Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 02:31:50 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tổng kết hoạt động đấu tranh giải quyết Fulro 1975-1992  (Đọc 3673 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #20 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 06:59:02 am »

Tiếp theo, Chỉ thị số 79/HĐBT ngày 31 tháng 3 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng cũng nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh công tác truy quét, triệt phá, đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO, làm tan rã lực lượng ở rừng, cắt đứt quan hệ của FULRO với bên ngoài và quan hệ giữa lực lượng trong nội địa với số cầm đầu ở Campuchia; củng cố, chấn chỉnh tổ chức lực lượng của ta (kiện toàn Ban Chỉ đạo 04, kết hợp chặt chẽ giữa quân đội và công an, kể cả lực lượng quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia và Lào); xác định vấn đề lâu dài là kinh tế, xã hội, đảm bảo thực hiện đúng chính sách của Đảng, củng cố lòng tin của đồng bào các dân tộc thiểu số.


Sau Hội nghị Ban Bí thư ngày 2 tháng 6 năm 1981, ngày 27 tháng 6 năm 1981, Ban Bí thư ra Thông báo số 25/TB-TW "Về tiếp tục giải quyết vấn đề FULRO kết hợp với phát triển kinh tế - văn hóa ở Tây Nguyên". Đánh giá sau 4 năm thực hiện Chỉ thị số 04, Ban Bí thư chỉ ra những hạn chế như: Do nặng về trấn áp truy quét mà chưa coi trọng vận động, giáo dục dẫn đến một số sai lầm. Thành tích về các mặt còn thấp so với thời gian và khả năng hoạt động của ta, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra ban đầu theo Chỉ thị số 04. FULRO vẫn duy trì được hệ thống tổ chức (tuy xộc xệch), vẫn lợi dụng được tình cảm dân tộc, lừa bịp, khống chế một bộ phận quan trọng quần chúng các dân tộc làm bình phong giải quyết lương thực, bổ sung lực lượng... Đặc biệt, từ cuối năm 1980, FULRO câu kết với tàn quân Pôn Pốt, căn cứ ở Đông Bắc Campuchia, lập hành lang Đông - Tây, nối Tây Nguyên - Campuchia - Thái Lan, các thế lực thù địch nắm FULRO để chống phá ta và phá hoại công cuộc xây dựng Tây Nguyên. Ban Bí thư kết luận: "Tình hình an ninh chính trị ở Tây Nguyên chưa thật ổn định. Kinh tế, văn hóa phát triển chậm, đời sống của đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn, tuy được cải thiện hơn trước. Thực lực cách mạng tại chỗ còn yếu, cơ sở chính trị chưa thật vững mạnh"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 255 - 256). Từ đó, Ban Bí thư chỉ rõ: vấn đề cơ bản và lâu dài ở Tây Nguyên là xây dựng kinh tế, phát triển sản xuất, tổ chức đời sống đồng bào các dân tộc, từng bước làm thay đổi bộ mặt ở Tây Nguyên, làm cho đồng bào thấy được tính ưu việt của cách mạng, từ đó tranh thủ được tình cảm, củng cố được lòng tin của đồng bào các dân tộc, cô lập được FULRO. Đồng thời, tuyên truyền, phát động, giáo dục giác ngộ đồng bào phân biệt rõ địch ta, đào tạo đội ngũ đông đảo cán bộ người dân tộc nhằm xây dựng, củng cố các tổ chức đảng, chính quyền ở cơ sở đảm bảo thực hiện các chính sách của Đảng, của Nhà nước, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc. Ban hành chính sách phù hợp với đặc điểm của vùng dân tộc ở Tây Nguyên và sử dụng lực lượng tiếp tục truy quét FULRO, diệt lực lượng vũ trang tập trung của FULRO, diệt bọn đầu sỏ FULRO để giải quyết nhanh chóng vấn đề FULRO ở Tây Nguyên.


Các hội nghị tiếp theo tại Pleiku (3 - 5.5.1983); hội nghị Đà Lạt (25 - 26.7.1983), hội nghị do Ban Bí thư Trung ương triệu tập tại Gia Lai - Kon Tum (5.1985), các hội nghị công an toàn quốc, hội nghị các tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Lâm Đồng, Đắk Lắk và Thuận Hải đều thể hiện quan điểm, chủ trương cơ bản của Đảng đối với công tác truy quét, triệt phá, đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO.


Sau hội nghị giải quyết vấn đề FULRO của 3 tỉnh Tây Nguyên (5.1985) tại Pleiku, các tỉnh đều tiến hành hội nghị chuyên đề về chống FULRO, để đánh giá tình hình, kiểm điểm quá trình thực hiện, rút kinh nghiệm và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tiếp theo, trong đó tập trung vào 5 khâu chính là: Phát động quần chúng bóc gỡ cơ sở FULRO trong dân; diệt, rã chủ yếu làm tan rã lực lượng FULRO ngoài rừng; đẩy mạnh sản xuất theo hướng định canh, định cư, cải thiện đời sống nhân dân; xây dựng dân quân tin cậy về chính trị và đánh được địch bảo vệ buôn, làng; đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc ở cơ sở số lượng đủ, chất lượng tốt, hoàn thành mọi nhiệm vụ.


Để tăng cường giải quyết dứt điểm vấn đề FULRO ở Tây Nguyên, ngày 10 tháng 5 năm 1985, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 ra Chỉ thị "Về việc phát động quần chúng truy quét FULRO, xây dựng tuyến phòng thủ Tây Nguyên". Chỉ thị nêu rõ 3 vấn đề: Thứ nhất, phải nhận thức rõ vị trí chiến lược của địa bàn Tây Nguyên và nhận thức sâu sắc âm mưu trước mắt và âm mưu lâu dài của địch. Thứ hai, nắm chắc nhiệm vụ, ý định của Tư lệnh Quân khu về phát động quần chúng giải quyết vấn đề FULRO. Thứ ba, phải hoàn chỉnh kế hoạch phòng thủ cơ bản, từng bước củng cố xây dựng kế hoạch phòng thủ tỉnh, huyện và cơ sở; củng cố cơ quan quân sự các cấp và nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương tỉnh, huyện và cơ sở1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Biên niên sự kiện lực lượng vũ trang Quân khu 5 (1975 - 2000), năm 2008, Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5, tr. 150).


Tiếp theo, ngày 12 tháng 5 năm 1986, Thường vụ Đảng ủy Quân khu 5 ra Nghị quyết số 11/NQ-TV "Về phương hướng giải quyết FULRO trong 2 năm 1986 - 1987". Nghị quyết nêu yêu cầu phát động quần chúng giải quyết 90% cơ sở trong dân và 75% FULRO ngoài rừng, phương pháp chủ yếu là gọi hàng về với nhân dân làm ăn lương thiện.


Như vậy, từ Chỉ thị số 04 năm 1977 đến các chỉ thị, thông báo, nghị quyết, hội nghị... sau này, các quan điểm, chỉ đạo cơ bản được nêu ngày càng được cụ thể hóa, bổ sung sát đúng và phù hợp với diễn biến tình hình mới, làm cơ sở cho các đơn vị vũ trang, ngành, địa phương Tây Nguyên và phụ cận củng cố lực lượng, vận động, giáo dục, nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị cho quần chúng các dân tộc thiểu số; đồng thời có các hình thức, phương pháp thích hợp để tổ chức vận động quần chúng đấu tranh truy quét FULRO, kết hợp với việc giải quyết những vấn đề bức xúc về kinh tế - xã hội, xây dựng thực lực chính trị cơ sở.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #21 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:12:48 am »

3. Hoạt động đấu tranh giải quyết FULRO

a) Công tác phát động quần chúng

Xác định đây là khâu then chốt quyết định trong đấu tranh giải quyết FULRO, nên sau khi có Chỉ thị số 04 của Ban Bí thư, các địa phương, đơn vị vũ trang thành lập các đội công tác đưa xuống bám các buôn làng, kiên trì làm nhiệm vụ phát động quần chúng xây dựng cơ sở đánh địch trên cả 3 tuyến, nhất là tuyến trong dân.


Về chỉ đạo - chỉ huy, ở từng địa phương có ban chỉ đạo tỉnh, huyện, xã thống nhất chỉ đạo về phát động quần chúng, truy quét địch. Riêng ở Thuận Hải, Gia Lai - Kon Tum, Phú Khánh tổ chức tiền phương tỉnh phụ trách khu vực trọng điểm. Quân khu 5, trong thời gian cao điểm tổ chức Sở Chỉ huy tiên phương Quân khu tại Đắk Lắk để hiệp đồng giữa chủ lực và địa phương ở các trọng điểm trên toàn địa bàn Quân khu.


Về tổ chức, các đội công tác có đủ thành phần chính trị, quân sự, an ninh, dân vận... tiến hành công tác vận động quần chúng; biên chế, trang bị đủ mạnh, có thể tiến công địch để hỗ trợ cho công tác phát động quần chúng và bám trụ, công tác lâu dài ở buôn làng. Tích cực, kiên trì bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán và xem đây là công tác then chốt quyết định, không những trước mắt mà cả lâu dài, chú trọng chọn người địa phương, người dân tộc thiểu số, đồng thời mạnh dạn sử dụng cán bộ từ các nguồn có chất lượng, có quyết tâm, đã quen thuộc địa bàn, kể cả cán bộ, đảng viên trong lực lượng vũ trang. Kết hợp phái động quần chúng đánh FULRO với xây dựng đẩy mạnh sản xuất nâng cao đời sống nhân dân.


Hình thức vận động quần chúng cũng hết sức phong phú, đa dạng. Các địa phương đã có những khẩu hiệu, phương châm sát thực tế như: "Người về, vũ khí về, tư tưởng về", "Người đi gọi có công, kẻ về miễn tội", quần chúng tự đề ra khẩu hiệu 3 sạch (sạch trong buôn, ngoài rừng, sạch nội bộ, không còn FULRO lén lút hoạt động). Tổ chức nhiều đợt phát động tập trung, họp dân theo các cụm dân cư. Đồng thời, đặc biệt chú trọng phát động cá biệt, tuyên truyền tác động tới từng gia đình, từng người có người thân theo FULRO, chịu ảnh hưởng của FULRO hoặc có hành vi tiếp tế, che giấu cho FULRO. Bên cạnh đó đã tranh thù sử dụng già làng, trí thức, những người có uy tín trong dân tộc để họ tuyên truyền vận động quần chúng và tác động đến các đối tượng. Sử dụng chính số cầm đầu, chỉ huy FULRO đã bị ta bắt, về hàng để tự vạch trần bộ mặt phản động chống lại cách mạng, chống lại dân tộc của FULRO, nói lên những sai lầm, tội lỗi của mình và đồng bọn trong các cuộc họp dân ở nhiều địa phương. Hình thức truyền đơn, thư kêu gọi kèm giấy bảo lãnh được sử dụng cũng đem lại kết quả đáng kể trong quá trình truy quét, triệt phá, đấu tranh giải quyết FULRO. Ngoài ra, còn sử dụng băng thu thanh của số cốt cán FULRO đã giác ngộ phát trên loa truyền thanh hay trong các buổi chiếu phim, có tác dụng tốt trong công tác phát động quần chúng.


Tại Lâm Đồng, dưới sự chỉ đạo kiên quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong công tác đấu tranh giải quyết FULRO, các cơ quan, ban, ngành đều hăng hái hưởng ứng và cử cán bộ đến dự huấn luyện, bồi dưỡng về công tác vận động quần chúng. Các cán bộ được cử đi đều rất hăng say học tập và tự nguyện về buôn làng vận động đồng bào thực hiện nhiệm vụ của Đảng giao. Sau Chỉ thị số 04 của Ban Bí thư đến hết năm 1978, tỉnh đã huy động 320 cán bộ quân đội, công an, các ban ngành và thành lập 20 đội công tác vận động quần chúng xuống 17 xã trọng điểm để phát động quần chúng ở 45/53 xã, gồm 214 buôn và 22 khóm ở thành phố Đà Lạt, tuyên truyền nội dung, mục đích, ý nghĩa của phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước, về hình thức, tỉnh tổ chức 12 cuộc tọa đàm với tầng lớp trên trong đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo, có 1.073 người tham dự. Bên cạnh đó, tỉnh còn tổ chức nhiều cuộc mít tinh của quần chúng, có cuộc mít tinh lên đến hàng nghìn người tham dự, như cuộc mít tinh ở xã Đinh Trang Hòa, huyện Di Linh1 (Bộ Tư lệnh Quán khu 7 - Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lâm Đồng (1945 - 2010), Sđd, tr.528).


Tại Đắk Lắk, diện phát động được mở rộng trong các buôn ấp và trong các công, nông, lâm trường, xí nghiệp, nội dung và hình thức phát động có những điểm mới. Các địa phương đã biết kết hợp phát động chung với phát động riêng, đi sâu vào những người có mối liên quan, liên hệ với FULRO. Nhiều địa phương đã biên soạn thành tài liệu học tập theo kiểu vấn đáp để quần chúng dễ học, dễ nhớ, dễ hiểu. Tỉnh đã tổ chức được 74 cuộc tọa đàm gồm 1.257 người là già làng, là lớp trên trong dân tộc nhằm tranh thủ động viên, phát huy tác dụng tích cực của họ trong việc giải thích cho quần chúng tố giác FULRO và kêu gọi chồng con theo FULRO về hàng cách mạng. Qua học tập, phát động, các dân tộc đã nhận thức được FULRO là phản cách mạng, kêu gọi được 226 người là con em của họ về hàng, báo cáo cho chính quyền bóc gỡ 5.430 cơ sở của FULRO ẩn nấp trong buôn ấp; giải tán 14 khung tiểu đoàn, 36 khung đại đội ngầm, xóa 29 khung tề xã, 88 khung tề ấp.


Thông qua vận động quần chúng, nhiều địa phương trong tỉnh đã có sáng kiến kết hợp phát động quần chúng hạn chế, thu hẹp vấn đề tôn giáo, chủ yếu là đạo Tin Lành trong đồng bào Thượng. Qua đó, quần chúng, tín đồ nhận thức được đạo Tin Lành là của Mỹ, của CIA và bọn phản động cầm đầu tôn giáo là tay sai của chúng, đồng thời kiến nghị chính quyền sử dụng 45 cơ sở của Tin Lành, 16 cơ sở của Thiên Chúa giáo phục vụ cho lợi ích công cộng1 (Tỉnh ủy Đắk Lắk (1980), Kiểm điểm việc giải quyết vấn đề FULROvà yêu cầu nhiệm vụ, biện pháp giải quyết vấn đề này trong thời gian tới, Phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đắk Lắk).


Tại Gia Lai - Kon Tum, thực hiện Chỉ thị số 04 của Ban Bí thư, trong 3 năm 1977 - 1980, tỉnh đã huy động nhiều đội công tác xuống cơ sở vận động quần chúng kết hợp với biện pháp trấn áp FULRO. Ngoài tổ chức cho đồng bào học tập đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, tỉnh còn làm tốt công tác tranh thủ già làng, người có uy tín, nhân sĩ, trí thức dân tộc để giáo dục quần chúng và kêu gọi FULRO ngoài rừng trở về làm ăn sinh sống hòa nhập cộng đồng. Đến năm 1981, tỉnh Gia Lai - Kon Tum có 826 cán bộ tham gia các đợt phát động theo cụm ở 50 xã thuộc 8 huyện, thị có FULRO hoạt động. Địa phương cũng tổ chức 175 cuộc phát động với trên 20 vạn lượt người tham gia (khoảng 90% dân số trên địa bàn). Đến tháng 6 năm 1985, toàn tỉnh tổ chức học tập chính sách dân tộc cho 101.500 lượt quần chúng, qua đó phát hiện 11.300 người liên hệ với FULRO, phá 150 khung chính quyền, phát hiện 200 cán bộ cốt cán và 44 đảng viên bị FULRO khống chế2 (Ban Dân tộc Trung ương, Tình hình hoạt động FULRO ở Đắk Lắk, Gia Lai - Kon Tum năm 1985, Phông số 9, Hồ sơ 115, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng).


Tại Thuận Hải, ngoài việc tổ chức cho quần chúng học tập, chính quyền địa phương lần lượt mở các hội nghị với nhiều đối tượng khác nhau, như hội nghị dân tộc, họp các gia đình có người thân đi theo FULRO, tọa đàm với nhân sĩ, trí thức, đạo giáo, với tầng lớp trên trong thôn ấp người Chăm bàn bạc chính sách của Nhà nước, vạch trần âm mưu tội áccủa địch, khêu gợi phát huy truyền thống đấu tranh của dân tộc mình, địa phương mình, giải quyết những hiểu lầm thắc măc và bàn cách cùng nhau vận động người thân theo FULRO về với gia đình, với cách mạng cùng nhau xây dựng cuộc sống mới. Qua đó đã có tác dụng tốt, không ít nơi đã có nhiều mẹ, vợ, những nhà sư trong buôn làng tổ chức thành từng đoàn ra rừng kêu gọi người thân theo FULRO trở về.


Như vậy, sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 04 của Ban Bí thư, lực lượng quân đội, công an, các ban, ngành, đoàn thể đã lập ra 950 đội công tác, huy động 51.937 lượt cán bộ, chiến sĩ xuống địa bàn cơ sở, bám dân phát động quần chúng. Tổ chức tuyên truyền cho 1.319.763 lượt quần chúng tham gia các phong trào ở địa phương, củng cố bộ máy chính quyền và hệ thống chính trị cơ sở ở 840 lượt xã trọng điểm1 (Bộ Công an, Công an nhân dân Việt Nam - Lịch sử biên niên (1987 - 1996) Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 55), giác ngộ được quần chúng phân biệt rõ địch ta, hiểu rõ nhiệm vụ, nhân dân các dân tộc tích cực tham gia phát hiện bóc gỡ 61.301 cơ sở của FULRO nằm trong vùng2 (Quân khu 5, Tổng kết công tác phát động quần chúng xây dựng cơ sở truy quét FULRO từ sau ngày giải phóng đến nay (3.1975 - 3.1982), năm 1982 Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5). Tuy vậy, công tác phát động quần chúng chưa thực sự được sâu rộng, mặc dù nhận thức được FULRO là phản cách mạng, nhưng quần chúng lo ngại trước sự hăm dọa của chúng; số FULRO về hàng, đầu thú còn băn khoăn lo lắng về đời sống, chính sách của cách mạng đối với họ.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #22 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:14:06 am »

b) Xây dựng thực lực chính trị

Ngay sau khi có Chỉ thị số 04 của Ban Bí thư, các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận đã xây dựng kế hoạch phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng ban, ngành, đoàn thể các cấp đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp toàn diện của Đảng. Lực lượng vũ trang tổ chức các đội công tác xuống địa bàn trọng điểm phát động quần chúng tham gia đấu tranh giải quyết FULRO, bóc gỡ vô hiệu hóa cơ sở ngầm của FULRO trong buôn làng, đồng thời xây dựng thực lực chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố chính quyền, trấn an dân cư, trấn áp các hoạt động chống phá của FULRO.


Tại Đắk Lắk, sau hội nghị các cấp chuyên đề về giải quyết FULRO, ban chỉ đạo chung được hình thành và củng cố. Đến năm 1980, thông qua phát động quần chúng, các địa phương đã củng cố được đội ngũ cán bộ chủ chốt và kiện toàn được lực lượng công an và dân quân ở 117/326 xã và 310/2.390 thôn; xét duyệt và thanh lọc được 20 xã, phường và củng cố 15 xã, phường; xét duyệt 33/88 ban chỉ huy quân sự xã, phường, đội; thanh lọc 550/3.400 dân quân tự vệ không đủ tiêu chuẩn chính trị và theo FULRO (đạt 16%), nhiều xã tỷ lệ thanh lọc cao hơn, có xã giải tán hoàn toàn dân quân do bị địch khống chế1 (Tỉnh ủy Đắk Lắk, Kiểm điểm việc giải quyết vấn đề FULRO và yêu cầu nghiệp vụ, biện pháp giải quyết vấn đề này trong thời gian tới, năm 1980, Phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo tỉnh Đắk Lắk).


Đến cuối năm 1981, toàn tỉnh có 26.667 dân quân tự vệ, trong đó có 10.730 dân quân tự vệ ở nông thôn, thị xã có 7.318 người, 2.226 nữ, 1.945 đảng viên, 528 đoàn viên, 455 là bộ đội phục viên, góp phần củng cố dân quân tự vệ của 85/102 xã, phường, về tổ chức cơ sở đảng, đến cuối tháng 12 năm 1981, Đắk Lắk có 100 chi bộ và đảng bộ cơ sở xã, phường gồm 1.375 đảng viên, tăng 41 đảng viên so với năm 1980, trong đó có 560 đảng viên người dân tộc thiểu số. Tổng số cán bộ xã với 5 chức danh (bí thư, chủ tịch, xã đội trưởng, trưởng công an, bí thư đoàn thanh niên, chủ nhiệm hợp tác xã) có 604 người, trong đó 2/3 là người địa phương. Trong 12 năm (1975 - 1987) đào tạo bồi dưỡng trên 3.000 cán bộ là người dân tộc thiểu số lãnh đạo ở các cấp ủy Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng. Đào tạo trên 5.000 cán bộ cơ sở và cán bộ quân sự, công an, dân quân tự vệ1 (Tỉnh ủy Đăk Lắk, Báo cáo tổng kết công tác phát động quần chúng truy quét FULRO và các bọn phản động khác từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1981, Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5).


Tại Lâm Đồng, công tác phát triển đàng viên trong vùng đồng bào dân tộc đưực đẩy mạnh nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trên địa bàn. Đến năm 1987 không còn cơ sở "trắng", có 55/55 xã có tổ chức cơ sở đảng, trong đó có 20 xã "thuần dân tộc"; năm 1986, số bí thư đảng ủy, bí thư chi bộ là người dân tộc thiểu số có 17 đồng chí và trong tống số chức danh chủ chốt ở xã, số cán bộ người dân tộc chiếm 26,2%. Số cán bộ đảng là người dân thiểu số có 3 người là tỉnh ủy viên, 39 người là huyện ủy viên, 55 người là cấp ủy viên đảng bộ xã. Cán bộ người dân tộc thiểu số cấp xã có 885 đại biểu hội đồng nhân dân, 28 người làm chủ tịch, 52 người là phó chủ tịch. Cấp huyện có 74 đại biểu hội đồng nhân dân, 1 chủ tịch, 8 phó chủ tịch là người dân tộc thiểu số. Cấp tỉnh có 19 đại biểu hội đồng nhân dân, 1 phó chủ tịch. Đại biểu Quốc hội khóa VITI có 2/4 đại biểu là người dân tộc thiểu số.


Tại Gia Lai - Kon Tum, đến năm 1983, toàn tỉnh có 564 tổ chức cơ sở đảng, với 13.199 đảng viên (trong đó có 5.144 là người dân tộc), về dân quân tự vệ, tính đến tháng 6 năm 1985, tỷ lệ dân quân tự vệ đạt 4,7% so với dân số toàn tỉnh (dân quân chiến đấu cơ động 23%, chiến đấu tại chỗ 75,4%). Về chất lượng lãnh đạo, đảng viên 7,1%, đoàn viên 18%, bộ đội phục viên 4%, nữ chiếm 8,6% tổng số dân quân tự vệ.


Giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, nhất là việc chăm lo đời sống đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn này được Đảng, Nhà nước quan tâm đẩy mạnh, đạt được những kết quả làm thay đổi các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận, góp phần quan trọng vào thành công trong đấu tranh giải quyết FULRO của các địa phương.


Tại Lâm Đồng, trong 2 năm 1977 đến 1978, tỉnh đã đưa hàng trăm tấn giống cây trồng, hơn 2.000 dụng cụ lao động cầm tay giúp đồng bào phát triên kinh tế. Công tác xây dựng cơ sở hạ tầng được tỉnh quan tâm, trường học, trạm xá, giao thông được đẩy mạnh xây dựng. Tính đến cuối năm 1977, đã xóa xong nạn mù chữ cho 16.300 con em người dân tộc; tăng cường đào tạo đội ngũ giáo viên, nhất là đào tạo đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số. Cuối năm 1985, có khoảng 900 học sinh dân tộc thiểu số tốt nghiệp cấp 2 và 500 học sinh tôt nghiệp cấp 3.


Về định canh định cư là vấn đề có tính cấp thiết, không chỉ là vấn đề chính trị mà còn là vấn đề kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng. Tính đến năm 1981, đã định canh, định cư được 8.878 hộ gồm 48.336 khẩu, có 7/51 hợp tác xã trong toàn tỉnh hoàn toàn là người dân tộc thiểu số do cán bộ người dân tộc thiểu số làm chủ nhiệm; khai hoang được 6.900ha, có 314 hộ gồm 1.700 nhân khẩu làm cây công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.


Về thủy lợi, tính chung đến năm 1981, tỉnh đã xây dựng được 16 công trình thủy lợi, 10,7km kênh mương, tưới cho 1.116ha, làm mới 197,7km đường giao thông, 24 trường học, 17 trạm y tế xã, khai hoang 4.512ha đất canh tác. Ngoài ra, Nhà nước còn trợ cấp 500 tân lương thực, 330.000m vải, 12 tấn giống hoa màu, 124 con trâu bò, 22.000 dụng cụ lao động. Qua đó góp phần ổn định đời sống định canh, định cư đồng bào, nhất là dân tộc thiểu số.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #23 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:15:18 am »

Tại Đắk Lắk, quán triệt Chỉ thị số 04 của Ban Bí thư, tỉnh đã triển khai mạnh mẽ các biện pháp giải quyết FULRO cả về quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội làm chuyển biến khá rõ nét về các mặt ở vùng nông thôn dân tộc. Tổ chức các đội xóa nạn mù chữ, đến cuối năm 1977, đã giải quyết cơ bản vấn đề mù chữ trong vùng đồng bào dân tộc và xây dựng trường học ở hầu hết các xã trong toàn tỉnh, đưa con em đồng bào đến tuổi vào học ở các trường học cơ sở. Bước đầu đã triển khai mạng lưới y tế ở các xã trọng điểm, xây dựng bệnh xá xã và tăng cường cán bộ y tế.


Về định canh, định cư, tỉnh đã đẩy mạnh việc đưa cư dân các dân tộc tại chỗ vào các nông, lâm trường quốc doanh, trở thành công nhân nông, lâm nghiệp. Năm 1980, toàn tỉnh mới tuyển được 3 buôn với 334 hộ, 2.360 khẩu, 643 lao động vào nông - lâm trường, đến năm 1983 tăng lên 9 buôn với 652 hộ. Tính đến năm 1987, đã vận động định canh, định cư 29.102 hộ với 158.762 khẩu và 48.832 lao động (đạt tỷ lệ 75% số hộ trong toàn tỉnh) ở 70/95 xã1 (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (1975 - 2005), Sđd, tr. 60).


Về văn hóa - xã hội, có bước phát triển mạnh, số học sinh năm 1975 - 1976 là 50.000 em, năm 1981 - 1982 tăng lên 53.300 em, trong đó có 41.000 em dân tộc thiểu số; giáo viên phổ thông các cấp từ 1.990 thầy cô giáo lên 6.200, trong đó có gần 1.000 giáo viên người dân tộc thiểu số; hệ thống y tế được phát triển nhanh chóng. Năm 1981, cơ sở khám chữa bệnh tăng lên gấp đôi so với năm 1976, số giường bệnh viện, bệnh xá từ 930 giường năm 1976 lên 2.200 giường; y tá đào tạo tại địa phương tăng lên nhanh chóng, góp phần thay đổi từng bước bộ mặt văn hóa xã hội là một phần thắng lợi quan trọng.


Về kinh tế, tỉnh đã dần tự giải quyết được lương thực, một phần thực phẩm, giải quyết được nạn đói kinh niên trong nhân dân, bình quân đầu người 200kg quy thóc năm 1975 lên 300kg năm 1981. Từ chỗ Nhà nước phải cứu đói năm 1975 là 10.000 tấn gạo, đến năm 1981 nhân dân làm nghĩa vụ cho Nhà nước được 26.000 tấn quy thóc. Chăn nuôi phát triển mạnh, tăng gấp 2 lần so với năm 1975, tỉnh đã sản xuất được mặt hàng nông, lâm sản xuất khẩu, tăng thu nhập cho đồng bào. Trong 2 năm 1985 và 1986, phát triển kinh tế vườn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trở thành phong trào tương đối sôi nổi và rộng khắp. Từ năm 1986 trở đi, với quyết tâm cao của Tỉnh ủy, phong trào phát triển kinh tế vườn trong vùng đồng bào dân tộc ở Đắk Lắk có những biến đổi về chất1 (Tỉnh ủy Đắk Lắk, Báo cáo tổng kết công tác phát động quần chúng truy quét FULRO và các bọn phản động khác từ tháng 5 năm 1975 đến tháng 12 năm 1981, Tldd).


Tỉnh Gia Lai - Kon Tum, đã tự giải quyết được lương thực tại chỗ, từ 257kg/người năm 1976 lên 334kg/người năm 1983; tổng sản lượng lương thực năm 1982 đạt 225.000 tấn, bình quân đầu người đạt 312kg, tăng 0,9% so với năm 1979. Giá trị nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tăng 38%. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng 178%2 (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai, Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945 - 2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 617). Định canh, định cư trên 20 vạn đồng bào dân tộc ít người, tiếp nhận 20 vạn đồng bào kinh tế mới. Về thủy lợi, khôi phục và phát triển 359 đập nước, nạo vét 2.200km kênh mương và 174 hồ ao. Thi công 34 công trình vừa và nhỏ, huy động trên 2 triệu công lao động. Nhờ đó, năm 1975 đủ nước tưới cho 650ha, năm 1980 lên 8.000ha. Về giáo dục, sau giải phóng, tỉnh đã tập trung phát động phong trào học chữ, đến năm 1983, căn bản đã xóa xong nạn mù chữ trong lứa tuổi học sinh. Đội ngũ giáo viên ngày mộl tăng, năm 1979 có 391 giáo viên mẫu giáo và 2.531 giáo viên hệ phổ thông. Năm học 1978 - 1979, cấp tiểu học có 132 trường, 2.442 lớp, 83.005 học sinh, về văn hóa, đã có 92 xã, phường trong 158 xã phường có đội văn nghệ phục vụ nhân dân. Qua 3 năm từ 1976 đến 1979 đã đào tạo cán bộ làm công tác văn hóa thông tin được 332 cán bộ người dân tộc thiểu số. Về y tế, trạm y tế xã đã hình thành ở 154/158 xã phường.


Sau 10 năm (1977 - 1987) xây dựng thực lực chính trị phát triển kinh tế - xã hội, toàn Tây Nguyên đã có 100% xã đồng bào dân tộc có chi bộ Đảng, kết nạp mới được 3.833 đảng viên người dân tộc thiểu số, đào tạo được 7.717 cán bộ cốt cán người dân tộc, trong đó có 5.361 cán bộ dân tộc tại chỗ tham gia quản lý chính quyền các cấp, có 973/2.353 buôn, thôn (gần 40%) có đảng viên người dân tộc thiểu số. Cấp ủy và chính quyền các cấp đã quan tâm đến việc xây dựng lực lượng vũ trang, toàn Tây Nguyên có 109.000 dân quân tự vệ là người dân tộc tại chỗ, hầu hết đảm đương được nhiệm vụ đánh địch bảo vệ buôn làng1 (Ban Dân tộc tôn giáo, Tổng kết công tác vận động quần chúng đấu tranh giải quyết FULRO và xây dựng toàn diện vùng chiến lược Tây Nguyên, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phông số 319/pg). Tuy nhiên, xây dựng thực lực cách mạng cơ sở ở Tây Nguyên còn chậm, số đang viên là người dân tộc ít, đến năm 1982, ở Gia Lai - Kon Tum 133 người dân tộc Gia Rai, Ba Na mới có 1 đảng viên ở Lâm Đồng 902 người dân tộc Cờ Ho, người Mạ mới có 1 đảng viên. Số cán bộ chủ trì là người dân tộc còn ít (ở Lâm Đồng có 45 xã dân tộc nhưng mổi có 14 bí thư, 26 chủ tịch, phó chủ tịch và 22 xã có đảng viên là người dân tộc; Đắk Lăk có 55 xã đồng bào dân tộc thiểu số, chỉ có 24 xã có bí thư là người dân tộc...). Công tác quản lý, bảo vệ cán bộ ở cơ sở chưa được coi trọng, thiếu biện pháp cụ thể, tạo sơ hở để FULRO giết hại, khống chế làm mất tác dụng hoặc lôi kéo làm việc cho chúng. Từ cuối năm 1975 đến năm 1982, FULRO giết hại trên 300 và lôi kéo gần 4.000 cán bộ thôn, xã, trong đó có 81 đảng viên, 23 cán bộ cơ sở quận, huyện. Lực lượng vũ trang ở cơ sở chưa bảo đảm trong sạch hoàn toàn, vẫn còn dân quân tự vệ chạy ra rừng, hoặc lén lút làm việc cho FULRO1 (Quân khu 5, Tổng kết công tác phát động quần chúng xây dựng cơ sở, truy quét FULRO từ sau ngày giải phóng đến nay (3.1975 - 3.1982), Tlđd).


Về kinh tế - xã hội, toàn Tây Nguyên có 9 huyện, 210 xã vùng dân tộc hoàn thành công tác định canh, định cư, làm kinh tế vườn; khai phá hàng nghìn hécta đất canh tác; xây dựng được 251 công trình thủy lợi lớn nhỏ; thành lập trên 100 hợp tác xã nông nghiệp và 1.000 tập đoàn sản xuất. Bà con đồng bào dân tộc bước đầu biết tiếp cận khoa học kỹ thuật vào trồng trọt, hạn chế được nạn phá rừng làm rẫy, có 76.275/127.291 hộ dân có vườn (chiếm 60%). Kết quả sản xuất của 3 tỉnh đạt 21 triệu đô la/năm. Đặc biệt chủ trương giao đất cho các hộ dân tộc để phát triển kinh tế vườn đã thực sự mang lại hiệu quả cao. Về giáo dục, đã hình thành mạng lưới từ tỉnh đến xã với 415 trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học; một số phiên hiệu đại học ở Đà Lạt, Buôn Ma Thuột và nhiều trường chuyên nghiệp khác được thành lập đã thu hút trên 40% con em đồng bào dân tộc thiểu số vào các trường học, 3.782 cán bộ đi học bổ túc văn hóa. Về y tế, đã có 146 trạm y tế và bệnh xá khu vực với 748 bác sĩ, y sĩ, y tá người dân tộc2 (Bộ Công an, Tổng kết lịch sử cuộc đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO, Sđd, tr. 47).


Những kết quả đạt được nêu trên đã góp phần ổn định tình hình vùng đồng bào dân tộc, làm cho FULRO không có điều kiện thâm nhập cũng như trà trộn vào dân; đánh tan luận điệu xuyên tạc người Kinh chiếm đất, cô lập FULRO; đồng thời, củng cố lòng tin của đồng bào vào chính sách của Đảng, Nhà nước.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #24 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:16:40 am »

c) Đấu tranh truy quét FULRO

Trên cơ sở phát động quần chúng, xây dựng thực lực chính trị và phát triển kinh tế - xã hội, trong năm 1977 ta tổ chức nhiều đợi cao điểm truy quét FULRO, với lực lượng tổng hợp gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, an ninh và cán bộ các đội công tác, bố trí thành thế trận gồm: Lực lượng phát động quần chúng đánh địch trong dân (đội công tác, lực lượng an ninh, dân quân tự vệ), lực lượng đánh địch ở vùng ven (các trung đội, đại đội bộ đội địa phương huyện đứng điểm ở các khu dân cư), lực lượng đánh địch ở vùng sâu (bộ đội chủ lực của Bộ, Quân khu 5).


Sử dụng lực lượng, Quân đoàn 3 sử dụng Sư đoàn 10 hoạt động ở Lâm Đồng, Sư đoàn 320 hoạt động ở Đắk Lắk; chủ lực Quân khu 5 sử dụng Trung đoàn 29 hoạt động ở Gia Lai - Kon Tum; tiểu đoàn cơ động các tỉnh hình thành nhiều điểm truy quét địch liên tục (các tỉnh Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai - Kon Tum, Thuận Hải, Phú Khánh huy động 2/3 quân số trực tiếp truy quét; Quảng Nam - Đà Năng, Nghĩa Bình huy động 1/3 quân số trực tiếp truy quét); lực lượng xây dựng kinh tế (Đoàn 335 Quân khu 5) tổ chức mỗi trung đoàn 1 đại đội chuyên trách truy quét FULRO trên địa bàn trọng điểm.


Phương pháp hoạt động, kết hợp chặt chẽ giữa công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị với mở các đợt cao điêm truy quét, đánh đúng đôi tượng đầu sỏ, căn cứ vũ trang trong rừng sâu, phân hóa hàng ngũ FULRO, làm đúng chính sách dân tộc, tôn giáo, kiên quyết tiến công địch đến cùng.


Địa bàn truy quét trọng điểm, ở Đắk Lắk, tập trung ở trung tâm và vùng ven thị xã Buôn Ma Thuột, Krông Búk, Krông Pắk; Gia Lai - Kon Tum là Ayunpa, nam Phú Nhơn; Thuận Hải, tập trung ở Ninh Sơn, Ninh Hải; Phú Khánh, tập trung ở phía tây và tây nam tỉnh (chủ yếu là Cam Ranh); tỉnh Nghĩa Bình, tập trung ở Sơn Hà, Ba Tơ; Quảng Nam - Đà Nằng ở Trà My; ở Đồng Nai là Định Quán, Kiệm Tân, Xuân Lộc, Vĩnh Cửu.


Kế hoạch truy quét, tổ chức thành 2 cao điểm: Cao điểm 1 (3.3 - 25.4.1977); cao điểm 2 (25.4 - 25.7.1977). Trước ngày 3 tháng 3 năm 1977 (khoảng 15 đến 25 ngày), các trung đội, đại đội vùng ven, tiểu đoàn cơ động, chủ lực và địa phương triển khai lực lượng tại các khu vực trọng điểm để giữ thế chủ động và trực tiếp hỗ trợ cho các đội công tác xuống đứng chân tại các điểm dân cơ (chủ yếu ở Đắk Lắk).


Cao điểm 1, được triển khai thành 2 bưổc: Bước 1 (3 - 25.3), lực lượng ta trên các tuyến phối hợp với nhau tương đối chặt chẽ, đồng loạt truy quét trên phạm vi rộng, tập trung vào các trọng điểm. Quy mô sử dụng lực lượng trên mỗi trọng điểm từ 2 đến 3 tiểu đoàn truy quét, kết hợp với các đội công tác, trung đội vùng ven ém phục, quản lý dân, cắt tiếp tế. Trong bước này, ta đã đánh trúng một số căn cứ đầu não chỉ huy của FULRO. Điển hình như trận đánh CK9 từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 3; trận Chư Bil từ ngày 3 đến ngày 6 tháng 3' trận tây Ea Tiêu (phía nam thị xã Buôn Ma Thuột) từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 3 năm 1977. Bước 2 của đợt truy quét diễn ra từ ngày 25 tháng 3 đến ngày 25 tháng 4 năm 1977, ta chuyển hướng đấu tranh, sử dụng từng tiểu đoàn, gồm cả lực lượng địa phương và chủ lực trên từng địa bàn kết hợp với các trung đội, đại đội bộ đội địa phương huyện đứng chân ở vùng ven tổ chức truy quét liên tục, đánh vào lực lượng huyện và lực lượng trung đoàn kiêm tỉnh của FULRO bám ở các vùng ven móc nối cơ sở để lấy tiếp tế, nhiều trận đánh đạt kết quả tốt. Điển hình như: Trận đánh ở Epốt từ ngày 28 đến ngày 30 tháng 3 của Tiểu đoàn 32; trận đánh ở Thành Mỹ của Trung đoàn 28 (Sư đoàn 10). Đặc biệt có những trận ta sử dụng lực lượng quy mô cấp trung đoàn như trận truy quét vào căn cứ của Trung đoàn 62 và Trung đoàn 64 FULRO ở Đắk Gềnh (Đắk Mil), Ea Đắh (Krông Năng), tỉnh Đắk Lắk. Vận dụng cách đánh trong bước này đã có những phát triển mới, các trận đánh có sự kết hợp cả bên trong và bên ngoài cùng đánh (kết hợp giữa bắt và khai thác những tên ở ngoài rừng để đánh bọn ở trong buôn làng, với bắt và khai thác những tên trong buôn làng để đánh bọn ở ngoài rừng) đã tạo nên thế dây chuyền chặt chẽ truy quét dứt điểm FULRO ở các khu vực Chư A Thai (Phú Thiện, Gia Lai - Kon Tum), Cư Jút (Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk), xóm Bằng xã Cát Hải, tỉnh Thuận Hải. Có trận ta dùng cơ sở mật để bắt bọn đầu sỏ như bắt Huỳnh Ngọc Sắng - Chỉ huy trung ương FULRO Chàm, diệt bọn cầm đầu họp ở thôn Hà Rai.


Kết quả, trong cao điểm 1 ta đã phá được một số căn cứ của FULRO ở CK19, Ea Đắh, Đá Gềnli, Tà In, xóa phiên hiệu Trung đoàn Pô Than (FULRO Chàm) ở Thuận Hải (1 khung trung đoàn, 4 khung tiểu đoàn); giải quyết cơ bản một số khu vực có nhiều FULRO ở trong buôn và ngoài rừng (ở Chư A Thai, bắt, diệt và gọi hàng 162/164 tên, thôn U xã Cư Jút 48/50 tên, xóm Bằng xã Cát Hải 174/180 tên). Bắt và tiêu diệt một số tên đầu sỏ quan trọng (bắt Huỳnh Ngọc sắng - Chỉ huy FULRO Chàm, Siêu Nhớt - mục sư Tin Lành, cầm đầu nhóm FULRO ở Chư A Thai, Y Huê - Chủ tịch FULRO Quảng Đức, cầm đầu nhóm FULRO ở Chư Jút, Hán Bông - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Pô Than, Măng Non, Măng Khá - Chỉ huy nhóm FULRO CK19...)1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Tham mưu, Tổng kết hoạt động truy quét, triệt phá tổ chức phản động FULRO trên địa bàn Quăn khu 5 (1975 - 1992), Tlđd).


FULRO bị đánh, ra hàng và trình diện ngày càng nhiều, tổ chức của chúng có nơi bị tan rã, bị thiệt hại nặng, có đơn vị bị xóa phiên hiệu. Để tránh bị tan rã, FULRO chủ trương củng cố lại lực lượng, thành lập đơn vị mới ở một số nơi. Ở Đắk Lắk, chúng đổi tên Sư đoàn Đam Di thành Sư đoàn Amatranga, thành lập Sư đoàn nhẹ H’bir Bao phụ trách vùng ven, củng cố Trung đoàn 61 và các quận 4, 5, 6, 9. Ở Lâm Đồng, FULRO đổi tên Sư đoàn Bi Đúp thành Sư đoàn Amatranglơn, tổ chức sư đoàn kiêm vùng (Quân khu 4), trung đoàn kiêm tỉnh, tiểu đoàn kiêm quận, đại đội kiêm xã, sáp nhập Trung đoàn 74 vào Trung đoàn 71 kiêm tỉnh Lang Biang (khu vực Đà Lạt), Trung đoàn 72 kiêm tỉnh Đồng Nai (gồm Di Linh và Bảo Lộc), thành lập Tiểu đoàn Đồng Khởi người Kinh di cư và Đặc khu Krông Pa thuộc Quân khu 4. Ở Thuận Hải, FULRO thành lập thêm tiểu đoàn dự bị tại khu vực Lam Sơn (Ninh Sơn) trực thuộc lực lượng ở Hà Giáo. Ở Gia Lai - Kon Tum, Sư đoàn Nay Dy đổi phiên hiệu thành Sư đoàn Đam Pông (kiêm Vùng 2), do tên Siu Klút làm Sư đoàn trưởng thay tến Nay Ful, thành lập sư đoàn nhẹ phụ trách tỉnh Cheo Reo, củng cố Trung đoàn 52 kiêm tỉnh Pleiku.


Thủ đoạn hoạt động của FULRO là tiếp tục phân tán, di chuyển, né tránh, bám buôn làng để lấy tiếp tế, trá hàng, chạy sang Campuchia chuẩn bị chống phá lâu dài; đồng thời, đẩy mạnh hoạt động vũ trang ở một số nơi, đột nhập vào ven thị xã Buôn Ma Thuột, liên tục phục đánh xe trên Đường 21 (đèo Khánh Dương, đèo Phượng Hoàng), bắn, giết cán bộ đồn công an, tập kích doanh trại bộ đội nhằm gây thanh thế và củng cố tinh thần binh lính; tìm cách chui vào các thành phố, thị xã, khu đông dân cư, xâm nhập vào nội bộ ta. Hoạt động của FULRO Chàm bên ngoài thì lắng xuống, nhưng bên trong trá hàng móc nối xây dựng lực lượng ngầm.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #25 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:17:43 am »

Cao điểm 2, diễn ra từ ngày 25 tháng 4 đến ngày 25 tháng 7 năm 1977, được triển khai thành 2 bước.

Bước 1, nắm chắc sự thay đổi về thủ đoạn của địch, rút kinh nghiệm từ đợt 1, nhiều đơn vị đã kịp thời điều chỉnh về cách đánh, thay đổi về phương thức tác chiến, chuyển sang hoạt động chủ yếu về ban đêm, dùng các phân đội nhỏ tổ chức ém phục kết hợp với tin báo của cơ sở mật và khai thác địch để đánh địch.


Tại Đắk Lắk, dựa vào cơ sở mật cung cấp, từ ngày 6 đến ngày 14 tháng 5, Đại đội 303 đã đánh trúng bộ phận chỉ huy Sư đoàn nhẹ H’bir Bao và Trung đoàn 61 FULRO ở tây buôn Kna (phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột). Ngày 5 tháng 5, tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 52) và Tiểu đoàn 32 phối hợp cùng đại đội địa phương huyện Krông Pách, đánh trúng bọn đầu sỏ FULRO đang họp ở buôn Chư Gang Ré. Ngày 25 tháng 5 năm 1977, Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 52) đánh vào bộ phận thanh tra trung ương FULRO ở khu vực xã Ea Ktút. Nhận được tin báo của nhân dân về địa điểm hoạt động của nhóm FULRO, Tiểu đoàn nhanh chóng tổ chức cơ động lực lượng, tập kích tiêu diệt gọn, bắt sống tên Đại tá Y Găm khét tiếng gian ác. Thắng lợi của trận đánh đã làm cho nhân dân tin tưởng vào bộ đội, tố giác hàng chục tên FULRO còn ẩn náu trong xã, vận động hàng chục thanh niên theo FULRO mang vũ khí ra trình diện chính quyền và trở về với nhân dân.


Tại Lâm Đồng, vận dụng cách đánh dây chuyền trong ngoài cùng đánh, sau khai thác công vụ của tên Đại tá Hà Sáu A - Cố vấn trung ương FULRO, ta tổ chức lực lượng đánh vào cơ quan tiền phương Quân khu 4 FULRO ở phía bắc Đà Lạt, diệt tên Hà Sáu A cùng 2 đại úy và 1 trung úy FULRO. Sau đó, tổ chức cho nhân dân đưa xác tên Hà Sáu A về tố giác tội ác của hắn, đồng thời tiếp tục phát động quần chúng truy quét. Kết quả, 98 đối tượng trong dân đã ra trình diện chính quyền và thừa nhận đã làm việc cho FULRO.


Bước 2 của đợt truy quét, nắm chắc thời cơ, các lực lượng của ta tiếp tục đẩy mạnh truy quét, kết hợp với binh vận làm cho FULRO thêm nhiều tan rã.

Tại Đắk Lắk, rút kinh nghiệm của xã Chư Jút, tỉnh tập trung chỉ đạo đẩy mạnh công tác binh vận ở một số xã chưa vận động được FULRO ra hàng và trình diện bằng nhiều biện pháp kết hợp với tiến công truy quét ngoài rừng, tổ chức cơ sở mật bắt bọn khống chế trong buôn làng, tổ chức học tập riêng cho các gia đình có con em theo FULRO, tổ chức ngày toàn dân ra rừng kêu gọi FULRO về hàng, động viên quần chúng tố giác FULRO trong buôn. Kết quả, ở buôn Kna, 100 người theo FULRO đã có 71 người trở về- xã Ea Hleo 22 người ra rừng theo FULRO, có 14 người trở về và 120 người có quan hệ với FULRO ra trình diện; xã Quảng Tín có 61 FULRO ngoài rừng thì 56 trở về... số FULRO ra hàng và trình diện ngày càng nhiều, số trá hàng được tỉnh tổ chức các đội công tác xuống giáo dục cải tạo thí điểm ở các xã Chư Jút, Quảng Phú, kết quả bước đầu có 6 đối tượng tự nhận trá hàng, tự giác mang súng về giao nộp chính quyền. Kinh nghiệm này đã được triển khai áp dụng rộng rãi xuống các xã trên địa bàn.


Tại Lâm Đồng, áp dụng biện pháp đấu tranh thích hợp, số FULRO ra đầu hàng, trình diện tăng nhiều. Từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 16 tháng 7 năm 1977, ở các khu vực Đăng Gia, Đinh Văn, Đức Tùng Nghĩa của huyện Đơn Dương có 400 FULRO sống hợp pháp trong dân ra hàng và trình diện chính quyền.


Tại Thuận Hải, thông qua việc phát động quần chúng đấu tranh truy quét FULRO, ta đã kêu gọi ra trình diện được trên 100 tên thuộc bộ phận lực lượng mật của Tiểu đoàn dự bị Hà Giáo ở Ninh Sơn.

Đi đôi với đẩy mạnh truy quét, la tăng cường kiểm soát và bảo vệ giao thông, kiểm tra hộ khẩu, hạn chế hành động phá hoại giao thông của địch. Thông qua kiểm tra hộ khẩu, đêm 13 tháng 6 năm 1977, ta bắt tên Tư là mục sư Tin Lành ở phường Thống Nhất, thị xã Bụôn Ma Thuột và một số tên ở Đà Lạt sang cư trú trái phép, thu được tài liệu hiệu triệu tuyên truyền kích động quần chúng nổi dậy chống chính quyền cách mạng, ta bắt toàn bộ Ban Trị sự Tin Lành ở đây.


Bước 2 của đợt truy quét, ta đã gắn việc truy quét FULRO với việc triển khai bảo vệ biên giới trên tuyến Gia Lai - Kon Tum và Đắk Lắk. Các đơn vị bảo vệ biên giới tăng cường tuần tra, kiểm tra chống xâm nhập. Ngày 13 tháng 6 năm 1977, ta bắt 3 tên Khmer Đỏ xâm nhập vào Bản Đôn; ngày 17 tháng 6, bộ đội và dân quân huyện Chư Prông đã phát hiện và bắt gọn 10 tên có âm mưu gây bạo loạn ở xã Bình Giáo; ngày 5 tháng 7, bộ đội phối hợp cùng công an bắt 2 tên FULRO ở thôn Knú vượt biên sang Campuchia từ ngày 12 tháng 6 trở lại nằm vùng móc nối cơ sở đưa người vượt biên sang Campuchia.


Kết quả đợt 2 của cao điểm truy quét, ta đã thanh loại 3.504 tên (diệt 103 tên, bắt trong buôn 938 tên, bắt ngoài rừng 138 tên, gọi hàng 728 tên, trình diện 1.597 tên). Phân loại 2.992 tên FULRO, 247 tàn quân ngụy, 210 tên đảng phái phản động, 38 tên phản động tôn giáo, 17 tên lưu manh chuyên nghiệp. Trong các số này có 15 tên chỉ huy (gồm: 3 đại tá, 6   trung tá, 11 thiếu tá, 17 đại úy, cấp chỉ huy đại đội là 60 tên), thu 320 súng các loại1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Tham mưu. Tổng kết hoạt động truy quét, triệt phá tổ chức phản động FULRO trên cỉịo bàn Quân khu 5 (1975 - 1992), Tlđd). FULRO bị ta truy quét đánh thiệt hại nặng, một số đơn vị buộc phải thay đổi phiên hiệu, dồn ghép củng cố lại biên chế, câu kết chặt chẽ với các lực lượng phản động nội địa, giữa FULRO với Khmer Đỏ. Thủ đoạn hoạt động của FULRO là lợi dụng sơ hở của ta để chống phá gây thanh thế, giữ vững tinh thần cho binh lính, hoạt động phân tán, tránh né để bảo toàn lực lượng.


Cùng với các đơn vị chủ lực của Quân khu 5 và lực lượng vũ trang địa phương, Sư đoàn 320 (Quân đoàn 3) đứng chân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk tổ chức đợt phát động quần chúng truy quét FULRO từ ngày 3 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 năm 1977. Đợt phát động chia làm 2 bước. Lực lượng tham gia gồm 2 trung đoàn 52 và 64 của Sư đoàn 320. Địa bàn hoạt động gồm các huyện Krông Búk, Krông Pách và thị xã Buôn Ma Thuột. Nhiệm vụ đưực giao là lực lượng chủ lực cơ động tiêu diệt và làm tan rã cơ quan chỉ huy đầu não, các đơn vị vũ trang tập trung của FULRO ở tuyến sâu là chủ yếu; tiêu diệt các toán vũ trang địch ở vùng ven, hỗ trợ đắc lực cho địa phương phát động quần chúng xây dựng chính quyền cơ sở ở buôn xã, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân.


Thực hiện kế hoạch tác chiến, Sư đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 52, cơ động lực lượng từ Dục Mỹ lên đứng chân ở Đắk Lắk, đảm nhiệm hoạt động ở phía nam Buôn Ma Thuột. Trung đoàn 64 (thiếu) đứng chân ở Krông Pách, Tiểu đoàn 7 (Trung đoàn 64) đứng chân ở Buôn Hồ. Đến cuối tháng 1 năm 1977, các đơn vị cơ bản đã đứng chân trên các địa bàn trọng điểm của địa phương.


Từ ngày 2 đến ngày 6 tháng 2 năm 1977, Sư đoàn tiến hành trinh sát thực địa, xây dựng phương án tác chiến, tổ chức hiệp đồng với địa phương; thành phần tham gia gồm cán bộ chỉ huy từ trung đội trở lên. Ngày 8 tháng 2, Sư đoàn giao nhiệm vụ chính thức và hiệp đồng chiến đấu, đồng thời phổ biến kinh nghiệm chiến đấu, kinh nghiệm tổ chức đội công tác phát động quần chúng cho chỉ huy các đơn vị.
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #26 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:19:29 am »

Trước khi tổ chức đợt truy quét, tỉnh Đắk Lắk chủ trương phối hợp với bộ đội chủ lực đứng chân trên địa bàn mở đợt hoạt động đệm từ ngày 9 đến ngày 15 tháng 2 nhằm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để tình huống xấu xảy ra trong dịp Tết Nguyên đán. Mặt khác, sử dụng lực lượng vũ trang hoạt động đánh địch ở một số vùng trọng điểm để đưa đội công tác của địa phương xuống cơ sở nắm tình hình địch, tình hình nhân dân, chuẩn bị cơ sở cho hoạt động chính thức. Trong đợt hoạt động đệm, ngày 7 tháng 2, trinh sát của Sư đoàn và một bộ phận của Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 52) đã tiêu diệt toán FULRO ở xã Chư Sê, diệt tại chỗ 2 tên. Tuy số lượng địch bị diệt ít, nhưng trận đánh đã có tác dụng tốt trong công tác tổ chức chỉ huy và hành động truy quét của bộ đội, bước đầu xây dựng được lòng tin ở cơ sở để thực hiện nhiệm vụ tiếp theo.


Thực hiện nhiệm vụ bước 1 của đợt phát động truy quét FULRO, trên hướng chủ yếu phía đông nam thị xã Buôn Ma Thuột gồm các xã Ea Tiêu, Ea Ktul, Ea Knuech, Ea Bhok, từ ngày 3 đến ngày 15 tháng 3 năm 1977, Trung đoàn 52 (thiếu) tập trung lực lượng khống chế các trọng điểm, chia cắt giữa tuyến 1 và tuyến 3 của địch để hỗ trợ địa phương phát động quần chúng đánh địch bên trong; đồng thời, đưa các đội trinh sát đột nhập vào vùng sâu nắm địch ở các mục tiêu từ R1 đến R4. Nắm chắc thời cơ, từ ngày 6 đến ngày 9 tháng 3, Trung đoàn 52 tập trung lực lượng đánh vào Sở Chỉ huy Trung đoàn 61 và Trung tâm huấn luyện của FULRO, nơi ẩn náu của tên Y Dao ở dãy Chư Bil (cách phía nam thị xã Buôn Ma Thuột 13km), bằng chiến thuật vận động bao vây tiến công liên tục, Trung đoàn 52 đã đánh trúng căn cứ FULRO, gây cho chúng thiệt hại nặng, buộc phải di chuyển né tránh. Kết quả trận đánh, ta loại khỏi vòng chiến đấu 36 tên (diệt 31 tên, bắt 5 tên), diệt gọn 1 đại đội, xóa căn cứ cơ quan trung ương FULRO.


Trên hướng phối hợp, Trung đoàn 64 sử dụng Tiểu đoàn 7 hoạt động ở Buôn Hồ gồm các xã Ea Đê, Ea Túk, Ea Đrông, từ ngày 3 đến ngày 8 tháng 3, Tiểu đoàn đưa Đại đội 1 lên Gia Cầm đánh địch theo yêu cầu của huyện Krông Buk, nhưng không gặp địch. Tiểu đoàn 9 tập trung hoạt động trọng điểm ở các xã Ea Knuech và Ea Túk, liên tục truy quét, loại khỏi vòng chiến đấu 33 tên (diệt 1 tên, bắt 30 tên).


Nổi lên trong bước này của đợt truy quét là bộ đội ta đã khắc phục được khó khăn, chấp hành nghiêm túc mệnh lệnh, tập trung lực lượng trên hướng trọng điểm của địa phương, hoạt động đánh địch ở vùng ven và vùng sâu có kết quả, đã hỗ trợ trực tiếp cho các đội công tác của địa phương đứng vững để phát động quần chúng đánh địch trong buôn. Tổ chức được một số trận đánh có ý nghĩa then chốt ở vùng sâu đạt kết quả (như trận đánh của Trung đoàn 52 ở dãy Chư Bil), làm cho địch hoang mang, dao động, buộc phải cơ động né tránh, thay đổi thủ đoạn hoạt động (từ chủ động hoạt động vũ trang phá hoại chuyển sang bị động đối phó). Đồng thời, thắng lợi của các trận đánh trong bước này có tác dụng lớn đối với ta trong việc rèn luyện khả năng tác chiến của bộ đội và xây dựng đơn vị.


Bước 2 của đợt truy quét diễn ra từ ngày 22 tháng 3 đến ngày 15 tháng 4 năm 1977. Trên hướng chủ yếu, Đại đội 4 (Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 52) tổ chức đánh địch ở vùng ven phía bắc thị xã Buôn Ma Thuột (khu vực Chư Sê), thực hành vận động bao vây tiến công liên tục, truy quét triệt để, đã diệt gọn 1 toán FULRO 13 tên, trong đó có tên Trung tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 61, thu 4 súng. Từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 3, Đại đội 3 của Tiểu đoàn 4 cùng 1 đại đội đánh thiệt hại nặng địch ở tây bắc Chư Sê, tiêu diệt chỉ huy, quân lính hoang mang tháo chạy. Phía nam thị xã, Đại đội 11 (Tiểu đoàn 6) đánh địch ở phía nam Ea Tiêu và Trung Hòa đồng thời tổ chức lùng quét ở dãy Chư Bil, ta chia cắt được tuyến sâu với tuyến buôn làng của FULRO, đánh trúng căn cứ của chúng, diệt 10 tên, bắt 1 tên, thu 4 súng, tạo điều kiện cho phát động quần chúng đánh địch.


Trên hướng phối hợp, được trinh sát của Quân khu 5 cung cấp tình hình địch ở Ea Đa (phía bắc Chư Sê 13km), Trung đoàn 64 (thiếu Tiểu đoàn Cool, triển khai lực lượng bao vây tiến công tiêu diệt địch, nhưng do tổ chức nắm địch không chắc (báo cáo của trinh sát Quân khu 5, lực lượng FULRO có khoảng 150 tên, nhưng thực tế chỉ có 7 đến 10 tên), công tác tổ chức hiệp đồng và bảo đảm thông tin liên lạc không tốt nên trận đánh không thành công. Ở Buôn Hồ, Tiểu đoàn 7 tổ chức đánh địch ở vùng ven, lúc đầu kết quả rất hạn chế, nhưng do kịp thời rút kinh nghiệm và tổ chức chỉ đạo chặt chẽ nên các bộ phận lùng sục của Tiểu đoàn đã tiêu diệt và bắt được địch, thu vũ khí và tài liệu quan trọng của chúng.


Từ ngày 8 đến ngày 15 tháng 4 năm 1977, Trung đoàn 64 tổ chức cho một bộ phận của cơ quan Trung đoàn, Đại đội 9 của Tiểu đoàn 9 và 1 đại đội của Tiểu đoàn 6 cơ động chuẩn bị bàn đạp tiến công cụm quân địch ở phía bắc Đức Lập, nhưng khi các đớn vị cơ động đến nơi, địch đã rời khỏi trước đó 1 tuần (do công tác hiệp đồng không tốt, ngày 3 tháng 4, bộ đội địa phương huyện Đắk Mil nổ súng đánh địch nên bị lộ).


Kết quả của đợt truy quét năm 1977, ta tổ chức 73 lượt hành quân truy quét, có 3 trận đánh cấp trung đoàn thiếu, 7 trận đánh cấp tiểu đoàn, 44 trận cấp đại đội, 18 trận cấp trung đội, 33 lần gặp địch và nổ súng đánh địch; loại khỏi vòng chiến đấu 297 tên, bắt sống 223 tên (có 1 Thiếu tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 61, 1 đại úy, 3 thiếu úy); đánh thiệt hại nặng 1 trung đoàn, diệt gọn 1 đại đội, xóa Trung tâm huấn luyện cán bộ quốc gia FULRO; thu 24 súng bộ binh và nhiều tài liệu quan trọng, hỗ trợ địa phương bắt hàng trăm tên trong buôn, xã1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Bộ Tham mưu, Tổng kết hoạt động truy quét, triệt phá tổ chức phản động FULRO trên địa bàn Quân khu 5 (1975 - 1992), Tlđd).


Sang năm 1978, từ tháng 1 đến tháng 5, Tiền phương Quân khu 5 phối hợp với các tỉnh trên địa bàn Tây Nguyên mở đợt phát động truy quét FULRO, tiến hành củng cố lại các đội công tác, xây dựng thực lực cách mạng cơ sở, xác định rõ trách nhiệm cho lực lượng vũ trang địa phương đảm nhiệm hoàn toàn nhiệm vụ truy quét FULRO, thay đổi phương thức hoạt động tác chiến, dân quân tự vệ và các đội công tác hoạt động ở tuyến trong và tuyến ven, bộ đội địa phương hoạt động ở tuyến ven và vùng căn cứ FULRO. Ở Đắk Lắk, sau khi bổ sung kế hoạch phát động quần chúng, công tác truy quét FULRO có những chuyển biến tích cực, các đội công tác và dân quân xã hầu hết đảm nhiệm được nhiệm vụ truy quét đánh địch ở tuyến trong và tuyến ven. 40 dân quân xã Krông Pông vào rừng hoạt động 3 ngày, phát hiện 1 căn cứ FULRO, bắt 1 tên; trung đội bộ đội địa phương huyện M'Đrắk đánh vào căn cứ M’Đrắk 2 và 3 của FULRO, tiêu diệt tên Y Tiêu - Quận trưởng; bộ đội địa phương huyện Krông Pách đánh trúng đường dây của bọn trung ương FULRO thường qua lại từ Buôn Ma Thuột đến Giang Ré - Đầm Ròn, diệt tên Ksođê - trung ương FULRO, phụ trách Bộ nội vụ. Ở Lâm Đồng, ta đánh trúng căn cứ Vùng 4 FULRO, diệt 5 tên, thu 15 súng, 50 ba lô và nhiều tài liệu quan trọng. Ở Gia Lai - Kon Tum, được cơ sở mật cung cấp tình hình, ta tổ chức tiêu diệt một số tên đầu sỏ FULRO ở đông bắc Kon Tum và đánh vào căn cứ Sư đoàn Đam Pông ở tây nam Phú Nhơn, thúc đẩy tình hình phát triển thuận lợi.


Kết quả của đợt truy quét, các lực lượng vũ trang (chủ yếu là dân quân và bộ đội địa phương huyện) cùng với các đội công tác liên tục phát động quần chúng đấu tranh truy quét FULRO, tổ chức đánh 60 trận, diệt 75 tên, bắt 75 tên ra hàng 70 tên, ra trình diện 447 tên (trong đó có một số tên đầu sỏ quan trọng), thu 90 súng các loại; phá một số căn cứ của FULRO ở bắc Đắk Gềnh, Ea Đa, Chư Giăng Ré, phía bắc Đà Lạt (căn cứ Vùng 5 của FULRO), đẩy chúng vào thế khó khăn bị động, tiếp tục di chuyển lực lượng để né tránh, ra hàng và trình diện1 (Bộ Tư lệnh Đoàn 335, tài liệu số 24/121, Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5).
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #27 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:20:06 am »

Tiếp tục thực hiện kế hoạch truy quét FULRO, từ cuối năm 1978 đến đầu năm 1979, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 xác định phương án tác chiến là: Sử dụng lực lượng mỗi tỉnh 1 tiểu đoàn tập trung, từ 1/2 đến 2/3 bộ đội địa phương huyện, đại bộ phận dân quân tự vệ phối hợp với công an, đội công tác, cán bộ các ban, ngành, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chỉ huy quân sự thống nhất để tiến hành truy quét. Các đơn vị kinh tế sử dụng một bộ phận lực lượng phối hợp truy quct xung quanh khu vực đóng quân, tăng cường tuần tra, lùng sục và tích cực phục kích các hành lang. Dân quân và tự vệ các công, nông, lâm trường tích cực lùng sục trên các địa bàn được địa phương phân công, phối hựp truy quét theo yêu cầu của địa phương. Các đơn vị và các đồn công an ở biên giới, phối hợp lùng sục bọn biệt kích, tích cực phục trên các hành lang FULRO và các lực lượng khác trong nội địa liên lạc với bọn phản động ở Campuchia1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Đợi hoạt động truy quét từ ngày 22 tháng 12 năm 1978 đến 22 tháng 1 năm 1979, tài liệu số 144/L21, Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5).


Kế hoạch truy quét được chia làm 3 bước: Bước truy quét vòng ngoài kết hợp với bao vây phục chặn (22 - 30.12.1978); bước truy quét bên trong (1 - 12.1.1979); bước truy quét mạnh ở cơ sở (13-22.1.1979).


Thực hiện kế hoạch truy quét, ở Đắk Lắk, sử dụng các tiểu đoàn bộ đội địa phương tỉnh phối hợp với tiểu đoàn công an vũ trang của Bộ Nội vụ tổ chức truy quét, đánh trúng căn cứ trung ương FULRO ở Krông Ana; các địa điểm căn cứ của chỉ huy "Biệt khu Thủ đô Buôn Ma Thuột" ở Cư Ea Buk và hầu hết chỉ huy quận, toán FULRO, diệt 357 tên, bắt 105 tên, vận động gọi hàng 197 tên và 1.954 tên ra đầu thú. Kết quả này đã tạo điều kiện để ta tăng cường 2.000 cán bộ các ngành xuống cơ sở, lập 97 đội công tác ở các địa bàn trọng điểm. Tại Phú Khánh, được sự chỉ đạo của Quân khu 5, sự phối hợp của tỉnh bạn, ngày 4 tháng 10 năm 1978, lực lượng vũ trang và dân quân tự vệ tỉnh đã phối hợp với công an tổ chức trận đánh vào căn cứ Gia Xít Xích Mé của FULRO, diệt 2 tên, bị thương 2 lên, thu 1 súng, một số lương thực, thực phẩm và quân trang, đưa một số dân bị chúng ép theo trở về buôn làng.


Từ năm 1979, do yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu ở biên giới Tây Nam, lực lượng chủ lực của Bộ Quốc phòng, Quân khu 5 và một bộ phận bộ đội địa phương tỉnh chuyển sang làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới và giúp cách mạng Campuchia, lực lượng còn lại truy quét FULRO và hỗ trợ phát động quần chúng đấu tranh chủ yếu là bộ đội địa phương huyện và dân quân tự vệ, phối hợp với lực lượng an ninh tiến hành truy quét FULRO, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương. Trên địa bàn tỉnh Gia Lai - Kon Tum, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh tổ chức bố trí lực lượng vũ trang tỉnh, huyện, bộ đội biên phòng, dân quân tự vệ, công an cùng các ban, ngành, đoàn thể liên tục mở các chiến dịch truy quét có quy mô, trọng điểm và thu được kết quả. Từ năm 1980 đến năm 1982, ta đánh 246 trận, diệt 161 tên FULRO, bắt 504 tên, ra hàng 38 tên, bóc gỡ 100 cơ sở ngầm, giải tán 12 khung chính quyền ngầm, phá 2 căn cứ của 2 sư đoàn, 2 trung đoàn, đánh thiệt hại Tiểu đoàn Đăm Dan và Trung đoàn 51, tiêu diệt gần hết 4 khung đơn vị cấp tiểu đoàn. Từ năm 1983 đến năm 1985, ta đánh 177 trận, diệt 95 tên (có 2 trung tá, trong đó có tên Phó Tư lệnh Quân khu 2, 5 thiếu tá, 10 đại úy, 1 quận trưởng và 18 sĩ quan cấp trung úy, thiếu úy), bắt 124 tên, ra hàng 110 tên, diệt và bắt gọn 8 toán nhỏ, thu 149 súng các loại và nhiều tài liệu quan trọng, phá 4 căn cứ FULRO, bóc gỡ 1.170 cơ sở ngầm trong dân, làm tan rã 82 khung chính quyền ngầm trong xã, thôn (trong đó có 120 cán bộ, dân quân của ta), ra trình diện 2.861 đối tượng có liên quan đến FULRO. Tại Đắk Lắk, từ năm 1979 đến năm 1981, cấp ủy Đảng các cấp chủ trương triển khai đồng bộ các biện pháp cấp bách nhằm giải quyết FULRO trong thời gian ngắn nhất. Giai đoạn này, tỉnh triển khai đồng bộ các biện pháp giải quyết FULRO cả về quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội làm chuyển biến rõ nét các mặt ở vùng nông thôn đồng bào dân tộc, phát động quần chúng bóc gỡ FULRO bên trong làm trong sạch địa bàn. Đánh giá đúng tình hình địch, Tỉnh ủy và Bộ Nội vụ chỉ đạo lực lượng an ninh thực hiện kế hoạch phân hóa sâu sắc nội bộ bọn cầm đầu FULRO người M’nông và Ê Đê, trên cơ sở đó đã kéo về được 54 tên FULRO người M’nông do tên Y Tài - Trung tá FULRO cầm đầu. Qua đó đã giải quyết cơ bản lực lượng FULRO M’nông trên địa bàn các huyện Đắk Mil, Đắk Nông và Đắk R’lắp, tạo ra các điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết FULRO trôn địa bàn tỉnh. Lực lượng vũ trang trong giai đoạn này đã thực hiện tốt chủ trương của cấp ủy là truy quét tiêu diệt căn cứ cầm đầu ở nội địa và ngoại biên, nhất là bọn "chỉ huy mặt trận FULRO" trên đất Campuchia, chia cắt lực lượng địch, tạo điều kiện hỗ trợ cho công tác phát động quần chúng giải quyết FULRO bên trong. Tại Lâm Đồng, các trận đánh của lực lượng vũ trang địa phương và công an cũng đạt kết quả tốt, điển hình như: Từ ngày 20 đến ngày 24 tháng 11 năm 1980, dân quân xã Lộc Nam liên tiếp đánh 2 trận tập kích và truy kích một toán FULRO, diệt 6 tên, bắn bị thương 2 tên, thu 6 súng; ngày 1 tháng 5 năm 1981, dân quân xã N’thôn Hạ diệt 1 đại úy FULRO, bắn bị thương 3 tên, bắt 2 tên, thu 3 súng và một số tài liệu quan trọng; ngày 17 tháng 10 năm 1982, dân quân xã Killaglo Hạ (Nay là xã Đạ Sa, huyện Lạc Dương) đánh vào căn cứ Quân khu 5 FULRO, bắt 11 tên, thu toàn bộ vũ khí. Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Công an tỉnh Lâm Đồng lập Chuyên án F. 101. Với các kế hoạch câu nhử (từ kế hoạch X1 - X7) lực lượng an ninh đã bắt gọn 69 sĩ quan chỉ huy Quân khu 4 và bọn Trung ương FULRO ở Lâm Đồng, trong đó có Đại tá Ya Duck - Đệ nhất Phó Thủ tướng, góp phần làm tê liệt tổ chức, hoạt động của FULRO ở nam Tây Nguyên và là bước quan trọng quyết định dẫn tới làm tan rã hoàn toàn tổ chức FULRO ở Tây Nguyên. Tại Phú Khánh, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với công an thực hiện một số trận đánh có hiệu quả. Ngày 1 tháng 3 năm 1980, bộ đội địa phương và dân quân truy quét FULRO ở vùng tây bắc Hòn Giao thuộc huyện Vĩnh Khánh, diệt 5 tên, thu 3 súng. Trong tháng 5 năm 1980, bộ đội và dân quân huyện Tây Sơn truy quét ở vùng núi Chu Su, diệt 1 tên, bị thương 1 tên. Trong các ngày 14, 15, 16 và 19 tháng 6 năm 1984, bộ đội địa phương phối hợp với dân quân tự vệ, công an xã Phú Mỹ, huyện Đồng Xuân, đánh toán FULRO Chăm do tên Nay Loan chỉ huy, bắn bị thương 3 tên, bắt 5 tên; thu 2 súng, một số trang bị và tài liệu quan trọng, Nay Loan và số quân còn lại bỏ chạy vào rừng.


Kết quả, đến tháng 3 năm 1982, ta đã loại 72.022 tên FULRO (gồm: Diệt 5.227 tên, bắt sống 23.301 tên, ra hàng và trình diện 43.494 tên, trong đó có 27 tên cấp trung ương, 5 cấp tưổng, 20 đại tá; 779 thiếu tá, 144 cấp tỉnh, 506 cấp huyện, 765 cấp xã, 17 tên đội lốt linh mục, 2.074 tên cấp úy); xóa 1 cơ quan trung ương, 2 khung sư đoàn, 28 khung trung đoàn, 122 khung tiểu đoàn, 92 khung xã, 314 khung buôn, thôn; thu 12.473 súng các loại1 (Theo: Báo cáo tổng kết công tác phát động quần chúng xây dựng cơ sở truy quét FULRO từ sau ngày giải phóng đến nay (tháng 3 năm 1975 đến tháng 3 năm 1982 của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 5), Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5).
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #28 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:21:05 am »

Mùa khô năm 1984 - 1985, FULRO bị thất bại nặng nề, căn cứ của chúng trên biên giới Campuchia - Thái Lan bị ta tiến công đánh chiếm, hành lang bị cắt đứt, lực lượng FULRO ngoài rừng trên địa bàn Tây Nguyên bị truy quét hao hụt nhiều, nội bộ trung ương FULRO mâu thuẫn lục đục.


Sau hội nghị của Ban Bí thư Trung ương bàn về vấn đề giải quyết FULRO tại Pleiku (5.1985), Quân khu 5 và các tỉnh đẩy mạnh công tác phát động quần chúng, tăng cường chỉ đạo truy quét, tập trung trọng điểm là Gia Lai - Kon Tum.


Trên địa bàn Gia Lai - Kon Tum, chấp hành chỉ lệnh Chiến dịch A4 của Tư lệnh Quân khu 5, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Tỉnh ủy, tỉnh Gia Lai - Kon Tum mở Chiến dịch Z85 nhằm tiêu diệt, đánh bại hoàn toàn âm mưu, thủ đoạn mới của FULRO trên địa bàn, xóa sổ các toán FULRO; trọng điểm là các huyện Mang Yang, Chư Sê, Chư Prông, Chư Păh và một số làng phụ cận của xã Chư Zô và Chư Á của thị xã Pleiku. Kế hoạch của chiến dịch được chia làm 3 đợt:


Đợt 1, từ ngày 20 tháng 11 đến ngày 30 tháng 12 năm 1984, ta sử dụng lực lượng gồm: 2 tiểu đoàn bộ binh, 335 dân quân xã biên giới, 885 dân quân nội địa, phối hợp cùng lực lượng công an, lực lượng 031 (Sau khi có Nghị quyết số 03/TW ngày 25 tháng 12 năm 1982 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 128 của Hội đồng Bộ trưởng về đấy mạnh đấu tranh giải quyết FULRO trong vài năm tới, sáp nhập Ban Chỉ đạo 04 và Ban Chỉ đạo 03 thành Ban Chỉ đạo 03) và các đội công tác, có chỉ định bộ phận chỉ đạo trực tiếp.


Hướng trọng điểm 1 (Mang Yang), sử dụng Tiểu đoàn bộ binh 1 có 110 đồng chí, phân đội trinh sát tỉnh 14 đồng chí; dân quân tự vệ huyện Mang Yang sử dụng trên các hướng Đắk Đoa, Hà Bầu, Kon Gang, Gla, Ia Pết có trên 100 đồng chí, phối hợp cùng công an, lực lượng 03, các đội phát động quần chúng.


Hướng trọng điểm 2 (xã Hà Bầu, huyện Chư Prông), sử dụng Tiểu đoàn bộ binh 8 có 100 đồng chí, tiểu đội trinh sát tỉnh và gần 100 dân quân, phối hợp cùng công an, lực lượng 03 và các đội công tác.

Đợt 2, từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 30 tháng 3 năm 1985, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 và Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai - Kon Tum chỉ đạo chuyển hướng hoạt động lên phía tây bắc địa bàn Chư Mô Rai, Bến Hét - Ngã ba Đông Dương. Sử dụng lực lượng gồm: Tiểu đoàn bộ binh 1, 83 đồng chí; Tiểu đoàn bộ binh 8, 96 đồng chí; Tiểu đoàn bộ binh 186, 200 đồng chí (tỉnh Lâm Đồng tăng cường); Đại đội 1 biên phòng có 30 đồng chí và lực lượng các đồn biên phòng 625 đến 641, bộ phận tiền phương 77 đồng chí; các phân đội binh chủng bố trí lại Đồn biên phòng 673, do đồng chí Nguyễn Chí Thành - Tham mưu trưởng và đồng chí Nguyễn Thảo Sinh - Tham mưu phó Tỉnh đội chỉ huy. Sử dụng đại đội dân quân cơ động thị xã Kon Tum truy quét trên hướng Ia Chiêm; đại đội dân quân thị xã Pleiku cùng 20 đồng chí của Tiểu đoàn bộ binh 1 truy quét phía tây nam Đồn biên phòng 653; dân quân huyện Chư Prông hoạt động ở ngoại biên.


Kết quả đợt 1 và đợt 2, ta phát hiện địch 14 lần, nổ súng đánh địch 12 lần; bộ đội đánh 4 trận, dân quân đánh 8 trận, có 2 trận phối hợp cùng công an; tiêu diệt tại chỗ 9 tên, bị thương 5 tên, bắt 4 tên, thu 6 súng các loại cùng nhiều tài liệu quan trọng.


Tiến công truy quét sào huyệt của địch, từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 1 năm 1985, bộ đội chủ lực Quân khu 5 phối hợp với lực lượng vũ trang nước bạn mở đợt tiến công "Mật danh K1" vào căn cứ hỗn hợp của 2 sư đoàn 801, 920 Pôn Pốt với trang ương FULRO và phỉ Lào ở khu vực ngã ba biên giới Lào - Thái Lan - Campuchia, chính diện từ 14 đến 16km, chiều sâu từ 10 đến 12km. Kết quả, ta đã làm chủ căn cứ, diệt 869 tên, bắt 238 tên, thu 4.406 súng các loại1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, Biên niên sự kiện lực lượng vũ trang Quân khu 5 (1975 - 2000), năm 2008, Phòng Khoa học quân sự Quân khu 5, tr. 144).


Đợt 3, từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 30 tháng 6 năm 1985, sử dụng Tiểu đoàn bộ binh 186 truy quét trên địa bàn huyện Sa Thầy; Tiểu đoàn bộ binh 1 đảm nhiệm khu vực các xã Đắk Đoa, Kon Gang đến Hà Đông (phía nam Kon Tum); Tiểu đội trinh sát tỉnh hoạt động ở các xã Gla, Ia Pết, Ayun; Tiểu đoàn bộ binh 8 chuyển sang hoạt động trên địa bàn các huyện Chư Sê, Ayunpa, 1 đại đội bộ binh cùng dân quân huyện Chư Prông hoạt động ở hướng Ia Lâu (Chư Prông).


Rút kinh nghiệm đợt 1 và đợt 2, sang đợt 3 các đơn vị bộ đội tập trung của tỉnh phối hợp với bộ đội biên phòng, công an, lực lượng 03, các đội công tác và dân quân truy quét các tổ, toán FE, EHE của Quân khu 1, Quân khu 2 FURO, nhất là bọn cầm đầu ZG, GR. Kết quả, ta đánh 105 trận, loại 168 tên (tiêu diệt 40 tên, bức hàng 18 tên, về hàng 61 tên, bắt 49 tên), trong đó có 34 sĩ quan, thu 63 súng các loại; xóa sổ cơ quan chỉ huy tiền phương Quân khu 2 FULRO ở Mang Yang, diệt tên Trung tá Ama Hoàng - Phó Tư lệnh Quân khu, đánh thiệt hại các toán ZG24, ZG27 ở An Khê, ZG23 ở Pleiku, ZG25 ở Chư Sê, Chư Prông. Hướng Kon Tum, ta đánh ZG12, ZG16 và cơ quan chỉ huy Vùng 1, bắt tên Ybhiu Bu Ýa - Thiếu tá, Tư lệnh Vùng 1 cùng 7 tên đầu sỏ khác, tiêu diệt nhiều tên trong các nhóm FE, EHE. Ngày 27 tháng 7 năm 1985, ta đánh vào căn cứ Vùng 2 FULRO (phía nam núi Chư Prông), diệt 4 tên, thu 2 súng, cắt đứt sự chỉ đạo của chúng từ ngoài biên giới vào nội địa. Ngày 9 tháng 8, ta đánh toán AC, tiêu diệt tên Y Xite Ban - Trung tá, Toán trưởng. Ngày 10 tháng 9, ta tiến công toán FE, triệt phá căn cứ đứng chân của chúng, chặn đứng kế hoạch khai thông hành lang phía đông Gia Lai - Kon Tum từ An Khê đến Kon Plong xuống phía tây các tỉnh đồng bằng.


Tại Đắk Lắk, từ năm 1982 đến năm 1987, thực hiện sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, các lực lượng vũ trang đã chuyển hướng hoạt động nhỏ, lẻ và tinh gọn, hoạt động cả ở nội địa và ngoại biên, đánh trúng căn cứ "Tổng nha chiến lược" do Y Bluăt Ayun - Đại tá chỉ huy, diệt 3 tên, bắt 1 thiếu tá và diệt các tên Y Blim - Trưởng ZG37, Y Long - Trưởng ZG36... Lực lượng FULRO vũ trang từ 5.000 quân trước đó đến năm 1987 ở Đắk Lắk chỉ còn 28 tên hoạt động, vấn đề FULRO ở Đắk Lắk cơ bản được giải quyết xong1 (Tỉnh ủy Đắk Lắk (19B7), Báo cáo tổng kết 12 năm đấu tranh giải quyết vấn đề FULRO ở Đắk Lắk, năm 1987, Phòng Lịch sử Đảng, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đắk Lắk).
Logged
saoden
Thành viên
*
Bài viết: 1075



« Trả lời #29 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2023, 07:23:21 am »

Tại Lâm Đồng, tháng 8 năm 1985, được cơ sờ mật cung cấp tin tức, lực lượng vũ trang địa phương tổ chức một số trận đánh đạt kết quả. Ngày 17 tháng 8 năm 1985, tại xã Đạ Sa, huyện Đơn Dương, phát hiện lực lượng FULRO về làng, được cơ sở mật báo cáo, bí thư xã tổ chức lực lượng bao vây, vận động, ép hàng được 5 tên, trong đó có tên Thiếu tá Lômuos Tim - Tỉnh trưởng Nha Trang, thu 2 súng; ngày 22 tháng 8, tại xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà, được cơ sở mật báo cáo phát hiện toán FULRO ở Campchia về móc nối với gia đình, bí thư xã tổ chức già làng, công an, dân quân và gia đình tiến hành vận động gọi hàng 2 tên, sau đó sử dụng 2 tên này cùng với lực lượng của ta phục kích ép hàng thêm 2 tên, trong đó có tên Trung úy Bie Rla - Trưởng ban đường dây F34 (Quân khu 4 FULRO). Tiếp đến ngày 31 tháng 8 năm 1985, được cơ sở mật cung cấp tình hình và dân quân báo cáo có FULRO di chuyển qua Đường 27, Đại đội 810 hoạt động ở đông bắc Hòn Nga nổ súng đánh địch, diệt 3 tên. Phát huy kết quả thắng lợi của lực lượng vũ trang, ngày 29 tháng 8 năm 1985, nhân dân xã Đầm Ròn, huyện Lạc Dương gọi hàng được 5 tên, trong đó có 2 đại úy.


Trong năm 1986 đến cuối tháng 3 năm 1987, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, ta tổ chức truy quét mạnh, lực lượng FULRO bị loại 70 tên, trong đó các tỉnh bạn là Đắk Lắk, Gia Lai - Kon Tum, Đồng Nai phối hợp truy quét, diệt 10 tên. Ngày 17 tháng 7 năm 1986, dân quân xã Đạ Sa phối hợp với bộ đội địa phương huyện Đơn Dương truy quét, bắt 17 tên, gọi hàng 35 tên, thu một số vũ khí. Lực lượng FULRO nằm vùng, ta đã bóc gỡ 2 khung xã, 10 khung thôn, ấp, vô hiệu hóa 116 tên, xóa phiên hiệu ZG647. Đánh trúng và làm thiệt hại nặng lực lượng Quân khu 4, diệt chỉ huy đầu sỏ, giải quyết cơ bản xong toán chỉ huy "Bộ Quốc phòng" FULRO. Lực lượng FULRO ngoài rừng tiếp tục bị tiêu hao gần 60% quân số. Đến giữa năm 1986, FULRO ngoài rừng bị tê liệt, né tránh, sợ đụng độ với ta, đói rách, bệnh tật không còn khả năng hoạt động, ta có điều kiện tiếp tục bóc gỡ triệt để FULRO trong buôn, ấp.


Tại Thuận Hải, ngày 16 tháng 3 năm 1984, lực lượng vũ trang huyện Bắc Bình và huyện Ninh Phước phối hợp vây bắt toán FULRO, diệt tại chỗ 18 tên, trong đó có tên Bộ trưởng An ninh và tên Từ Thị Nhung - Chánh văn phòng "Chính phủ FULRO Chàm", thu 9 súng. Cùng thời gian này, bộ đội địa phương tỉnh phối hợp cùng dân quân truy quét đánh trúng căn cứ FULRO Chàm ở phía tây nam Phan Rang 18km, diệt 25 tên, buộc hàng 21 tên.


Tại Nghĩa Bình, trong 2 đợt truy quét FULRO, ta đều đặt công tác phát động quần chúng lên hàng đầu, kêu gọi được 55 tên và 200 cơ sở theo FULRO ra đầu thú. Ở huyện Hoài Sơn, ngày 10 tháng 3 năm 1980, khi đợt truy quét sắp kết thúc, còn tên ngoan cố trước đây là "Phó Ty sắc tộc ngụy" trốn trại cải tạo về Sơn Hà thành lập tổ chức FULRO, nhưng trước sự tiến công mạnh mẽ của phong trào quần chúng, hắn đã phải nhờ người thân trong gia đình đưa đến gặp chính quyền xin đầu hàng và nộp vũ khí. Ngày 25 tháng 8 năm 1984, huyện Vân Canh tổ chức cho 19 gia đình có 20 người thân theo FULRO gặp mặt tên Đoàn Văn Trực theo FULRO lên Gia Lai - Kon Tum bị ta bắt đưa về kiểm điểm trước dân, qua đó làm cho quần chúng nhân dân, gia đình có người thân theo FULRO và cơ sở ngầm hiểu rõ âm mưu thâm độc, nham hiểm cũng như tổ chức lừa mị của FULRO. Cuối tháng 12 năm 1985, quần chúng phát hiện và cung cấp về toán FULRO gồm 12 tên từ Gia Lai - Kon Tum xuống, lực lượng vũ trang phối hợp với quần chúng tiến công, vận động, kìm giữ và báo cáo cho chính quyền, công an tổ chức bao vây những tên ẩn nấp trong làng, trong rừng, buộc chúng phải ra đầu thú 7 tên, bắt gọn 5 tên ngoan cố.


Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị bộ đội chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương, các ban ngành đoàn thể, Bộ Nội vụ chỉ đạo công an các địa phương, sử dụng mạng lưới bí mật, tiến hành nhiều chuyên án, phát hiện chính xác các đối tượng cầm đầu, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tan rã của FULRO. Chuyên án T.107 - đấu tranh với bọn cầm đầu Quân khu 1 FULRO; T.108 - đấu tranh với bọn chỉ huy Quân khu 2; Y.384 - đấu tranh với toán đặc biệt của Bộ Quốc phòng FULRO; F.485 - đấu tranh với số chỉ huy Quân khu 4 và một bộ phận của Bộ Tổng Tham mưu FULRO do tên Đại tá Ênuôl M’Bôt và Trung tá Kra Jăn Ha Xuyên cầm đầu...


Công tác đấu tranh giải quyết FULRO từ năm 1977 đến năm 1987 đã thu được những thắng lợi rất quan trọng. Trong giai đoạn này, ta đã sớm giải quyết FULRO Chăm (từ giữa năm 1977). Trong quá trình phát động quần chúng truy quét, triệt phá, đấu tranh giải quyết FULRO ở vùng dân tộc Chăm, ta đã diệt, bắt và gọi hàng 577 đối tượng, làm tan rã 1.061 cơ sở, giải tán 1 tỉnh bộ, 4 quận, 12 xã, 24 ấp, chặn đứng âm mưu lập "Vùng chiến thuật 5" của FULRO Chăm. Ở Tây Nguyên, ta cơ bản đánh tan lực lượng vũ trang của FULRO Thượng ở các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, phá rã hệ thống tổ chức của chúng, ngăn chặn và hạn chế sự móc nối của FULRO với bên ngoài; xây dựng được cốt cán, chính quyền cơ sở trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đủ sức đối phó với các thủ đoạn chống phá của FULRO.


Có thể nhận thấy, công tác đấu tranh giải quyết FULRO trong giai đoạn này đã tạo được những chuyển biến cơ bản có ý nghĩa quyết định thắng lợi của toàn bộ cuộc phát động quần chúng đấu tranh giải quyết FULRO. Trước hết, thể hiện trong việc nhận thức và thi hành Chỉ thị số 04/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng trong các ngành, các cấp ngày càng thống nhất về quan điểm cũng như các chủ trương chính sách cụ thể. Việc phối kết hợp giữa công tác vận động chính trị trong xây dựng thực lực chính trị, phát triển kinh tế, xã hội trong vùng dân thiểu số với đấu tranh truy quét, triệt phá FULRO ngày càng đồng bộ, chặt chẽ. Biết kết hợp đúng đắn giữa công tác vận động quần chúng tiến công chính trị với tiến hành biện pháp trấn áp phù hợp, phát huy được sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự tan rã của FULRO. Biện pháp huy động cán bộ cùng các lực lượng thành lập các đội công tác, đứng chân ở các huyện, xã trọng điểm được tiến hành có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho quần chúng tiến công chính trị, vũ trang làm tan rã FULRO. Cùng với các mặt công tác đấu tranh truy quét, việc xây dựng thực lực chính trị, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, nhất là việc chăm lo đời của nhân dân đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm đẩy mạnh, đạt được những thành tựu rất quan trọng. Tuy nhiên, sau các đợt truy quét, một số tên đầu sỏ trong trung ương và Bộ Quốc phòng FULRO chạy sang Campuchia, một số đã di chuyển sang nước thứ ba (chủ yếu là Mỹ, Thái Lan, Philippin), chúng còn có căn cứ trên đất Thái Lan, Campuchia và lực lượng bên trong nội địa. Tuy không còn xảy ra hoạt động vũ trang, nhưng chúng vẫn có sự chỉ đạo và liên hệ với số đầu sỏ lưu vong ở nước ngoài kích động tư tưởng đòi ly khai, tự trị trong vùng dân tộc thiểu số. Mặt khác, điều kiện kinh tế, xã hội và thực lực chính trị của ta ở vùng Tây Nguyên còn nhiều mặt hạn chế, là chỗ để FULRO và các thế lực phản động lợi dụng chống phá. Vì vậy, đặt ra yêu cầu mới cho cuộc đấu tranh giải quyết FULRO là phải nỗ lực rất cao trong củng cố xây dựng thực lực chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, làm cho nhân dân vùng dân tộc thiểu số tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từ đó FULRO không còn chỗ dựa trong dân, không còn những điều kiện để tồn tại hoạt động chống phá, làm tan rã hoàn toàn FULRO cả về tổ chức và lực lượng.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM