Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 02:14:15 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Tiếng súng 40 năm  (Đọc 3013 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #20 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2023, 06:52:07 am »

Đêm hôm đó, xe ô tô về đến nhà, đồng hồ đã điểm mười một tiếng, cứ thế Phi Hùng lăn ra giường ngủ.

Có tiếng náo động ngoài phố. Phi Hùng choàng tỉnh dậy, giơ tay xem đồng hồ. Chín giờ, muốn biết hang ổ của Trương Tử Anh có lẽ phải lần ngược đầu mối từ bọn trung ương "Đại Việt". Quả nhiên đến chiều, Phi Hùng đã nắm vững: Từ ngày "có động", Trương Tử Anh không dám ở Hà Nội nữa mà về sống ở Gia Lâm, địa chỉ cụ thể không nắm được, vì dạo này hắn thường hay thay đổi chỗ ngủ ban đêm. Dù sao vẫn còn dấu vết mà lần. Hắn tự an ủi: "Mình còn thế này thì người khác đừng hòng tìm ra tên "đảng trưởng Đại Việt". Để đảm bảo đường dây "đơn tuyến" Trương Tử Anh, trường hợp cần thiết – thường xuất hiện một mình, không có bảo vệ đi kèm. Hắn sợ chính cái đuôi đó, đôi khi lại dễ làm lộ.


Phi Hùng moi trong túi ra quân xúc xắc gieo thẻ. "Lục, à có thể gặp may hôm nay đây". Nhưng quân xúc xắc lại nằm nghiêng hơi lệch vào cái tách đựng chén. Hắn gieo lại quân xúc xắc: tứ. Không thật là hoàn toàn nhưng vẫn còn may. Hắn bước ra ô tô, mang theo một lọ ê-te, dây thừng và bao tải.
Ô tô từ từ lăn bánh tới Bờ Hồ. Phi Hùng cho xe quặt ra nhà hát thành phố chạy men theo bờ sông quan sát rõ người từ bên kia cầu sang. Có lúc ôtô đi rất chậm, có lúc rú ga phóng thật nhanh y như tâm trạng nôn nóng thất thường hiện nay của hắn vậy.


Tới phía cầu Đu-me (tức cầu Long Biên), Phi Hùng cho xe đi từ từ rồi dọc theo bến Nứa, xe hắn phóng thẳng lên đường Cổ Ngư. Gió hồ Tây mát rượi làm cho đầu óc hắn tỉnh táo. Hắn cởi khuy áo ngực lao đi rất nhanh, qua đền Quan Thánh, Cửa Nam rồi Tràng Thi.


Bỗng tim hắn đập nhói một cái. Ai như Trương Tử Anh nhỉ? Nhìn cái dáng phía sau quen quen… Mỗi lần hắn đến gặp Oa-ta-na-bê xin ý kiến cố vấn, Phi Hùng thường tiễn Trương Tử Anh ra cửa. Cái dáng hơi kềnh càng đặc biệt đó không sao lẫn được với người khác, dù hắn có để tóc dài, chụp cái mũ "phở" bạc phếch lên đầu. Trương Tử Anh đi xe đạp một mình, đằng sau buộc mấy mớ rau. Chiếc xe Pơ-giô đã cũ. Thỉnh thoảng hắn lại ngoái cổ lại, làm ra vẻ như chú ý đến mấy bó rau, nhưng thật ra là quan sát xem có ai theo dõi mình không


Phi Hùng nhận rõ bộ mặt Trương Tử Anh dù hắn để râu, đeo kính khá to và kéo cái bo mũ sụp xuống che gần kín mặt. Phi Hùng cho xe chạy rất êm, sờ vào khẩu súng giắt dưới bụng. Vấn đề đặt ra bây giờ là bắt hắn ở đoạn đường nào cho thuận tiện nhất.


Kế hoạch của Phi Hùng sẽ là: khi đỗ xe, mở sẵn cửa sau dí súng ép đối phương phải lên xe, tước vũ khí. Điều hắn rất gờm là mấy bó rau nhìn sau, thế nào cũng có ít nhất hai "quả na" (lựu đạn) nằm trong đó.


Phi Hùng đưa mắt nhìn ra phía trước thấy thấp thoáng bóng anh Vệ quốc đoàn đứng gác sau cái ụ cao. Tuyệt quá rồi! thế là có người hỗ trợ. Phi Hùng vòng tay lái, rú ga cho xe lao lên ép dần Trương Tử Anh vào vỉa hè bên trái.


Hình như nghe thấy tiếng rú ga phía sau, linh tính cho biết sắp xẩy ra điều gì không may, Trương Tử Anh khẽ quay đầu nhìn sang phải. Chiếc ô tô đã ép sát lại gần, hắn thoáng nhận ra khuôn mặt Phi Hùng. Vừa lúc đó, ôtô phanh kít lại, cánh cửa bật mở, Phi Hùng rút súng nhảy ra. Trương Tử Anh quay lại gần như vồ lấy bó rau phía sau xe. Phi Hùng vội đứng lại. Đúng lúc đó, Trương Tử Anh đẩy chiếc xe về phía Phi Hùng.


Rất sợ lựu đạn trong bó rau, Phi Hùng vội co cẳng chạy lùi ra sau xe kêu ầm lên:

– Phản động! bắt lấy tên phản động.

Người đi đường đổ xô ra, chưa biết đầu đuôi ra sao thì anh Vệ quốc đoàn đã xách súng chạy ra bảo Phi Hùng:

– Phản động cái gì? Đứng gác đây tôi biết hết. Người ta đang đi, chính anh lái xe đến ép người ta vào vỉa hè mà lại còn to mồm kêu phản động à?

Bà con nghe câu nói của anh Vệ quốc đoàn đứng gác tỏ vẻ đồng tình và tin ngay.

Phi Hùng chưng hửng, cảm thấy đứng lại lúc này thật nguy hiểm, hắn vội lên xe đóng sập cửa lại phóng đi.

Nhân lúc lộn xộn, Trương Tử Anh lủi vào đám đông chuồn mất. Nhẩy lên tàu điện tới đầu Bạch Mai, hắn bước xuống chui vào một quán cà phê kiếm một xó, gần tối mới đi ra, gọi xe tay làm ra vẻ như lên hóng mát hồ Tây rồi chuyển xe về Chèm, thuê thuyền sang bên kia sông, lộn lên Yên Viên chứ không về nhà ngay.


Bữa cơm thập cẩm ở quán Hồng Việt vẫn nổi tiếng từ xưa mà Phi Hùng ăn không thấy ngon, nhai như nhai rơm vậy. Thế là xểnh mất Trương Tử Anh. Giờ biết về báo cáo với ông Doãn như thế nào?
Từ ngày được lập công chuộc tội với cách mạng, những tin tức Phi Hùng báo cáo với ông Doãn, dù cơ mật đấy cũng chỉ có tính chất thông tin. Hắn cho rằng trước sau công an cũng biết, vì họ có "con mắt thần". Nhưng việc bắt Trương Tử Anh là một công việc cụ thể trên giao phó, nếu không hoàn thành rất có thể bị đánh giá sai về lòng trung thành. Hắn hiểu rõ: cuộc đời hắn chỉ cần một sơ xuất nhỏ là bị xóa sổ dễ như không. Liệu "thượng cấp" có hiểu rõ hắn không? Có nên gặp lại ông Doãn báo cáo, hay là… mà biết đi đâu bây giờ?


Phi Hùng quyết định chiều nay sẽ đến Nha Công An gặp ông Doãn báo cáo lại thật tường tận, còn xử lý thế nào là tùy thuộc ở ông ấy.

Nhìn bộ mặt rầu rĩ của Phi Hùng, Nguyễn Tạo biết ngay những tin tức do chị Sáu báo cáo là chính xác.

– Thưa anh – Phi Hùng cúi đầu nói – Về việc anh giao cho bắt Trương Tử Anh…

– Chính đồng chí Vệ quốc đoàn đứng gác đã nói: "Người ta đang đi, chính anh lái xe dồn ép người ta vào vỉa hè".

Nghe thượng cấp nói, Phi Hùng sung sướng reo lên.

– May quá, anh đã biết chuyện và thấu rõ cho em.

– Anh cứ yên tâm, tất cả những việc làm của anh không thể qua mắt chúng tôi đâu. Chuyện này không cần phải thanh minh.

Sau vụ bị bắt hụt ở phố Hàng Gà, Trương Tử Anh vô cùng hốt hoảng. Hắn chui tọt vào một cái "hang" nhưng hắn vẫn cảm thấy ngay cái "hang" này cũng không đảm bảo, dù hắn suốt ngày ru rú trong nhà. Đường dây liên lạc giữa Trương Tử Anh và các "trung ương" Đại Việt được xem xét và kiểm tra lại rất kỹ.
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #21 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2023, 06:53:26 am »

Sáng nay cho liên lạc vào một hòm thư "mật" ở Khâm Thiên thì buổi tối, Trương Tử Anh nhận được một bức thư có nét chữ khá quen, hắn vội mở ra xem:

Kính gửi "đảng trưởng"

Tôi là Hai ở Ninh Bình – Chắc "đảng trưởng" còn nhớ Hai Còm – Biết tin "đảng trưởng" đang gặp nhiều khó khăn, theo ý tôi, Ninh Bình hiện nay vẫn là cơ sở của ta, anh em Đại Việt có trại ở trong núi. Tôi xin đón "đảng trưởng" về Ninh Bình. Địa điểm liên lạc: Hòm thư 001 – KT vào 9 giờ.

   Nay kính thư
   NGUYỄN VĂN HAI



Gấp bức thư lại, Trương Tử Anh cố nhớ xem Nguyễn Văn Hai là ai? À, hắn nhớ ra rồi! Hồi hắn về kiểm tra mấy cơ sở đảng Đại Việt ở Ninh Bình, có một đảng viên Đại Việt ra đón về tận nhà cơm nước chu đáo. Hôm về Hà Nội, hắn còn được Hai biếu một chai mật ong. Sau đó, không có dịp trở lại Ninh Bình nên hắn cũng chẳng rõ giờ Hai làm gì.


Nhưng rõ ràng cái hoàn cảnh "cá nằm trong rọ" ở đây rất nguy hiểm, không thể kéo dài mãi được.
Rút khỏi nơi này càng sớm càng tốt. Xa Hà Nội một thời gian là kế đắc sách nhất. Trương Tử Anh thu xếp ít quần áo bỏ vào chiếc cặp, rồi lên xe, sau nghĩ thế nào lại thôi.


Nguyễn Tạo nhớ lại: trước khi đặt cái bẫy này, anh đã phải tìm công an viên Hai, vốn đã là đảng viên Đại Việt từ năm xưa. Thấy thượng cấp cho gọi điện lên Nha Công An, Hai rất sợ có chuyện gì xảy ra do lý lịch đen ngòm của mình. Nhưng nhận được lệnh đặt bẫy bắt Trương Tử Anh, Hai vội vàng làm theo đúng kế của trên: tự tay viết thư mời Trương Tử Anh về… nộp mạng.


Nguyễn Tạo còn nhớ lại trước đây, ta đã dùng kế "điệu hổ ly sơn" định tóm Trương Tử Anh, cũng viết thư giả, người đóng giả như thật nhưng rồi không thành. Vì con cáo già này rất tinh khôn, chỉ cần quay về "hang", thoáng ngửi mùi khác lạ, hắn đã chuồn đi thẳng.


Lần đó, Trương Tử Anh cứ để cho khách thao thao bất tuyệt say mê kể lại đoạn hồi ký đã qua đó chứng minh mình vốn quen biết chủ thực sự, rồi hắn đột nhiên hỏi:

– Đúng như anh nói: hôm đó trời rét thật, liệu anh còn nhớ tôi mặc áo gì không?

Trước đó khách đã trót kể: "Tôi nắm lấy áo anh mà cười rũ ra", giờ bỗng trở nên lúng túng, dù chỉ thoáng qua nhưng không thoát khỏi đôi mắt rất tinh của Trương Tử Anh.

Khách đáp bừa đi:

– Màu nước biển sẫm.

– Đúng rồi! Trí nhớ của anh cừ thật! Anh kể tiếp đi.

Từ đó Trương Tử Anh cứ ngồi yên, thỉnh thoảng lại gật gù, tỏ vẻ tâm đắc.

Tiễn khách ra về, hắn hứa sẽ đến điểm hẹn đúng giờ. Nhưng khác và một đội trinh sát đã mỏi mắt trông chờ vì Trương Tử Anh đã đánh hơi thấy cái vỏ của khác – Thật ra ngày đó hắn mặc chiếc áo len màu ghi nhạt.

Điều này thì chính xác tuyệt đối vì Trương Tử Anh có một trí nhớ khá tốt.

Tất cả câu chuyện này, Nguyễn Tạo đã dặn kỹ anh Hai và để anh Hai nghỉ hẳn một ngày trước đó, cố nhớ lại tất cả các chi tiết chính xác về Trương Tử Anh hồi tiếp xúc ở Ninh bình.

Hơn nữa cái thế của Trương Tử Anh, nhất là tâm trạng hắn lúc này – dù cảnh giác mấy – nếu kiểm tra hết thảy đều chính xác thì vẫn có khả năng hắn sẽ tự đút đầu vào rọ.

Từ trước tới nay, Trương Tử Anh rất tin vào tài hóa trang của mình. Hắn vẫn thường tự nhủ: trừ Oa-ta-na-bê ra không một ai có thể nhận ra hắn, thoáng gặp phút đầu ở ngoài đường.

Hôm đó, hắn đóng vai một bác bếp đi làm về, ghi đông xe đạp có một cà mèn đựng súp thừa. Loại xúp bui-a-bét ngoài thịt bò và xương hầm, còn có cả cua lẫn cá lổn nhổn, một gói thịt đề-sê – loại bạc nhạc bã súp chỉ dành cho chó béc-giê, một nửa tảng bánh tây. Hắn cũng đánh chiếc sơ-mi cổ cồn, quần áo sạch sẽ là cẩn thận, thoang thoảng mùi thơm của bếp núc. Còn mấy mớ rau đằng sau chẳng qua là bác bếp trên đường đi làm, tiện thì mua về nhà ăn, nhưng thật ra chủ yếu là để ngụy trang hai trái lựu đạn. Thế mà thật không ngờ: Phi Hùng lại nhận ra hắn. Nhưng nghĩ kỹ lại thì cũng dễ hiểu: Phi Hùng rất quen biết hắn và cũng thuộc loại sừng sỏ trong nghề.


Trương Tử Anh rít một hơi thuốc lá. Đêm khuya, trong căn phòng tối om chỉ có một điểm nhỏ đang lóe sáng. Công an đã phải dùng đến con bài Phi Hùng có nghĩa là: cuộc đời hắn ngàn cân treo sợi tóc.
Sau vụ bị bắt hụt vừa rồi, Trương Tử Anh không qua lại bất cứ một cơ sở cũ nào và không trực tiếp nói chuyện với ai cả. Không đêm nào hắn ngủ một nơi cố định, ban ngày cũng có lúc di chuyển địa điểm.


Việc nhận được lá thư mật của Hai ở phố Khâm Thiên cũng làm cho Trương Tử Anh suy nghĩ. Liệu đây có phải là cái bẫy của công an để chộp mình không? Theo kinh nghiệm bản thân, bất cứ một bức thư nào – dù do một người khác viết, có tài bắt chước mấy đi chăng nữa – thế nào cũng có chỗ sơ xuất. Nhưng đặc biệt qua bức thư của Nguyễn Văn Hai, dĩ nhiên có đối chiếu với một số thư, báo cáo khác của hắn – Trương Tử Anh có thể khẳng định là: đúng thư do Nguyễn Văn Hai viết.

Liệu Hai có thay lòng, đổi dạ hoặc viết dưới một sức ép khác không?

Trong lòng Trương Tử Anh ngổn ngang trăm mối tơ vò và chính lúc này cả vùng Gia Lâm biết đâu chẳng như một màng lưới công an đang thít dần lại.

Rừng núi Ninh Bình đúng là một nơi cư trú lý tưởng.

Cùng lắm, xuống thuyền lênh đênh giữa biển, xuất dương sang Trung Quốc. Có lẽ đó là thượng sách nhất. Hắn vững tin ngày một ngày hai, chắc chắn bọn Pháp sẽ quay lại và con bài trùm Đại Việt này lại xuất đầu lộ diện trên sân khấu chính trị ở Việt Nam.


Giá có cách nào thẩm tra lại xem đúng Nguyễn Văn Hai hắn đã gặp thì tốt quá. Trương Tử Anh nhớ lại diện mạo anh này. Trí nhớ hắn khá tốt, không thể quên được. Hai đưa chai mật ong cho mình. Hai mặc chiếc áo ka-ki Ăng-lê còn mới, mình mặc chiếc sơ-mi trắng đúp măng-sét, khuy mạ vàng, hằn lên một bông hoa.
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #22 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2023, 06:54:50 am »

Giờ thì không thể đích thân đến hộp thư mật để kiểm tra Hai, cũng không thể dùng cách mời hắn đến một điểm hẹn nào đó để kiểm tra được. Thời gian gấp lắm rồi!

Đêm qua, đúng lúc thức giấc, hắn cảm thấy không phải tiếng lá rơi ngoài đầu hè mà hình như có tiếng bước chân người lạ mặt đang rình mò đâu đây. Ba giờ sáng, Trương Tử Anh đã lẻn đi ngủ ở một nơi khác.


Điếu thuốc lá tắt ngấm. Trương Tử Anh dụi hẳn điếu thuốc vào cái gạt tàn. Chợt hắn nghĩ đến Lẫm. Lẫm là một bác phó cạo thật thà, hơi chậm chạp là khác. Bác cắt tóc chịu cho trẻ con trong làng, đến mùa bố mẹ lũ trẻ mới trả thóc, hoặc ngô. Hầu như bác không ra Hà Nội.


Dĩ nhiên trẻ con nhà nghèo mới đến nhà bác Lẫm để cắt tóc, thường là ba kiểu: ca-rê, móng lừa, nồi úp… các chú bé thường không nói gì vì có bố mẹ dắt con đến dặn bác:

– Bác húi sao cho cháu để lâu lâu mới phải cắt.

Thế là bác Lẫm đưa tông-đơ theo kiểu "nồi úp".

Qua thời kỳ "thực hành" ở đầu trẻ em, tay nghề đá kha khá rồi, bác Lẫm mới quay sang cắt cho người lớn.

Lần đầu đến bác Lẫm cắt tóc, Trương Tử Anh rất thú vị khi nhìn vào gương thấy bác Lẫm có khuôn mặt hao hao giống mình. Khác hẳn với các tay thợ cạo khác, luôn luôn kháo chuyện trong lúc làm việc, bác Lẫm rất ít nói. Khách hỏi thì trả lời, không thì thôi.


Chiều qua tình cờ đi qua nhà bác Lẫm, Trương Tử Anh mới biết bác vừa ốm khỏi, sắp trở lại cắt tóc.
Một tia sáng chợt lóe lên trong đầu Trương Tử Anh. Sau khi thẩm tra thật kỹ, Trương Tử Anh vào nhà bác Lẫm. Chủ nhà rất mừng khi gặp một ông khách cũ, chỉ nhìn quan thần sắc mình đã đoán trúng bệnh.


Ông Vận – tên người khách – còn hứa: tối mai sẽ đèo bác đến tận nhà cụ lang Vạn – người Cầu Bảy – hiện đang mở hiệu bốc thuốc xem mạch ở phố Khâm Thiên.

Theo lời khách thì cụ lang Vạn bốc thuốc mát tay, chuyên làm phúc, thường chữa khỏi mới lấy tiền, muốn trả bao nhiêu cũng được. Khách còn dặn kỹ: nhà cụ lang ngay cả đêm hôm cũng có lắm con bệnh đến mời, do đó khách sẽ chờ ở đầu phố để bác Lẫm đưa thư vào, nếu cụ có nhà, khách sẽ vào sau.

Trước khi ra về, khách còn dặn bác Lẫm kỹ càng:

– Bác hơn tuổi là anh, tôi làm em. Dù là chỗ quen biết, cũng phải đóng vai thế để cụ lang dốc lòng chữa bệnh cho mình.

Trời khá rét lại lất phất mưa. Hai chiếc kim đồng hồ chỉ chín giờ mười lăm phút. Người qua lại trên cầu đã vắng.

Long – chiến sĩ công an trực đêm – đã toan khép cánh cửa trạm kiểm soát lại, sau nghĩ đến công văn của đồng chí trạm trưởng mới phổ biến mấy hôm nay, anh lại hé mở, chặn một mảnh gạch vỡ cho gió đỡ đập vào cửa.


Từ phía dốc Gia Lâm, hai người đang đẩy một chiếc xe đạp chất cồng kềnh mấy đùm xôi to đôi gà sống thiến phủ sơ sài tàu lá chuối rách bươm.

Có lẽ vì cái lồng quá chật nên đôi gà thỉnh thoảng lại giãy loạt soạt, vẻ khó chịu. Nghe giọng nói lè nhè của người dắt xe, mồm sặc mùi rượu cũng có thể dễ dàng đoán ra được hai người này vừa ăn cỗ ở quê lên. Long vẫn cẩn thận xem kỹ giấy tờ.

Gió mạnh từ mặt sông thổi lên như muốn dập tắt ngọn đèn, khiến Long phải dí sát tờ giấy vào đèn mới nhìn rõ chữ.

– Bác về đâu bây giờ?

Nghe anh công an hỏi, người đùn xe phía sau vội đáp luôn:

– Chúng tôi về cuối phố Khâm Thiên, gần lối đi Ngã Tư Sở ấy.

Long hơi cau mặt lại, khẽ lẩm bẩm:

– Khâm Thiên, Khâm Thiên…

Khẽ đưa mắt nhìn hai người khách một lần nữa, anh trả lại giấy, gật đầu cho đi.

"Không biết Trương Tử Anh là cái tên phản động mức nào mà "thượng cấp" lại có lệnh truy tìm khiếp thế". Khuya rồi, chắc chẳng còn ai qua cầu nữa. Long cúi xuống vớ lấy hòn gạch quăng đi định khép cửa lại thì hai ông khách nữa dắt xe lên cầu.

Long dễ dàng nhận ra người đi đầu đúng là cai thợ nề, không phải vì cái bay và tay thước kè kè bên mình hoặc chiếc áo vét-tông ka-ki cùng cái mũ cát-két còn dính vết vôi và chủ yếu là từ người ông toát ra một mùi vôi vữa rất "thợ nề".

Người đi sau nom nho nhã hơn nước da hơi xanh, cho dù người đó mặc chiếc áo dạ cũ màu ghi đầu đội chiếc mũ phớt cũ, quấn khăn mặt, Long vẫn cảm thấy nét mặt hơi quen, hình như đã gặp ở đâu đôi lần.

– Đêm hôm khuya khoắt thế này, hai bác còn vào thành phố làm gì?

Bác cai thợ nề vội xun xoe đáp:

– Đồng chí tính, các cụ xưa đã dạy "cứu bệnh như cứu hỏa". Ông anh tôi đây bị ốm nặng, tôi vừa đi làm trên Bắc Giang về, nghe tin vội đưa bác ấy đi luôn.

Long nhìn người bệnh bằng con mắt ái ngại:

– Sao không chờ đến mai? Trời rét thế này cảm lạnh là nguy đấy. Phiền các bác cho tôi xem giấy tờ.
Liếc qua tờ giấy thông hành của người ốm thấy đề rõ Nguyễn Văn Lẫm, thợ cắt tóc Phú Thụy, Gia Lâm. Long hơi băn khoăn một điều: nhà bác này, mặt mũi sáng sủa thế mà chịu làm thợ cạo ở thôn quê thì lạ thật!

Khi trả lại giấy cho bác thợ cạo, Long quay ra thì không thấy ông thợ nề đâu cả.

Long bước ra cửa, chợt nhận ra một bóng đen đang ôm bụng ngồi thụp xuống sát thành cầu:

– Làm sao thế? Bác đau bụng à? Vào đây ngồi cho ấm cái đã!

Nghe anh công an trẻ vừa hỏi vừa dìu mình dậy, người cai thợ nề nhăn nhó lê bước vào trạm.

Phía ngoài hai chiến sĩ công an đang đi tuần tra trên cầu. "Chẳng lẽ lại là người trong ảnh"? Long đưa hộp dầu xoa cho bác cai thợ nề, rồi quay sang hỏi bác thợ cắt tóc:

– Em bác đau bụng thế, chưa đi được đâu, cứ ở trạm nghỉ cho ấm cái đã!

Vừa lúc đó hai chiến sĩ công an từ ngoài cầu đi vào, Long nói luôn:

– Các cậu cứ để cho hai bác nghỉ tạm, để tôi chạy ra ngoài phố gọi cụ xếp Lăng vào nhé!

– Xếp Lăng nào nhỉ?

Nghe bạn hỏi, Long vội đáp luôn:

– Cụ "anh-phiếc-mê" (y tá) ở nhà thương Rô-banh (Bệnh viện Bạch Mai ngày nay) nhà ở ngay cạnh cầu đây này.

Nghe nói đi gọi "anh-phiếc-mê" bác cai thợ nề cứ rối rít xua tay:

– Không cần, đau bụng vặt thôi mà!

– Thì hai bác cứ nghỉ ở đây cái đã – Long khẽ đưa mắt cho hai bạn rồi quay ra, tự tay khép cửa lại.
Sau khi kiểm tra kỹ, Long biết rõ: Ở Khâm Thiên không có một ông lang nào tên là Vạn cả, người ở Cầy Bảy lại càng không có.

Khi Long quay về trạm thì bác thợ cắt tóc mà anh nghi ngờ đã tựa đầu vào tường ngáy khò khò. Bác cai thợ nề thì đứng dậy nóng ruột, hỏi:

– Khuya rồi, có lẽ hai anh em chúng tôi xin phép quay về nhà vậy!

Bác cai thợ nề định lay ông anh dậy thì Long đã ngăn lại:

– Cứ để bác ấy nghỉ.

Bác thợ nề xốc lại áo, luống cuống thế nào để rơi chiếc mũ cát-két và làm bay xuống đất một lá thư gấp tư.

Long liếc rất nhanh dòng chữ: "Kính gửi đảng trưởng, tôi là Hai ở Ninh Bình", anh vội khẽ giẫm lên bức thư, nhân lúc bác cai thợ nề đang cúi về phía trước nhặt mũ.

– Bây giờ thì các anh phải ở lại đây chờ đến sáng!

Long nói như ra lệnh trong lúc bác cai thợ nề hơi tái mặt thì bác phó cúp vẫn ngủ ngon giấc.

Nguyễn Tạo giơ tay xem đồng hồ: 19 giờ 30. Thế mà vẫn không có tin tức gì từ "hòm thư mật" ở phố Khâm Thiên đưa về. Chẳng lẽ có động, Trương Tử Anh lọt lưới?

Một ngày trôi qua, tổ công tác vẫn nằm ở "hòm thư mật" nóng ruột chờ đợi.

Tối hôm sau, tại Nha Công An, Nguyễn Tạo thỉnh thoảng vẫn giơ tay xem đồng hồ: đã 22 giờ 15, chưa có tin tức gì ở tổ công tác "hòm thư mật". Thế là thế nào nhỉ?

Đúng 22 giờ 25, có điện từ đồn công an cầu Long Biên báo về cho biết: bắt được một người có lá thư khả nghi.

Đọc tới đây, Nguyễn Tạo hạ lệnh:

– Các đồng chí giữ người đó lại.

Thì ra trên đường đến "hòm thư mật" ở Khâm Thiên hôm sau, Trương Tử Anh đã bị anh em công an bắt được trên cầu.

Tin Trương Tử Anh bị bắt – đối với Phi Hùng có nghĩa là Việt Minh có con "mắt thần", không một tên phản động nào lọt lưới nổi với họ.
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #23 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2023, 06:58:28 am »

CÔ TÔI


TẠ VŨ


Nhà tôi liền bờ sông Kim Ngưu. Con sông đó từ lâu làm nhiệm vụ chứa nước thải của thành phố. Dòng chảy đặc sệt lừ đừ. Vào mùa mưa sông đầy ắp nước, đen màu mực tàu được pha loãng, ồn ào, phóng túng, nước xô vào những vạt rau, cá rô quẩy mình đanh đách.


Ngay từ trên đê, mắt tôi đã nheo lại vì những tia phản quang của nắng trời dọi xuống vô vàn mảnh chai, mảnh kính vỡ, nằm linh tinh ở những đám đất bồi giữa lòng sông, lắc rắc bụi trong những bãi cỏ của đôi bờ. Ngay từ lúc bắt gặp những tia sáng ấy, lòng tôi đã bồi hồi, xúc động.


Cái dáng người cô tôi dong dỏng, mảnh mai, khuôn mặt hơi cúi xuống, đôi mắt ánh lên long lanh rồi lại thanh thản trong veo.

Cô tôi bước xuống ghế và dẫn tôi vào nhà. Chú tôi mái đầu trắng xóa, trắng không còn sót một sợi tóc đen nào, nhưng người còn tráng kiện. Hai cánh tay còn to hơn cánh tay tôi. Chú tôi đã bật lửa châm vào chiếc bếp dầu rồi đặt một siêu nước lên.


Chú tôi châm điếu thuốc, rồi vẫn cái giọng khàn khàn:

– Hút thuốc lá đi Khiêm (Khiêm là bí danh của cô tôi hoạt động thời bí mật vào thời Hà Nội còn tạm bị chiếm.

Cô tôi nhìn chú tôi, chỉ có tôi là người thứ hai biết cái nhìn của cô tôi mênh mông và sâu lắng đến thế nào. Một ánh nhìn tưng bừng, gửi gắm cả một cuộc đời từng trải, sôi nổi.

– Hôm nay Khiêm lại ho. Rồi cô tôi quay sang tôi:

– Hút thuốc đi "Gà Gáy". Cô ho.

Chú tôi bị thực dân Pháp bắt, một lần tù Hỏa Lò và hai lần tù nhà Tiền. Cô tôi chỉ bị một lần tù nhà Tiền thôi. Nhìn cái bề ngoài của hai ông bà đã về hưu, không ai biết đấy là hai chiến sĩ biệt động nội thành. Chú tôi đã thực hiện bản án xử tử một thằng Việt gian ở phố Hàng Gà ngay giữa ban ngày. Còn cô tôi là đầu mối đường dây, rồi tổ chức học sinh sinh viên, tổ chức chị em em tiểu thương đấu tranh, tham gia những lần bố trí cho các đồng chí ta vượt ngục trở về vùng tự do.


Tôi còn nhớ như in, một ngày trời hãy còn lạnh. Cuối mùa xuân hay đầu mùa đông Hà Nội có những ngày đẹp đến nỗi chỉ có Hà Nội mới có những ngày thời tiết tuyệt đẹp đến thế. Trời không cao quá và cũng không ẩm ướt thấp tè. Một mảng mây xanh nổi bật trên nền mây trắng đục. Nắng hoe mà có gió lạnh. Vài ba chiếc lá vàng, khô cong lăn xào xạc dọc bờ đê. Cô tôi mặc chiếc áo măng tô màu mận chín, bước lên một chiếc xe kéo.

– Cô thằng Hàm trông như quận chúa. Tụi bạn cùng chơi, huých vào người tôi và giọng nói thì thào kính nể.

Tôi và tụi bạn của tôi có biết đâu, cô tôi đang làm nhiệm vụ liên lạc cho một chi bộ của Đảng Cộng Sản Đông Dương…

… Ngày cô tôi bị thực dân Pháp bắt, một cơ sở kháng chiến bị lộ, một nữ sinh chỉ nhìn thấy dụng cụ tra tấn đã khai cô tôi ra, nhà tôi biết tin cô tôi bị bắt giam ở nhà Tiền, cậy cục chạy chọt làm đơn xin tụi chúng nó cho gia đình được vào thăm. Đơn gửi đầu tuần này, thì đến tuần sau gia đình mới được phép vào thăm cô tôi vào sáng một ngày chủ nhật.


Cả một tuần bà tôi chuẩn bị. Bà cặm cụi giã muối vừng. Bà tôi bảo phải rang cho kỹ và đừng cho lạc vào, dù cô tôi rất thích ăn cơm nguội với muối vừng giã với lạc, vì như thế muối vừng chóng chảy nước. Cẩn thận hơn bà tôi lại mua một chiếc bị cói to đựng ba bốn gói muối vừng còn lèn thêm nửa cân đường kính trắng tinh. Những ngày ấy bà tôi bồn chồn lo lắng. Bà tôi thường lẩm bẩm nói một mình, tôi nghe được loáng thoáng:

– Không biết có được ăn không đây. Mỡ treo miệng mèo.

Một phần muốn bà tôi vui, một phần cũng để bà tôi yên tâm, tôi nói:

– Tây nó không biết ăn muối vừng đâu bà ạ!

– Mày lại muốn dỡn bà phỏng. Cái giống chúng nó không được ăn thì chúng đạp đổ. Mà tao còn muốn gửi cho cô mày vài cái bánh giò.

– Bà ơi, Tây nó biết ăn bánh giò đấy, bà ạ.

– Cô mày chỉ có thèm bánh giò từ bé. Thôi cũng đành. Sáng hôm ấy mày phải nhắc bà dậy cháu nhớ.
Bà tôi mong mãi rồi cũng đến sáng hôm ấy. Tôi dẫn bà tôi đến cổng nhà Tiền từ tinh mơ. Bà cháu tôi đợi chán chê. Mặt trời đã lên cao. Nắng bắt đầu gắt. Bà tôi ngồi ôm chiếc bị gọn thỏm trong lòng, thở dài thườn thượt. Hai bàn chân bà tôi cứ nhấp nha nhấp nhổm.


Nghe thấy tên cô tôi, bà giật thót mình, đứng phắt lên, hai tay nâng bổng chiếc bị và ghì vào ngực. Tôi nhẹ nhàng đỡ lấy chiếc bị, rồi dắt bà tôi qua chiếc cổng con. Bà cháu tôi đi giữa lối đi hẹp, một bên là chiếc tường bao, một bên là hàng rào dây thép gai lởm chởm. Bà tôi ngơ ngác nhìn chiếc sân rộng, tít xa là ngôi nhà hai tầng, tầng trên thấp nhỏ, những nữ tù nhân đứng nhìn xuống.

– Đẻ!

Côi tôi đây rồi, tôi chỉ kịp kêu:

– Ôi trời ơi… cô…

Cô tôi tươi cười đến gần bà tôi từ lúc nào. Một tay cô ôm choàng lấy lưng bà tôi, một tay bỏ ra ngoài áo quấn băng to xù. Và được treo lên cổ bằng một đoạn băng bẩn.

– "Gà Gáy"!

Cô tôi vẫn cười. Hàm răng trắng bóng. Cô tôi hỏi bà tôi tíu tít. Thỉnh thoảng cô lại trêu tôi, hay lấy khuỷu tay đau hích khẽ vào sườn tôi. Trước khi bà tôi gặp cô tôi, tôi đã lo đến phút này thế nào bà tôi cũng khóc òa. Mà bà tôi khóc thì cô tôi sẽ thế nào? Nhất định cô tôi sẽ khóc theo. Còn tôi, tuổi 15, lớn thì chưa đến tuổi lớn, bé thì đã qua rồi. Không hiểu lúc ấy tôi sẽ "xoay xở" ra sao. Cô tôi cứ hỏi, bà tôi trả lời hết câu này đến câu khác. Sắc mặt bà tôi không còn hốt hoảng, đã bình tĩnh lại, rồi bà tôi bất ngờ nói đùa với cô tôi.


Tôi dẫn bà tôi trở ra bến tàu điện, trong lòng tôi nhẹ nhõm. Chính lúc ấy, bà tôi mới lấy một đầu thắt lưng bao lên chấm chấm mắt, nói nghẹn ngào:

– Cha con đẻ mẹ nhà nó. Cô mày làm tao lú lẫn hết. Định cho nó mấy chục cũng quên. Định hỏi lần sau "tiếp tế" gì vào cho nó cũng quên. Không biết cô mày có được ăn lấy một chiếc bánh giò không cháu nhỉ?


Cô tôi một thiếu nữ mặc chiếc áo măng tô mầu mận chín. Một cán bộ hoạt động nội thành phải treo cánh tay bị tra điện bằng băng bẩn lên cổ. Nhưng chỉ có tôi mới nhận cái dáng phảng phất của hai cô gái ấy trên khuôn mặt cô tôi. Bây giờ cô tôi mảnh mai vóc hạc, mặc chiếc áo cánh bằng vải mền mầu tím hoa cà nền nã. Cô tôi cử động thong thả đến chậm chạp. Chỉ có đôi mắt vẫn mênh mông và thoáng một nét buồn.
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #24 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2023, 07:00:13 am »

Ra tù cô tôi dẫn chú về giới thiệu với gia đình. Nhà tôi thuê ở tầng hai có lối đi riêng, nhưng có một điều không thuận tiện là cái sân phơi là sân chung. Người ở dưới nhà muốn ra sân phơi phóng phải đi qua nhà tôi. Hôm cô tôi dẫn chú tôi về, nhà tôi vừa vui vừa sợ. Bà tôi bèn làm một mâm cơm cúng gia tiên, nói tránh với hàng xóm là ngày kị cụ ngoại. Và mỗi lần nghe tiếng giầy, tiếng guốc lọc cọc ở chân cầu thang, chú tôi lại chui vào trong gian bàn thờ. Thật ra bà tôi quá cẩn thận chứ gia đình nhà dưới là một gia đình rất tốt. Người chồng làm thợ mộc đóng "mớp" ở nơi cửa hiệu phố Phan Thanh Giản (bây giờ là phố Nguyễn Hữu Huân). Người vợ ở nhà bếp núc. Cô gái lớn có một tủ hàng đặt trước cửa rạp chiếu bóng bán thuốc lá và kẹo nu-ga. Hôm ấy bà ở dưới nhà bưng lên một mâm trên đặt một chai rượu vang bán ê hề ở phố Hàng Buồm, một miếng thịt quay to tướng và một hộp thuốc lá ca-ra-ven nhãn hiệu con mèo, 50 điếu nói là để lễ cụ. Bà tôi từ chối thế nào cũng không được. Ngay cả cái việc "lễ cụ" ở với nhau bao nhiêu năm chưa từng có này, chúng tôi hiểu ngay đấy là tấm lòng của người dân trong thành đối với những người tham gia kháng chiến. Ông bà ở nhà dưới biết cô tôi về, lên hỏi thăm không tiện, lại có phần sợ nữa, đành lấy ngay cái việc "lễ cụ" biếu quà khéo. Tuy vậy cô chú tôi vẫn thấp thỏm không yên. Bữa cơm "liên hoan"" ăn vội vàng. Trước khi chia tay, bà tôi dúi vào tay chú tôi hộp thuốc lá và nói:

– Tôi bằng từng này tuổi, tôi chưa thấy ai tự đi hỏi vợ như anh, và cũng chưa thấy ai gả con gái như tôi. Nhưng anh là Việt Minh, thế là được rồi, thế là tôi tin rồi. Thỉnh thoảng anh chị cũng nhắn nhe cho tôi biết. Cháu bà nội, tội bà ngoại, tôi cũng muốn chăm bẵng thằng cu hay con hĩm đây. Anh chị không lo, tôi còn khỏe chân, mạnh tay, cứ gửi về đây tôi trông cho.
Chú tôi đang nghe, hai tai đỏ lừ. Cô tôi tủm tỉm cười nói với bà tôi:

– Chúng con còn lâu mới đẻ ạ!

– Ừ, tôi cũng "mơ màng" thế thôi.

Hai năm sau điều ước "mơ màng" của bà tôi đã trở thành sự thật. Côi tôi từ vùng tự do vào với một cái "các tơ đi đăng ti tê" giả. Cô tôi ở cữ ở một nhà hộ sinh tư. Những ngày ấy gia đình tôi vừa hồi hộp vừa lo lắng. Cứ chập tối, tôi lại dẫn bà tôi đến thăm cô tôi.

– Thằng cu, thằng cu… cha đẻ mẹ mày… âu âu… Bà tôi vừa mừng cháu ngoại vừa dân dấn nước mắt.
Tôi nghe giọng bà tôi nói nghẹn ngào. Thương bà tôi quá và trọng cô tôi quá. Tôi định tìm một lời nói nào để an ủi bà tôi, mà không sao nghĩ ra được, thì vừa may tiếng chuông tàu điện leng keng báo tàu đến bến. Tôi loay hoay đỡ bà tôi trèo lên chiếc bục lên toa mắt bà tôi đã kém lắm rồi. Tay bà tôi nắm lấy tay tôi run run…


Ở cữ được ba ngày, cô tôi không về nhà mà bế con lên thẳng một cơ sở gần thị xã Hà Đông. Thằng cu Tân – tên đứa con đầu lòng của cô tôi – được hai tháng, cô tôi gửi về chỗ bà tôi, nói là phải ra gấp ngoài tự do để công tác.


Thằng cu Tân được nuôi bằng sữa bò, nó là nguồn vui của bà tôi, là nguyên nhân cho những sự bận bịu tíu tít của cả nhà tôi

Cu Tân lớn bổng lên trong sự chiều chuộng. Còn cô tôi vắng bặt tin tức.

Mồng 10 tháng mười giải phóng thủ đô, ngày 12 cô chú tôi mới về nhà. Cô chú tôi về lúc buổi sáng, lúc bất ngờ nhất.

Mãi sau này tôi mới biết thời gian vắng bặt tin tức cô chú tôi là một khoảng thời gian rất nhiều biến động đối với cô chú.

Cô tôi ra vùng tự do rồi lại quay vào thành ngay. Nhiều lần cô tôi đi qua nhà, nhớ con, nhớ bà tôi, nhưng sợ lộ, cô tôi đã phải nghiến răng đi thẳng

Một đồng chí ở tổ công tác khác, bị bắt và được tụi chúng nó cho đi chữa bệnh (đúng hơn là đi chữa những vết đòn tra tấn do chúng nó gây ra) ở bệnh viện nhà binh Đồn Thủy, móc nối được với cô tôi và đề nghị cô tôi tổ chức vượt ngục. Cô tôi báo cáo với tổ chức của mình, đồng chí lãnh đạo nói:

– Việc của Khiêm không phải là đã rảnh rang đâu. Khiêm làm được càng tốt. Đồng chí của mình mà. Tôi đồng ý, còn tùy ở sức cô.

Cơ sở của cô tôi đưa được cô tôi gặp người thầy thuốc. Cô tôi đón ngay ở cửa xà lim nhốt bệnh nhân. Khi nghe cô tôi trình bày nguyện vọng, người thầy thuốc nhìn cô tôi, một lát sau ông nói:

– Tôi bằng lòng, chỉ mới là người yêu thôi hở cô gái xinh đẹp. Tôi cũng là người chống phát xít Đức, mà tôi lại là người Đức… Tôi… à… nhưng mà mau mau lên…

– Tôi xin cảm ơn ông lắm. Cô tôi trả lời.

Người lính da đen đứng sau cô tôi từ lúc nào, vừa nghe xong người thày thuốc nói là đã mở khóa đến tách một cái. Người lính lùi lại một bước và cười với cô tôi.

– Em mang quà đến anh đây. Sức khỏe của anh…

– Cảm ơn em.

– Phòng phát thuốc ở gần cổng. Bệnh nhân chỉ tự do những lúc ấy. Có thể được đi một mình. Bệnh nhân nằm đây không bị tụi mật thám làm phiền. Chúng tin hệ thống canh phòng, nhưng tụi lính rất lơ là.

– Cô có cơ sở ở đây không?

– Có.

– Gặp hộ Rô-sa bắt liên lạc với tổ chức của tôi.

– Mẹ ở nhà rất lo sức khỏe của anh. Cửa hàng cậu mợ em dạo này bận nên em không thường xuyên đến an ủi mẹ được.

Anh…

– Bây giờ anh chỉ còn biết trông mong ở em. Chào bác sĩ, tôi rất cảm ơn bác sĩ cho tôi gặp người thân.

Người thầy thuốc vừa bước vào vừa nói:

– Không sao… Không sao, tôi rất không vui phải cắt ngang những phút tình cảm của hai người.
Anh biết đấy, anh là người của đối phương, bất cứ sự gặp gỡ nào cũng phải có sự hiện diện của chúng tôi. Mà tôi thì không muốn mời giám thị tới. Còn nếu cô muốn, cô có thể ở đây xem những vết thương của anh ta, và tôi sẽ là điện vết thương ấy.

– Cảm ơn ông lắm. Nhưng ông cho phép tôi được không có mặt ở những phút xúc động. Thật tôi không chịu nổi. Bởi vì anh ấy bao giờ cũng nguyên vẹn trong tôi.

– À à… Thế thì tôi xin phép ra ngoài 1 phút, tôi sẽ trở lại ngay để bắt tay vào công việc.

– Rô-sa ở ngõ chợ Ngọc Hà… số nhà… chỗ làm việc nhà khiêu vũ Li-đô.

– Anh sẽ nhận được tin qua cơ sở ở đây.

– Nhưng điều cơ bản là cô giúp tôi "vượt" ra ngoài

– Anh hoàn toàn tin tưởng chứ.

– Tôi hoàn toàn.

– Tôi sẽ gặp Rô-sa…

– Anh cố gắng để hồi phục sức khỏe nhớ.

– Hãy làm cho mẹ yên tâm, em hãy thu xếp giúp đỡ mẹ anh và vào thăm anh. Bây giờ anh chỉ có em…

– Tôi… anh, cứ yên tâm.

Khi người thầy thuốc quay trở lại, cô tôi day đầu khăn tay đã tưới đẫm nước hoa vào đầu một bên mắt, cho con mắt đỏ hoe lên rồi chắp hai tay trước bụng, cúi chào rất lịch sự lại mang phong cách cổ truyền dân tộc. Người thầy thuốc nói với bệnh nhân!

– Thật tuyệt vời. Tôi thấy ghen với hạnh phúc tuyệt vời của anh. Trên cảnh mảnh đất này tôi đã trông thấy, đã nghe thấy, và bây giờ nữa… Ồ chẳng có gì mà khó hiểu… Tôi kính trọng con người này và các anh… các anh có biết không… các anh thật hạnh phúc.

– Chúng tôi biết và hết sức cảm ơn bác sĩ.

– Ồ… à à… thôi chúng ta bắt đầu làm việc. Công việc vẫn là công việc. Đó là cuộc đời!

Theo cô tôi kể, Rô-sa là một người đàn bà đẹp, rất đẹp là đằng khác. Rô-sa tên thật là Thơm. Cuộc đời của Thơm, cô tôi không tìm hiểu kĩ, nhưng một cô Thơm đã trở thành Rô-sa và làm nghề vũ nữ đã khẳng định một cuộc sống sóng gió, lắm thác nhiều ghềnh. Rô-sa là cơ sở của một đồng đội của cô tôi, cô tôi không có quyền nghi ngờ khi cô tôi cho biết tình hình của anh ta, thì khuôn mặt Rô-sa sáng bừng lên rồi lại sa sầm xuống như một tia lửa diêm cháy một lần cuối cùng tắt ngấm.

– Anh ta chưa chết hở chị. Từ khi anh ta bị bắt, em cũng mất liên lạc. Chị bảo anh ta ở đâu kia.

– Ở nhà Tiền, mà tôi cũng được tin anh ta bị đánh nặng lắm, có thể chúng nó sẽ đưa anh sang nhà thương Bạch Mai.

– Ở tù hay anh ta ở nhà thương nào, em cũng không đến thăm được. Em đã bị mất liên lạc, em giúp anh ta được gì? Chỉ đến thăm anh ta thôi nếu mụ chủ biết, thì em lại bị đuổi "Ba" này làm được tiền lắm chị ạ. Em thì còn biết làm gì? Nếu chị có vào thăm cho em gửi ít tiền vào để anh ta tiêu pha thì hay quá.

Cô tôi đứng lên từ biệt Rô-sa. Cô tôi biết rất rõ quan hệ giữa anh ta và Rô-sa sâu hơn tình đồng đội. Anh đã tin rất tin Rô-sa anh ta gặp được cô tôi cũng chỉ qua cô tôi để gặp Rô-sa rồi móc nối lại với tổ chức. Bây giờ Rô-sa chỉ còn làm được mỗi việc là gửi tiền vào cho anh ta.

Cô tôi lắc đầu cười nhạt.

Chính vì không muốn để anh ta buồn, cô tôi đã gửi thư vào là không gặp Rô-sa và anh ta cứ theo kế hoạch của cô tôi… như thế… như thế sẽ có người đón… anh ta rất tin đường dây này… một đường dây an toàn tuyệt đối.
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #25 vào lúc: 09 Tháng Sáu, 2023, 07:01:37 am »

Vượt được nhà thương Đồn Thủy trước khi đến chỗ hẹn mà cô tôi đã dặn, anh ta đến Bar Li-đô tìm Rô-sa. Đấy là một hành động hết sức sai lầm của anh ta, hay anh ta muốn thử thách một tình yêu và sự liều lĩnh đã phải trả giá.


Anh đã chọn một giờ mà nhà khiêu vũ còn vắng khách, 20 giờ, hai mươi giờ Hà Nội đã lên đèn một lúc lâu. Một tối mùa đông, mà ở những đầu ngõ vắng, than đã hồng trong chiếc nồi đất của bà quạt ngô nướng, nhưng ở những phố lớn, những nơi ăn chơi đàng điếm, đèn nê-ông đã nhấp nháy, tiếng kèn tiếng trống đã hắt ra đường một mớ tạp âm, nghe như trong một chuồng thú, hổ báo tranh ăn loạn xạ. Trong nhà hàng Li-đô, các nhạc công vừa chơi xong bài nhảy thứ nhất, sàn nhẩy thưa thớt, vì đây là quán nên các vũ nữ đưa những khách nhẩy về bàn, chèo kéo, đồng tình, sàm sỡ để đợi bài nhẩy thứ hai. Đúng lúc ấy Rô-sa hốt hoảng, hấp tấp bước ra. Không may cho anh ta, khách nhẩy của Rô-sa tối ấy là một tên cai lê dương già đang muốn cặp kè với Rô-sa, nhìn thấy thái độ lúng túng của Rô-sa, nó nổi máu hoạn thư cũng đứng lên theo. Thằng lính tẩy già này, con cáo già tinh quái đi vòng ra cửa trước đón mồi. Rô-sa đã nói được với anh ta vài câu, cô quay lại bước sang đường về nhà hàng. Rồi cô ta lại đứng lại, nghĩ ngợi thế nào Rô-sa lại gọi khẽ anh ta. Anh ta cũng đã đi nghe tiếng gọi của Rô-sa anh đứng lại, cô ta chạy tới…

Một bàn tay lông lá nắm lấy vai áo anh, giật anh xoay nghiêng người lại, một quả đấm phóng giữa mặt anh ta. Một tiếng kêu "thằng ăn cắp".

Anh ta cúi đầu xuống tránh quả đấm thẳng tay trái dơ lên đón quả đấm thứ hai, tay phải đánh mạnh đúng bụng tên cắn trộm.

Nó hự rống như bò. Cứu tao với. Quân giết người!

Tụi chúng nó ùa ra. Giấy xăng đá lộp cộp, rồi còi cảnh sát inh hỏi. Nhưng vết thương vì đòn tra tấn chưa khỏi, sức lực của anh còn bao lăm? Thế là anh bị bắt lại. Bị bắt lại trong một trường hợp thật vô lý!

Một đồng chí khác từ phòng giam bị giản lên phòng tra tấn trên đường gặp anh ta từ phòng tra tấn về. Anh ta bị chúng nó đánh lần này đau lắm, mặt bê bết máu nhưng anh ta cố gắng thì thào:

– Tôi bị bắt lại vì không tin Khiêm

Những tiếng đầu anh ta nói khẽ quá chỉ có ba tiếng sau mới nghe được. Đồng chí gặp anh ta sau này vượt được ra ngoài tự do. Đồng chí rất trung thực, báo cáo với tổ chức những lời anh ta nói. Nhưng đồng chí cũng không thể nào tin được là cô tôi có thể phản bội được đồng đội.

Dù sao cô tôi đã là đối tượng có nghi vấn.

Trong lớp học chỉnh huấn, những thành tích của cô một quá trình công tác của cô tôi đều phải xem xét lại, nó bị mờ nhạt, lùi lại phía xa xăm và cái sự kiện Không tin Khiêm nổi bật, lù lù che chắn. Vấn đề của cô tôi được hai quan niệm đánh giá trái chiều nhau. Một là từ những kết quả của hành động của cô tôi đến sự kiện này, hai là từ sự kiện này quay ngược lại và rút ra những kết luận cho những hiệu quả của công tác từ trước của cô tôi. Điểm mấu chốt là cái sự kiện này chưa có đầy đủ tài liệu, nó lại bao che qua một màn sương mỏng. Lúc thì nó như là chính xác, lúc thì nó như là không chính xác. Vậy là điểm nào là điểm xuất phát

Đồng chí tổ trưởng học tập mời cô tôi lên:

– Chị có biết đồng chí…

Cô tôi choáng váng. Tiếng xưng hô đã đổi khác. Cái trực giác ám ảnh cô tôi từ hôm về học đã trở thành sự thật. Một phản ứng muốn nổ bùng trong người cô tôi, nhưng cô tôi đã nén lại. Cô tôi trả lời rắn rỏi:

– Tôi có biết

– Đồng chí ấy đã gặp anh ta ở Hỏa Lò

– Thế thì hay quá… việc của tôi…

Đồng chí tổ trưởng cắt ngang:

– Không hay như chị tưởng đâu.

– Thế nghĩa là

– Nghĩa là bản kiểm điểm của chị không trung thực.

– Lúc tôi… tôi

– Chúng tôi chưa kết luận, những công hoặc tội của chị là do chị quyết định.

– Sao lại tôi.

– Tổ đồng ý để chị 3 ngày suy nghĩ và viết lại bản kiểm thảo

– Tôi đề nghị đưa việc của tôi lên ban lãnh đạo học tập.

– Chưa cần, lúc nào đưa chúng tôi sẽ đưa. Chị không chấp hành tổ chức của tổ, chị đánh giá thấp
khả năng của tổ. Chị tưởng dựa vào các đồng chí ấy để xóa việc này… chị…

– Tôi không nghĩ thế, và việc này làm sao phải xóa.

– Thôi chị có chấp hành hay không, chị nói đi.

– Tôi chấp hành.

Về tới phòng mình, cô tôi nằm vật xuống, úp mặt vào gối mà khóc.

Khủng khiếp quá có thể từ bỏ một cuộc sống tương đối yên ổn, vượt qua những thành kiến, để bước vào cuộc sống của một người chiến sĩ hoạt động trong hoàn cảnh đất nước đang chiến đấu giành độc lập tự do. Có thể ngay gia đình cũng không thông hiểu, ban đầu phải đi làm chị hai cho Tây, hàng phố, và bạn bè dè bỉu khinh bỉ.


Người hàng phố: – Con bà ấy… gia đình ấy… không đến nỗi nào mà bây giờ… bây giờ.

Bạn bè: – Nó trông thấy tao, nó cúi gằm mặt xuống. Ngày xưa chị em ai cũng ghen với cái sắc đẹp của nó, phục cái tính tình của nó. Có cháy nhà mới ra mặt chuột. Nó lấy chồng người tử tế thì làm gì có cửa để nó ăn diện. Bây giờ làm đồ chơi cho Tây, thật nhục hơn con chó.

Chịu được, chịu được hết, chịu được tất, ngay cả đối với kẻ thù… đòn mật thám… còn nữa… còn nữa… Chịu được tất… Vì vì… tổ chức hiểu mình, cụ thể những đồng chí hiểu mình, như thế là đất nước… Tổ quốc… con… con…


Nhưng không thể sống, không thể khắc phục, không thể trấn tĩnh được, khi xung quanh mình là những ánh mắt nhìn nghi ngờ của đồng đội. Khủng khiếp quá cô tôi như bị rơi xuống vực thẳm, mà rơi, rơi mãi vẫn chưa tới đáy. Ôi! giá đây chỉ là giấc mơ, giá xóa được thời gian, giá cô tôi trở lại những ngày xưa, những ngày vui tươi nhí nhảnh của một cô gái đẹp, không có những ngày hoạt động… Không! Không… không thể thế được… Nếu trở lại những ngày của cô thiếu nữ, cô tôi cũng sẽ chọn con đường của một người hoạt động… không thể khác được, không thể khác được.

Cơn đau nén lại, chiếc gối xê dịch đi, một cuốn sổ nhỏ chép bài hát văng ra giường. Bàn tay cô tôi lật nhanh.

Dân Liên xô vui hát trên đồng hoa…
Si bê ri ngàn ánh dương…
Tay lao động vui đắp xây cuộc đời…
Tay ta cuốc… cày…
Một nong tằm là ba nóng kén.


Cô tôi dừng lại ở giữa cuốn sổ. Cô tôi đặt cuốn sổ xuống, cầm bức ảnh giơ lên, ảnh Bác. Đôi mắt Bác nhìn cô tôi đôn hậu. Hình như cô tôi nghe được từng lời bác dạy:

Nếu lòng con trong sáng và hai bàn tay con trong sạch, thì thử thách nào con cũng vui vượt qua. Con hãy tin đồng chí như tin mình.

Tâm hồn cô tôi như một cánh đồng khô nứt nẻ, bỗng mông mênh nước mắt tràn về. Cô tôi thanh thản chịu đựng, trong ba ngày cô tôi viết xong bản kiểm thảo.

Vẫn căn phòng ấy, vẫn đồng chí tổ trưởng ấy, cô tôi bước vào dù sao dáng điệu cũng không được tự nhiên… Côi tôi cũng không nhận ra ngay vẻ mặt sởi lởi của đồng chí tổ trưởng.

– Bản kiểm thảo của đồng chí căn bản giống như bản kiểm thảo lần trước, có khác là đồng chí sẽ phê bình tổ ta không sát phải không.

Căn phòng, tràn lan ánh sáng.

Cô tôi ngơ ngác.

– Nó giống như lần trước, nhưng không có đoạn sau đâu đồng chí ạ.

– Việc của chị đã được xác minh. Anh ta đã theo một đường dây báo cáo tất cả sự việc của mình, có gửi lời cảm ơn chị và nhận kỷ luật với tổ chức.

– Chị không giận tôi chứ.

– Sao lại giận anh. Tôi biết là phải bảo vệ tổ chức của chúng ta được trong sạch.

– Tổ có thể báo chị ngừng làm kiểm điểm từ hôm qua. Nhưng qua thái độ của chị, chúng ta có thể thấy ngay trường hợp của chị để cùng rút kinh nghiệm. Ban lãnh đạo gửi lời biểu dương thái độ tích cực và tinh thần chấp hành tổ chức của chị.

– Có gì đâu anh, trong mục nguyện vọng: tôi đã đề nghị được chuyển ngành về địa phương để góp phần xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.

– Chị đã bàn với anh ấy chưa?

– Chúng tôi thường nói chuyện nhiều đến ngày hôm nay. Trước lá quốc kỳ và chân dung Bác, chúng ta đã chẳng tuyên thệ: "Chiến đấu để trở thành một công dân của một nước Độc Lập" đó sao. Anh lưu ý, báo cáo với tổ chức hộ tôi. Còn nhà tôi có thể cùng nguyện vọng như thôi hay nhà tôi sẽ xét đến khả năng của mình phục vụ nhiều nhất cho đất nước. Chúng tôi bao giờ cũng tôn trọng nhau…
Cô chú tôi về Hà Nội sau 2 ngày quân ta tiếp quản Thủ đô. Sau khi thử tay nghề, chú tôi được công nhận thợ nguội bậc 4 và cô tôi vào làm nhân viên Công ty phục vụ!
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #26 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2023, 06:58:32 am »

MỘT NGƯỜI DÂN

   
NGUYỄN THỊ KIM kể
   PHAN HÀ ghi


Tôi vốn là người làng Hòa Mục bên xã Trung Hòa, năm 17 tuổi về làm dâu bên Nhân Chính này, đến nay, đã hơn bẩy mươi, ấy là tính cả tuổi mụ. Khi lấy chồng, tôi kém ông Toàn nhà tôi hai tuổi. Nhà chồng tôi vốn là nhà có ruộng đất, những tám chín mẫu ruộng chứ có phải ít đâu, nhưng gặp phải ông anh là người tham ông có nhà ở Hà Nội, nhưng vẫn giữ cả ruộng đất, chỉ để ra cho vợ chồng tôi chừng bẩy, tám sào, cho nên ông Toàn nhà tôi cũng lại là người vất vả, hồi trẻ cũng phải đi lang thang khắp các tỉnh kiếm công ăn việc làm, cuối cùng quay về Hà Nội kiếm được chân cảnh sát. Còn tôi, người con gái vừa chợt lớn đã đi lấy chồng, và cũng như tất cả những người con gái thời ấy, đi làm dâu, thì cũng chỉ biết lo làm lo ăn, ruộng đất, chợ búa, đẻ con cho chóng, nuôi nấng con cái thế thôi, ngoài ra chẳng còn biết gì đến chuyện khác. Việc làng xóm, việc quốc gia xã hội đâu có đến phận mình. Cho nên thật ra cũng chẳng có chuyện gì đáng nói. Nếu như có tí chuyện gì đáng nói thì cũng phải chờ đến ngày trước cuộc cách mạng Tháng Tám ít lâu. Khi ấy cán bộ Việt Minh trong làng tôi nổi dậy, các anh các chị đi tuyên truyền cách mạng cũng có ra vào nhà tôi, cho nên biết Việt Minh thì có biết, nhưng hiểu Việt Minh cho đến nơi đến chốn thì thật là chưa hiểu. Ngay đến ông Toàn các cháu cũng vậy, các anh ấy bảo tham gia Việt Minh ông cháu trả lời:

– Tham gia thì tôi không tham gia, nhưng ủng hộ các anh thì tôi ủng hộ. Các anh cứ đi lại đây, các anh bảo làm gì chúng tôi làm…

Các anh cũng chẳng ép, và vẫn đi lại ra vào như cũ. Một hôm anh Đa đến bảo tôi:

– Chị ơi bảo bà con sắp sẵn quang gánh thúng mủng đúng tám giờ tối nay ra đình rồi sẽ có người đến gặp và có công việc cần tới.

Đúng như lời anh Đa dặn, tám giờ tối chúng tôi đầy đủ quang gánh thúng mủng tập trung ở đình. Đến lúc ấy chúng tôi mới biết các anh cán bộ Việt Minh phá kho thóc của Nhật để ở làng, chia cho dân, cứu đói. Năm ấy dân mình đang bị đói to, người chết đói đầy đường đầy chợ, dọc đường tôi đi chợ, từ đây vào Hà Đông chỗ nào cũng thấy xác người chết nằm co quắp chỉ còn cái xương bọc cái da, dân làng tôi cũng đói, gánh thóc thúng lúa quý hóa thật không biết bao nhiêu mà nói. Tối hôm phá kho thóc, tôi thấy đủ các cán bộ Việt Minh lúc bấy giờ, anh Đa, anh Thê, cô Chỉnh, bà Đỗ, sau này khi tổng khởi nghĩa xong bà Đỗ làm chủ tịch xã tôi đấy. Trước khi phá kho thóc các anh ấy cho người đi tìm lý Vũ, bắt đem chìa khóa ra, tự tay mở kho cho dân lấy thóc. Lý Vũ mở kho xong chuồn thẳng. Giả dụ lý Vũ chốn mất hoặc không mở khóa chúng tôi cũng phá kho ra mà lấy. Mở kho xong, ai gánh, đội được bao nhiêu mặc sức mà lấy. Cả làng ồn ào, rầm rập vui như mở hội…


Phá kho thóc đêm hôm trước thì ngay sáng hôm sau mấy thằng Nhật cưỡi ngựa về làng. Chúng hùng hổ, hoạnh họe, dọa nạt cho gọi lý Vũ tới rồi cho gọi cả dân lại. Lý Vũ khai là Việt Minh mang súng ống về lấy, còn chúng tôi, người thì bảo đi vắng không biết chuyện gì, người thì bảo là thóc của các quan lớn, mà các quan lớn thì đóng ngay ngoài cống Mọc lại đóng cả ở bốt đầu cầu Mới nên có cho cũng không dám động đến. Cũng có người khi thấy bọn Nhật hoạnh: Đã biết là thóc của các quan sao không giữ? Họ trả lời ngay rằng đến quan lớn có võ lại có đầy đủ súng ống mà họ còn chả sợ liệu loại dân chúng tôi chân yếu tay mềm lại chẳng có lấy tấc sắt trong tay hỏi làm gì được với súng ống của họ. Chúng bắt lý Vũ với vài người lên bốt Đầu cầu nhưng hôm sau rồi cũng phải cho về.
Những lời đối đáp với thằng Nhật lúc đó đều là những lời anh em cán bộ Việt Minh dặn dò cho trước cả.


Đối với bọn Nhật lùn tôi không còn lạ gì chúng. Có lần tôi đã lần lên tận bóp Hàng Đậu để đòi lại cái xe đạp, và đòi chúng phải thả ông nó nhà tôi ra. Chuyện nó như thế này: Đêm mồng chín tháng ba Nhật đảo chính Tây, nhà tôi là cảnh sát nên mất việc, về làng làm ruộng, nhưng đến ngày hai mươi tháng ba chả biết đứa nào nó báo biếc là theo Việt Minh hay chuyện gì tôi không biết, thế là có hai thằng Nhật về tận nhà bắt đi, tôi dò được tin là chúng giam ở bóp Hàng Đậu, lại được các anh cán bộ bảo phải lên đòi cho nhà tôi về, thế là tôi đi. Lúc ấy tôi lại đang có mang cháu thứ sáu ỷ vào cái bụng to nên tôi đi tôi chẳng sợ. Đến nơi nhìn vào thấy hai thằng Nhật, một thằng đang ngồi gác ở bàn ngoài nhưng nó lại đang ngủ gà ngủ gật thế là tôi cứ đi thẳng vào bàn giấy bên trong rồi cho là thằng ngồi bên trong phải là thằng to hơn. Thằng ngồi trong đang chăm chú ghi ghi chép chép gì đấy không để ý đến tôi, đến khi ngẩng lên, thấy tôi nó hơi giật mình, nó đập bàn quát tháo ầm ĩ, thằng thông ngôn chạy tới. Nó vẫn đập bàn quát hỏi:

– Tại sao lại vào đây? Vào đây làm gì? Sao vào mà không hỏi cái thằng ngoài kia?

Tôi trả lời:

– Tôi vào, nhưng không thấy ông ấy hỏi gì, nói gì, tôi cho rằng thế là vào được nên tôi vào.

– Thế lúc ấy nó đang làm gì:

Tôi nói:

– Ông ấy gục xuống bàn không biết có phải ngủ hay không.

Thế là nó gọi ngay thằng Nhật ở bên ngoài vào, chẳng nói chẳng rằng nó giơ tay tát thằng kia một cái thẳng cánh, chẳng biết nó tát thế nào mà thằng kia ngã dúi ngã dụi vào tận góc tường..

Đến lúc ấy, tôi mới bắt đầu sợ, bụng bảo dạ, nó mà tát mình một cái như thế cứ gọi là chết cả mẹ lẫn con. Nhưng cũng lạ khi đánh thằng kia xong nó quay lại hỏi tôi một cách mềm mỏng:

– Thế nào, chị kia vào đây có việc gì?

Lúc ấy tôi mới chợt nhớ tới lời mọi người ở nhà dặn là phải gọi chúng nó là quan lãnh sự chúng nó mới thích. Tôi nói:

– Bẩm quan lãnh sự, chồng tôi ở nhà làm ruộng tự nhiên có hai người về bắt đem giam ở đây, bây giờ tôi lên xin quan lãnh sự cho tôi mang cái xe đạp của chồng tôi về và xin quan lãnh sự thả chồng tôi ra, vì chồng tôi bị bắt oan.

Nó không hỏi tôi nữa mà quay ra quay cái máy điện thoại ở trên bàn nói ý ới gì đó một lúc rồi sau đó bảo tôi:

– Chồng mày có là Việt Minh không? Chồng mày có dán truyền đơn, có treo cờ trong làng ngoài làng không?

Nó hỏi câu đó thật là ngu, dù có làm cũng chẳng ai nhận là có. Tôi trả lời là không và lại kêu oan:

– Thật tình là chồng tôi bị bắt oan. Chồng tôi chỉ biến chân chỉ làm ăn, hôm ấy vừa đi cày về thì các ông đến bắt. Xin quan lãnh sự tha cho chồng tôi về làm ăn nuôi con, nhà tôi năm con còn nhỏ, lại bụng mang dạ chửa, mà chồng tôi bị bắt oan uổng, mẹ con tôi biết dựa vào ai…

Nó lại hỏi:

– Thế mày có biết Việt Minh làng mày nó ở những nhà ai không?

– Bẩm quan lãnh sự, con suốt ngày cái đòn gánh trên vai hết chợ này đến chợ kia sáng sớm đã ra khỏi làng đến tối mờ tối mịt mới về nhà còn biết ai là Việt Minh, ai không là Việt Minh nữa ạ.

Cuối cùng nó nói:

– Thôi được mày cứ đi về rồi các quan lớn xét.

Khi đưa tôi ra cửa anh thông ngôn bảo tôi:

– Cũng thật may cho nhà chị, không có giấy tờ gì cả mà dám sồng sộc vào đây, nó không đánh cho là khá đấy. Bận sau có lên nhớ xin ông lý cái giấy…

Tôi về được ba hôm thì chúng thả nhà tôi ra.
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #27 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2023, 06:59:30 am »

Và dăm tháng sau, cách mạng Tháng Tám thành công ông các cháu tham gia ngay vào tự vệ giữ làng tuần tra canh gác.

Còn tôi vẫn như xưa vừa trông nom ruộng nương vừa chạy chợ kiếm thêm nuôi các cháu, chứ cũng chưa tham gia gì vào các công tác xã hội được. Đến ngay chuyện các anh ấy vận động đi học bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ mà lúc đầu tôi cũng còn chốn nhưng chốn mãi cũng không được, bởi vì ngày ấy ban bình dân học vụ người ta hoạt động rất ráo riết, ngoài việc vận động mọi người đi học các anh ấy còn bầy cái trò ngăn đường hỏi chữ vào các phiên chợ, ai biết chữ mới được đi đường cái, đường thẳng, ai không biết chữ đều phải đi đường vòng, lội ruộng hoặc phải chui cống mù…


Tôi còn nhớ hôm ấy là phiên chợ Hà Đông, họ ngăn đường hỏi chữ ở khắp các ngả, cổng trước, cổng sau làng, rồi lại cả ở ngoài đường nhựa nữa. Hồi ấy ở làng tôi có hai bà đều là vợ các ông giáo cùng đi chợ với tôi là bà giáo Phú, chị dâu tôi, cùng bà giáo Nấm là người làng, thấy người ta hỏi chữ lại thấy hai bà là vợ ông giáo chắc các bà phải biết chữ, thế là tôi liền đi kèm vào với hai bà định để là nếu người ta hỏi chữ, thấy hai bà đọc thế nào tôi cũng sẽ cứ bắt chước như thế mà đọc là xong, nhưng có ai ngờ, mang tiếng là bà giáo mà cũng không biết một chữ mù tịt nào như mình. Đến lúc người ta hỏi, hai bà ngớ ra chẳng nói được chữ nào thế là cả hai bà đành mang quang gánh lội ruộng, đi đường vòng. Còn tôi vì cố tình đi sau để nghe lỏm nên chưa bị hỏi đến, thấy vậy tôi liền lùi lại chờ nghe lỏm người khác vậy. Lúc ấy tôi mới thấy một anh đi xe đạp đến, anh em người ta liền ngăn lại hỉ, thấy anh ta nói:

– Lờ bờ (L. B.).

Anh ta lại lên xe phóng đi, thế là tôi đi lên nói luôn.

– Lờ bờ…

Nói xong, tôi gánh gánh hàng tất tả đi ngay, và thế là tôi thoát. Vào đến chợ Hà Đông một lúc mới thấy hai bà giáo nhà tôi vào đến nơi, người lấm lem đầy bùn đất, tôi cười nói:

– Trông bùn đất thế kia có khổ thân tôi không phải gió nhà các chị, các chị cứ theo tôi có phải là xong mà đỡ khổ không nào…

Nghĩ đi nghĩ lại tôi thấy tức lắm, mà càng nghĩ lại càng tức, tôi bảo hai chị:

– Như như hai chị còn khổ hơn tôi mang tiếng là bà giáo mà lại không biết chữ thì tức thật. Về nhà phen này chị em mình phải bảo nhau mà đi học, cho khỏi khổ thân lội ruộng bùn, đi đường vòng… Mà lại bị trưa cả buổi chợ.


Lần ấy về chúng tôi bảo nhau đi học thật. Ngày ấy đã làm gì có điện về làng như bây giờ, tối tối mấy chị em mỗi người một ngọn đèn dầu gọi nhau đến lớp. Nghĩ như cái anh giáo Hồi dậy học chúng tôi cũng thật là tốt, chăm nom chỉ bảo từng chữ từng người, mưa gió bão bùng thế nào cũng có mặt ở lớp học. Cái lớp tôi học có gần ba chục chị em chuyên đi chợ như tôi đều không biết chữ, nhưng học hành có phải ai cũng như ai được đâu, có người học nhanh, có người học chậm. Lại có chuyện bà giáo Phú chị dâu tôi đi học thì chăm nhưng chẳng nhớ được chữ nào. Thầy giáo có gọi đến hỏi chữ cứ run như cầy xấy. Có lần thầy giáo gọi lên hỏi hai chữ gờ đơn (g) và gờ kép (gh) vừa học xong mà cũng không thuộc. Khi thầy giáo chỉ vào chữ gờ đơn hỏi:

– Chữ gì đây?

Bà giáo Phú đứng ngây ra không trả lời được, giữa lúc ấy có người nào đó nhắc nhỏ là gờ đơn nhưng bà ấy nghe không rõ, song đã được nhắc, chắc là đúng nên bà đáp liến thoắng:

– Cờ đen…

Toàn lớp cười ồ cả lên. Đến khi thầy giáo hỏi chữ gờ kép tiếp theo thì không hiểu sao bà ấy lại nói ráo hoảnh:

– Cờ đỏ…

Chuyện học chữ cờ đen với cờ đỏ của bà giáo Phú làm chị em chúng tôi cười suốt không biết bao nhiêu hôm mỗi khi đi cấy, đi gặt hay đi chợ với nhau.

Thế đấy, năm ba mươi mốt tuổi, có đến sáu đứa con rồi tôi mới được đi học vỡ lòng…

Về sau này, hồi năm năm tư khi hòa bình lập lại, tôi có chân trong ban vận động bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ, tôi lại đem những chuyện cái thời ấy nói lại với mọi người để thấy được cái khổ của sự mù chữ, nên ai cũng chịu khó đến lớp. Nhiều cô còn trẻ hiện giữ nhiều chức vụ quan trọng trong xã cũng bắt đầu học chữ từ những lớp học bình dân này thí dụ như cô Nở bây giờ là thủ kho, cô Xâm đã làm chủ nhiệm khi hợp tác xã mới lên hợp nhất, rồi cô Viễn làm thủ quỹ kiêm bí thư chi bộ, cô Tình làm chủ tịch Ủy Ban (cô chẳng may bị ô tô cán, sức khỏe yếu đi nhiều, nên nay làm thường trực ủy ban).


Còn các cụ vào tuổi tôi bây giờ cũng có được trình độ lớp hai, biết đọc biết viết, khi gửi, khi rút tiền tiết kiệm cũng viết được ký được…

Cách mạng Tháng Tám thành công được ít lâu thì cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp lại nổ ra. Lúc ấy ông Toàn nhà tôi đã được tuyển vào công an ngoài Hà Nội liền đi theo cơ quan ra ngoài vùng tự do công tác. Tôi và sáu cháu nhỏ cũng lếch thếch đi tản cư ở những nơi gần gần với cơ quan nhà tôi đóng. Nhưng rồi nhà tôi lại chuyển đi xa hơn, giữa lúc ấy ông bố đẻ tôi cho người đi tìm mẹ con tôi về. Tôi nghĩ ông bố tôi nói đúng: Mình là nông dân, bỏ ruộng đất sao được. Đành phải về mà bám ruộng đất để sống…


Hơn nữa đi tản cư sáu bảy mẹ con chả biết làm gì, nên lại càng túng bấn. Thế là năm 1947 bảy mẹ con giắt díu nhau về làng theo lời ông ngoại các cháu.

Về đến làng, hoàn cảnh lúc ấy kể cũng thật gay go, nay vây mai càn, nay bắt bớ mai khám xét. Bọn phản động trong làng dựa vào thế Tây nhoi lên, nhà cửa của cán bộ Việt Minh phần bị Tây phá ra lấy gạch xây bốt, phần bị bọn phản động dỡ về xây cất nhà mình, trông thật tan hoang sơ xác. Ngay nhà nhà tôi đây cũng đã có người tự tiện dọn đến ở, họ đun nấu ngay ở nhà trên, bây giờ cột kèo vẫn còn đen nhẻm cả ra kia, nhà có bếp đấy nhưng họ không đun, bếp họ phá ra làm củi, nấu dần.


Tuy vậy cán bộ ta như anh Đa, anh Thê, cô Chỉnh, bà Đỗ vẫn nằm lỳ ở xã từ ngày bùng nổ bám đất bám dân tổ chức kháng chiến, giữ vững tinh thần nhân dân. Các anh ấy thường hay ở trên ngôi nhà gần ngay nhà tôi đây. Có lần Tây về không biết, chúng từ bên nhà ông anh tôi vạch rào chui sang sân nhà tôi, đuổi bắt người ý ới, lúc này, các anh mới biết, mới vội vàng tuồn vội ra đồng, cũng may ngoài đồng lúa đang tốt nên các ấy chỉ nấp ở bờ mà chúng cũng không biết, không bắt được. Cũng có lần không chạy kịp, chú Mồm phải cởi quần áo, lội xuống ao, giả vờ bắt cá, bắt tôm, nhưng chúng có chỉ điểm nên chúng đã bắn chết chú Mồm ngay dưới ao…
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #28 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2023, 07:00:29 am »

Không phải là dân ở đây không có hầm bí mật cho các anh các chị ấy, nhưng vì chúng đến bất chợt nên không kịp xuống hầm đấy thôi, ngay quanh đây tôi cũng đã biết ba nhà có hầm bí mật – ngày đó gọi là cái "bem" – một cái ở nhà bà Thành (Tựu), một cái ở nhà bà Tý Chuột, còn một cái ở nhà ông Quang… Ngay ở ngoài chùa sư Tỵ cũng làm cho các anh ấy một cái "bem" bên dưới tòa Phật. Cái hầm ấy bị lộ, không biết lộ từ đâu, chỉ biết rằng thằng con nhà trưởng bạ chỉ cho Tây biết ở dưới bệ tòa Phật có hầm chứa Việt Minh, thế là bọn Tây kéo nhau về chùa. Lúc đó trong hầm có hai anh cán bộ, biết bị vây, sư Tỵ rất bình tĩnh, trước khi ra mở cửa chùa cho chúng vào để đề phòng bị vây, bị khám lâu, sư tỵ còn đưa vào hầm cho hai anh mỗi anh một đĩa xôi và một bát chè.


Vừa ập vào một cái chúng hỏi sư Tỵ ngay:

– Trong chùa có chứa Việt Minh không?

– Một Phật, đây là nơi thờ cúng, tôi ngày đêm đèn nhang thờ Phật, tôi còn biết Việt Minh là ai mà các ông hỏi đây có chứa Việt Minh không…

Thằng Tây căn vặn:

– Mày có cam đoan là trong chùa không có Việt Minh không?

– Mô Phật trong chùa tôi chỉ có Phật chứ không có Việt Minh. Còn các ông nói có cũng được, nói không cũng được, đó là quyền của các ông…

Hắn thúc ép sư Tỵ bắt cam đoan:

– Mày có cam đoan là không có Việt Minh không? Nếu có Việt Minh thì tao bắn chết mày nhé.

– Bắn hay không cũng lại là quyền của các ông thôi. Các ông lúc nào chả có súng trong tay các ông bắn ai mà chả được. Nhà chùa chúng tôi là người hiếu sinh, chứ không phải là người hiếu sát…

– Thế mày có cam đoan không?

Giọng sư Tỵ vẫn bình thản, chậm rãi rành rẽ như lúc đầu:

– Các ông bắt cam đoan, tôi cũng phải cam đoan…

Sư Tỵ bỗng đổi giọng nói to hơn đầy vẻ kiên quyết:

– Nhà chùa chúng tôi không chứa Việt Minh. Có điều các ông đừng có lợi dụng để phá chùa, dân chúng người ta sẽ lên tận bốt người ta bắt đền các ông đấy.

Bọn Tây gạt sư Tỵ sang một bên đi thẳng vào tòa Phật nơi chúng đã được tên chỉ điểm chỉ cho.
Chúng lôi hai anh cán bộ Việt Minh ra bắn chết ngay tại chỗ, không hề hỏi han một câu. Sau đó chúng quay lại, cũng không nói không rằng chĩa thẳng súng vào người sư Tỵ và bóp cò. Sư Tỵ ngã vật ra sau một hồi quằn quại thì tắt thở.


Đến lúc ấy bọn Tây mới biết rằng sư Tỵ không phải là một sư nam như chúng vẫn tưởng từ đầu, sư tỵ là một sư nữ.

Thằng Tây trợn tròn mắt nhìn xác người sư nữ mà chính nó vừa bắn chết. Hắn lắc đầu, buông rơi khẩu súng còn chưa nguội, chụp hai tay lên mặt rồi lầm lũi quay ra…

Nhà tôi tuy không có hầm bí mật cho các anh nhưng cũng là một cơ sở, để các anh đi về cơm nước. Thổi cơm, nắm cơ, đều phải giấu các con, chỉ sợ chúng ra đường bép xép rồi chết cả mình cả cán bộ. Ấy tôi cũng tưởng rằng giấu giếm được con, nhưng thực ra các cháu lớn đều biết, mà cũng mãi mãi về sau này tôi mới hay là các cháu biết nhưng được cái các cháu cũng giữ mồm giữ miệng nên không lộ chuyện ra ngoài.


Ở làng tôi tuy có một số là tề hai mang, ngày làm cho nó đêm làm cho ta, nhưng cũng có một số tên phản động, chỉ điểm vì thế mà sư Tỵ mới bị bắt chết. Ngay chuyện ông nó nhà tôi làm công an cho ta ngoài kháng chiến cũng có đứa nó bán tín bán nghi nên nhiều đêm chúng đến nấp sau đống rơm, đống rạ rình mò xem nhà tôi có lẻn về để liên lạc hay lấy tiếp tế hay không.


Đã có lần bọn Tây đi kiểm tra hộ khẩu, chúng xem sổ sách, giấy tờ rồi nó hỏi vặn con cháu lớn lúc đó mới khoảng 15, 16 tuổi:

– Sao hộ khẩu lại đứng tên mẹ mày?

– Mẹ cháu là chủ gia đình.

– Thế bố mày đi đâu mà không đứng tên lại để mẹ mày đứng?

– Bố cháu chết từ lâu rồi còn đâu

– Có thật là chết rồi không hay là đi làm cán bộ Việt Cộng mà chúng này nói dối.

– Chúng cháu không dám nói dối ạ. Mả bố cháu ở ngoài đồng kia. Các quan có ra xem chị em cháu xin đưa ra…

Ấy đấy phải đến như thế chúng mới hết căn vặn. Nghĩ cũng tội, bố còn sống sờ sờ ra đấy, vẫn cứ phải nói là bố chết từ lâu. Mà không nói thế, cả nhà cũng khổ với nó…

Cũng đã có lúc có anh gợi ý cho tôi tham gia hoạt động trực tiếp, nhưng tôi xét hoàn cảnh tôi không có thể tham gia trực tiếp các công tác được nên tôi cũng thật thà nói lại với anh ấy như thế này:

– Cái hoàn cảnh tôi nó còn gay go lắm, một nách sáu đứa con đứa nào cũng còn nhỏ dại cả, tôi mà đi như các anh chúng nó trông cậy vào ai? Ở cái thế tôi không thể hở các cháu mà đi được. Nhà tôi cũng lại khá túng bấn. Có lúc không nuôi nổi con đã phải cho bớt thằng lớn sang ở chăn trâu cắt cỏ cho ông anh nhà tôi mà cũng không xong. Cái trò trẻ con lấy đâu ra lắm sức lực mà ngày làm quần quật cả ngày, đêm đêm lại cứ phải ngồi quạt hầu bác ngủ. Quạt mãi mỏi tay, rồi mệt, đâm ra ngủ gật thế là bác cứ đầu cháu mà cốc. Đau quá, khổ quá, cháu bỏ về bảo tôi

– Thôi mẹ cho con ở nhà cứ ở bên ấy, bác đánh khổ lắm. Ngủ gật bác ấy cốc, rời tay quạt bác ấy cốc.
Tôi đành phải để cháu ở nhà và tự bảo mình: Thôi thì dù có chết đói cũng cố gắng mà nuôi con, mẹ sống thì con sống, mẹ chết thì con chết… Các anh xem như vậy bảo tôi hở các cháu cho ai được. Bố cháu ở tận ngoài kia, có về được cũng phải đến kháng chiến thành công, nước nhà được độc lập.
Các anh ấy nghe tôi nói vậy nên cũng thôi không nói gì nữa, nhưng vẫn đi lại lấy tiếp tế như trước.
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
kevin
Thành viên
*
Bài viết: 69



« Trả lời #29 vào lúc: 19 Tháng Sáu, 2023, 07:01:32 am »

Giữa lúc đó tôi nghe tin nhà tôi ở ngoài kia ốm nặng. Chính bà Chỉnh báo tin cho tôi biết tin ấy, bà Chỉnh lúc đó đang giữ chức Quyền chủ tịch xã xã Nhân Chính này. Tôi nói với bà Chỉnh là tôi muốn ra thăm nhà tôi ngoài đó vài hôm bà liền đồng ý ngay, bà Chỉnh vẫn thường ra ra vào vào công tác luôn nên bà bảo tôi:

– Được, chị cứ thu xếp, rồi đi với tôi. Tôi biết chỗ anh ấy ở, tôi sẽ đưa chị đến tận nơi… thế nào cũng gặp…

Tôi biết mỗi lần bà Chỉnh ra vào công tác đều có liên lạc đưa đón, nên tôi yên tâm chuẩn bị đi thăm chồng. Tôi giao công việc cửa nhà và các em cho con cháu lớn, dặn cháu rằng nếu ai hỏi cứ bảo mẹ cháu đi chợ xa.


Ngày hẹn đã tới, chuyến đi ấy ngoài bà Chỉnh và cô Hậu dẫn đường còn có tôi với bà giáo Nấm – bà giáo Nấm cũng mù chữ như tôi mà tôi đã nói đến ở trên kia đấy – bà cũng đi thăm chồng lúc đó đang làm chánh văn phòng cho ông Hiếu ở Sở giáo dục. Lúc đi bà Chỉnh giao cho tôi bốn con ngỗng, diều con nào con ấy cứ căng chặt cả ra. Bà Chỉnh bảo tôi:

– Ngỗng này để làm thực phẩm tiếp tế cho cơ quan đóng ngoài kháng chiến, nhưng cũng chính là để che mắt thằng Tây mỗi khi phải đi qua đồn qua bốt của chúng nó. Cho nên khi đi đường, gánh nó đi cho nhanh, khi qua đồn qua bốt, thả nó xuống lùa nó đi, mình giả như người chăn ngỗng mà vượt qua mắt địch.

Nghe bà Chỉnh nói thế tôi cũng cho là phải, phục sát bà ấy là người lắm mưu mẹo, đúng là người đã nhiều lần ra vùng tự do và vào vùng địch.

Chúng tôi đi mỗi người cách nhau một đoạn…

Đường đi phải vượt qua ba bốt giặc là bốt chợ Tia, bốt Vân Đình và bốt Cời. Khi qua bốt chợ Tia, bốt Vân Đình tôi làm đúng như lời bà Chỉnh dặn, nghĩa là tôi thả ngỗng xuống kiếm một tàu lá chuối lùa đàn ngỗng đi trước còn mình theo sau.

Cũng có nơi chúng ngứa mồm hỏi:

– Con mẹ kia đi đâu?

Tôi trả lời đúng như bà Chỉnh dặn:

– Thưa quan lớn con đi chăn ngỗng…

Chúng cũng cho là thật, hơn nữa thấy tôi ăn mặc xuềnh xoàng, cái áo bạc, cái váy mốc – cái váy tôi mượn của mẹ để tôi trông nhếch nhác đúng là một con mẹ "nhà quê" đi chăn ngỗng thật cho nên chúng cho đi… Nhưng khi đến bốt Cời, không biết từ đâu một thằng Tây say, da đỏ như da gà chọi, với một thằng thông ngôn lù lùi đi tới ngăn chúng tôi lại và hỏi:

– Hai đứa đi đâu?

Tôi lại đáp:

– Bẩm quan lớn chúng con đi chăn ngỗng.

Thằng Tây say liền túm ngay lấy một con ngỗng, ôm lên trên tay và bảo thằng thông ngôn bảo tôi:

– Quan lớn muốn mua một con ngỗng đực với một con ngỗng cái về chơi. Mày lấy bao nhiêu tiền quan lớn trả.

Tôi nghĩ bụng thế này là chúng nó muốn cướp không của mình hai con ngỗng này đây, tôi đâm tiếc của thay cho bà Chỉnh cho nên tôi tìm cách chống chế. Tôi nói:

– Anh ạ, tôi ở ngay trong làng Cời đây thôi, tôi biết trong làng có một nhà nuôi rất nhiều ngỗng đẹp ngỗng quý, nếu quan lớn muốn nuôi chơi tôi chỉ vào đó mà mua, chứ mấy con ngỗng này của tôi xấu lắm.

Thằng thông ngôn lại nói:

– Quan lớn muốn mua con ngỗng đực và con ngỗng cái này, ngỗng này cũng đẹp rồi.

Tôi vẫn cố giữ:

– Tôi đã nói tôi biết trong làng có nhà có nhiều ngỗng đẹp mà. Anh cứ đi vào làng đến chỗ cái quán nước hỏi thăm vào nhà cụ Bếp cứ gọi là tha hồ mà chọn. Hơn nữa mấy con ngỗng này của tôi đang đẻ, nó gầy và lại mẹ chồng tôi sai tôi đi chăn mấy con ngỗng mà tự tiện bán đi, về mẹ chồng đánh chết tôi mất, xin quan lớn thương cho…


Nghe tôi nói thế có lẽ nó thấy xuôi tai nên nó thả trả con ngỗng và cho chúng tôi đi.

Sang sông xong chúng tôi mới thấy mừng, ai cũng thở phào nhẹ nhõm.

Cho tới khi đến cơ quan bà Chỉnh, anh Đa cán bộ cũ của xã ra đón chúng tôi. Tô giúp anh Đa đem ngỗng làm thịt, mổ ngỗng ra tôi với anh Đa mới biết thêm một mưu mẹo nữa của bà Chỉnh: trong những chiếc diều căng phồng của các con ngỗng, cái nào bà Chỉnh cũng nhồi đầy chặt thuốc tây. Bà đem ra tiếp tế cho anh em ở cơ quan đang ốm. Anh Đa thấy thế cũng phải hốt hoảng kêu lên:

– Chết thôi! Các chị mang thuốc theo thế này, nó mà khám thấy là nó bắn ngay tức khắc chứ không thèm hỏi han gì thêm đâu… Mang thuốc ra vùng tự do chỉ có tiếp tế cho Việt Cộng, tội tầy đình đấy.

Bà Chỉnh bảo:

– Thì chính là tiếp tế cho Việt Cộng chứ còn gì nữa…

Còn tôi nghe anh Đa nói tôi cũng hết cả hồn, tôi nghĩ ngay đến cái đận gặp thằng Tây say ở bốt Cời, may mà nó chỉ ôm con ngỗng lên tay chứ nó lại sờ sờ nắn nắn cái diều thì thật mất mạng.
Tôi trách bà Chỉnh:

– Chị làm thế sao chị không bảo tôi để tôi liệu trước.

Bà Chỉnh cười:

– Nói trước với chị, để khi gặp nó, chị cuống queo lên, có khi lại còn dễ lộ hơn…

Trong chuyến đi ấy tuy bọn Tây không bắt được chúng tôi mang thuốc tiếp tế cho kháng chiến, nhưng chúng cũng đã cướp đi của chúng tôi mất một người. Ấy là khi đi đến chợ Bến thì thấy dân chúng người đánh trâu bò, người khênh lợn gà, bồng bế gánh gồng chạy tản cư, Tây đang đi càn, mấy người đi trước chúng tôi bảo khau nhanh chân để vượt ra ngoài vòng vây thì thoát còn riêng bà giáo Nấm lếch thếch đi ở phía sau bị trúng đạn đại bác của Tây chết cùng với một số người ở đó… Chúng tôi ngậm ngùi thươngg mãi bà giáo Nấm, lặn lội đi thăm chồng, chồng chưa được gặp mà đã chết bỏ xác dọc đường.


Sau đấy bà Chỉnh còn đưa tôi đi nữa, lên đến phố Mít (Ba Vì) nơi nhà tôi đóng vừa mất bốn ngày bốn đêm.

Ở được với chồng hai ngày, tôi lại tất tả sửa soạn ra về.
Logged

Hỏi thế gian, tình là gì mà đôi lứa thề nguyền sống chết?
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM