị đem cơm cho chủng tôi hầu hết đều có nước da rất đẹp của phụ nữ Đà Lạt, không phấn son gì mà như trứng gà bóc. Thức ăn của bộ đội hoàn toàn khác với Ninh Thuận, toàn là các loại rau, củ đặc sản của Đà Lạt xào với thịt bò và canh cũng vậy.


Đi đôi với việc sẵn sàng chiến đấu, ban ngày tôi vẫn bố trí được 1 - 2 tiếng để dạy cho những chiến sĩ chưa biết đọc, biết viết vì gần hết trung đội tôi mù chữ.

Ở ngoại vi Đà Lạt, chúng tôi làm nhiệm vụ bao vây quân Nhật trong thành phố chưa đầy một tuần lễ, không phải đánh đấm gì thì có lệnh cho trung đội phải rút về Ninh Thuận.

Chuyển quân lần này cũng yêu cầu phải giữ bí mật. Chúng tôi lặng lẽ ra ga xe lửa, leo lên những chiếc toa đen. Xe lửa chuyển bánh và đi liền một lèo về Tua Chàm rồi đi thẳng về phía Nha Trang. Đến Cam Ranh, xe lửa dừng lại thì trời sắp sáng. Trung đội được lệnh triển khai ngay ở các giao thông hào trên bãi biển. Buổi sáng nhìn rõ một chiến hạm lớn màu trắng treo cờ Pháp đậu cách bờ biển khoảng hai kilômét. Đó là chiếc chiến hạm Richelieu của thực dân Pháp mới đến. Buổi tối, một cuộc họp của chỉ huy các đơn vị được triệu tập đến một ngôi nhà kín đáo trong phố để bàn kế hoạch tác chiến. Tôi đến dự đã thấy bảy, tám người ngồi quanh bàn. Người chủ trì cuộc họp được giới thiệu là đồng chí Cao Thanh Trà, Trung đoàn trưởng, người mà tôi đã gặp một lần ở đâu đó lúc mới về Ninh Thuận, mặc quân phục cũng giống như đồng chí Tê đơ (T2), dải kim tuyến trên vành mũ thêu dòng chữ "Ủy viên Tư lệnh Nam phân Trung Bộ". Hôm nay, đồng chí mặc thường phục giản dị hơn. Đồng chí Trà đặt vấn đề: "Có thể đánh chiếm đảo Bình Ba được không?". Đảo Bình Ba là một đảo đá khá cao án ngữ ngay cửa vào vịnh Cam Ranh, một vị trí rất hiểm yếu về mặt quân sự mà một bộ phận lính của chiến hạm Richelieu đang chiếm đóng. Thảo luận qua thấy quân ta có ít, phương tiện lại thiếu nên không thể đánh nổi. Cuối cùng kết luận là tập trung lực lượng phòng thủ, không để địch đổ bộ lên chiếm Cam Ranh.


Ở bến cầu cảng, tôi nhìn thấy một chiếc ca nô sơn trắng rất đẹp nổi lên chữ NOLAN sơn xanh ở sườn, neo tại vị trí cách đội hình chiến đấu của trung đội khoảng gần 400 mét. Nghe nói ca nô đó là của chiến hạm Richelieu. Hôm chiến hạm mới đến, một tổ chiến sĩ cảm tử của ta do một sĩ quan Nhật chạy sang hàng ngũ ta chỉ huy xin được ra chiếm lấy chiếc ca nô đó. Lợi dụng đêm tối, họ đã bí mật tiếp cận, tháo được xích, nổ máy chạy được vào cảng mặc dù khi phát hiện được, địch bắn đuổi rất ác liệt.


Để phòng thủ chống đổ bộ, ngoài lực lượng bộ binh, ta có hai khẩu DC-25 của Pháp đặt ở hai điểm bên trong bãi cát. Đó là hai khẩu cao xạ đạn 25mm dùng để bắn máy bay chứ không phải là bắn tàu chiến. Buổi sáng, bọn lính thủy trên chiến hạm vẫn ngang nhiên tập trung trên boong làm lễ chào cờ. Ta nhìn bằng mắt thường cũng thấy rõ, mà còn nghe được cả tiếng kèn của chúng, nhưng vì không có súng đủ tầm để bắn nên bộ đội ta rất bực tức. Bọn địch dưới chiến hạm thinh thoảng đùng đại bác bắn vào trận địa của ta, nhưng chiến hào trên bãi biển của ta khá tốt nên ở trung đội tôi không có thương vong. Bọn chúng còn dùng đại bác bắn vào các đoàn xe lửa của ta từ Bắc vào Nam hoặc ngược lại, nhưng cũng không lần nào trúng đích.


Có một buổi, pháo địch bắn dồn dập vào trận địa, bộ đội ta trong công sự vẫn an toàn. Đó là loạt pháo yểm trợ cho một tốp lính đi trên chiếc ca nô khác vào cắt dây neo, cướp lại chiếc ca nô NOLAN và kéo nó về chiến hạm. Hai khẩu pháo cao xạ 25mm của ta cũng hạ nòng, cùng bộ binh ta bắn về phía địch nhưng hiệu quả kém, không ngăn được chúng. Ta bị địch cướp lại chiếc NOLAN, nhưng chúng vẫn chưa dám đổ bộ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #25 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:34:37 am »

Cứ nhùng nhằng thế dăm hôm thì trung đội tôi lại được điều động đến một địa điểm mới, địa danh đó gọi là Ba Ngòi. Lần này nhiệm vụ được giao rõ ràng hơn các lần trước. Chúng tôi có nhiệm vụ đến vị trí cách cảng Cam Ranh khoảng hai kilômét về phía nam, bên cạnh đường 1A để chống địch ở chiến hạm Richelieu vượt qua bãi sú đổ bộ lên và cảnh giới phía nam, nếu địch đánh ra theo đường 1 thì tổ chức đánh chặn chúng.


Trung đội tôi nhanh chóng chuyển đến địa điểm mới. Ở đó vắng vẻ chỉ có hai cái nhà độc lập ở sát nhau về phía tay phải đường 1 từ Bắc vào Nam. Một cái là nhà ngói khoảng ba gian, một cái là nhà tranh rộng tương tự cách đường 1 khoảng 5-6 mét. Mỗi nhà đều trồng một hàng dâm bụt cao khoảng 1,5 - 1,6 mét sát đường nhựa. Sau nhà, qua một bãi cỏ trống trải, cách đường sắt khoảng 200 mét, bên trong đường sắt cũng là một bãi cỏ trống rộng khoảng 200 mét, rồi đến rừng cây rậm rạp.


Thỉnh thoảng có những chuyến xe lửa từ Bắc vào Nam hay ngược lại chạy qua đây với tốc độ nhanh, pháo ở chiến hạm địch bắn, nhưng chưa lần nào chúng tôi thấy trúng đích. Lúc này, trang bị cho trung đội chỉ có một khẩu tiểu liên (stel) của Pháp do Trung đội trưởng giữ, một khẩu mousqueton do tôi giữ và bốn khẩu anhđôsinoa (indochinois) cho ba tiểu đội trưởng và một tiểu đội phó giữ, số còn lại là giáo nhọn và mỗi chiến sĩ có một hoặc hai quả lựu đạn do công binh xưởng của ta chế tạo. Tiếp tế cho chúng tôi ngày ba bữa vẫn là các chị phụ nữ. Các chị gánh cơm và thức ăn nấu sẵn ở đâu đó đến trung đội. Được vài hôm thì Trung đoàn trưởng Cao Thanh Trà đến kiểm tra. Hôm sau thì Chính ủy Trung đoàn Lê Tự Nhiên đến. Từ khi tôi về trung đội này, đây là lần duy nhất trung đội tôi được tiếp các anh. Các anh đến nhắc nhở, động viên mấy câu rồi đi ngay.


Từ hôm đến đây, chúng tôi chỉ bố trí một trạm gác dưới một gốc cây me cao trước cửa nhà, ở bên kia đường, vừa quan sát phía biển đề phòng giặc đổ bộ, vừa quan sát về phía nam, đề phòng chúng tấn công bằng đường bộ. Còn toàn trung đội, trang phục, khí giới luôn gọn ghẽ, sẵn sàng chiến đấu cao. Trung đội cũng đặc biệt được biên chế riêng một y tá.


Một buổi trưa, hôm đó là 27 tháng Chạp âm lịch, các chị gánh cơm đến và có một món cá chim kho rất ngon. Khi các chị ra về, chúng tôi nằm nghỉ ngơi buổi trưa dưới nền nhà. Khoảng 1 giờ 30 phút đến 2 giờ chiều, chúng tôi nghe thấy rầm rầm tiếng xe cơ giới từ phía nam tới, mỗi lúc một rõ và to hơn. Tôi ở ngôi nhà tranh, qua cửa liếp, tôi thấy một rồi hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám chiếc xe tăng của lính Pháp chạy với tốc độ rất nhanh vừa đi vừa bắn liên thanh. Đó là đoàn xe tăng tiền vệ của lính Pháp. Chúng tiến công từ phía nam ra. Đoàn xe tiền vệ đi qua, đồng chí chiến sĩ gác ở gốc cây me vọt qua đường chạy vào báo cáo: "Lính Tây!".


Cuộc tiến công của chúng khá bất ngờ, chúng tôi không phản ứng kịp, một mặt toàn đơn vị cũng ý thức được rằng nếu phản ứng bằng bẳn súng hay ném lựu đạn bây giờ là tự sát, sẽ bị chúng tiêu diệt cả trung đội. Tôi lệnh cho tiểu đội ở ngôi nhà tranh lập tức vượt qua bãi cỏ trống sau nhà, sang bên kia đường sắt lên cụm công sự của quân Nhật trước kia đánh chặn chúng. Tôi thấy Trung đội trưởng cũng đang dẫn đầu đội hình vận động nhanh đến khu công sự của quân Nhật theo kế hoạch từ trước.


Bắt đầu tôi nghe thấy tiếng tiểu liên của Trung đội trưởng bắn vào bọn bộ binh cơ giới của địch. Tôi cũng lập tức cho triển khai tiểu đội ở một suối cạn cạnh đó bắn ra phối hợp. Bọn Pháp bắn liên thanh như đổ đạn về phía chúng tôi. Một lúc sau chúng tôi không nghe thấy tiếng tiểu liên và súng của ta nữa. Vì cây quá rậm rạp nên chúng tôi không trông thấy được nhau. Tiếng đạn của địch cũng thưa dần. Tôi phán đoán là Trung đội trưởng đã cho rút nên lệnh cho tiểu đội rút. Kiểm tra lại tiểu đội không ai bị thương vong, nhưng vẫn lo chưa liên lạc với Trung đội trưởng. Tôi dẫn tiểu đội vào rừng đi về phía địa điểm đã quy định, tập trung ở đó sau chiến đấu theo kế hoạch đã định từ trước. Mặt trời đã lặn, sâm sẩm tối, đang lúc bí không biết chắc địa điểm đó ở đâu thì gặp một thanh niên người dân tộc. Anh ta chỉ đeo một cái khố. Tôi nhờ anh ta dẫn đường đến đó. Thấy anh ta có vẻ hốt hoảng, tôi theo sát và bấm một chiến sĩ nữa theo sát anh ta. Đi theo đường mòn trong rừng được một đoạn, đến một bụi cây rậm rạp, thì vụt một cái, anh ta lao vào bụi và biến mất. Cả tiểu đội đứng vừa gọi, vừa dỗ anh ta dẫn đi tiếp, nhưng bặt vô âm tín. Thế là đành phải bàn nhau đi tiếp. Theo đường mòn cuối cùng chúng tôi cũng tới nơi và quanh đó một số ít gia đình chạy giặc cũng tản cư đến địa điểm đó.


Tôi cho bộ đội nghỉ ngơi ở một lùm cây và đợi Trung đội trưởng dẫn hai tiểu đội kia về tập trung. Đêm đó tuy đói, nhưng vì mệt, dù không có màn chiếu gì, anh em vẫn ngủ tốt. Sáng hôm sau, trời mưa, vẫn chưa thấy Trung đội trưởng và hai tiểu đội kia về. Không ai có áo mưa, vì bộ đội thời đó nghèo lắm, thiếu thốn đủ thứ. Chúng tôi ngồi co ro bên nhau, buồn rười rượi. Một lúc thì có một người dẫn hai người đến, một người đã lớn tuổi, nhỏ bé, mặc một chiếc quần đùi và áo sơ mi, tay chống gậy, một người cao lớn và trẻ hơn, mặc một chiếc quần âu đã nhàu nát và một chiếc sơ mi. Chúng tôi được giới thiệu đó là đồng chí Hoàng Quốc Việt và đồng chí Huỳnh Văn Tiểng từ Nam Bộ ra Bắc qua đây vào thăm bộ đội. Đồng chí Hoàng Quốc Việt nói chuyện với chúng tôi về tinh thần chiến đấu đánh bọn Pháp của bộ đội và nhân dân Nam Bộ, về những gương dũng cảm của bộ đội Bình Xuyên... Nói xong, các anh và người dẫn đường tiếp tục theo đường rừng ra Bắc. Các anh vừa đi thì có một gia đình chạy giặc, ở gần chỗ chúng tôi vào thăm. Ông chủ gia đình mang theo một ít bánh làm bẳng bột cùi dừa và đường trắng mà gia đình chuẩn bị cho Tết Nguyên đán tặng chúng tôi. Tôi từ chối với lý do là gia đình phải chạy giặc cũng đang rất khó khăn, nhưng ông nhất định không chịu. Nhận thấy tình cảm chân thành của ông, anh em rất cảm động; tôi đành phải nhận và cảm ơn ông, ông mới vui vẻ ra về. Đó là một thứ bánh ngày Tết của Khánh Hòa, tôi không biết gợi là bánh gì nhưng rất thơm ngon. Chia ra mỗi chiến sĩ chỉ được mỗi người hai cái nhỏ, đóng thành hình vuông vừa một miếng, không giải quyết được cái đói vì từ trưa hôm qua đến giờ chưa có được một hạt cơm vào bụng, nhưng cũng thấy ấm lòng vì tình nghĩa của nhân dân đối với bộ đội.


Rồi chúng tôi cũng tìm được Trung đội trưởng và hai tiểu đội ở ngay gần chỗ chúng tôi, không có ai bị thương vong; chỉ vắng một người không rõ là lạc hay vì sợ chiến đấu mà đào ngũ. Cả ngày hôm ấy, chúng tôi cho người đi tìm các cơ quan để hỏi tình hình và chủ trương tiếp theo nhưng chẳng gặp được ai. Ngày hôm sau, chúng tôi gặp một đại đội, nhưng không phải của Ninh Thuận. Các anh cũng đánh địch, vào rừng và từ trưa hôm qua đến giờ cũng không có gì ăn. Đồng chí Đại đội trưởng gọi cán bộ trung đội đến hội ý, tôi cũng tham dự. Bàn đi bàn lại, cuối cùng quyết định là hai đơn vị sáp nhập với nhau, do đồng chí Đại đội trưởng chỉ huy chung và hành quân theo đường rừng về phía Nha Trang, hy vọng gặp được cấp trên và đợi chỉ thị tiếp. Đi được một chặng dài với cái bụng đói, cả đơn vị dừng lại nghỉ. Một chiến sĩ của trung đội tôi, không biết tìm đâu được nải chuối rừng còn xanh, đem luộc rồi chia nhau, mỗi người được nửa quả ăn cho đỡ đói.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #26 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:35:24 am »

Chuẩn bị đi tiếp thì trung đội tôi xảy ra một sự cố. Một tiểu đội trưởng người Ninh Thuận không chịu đi với lý do "Tôi không đi đâu hết, tôi chỉ chiến đấu ở quê hương mình thôi". Anh ta tên là Thảo, khoảng hơn 20 tuổi, gia đình ở Phan Rang. Tôi thuyết phục anh ta không được. Với thái độ giận dữ, tôi yêu cầu anh ta trả lại khẩu súng và tự mình đeo, không giao cho chiến sĩ nào cả vì thấy ai cũng đói và mệt. Anh ta có vẻ ngượng ngập, nhưng vẫn lỳ lợm ở lại. Đến ngày thứ ba vẫn không có cơm ăn, đoàn quân đang đi thì thấy đồng chí Nguyễn Văn Nhu, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến tỉnh Ninh Thuận hối hả chạy đến và bảo đơn vị dừng lại. Tôi đã từng ngồi ăn cơm tập thể cùng với anh mấy hôm đầu mới đến Ninh Thuận nên nhận ra anh ngay và rất mừng rỡ. Anh yêu cầu toàn đơn vị dừng lại, sau khi biết tình hình đã ba hôm nay anh em chưa được ăn cơm, anh bảo người đi theo anh đi chuẩn bị gấp cơm cho bộ đội ăn. Không biết huy động từ nguồn nào mà chỉ một giờ sau, cả đại đội được ăn một bữa cơm nóng với thịt lợn. Anh Nhu yêu cầu đơn vị quay trở lại Ninh Thuận và tiếp tục làm nhiệm vụ ở đó. Tất nhiên là chúng tôi rất vui mừng vì đã bắt liên lạc được với cấp trên và không một chút do dự quay trở về Ninh Thuận.


Trung đội chúng tôi lại tách ra khỏi đại đội mà đơn vị vừa mới sáp nhập vào và trú quân ở một vùng tự do của tỉnh Ninh Thuận, địch chưa đủ lực lượng chiếm đóng.

Vào thượng tuần tháng 3 năm 1946, chúng tôi được thông báo Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ký với Pháp Hiệp định Sơ bộ ngày 6 tháng 3 và đình chiến. Từ đó, chúng tôi không được lệnh phải tác chiến, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn còn lo tình hình không phải đã ổn định, cần cảnh giác với sự tráo trở nham hiểm của giặc Pháp.


Do chiến đấu căng thẳng, đói khát, lại ngủ rừng nhiều, đêm không có màn chiếu gì cả nên tôi bị sốt rất nặng và mê man bất tỉnh.

Khi tỉnh lại, tôi thấy mình nằm trên một cái chiếu, xung quanh là những giọng nói miền Bắc. Tiếng một phụ nữ:

- Anh ấy tỉnh rồi.

Có tiếng một người đàn ông:

- Còn trẻ quá.

Tự nhiên nước mất tôi trào ra, không kìm nổi nữa. Một phần vì thấy mình bất lực không như lúc còn khỏe, một phần vì thấy mình ốm nặng, lần đầu xa gia đình. Giọng nói của chị phụ nữ:

- Anh ấy là Chính trị viên trung đội, nghe nói anh ấy chịu khó dạy chữ cho bộ đội, thật là một việc làm tốt.

Tôi cảm thấy xấu hổ vì sự mềm yếu của mình. Vì mệt quá, tôi cũng không biết là mình đang ở chỗ nào. Khi tỉnh táo hẳn, qua chuyện trò với chị phụ nữ, tôi mới biết chị là Đào Thị Thu Tâm, khoảng ngoài 30 tuổi, là một bà đỡ đẻ (sagefemme) ở Sài Gòn, tìm đường ra Bắc nhưng đường bị tắc phải ở lại Ninh Thuận làm y tá cho đơn vị an dưỡng của bộ đội Ninh Thuận. Chị là tác giả của một phóng sự dài có tiêu đề "Mặt trận miền Nam có gì lạ" với bút danh Đào Thị Thu Tâm. Chị nói chị là vợ của đồng chí Trần Huy Liệu (nhưng không nói là vợ thứ mấy). Chị nói chuyện với tôi dịu dàng và thân mật như một người chị và đưa cho tôi quyển sách mà chị là tác giả. Sách nói về cuộc chiến đấu của những người theo đạo Hòa Hảo, đứng đầu là pháp chủ Huỳnh Phú Sổ, khi đó còn đang chống lại thực dân Pháp. Còn hai người đàn ông trạc tuổi 40, một anh tên là Quýnh, một anh tên là Phú nói quê ở làng Quần Phương Đông, tỉnh Nam Định, gần làng Hành Thiện, định cư ở Ninh Thuận đã lâu. Tôi đoán hai anh có lẽ là viên chức nhỏ thời Pháp, sau Cách mạng Tháng Tám đi theo cách mạng, bây giờ làm gì tôi cũng chẳng hỏi. Chị Tâm nói chị đã tiêm thuốc sốt rét cho tôi, vì thuốc men quá khó khăn, thiếu thốn nên phải hòa thuốc ký ninh viên với nước lọc để tiêm bằng đường mạch máu cho có hiệu quả hơn. Sau khi sức khỏe đã khá lên một chút, họ đưa tôi tới một trạm xá quân y gần đó để điều trị tiếp. Từ đấy, tôi không được gặp ba người đó nữa.


Đến trạm quân y, tôi rất mừng vì được gặp hai anh trong số 72 cán bộ của Trường Quân chính Việt Nam cùng Nam tiến với tôi. Anh lớn tuổi là anh Lê Hoàng (hoặc Vân) khoảng 25 tuổi, người Hải Phòng, là một công nhân, trước Cách mạng Tháng Tám là Ủy viên Ban Cán sự Việt Minh thành phố, một trong những người lãnh đạo khởi nghĩa ở thành phố Cảng. Anh thứ hai khoảng 20, 21 tuổi là Phạm Thái (sau này là anh Trần Kiên, Phó Tổng Biên tập Báo "Nhân dân" của Đảng), một học sinh ở Hải Phòng đã đỗ Tú tài lần thứ nhất. Anh Hoàng là Đại đội trưởng, anh Thái là Đại đội phó, cả hai đơn vị của các anh đều chiến đấu ở cao nguyên Lâm Đồng. Hai anh cũng bị sốt rét nặng, được đưa về đây điều trị. Một sự gặp gỡ bất ngờ, ngẫu nhiên. Tôi rất phấn khởi được sống cạnh hai anh lớn tuổi. Các anh đối xử với tôi cũng thân mật, coi tôi như em. Các chị y tá ở đây trẻ, nói chung rất có cảm tình với các anh cán bộ trẻ miền Bắc.


Một buổi trưa có gió mát, mọi người sau bữa ăn đều nằm nghỉ ở ngoài hiên. Anh Hoàng mắc võng vào hai cột nằm nghi trên võng. Một chị nằm dưới nền hiên, dưới một đầu võng. Anh thoải mái phát ra mấy tiếng "trung tiện" hơi bị to. Chị hồn nhiên, giọng thân thiện nói: "Anh làm chi thế, mình nằm trên, người ta nằm dưới mà cứ “đ…t” hoài, “đ…t” hoài". Tôi và anh Thái, kể cả anh Hoàng đều bậm miệng cười khùng khục, không dám phá ra cười, cũng chẳng dám giải thích gì vì sợ nó thô lỗ quá. Bây giờ già rồi, tôi nghĩ cuộc sống nhiều lúc phải có những chuyện vui cười như thể để vơi đi những nhọc nhằn, buồn phiền mà con người phải gánh chịu.


Đang là những tháng đầu thực hiện Hiệp định Sơ bộ (6.3) nên không có bắn nhau, ba chúng tôi đang quen với cuộc sống ở trạm nhưng bệnh sốt rét vẫn còn, lại có chiều hướng nặng thêm. Theo lệnh cấp trên, chúng tôi phải về làng Tri Thủy, để cơ sở ở đó chăm sóc và điều trị tiếp. Làng Tri Thủy kéo dài xuống vùng núi Phương Cựu của huyện Ninh Hải là vùng tự do của ta. Làng đó đối diện với khu nghỉ mát Ninh Chữ, trước kia trung đội tôi đồn trú ở đó, bây giờ đã bị quân Pháp chiếm đóng. Hai làng ở hai bên bờ của một cửa sông thông ra biển, cách nhau độ 300 đến 400 mét.


Ba chúng tôi được bố trí ở một nhà dân gần sát bờ biển. Đó là một ngôi nhà ngói cao ráo, mát mẻ, có nhà bếp, giếng nước ngọt, vườn cây cảnh, ông bà Chín Rỗ, chủ nhà tuổi trạc ngoài 50, không có con, bố trí cho chúng tôi ngủ trên một cái sập rộng rãi bằng gỗ quý bóng loáng ở một gian đầu hồi, gian giữa là bàn thờ; còn ông bà ở gian buồng đầu hồi bên kia. Cả ba chúng tôi không những bị sốt rét mà còn ghẻ lở khắp người. Nhưng ông bà vẫn mang ra cho chúng tôi ba cái gối, trong đó hai cái có áo gối trắng muốt thêu hoa, có lẽ là gối cưới của hai ông bà. Chúng tôi từ chối nhưng ông bà không chịu: "Các chú cứ dùng, không sao", ông trước đây là một ngư dân, bây giờ có tuổi, nghỉ đi biển, chuyển sang đi lại buôn bán những nhu yếu phẩm cho đồng bào vùng cao, với một tay nải trên vai. Khi những cây lựu trước cửa nhà có quả chín, ông bà ngắt hết cho chúng tôi.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #27 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:36:19 am »

Từ hôm chúng tôi đến, có hai chị em cô gái hay đến nhà ông bà. Bà giới thiệu đó là hai cô con gái ông Tri phủ Diễn Châu, một ứng cử viên đại biểu Quốc hội mà tôi đã nói ờ trên. Gia đình ông bà tuy là ngư dân thường nhưng có họ xa với ông Tri phủ. Bà hay nói với chúng tôi: "Chú nào muốn lấy vợ tôi làm mai cho, đấy hai cô gái đến nhà ấy". Hai cô này tuổi trạc 16 - 18, tuy là con quan nhưng ăn mặc giản dị: Quần áo bà ba đen, đầu quấn khăn rằn, chẳng có vẻ gì đài các cả. Mấy chàng trai miền Bắc, sốt rét da bủng, ghẻ lở, nhưng ăn nói có duyên cũng hấp dẫn đấy chứ!


Một lần, bà đang nhặt rau ở bếp, tôi ngồi xuống cùng làm với bà. Bà hỏi tôi làm gì ở bộ dội, tôi nói tôi làm liên lạc. Vẻ mặt rất nghiêm trang, bà nói với tôi: "Tiên này, vợ chồng tao không có con, chúng tao muốn con làm con nuôi, chúng tao sẽ nuôi con ăn học tử tế, con có ưng không?". Tôi không trả lời, chỉ cười trừ. Tôi nói chuyện này với anh Hoàng, anh Thái. Anh Hoàng nói trêu: "Bà ấy không biết chứ, thằng Tiên là "phân" (ý hói là chính trị viên phân đội), có phải là "cứt" đâu". Chuyện đó qua đi, không thấy tôi trả lời, bà cũng không nhắc tới nữa.


Ở làng Tri Thủy, bà con có quan hệ rất tốt với bộ đội, với bệnh binh. Nhưng một lần, tôi thấy một tay thanh niên rất mất cảm tình, mặt lạnh như tiền, đầu đội mũ phớt, áo sơ mi vải đắt tiền, quần âu. Anh ta gặp anh em bộ đội hay bệnh binh đi dạo, mặt vênh vênh, kênh kiệu, không chuyện trò với ai bao giờ. Hỏi ra, anh ta là con trai chủ một đoàn thuyền đánh cá cơm giàu có ở Tri Thủy. Sau này, khi biết Nguyễn Văn Thiệu là người làng Tri Thủy, con trai của một chủ đoàn thuyền đánh cá, xem ảnh của hắn tôi thấy đúng là anh chàng đó.


Có lẽ địch biết rõ lực lượng ta ở Tri Thủy phần lớn là bệnh binh, không phải là đơn vị chiến đấu nên tráo trở mở một cuộc càn quét sang Tri Thủy, bất chấp Hiệp định Sơ bộ (6.3).

Một buổi sáng, chúng dùng thuyền từ bến Ninh Chữ đổ bộ sang Tri Thủy mở một cuộc càn quét. Bệnh binh và bộ đội ta có lệnh rút khỏi Tri Thủy để tránh bị địch bắt bớ. Ba anh em chúng tôi phát hiện được địch sớm, cùng nhau chạy lên sườn đồi theo đường mòn về hướng vùng núi Phương Cựu. Đúng vào lúc tôi đang lên cơn sốt, người mệt rã rời, không thể lê bước được nữa. Anh Thái thấy vậy, bảo tôi ôm lấy vai anh để anh cõng đi. Nhưng chỉ được vài chục bước, tôi đã thấy anh thở hồng hộc tưởng đứt hơi. Tôi thương anh quá, bảo anh bỏ ngay tôi xuống để tôi tự đi. Tôi nghiến răng, lê bước theo hai anh được một quãng thì được tin địch đã rút hết về Ninh Chữ, bà con dân làng và anh em bệnh binh ai lại quay về nhà nấy.


Không những Pháp vi phạm Hiệp định sơ bộ (6.3) bằng những vụ như ở Tri Thủy mà ít lâu sau, chúng tôi được tin chúng còn vi phạm táo tợn và nghiêm trọng hơn. Chúng đã bao vây, tiến công khu vực của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và bắt toàn bộ cơ quan. Chủ tịch Nguyễn Văn Nhu, Ủy viên đặc vụ Võ Giỏi Sơn1 (Đồng chí Võ Giỏi Sơn là con cụ Võ Liêm Sơn, một nhân sĩ yêu nước có tiếng ở miền Trung mà Bác Hồ rất quý trọng) và nhiều nhân vật quan trọng trong Ủy ban cũng bị bắt và bị chúng giam ở nhà lao Phan Rang...


Một hôm, tôi bị sốt rất cao cần cấp cứu. Ông Chín cõng tôi xuống xuồng đi dọc sông chờ tôi vào cứ, nơi có trạm quân y của đơn vị an dưỡng. Đi khoảng 6-7 kilômét đường sông thì đến nơi. Ông cõng tôi lên bờ, đường vắng tanh, không một bóng người. Đến bìa rừng, tôi chắc mẩm đơn vị ở gần đó nên cám ơn ông và nói là tôi có thể tìm được để ông về vì thấy phiền ông quá nhiều rồi. Đi đến bờ rào của một cái nương sát bìa rừng thi tôi mệt quá, không đi được thêm và ngất đi không biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trong một cái lán nhỏ ở sâu trong rừng; bên cạnh là một chị y tá đang chuẩn bị nước cho tôi uống. Chị nói là vừa tiêm cho tôi một ống Quinofonne La Croix, một loại thuốc đặc hiệu trị sốt rét rất hiệu nghiệm thời đó. Được vài hôm thì cắt được cơn sốt, tôi lại được đưa về nhà ông bà Chín Rỗ. Vài hôm sau, cả ba anh em chúng tôi nhận được quyết định và giấy giới thiệu của đơn vị ra Phú Yên để tiếp tục điều trị vì bệnh nặng, riêng tôi đã bắt đầu bị phù nề.


Tất cả những đồ dùng cá nhân của chúng tôi có dấu vết gì của bộ đội đều phải để lại vì đường đi rất nguy hiểm, dễ bị địch phát hiện và bị chúng bắt. Tôi cũng vừa được biết tin là chị Đào Thị Thu Tâm đi bằng đường biển ra Bắc đã bị địch bắt, hoặc thuyền bị chúng bắn đắm. Tính mạng của chị và những người cùng đi hiện nay chưa rõ thế nào.


Để đi được ra Phú Yên, ngoài số tiền ít ỏi đo đơn vị cấp phải có thêm tiền để chỉ tiêu. Anh Hoàng nói anh đã chuẩn bị được khoảng hơn 100 đồng tiền Cụ Hồ. Còn tôi bán chiếc áo gabađin chiến lợi phẩm cũng được một tờ 50 đồng tiền Cụ Hồ.


Lúc này, không biết vì lý do gì, bọn lính Pháp chiếm đóng ở Ninh Chữ đã rút hết về thị xã Phan Rang. Ninh Chữ trở thành bến đậu cho những thuyền đi biển từ Nam ra Bắc và ngược lại. Muốn đi, chúng tôi phải sang Ninh Chữ tự tìm thuyền chở thuê để đi. Chiều hôm ấy, chúng tôi bịn rịn chào từ biệt ông bà Chín Rỗ lên đường sang Ninh Chữ. Chúng tôi tìm được một chiếc thuyền khá rộng rãi, cũng đã có một số ít khách chuẩn bị ra Phú Yên. Thuyền đậu cạn trên bãi cát, hôm sau đợi nước triều lên sẽ xuất phát. Một đêm ngủ trên bãi biển, trên một chiếc thuyền thoáng mát, nếu như đất nước thanh bình, độc lập, tự do thì tuyệt diệu và lãng mạn biết bao.


Nhưng một bất hạnh ập tới. Chúng tôi chưa kịp mở mắt thức dậy vì trời còn sớm thì nghe tiếng súng nổ ran ở xung quanh. Anh Lê Hoàng kịp giấu số tiền Cụ Hồ vào một chỗồ kín trên mui thuyền, còn tôi quên mất là mình cũng có một tờ 50 đồng gấp để vào túi ngực chiếc áo sơ mi cộc tay kẻ sọc xanh mang từ nhà đi. Biết không thể chạy thoát, chúng tôi và vài bà con ngồi im trong thuyền. Tiếng xì xồ của bọn Tây đến gần, hai ba tên nhảy lên thuyền chĩa súng vào chúng tôi ra hiệu bắt ra khỏi thuyền. Chúng dẫn mọi người đến tập trung ở một bãi rộng của phố chợ Ninh Chữ. Khá đông bà con chủ yếu là nam giới đã bị giặc quây bắt đến đây. Chúng bắt mọi người xếp hàng đôi thành một dãy dài. Tôi ngạc nhiên và kinh hãi thấy có những người quen biết, trong đó nhiều người là cán bộ. Tôi nhận ra có anh Quách Tử Hấp1 (Sau này là Đại tá Quách Tử Hấp, nguyên Tỉnh đội trưởng đầu tiên của tỉnh Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Phú Khánh, Phó Tư lệnh Mặt trận 579..., quê Đại Lộc, Quảng Nam), một cán bộ của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Ninh Thuận và là người tổ chức bồi dưỡng giáo viên bình dân học vụ dạo nọ; anh Phạm Thành Chính, anh Trịnh Thủy là hai trong số 72 học viên Trường Quân chính Việt Nam Nam tiến, một số khuôn mặt rất quen nữa. Một anh người địa phương tôi quen mặt nhưng không biết tên là một cán bộ trong Tiểu đoàn Ninh Thuận, tôi thường gặp khi còn ở Phan Rang, bị địch bắt đứng úp mặt vào tường, hai tay giơ cao, một tên lính chĩa súng vào sau lưng anh. Theo quan sát của tôi, số người bị lính Pháp bắt hôm đó phần lớn là từ nơi khác đến và một số không ít khác là đi thuyền biển ra phía Bắc. Tôi nghĩ rằng có thể có chỉ điểm báo cho tụi Pháp ở Phan Rang để chúng quây ráp hòng bắt được những cán bộ quan trọng của ta.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #28 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:37:23 am »

Cuộc lục soát từng người bắt đầu. Ba người chúng tôi đứng ở khoảng giữa hàng. Tôi đứng sau hai anh Lê Hoàng và Phạm Thái. Vì số người bị địch bắt quá đông nên chúng khám kỹ và xét hỏi từng người và chỉ bắt những người mà chúng nghĩ là Việt Minh; người mà chúng cho là dân thường, không nguy hiểm thì chúng thả ra. Bọn xét hỏi và phân loại những người bị bắt gồm một thằng Tây trạc ngoài 40 tuổi, mặc thường phục, một tên Việt gian làm phiên dịch cũng trạc tuổi 40 và bốn, năm tên lính Pháp đứng gần để bảo vệ hai tên kia.


Cuộc lục soát và thẩm vấn bắt đầu. Tôi thấy sau khi chúng khám xét và tra hỏi qua người nào xong thì tên Pháp quyêt định luôn thả hay là bắt giết. Tôi không hiểu khi bị thẩm vấn các anh trả lời khéo như thế nào mà thấy anh Quách Tử Hấp, rồi anh Trịnh Thủy, anh Phạm Thành Chính đều được chúng thả ra. Tôi hy vọng là chúng tôi cùng sẽ được thả ra như thế. Đến lượt anh Lê Hoàng, sau khi khám và hỏi mấy câu tôi nghe không rõ, nhưng thấy tên phiên dịch nói một câu cộc lốc "A lê - Phan Rang". Thế là một tên lính Pháp đẩy anh đến chiếc bàn ở gần đó. Một tên người Việt đeo kính trắng, trắng trẻo, mặt khó đăm đăm, ngồi sau bàn. Nhiều người bị bắt đi Phan Rang bị hắn hỏi gì đó, rồi ghi chép, bị đẩy đến một chỗ gần đấy có lính Pháp gác xung quanh. Anh Phạm Thái cũng cùng số phận như anh Lê Hoàng, bị đẩy vào khối người bị bắt đi Phan Rang.


Đến lượt tôi, cũng như các người khác, mặc dù tôi chỉ mặc cái quần soóc và chiếc sơ mi cộc tay có tủi ngực, tên lính Pháp lục soát ở hai túi quần. Lúc đó tôi mới sực nhớ ra trong túi áo có tờ 50 đồng tiền Cụ Hồ. Tên chỉ huy nhắc tên lính: "II faut bien íòuiller" (khám kỹ vào). Tôi lạnh xương sống, nguy hiểm quá. Nếu nó phát hiện được tờ 50 đồng trong túi thì chì có chết. Tên lính có lẽ thấy tôi ghẻ lở, sợ bẩn nên chỉ vỗ mấy cái bên ngoài túi, không thọc tay vào túi rồi thôi.


Tiếp theo, tên Việt gian phiên dịch, có vẻ là người địa phương hỏi tôi:

- Tên gì?

Tôi trả lời:
   
- Nguyễn Hữu Ninh - chữ "Hữu" tôi nói là "Hửu" cho giống người Thanh Hóa.

Hắn hỏi tiếp:

- Quê ở đâu?

Tôi trả lời:
 
   - Quê tôi ở huyện Thạch Thành, Thanh Hóa.
   
Hắn lại hỏi:

- Tại sao lại ở đây?

- Tôi đi với cô tôi buôn bán ờ Đà Lạt, đánh nhau thì chúng tôi tản cư chạy vào rừng, rồi tôi lạc mất cô. Tôi đến đây để tìm đường trở về quê.

- Mày có phải người Tàu không? Vào đây tao hỏi ông chủ hiệu người Tàu xem mày có phải người Tàu không?

Hắn nói thế nhưng không làm thế, vì cửa hiệu của người Hoa đó cách đến 50 mét. Rồi nó nói với tên Pháp mặc thường phục bằng tiếng Pháp:

- Nó còn bé, thả nó ra được không?

Tôi thấy tên Pháp nhún vai rồi nói:

- Ồ! Nó bé nhưng rất có thể nó cũng là Việt Minh chứ!

Tôi lại nghe một tiếng cộc lốc của tên Việt gian:

- A lê - Phan Rang!

Tôi bị đẩy đến tên đeo kính trắng ngồi sau bàn. Hắn nhìn tôi vô cảm hỏi một câu cụt lùn:

- Họ, tên?

- Tôi là Nguyễn Hửu Ninh - Tôi đáp.

- Quê quán?

- Huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.

Thì ra tên này chỉ ghi danh sách những người bị bắt. Tôi lại bị đẩy đến khối người bị bắt, đứng sát bên anh Hoàng, anh Thái, nhưng không nói chuyện gì, vì nếu nói hớ dễ bị lộ là bộ đội. Tôi nghĩ miên man và hình dung cuộc sống nhà tù sẽ bị tra tấn, đánh đập, đói khát, bệnh tật, sẽ phải chịu đựng ra sao và sẽ đối phó thế nào. Tôi cũng nghĩ đến chuyện tại sao mấy anh Quách Tử Hấp, Phạm Thành Chính, Trịnh Thủy lại dễ dàng thoát khỏi mà không bị địch bắt. Tôi tự giải đáp được ngay, có lẽ các anh trông còn rất khỏe mạnh, mặt mũi trắng trẻo, quần áo sạch sẽ. Chúng cho là người thành phố, không phải là những "Việt Minh" ở trong rừng, sốt rét và ghẻ lở như ba anh em chúng tôi.


Bọn địch nhét những người bị bẳt lên xe tải nhà binh chạy về nhà lao Phan Rang và tống tất cả những người bị bắt vào một nhà giam lớn, bẩn thỉu, hôi hám. Nhà giam có hai sàn xi măng theo chiều ngang và chiều dọc, nếu chúng ken chặt có thể cho được 50, 60 người nằm. Một nhà xí rộng khoảng một mét vuông, dòi, bọ lúc nhúc bò ra cả sàn nhà trông tởm lợm muốn nôn mửa. Nhân lúc mọi người chuẩn bị chỗ nằm, không ai để ý đến ai, anh Hoàng nói nhỏ với anh Thái và tôi:

- Trong tay giặc, chúng mình không biết chết lúc nào, chỉ thương thằng Tiên còn trẻ quá!

Nghe câu dó, tôi cảm động nhưng lại thấy minh, hơn lúc nào hết, không hề sợ chết. Nhớ đến tờ 50 đồng tiền Cụ Hồ còn nằm trong túi áo ở ngực, tôi bí mật vò nát và hủy ngay.

Cai quản chúng tôi tại nhà giam đó không phải là người Việt Nam mà lại là những tên lính Tây. Chúng được ở riêng và thay nhau đến chỗ chúng tôi giám sát rất chặt chẽ, không cho một ai được ra khỏi cửa buồng giam và trực tiếp phát cơm cho từng người. Mỗi người được một lon sắt tây cơm nấu bằng gạo mốc, kèm theo một miếng cá khô mùi thum thủm, cho vào miệng nhai như củi mục tẩm muối. Ngày hai bữa như thế, ngày nào cũng vẫn "thực đơn" đó .


Một bữa có một lính Tây trông cục mịch, sau khi phát cơm tự nhiên anh ta lại gần tôi, không biết anh ta có biết tôi hiểu chúi ít tiếng Pháp hay không, nói một thôi:

- Mày biết không, tao là một người Pháp đích thực (un vrais Français), mày biết tại sao nước Pháp lại xâm lược Việt Nam không?

Thấy tôi im lặng, anh ta nói tiếp luôn:

- Vì rằng Việt Nam có nhiều cao su, nhiều cà phê, nhiều gạo, nhiều dứa và đặc biệt là nhiều chuối...

Tôi vẫn im lặng nhưng trong lòng thấy rất cỏ thiện cảm với người lính Pháp này. Tất cả những điều anh ta nói, anh Hoàng và anh Thái đều nghe được cả. Chỉ mấy hôm sau, chúng tôi được biết toán lính Tây cai quản chúng tôi là những người lính lê dương phản chiến hoặc bị kỷ luật vì chống lệnh của chỉ huy, có nhiều quốc tịch khác nhau như Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Ý... Nói chung là họ hiền lành, không bao giờ đánh đập tù nhân, riêng chỉ có một người lính Đức, tên anh ta là Hans, thường cỏ thái độ thô lỗ với mọi người, nhưng cũng không đánh đập ai bao giờ.
Logged
thongdiepthoigian
Thành viên
*
Bài viết: 153



« Trả lời #29 vào lúc: 21 Tháng Bảy, 2023, 09:38:10 am »

Một buổi sớm, hầu hết mọi người đã thức giấc, nhưng một số vẫn còn nằm trên sàn xi măng. Đột nhiên có ba tên lính Tây nai nịt súng ống gọn gàng, dẫn một tù binh mặc quân phục vải thô màu tím than, một loại vải đặc trung của Khu 5 thời đó, đầu đội mũ vải rộng vành, bị trói giật cánh khuỷu, mặt mũi sưng vù, tím bầm do bị chúng tra khảo. Dáng người to dậm, chắc nịch, vẻ mặt cương nghị, anh bình thản bước vào buồng giam, đưa mắt nhìn mọi người. Bọn lính Pháp nhắc anh một câu gì đó, anh vẫn đứng thản nhiên, im lặng. Một trận đòn tới tấp bằng báng súng của ba tên lính giáng vào anh. Anh không hề kêu một tiếng, nói một câu, im lặng để chúng đánh, mặt vẫn bình thản nhìn mọi người, một cái nhìn, một ánh mắt biết nói: "Hãy bất khuất!". Đánh chán, chúng lôi anh đi. Chắc chắn chúng sẽ không để anh sống. Hình như bọn lính Pháp muốn bắt anh nhận mặt những người trong buồng giam, có ai là Việt Minh không để khai ra với chúng. Tôi cảm nhận mọi người hôm ấy khâm phục và kính trọng anh. Tôi thấy minh được tiếp thêm sức mạnh và hình ảnh của người chiến sĩ kiên cường, bất khuất ấy đi theo suốt cả cuộc đời tôi.


Đối diện với buồng giam chúng tôi, qua một cái sân đất rộng của trại giam, ở giữa có một cái giếng, là một buồng giam lớn, tương tự như buồng giam chúng tôi. Một buổi tối, khi sắp ngủ, mọi người bỗng nghe vang lên tiếng đồng ca "Chiến sĩ Việt Nam" của Văn Cao: "Bao chiến sĩ anh hùng, lạnh lùng vung gươm ra sa trường...". Tiếp theo là bài "Diệt phát xít" của Nguyễn Đình Thi: "Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than. Dưới ách quân tham tàn đế quốc sài lang... Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam muôn năm". Đó là tiếng hát của anh em cán bộ, nhân viên của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Ninh Thuận bị địch bắt giam dạo nọ, bị giam tập thể ở buồng giam đối diện bên kia sân.


Có hôm buổi sáng, khi mọi người chúng tôi đã dậy, bọn lính Tây lại bắt tất cả chúng tôi phải nằm im tại chỗ. Đó là lúc chúng cho những người bị biệt giam trong buồng giam cá nhân như đồng chí Nguyễn Văn Nhu, Chủ tịch tỉnh, hay đồng chí Võ Giỏi Sơn, Ủy viên đặc vụ của Ủy ban tỉnh ra tắm ngoài giếng. Các anh tắm xong trở lại xà lim, chúng mới cho chúng tôi ngồi dậy.


Ít lâu sau, chúne tôi được tin giặc Pháp đã đưa đồng chí Nhu và các đồng chí cán bộ chủ chốt của Ninh Thuận ra Nha Trang và đã bí mật giết hại các đồng chí đó. Các đồng chí cán bộ, nhân viên của Ủy ban tỉnh ở buồng giam lớn cũng bị chúng đưa đi đâu không biết. Mọi người không còn được nghe những bài hát cách mạng đã góp phần hâm nóng tinh thần yêu nước.


Thỉnh thoảng, bọn chúng lại gọi một người lên thẩm vấn ở một phòng riêng, cách chỗ giam chúng tôi không xa. Chúng tôi hiểu điều đó có nghĩa là bọn địch vẫn muốn khai thác để tìm ra ai là Việt Minh trong số những người đang bị giam giữ ở nhà lao này. Tình hình đó khiến chúng tôi phải luôn luôn cảnh giác, giữ mình cho khỏi bị lộ là bộ đội cách mạng. Nhưng từ khi chúng tôi bị giam ở đây, chưa có ai bị đưa đi mất tích.


Có hôm bọn chúng bắt được ở đâu đó một toán sáu, bảy người trong đó cỏ hai chị phụ nữ trẻ. Trông họ biết ngay là nhũng người thành thị, ăn mặc khá sang trọng.

Đêm khuya, tôi đang ngủ thì bị thức dậy bởi những tiếng lao xao giữa tiếng một người phụ nữ và tiếng của một lính Tây. Họ nói nhỏ nên nghe không rõ lắm. Nhưng chỉ một thoáng cũng biết ngay là anh chàng lính Tây nào đó đang cai quản chúng tôi đến gạ gẫm giở trò... nhưng bị cự tuyệt. Mặt khác, những người khác nằm cùng sàn cũng tìm mọi cách đánh động để bảo vệ chị phụ nữ kia nên hắn không làm gì được phải rút lui.


Cai quản chung nhà lao Phan Rang là một lão người Pháp khoảng trên dưới 60 tuổi, người thấp bé. Một lần, hắn đến phòng giam chúng tôi, đi sau là một thanh niên. Nhìn tay thanh niên, tôi giật mình nhận ra Tân, người bạn mới quen cách đây vài tháng, là Trung đội phó của bộ đội ta, là người cùng học với tôi và An ở lớp bồi dưỡng giáo viên bình dân học vụ. Anh ta đã vài lần mời tôi và An đi ăn cơm hiệu khi còn ở Phan Rang. Tôi làm như không nhận ra anh ta. Tân cũng có vẻ ngạc nhiên khi trông thấy tôi nhưng cũng lờ đi. Lão Tây già như khoe với mọi người xung quanh, chỉ vào Tân nói đây là con nuôi của lão ta. Tân trông đẹp trai, nét mặt thanh tú dễ có cảm tình, nghe lão ta nói như vậy nét mặt vẫn lạnh lùng, bình thản, không nói năng gì. Đứng một lát, lão và Tân đi ra khỏi phòng giam.


Tôi chờ đợi một rủi ro lớn đến với mình. Nếu Tân theo giặc, tố giác tôi là "Việt Minh Bắc Kỳ" thì bọn giặc sẽ lôi tôi lên phòng riêng tra hỏi và tính mạng mình sẽ ra sao. Tôi chuẩn bị tinh thần để đối phó, xử lý trong những tình huống khó khăn, quyết liệt nhất để giữ được khí tiết cách mạng, giữ được lời thề của Quân đội cách mạng. Một ngày trôi qua, rồi hai ngày, tôi cũng không thấy động tĩnh gì. Như vậy, có thể là Tân không phản bội tôi. Thế thi Tân có phải là người dã theo giặc không, hay vẫn là người của mình, hay vì lý do nào khác nữa. Tôi nói chuyện này với anh Hoàng, anh Thái. Anh Hoàng cười nói đùa:

- Hay cậu cũng cố gắng đi làm con nuôi để cứu chúng mình thoát khỏi nhà tù đi.

Tôi cười:

- Tôi ghẻ lở, bẩn thiu, ốm đau thế này thì đứa nào nó thèm nhận làm con nuôi.

Với Tân, số phận đưa đẩy anh tới đâu và cả An nữa sau này ra sao, tôi hoàn toàn không rõ vì chưa bao giờ gặp lại.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM