Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 26 Tháng Năm, 2024, 03:46:15 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân - Tập 7  (Đọc 2183 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #30 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2023, 07:24:06 am »

ANH HÙNG NGÔ ĐỨC MAI
(LIỆT SĨ)


Ngô Đức Mai sinh năm 1938, dân tộc Kinh, quê ở xã Hưng Tân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An nhập ngũ tháng 7 năm 1955. Khi hy sinh là thượng úy, trung đội trưởng thuộc đại đội 2, trung đoàn 923, sư đoàn 371 không quân - Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Sau khi nhập ngũ, Ngô Đức Mai được tuyển chọn đi học lái máy bay trồng nước và nước ngoài. Năm 1965, đồng chí về nước và tham gia chiến đấu. Là một phi công Ngô Đức Mai luôn chịu khó học tập, say mê nghiên cứu để làm chủ vũ khí trang bị; quyết tâm hạ bằng được máy bay Mỹ, bảo vệ vùng trời của Tổ quốc. Trong quãng thời gian tham gia chiến đấu (1965 - 1967), đồng chí đã lập công xuất sắc, bắn rơi 3 máy bay của không quân Mỹ gồm 2 chiếc F4 và 1 chiếc A4D.


Vào lúc 16 giờ ngày 4 tháng 2 năm 1966, Ngô Đức Mai cùng biên đội xuất kích đánh địch trên vùng trời Yên Bái - Phú Thọ. Với ba loạt đạn ngắn, đồng chí đã bắn tan xác chiếc F4 của không quân Mỹ. Trên đường trở về căn cứ, biên đội phát hiện máy bay địch bám theo; được sự yểm hộ của đồng đội, Ngô Đức Mai bay trở lại đánh địch, buộc máy bay Mỹ bỏ chạy. Gần đến sân bay, đồng hồ báo hết dầu, với quyết tâm cao đồng chí không chịu nhảy dù, tìm mọi cách hạ cánh an toàn, bảo vệ được chiếc máy bay. Đây là trận mang tính truyền thống của trung đoàn 923: Đánh thắng trận đầu và đã ra quân là chiến thắng.


Ngày 14 tháng 7 năm 1966, Ngô Đức Mai bay trong biên đội 2 chiếc, chiến đấu với 12 máy bay A4D của không quân Mỹ trên vùng trời Hải Dương. Quá trình chiến đấu, mặt đất là làng xóm đông dân, để bảo vệ tính mạng của dân, đồng chí cùng đồng đội tìm cách kéo máy bay địch ra khu vực dưới là ruộng đồng, công kích hạ 2 máy bay địch, trong đó có chiếc thứ 1200 bị bắn rơi trên miền Bắc.


Ngày 12 tháng 5 năm 1967, trong biên đội 4 chiếc, tham gia chiến đấu với 20 máy bay địch gồm cả F4 và F105 trên vùng trời Hà Nội, Ngô Đức Mai cùng đồng đội bắn rơi tại chỗ 3 chiếc.


Ngày 3 tháng 6 năm 1967, trong khi chiến đấu với máy bay địch trên vùng trời Hà Bắc, đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Ngô Đức Mai là một phi công dũng cảm, trong mọi điều kiện khó khăn, dù lực lượng không cân sức, vẫn quyết đánh và quyết thắng. Đồng chí sống giản dị, khiêm tốn được trên tin cậy, đồng đội tin yêu mến phục.


Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Ngô Đức Mai được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #31 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2023, 07:24:39 am »

ANH HÙNG LÊ MINH HUÂN
(LIỆT SĨ)


Lê Minh Huân sinh năm 1936, dân tộc Kinh, quê ở xã Hải Hà, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 3 năm 1953. Khi hy sinh đồng chí là trung úy, trung đội trưởng thuộc đại đội 1 trung đoàn 921, sư đoàn 371 không quân - Bộ tư lệnh Không quân, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lê Minh Huân vào bộ đội lúc 17 tuổi, tham gia kháng chiến chống Pháp. Hòa bình lập lại, do yêu cầu xây dựng không quân, đồng chí được cử đi học lái máy bay. Mặc dù văn hóa thấp, tiếp xúc với khoa học kỹ thuật mới, Lê Minh Huân đã khắc phục khó khăn, miệt mài học tập, chịu khó rèn luyện và đã hoàn thành tốt nhiệm vụ, làm chủ được trang bị. Khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc đồng chí cùng đơn vị tích cực học tập, xây dựng quyết tâm cao, cùng nhau bàn bạc, trao đổi cách đánh, trong điều kiện máy bay của ta có tốc độ chậm, so với máy bay địch còn nhiều hạn chế.


Ngày 4 tháng 4 năm 1965, Lê Minh Huân được lệnh cùng đồng đội xuất kích đánh địch trên bầu trời Hàm Rồng - Thanh Hóa. Địch vào đông, hỏa lực mạnh, bay nhiều tầng nhất là chúng dùng loại F105 "thần sấm sét". Với ý chí cao, đồng chí cùng đồng đội bay luồn lách, phá vỡ đội hình của chúng chủ động và liên tục tiến công địch. Được đồng đội yểm hộ, Lê Minh Huân đã bắn rơi 1 chiếc "thần sấm". Nhưng do địch quá đông, hỏa lực mạnh, máy bay Lê Minh Huân bị trúng đạn, đồng chí đã anh dũng hy sinh.


Chiến công bắn rơi F105 của Mỹ vào ngày 4 tháng 4 năm 1965 đã trở thành Ngày truyền thống của bộ đội Không quân nhân dân Việt Nam, góp phần hạ uy thế của không quân Mỹ những ngày đầu khi chúng xâm phạm bầu trời Tổ quốc.


Lê Minh Huân đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Lê Minh Huân được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #32 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2023, 07:25:24 am »

ANH HÙNG LÊ VĂN QUANG
(LIỆT SĨ)


Lê Văn Quang sinh năm 1930, dân tộc Kinh, quê ở thôn Kinh Môn, xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tinh Quảng Trị. Khi hy sinh đồng chí là tiểu đội trưởng trinh sát vũ trang thuộc Công an nhân dân vũ trang huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Lê Văn Quang sinh ra và lớn lên trên quê hương căn cứ kháng chiến của hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh. Năm 1948, đồng chí tham gia vào lực lượng du kích tập trung ở xã, dự nhiều trận đánh chống giặc Pháp càn quét. Tiêu biểu là trận đánh địch trên đường 11, tháng 11 năm 1951, với quả bom ba càng đồng chí đã khôn khéo diệt 1 xe quân sự và 5 tên lính Pháp.


Năm 1953, Lê Văn Quang nhập ngũ và được biên chế vào C.354 bộ đội địa phương. Năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, C.354 được Quân khu 4 giao nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ biên giới Việt-Lào ở vùng Hướng Lập. Năm 1959, đơn vị được chuyển thành Công an nhân dân vũ trang Vĩnh Linh.


Đồng chí được chọn vào phân đội 3 trinh sát vũ trang, giúp bạn Lào giải phóng vùng Ba Tổng. Vừa chiến đấu vừa xây dựng chính quyền cho bạn, đồng chí đã lập được nhiều thành tích xuất sắc, nhiều năm được tặng danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng, Chiến sĩ Thi đua.


Phân đội 3 trinh sát vũ trang Vĩnh Linh được giao nhiệm vụ vượt tuyến hoạt động ở các xã miền Tầy huyện Gio Linh, và huyện Cam Lộ, Lê Văn Quang cùng đơn vị tích cực trinh sát nắm tình hình địch, giáo dục cảm hóa những người do hoàn cảnh buộc phải cầm súng cho địch. Đồng thời đồng chí tổ chức diệt ác ôn hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh phá ách kìm kẹp của địch. Ngoài ra Lê Văn Quang còn điều tra xây dựng cơ sở trong quần chúng nhân dân và cơ sở nội tuyến để sử dụng địch đánh địch. Nổi bật đêm 15 rạng ngày 16 tháng 10 năm 1964, đồng chí cùng phân đội nổi dậy ở thôn Thiện Chánh (Cam Thủy - Cam Lộ). Sau thắng lợi phân đội của Lê Văn Quang bán trụ củng cố phong trào, bảo vệ cán bộ lãnh đạo. Địch đưa 1 tiểu đoàn biệt động quân bao vây làng Thiện Chánh, để bảo vệ cán bộ tinh ủy và huyện ủy, đồng chí cùng phân đội đã chống trả quyết liệt. Đến 15 giờ ngày 16 tháng 10 năm 1964, địch cho 1 chi đoàn xe tăng M.113 và máy bay lên thẳng tăng viện. Phân đội không có súng chống tăng, 7 chiếc xe tăng của địch bắn phá ác liệt hỗ trợ cho bộ binh chúng xông lên. Lê Văn Quang bình tĩnh rê nòng khẩu trung liên điểm từng viên vào những tên địch ngồi trên tháp xe và lính bộ binh bám theo. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt, đồng đội lần lượt hy sinh, Lê Văn Quang bị mảnh đạn cối của địch chặt đứt cánh tay phải, với một cánh tay còn lại đồng chí đã dũng cảm cầm lựu đạn vọt ra khỏi chiến hào và nhảy lên xe tăng địch tung lựu đạn vào xe. Lê Văn Quang đã anh dũng hy sinh khi chiếc xe tăng địch bốc cháy.


Hành động dũng cảm ngoan cường của Lê Văn Quang lan nhanh khắp Gio Linh, Cam Lộ, làm cho nhân dân hết sức thán phục ý chí diệt thù của người chiến sĩ trinh sát vũ trang Vĩnh Linh. Hình ảnh của đồng chí mải mãi in đậm trong lòng người dân Thiện Chánh, trong lòng dân Quảng Trị.


Đây là chiến công đầu tiên diệt xe tăng địch bằng lựu đạn của Công an nhân dân vũ trang.


Ngày 3 tháng 8 năm 1995, Lê Văn Quang được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #33 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2023, 07:26:45 am »

ANH HÙNG TRAN CÔNG TIỆN
(LIỆT SĨ)


Trần Công Tiện sinh năm 1920, dân tộc Kinh, quê ở thôn Thượng Trạch, xã Triệu Sơn, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nhập ngũ tháng 4 năm 1948. Khi hy sinh đồng chí là đại úy. Công an nhân dân vũ trang huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Trần Công Tiện sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng, cha, mẹ, anh chị em đểu tham gia kháng chiến. Năm 1934 (tròn 14 tuổi), đồng chí đã tham gia cách mạng làm giao liên, gây cơ sở bí mật. Bước qua tuổi 16 Trần Công Tiện được kết nạp vào Đảng Cộng sạn Việt Nam, tiếp tục hoạt động bí mật. Từ năm 1942 đến năm 1945, do phong trào bị vỡ, đồng chí bị địch bắt giam tại nhà lao Quảng Trị. Trong tù Trần Công Tiện vẫn kiên trung bất khuất, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Sau Cách mạng Tháng Tầm đồng chí tham gia đơn vị chủ lực ở mặt trận Lào.


Năm 1946, Trần Công Tiện về làm công an xã Triệu Cơ và tham gia phong trào cách mạng ở địa phương.


Tháng 2 năm 1947, trận đầu tiên Pháp càn về vùng Chợ Cạn, Trần Công Tiện dũng cảm một mình mưu trí diệt 1 tên. Sau trận chống càn này, đồng chí được cử làm đội trưởng Công an xung phong thuộc ban điệp báo Ty công an Quảng Trị.


Tháng 2 năm 1948, Trần Công Tiện chỉ huy tổ Công an xung phong hóa trang đột nhập vào huyện lỵ huyện Triệu Phong, diệt tên chi trưởng an ninh. Đồng chí còn phối hợp với du kích, ban đêm đột nhập bắt bọn lý trưởng, hương vệ ở Đại Lộc, An Lộng, Dương Lộc, Như Lý.... Có lần Trần Công Tiện hóa trang đột nhập vào chợ Diên Sanh giữa ban ngày diệt tên đồn trưởng hương vệ tại chỗ và rút ra an toàn.


Tháng 6 năm 1952, đồng chí chỉ huy tổ Công an xung phong dũng cảm vượt qua hiểm nghèo lọt vào tận sào huyệt cơ quan tình báo địch, và sở liêm phóng Pháp ở Quảng trị, diệt tên Tui Le - chủ sự sở liêm phóng và rút ra gọn nhẹ.


Đầu năm 1953, Trần Công Tiện chỉ huy tổ Công an xung phong phục kích diệt tên đồn trưởng đồn Bích Khê, buộc cả đồn ra hàng.


Tháng 5 năm 1953, đồng chí chỉ huy tổ phục kích tại chợ Sãi diệt 1 chiếc xe JEEP của an ninh địch ở Triệu Phong.


Năm 1954, Trần Công Tiện, tổ chức cho anh em diệt tên đồn trưởng Triệu Phước - một tên phản bội rất hung ác.


Tháng 8 năm 1954, Trần Công Tiện tập kết ra Bắc theo Ty công an. Vốn tha thiết với công tác vũ trang, đồng chí được chuyển qua đại đội 2 công an giới tuyến và hoạt động công tác trên khu vực giới tuyến.


Năm 1958, Trần Công Tiện chỉ huy phân đội 3 trinh sát vũ trang mở đường lên miền tây tìm dân, tìm đất, đồng chí giúp dân Hướng Lập tập cày, tập cấy, sản xuất lương thực, thực phẩm ổn định vùng giải phóng. Những năm 1962-1963, Trần Công Tiện hoạt động vùng Ba Trăng, Cam Lộ và các xã miền tây Gio Linh trực tiếp lãnh đạo phân đội 3 trinh sát vũ trang Vĩnh Linh nắm tình hình địch, tổ chức diệt ác ôn, hỗ trợ cho quần chúng đấu tranh phá ách kìm kẹp.


Đêm 15 rạng ngày 16 tháng 10 năm 1964, nắm chắc tình hình, Trần Công Tiện tổ chức phân đội đột phá khởi nghĩa ở thôn Thiện Chánh, xã Cam Thuỷ, Cam Lộ, vừa truy đuổi diệt bọn tay sai của Mỹ, vừa tuyên truyền, giác ngộ cho nhân dân đứng lên lật đổ ách kìm kẹp của địch giành chính quyền.


Địch đưa một tiểu đoàn biệt động quân tổ chức phản công bao vây thôn Thiện Chánh. Trần Công Tiện tổ chức triển khai ngay lực lượng chống trả quyết liệt, bảo vệ cho cán bộ tính ủy, huyện ủy Cam Lộ rút lui.


15 giờ ngày 16 tháng 4 năm 1964, địch cho một chi đoàn xe tăng M113 và máy bay lên thẳng tăng viện. Phải đối đầu với lực lượng quân địch đông gấp nhiều lần, được trang bị vũ khí, phương tiện hiện đại, đồng chí vừa trực tiếp chiến đấu, vừa động viên, chỉ huy đồng đội chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Đây là trận đánh có tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào quần chúng trong những năm sau đó. Trần Công Tiện là chỉ huy, đông thời là người trực tiếp chiến đấu giữ vững trận địa và anh dũng hy sinh.


Khi còn sống Trần Công Tiện là một người có đức tính trung thực, khảng khái, luôn nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho đồng đội, được mọi người tin yêu, mến phục.


Ngày 3 tháng 8 năm 1995, Trần Công Tiện được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #34 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2023, 07:27:19 am »

ANH HÙNG NGUYỄN THÀNH NGHĨA


Nguyễn Thành Nghĩa sinh năm 1939, dân tộc Kinh quê xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, tham gia cách mạng năm 1955, nhập ngũ tháng 1 năm 1961. Trong kháng chiến chống Mỹ (1973 - 1975) là tham mưu trưởng tỉnh đội Tây Ninh, kiêm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 14 bộ đội địa phương tỉnh Tầy Ninh, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí đã từ trần năm 1992.


Nguyễn Thành Nghĩa sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, trên quê hương giàu truyền thống cách mạng đã thôi thúc đồng chí tham gia cách mạng từ khi mới 16 tuổi. Từ một chiến sĩ liên lạc cho chi bộ và xã đội xã Thái Bình đồng chí đã dần dần trưởng thành đại đội trưởng đại đội 40 huyện Châu Thành, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 14 bộ đội tỉnh Tây Ninh rồi tham mưu trưởng tỉnh đội Tây Ninh. Ở cương vị công tác nào Nguyễn Thành Nghĩa củng nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng thương yêu đồng đội. Trong chiến đấu và chỉ huy chiến đấu đồng chí dũng cảm, mưu trí, lập được nhiều chiến công xuất sắc.


Lúc 16 tuổi còn làm liên lạc cho xã đội, Nguyễn Thành Nghĩa đã lân la làm quen với dân vệ thừa cơ lấy được 1 quả lựu đạn. Đêm 16 tháng 1 năm 1960, bọn tề họp ở trụ sở hội đồng xã bàn mưu chống phá cách mạng, đồng chí đã tìm cách áp sát ném quả lựu đạn vào bàn làm việc của địch diệt 4 tên ác ôn, làm bị thương 6 tên trong hội đồng xã.


Một lần khác Nguyễn Thành Nghĩa đã mưu trí lừa tên trung đội trưởng dân vệ lấy được 1 khẩu súng cacbin, rồi bất ngờ diệt tên trưởng ấp có nhiều nợ máu giữa ban ngày, sau đó đồng chí nhận nhiệm vụ diệt tiếp 2 tên ác ôn ngay trong đồn địch.


Từ năm 1961 đến năm 1973, Nguyễn Thành Nghĩa đã trực tiếp chiến đấu và chỉ huy chiến đấu nhiều trận (tập kích, chống càn đến đánh quân đổ bộ hàng không). Có trận ta vả địch quần nhau suốt từ sáng đến tối. đánh lui 19 đợt tiến công của địch diệt hàng chục tên.


Có đợt cả tiểu đoàn quân Mỹ ở căn cứ Bắc Tiến, Chà Là ồ ạt đổ quân, chúng dùng pháo, súng phun lửa, xe tăng M113, M118, lựu đạn cay,... mở 9 đợt tiến công vào căn cứ của ta nhưng đều bị ta đánh bại.


Với cách đánh địch tài tình, mưu trí, linh hoạt Nguyễn Thành Nghĩa đã cùng đơn vị đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn địch (tiểu đoàn 2 chiến đoàn 25 ngụy; tiểu đoàn 1 chiến đoàn 49 - sư đoàn 25 ngụy, tiểu đoàn 304 bảo an ngụy) và 1 đồn cảnh sát, tiêu diệt 809 tên địch trong đó có 104 lính Mỹ, bắt sống 120 tên ngụy, thu nhiều vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh của địch. Tiểu đoàn 14 do Năm Nghĩa chỉ huy đã gây nỗi khiếp sợ với quan quân sư đoàn 25 ngụy.


Thành tích của đồng chí gắn liền với thành tích của lực lượng vũ trang Tây Ninh. Nguyễn Thành Nghĩa là một tấm gương tiêu biểu về sự tận trung, tận hiếu với Đảng, với dân, thương yêu đồng đội, góp phần rèn luyện, xây dựng dẫn dắt tiểu đoàn 14 không ngừng lớn mạnh.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Nguyễn Thành Nghĩa được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #35 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2023, 07:28:04 am »

ANH HÙNG THÂN TRỌNG MỘT


Thân Trọng Một sinh năm 1921, dân tộc Kinh, quê ở xã Phong Thủy, huyện Hương Thủy, tinh Thừa Thiên - Huế; trú quán phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên - Huế, nhập ngũ tháng 8 năm 1945. Trong khống chiến chống Mỹ (1967 - 1972) đồng chí là Chỉ huy trưởng Đoàn 5 đặc công thành phố Huế, và Chỉ huy trưởng thành đội Huế, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1982 đồng chí nghỉ hưu với cấp bậc đại tá, đã từ trần năm 1993.


Thân Trọng Một sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, bố mẹ mất sớm, gia đình lại đông anh em nên cuộc sống rất gian truân. Nhưng đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, tham gia cướp chính quyền tháng 5 năm 1945 và trở thành một chiến sĩ dũng cảm kiên cường của trung đoàn Trần Cao Vân.


Năm 1951, Thân Trọng Một tổ chức đơn vị đánh địch trên quốc lộ 1A tiêu diệt hàng trăm tên địch ở đèo Hải Vân, thu nhiều vũ khí, đạn dược và quân trang, quân dụng. Riêng đồng chí đã bắn rơi 1 chiếc máy bay Đakôta của Pháp. Năm 1953, Thân Trọng Một tổ chức đơn vị chỉ huy đánh đồn Thổ ở xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang tiêu diệt 1 đại đội do Pháp chỉ huy, bắn chết 1 tên tướng Pháp và 50 tên ngụy. Trận đánh thắng có tiếng vang lớn, góp phần chiến thắng Thu - Đông 1953 - 1954.


Trong chống Mỹ, Thân Trọng Một luôn thể hiện khí phách anh hùng, không ngại khó khăn, gian khổ, dũng cảm lăn lộn bám sát địa bàn, bám sát chiến trường để chỉ huy lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Tháng 5 năm 1967, đồng chí chỉ huy đánh khách sạn Hương Giang diệt 40 tên chuyên viên Mỹ. Tháng 6 năm 1967, Thân Trọng Một chỉ huy đơn vị đặc công đột nhập căn cứ Mã Tham ở Phú Bài diệt 46 tên Mỹ. Đồng chí đã có nhiều công trong việc củng cố và xây dựng lực lượng, tổ chức thành lập nhiều đơn vị trung đội công binh, súng cối và 6 đơn vị đặc công, biệt động.


Chiến dịch Xuân 1968, Thân Trọng Một chỉ huy cánh phía Nam thành phố Huế, tiến công đánh vào sào huyệt của địch, tiêu diệt nhiều tên Mỹ - ngụy, phá hỏng nhiều phương tiện chiến tranh của chúng.


Tháng 11 năm 1971, đồng chí chỉ huy đơn vị đánh tập kích vào quận Nam Hòa, diệt gọn 1 đại đội địa phương quân gồm 30 tên, thu nhiều vũ khí.


Tháng 2 năm 1972, đồng chí tổ chức đánh đồn Tân Ba, Mỏ Tầu và chặn đánh trung đoàn 54 lính ngụy tiêu diệt hàng trăm tên địch, bắt nhiều tù bình thu được nhiều vũ khí, trang bị, giành thắng lợi to lớn, tạo đà cho chiến dịch Xuân 1975.


Mùa Xuân 1975, với cương vị là chỉ huy trưởng thành đội Huế, Thân Trọng Một chỉ huy các lực lượng thuộc quyền, phối hợp với đơn vị bạn, tổ chức đánh địch giải phóng Huế, góp phần cùng cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà.


Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí luôn nêu cao đạo đức, phẩm chất trong sáng của người cán bộ, đảng viên, sống giản dị, hết lòng thương yêu chiến sĩ luôn chăm lo xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, bám sát và gần gũi nhân dân, được quần chúng và cán bộ, chiến sĩ yêu mến, tin cậy.


Thân Trọng Một đã được thưởng 1 Huân chương Quân công hạng nhì, 1 Huân chương Quân công hạng ba, 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng ba, Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Thân Trọng Một được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #36 vào lúc: 28 Tháng Sáu, 2023, 07:28:57 am »

ANH HÙNG CAO THỊ MAI
(TỨC MÁ BẢY)


Cao Thị Mai (tức Má Bảy) sinh năm 1908, dân tộc Kinh, quê ở ấp Bình Tường, xã Bình Trinh Đông, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, tham gia cách mạng tháng 8 năm 1945. Má Bảy là cơ sở cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.


Má Bảy sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo. Trước sự áp bức bất công của chế độ thực dân phong kiến. Má đã tham gia hoạt động cách mạng ngay từ tháng 8 năm 1945. Nhiệm vụ chủ yếu của Má là đưa thư, liên lạc, móc nối cơ sở cho cán bộ. Tuy nhà nghèo, con còn nhỏ, mẹ già nhưng Má luôn đảm bảo chu toàn, đầy đủ, kịp thời cơm nước, thuốc thang cho cán bộ. Có lần cán bộ bị bệnh phải điều trị dài ngày dưới hầm bí mật, Má không quản đường xa, ngược xuôi cắt thuốc, tần tảo sớm khuya chăm lo từng chén thuốc, miếng ăn, giấc ngủ cho cán bộ như lo cho con ruột của mình.


Những lúc gặp khó khăn, ác liệt Má đã mưu trí, linh hoạt, đấu tranh với địch, không sợ hy sinh tính mạng bản thân và gia đình, đã cứu sống hàng chục cán bộ cách mạng trong lúc hiểm nguy.


Ngoài ngôi nhà làm nơi đóng quân, tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men và tin tức cho cách mạng, Má còn ra đồng cất thêm một ngôi nhà khác và đào 5 hầm bí mật, trong đó có 1 hầm sâu dưới mặt đất để bộ phận điện đài Phân khu III hoạt động, cất giữ vũ khí và tài liệu quan trọng.


Biết Má là người hoạt động cách mạng và nghi nhà Má có hầm bí mật nên địch luôn rình rập, theo dõi. Nhiều lần chúng bất ngờ vào nhà, khi thì đóng quân, khi thì khám xét, lúc giả bộ đội, cán bộ lỡ đường vào xin ăn... hòng tìm sơ hở để phát hiện hầm bí mật. Có lần địch đã dùng gần 200 lính các loại với đầy đủ vũ khí, cả đêm vây hãm, lùng sục, đào bới đồng thời khảo tra ba người trong gia đình nhưng chúng vẫn không moi được tin tức gì.


Chính nhờ sự bình tĩnh, và chịu đựng tra tấn dã man của địch Má đã bảo vệ an toàn tính mạng 7 đồng chí cán bộ cùng nhiều máy móc, vũ khí và tài liệu quan trọng.


Hơn 30 năm hoạt động cách mạng, qua 2 thời kỳ kháng chiến Má đã làm 9 hầm bí mật, che giấu hơn 300 cán bộ, chiến sĩ, chăm sóc nuôi dưỡng, chữa chạy cho 20 thương, bệnh binh, đặc biêt có một đồng chí Má nuôi hơn 1 năm trong hầm bí mật, bảo đẩm địa điểm tập kết cho hàng chục tấn vũ khí an toàn.


Má Bảy luôn luôn là nòng cốt vận động và tham gia 30 cuộc đấu tranh chính trị, thực hiện hàng trăm lần chuyển thư, liên lạc móc nối cơ sở cho cán bộ cách mạng an toàn.


Với 1 ha ruộng 2 vụ Má Bảy giành hơn 2/3 số thóc để nuôi quân suốt gần 30 năm kháng chiến. Má có 4 người con (2 trai, 2 gái) thì 3 người gia nhập quân đội, 1 người tham gia hội phụ nữ giải phóng xã, 2 người con trai của Má đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, 2 người con gái đều là đảng viên.


Má đã được Nhà nước tặng thưởng 1 Huân chương Kháng chiến hạng ba, 1 Huân chương Chiến công, 1 Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, 1 Chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, 1 bằng khen và 1 giấy khen.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Cao Thị Mai (tức Má Bảy) được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #37 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 09:57:40 am »

ANH HÙNG CU TRÍP
(TỨC CAO MINH BÔN)


Cu Tríp (tức Cao Minh Bôn) sinh năm 1933, dân tộc Cà Tu, quê ở xã Hương Lâm, huyện A Lưới, tinh Thừa Thiên - Huế, tham gia cách mạng năm 1959. Trong kháng chiến chống Mỹ đồng chí là xã đội phó xã Hương Lâm huyện A Lưới, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiện nay đồng chí là Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Hương Lâm.


Cu Tríp sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất sớm, bản thân khi được giác ngộ đã một lòng một dạ đi theo cách mạng.


Trong chiến đấu, dù khó khăn gian khổ đến đâu đồng chí cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Cu Tríp luôn mưu trí, sáng tạo nhiều cách đánh địch bằng mọi thứ vũ khí có trong tay.


Đồng chí đã trực tiếp tham gia chiến đấu 488 trận, diệt 548 tên địch, trong đó có 6 tên Mỹ. Cu Tríp là người nổi tiếng trong vùng về dùng súng bộ binh bắn máy bay địch. Trận ngày 24 tháng 11 năm 1971, đồng chí chỉ huy du kích xã bắn rơi 11 máy bay các loại. Trong đợt hoạt động này, Cu Trip bắn rơi 2 máy bay, được tặng 2 Huân chương Chiến công giải phóng.


Đồng chí được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công hạng nhất; 2 Huân chương Chiến công hạng hai, 4 Huân chương Chiến công hạng ba. Hai lần là Dũng sĩ diệt Mỹ cấp 1 và 2 ; 4 lần là Chiến sĩ thi đua.


Hiện nay đồng chí là Phó chủ tịch Hội cựu chiến binh xã Hương Lâm, luôn luôn động viên gia đình, vận động nhân dân chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Cu Tríp được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #38 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 09:58:17 am »

ANH HÙNG HUỲNH THỊ NGỌC
(TỨC NGUYỄN THỊ THU CÚC)


Huỳnh Thị Ngọc (tức Nguyễn Thị Thu Cúc) sinh năm 1951, dân tộc Kinh, quê ở xã Nhơn Hội, thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định. Trú quán 136 Hai Bà Trưng, phường Lê Lợi, thành phố Qui Nhơn, tỉnh Bình Định. Trong kháng chiến chống Mỹ là cán bộ xây dựng cơ sở, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


Huỳnh Thị Ngọc sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, có truyền thống cách mạng (cha là bộ đội). Được sự giáo dục của gia đình và sự dìu dắt của Đảng, Huỳnh Thị Ngọc sớm giác ngộ cách mạng. Tháng 3 năm 1965, được thị ủy Qui Nhơn giao nhiệm vụ làm giao liên hợp pháp. Từ năm 1965 đến năm 1968 với cương vị là giao liên hợp pháp đồng chí đã hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyển các chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên đến với thị ủy Qui Nhơn và những báo cáo từ thị ủy về cấp trên. Cũng trong thời gian này Huỳnh Thị Ngọc 3 lần bị địch nghi vấn, bắt và phải chịu nhiều cực hình tra tấn dã man, nhưng đồng chí vẫn giữ vững ý chí cách mạng, một lòng một dạ trung thành với Đảng, không tiết lộ cơ sở, cuối cùng địch phải trả tự do.


Năm 1969, Huỳnh Thị Ngọc được Thị ủy giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở trong học sinh, sinh viên ở Qui Nhơn. Trên cương vị này đồng chí đã cùng với thị ủy lãnh đạo học sinh, sinh viên tiến hành nhiều cuộc đấu tranh với địch. Đặc biệt sau cái chết của em Nguyễn Văn Minh, học sinh trưởng Tây Sơn bị giặc Mỹ giết hại, Huỳnh Thị Ngọc đã cùng với thị ủy phát động, hướng dẫn học sinh, sinh viên Qui Nhơn xuống đường đấu tranh (trong các ngày 7, 8 tháng 12 năm 1970) vừa hô vang khẩu hiệu "lính Mỹ phải cút khỏi Qui Nhơn cút ngay về nước" vừa bao vây đập phá tòa tỉnh trưởng ngụy và đốt 52 xe vận tải quân sự ở Ghềnh Ráng. Cuộc đấu tranh đã lan nhanh trong giới học sinh, sinh viên và đồng bào phật giáo trong khắp các thành phố ở miền Nam làm cho ngụy quyền Sài Gòn hết sức hoảng hốt, buộc tên toàn quyền Bân Cơ phải cử tướng ABram đích thân đến Qui Nhơn để dàn xếp.


Năm 1971, Huỳnh Thị Ngọc được báo cáo điển hình về công tác lãnh đạo phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên các đô thị tại Khu 5.


Ngoài việc xây dựng cơ sở chính trị, đồng chí đã cùng với thị ủy xây dựng đội biệt động trong học sinh, sinh viên.


Trong chiến dịch Hè-Thu năm 1972, nhận chỉ thị của cấp trên, Huỳnh Thị Ngọc đã trực tiếp chỉ huy đội biệt động dùng lựu đạn tiến công bọn ngụy quyền cấp tỉnh tại sân vận động Qui Nhơn giết chết tên tỉnh phó và nhiều sĩ quan cao cấp khác. Trận đánh đã gây được tiếng vang lớn, làm rối loạn hậu phương của địch. Sau trận đánh, địch bắt một số cơ sở trong học sinh tra tấn. Trong số này có người không chịu nổi đã khai báo Huỳnh Thị Ngọc chỉ huy. Địch truy lùng và bắt đồng chí đưa vào nhà lao Qui Nhơn. Tại đây địch tra tấn hết sức dã man nhưng Huỳnh Thị Ngọc giả điên không khai báo. Địch kết án tử hình rồi đưa vào biệt giam ở bộ tư lệnh cảnh sát ở Sài Gòn theo dõi. Ở Bộ tư lệnh cảnh sát, địch dùng đủ các hình thức tra tấn kể cả máy dò tâm lý, nhưng đồng chí vẫn tiếp tục giả điên. Cuối cùng địch đưa ra pháp trường bịt mắt trói Huỳnh Thị Ngọc vào cột rồi nổ súng. Mặc đạn bay bên tai làm cháy tóc, đồng chí vẫn cười như điên thật. Địch đưa đồng chí vào nhà thương điên Biên Hòa ở cùng với người điên và bí mật theo dõi. Sau khi bác sĩ kết luận bị "Chấn loạn thần kinh" địch mới yên tâm.


Cũng tại nhà thương này, cơ sở cách mạng đã tổ chức cho Huỳnh Thị Ngọc vượt ngục. Sau khi vượt ngục đồng chí tiếp tục công tác ở Quận 5 thành phố Hồ Chí Minh.


Năm 1977, Huỳnh Thị Ngọc được bầu vào ban chấp hành Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam.


Từ năm 1978, đồng chí chuyển về tinh công tác ở thành phố Qui Nhơn đến cuối năm 1989 nghỉ hưu.


Với ý chí chiến đấu kiên cường, lòng trung thành với Đảng với nhân dân, đồng chí đã lập được nhiều thành tích xuất sắc và được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhì, 1 Huân chương Quyết thắng hạng nhất.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, Huỳnh Thị Ngọc được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
quansuvn
Moderator
*
Bài viết: 6619



WWW
« Trả lời #39 vào lúc: 05 Tháng Bảy, 2023, 09:59:02 am »

ANH HÙNG A TRANH
(TÚC A NlẾC)


A Tranh (tức A Niếc) sinh năm 1924, dân tộc Xê Đăng, quê ở xã Đắc Uy thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum; trú quán xã Đắc Uy, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum, tham gia cách mạng tháng 3 năm 1945, nhập ngũ tháng 3 năm 1964, trong kháng chiến chống Pháp (1949 - 1954) đồng chí là chủ tịch kiêm xã đội trưởng xã Đắc Uy. Trong kháng chiến chống Mỹ (1964 - 1970), đồng chí là chính trị viên phó huyện 16 (Kon Rẫy). Năm 1975, A Tranh chuyển ngành, năm 1983 đồng chí nghỉ hưu tại địa phương, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.


A Tranh sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Đắc Uy, thị xã Kon Tum, mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Sớm giác ngộ cách mạng, năm 1945 vừa tròn 16 tuổi đồng chí đã tham gia du kích xã rồi làm xã đội trưởng, liên tục chỉ huy du kích đánh giặc giữ làng, cùng nhân dân vận động con em đi lính cho Pháp trở về với buôn làng.


Từ năm 1949 đến năm 1954, với cương vị chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng, A Tranh được giao nhiệm vụ bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở, xây dựng đội du kích xã vững mạnh, củng cố phong trào cách mạng ở địa phương. Mặc dù bị địch kiểm soát gắt gao, lùng sục, bắt bớ nhứng người chúng cho là "Cộng sản nằm vùng", nhưng với ý chí cách mạng kiên cường, đồng chí đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, xây dựng được nhiều cơ sở cách mạng và đội du kích. A Tranh đã góp sức củng cố phong trào ở địa phương ngày càng vững mạnh. Đồng chí đã lãnh đạo quần chúng cách mạng đứng lên phá bung áp chiến lược, giải phóng hơn 600 đồng bào khỏi ách kìm kẹp của địch trở về xây dựng vùng căn cứ cách mạng.


Tháng 3 năm 1964, A Tranh được giao nhiệm vụ chính trị viên phó huyện đội 16, là đơn vị mới thành lập còn gặp nhiều khó khăn, địch lại đánh phá ác liệt, đồng chí đã nhanh chóng cùng ban chỉ huy huyện đội củng cố và phát triển lực lượng, chỉ huy đơn vị đánh địch quyết liệt. Quá trình tham gia cách mạng, đồng chí đã trực tiếp chiến đấu 104 trận lớn nhỏ, diệt 70 tên địch, có 20 tên Mỹ, bắn cháy 2 máy bay L.19.


Đặc biệt năm 1966, trong chiến dịch Bắc Kon Tưm, địch sử dụng hơn 8000 quân càn vào căn cứ lõm H16, hòng hủy diệt đồng bào các dân tộc ở đây và đẩy lùi các lực lượng của ta ra ngoài, A Tranh đã chỉ huy đơn vị đánh trả quyết liệt, có ngày tới 15 trận, diệt hàng trăm tên địch, giữ vững căn cứ. Chiến dịch Tổng tấn công và nổi dậy Xuân 1968, đồng chí trực tiếp chỉ huy đơn vị làm nhiệm vụ chặn đánh giao thông trên đường 14, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.


Năm 1970, A Tranh được ra miền Bắc học tập, năm 1975 trở về quê hương tiếp tục làm cán bộ huyện, năm 1983 nghỉ hưu.


Trong 10 năm làm cán bộ chủ chốt của huyện A.Tranh đã mang hết sức lực và tâm huyết góp phần xây dựng huyện vững mạnh toàn diện (xã Đắc Uy và huyện 16 được tuyên dương Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân).


Từ ngày nghỉ hưu đến nay đồng chí vẫn giữ vững và phát huy tốt phẩm chát cách mạng của người đảng viên.


A Tranh được tặng thưởng 12 Huân chương các loại (trong đó, 1 Huân chương Chiến công giải phóng hạng nhất). 2 lần là Chiến sĩ thi đua của Miền và Mặt trận Tây Nguyên.


Ngày 30 tháng 8 năm 1995, A Tranh được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai
Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM