Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 23 Tháng Sáu, 2024, 02:49:37 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1  (Đọc 5696 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #120 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2023, 03:06:45 pm »


Đến Thượng Hải lần này, Trần Canh ngoài việc báo cáo tình hình với Trung ương lâm thời, còn đi đến Ngưu Huệ Lâm y viện để trị liệu vết thương nơi chân. Sau những ngày trị liệu đầy đủ, vết thương của Trần Canh bình phục rất nhanh. Ông là người không quen ở không, lúc nào cũng thích đi đứng khắp nơi, nên vào tháng ba năm 1933, Đảng quyết định phái Trần Canh đi vào khu Trung ương ở Giang Tây để công tác. Trước khi đi một hôm, tức ngày hai mươi bốn tháng ba, Trần Canh tới rạp chiếu bóng Bắc Kinh tại đường Quới Châu để xem phim. Không ngờ ông lại gặp tên "A Liên", là một tên phản Đảng, cũng ngồi sát bên cạnh ông. Về sau Trần Canh biết được, nơi trọ của mình ở Thượng Hải đã bị địch theo dõi suốt mấy tháng qua. Do vậy, đêm nay tên phản Đảng này ngồi sát bên cạnh mình, chắc cũng không phải là "ngẫu nhiên". Tên phản Đảng nhìn thấy Trần Canh vẫn làm tỉnh bèn nói chuyện với ông như thường. Khi Trần Canh vừa ra khỏi rạp chiếu bóng, muốn đi cho thoát sự theo dõi của tên này, nhưng vì đùi ông mới lành, không thể đi nhanh được, và tên phản Đảng vẫn bám theo sau. Cuối cùng, nó đã bắt ông.

Sau khi Trần Canh bị bắt, được đưa vào phòng tuần cảnh trong tô giới. Cùng giam chung với ông còn La Đan Thuận, Liêu Thừa Chí, và một số đồng chí khác.

Vì từ năm 1928 tới năm 1931, Trần Canh đã làm công tác bí mật tại Thượng Hải, nên luôn giao du với bọn tuần cảnh ngoại quốc, và bọn đặc vụ Quốc dân đảng. Cho nên khi thấy mặt Trần Canh chúng đều hốt hoảng, hỏi:

— Thế nào? Anh là Trần Canh, chứ không phải là "ông Vương" sao?

Trần Canh bị giam trong lao phía Tây của bọn tuần cảnh, và địch bắt đầu dùng sự tra tấn tàn nhẫn để đánh đập ông. Kế đó, chúng lại dùng tới cách tra điện để buộc ông phải khai tên tuổi những đảng viên Cộng sản khác. Do sự tra tấn gây ra đau đớn không thể chịu đựng nổi, nên Trần Canh mua chuộc bọn gác ngục ra ngoài mua giúp cho ông một số thuốc lá thơm. Ông chờ trước khi bị tra tấn thì nhai thuốc lá nuốt vào bụng, để nó gây tê, ít cảm thấy đau đớn hơn. Bọn địch dù tra tấn tàn nhẫn tới đâu, cũng không thể lấy được từ miệng ông một tin tức bí mật nào. Về sau, Tống Khánh Linh, tức phu nhân của Tôn Trung Sơn, biết Trần Canh bị bắt, bèn tìm nhiều cách để cứu ông. Bà còn dẫn một số người nổi tiếng ở Thượng Hải, và một số ký giả vào ngục để thăm Trần Canh. Bà dùng uy tín to lớn của mình, để ngăn không cho địch sát hại Trần Canh.

Địch thấy dùng sự tra tấn không có hiệu quả, bèn thay cây "gậy" bằng chiếc "củ cải đỏ". Trần Canh nhận ra kẻ thù đã thay đổi thủ pháp nên thừa lúc chúng buông lơi, bèn kể chuyện Hồng quân cho bọn giữ ngục nghe. Trần Canh là người giỏi ăn nói, nên những câu chuyện của ông kể, khiến người nghe đều say mê và cảm động. Ngay như một tên cò cảnh sát người Anh, mà cũng mê nghe, xem đó như là chuyện đời xưa lý thú.

Ngày ba mươi mốt tháng ba năm 1933, tòa án đặc khu Thượng Hải mở phiên tòa xét xử. Trần Canh và La Đăng Hiền, Liêu Thừa Chí cùng bị đưa ra trước tòa án để xử. Khi ra giữa tòa án, họ to tiếng hát quốc tế ca, lại to tiếng vạch mặt tội ác của chủ nghĩa đế quốc và phái phản động Quốc dân đảng, tuyên truyền chủ trương cứu nước, cứu dân của Đảng Cộng sản, làm cho quân địch ở đây hết sức lúng túng. Sau mấy hôm, Trần Canh bị giải sang trung ương cục của thành phố Thượng Hải. Như vậy, Trần Canh từ nhà lao Tây của đế quốc được đưa sang nhà lao của phái phản động Quốc dân đảng. Khi số người của Trần Canh được áp giải ra xe, chúng sợ họ lại hô khẩu hiệu cách mạng, nhất là sợ Trần Canh nhảy xe chạy trốn, nên đã dùng còng để còng chân ông vào một thanh sắt. Tại nhà lao của Quốc dân đảng, tên phản đảng Cố Thuận Chương đã mấy lần đến khuyến dụ Trần Canh. Hắn bảo: "Cách mạng Trung Quốc đã bị thất bại rồi", có những người cộng sản "được Tưởng ủy viên trưởng khoan hồng" v.v... Hắn còn nói Tưởng Giới Thạch từ Giang Tây đã đánh về mấy bức điện, bảo "đối xử đặc biệt" với Trần Canh. Cố Thuận Chương nói thêm:

— Anh nghe tin này tất anh sẽ vui mừng đấy.

Nhưng Trần Canh đã mắng thẳng vào mặt hắn là tên phản bội. Ông đưa tay chỉ thẳng mũi hắn, nói:

— Anh là đồ phản bội, tôi không thể vô liêm sỉ như anh được đâu!

Tên phản Đảng câm miệng, không nói gì thêm nữa.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #121 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2023, 03:07:24 pm »


Ngày một tháng tư, Trần Canh bị giải đi Nam Kinh. Vì ông nổi tiếng là người giỏi vượt ngục, nên từ Thượng Hải đi Nam Kinh, bọn áp giải đã dùng một thanh sắt khóa ông dính chung với Đàm Quốc Phụ, người đã dùng tên giả của em gái ông là Trần Tảo Anh. Họ bị đưa lên một toa xe lửa thiết giáp, chuyên dùng để giải tù, có cửa sổ song sắt, và canh gác nghiêm ngặt suốt đường đi. Trước khi xe lửa rời khỏi Thượng Hải, hai người cùng hát lên bài Quốc tế ca. Suốt đường đi, cứ đến ga nào họ cũng hát, cho mãi đến Nam Kinh. Lời hát của họ rất bi tráng, vượt qua cửa sổ song sắt của toa xe, bay ra ngoài, khiến hành khách đáp tàu hỏa đều được khích lệ tinh thần cách mạng. Bọn đặc vụ áp giải rất hốt hoảng, nhưng không biết phải làm sao. Xe lửa vừa tới Nam Kinh, thì Cốc Phi Luân, tư lệnh trưởng của hiến binh Quốc dân đảng cầm một bức điện của Tưởng Giới Thạch đi ra nhà ga, để "đón tiếp" Trần Canh. Trong bức điện này, Tưởng Giới Thạch đã viết: "Do trong thời kỳ Bắc phạt ở Quảng Đông, Trần Canh đã tham gia quân Quốc Dân Cách Mạng, nên cần phái cư xử "dễ chịu" và "khuyến khích" để ông ấy "sửa lỗi", chịu gia nhập Quốc dân đảng. Bức điện còn nói nếu Trần Canh đồng ý "thề quy thuận Quốc Dân Đảng" thì Tường Giới Thạch sẽ ban cho một chức sĩ quan cao cấp và dành cho một "tương lai" tốt đẹp. Khi Trần Canh bị giải đến bộ tư lệnh hiến binh ở miếu Phu Tử tại Nam Kinh thì Cốc Phi Luận quả thật đã "ưu đãi” ông. Tên này để ông ở một gian phòng rất đẹp. Nhưng, chúng chỉ nhọc công tìm cách dụ hàng mà thôi. Trần Canh vẫn không hề tiết lộ cho chúng biết một điều gì mà chúng sứ dụng được. Thế là bộ mặt giả dối của chúng đã được dẹp bỏ, chúng đưa Trần Canh vào ngục của bộ tư lệnh hiến binh nhốt lại. Nhiều bạn học cũ ở trường Hoàng Phố hiện đang làm sĩ quan cao cấp cho Quốc dân đảng nghe tin, đều "đến thăm" Trần Canh, khuyến dụ ông quy hàng Quốc dân đảng, nhưng ông chỉ đáp lại bằng tia mắt khinh miệt. Cố Thuận Chương gửi đến cho ông nhiều "món quà", nhưng đều bị ông đá bay ra đất, rồi mắng cho một trận.

Ở Nam Kinh thẩm vấn Trần Canh không có kết quả, nên Tưởng Giới Thạch lúc đó đang tọa trấn tại Nam Xương, để trực tiếp chỉ huy cuộc hành quân bao vây tấn công lần thứ tư vào khu Xô viết Trung ương ở đấy, bèn quyết định gặp gỡ Trần Canh. Tưởng Giới Thạch muốn dụ dỗ và uy hiếp Trần Canh tự thú, và qua Trần Canh, sẽ ảnh hưởng tới cựu học sinh trường Hoàng Phố đang hoạt động trong Hồng quân, nên ra lệnh cho Nam Kinh dùng tàu thủy chở Trần Canh đến Cửu Giang, rồi chuyển đến Nam Xương.

Tưởng Giới Thạch làm như vậy, là muốn lung lạc nhân tâm. Vì như nhiều người đều biết, Trần Canh trong lần Đông chinh thứ hai hồi năm 1925, để đánh quân phiệt Trần Quýnh Minh, từng cứu mạng cho ông ta một lần. Cho nên ông ta muốn làm cho mọi người thấy, là mình định "báo ân", bằng cách đích thân "cảm hóa" Trần Canh.

Trong khi chiếc tàu chở Trần Canh ngược dòng sông đi về phía thượng du, thì "người tù" được Ủy Viên Trưởng đặc biệt quan tâm này, thật khó tìm cách để ứng phó.

Ngoài thời giờ ngủ, trong lòng Trần Canh không có giây phút nào được yên ổn. Bất luận khi lên tàu hoặc khi lên ở lữ điếm, Trần Canh lúc nào cũng to tiếng tuyên truyền chủ nghĩa Cộng sản và Hồng quân, là người muốn cứu dân cứu nước. Mỗi lần nghe ông nói, những người vây quanh đều xúc động. Cho dù xung quanh ông chỉ có một vài tên lính canh gác, ông cũng tuyên truyền không ngừng chủ nghĩa của mình, cũng như những gì mà đời ông đã trải qua. Lúc đó, ông không giống như là một tên tù, mà giống như một ông thầy đang dạy vỡ lòng cho học trò mình, hoặc giống như một nhà diễn thuyết.

Sau khi tàu tới Cửu Giang, kẻ địch đã áp giải Trần Canh lên Nam Tân để chuyển đáp tàu hỏa. Trên tàu hỏa Trần Canh vẫn tiếp tục tuyên truyền Đảng và cách mạng, tuyên truyền thắng lợi của Hồng quân.

Khi tới Nam Xương, không rõ là cố ý hay vô tình, họ đã đem Trần Canh vào ở tại bộ tổng chỉ huy tổng khởi nghĩa Nam Xương trước kia - tức lữ xá Giang Tây. Sau hai ngày, Tưởng Giới Thạch phái thư ký riêng của ông ta là Đặng Văn Nghi mang rất nhiều "lễ vật ra mắt" đến lữ quán để biếu Trần Canh. Nhưng việc làm đó hoàn toàn không có kết quả gì về mặt mua chuộc tình cảm.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #122 vào lúc: 01 Tháng Sáu, 2023, 03:07:56 pm »


Hai ngày sau, Trần Canh bị áp giải đến gặp Tướng Giới Thạch. Lúc đó Tưởng Giới Thạch đang ở tại phòng dụng cụ khoa học Bá Hoa Châu trong thành phố Nam Xương. Ông ta đang chỉ huy quân Quốc Dân Đảng bao vây tấn công hành dinh của Hồng quân. Trần Canh là người nổi tiếng nhiều râu, nên lúc bị nhốt ở trong ngục, cả mặt mọc râu rất dài, quần áo cũng cũ rách dơ bẩn. Tướng Giới Thạch đã biết được Trần Canh là người kiên trinh bất khuất, nhưng vẫn giả vờ vuốt ve Trần Canh. Tưởng Giới Thạch bảo thư ký riêng của mình là Đặng Văn Nghi, đi lấy một bộ đồ lụa dài sang trọng, có cả mũ lễ, giày vớ đến. Ông bảo Trần Canh hãy cạo râu, tắm rửa để thay quần áo, nhưng Trần Canh làm lơ không để ý. Đặng Văn Nghi nói với Trần Canh:

— Ông đi gặp tiên sinh, nếu ăn mặc quần áo như thế này là thất lễ lắm.

Trần Canh bèn hỏi lại hắn:

— Các anh đã nhốt tôi vào ngục, và làm cho tôi ra nông nỗi này, vậy có thất lễ không?

Câu hỏi đó làm cho Đặng Văn Nghi câm miệng.

Trần Canh được dẫn tới một gian khách sảnh rộng rãi, bên trong bên ngoài đều có vệ binh canh gác. Ở đây, Tưởng Giới Thạch "đến thăm" Trần Canh. Vừa trông thấy Trần Canh, Tưởng Giới Thạch nói:

— Ông là Trần Canh! Ông là Trần Canh! Còn tôi là hiệu trưởng của một người học sinh ngoan ngoãn như ông. Mặc dù ông có sai phạm về mặt chính trị, nhưng tôi vẫn có thể tha thứ cho ông.

Trần Canh không hề nhìn Tưởng Giới Thạch, lạnh lùng đáp:

— Tôi hoàn toàn không cần đến sự tha thứ của ông!

Câu nói đó làm cho Tưởng Giới Thạch rất lúng túng, nên chỉ hỏi thăm không đâu vào đâu một vài lời, rồi hỏi Trần Canh đến đây bằng gì, và có thích địa phương này không?

Trần Canh trả lời, chính ông đã bị Tưởng Giới Thạch bắt và đưa tới đây. Tưởng Giới Thạch nghe câu trả lời đó mặt bừng đỏ, ấp úng đáp:

— Sao ông lại nói như vậy? Chúng ta đều là đồng chí cũ ở trường Hoàng Phố. Mọi người ở trường Hoàng Phố phải đoàn kết để cứu quốc. Hiệu trưởng trường Hoàng Phố không bao giờ giết người Hoàng Phố đâu!

Thấy Trần Canh làm thinh, Tưởng Giới Thạch giả vờ thân mật nói:

— Mọi người đã làm cho quốc gia đến nông nỗi này. Trong một trận bao vây diệt phỉ, đôi bên đã chết đến hơn ba chục vạn. Người Trung Quốc không thể hy sinh vô lý như vậy!

Trần Canh liền phản bác:

— Quốc gia sở dĩ như thế này, là do ông hoàn toàn chịu trách nhiệm. Vì ông đã phản bội lại cách mạng, phát động cuộc nội chiến chống cách mạng, chứ riêng người Cộng sản chúng tôi không có trách nhiệm chi cả.

Lời nói của Trần Canh rất dõng dạc, sắc mặt cũng rất uy nghiêm. Bọn vệ binh đứng chung quanh đều nghe rõ, khiến Tưởng Giới Thạch tức giận đến mặt mày tái xanh, không nói chi nữa, mà chỉ lặp đi lặp lại:

— Thái độ của ông như vậy, thì ông cần phải hối tiếc. Ông cần phải hối tiếc...

Trần Canh không thèm để ý tới câu nói của Tưởng Giới Thạch. Và, thái độ của ông khiến cho Tưởng Giới Thạch hết sức lúng túng, khó có cách nào kết thúc buổi gặp gỡ cho được hay ho.

Thấy không dụ dỗ được, kẻ địch lại áp giải Trần Canh trở về Nam Kinh, và nhốt ông vào một xà lim chật chội. Ở đây, ông lại chịu sự đày đọa hơn một tháng. Kẻ địch tiếp tục ép ông phải tự thú và "hối lỗi"; Trong thời gian này, Tưởng Giới Thạch một mặt bị dư luận thúc ép, một mặt có ảo tưởng dùng cách khoan hồng với Trần Canh, để tác động tới những học sinh Hoàng Phố còn đang sống trong Hồng quân, nên hắn thả Trần Canh ra, và cho ông đến một lữ quán. Mặc dù tại đây vẫn có bốn năm vệ binh canh gác Trần Canh, nhưng ông được phép ra đường phố bình thường. Do vậy, Trần Canh đã có một sự "tự do" ở mức độ nào. Trần Canh thấy tình trạng ở đây có vẻ nới lỏng hơn trong khám, bèn nghĩ tới việc liên lạc với tổ chức Đảng, để tìm cách trốn thoát. Từ đó, ông mới cạo bỏ hàm râu dài, thay đổi y phục sạch sẽ. Rốt cục, có một ngày ông được tổ chức Đảng sắp xếp, dưới sự hỗ trợ của hai đồng chí, giúp ông trốn thoát khỏi lữ quán đã giam lỏng ông.

Cuối tháng năm năm 1933, Trần Canh từ Nam Kinh trốn được về Thượng Hải, và đã liên lạc được với cơ sở Đảng ở đây. Sau đó, Trần Canh nhanh chóng được phân công về công tác tại khu đỏ của Trung ương ở Giang Tây.

Lần bị tù này, Trần Canh đã trải qua hai tháng bị giam cầm. Với hai tháng tù đó, đã làm phong phú hơn những từng trải của Trần Canh, cũng như thêm được nhiều trang gay go khúc chiết trong cuộc đời đày màu sắc truyền kỳ của ông, để lại rất nhiều giai thoại. Năm đó ông vừa đúng ba mươi tuổi.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #123 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:24:02 am »


3. TRĂM TRẬN TRĂM THẮNG

Trần Canh là một viên tướng sáng chói trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc. Trong cuộc đời binh nhung, ông đã trải qua bách chiến. Kể từ Nam Xương khởi nghĩa cho đến những ngày đánh nhau với quân Quốc dân đảng ở khu Xô viết Ngạc Dự Hoản, tiêu diệt "Thiên hạ đệ nhất lữ", cho đến vượt qua sông Hoàng Hà, truy kích tiêu diệt địch ở Điền Nam, và cho tới cuộc chiến tranh kháng Mỹ viện Triều... Trong từng trận chiến đấu một, ông bao giờ cũng chiến thắng. Tuy ông bị thương mấy lần, nhưng đều tìm được cái sống trong cái chết. Đó là trời giúp chăng? Hay là do sức của con người?

Tháng mười năm 1935, Hồng quân Trung ương đã trường chinh tới vùng phía Bắc tỉnh Thiểm Tây.

Tháng mười năm 1931, Trần Canh đến khu Ngạc Dự Hoản, và được cử làm sư trưởng sư mười hai, quân bốn Hồng quân.

Tháng sáu năm 1932, phương diện quân bốn Hồng quân quyết định phát động chiến dịch Hoàng Quang, để chiếm lại vùng đất phía Nam Hoàng Xuyên và Quang Sơn.

Ngày mười hai tháng sáu, Trần Canh chỉ huy sư đoàn 12, bao vây sông Liễu Thọ. Sáng sớm ngày mười ba, Trần Canh dùng chiến thuật, tấn công ba mặt, chừa trống một mặt, rồi từ hướng Đông, Nam, Tây, đánh vào một lữ của địch tại sông Liễu Thọ. Ngoài ra, binh lực một đoàn tập kết và ẩn kín tại phía Đông vòng qua phía Bắc sông Liễu Thọ, giả vờ bỏ ngỏ hướng Bắc, để dụ địch phá vòng vây. Đồng thời, chuẩn bị nếu địch phá vòng vây về hướng Bắc, thì quân mai phục sẽ ào ra tập kích. Mỗi lần trước khi chiến đấu, Trần Canh đều đích thân dẫn các đoàn trưởng đi quan sát địa hình, để chọn trận địa, và chỉ dẫn những điều then chốt trong việc tác chiến. Trong tác chiến thì phải tùy tình huống mà kịp thời bố trí, để tạo thuận lợi cho cuộc chiến đấu phát triển.

Khi trận đánh bắt đầu, quân địch phát giác chủ lực Hồng quân gồm bốn sư từ hướng Tây Giang Tây đánh vào, nhưng không dám bao vây. Chúng lại thấy phía Bắc Hồng quân yếu hơn, nên kéo về phía Bắc để phá trùng vây. Trần Canh chỉ huy sư mười hai, công kích thẳng vào doanh trại địch. Sau khi diệt được hai tiểu đoàn, thì bắt đầu truy kích theo bọn bỏ chạy. Số quân mai phục trước tại phía Bắc Hoàng Sơn, nhanh chóng đánh vu hồi về phía trại Diêu An, và đánh thẳng vào địch tại Mã Nghị Điếm, tiêu diệt được mội số quân địch. Số còn lại đều quay về hướng Tây bỏ chạy, Hồng quân bèn truy kích theo đến vùng Tiết Điếm nằm về phía Nam Phó Lưu Điếm và tiêu diệt toàn bộ chúng. Riêng lữ trưởng của địch bị bắn chết. Tướng Hứa Thế Hữu làm đoàn trưởng đoàn thứ ba mươi tư, tham gia trận đánh đó, về sau trong hồi ức có nói: "Qua sự bố trí trận đánh sông Liễu Thọ, chứng tỏ nghệ thuật chỉ huy của đồng chí Trần Canh hết sức khôn ngoan và linh hoạt. Lúc đó chúng tôi có ba đoàn và vây đánh địch hai đoàn. Về mặt quân lực không phải chiếm ưu thế tuyệt đối. Hơn nữa, địch có công sự phòng ngự, nếu đánh thẳng với chúng thì khó thu được thắng lợi. Cho nên dùng cách bao vây ba mặt, bỏ ngỏ một mặt, để dụ địch rời bỏ trận địa của chúng, rồi mới truy kích tiêu diệt là cách đánh cơ bản trong lối vận động để tiêu diệt địch".

Chiến dịch Hoàng Quang chỉ kéo dài có năm hôm là kết thúc thắng lợi. Khiến uy danh của Trần Canh chấn động khắp nơi. Sự chỉ huy linh hoạt của Trần Canh đã được chứng thực qua việc chỉ huy tác chiến.

Tháng mười năm 1935, Hồng quân Trung ương sau khi trường chinh đến phía Bắc Thiểm Tây, thì cùng hợp điểm với đoàn mười lăm khôi phục phiên hiệu phương diện quân một Hồng quân. Mười ba đại hội cũng khôi phục thành đoàn mười ba Hồng quân. Trần Canh được cử làm đoàn trưởng đoàn mười ba Hồng quân. Lúc bấy giờ, Tưởng Giới Thạch phái năm sư đoàn, mở đợt bao vây tấn công lần thứ ba vào căn cứ địa Thiểm Tây, Cam Túc, với ý đồ tiêu diệt Hồng quân, khi Hồng quân chưa đứng vững chân. Mao Trạch Đông đoán biết được ý đồ đó, bèn chọn vùng Trực La Trấn để sáng tạo một chiến trường. Trải qua khảo sát, quyết định để cho địch tiến vào Trực La Trấn rồi mới hai mặt đánh giáp công, tiêu diệt chúng. Sau ba hôm, sư trưởng sư một lẻ chín của địch là Ngưu Nguyên Phong, quả nhiên đã xua quân tiến vào Trực La Trấn.

Lúc đó, vì Trần Canh bị thương hai lần trên đùi nên tham mưu trưởng quân đoàn là Tả Quyền, bảo ông đừng tham chiến, mà ở lại bộ chỉ huy để nghỉ ngơi. Ông ta hứa là mình có thể thay Trần Canh để chỉ huy được. Tả Quyền là chiến hữu kỳ cựu của Trần Canh. Trước kia họ là bạn học cùng khóa thứ nhất nơi "Lục Quân Giảng Võ" học hiệu, và "Hoàng Phố học hiệu" tại Quảng Châu. Về sau họ trở thành tướng lãnh cao cấp của Hồng quân. Tả Quyền thực lòng quan tâm đến Trần Canh, làm ông rất cảm động, nhưng ông vẫn quyết định không chịu ở nhà, còn trách Tả Quyền:

— Người ta mới lên chức đang hăng hái, thế mà anh lại tạt cho người ta một gáo nước lạnh!

Tả Quyền biết bản tánh của Trần Canh, nên phải nhượng bộ. Tả Quyền muốn cấp riêng cho Trần Canh hai con ngựa để khỏi đi bộ. Trần Canh vẫn không tiếp nhận, nói:

— Trên đường trường chinh, tôi đã đi bộ tới đây, chứ không phải cưỡi ngựa.

Không còn cách nào khác, Tả Quyền đành phải cho gọi Âu Chí Phú, đặc phái viên của đoàn tới nơi, bảo ông này phải lập tức chuẩn bị một bộ cáng, và từ đấy trở đi, lúc nào bộ cáng cũng phải giữ bên mình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #124 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:24:47 am »


Nhiệm vụ của đoàn mười ba là cảnh giới yểm hộ cho quân đoàn. Trần Canh làm đoàn trưởng, nên luôn chạy tới chạy lui, gần như ông phải đi một đoạn đường gấp đôi mọi người. Trước khi bộ đội chủ lực xuất phát, ông phải phái bộ đội của mình đi theo đường lục soát cảnh giới, và khi bộ đội chủ lực đã đi qua, ông lại kéo bộ đội của mình trở về, để kiểm tra dọc đường và canh gác.

Do bôn ba trên một quãng đường dài, cái chân bị thương của ông lại phát đau, ông phải chỏi gậy, đi khập khễnh, thế mà chiếc cáng dành riêng cho ông vẫn mải ở không. Ai khuyên ông lên nằm cáng, ông cũng không chịu. Lúc nào ông cũng nói cười vui vẻ, và lắm khi một câu nói của ông lại làm cho mọi người xung quanh cười đến vỡ bụng.

Đoàn mười ba kéo tới vùng Đông Thôn, Vĩnh Xuyên đóng yên chờ mệnh lệnh. Có một hôm, quân đoàn phái ngựa đến để cho Trần Canh cưỡi đi xem địa hình. Đến tối trở về, ông tỏ ra rất phấn khởi. Tại cuộc hội nghị về bố trí trận địa, ông cao hứng thí dụ và hỏi:
— Các đồng chí có ai giết "bò" bao giờ chưa? Lần này cần phải giết "bò" rồi đấy! Con "bò" này từ ngày Hồng quân Trung ương kéo tới vùng Thiểm Tây và Cam Túc, thì nó lúc nào cũng theo cắn đít cả. Chúng ta đã chặt đuôi nó mấy lần rồi, nhưng nó vẫn không chừa cái tật đó. Lần này chúng ta phải nện một búa cho thật mạnh vào đầu "bò" của nó, rồi mổ bụng của nó ra!

Trần Canh nói như vậy, mọi người đều hiểu. Đó chính là ông muốn nói đến Ngưu Nguyên Phong, sư trưởng sư một lẻ chín của địch.

Trần Canh lại nói:

— Đoàn mười ba trong cuộc trường chinh, sau khi đánh trận Lâu Sơn Quán, thì vẫn luôn làm hậu vệ, để yểm trợ toàn quân. Lần này tôi đã giành được nhiệm vụ nặng nề, đánh trận đầu, và chận lấy đầu "bò" mà đánh. Nhưng có điều là, mọi người đừng quá hăng say giết địch, mà cần phải chú ý tới chính trị. Ở đây có hai khẩu hiệu mà mọi người đều phải nhớ: một câu là "Đối đãi rộng rãi với Đông Bắc quân", và một câu nữa là "Hoan nghênh Đông Bắc quân quay súng lại bắn Nhật Bản".

Lời nói của Trần Canh làm cho mọi người thấy khó hiểu. Cho nên tiếng nói của ông vừa dứt, thì có một viên tiểu đoàn trưởng buột miệng hỏi:

— Đây là chúng ta đi đánh giặc hay là đi dán khẩu hiệu vậy?

Trần Canh nghiêm sắc mặt, đáp:

— Thế nào? Đánh giặc thì không có thời giờ dán khẩu hiệu sao? Đây là vừa đánh giặc vừa dán khẩu hiệu. Các anh la to khẩu hiệu lên để cho họ buông súng xuống, thì phải là có tài hơn bắn họ không? Mọi người đừng quên quê hương của kẻ thù chúng ta hiện nay đang bị Nhật Bản chiếm đóng!

Người tiểu đoàn trưởng vừa rồi dùng tay đấm vào đầu của mình một đấm, trách đầu óc của mình quá "giản đơn".

Tối ngày hai mươi tháng mười một, phương diện quân ra lệnh: Các bộ đội theo hướng đã chỉ định để bôn tập (tiến quân bằng lối chạy) để tiến lên. Đến sáng sớm thì phải bao vây Trực La Trấn.

Bộ đội đã tích lũy nhuệ khí từ lâu, nên bảo chạy là họ chạy. Mệnh lệnh bôn tập ban ra, là họ chạy tới ào ào. Như vậy, thật là khổ cho Trần Canh. Vì ông ta vừa chỏi gậy vừa chạy trong đêm, chắc chắn không làm sao chạy kịp các anh lính trẻ. Dần dần, sở chỉ huy của đoàn đã cách xa bộ đội. Trong khi đó, giữa Trần Canh và các thành viên trong chỉ huy sở cũng cách xa nhau. Âu Chí Phú trông thấy vậy, không khỏi cuống quít, nghĩ tới lời dặn của Tá Quyền, ra lệnh cho cảnh vệ viên cõng đoàn trưởng mà chạy. Trần Canh cũng sợ làm trở ngại cho việc chỉ huy, nên đành phải để cho hai cảnh vệ viên luân phiên nhau cõng mình. Sau đó, ông lại phải ngồi cáng, như vậy mới theo kịp bộ đội.

Sau một đêm bôn tập, đoàn mười ba đã đến được vị trí chỉ định đúng giờ, và đã bao vây quân địch kín mít, dù có cánh cũng không bay thoát được. Trận chiến đấu này chỉ diễn ra hai tiếng đồng hồ, là binh lực của Ngưu Nguyên Phong cơ bản đã bị tiêu diệt. Ngưu Nguyên Phong dẫn hơn một tiểu đoàn tàn binh, chạy về phía những đồi đất chập chùng. Hồng quân chiếm lĩnh Trực La Trấn thì Châu Ân Lai tới quan sát trận địa. Ông nhiệt tình hỏi thăm Trần Canh và chúc mừng sự thắng lợi, rồi sau đó mới hỏi kỹ tình huống tác chiến. Trần Canh cố ý nói:

— Các bé và tôm tép thì bắt không ít, nhưng còn "bò" thì không bắt được, vậy đồng chí hãy cho phép đoàn của chúng tôi tiếp tục đi giết "bò"!

Châu Ân Lai tươi cười đáp:

— Đồng chí sao lại tỏ ra "hiếu chiến" đến như vậy? Đồng chí chỉ biết đoàn mười ba giỏi đánh sáp lá cà, và đã giành được mỹ danh là "Hầu tử binh" (binh con khỉ), chạy bộ để đánh viện binh địch rất giỏi. Vậy các đồng chí hãy tiến quân về phía Trương Gia Loan, để tiêu diệt viện binh địch thì tốt hơn!

Nghe Châu Ân Lai nói thế. Trần Canh cũng không tiện nài nỉ. Chuyện binh không thể chậm trễ, Trần Canh bèn ra lệnh thu gom bộ đội, rồi nhắm hướng Tây kéo đi. Trên đường, bộ đội của ông đã phối hợp với các bộ đội bạn, tiêu diệt viện binh địch, khiến cho kế hoạch bao vây tấn công của địch bị đập tan. Âm mưu tiêu diệt Hồng quân của Tưởng Giới Thạch xem như không thực hiện được.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #125 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:25:45 am »


Trong trận tác chiến tại Trực La Trấn, Trần Canh lại bị thương lần thứ ba. Ngón tay cái của ông đã bị một viên đạn bắn vỡ.

Sau khi chiến tranh kháng Nhật bùng nổ, Trần Canh chỉ huy lữ 386 thuộc sư 128, theo đại quân vào chiến trường Sơn Tây, để triển khai chiến tranh du kích, xây dựng căn cứ địa kháng Nhật. Dựa vào dãy núi Thái Hành Sơn, trong chiến tranh kháng Nhật, Trần Canh với sự dũng cảm và trí khôn ngoan của mình, chẳng khác gì một vị thần cầm giáo để chiến đấu cho dân tộc. Ông vừa đi, vừa đánh, xuất quỷ nhập thần, trước mặt quân xâm lược Nhật, ông là một tướng quân "hiếu chiến". Ông luôn nói: "Nếu ngày nào không đánh giặc, thì tôi đứng ngôi không yên, bực bội khó chịu". Đúng vậy, trong thời gian kháng chiến chống Nhật, ông đá dẫn bộ đội đi vòng khắp cả một vùng đất rộng rãi, thuộc khu Tấn Ký Lỗ Dư (tức các tỉnh Sơn Tây, Hà Bắc, Sơn Đông, và Hà Nam). Đâu đâu cũng để lại dấu chân chinh chiến của ông. Trong chiến tranh kháng Nhật, ông rất sở trường về lối đánh du kích. Đối với chiến thuật du kích, ông có một sự lý giải rất sâu. Ông nói: "Thực chất của du kích chiến, chính là mạnh dạn tiến thẳng tới trước, mạnh dạn rút lui ra sau. Có khi đi đại lộ, có khi đi tiếu lộ, có khi phân tán, có lúc tập trung, phải vừa đi vừa đánh. Nếu đi mà không đánh, thì sẽ bị đối phương đánh mình".

Chính ông có sự lý giải sâu sắc về du kích chiến, nên mới chỉ huy được bộ đội của mình, đánh thắng từ trận này đến trận khác.

Sau đây là mấy trận đánh điển hình của ông:

Trận đánh thứ nhất: Vào tháng mười năm 1939, quân Nhật tiến vào Kỳ Khẩu, và uy hiếp Nương Tử Quan, tình hình rất nguy cấp. Trần Canh bèn chỉ huy lữ ba tám sáu để tăng viện cho Nương Tử Quan. Ngày hai mươi mốt tháng mười, ông chỉ huy bộ đội của mình đánh vu hồi ngày đêm với địch ở vùng Tỉnh Hình, Trường Sinh. Với trận đầu tiên ông chỉ huy lữ ba tám sáu, đánh thắng Nhật, tiêu diệt được một trung đội công binh. Việc thắng lợi này có một ý nghĩa cổ vũ lớn đối với bộ đội, nhưng Trần Canh nhận thấy bộ đội hành quân ban đêm không thật yên lặng, động tác du kích còn bỡ ngỡ, và không dám sử dụng binh lực lớn, ông bèn nói với bộ đội của mình, yêu cầu cấp dưới phải giữ đầu óc cho tỉnh táo, chú ý tổng kết kinh nghiệm, sau khi đánh thắng một trận, thì phải tiến bộ một bậc.

Sau một thời gian ngắn tiến hành du kích trinh sát, tìm hiểu địch tình, địa hình, đường đi, những điều cơ bản đã nắm rõ, bộ đội cũng được thể nghiệm chiến đấu bước đầu. Lúc đó, quân Nhật cho một cánh quân tiến theo đường sắt Chính Thái để tiến công về phía Nam, với ý đồ sẽ đánh vu hồi về phía Tây và thọc thẳng vào Bình Định, rồi theo chính diện đánh hạ Nương Tử Quan, cắt đứt đường rút lui về Nương Tử Quan của Hồng quân. Lưu Bá Thừa, Trần Canh đều biết rõ ý đồ của địch, nên quyết định cho mai phục tại vùng núi gần con đường phải đi qua, là Thất Hằng Thôn, chờ tập kích địch.

Kết quả, Trần Canh đã chỉ huy bộ đội của mình, với binh lực một tiểu đoàn đã tiêu diệt địch hơn bốn trăm tên, bắt được hơn bốn trăm lừa, ngựa, và nhiều quân trang quân dụng khác. Qua thực tiễn chứng minh, chiến tranh du kích là có thể thực hiện được.

Trận đánh thứ hai: Vào tháng hai năm 1938, quân Nhật bắt đầu tấn công vào đoạn phía Nam của con đường Đồng Bồ. Trần Canh phụng mệnh giao nhiệm vụ đánh du kích ở đường Chính Thái cho đơn vị bạn, rồi dẫn lữ ba tám sáu vào phía Đông Nam tỉnh Sơn Tây để tác chiến. Tháng ba, sư trưởng Lưu Bá Thừa vận dụng cách đánh "công kỳ sở cứu, tiêm kỳ cứu giả" (đánh vào chỗ địch phải tự cứu, rồi tiêu diệt quân tới cứu viện) trong Tôn Tử Binh Pháp, quyết định tập kích Lê Thành, để hấp dẫn quân địch từ hai mặt Lô Thành và Thiệp Cụ đến cứu viện, rồi đặt mai phục tiêu diệt chúng. Lưu Bá Thừa ra lệnh cho lữ ba tám sáu đảm nhiệm việc tiêu diệt địch. Trần Canh quyết định đặt ổ mai phục tại Thần Đầu Lĩnh. Qua quan sát, Trần Canh thấy công lộ này từ trên đầu núi thông qua, không tiện chiếm những địa thế cao để tấn công xuống. Do vậy, Trần Canh dũng cảm quyết định lợi dụng những công sự cũ hai bên đường lộ, rồi ngụy trang thật khéo làm cho địch không thể tưởng tượng được là ta có thể phục kích quá gần chúng. Có người lo ngại làm như vậy rất nguy hiểm. Nhưng Trần Canh nói khôi hài rằng:

— Đánh giặc thì ít nhiều phải mạo hiểm chứ! Có những lúc không thể mạo hiểm, nhưng có những lúc nhất định không mạo hiểm thì không được. "Không thành kế" của Gia Cát Lượng không phải mạo hiểm đấy sao? Nếu ông ta không dám mạo hiểm, thì chỉ còn có nước làm tù binh của Tư Mã Ý, và ngày nay mình đâu có những tuồng hát hay đó để xem?

Bộ đội mai phục trong công sự rất kín đáo, Trần Canh nói với các chiến sĩ:

— Cho dù vó ngựa của địch có giẫm lên bàn tay mình, nhưng chúng không phát hiện mình, thì cũng không được cử động. Điều đó thật chẳng khác nào đánh lộn trên một cây cầu độc mộc - tay nhanh đánh tay chậm. Chỉ cần chúng ta ngụy trang khéo thì sẽ phát huy được tính bất ngờ của nó.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #126 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:26:24 am »


Sáng sớm ngày mười sáu tháng ba, cuộc chiến bùng nổ tại Lê Thành. Từ Lộ Thành có một nghìn năm trăm quân địch, theo đường vượt qua Thần Đầu Lĩnh để tới tiếp viện. Tuy chúng có lục soát hai bên đường, nhưng lại không phát hiện được quân mai phục bên dưới lỗ mũi của chúng. Hồng quân chỉ một tiếng ra lệnh, đồng loạt nổ súng, khiến quân Nhật người ngựa ngã lăn. Chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ, cuộc chiến đã được giải quyết xong. Đúng là một trận đánh phục kích gọn gàng hết sức. Qua cuộc phục kích nhanh như điện chớp đó, làm cho quân Nhật tan hồn lạc phách, hết sức kinh hoàng. Sau đó, chúng còn bảo trận chiến đấu ấy là "một trận đánh du kích điển hình".

Cứ mỗi lần có nhiệm vụ chiến đấu, Trần Canh bao giờ tinh thần cũng sung mãn, chỉ huy chiến đấu giữa trận chiến, và tâm hồn ông luôn rất vui vẻ. Ông đã ghi lại trong nhật ký của mình những chuyện xảy ra và những cảm xúc của mình trong nhiều trận chiến đấu. Như ngày mười lăm tháng ba, ông đã ghi lại cảnh tượng hành quân giữa đêm tối rất sinh động như sau: "Chín giờ tối thì bắt đầu đụng địch. Mọi người rất phấn khởi, tâm trạng đều hăng hái. Tất cả ai ai cũng quyết tâm chiến thắng. Trăng sáng treo trên đầu, chiếu rọi vạn vật như ban ngày, chừng như nó chuẩn bị để phục vụ cho cuộc hành quân đêm của quân ta. Ban đêm hành quân rất yên lặng, không nghe có tiếng nói xầm xì, cũng như không nghe có tiếng ho, mà chỉ nghe tiếng của chân bước, tiếng vó ngựa đạp trên sỏi đá, và tiếng thở hào hển khi vượt lên núi. Đây là một đoàn anh hùng dân tộc, không kể mệt nhọc, chuẩn bị hy sinh một cách oanh liệt, bôn tập ra tiền tuyến để diệt giặc Nhật”.

Sau đó khá lâu, khi đề cập đến lần đánh này, Trần Canh còn vui vẻ nói:

— Trận đánh này bộ đội phục kích thật tuyệt vời. Trước đó bá tánh quanh vùng cũng hoàn toàn không hay biết. Nếu nhìn thấy cảnh tượng hùng tráng lúc bấy giờ, mới hình dung được trận đánh oanh liệt như thế nào. Sau một tiếng kèn lệnh, binh sĩ bỗng ào ra, khiến cho bọn xâm lược không trở tay kịp. Chỉ trong vòng bốn tiếng đồng hồ, là kết thúc trận đánh. Trên chiến trường xác giặc nằm ngổn ngang khắp núi đồi. Có những xác bị lưỡi lê đâm thủng ngực, có những xác đầu bị thủng to, toàn là do lựu đạn đã sát thương. Trận đánh này, địch phải dùng hơn một trăm chiếc xe hơi để chở xác suốt hai ngày mới hết.

Trận đánh thứ ba: vào ngày ba mươi mốt tháng ba năm 1938, tức sau trận đánh Thần Đầu Lĩnh nửa tháng, Trần Canh lại dẫn bộ đội tinh nhuệ của mình, đến phục kích tại Đường Phố, nằm giữa Lê Thành và Thiệp Huyện, để chận đánh đoàn xe vận tải của Nhật.

Sáng sớm ngày ba mươi mốt tháng ba, hai đội xe vận tải của Nhật, gồm một trăm lẻ tám chiếc chở bộ đội yểm trợ một trăm bảy chục người từ Lê Thành vượt qua Đông Dương Quan chạy tới. Do đoàn xe chạy dưới đáy hố, và vượt qua bãi cát, mặt đường không vững chắc, nên chúng phải bò từ từ. Chờ cho cả đoàn xe của địch lọt trọn vào ổ phục kích, Trần Canh mới xuống lệnh nổ súng. Tức thì, tiếng súng cối, tiếng súng máy, súng bộ binh cùng nổ giòn, tạo thành một hỏa lực trùm kín cả đoàn xe địch. Sau đó, các chiến sĩ lại nhảy phóc lên xe đánh giáp lá cà với địch. Tay chân của chiến sĩ ta đều nhanh nhẹn, còn địch bị phục kích bất ngờ nên đang lúng túng hốt hoảng. Có một chiến sĩ đang vật lộn với địch, vũ khí trên tay bị rơi xuống đất, nhưng lúc đó không thể buông bỏ tên địch được. Anh này bèn dùng răng của mình cắn lấy mặt tên địch, và khi tên địch quá đau đớn, anh liền dùng tay bóp cổ giết chết nó, còn mình thì bị gãy hết ba chiếc răng cửa!

Sau hai tiếng đồng hồ kịch chiến, hơn một trăm bảy mươi tên địch đi trên xe, ngoài ba mươi tên thừa sơ hở theo đường cái chạy về núi đồi ở phía Nam thoát chết, còn tất cả đều bị tiêu diệt. Một trăm tám mươi xe hơi đều bị thiêu hủy.

Trong khi cuộc chiến đang xảy ra, thì Chu Đức, Bành Đức Hoài cố tình mời một số sĩ quan cao cấp của Quốc dân đảng đến xem trận đánh. Trận đánh tuyệt đẹp này, đã làm cho các tướng lãnh cao cấp của Quốc dân đảng, đối với chiến thuật đánh du kích của Bát Lộ Quân, đều khen ngợi không tiếc lời.

Hơn một năm sau đó, bộ đội của Trần Canh đã đánh vòng quanh theo các tuyến đường Bình Hán và Đạo Thanh. Đối với những con đường bị địch ngụy khống chế, ông đã liên tiếp giáng cho chúng nhiều trận đích đáng, khiến địch bị hao quân tổn tướng, phối hợp với chiến trường chính diện, mở được căn cứ địa dân chủ kháng Nhật ở hậu phương dịch. Ông còn đánh vòng qua phía Tây Bắc Sơn Đông và bình nguyên phía Nam Hà Bắc. Tại Hương Thành thuộc Uy huyện, ông dụ được đoàn xe cơ động mô tô gồm một trung đội của Nhật để tiêu diệt. Và sáng tạo được lối đánh phục kích và dụ địch rất đẹp.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #127 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:27:11 am »


Kể từ khi lữ ba tám sáu của Trần Canh tiến vào chiến trường kháng Nhật, đã liên tiếp đánh thắng quân địch, trở thành cây đinh trước mắt của chúng. Chúng vừa sợ, vừa căm ghét người đối thủ này. Cho nên, có nhiều lúc chúng tìm Bát Lộ Quân để càn quét phục thù. Nhưng chỉ chuyên chú tìm lữ ba tám sáu để diệt. Cho dù có những cánh quân khác của Trung Quốc ở gần đấy chúng cũng không thèm để ý. Lữ ba tám sáu đi thẳng tới một địa điểm nào đó đóng quân, thì qua ngày hôm sau, giặc Nhật, liền cho máy bay tới oanh tạc, rồi lại pháo kích và bao vây tấn công. Trên xe thiết giáp của chúng, có dán khẩu hiệu "chuyên đánh lữ ba tám sáu". Nhưng mỗi lần địch tấn công, chúng đều chụp hụt vào khoảng trống. Vì quân ta tuy đi bộ, nhưng lại dám đua nhau với cơ giới. Mỗi lần đến một địa phương đóng quân, thì ngay đêm đó, liền di chuyển đi nơi khác. Cho nên, giặc Nhật vẫn không làm sao chụp được lữ ba tám sáu, mà chỉ có căm hận rồi đi trở về thôi.

Trận đánh thứ tư:

— Sau cuộc đại chiến Bách Đoàn, quân địch càng mở nhiều cuộc càn quét vào căn cứ địa du kích. Chỉ trong năm 1942, địch đã phát động ba lần càn quét đại quy mô vào khu Thái Nhạc, và xây dựng một "khu thực nghiệm Tảo Công Sơn Nhạc", dụ những quần chúng từ căn cứ địa ra để "duy trì".

Đảng ủy khu Thái Nhạc và quân khu Thái Nhạc dựa vào tình hình mới của giặc, và căn cứ tình hình khó khăn của địa phương, định ra phương châm chiến đấu lâu dài, tức toàn diện phát động quần chúng, lấy đấu tranh quân sự làm chính, bao vây trường kỳ quân địch, để cho chúng phải mệt mỏi, phải bị tiêu hao rồi bị kiệt sức mà chết.

Trần Canh đã nhiều lần thâm nhập vào tuyến thứ nhất khu bao vây địch, để điều tra với cán bộ, chiến sĩ và quần chúng về tình hình trong lúc quân ta bao vây, xem có khó khăn gì, có vấn đề gì. Ông nói một cách hình tượng rằng: bao vây lâu dài quân địch, là một sự so tài xem ai ngoan cường hơn ai. Kẻ nào dẻo dai thì kẻ đó sẽ chiến thắng. Kẻ nào ngoan cường nhất, thì kẻ đó sẽ giành được thắng lợi cuối cùng. Ông chỉ rõ "nhiệm vụ của việc bao vây là phong tỏa, cắt đứt, đánh tiêu diệt những toán địch nhỏ, chặn không cho bọn đặc vụ ra vào, tuyệt đường lương thực và nước uống, khiến cho địch có một cọng củi, một cọng rơm, đều phải lấy sinh mạng ra để đổi". Đứng về mặt quân sự, sử dụng lối đánh địa lôi rộng rãi và phát huy lối đánh ban đêm, không ngừng triển khai lối bắn sẻ, hình thành lưới bắn sẻ rộng rãi để giữ chặt địch ở bên trong. Trong cuộc chiến tranh này, quần chúng đã sáng tạo ra nhiều cách đánh du kich, như mùa hè, các tiểu tổ du kích lấy xác mèo, xác chó chết ném vào chân lô cốt của địch, để cho mùi hôi thối xông lên, buộc địch phải ra khỏi lô cốt tìm kiếm, và do đó, dạp phải địa lôi, hoặc bị bắn sẻ mà chết.

Tại Tẩm Nguyên gồm có tám vạn nhân khẩu, được quân địch vây thành chiến lũy không sao hạ được. Nhưng qua thời gian ba mươi tháng đấu tranh bao vây, rốt cuộc quân địch ngày càng mệt mỏi, không thể đi đâu, buộc phải giết chiến mã mà ăn thịt cho đỡ đói. Tháng tư năm 1945, quân địch bắt buộc phải rút khỏi Tẩm Nguyên. Đó là một cuộc bao vây chiến nổi bật nhất trong lịch sử kháng chiến của Trung Quốc, là một khúc hát khải hoàn vang dội của chiến tranh quân dân. Năm đó, Trần Canh đã điều tra và viết quyển nhật ký của mình đến mấy vạn chữ, để lưu lại những trang ghi chép hết sức sinh động về cuộc đấu tranh lạ lùng này. Qua đó, có thể hiểu được những tính toán công phu, những vận trù gian khó trong chỉ huy của quân du kích.

Trong thời kỳ kháng Nhật, Trần Canh đã vận dụng du kích chiến một cách linh hoạt, và sở trường về phục kích để thắng địch. Những trận phục kích chiến của ông bất luận là trận Thất Hằng Thôn, trận Thần Đầu Lĩnh, trận Hương Thành Cố, hay là trận Hàn Lược, đều có một điểm giống nhau, đó là: che giấu được hành động và ý đồ của Hồng quân, chọn được địa hình để phục kích một cách có lợi và chính xác, nắm được quy luật hành động của địch, lợi dụng được tính kiêu ngạo, khinh địch của kẻ thù. Trước khi đánh, ông biết động viên chính trị toàn quân, nói rõ phương pháp tác chiến, để người chỉ huy cấp dưới nắm vững và đánh một cách kiên quyết. Chính nhờ vậy mà Trần Canh mới trở thành là vị thần du kích chiến, làm cho quân Nhật nghe tên phải khiếp đảm.

Tháng bảy năm 1946, Quốc Dân Đảng chính thức mở màn cuộc nội chiến chống Cộng, chống nhân dân, cử đại binh tiến đánh vùng phía Nam tỉnh Sơn Tây là bộ đội của Hồ Tông Nam, tư lệnh trưởng đệ nhất chiến khu của Quốc dân đảng. Hồ Tông Nam là người có nhiều tham vọng, chí to nhưng tài mọn, tính tình sâu độc, nham hiểm, được xem là "tướng quân thường bại trận". Tướng này là đối thủ từ lâu của Trần Canh, nhưng cũng là bại tướng dưới tay của Trần Canh!
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #128 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:27:54 am »


Trong quân đội của Quốc dân đảng, Hồ Tông Nam là lãnh tụ của thái thực lực "Hoàng Phố”, và cũng là cây bài sáng giá cuối cùng của Tưởng Giới Thạch. Ngay từ khi chiến tranh cách mạng trong nước, Hồ Tông Nam còn là học viên khóa một của trường Hoàng Phố, thì đã trở thành kẻ tử thù với Trần Canh. Lúc bấy giờ, Trần Canh thường chỉ trích thẳng thừng những luận điệu phản cách mạng của Hồ Tông Nam. Nay, oan gia lại gặp nhau trên đường hẹp phía Nam Sơn Tây!

Quân đội của Hồ Tông Nam được trang bị toàn bộ bằng vũ khí Mỹ, đặc biệt là đệ nhất lữ của ông ta, xếp theo thứ tự, nó đứng đầu tiên. Nếu xét về trang bị, thì nó được trang bị tốt nhất của Mỹ, xét về huấn luyện, thì nó cũng là một lữ đoàn được huấn luyện kỹ càng nhất. Lữ trưởng của đệ nhất lữ là trung tướng Huỳnh Chánh Thành, người có quân hàm cao nhất trong cấp sĩ quan chỉ huy lữ đoàn. Tướng này từng được tu nghiệp tại trường quân sự của Hítle. Lữ đoàn này rất kiêu ngạo, trên đường hành quân, bộ đội của các tướng khác nếu gặp nó thì cũng phải nhanh nhẹn nhường đường cho nó đi. Hồ Tông Nam rất kiêu hãnh bởi lữ đoàn này, và gọi nó là "Thiên hạ đệ nhất lữ".

Tháng tám năm 1946, Hồ Tông Nam sử dụng lữ đoàn số một của hắn để tiến vào phía Nam Sơn Tây, muốn từ đó tiến lên khu Thái Nhạc ở phía Bắc. Nhắm đúng vào hướng di động của địch, và căn cứ vào chỉ thị của quân ủy trung ương, vị tư lệnh quân khu Thái Nhạc lúc bấy giờ là Trần Canh, đã có sự bố trí như sau: tại vùng giữa Lâm Phàn và Phù Sơn, ông đã lựa sẵn chiến trường, lấy một bộ phận binh lực giả vờ tấn công kẻ địch ở Phù Sơn, còn chủ lực thì che giấu tập kết nơi phía Bắc công lộ Phù Sơn, có địa hình tương đối bằng phẳng và rộng rãi, một địa điểm kẻ địch hoàn toàn không ngờ, để hấp dẫn đệ nhất lữ yên tâm xua quân đi Phù Sơn tăng viện, rồi dùng vận động chiến tiêu diệt nó.

Trung tuần tháng chín, chủ lực của Hồ Tông Nam đến vùng Lâm Phần, và đã ngoan ngoãn đi vào túi phục kích của hồng quân. Đúng như Trần Canh dự liệu trước: địch thấy tình hình không hay, sẽ tức khắc phái đệ nhất lữ theo đường sắt Lâm Phù đi tiếp viện. Đoàn hai của lữ này, tiến lên vùng Quan Tước với sát khí đằng đằng, và bị bộ đội của Trần Canh bám lấy.

Trần Canh đã hạ quyết tâm từ lâu, phải đánh lữ đoàn số một của địch. Ông đã tiến hành việc bố trí một cách táo bạo, dùng hai lữ do Châu Hy Hán và Lý Thành Phương chỉ huy, để bao vây tiêu diệt lữ đoàn này. Đó là cách đánh tập trung ưu thế tuyệt đối của Mao Trạch Đông đã đề ra (dùng binh lực gấp đôi, gấp ba, gấp bốn, thậm chí có lúc gấp năm hoặc gấp sáu để tiêu diệt địch). Như vậy, hồng quân đã dũng cảm phát động cuộc bao vây tiêu diệt "Thiên hạ đệ nhất lữ", trong chiến dịch Lâm Phù.

Chỉ trong vòng một ngày một đêm, trận đánh tại Lâm Phù đã tiêu diệt được toàn bộ chủ lực lữ đoàn một của địch, và gây tổn thất nặng cho lữ 27 và lữ 167 của chúng. Trong trận đánh này, đã giết được hơn hai nghìn tên địch, bắt sống hai nghìn năm trăm tên. Con số địch chết cũng như con số địch bị bắt sống gần như cũng tương đương nhau. Đó là một trận đánh hiếm thấy trong chiến tranh giải phóng. Qua trận đánh này cũng thấy được sức chiến đấu mánh liệt cũng như sức chống cự ngoan cường của địch, nhưng cũng chứng minh được Hồng quân là một đạo quân anh dũng, không có sức mạnh nào mà không đập tan. Cho dù đó là một đạo quân "tinh nhuệ" như lữ đoàn một, thường tự xưng là "Thiên hạ đệ nhất quân" cũng không thoát khỏi số phận bị tiêu diệt của nó.

Sau đó rất lâu, viên lữ trưởng lữ 13 của Trần Canh, trong hồi ức về chiến dịch này có nói: "Đồng chí Trần Canh hoàn toàn nắm được tình huống của kẻ địch, nắm được quy luật hành động của Hồ Tông Nam. Trận đánh này đối với việc phân tích địch tình là hoàn toàn đúng đắn. Lúc đó đã tiên đoán một khi nổ súng tại Quan Tước, thì địch có thể từ hai nơi kéo tới chi viện. Do vậy, Trần Canh ra lệnh cho lữ 13 chận đánh quân tiếp viện ở phía Đông, và bảo tôi phải giữ vững trận địa được mấy ngày, để cho lữ 11 tiêu diệt địch tại Quan Tước. Riêng lữ 10 thì đánh viện binh ở phía Tây, tiêu diệt toàn bộ lữ đoàn một và một đoàn của nó. Trong vận động sẽ giải quyết gọn chủ lực của địch. Trận đánh này khá lý tưởng, đánh thật ngoạn mục, tiêu diệt triệt để cánh quân địch mà chúng thường rêu rao là "đệ nhất trong đời".

Trận đánh tiêu diệt toàn bộ "Thiên hạ đệ nhất lữ" này, chính là Trần Canh dựa vào chỉ thị của Mao Trạch Đông, lấy việc tiêu diệt sinh lực địch làm mục tiêu chính, không kể đến việc được hay mất một ngôi thành, một vùng đất. Phải mạnh dạn sử dụng binh lực địch là chính. Trước sự tấn công điên cuồng của địch, ba mặt đều bị địch tiến công, thế mà Trần Canh đã biết lợi dụng sự mâu thuẫn giữa Hồ Tông Nam và Diêm Tích Sơn, dùng vận động chiến kết hợp với du kích chiến tranh, chỉ huy bộ đội chiến đấu một cách thích hợp, để đạt đến kết quả thắng lợi hoàn toàn.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #129 vào lúc: 04 Tháng Sáu, 2023, 06:29:42 am »


Mở đầu cuộc chiến tranh giải phóng được ba tháng, Trần Canh đã giành được thắng lợi qua các chiến dịch Văn Hạ, Đồng Bồ, Lâm Phù ở tại phía Nam tỉnh Sơn Tây. Cứ một tháng là ông đánh thắng một trận, và mỗi trận thắng đều có tác dụng dập tắt ngọn lửa hung hăng của địch, nêu cao uy phong của hồng quân, và cũng bộc lộ hoàn toàn tài năng chỉ huy xuất sắc của Trần Canh.

Ngày hai mươi sáu tháng chín, báo "Giải phóng" ở Diên An, đã viết một bài xã luận ca ngợi tung đội Thái Nhạc, và đã đánh giá cao mấy trận thắng lợi nói trên. Xã luận viết: "Tung đội Thái Nhạc thắng từ trận này đến trận khác, không phải là ngẫu nhiên. Nguyên nhân thứ nhất là do tung đội này có sự gắn liền máu thịt với nhân dân địa phương... Nguyên nhân thứ hai là tung đội Thái Nhạc có những chiến đấu viên trầm tĩnh và kiên định, anh dũng lại thiện chí... Nguyên nhân thứ ba là do Trần Canh và Vương Tận Đình là hai tướng chỉ huy giỏi, biết tác chiến cơ động, không chú ý đến chuyện được hay mất một thành phố, mà chuyên tâm tiêu diệt sinh lực của địa phương, giỏi đánh vào chỗ không ngờ của địch, đánh vào chỗ không đề phòng của địch".

Đêm ba mươi tháng sáu năm 1947, đại quân của Lưu Đặng đã vượt sông Hoàng Hà, đập tan thần thoại "địa hình hiểm yếu thiên nhiên của Hoàng Hà, cũng bằng với bốn mươi vạn đại quân" của Tưởng Giới Thạch rêu rao, mở màn cho quân giải phóng nhân dân tiến công về phía Nam. Để phối hợp tác chiến với quân của Lưu Đặng, Trung ương quyết định phái Trần Canh vượt sông Hoàng Hà, tiến về phía Nam. Đại quân của Lưu Đặng đánh thốc vào Đại Biệt Sơn, là đã chém vào giữa ngực của Tưởng Giới Thạch một dao. Trần Canh vượt qua sông Hoàng Hà tiến về phía Nam, thọc thẳng vào phía Tây Hà Nam, là đã chém thêm cho hắn một dao nữa. Riêng đội quân của Trần Nghị, Túc Dụ, tiến vào phía Tây Nam Sơn Đông, rồi thọc thẳng vào phía Đông Hà Nam, là chém thêm một dao thứ ba. Cả ba đạo đại quân này, đã hình thành thế chân vạn trên chiến trường, tương trợ với nhau, phối hợp với nhau. Họ đã mở cuộc tấn công đại quy mô với địch trên một chiến trường rộng lớn mà phía Nam là Trường Giang, phía Bắc là Hoàng Hà, phía Tây là Hán Thủy, và phía Đông là Hoàng Hải.

Trần Canh sau khi nhận được nhiệm vụ trên giao, liền thảo kế hoạch quân sự để vượt sông Hoàng Hà, tiến thẳng về phía Tây sông Hà Nam.

Trong khi bộ đội chuẩn bị vượt sông, thì mực nước sông Hoàng Hà bỗng thay đổi một cách đột ngột. Mực nước sông dâng lên cao hai ba trượng. Trần Canh được tin này, trong lòng rất lo lắng, bèn phái khoa trưởng tình báo của bộ tư lệnh quân đội đến bờ sông Hoàng Hà theo dõi tình hình. Nơi mà Hồng quân chọn để làm điểm vượt sông là Sơn Hiệp. Ở đây sông hẹp nước chảy rất xiết. Bọn quân lính thủ ở phía Bắc sông Hoàng Hà, kể từ khi bộ đội Lưu Đặng tiến xuống phía Nam, thì chúng cấp tốc chỉnh đốn công sự, và đặt hệ thống điện thoại đến các thôn xóm. Chúng tập trung tất cả ghe thuyền để vượt sông, đốt sạch, rồi ra lệnh cho binh sĩ ngày đêm phòng thủ trên bờ sông. Chúng còn bắt ép nhân dân phía Nam sông Hoàng Hà phải tổ chức đội phòng sông, và đội theo dõi mực nước. Có những địa phương chúng còn tập trung tất cả chó lại, để theo với binh sĩ đi tuần rõn, được dân chúng gọi một cách khinh miệt là "binh chó". Sự cảnh giới của địch rõ ràng đang tăng cường. Công cụ vượt sông của binh đoàn do Trần Canh chỉ huy chỉ có cách đốn gỗ đóng thuyền nhỏ để vượt sông. Nước sông đang dâng cao, chảy thật xiết, khó bề vượt qua được nhanh nhẹn. Sau khi phân tích tình hình này, Trần Canh quyết định phải hạ quyết tâm vượt sông mà không để cho quân địch được biết. Ngày mười hai tháng tám, Trần Canh dẫn những binh sĩ giỏi rời khỏi vùng phía Nam Hà Nam, nơi mà họ đã chiến đấu đẫm máu với địch, tiến về phía bờ sông Hoàng Hà.

Trên đường hành quân của bộ đội, gặp phải mùa mưa liên miên. Trong sơn cốc đâu đâu cũng thấy mây mù che phủ, nước lũ tràn ngập. Bộ đội đi trên đường mòn giữa núi đầy bùn sình, các chiến sĩ ai ai cũng ướt đẫm bởi những trận mưa nối tiếp nhau. Đến đêm, khắp trên đỉnh núi, bên đường mòn, bên thôn ấp, đâu đâu cũng thấy những đống lửa đốt lên để hơ quần áo. Giữa đêm khuya, nếu từ xa nhìn thấy lửa sáng từng đốm một, trông chẳng khác gì một thế giới thần thoại.

Giữa khuya ngày hai mươi hai tháng tám, dưới sự che chở của màn đêm, bộ đội đã đến mấy bến thuyền nằm giữa phía Tây Tế Nguyên, và phía Đông Bình Lục để vượt sông. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, họ đá phá vỡ sự nguy hiểm thiên nhiên của sông Hoàng Hà, để đổ bộ lên bờ Nam. Do thuyền bè thiếu, nên chiến sĩ và dân công đã dùng vải đầu, kết hợp với rơm và bông gòn, để tạo thành những chiếc bè có chiều dài chín mét, trông như một cái ống, để liên kết lại với nhau thành một chiếc bè to, giống như một con rồng dài, để chở bộ đội vượt sông. Hình ảnh này thực chẳng khác gì một toán binh thần, từ trên trời sa xuống, đánh địch không kịp trở tay. Qua vụ vượt sông của Trần Canh, chẳng khác nào đâm bồi thêm vào tim của Tưởng Giới Thạch một nhát dao nữa. Cuộc vượt sông này, đã làm chấn động dư luận hai bên bờ sông Hoàng Hà, nên nhân dân đã có lời truyền tụng: "Trần tướng quân cưỡi rồng vượt sông", chẳng khác gì một câu chuyện thần thoại.

Nhân dân trong vùng sau đó cứ thêm nhân thêm nhụy để mô tả câu chuyện thần thoại này:

"Hôm đó trời tối, Trần tướng quân dẫn mười vạn đại quân vừa tới bờ sông, thì bỗng mây đen kéo tới, gió to thổi ào ào, cát đá trên bãi sông đều bị gió cuốn bay, nước sông gào thét như sấm động. Tức thì thấy có một con giao long màu vàng, từ giữa sóng dữ nổi lên, hướng về phía Trần tướng quân vẫy đuôi gật đầu, gầm to ba tiếng, ngỏ ý kính nể. Trần tướng quân bèn hạ lệnh, tức thì mười vạn binh hùng của ông nhảy lên lưng con rồng, và con rồng khổng lồ này đã bay bổng lên mây, chở toàn bộ binh sĩ của Trần tướng quân vượt sông, sang bờ phía Nam. Cảnh tượng này làm cho quân Tưởng đóng giữ bờ phía Nam kinh ngạc đến trố mắt, và tất cả đều bị bắt sống làm tù binh".

Câu chuyện thần thoại này sở dĩ truyền mãi về sau là do nhân dân đã bị quân Tưởng Giới Thạch áp chế quá lâu, trong lòng luôn ao ước được giải thoát, nên đã có sức tưởng tượng phong phú như thế. Câu chuyện này phản ánh sự kính nể, yêu mến của nhân dân đối với Trần tướng quân, người đã bao phen lập chiến công hiển hách.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM