Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 18 Tháng Năm, 2024, 09:02:40 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Mười vị đại tướng Trung Quốc - Những điều chưa biết - Tập 1  (Đọc 5292 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #10 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2023, 09:12:08 am »


Sau khi căn cứ địa phía Tây Nam Triết Giang bị mất, kẻ địch đã chiếm đóng các thành phố chủ yếu và đường giao thông chính trong khu vực này. Lưu Anh không cần biết tình hình thực tế không cho phép, mà ép Túc Dụ dẫn sư đoàn mũi nhọn đi khôi phục lại căn cứ địa đã mất. Túc Dụ dẫn bộ đội đến vùng ngoại vi căn cứ địa, và sau khi cho trinh sát tìm hiểu địch tình, thấy rằng nếu bộ đội đi vào khu vực mà kẻ thù đang mai phục, và sẵn sàng bao vây, thì chỉ là một con đường chết. Do vậy, Túc Dụ không chấp hành mệnh lệnh của Lưu Anh, mặc dù Lưu Anh đã lấy mệnh lệnh của tỉnh ủy để chỉ đạo. Từ đó, Lưa Anh càng không ưa Túc Dụ, và đã công khai hóa sự chia rẽ trong ý kiến lãnh đạo của nơi này.

Giữa hai căn cứ phía Nam Triết Giang và phía Đông Phúc Kiến, cũng tồn tại một sự mâu thuẫn. Lưu Anh muốn thống nhất căn cứ phía Đông tỉnh Phúc Kiến, nên ra lệnh cho Diệp Phi dẫn bộ đội rời khỏi căn cứ phía Đông Phúc Kiến, để đến phía Tây Triết Giang, tiến hành đánh du kích. Diệp Phi cho rằng nếu bộ đội rời khỏi căn cứ địa, thì Phúc Kiến sẽ không giữ được, đồng thời, nếu bộ đội rời khỏi quần chúng, thì như cá rời khỏi nước, khó mà sinh tồn. Do vậy, Diệp Phi khống muốn chấp hành chỉ thị của Lưu Anh, làm cho Lưu Anh rất tức giận, cho là Diệp Phi chống lãnh đạo, nên ra lệnh cho Túc Dụ bắt Diệp Phi.

Lúc bấy giờ Túc Dụ đang chỉ huy bộ đội đánh giặc, khi nhận được mệnh lệnh của Lưu Anh, không biết chân tướng của sự việc này ra sao. Mặc dù trong lòng Túc Dụ cảm thấy thật khó hiểu đối với việc bắt Diệp Phi, nhưng khi đã nhận được mệnh lệnh, thì phải chấp hành. Túc Dụ mời Diệp Phi tới gặp mình. Diệp Phi rất vui vẻ, vì đây là một cơ hội để gặp Túc Dụ, cùng nhau bàn bạc, đánh giá tỉnh ủy lâm thời là thế nào. Cho nên Diệp Phi đã dẫn một trung đội tới gặp Túc Dụ. Đêm hôm đó, Túc Dụ mở tiệc khoản đãi Diệp Phi. Sau ba tuần rượu, Túc Dụ ném ly để làm ám hiệu, tức thì những nhân viên bảo vệ ào ra bắt trói Diệp Phi. Các cảnh vệ của Diệp Phi bèn rút súng chiến đấu, chạy thoát khỏi bữa tiệc, rồi hợp cùng một trung đội theo bảo vệ, kéo trở về căn cứ địa phía Đông Phúc Kiến. Túc Dụ sai người áp giải Diệp Phi tới tỉnh ủy lâm thời.

Số người áp giải Diệp Phi đi nửa đường, gặp phục kích của lính bảo an Quốc Dân Đảng. Giữa lúc cập rập, số binh sĩ áp giải Diệp Phi bèn bắn vào đùi ông ta một phát súng, rồi bỏ ông ta ở đó mà chạy. Diệp Phi chẳng kể gì vết thương, lăn cho mình rơi xuống một cái hố. Cũng may, ông rơi vào chạc ba của một cành cây, nên không bị chết. Sự kiện này đã gây thành một sự chia rẽ to tát giữa hai căn cứ địa. Tại căn cứ du kích phía Tây Nam tỉnh Triết Giang, Lưu Anh cho rằng Túc Dụ tham gia với Diệp Phi để "chia rẽ tỉnh ủy", cho nên mới không bắt Diệp Phi theo lệnh của mình, vậy cần phải tiến hành đấu tranh. Lưu Anh phái một toán binh sĩ canh giữ Túc Dụ, đồng thời mở cuộc đấu tranh nội bộ Đảng. Lúc bấy giờ, rõ ràng căn cứ địa này đứng trước tình hình Đảng và quân đội chia rẽ với nhau, nhưng với Túc Dụ, vì lợi ích của Đảng, đã nén lòng tự nhận mình là "có lỗi", và viết kiểm thảo, mọi việc xem như được giải quyết.

Sau khi đấu tranh xong, Túc Dụ dẫn sư đoàn mũi nhọn của mình đến vùng phía Nam Triết Giang và Giang Nam để hoạt động, còn Lưu Anh thì vẫn kiên trì tại vùng phía Nam Triết Giang. Mặc dù khi đấu tranh với địch, hai lực lượng này đều phải kết hợp với nhau, nhưng trong lòng họ, bóng đen của sự chia rẽ vừa qua vẫn không xóa được. Hai vị lãnh đạo ít khi muốn gặp mặt nhau, khi cần thiết phải gặp, thì đôi bên đều đem theo rất nhiều tùy tùng để tự bảo vệ. Mãi đến cuối năm 1937, qua sự sắp xếp của cấp ủy Đảng cấp trên, hai lực lượng này mới họp nhất lại làm một.

Tại căn cứ du kích ở phía Đông Phúc Kiến, hầu hết các cán bộ và chiến sĩ đều bực tức Lưu Anh, đã tự ý bắt giam lãnh tụ của mình, nên đua nhau chủ trương dùng võ lực để thanh toán. Giữa lúc tình hình đang căng thẳng đó, thì Diệp Phi may mắn thoát được hiểm nguy trở về, và đã khuyên ngăn bộ đội ở căn cứ địa phía Đông Phúc Kiến phải dừng tay. Nhưng, kể từ đó, hai căn cứ địa này không còn hợp tác chặt chẽ với nhau như trước kia. Mãi đến khi quân kháng chiến ngày một đông đảo, phong trào phát triển rộng hơn, họ mới thống nhất trở lại. Mọi sự hiểu lầm đã được xóa đi. Túc Dụ và Diệp Phi cùng nhau cộng tác tại Tân Tứ Quân, và tỏ ra rất vui vẻ với nhau.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #11 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2023, 09:12:41 am »


Trong ba năm đấu tranh lại phía Nam tỉnh Triết Giang, cơ bản là không có sự lãnh đạo của cấp trên, mà cũng không có nơi nương tựa của hậu phương, không có tiếp tế bổ sung quân trang quân dụng. Tình hình khó khăn này, nếu là người không từng trải, thì thật khó mà hình dung ra được. Nhất là lúc nào họ cũng bị quân đội của Quốc Dân Đảng bao vây tấn công, luôn luôn sống trong hoàn cảnh nguy hiểm. Đã mấy lần Túc Dụ suýt nữa bị mất mạng.

Có một lần, Túc Dụ trên đường hành quân bị quân địch bao vây giữa hai con sông. Lúc bấy giờ trời đang mưa to, đường đi hết sức lầy lội, nhất là nước mưa từ trên núi đổ xuống, thành những cơn lũ rất mạnh, khiến dòng sông tràn ngập lên bờ. Phía trước, phía sau, đều bị sông chặn đường. Bên tả, bên hữu, lại có quân địch truy kích. Tình hình hết sức nguy hiểm, chẳng khác nào như chỉ mành treo chuông. Trong tình thế bất đắc dĩ, Túc Dụ phải cùng các binh sĩ chui vào các rừng rậm đầy gai góc để trốn. Bọn lính địch cũng đã đuổi kịp tới nơi, và chia nhau lục tìm chung quanh. Nếu bị kẻ địch phát hiện, thì chỉ có một con đường duy nhất, là cùng chết với chúng mà thôi. Các chiến sĩ đều lên đạn, tuốt dao găm, sẵn sàng để hy sinh trong một trận đánh tuyệt vọng. Trời mưa mỗi lúc mỗi to, đứng trước những lùm mênh mông, bọn lính địch không đủ can đảm xông xáo vào những bụi rậm để lục soát, vì chúng đâu dại chi đem sinh mạng của mình ra để làm trò đùa? Cho nên, chúng chỉ đứng ở ngoài kêu réo quân cách mạng đầu hàng. Nhưng tất cả binh sĩ đều im lặng, sẵn sàng chờ đợi chiến đấu nếu bị chúng phát giác.

Trời mỗi lúc càng tối dần, quân địch do sợ bóng tối, nên cùng rút đi đến cạnh bờ sông để đóng chốt mai phục. Túc Dụ liền âm thầm dẫn chiến sĩ của mình mò ra tới bờ sông, rồi tìm những chỗ địch sơ hở, cùng nhau lội qua sông, thoát khỏi vòng vây của địch.

Lại có một lần, sau khi đánh một trận đối đầu với địch, vì địch đông ta ít, nên bắt buộc phải rút lui. Nhưng quân địch vẫn bám sát theo sau để truy kích. Khi bộ đội tiến vào một khe núi, thì họ nhận ra mình đã lọt vào một địa hình rất nguy hiểm. Vì hai bên khe núi là vách đá cao, không tài nào trèo lên được. Còn đầu kia của khe núi, có một đồn giặc đứng cao sừng sững. Nếu đánh thẳng vào đồn, thì chẳng những sự hy sinh rất lớn, mà cũng chưa chắc có thể hạ được đồn để thoát đi. Cuối cùng, vì quân địch truy kích sát quá, nên Túc Dụ nghĩ ra một kế hay. Do lúc bấy giờ, binh sĩ hồng quân hầu hết đều ăn mặc y phục đoạt được từ quân địch, giữa hồng quân và quân địch chỉ khác nhau ở bên trên chiếc mũ có gắn ngôi sao mà thôi. Do vậy, Túc Dụ ra lệnh cho tất cả binh sĩ đều lột mũ cầm tay, quạt phe phẩy rồi tiếp tục đi tới một cách bình tĩnh. Khi họ đi tới sát cạnh đồn địch, bọn đứng gác trên đồn quả không làm sao ngờ được, chiến sĩ hồng quân lại cả gan bình tĩnh đi vào đồn như thế này, nên hỏi binh sĩ hồng quân là cánh quân nào? Từ đâu tới? Bây giờ muốn đi về đâu? Các chiến sĩ hồng quân bình tĩnh trả lời, và đã giải tỏa mọi sự thắc mắc của quân địch trong đồn. Do vậy, chúng mở cửa đồn cho hồng quân đi thẳng vào bên trong, rồi lại mở cửa sau cho hồng quân bình tĩnh bước ra ngoài. Chờ khi quân truy kích kéo tới nơi, bọn lính trong đồn mới biết mình đã bị lầm mưu của hồng quân. Thế là chúng lại tổ chức một đợt truy kích khác, nhưng hồng quân đã thoát ra khỏi vùng sơn cốc chật hẹp, biến mất giữa núi cao rừng rậm mênh mông rồi.

Lần thứ ba lại càng nguy hiểm hơn. Có một bữa nọ, sau khi hành quân tác chiến liên tục, các binh sĩ đều rất mỏi mệt, nên khi tới một sườn núi, thì họ hạ trại để ngủ. Trước khi ngủ, họ cho đặt nhiều trạm gác xung quanh, nhưng quân địch rất tinh ranh, chúng đã bám sát theo từng bước tiến của hồng quân, và đi vòng qua các trạm gác để vượt lên ngọn núi cao hơn, rồi từ trên đó bắn xuống hồng quân. Cũng may các chiến sĩ hồng quân mặc dù ngủ, nhưng không cởi y phục và vẫn ôm vũ khí trong lòng, khi nghe động, tất cả đều bừng tỉnh, và bắt đầu chiến đấu ngay. Do quân địch chiếm được địa hình có lợi hơn, nên hồng quân bắt buộc phải vừa đánh vừa rút lui xuống chân núi. Khi tới chân núi, họ lại gặp một con sông chắn ngang. Chẳng biết làm sao đây? Nếu vượt, qua sông, thì rõ ràng là phơi lưng cho địch bắn mình. Vậy cách duy nhất là họ phải chạy theo bờ sông mà thoát đi. Lúc bấy giờ, quân địch cũng xuống tới chân núi và đuổi theo. Khi hồng quân chạy tới một khúc sông hẹp, Túc Dụ bèn ra lệnh vượt qua sông để thoát khỏi sự truy kích của địch. Túc Dụ là người đầu tiên nhảy xuống nước, không ngờ sông hẹp, nhưng nước sâu, chảy rất xiết. Chỉ trong nháy mắt, Túc Dụ bị nước cuốn vào vòng xoáy, xem ra sẽ bị nước nhận chìm xuống đáy sông. Cũng may là chiến sĩ còn ở trên bờ thấy vậy liền thò ra một cây dù cho Túc Dụ nắm lấy, rồi kéo ông trở vào bờ. Vì chậm trễ, nên quân địch cũng truy đuổi tới nơi. Mọi người bất đắc dĩ phải nép sát vào vách núi, im lặng không lên tiếng. Nhờ bóng tối che chở, quân địch không phát giác được cánh quân của họ, mà nhanh chóng vượt qua khỏi nơi họ ẩn mình. Túc Dụ chờ cho quân địch đi qua hết, mới bắt đầu từ sau lưng nã súng vào chúng, khiến chúng hốt hoảng bỏ chạy thục mạng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #12 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2023, 09:13:18 am »


Do phải chiến đấu liên tiếp, nên số thương bệnh binh ngày một đông, trong quân đội lại không có đủ thầy thuốc, thiếu thốn thuốc men, mà còn phải tiếp tục đánh giặc. Vậy làm thế nào để an trí thương bệnh binh? Gởi vào nhà quần chúng chăng? Như vậy thật không ổn, vì kẻ thù đang tiến hành khủng bố trắng, làm như thế sẽ liên lụy tới quần chúng. Có thể cho họ vào hang núi để cứu chữa chăng? Ban đầu hồng quân đã làm như vậy, nhưng về sau thấy cách đó không ổn, vì mỗi lần bao vây lục soát, quân chính quy của địch luôn sử dụng đến quân bảo an, và số quân này hiểu biết địa hình tại địa phương rất rõ, và hang núi chính là nơi mà chúng lục soát kỹ nhất. Trước tình hình như vậy, hồng quân đành phải nghĩ ra cách mượn "nhà" của người chết. Phong tục của dân chúng ở vùng Triết Giang, thường chôn người chết ở lưng chừng núi. Những nơi đó mộ phần rất nhiều. Hồng quân bền moi một cái mộ, rồi dời quan tài ra chỗ khác, lấy nơi đó làm chỗ nằm điều trị cho thương bệnh binh. Họ chỉ cần ngụy trang lại là quân địch không tài nào biết được hồng quân lại nghĩ ra cách giấu thương bệnh binh của mình như thế này.

Ngoài ra, lại còn những khó khăn khác, như thường xuyên không có cơm ăn, không có thời giờ để ngủ (trong một trường hợp dài nhất, Túc Dụ không ngủ ba ngày ba đêm), không có những tin tức của thượng cấp, cũng như những tin tức từ bên ngoài, gây ra một sự cô lập rất đáng sợ.

Trong một hoàn cảnh khó khăn như vậy, Túc Dụ và các chiến hữu của ông đã kiên trì giữ vững địa bàn. Họ trở thành những người chiến binh được tôi luyện cứng rắn như thép, và đã đi ở hàng đầu của cuộc chiến tranh để bảo vệ dân tộc.

Năm 1935, bắt đầu từ phong trào mười hai tháng chín, toàn quốc kêu gọi đình chỉ nội chiến, cùng nhau đoàn kết để chống ngoại xâm, đã mau chóng lan tràn khắp nơi trên toàn quốc. Lúc bấy giờ, cuộc trường chinh của Trung ương đã thắng lợi. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xây dựng được căn cứ tại miền Bắc tỉnh Thiểm Tây, và nắm lấy cơ hội này, đề ra một loạt chủ trương và kiến nghị để thúc đẩy chính phủ Quốc Dân Đảng chuyển họng súng từ nội chiến quay về chống xâm lăng. Các đảng phái, các tầng lớp trong nước, nhanh chóng hưởng ứng mặt trận thống nhất dân tộc kháng Nhật, để cứu nguy cho dân tộc sắp bị diệt vong. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chủ trương như thế, chẳng những được các đảng phái dân chủ các đoàn thể nhân dân ủng hộ, mà còn được những phần tử có lòng yêu nước nhiệt tình, am hiểu đại nghĩa của dân tộc trong Quốc Dân Đảng tán thành, cổ súy. Nhờ đó mà hồng quân đã thương nghị đi tới đình chiến với "Đông Bắc quân", và "Tây Bắc quân" của chính phủ Quốc dân đảng.

Nhưng, Tưởng Giới Thạch có cách suy nghĩ riêng của ông ta. Ông ta muốn xây dựng tại nước Trung Quốc một quốc gia, một chính đảng, một chủ nghĩa, một lãnh tụ. Nói cho cùng, tức là ông ta muốn xây dựng nền độc tài chuyên chế tại Trung Quốc. Cho nên ông ta đặt vấn đề đó lên cao hơn vấn đề cứu nguy cho dân tộc. Do vậy, ông ta đã hoàn toàn đi ngược lại nguyện vọng của dân tộc, tiếp tục mở những cuộc hành quân ở khắp các địa phương. Việc làm đi ngược trào lưu đó của ông ta, cuối cùng đã dẫn tới sự biến tại Tây An, ngày mười hai tháng mười hai năm 1936.

Sự biến ở Tây An được giải quyết hòa bình, từ đó nêu ra những điều kiện để xây dựng sự hợp tác lần thứ hai giữa hai đảng, là Đảng cộng sản và Quốc dân đảng Trung Quốc. Căn cứ vào hiệp nghị mà hai đảng đã thỏa thuận, hồng quân các địa phương sẽ lần lượt biên chế thành "Quốc dân cách mạng quân", và đưa ra tiền tuyến để kháng Nhật. Nhưng với thói quen dùng thủ đoạn, Tưởng Giới Thạch không cam tâm ngưng cuộc bao vây để tiêu diệt hồng quân một cách dễ dàng như vậy. Ông ta vừa ngồi vào bàn họp để thương lượng vừa rêu rao cần phải đoàn kết để kháng Nhật, nhưng một mặt khác ông ta ra lệnh cho quân đội của mình bao vây tấn công để tiêu diệt các căn cứ du kích của hồng quân ở phía Nam. Ông ta hy vọng trước khi đạt được hiệp nghị, thì đã tiêu diệt được toàn bộ các đội du kích của hồng quân. Sư đoàn mũi nhọn của Túc Dụ đã kiên trì chiến đấu tại phía Tây Nam tỉnh Triết Giang suốt ba năm qua, lại đứng trước một cuộc thử thách ác liệt. Đây là bóng tối trước khi bình minh. Thứ bóng tối này còn dày đặc và ngột ngạt hơn cả loại bóng tối bình thường.

Đến khi cuộc kháng chiến xảy ra tại Lư Câu Kiều ngày bảy tháng bảy, và cuộc kháng chiến bùng nổ tại Thượng Hải ngày mười ba tháng tám, đã hoàn toàn phá vỡ giấc mộng đẹp của Tưởng Giới Thạch, muốn nhân nhượng quân Nhật để tiếp tục cuộc đàn áp hồng quân trong nước. Đứng trước dã tâm muốn diệt vong nước Trung Quốc của quân phiệt Nhật, Quốc dân đảng không thể không tạm thời dẹp bỏ khẩu hiệu phản động "Muốn chống ngoại xâm, phải dẹp yên trong nước trước" của mình, và tiếp nhận chủ trương hợp tác của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Các đội du kích ở các tỉnh phía Nam, sẽ cải biên thành "Quốc dân cách mạng quân", và được xây dựng thành Tân Tứ Quân.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #13 vào lúc: 08 Tháng Năm, 2023, 09:13:49 am »


Cánh quân của Tức Dụ từ bấy lâu nay do mất liên lạc với Trung ương Đảng, nên không được biết những sự thay đổi lớn lao đó. Mãi tới tháng chín năm 1937, Túc Dụ mới nghe đồn, bảo là "Đảng Cộng sản đã đầu hàng rồi, hồng quân đã được biên chế vào quân Quốc dân đảng rồi"... Tất nhiên Túc Dụ và các tướng chỉ huy thân cận không bao giờ tin những lời đồn đãi như vậy, nhưng không có lửa làm sao có khói? Cần phải đi tìm hiểu tình hình bên ngoài cho rõ ràng mới được. Dựa vào quá khứ của lịch sử mà xét, Túc Dụ phán đoán việc này có thể là sự hợp tác lần thứ hai giữa Quốc Cộng để kháng Nhật. Muốn chứng thực sự phán đoán của mình, Túc Dụ bèn phái một phân đội nhỏ đi tìm hiểu sự thật. Phân đội này gọn nhẹ, nên ngụy trang thành bảo an đoàn của Quốc dân đảng, rồi chễm chệ đi thẳng tới công sở một làng nọ, yêu cầu viên trấn trưởng gọi ngay điện thoại đến viên huyện trưởng hỏi tình hình. Viên huyện trưởng giới thiệu việc hợp tác giữa Quốc Cộng và việc hồng quân biên chế thành "Quốc dân cách mạng quân" để kháng Nhật, nói rõ cho viên trấn trưởng nghe. Tiểu đội này sau khi lấy được tin tức cụ thể, và gom được một số báo chí, mới ung dung trở về căn cứ địa của mình.

Túc Dụ nhận được báo cáo, liền tiến hành ngay việc họp bàn để thích ứng với tình hình, chuẩn bị xuống núi kháng Nhật.

Việc trước tiên là Túc Dụ tiến hành động viên chính trị trong toàn bộ đội. Tiền thân của sư đoàn mũi nhọn này là hồng quân công nông, được lệnh tiến về phía Bắc chống Nhật. Nhưng do nhiều lý do khác nhau, mãi tới bây giờ vẫn còn lưu lại tại tỉnh Triết Giang, không thể tiếp tục đi lên phía Bắc. Nay tình hình đã thay đổi, bộ đội có thể chẳng bao lâu nữa sẽ ra tiền tuyến kháng Nhật, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Nghe được tin tức này nhiều sĩ quan và binh sĩ rất phấn khởi, sĩ khí lên rất cao, nhưng Túc Dụ kịp thời nhắc nhở mọi người: mặc dù Quốc dân đảng bằng lòng hợp tác chống Nhật, nhưng với tính gian xảo thành thói quen của họ, trong quá trình cải biên bộ đội, xem chừng họ lại có những mưu gian, cần phải đề cao cảnh giác, để tránh bị thiệt thòi. Về sau, đã chứng minh lời tiên đoán của Túc Dụ quả là sáng suốt, vì ở tám tỉnh phía Nam, có những đội du kích hồng quân trong quá trình cải biên, đã bị quân đội Quốc dân đảng xem là "thổ phỉ", và đã bị giải giới. Sư đoàn mũi nhọn Triết Giang do có sự đề phòng sẵn, nên không có vấn đề gì xảy ra.

Sau đó, Túc Dụ viết một bức thư cho nhà đương cục Quốc dân đảng tại huyện Toại Xương thuộc tỉnh Triết Giang, yêu cầu họ dựa vào những hiệp nghị mà hai đảng Quốc Cộng đã thỏa thuận, gấp rút phái đại biểu tới nơi đóng quân của hồng quân, để đàm phán việc hợp tác. Huyện trưởng Toại Xương nhận được thư, không dám chậm trễ, phái ngay một đại biểu tới chỗ Túc Dụ để tiến hành đàm phán. Trong quá trình đàm phán, Túc Dụ đã nghiêm chỉnh đưa ra ba điều kiện.

1. Cánh quân mũi nhọn của Túc Dụ sẽ kéo tới tập trung nơi căn cứ địa ở phía Nam Triết Giang. Dọc đường hành quân, chính phủ Quốc dân đảng và quân đội không được cản trở, gây khó khăn.

2. Do sự thỏa thuận giữa đôi bên, từ nay hồng quân không đánh thổ hào, nên không có nguồn cung cấp lương thực. Vậy chính phủ Quốc dân đảng cần phải dựa vào tiêu chuẩn của quân đội chính quy mà cung cấp đạn dược, lương thực, và quân phí cho hồng quân.

3. Hợp tác không phải là đầu hàng, cải biên không phải là thu biên, cho nên quân đội giữa hai đảng Quốc Cộng đều bình đẳng nhau. Sau khi hồng quân được cải biên, vẫn duy trì tính độc lập về mặt quân sự của mình.

Nhà đương cục Quốc dân đảng tại huyện Toại Xương sau khi thương nghị, đã hoàn toàn chấp nhận ba điều kiện của Túc Dụ.

Tháng chín năm 1937, Túc Dụ dẫn binh sĩ của mình tới trấn Bình Dương, tại phía Nam Triết Giang, hồng quân từng kiên trì chiến đấu khắp nơi trong tỉnh Triết Giang, cũng lục tục kéo về tập trung tiến hành huấn luyện chính trị và quân sự, chuẩn bị cho việc đưa ra tiền tuyến kháng Nhật.

Cuộc chiến tranh du kích được duy trì trong ba năm tại phía Nam tỉnh Triết Giang. Cuối cùng kết thúc thắng lợi như thế. Họ có thể kiên trì chiến đấu trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn như vậy, quả là một kỳ tích trong lịch sử đấu tranh cách mạng của Trung Quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #14 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2023, 12:26:42 pm »


3. BÁCH CHIẾN BÁCH THẮNG

Trên thân thể của Túc Dụ có tất cả sáu chỗ bị thương và đã trải qua hàng trăm trận chiến đấu. Đặc biệt Túc Dụ giỏi chỉ huy những trận đánh tiêu diệt trên quy mô lớn. Ông được khen là một tướng quân bách chiến bách thắng. Do đâu mà ông được mọi người đánh giá cao như vậy?

Cuối xuân đầu hè năm 1938, quân đội xâm lược Nhật sau khi chiếm lĩnh được Thượng Hải, thì quân đội Quốc dân đảng đã bị đánh bại và rút lui một cách dễ dàng. Các thành phố lớn như Hàng Châu, Nam Kinh đều lần lượt bị thất thủ. Hàng triệu "Quốc quân" được trang bị đầy đủ, gần như không có sức đề kháng nào đáng kể. Bao nhiêu đất đai ở vùng Giang Nam đều bị họ dâng cho quân đội xâm lược Nhật Bản. Đứng trước sự thắng lợi quá dễ dàng, quân đội Nhật vốn đã kiêu căng hung ác, lại càng kiêu căng hung ác hơn, xem mình là kẻ không ai chiến thắng nổi. Nơi nào bọn chúng kéo đến, là nơi đó bị phóng hỏa thiêu hủy, sát hại dân lành, cướp đoạt tài sản, không có điều ác độc nào mà chúng không làm. Một số bọn xấu người Trung Quốc đã biến tiết, đầu hàng quân Nhật, giúp chúng thành lập chính phủ ngụy quyền, và các tổ chức ngụy khác. Ở nhiều địa phương, một số lưu manh lấy danh nghĩa kháng Nhật, tự võ trang và đi cướp bóc khắp các nơi ở miền quê. Vùng Giang Nam nguyên là một vùng trù phú nhất của Trung Quốc, giờ đây đã trở thành một địa ngục trần gian.

Căn cứ theo chỉ thị của Trung ương, "Tân Tứ Quân" đang đóng tại phía Nam An Huy, phái một đạo quân tiên phong, vượt sông tiến thẳng về phía Nam, để chuẩn bị tạo căn cứ kháng Nhật ở vùng này. Túc Dụ nhận được mệnh lệnh làm tư lệnh cho cánh quân này.

Đây là lần đầu tiên "Tân Tứ Quân" sau khi tổ chức lại đã phái một cánh quân của mình tiến về địch hậu. Cánh quân này cần phải tìm hiểu địch tình, mở rộng ảnh hưởng của "Tân Tứ Quân", đánh thẳng vào sự kiêu căng ngạo mạn của giặc Nhật. Nó đảm nhiệm một nhiệm vụ có ý nghĩa thật là trọng đại. Cho nên toàn quân đều được tổ chức chặt chẽ, thành viên lấy từ tiểu đội trưởng trở lên, nên sức chiến đấu của cánh quân này hết sức mạnh mẽ.

Tháng tư ở vùng Giang Nam, mưa nhỏ liên miên, những quả mai chín thơm phức nơi nơi. Nếu là ngày thường, thì người đi du sơn ngoạn thủy sẽ đông nghẹt, đầy đường sẽ vang tiếng nói, tiếng cười. Nhưng nay, dưới gót sắt giày xéo của quân Nhật, đâu đâu cũng thấy cảnh tàn phá chết chóc, người chạy nạn lang thang lếch thếch đầy đường. Các chiến sĩ do Túc Dụ chỉ huy, sau khi đến đất Giang Nam, đều không nén được lòng căm phẫn đối với kẻ thù. Họ liền tiến vào những thôn làng mà quân Nhật chưa chiếm đóng, để nhanh chóng mở những đợt tuyên truyền kháng chiến chống Nhật.

Do "Tân Tứ Quân" mới thành lập chưa bao lâu đã phái một cánh quân vào Giang Nam, chưa trải qua một trận đánh nào, nên dân chúng đối với họ vẫn còn một thái độ hoài nghi. Vì dân chúng chính mắt trông thấy các cánh quân của chính phủ Quốc dân đảng trung ương, quân số đông, trang bị tốt, thế mà vẫn không đánh thắng được giặc Nhật ngoại xâm, ở đây chỉ có hơn một trăm người, áo quần lôi thôi lếch thếch, trang bị kém cỏi mà hôm nay mới kéo tới đây, làm sao thắng được quân Nhật?

Có một đêm nọ, Túc Dụ dẫn quân đội của mình đến ngủ qua đêm tại quê hương của một vị nguyên trước đây làm thứ trưởng Bộ Tài chính của Quốc dân đảng. Người này đang sống an nhàn tại nhà, và đã nói với Túc Dụ:

— Các vị tuyên truyền kháng Nhật tỏ ra rất có nhiệt tình, nhưng đó chỉ là tuyên truyền thôi. Quân đội của chánh phủ trung ương, đứng trước quân đội Nhật không đánh đã lùi, vậy với một ít quân đội của các vị, có thể đứng vững được để chống Nhật hay không?

Túc Dụ đã trả lời một cách kiên định là chỉ cần có sự lãnh đạo đúng đắn, được quần chúng ủng hộ, thì nhất định cánh quân của ông sẽ tạo được cuộc diện mới, trong cuộc chiến tranh chống Nhật tại Giang Nam này.

Để đánh tan sự hoài nghi của dân chúng, để hạ uy thế của quân xâm lăng Nhật, xây dựng uy thế cho "Tân Tứ Quân" mới thành lập của mình, Túc Dụ định sẽ tìm đến vùng lân cận Nam Kinh, đánh quân xâm lược Nhật. Đây là trận đánh đầu tiên sau khi "Tân Tứ Quân" được thành lập, vậy chỉ có thể thắng, chứ không có thể bại.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #15 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2023, 12:27:53 pm »


Tối ngày mười bốn tháng sáu năm 1938, Túc Dụ dẫn hơn một trăm binh sĩ đội mưa xuất phát. Những cơn mưa ở vùng Giang Nam rất dai, mưa to đã kéo dài hơn mười ngày rồi, làm cho đường đi lầy lội trơn trợt. Túc Dụ và các chiến sĩ đều cột chặt đôi giày chống trượt dưới chân, tay cầm gậy, lần mò đi trong đêm tối, đến địa điểm đã chọn sẵn.

Ở vùng Giang Nam, hầu hết là ruộng lúa nước, đường đi vừa trơn lại vừa hẹp. Trong những đêm mưa, mọi người không làm sao thấy đường đi, nhưng cần phải đi tới mục tiêu cho nhanh, họ bao giờ cũng giữ tư thế hành quân cấp tốc. Đi suốt một đêm, mọi người đã té không biết bao nhiêu lần, khắp thân mình đều dính bùn sình, vừa mệt mỏi lại vừa buồn ngủ. Nhưng vì muốn tỏ rõ khí thế của quân đội mình, nên không ai cất tiếng than một lời. Đến tối ngày hôm sau, quân đội đã tiến tới khu vực gần thị trấn Hạ Thục, nằm giữa Nam Kinh và Trấn Giang. Con đường sắt từ Nam Kinh đi Thượng Hải đã chạy ngoằn ngoèo qua gần thị trấn này. Các chiến sĩ không hề nghỉ ngơi, lập tức tiến hành phá hoại đường sắt. Đến khi trời sáng thì họ đã hoàn thành nhiệm vụ.

Túc Dụ bèn cho quân đội chuyển đến một sườn núi ở bên cạnh, để cho các chiến sĩ được nghỉ ngơi trong giây lát. Riêng Túc Dụ thì không hề biết mệt mỏi, triệu tập ngay cán bộ để hội nghị và bố trí kế hoạch tác chiến.

Dựa vào quân trinh sát, được biết phía trước mặt không xa là quốc lộ từ Trấn Giang đến Câu Dung. Hằng ngày, quân địch có nhiều chiến xa di chuyển trên đường này. Do từ trước tới nay chưa hề bị tập kích, nên quân Nhật hoàn toàn không phòng bị. Hơn nữa, quốc lộ này có một đoạn đi qua giữa hai trái núi cao, địa hình rất thuận lợi để phục kích. Trận chiến đầu tiên được chọn làm chiến trường đánh quân Nhật khi xuống Giang Nam của "Tân Tứ Quân" đã diễn ra ở một địa phương nhỏ, có tên Vệ Cương này.

Trong cuộc họp, Túc Dụ đã lặp đi lặp lại nhiều lần ý nghĩa quan trọng của trận đánh, và yêu cầu tuyệt đối giữ bí mật khi hành quân vào nơi mai phục. Tối ngày mười lăm, bộ đội đã lặng lẽ tiến vào trận địa.

Vùng Vệ Cương là nơi có nhiều đồi núi nhấp nhô, cỏ cây thưa thớt, các chiến sĩ đều lên đạn, đao tuốt khỏi vỏ, lặng lẽ tiến vào vị trí mai phục để chờ quân địch.

Trời vừa tờ mờ sáng, đã nghe từ phía xa có tiếng động cơ xe hơi truyền lại. Sau đó, mọi người thấy rõ một chiếc xe ca từ Trấn Giang đang chạy tới. Tất cả binh sĩ đều nín thở; chờ đợi mệnh lệnh nổ súng. Khi chiếc xe của quân địch chỉ còn cách nơi phục kích chừng mấy mươi mét nữa, thì tay giữ súng trung liên liền nổ giòn, bắn chết tên địch cầm lái, khiến chiếc xe chúi đầu vào lề đường, và ngưng lại. Không chờ kẻ thù kịp trở tay, nào đạn từ súng trường, và cả lựu đạn vẫy ra như mưa. Bao nhiêu quân địch trên xe đều bị tiêu diệt hết. Xong, lại nghe tứ phía Trấn Giang có tiếng xe hơi chạy tới. Đó là một cỗ xe du lịch sơn màu vàng, kiểu nhà binh rất bóng láng. Sau một loạt đạn liên thanh, chiếc xe du lịch đâm đầu xuống vũng nước và đứng yên. Cửa xe mở toang, có hai sĩ quan Nhật Bản từ trong xe vừa bò vừa lăn ra ngoài. Trong số này có một tên vừa ra khỏi cửa xe là đã bị quân phục kích bắn chết, còn tên sĩ quan kia mang giày ống thực cao, cạnh sườn có đeo gươm dài, liền rút súng lục ra hung hăng tiến thẳng về nơi phục kích của "Tân Tứ Quân". Hắn vừa xông lên vừa bắn, đến khi bắn hết đạn, hắn vẫn tiếp tục lao về phía viên tham mưu trinh sát của hồng quân. Viên tham mưu này tuy có thân hình nhỏ thó, nhưng hoàn toàn không tỏ ra sợ hãi trước hắn. Đôi bên bắt đầu vật nhau. Dưới chân họ đất vừa nhão lại vừa trơn, hai người té lăn quay xuống đất, và tiếp tục vật lộn rất dữ dội. Tên sĩ quan Nhật vì ăn mặc không thuận tiện cho cử động, nên sau mấy lần lăn lộn, hắn bèn tuốt gươm ra nhắm chém viên tham mưu quân du kích. Nhưng viên tham mưu này hoàn toàn không mất bình tĩnh, chờ cho lưỡi gươm Nhật Bản từ trên cao chém xuống vừa tầm thì anh nhảy phốc tới, đánh thẳng vào hai cổ tay của tên sĩ quan Nhật, đoạt lấy thanh gươm của hắn, rồi chém liên tiếp ba nhát vào hắn, khiến hắn té lăn xuống đất. Về sau, xem kỹ giấy tờ, mới biết tên sĩ quan Nhật Bản này chính là một viên thiếu tá phụ trách quân nhu của quân đội Nhật Bản.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #16 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2023, 12:29:15 pm »


Vừa thanh toán quân địch xong, thì lại thấy có ba cỗ xe ca từ phía Trấn Giang lao tới. Do quân địch đã nghe tiếng súng, nên chúng vừa chạy nhanh tới vừa mở súng liên thanh bắn liên hồi. Túc Dụ tay cầm súng ngắn, tiếp tục ra lệnh chiến đấu. Dưới sự chỉ huy của Túc Dụ, các chiến sĩ anh dũng xung phong về phía địch. Trên những cỗ xe này, có tất cả ba mươi tên địch, chúng vừa chạy vừa ném xuống mặt đường nhiều thùng gỗ to để làm chướng ngại vật, rồi nhanh nhẹn nhảy xuống núp vào thành xe, vào những chiếc thùng gỗ có sẵn trên mặt đất để chiến đấu, hy vọng viện binh tới cứu.

Quốc lộ từ Trấn Giang đi Câu Dung, chính là con đường chủ yếu để đi Nam Kinh. Hàng ngày xe cộ của quân địch luôn luôn di chuyển tới lui không ngừng, cho nên chiến trường này không thể đánh kéo dài, mà phải tốc chiến tốc thắng, để tránh những khó khăn có thể xảy ra. Túc Dụ biết rõ điều này, nên liền ra lệnh nổ súng, rồi dẫn hơn một trăm binh sĩ thuộc đội cảnh vệ của mình xung phong ào ra mặt đường như một bầy cọp dữ.

Túc Dụ đi trước cả binh sĩ. Lúc bấy giờ, có một đại úy của quân đội Nhật, tên là Mai Trạch Võ Tứ Lang, đang trầm mình dưới một hồ nước cạnh đấy. Hắn chờ cho Túc Dụ tới gần, bèn bất thần từ dưới nước nhảy lên, tay cầm lưỡi kiếm Nhật Bản, nhắm ngay đầu Túc Dụ bổ xuống. Giữa giây phút hiểm nguy như chỉ mành treo chuông đó, các thành viên cảnh vệ liền kịp thời nổ súng, kết thúc cuộc đời xâm lăng nhục nhã của tên sĩ quan xâm lược. Binh sĩ trông thấy tư lệnh của mình gan dạ, không kể chi chết sống, xung phong diệt địch như vậy, đều phấn khởi và can đảm hẳn lên. Cho nên cuộc chiến đấu trên mặt đường kéo dài chưa quá một tiếng đồng hồ, tất cả binh sĩ trên bốn cỗ quân xa của Nhật Bản đều bị tiêu diệt. Khi trận đánh kết thúc, mặt trời ở tận chân trời vẫn chưa lên khỏi mây mù. Vừa lúc đó, có một cỗ xe địch lại chạy tới. Chúng trông thấy phía trước mặt một số xe ca bị đốt cháy, biết có quân phục kích, nên hối hả quay đầu xe chạy trở về.

Trận đánh này tổng cộng đã giết chết ba mươi hai tên lính Nhật, phá hủy bốn cỗ xe, thu được mười hai súng trường, hai súng ngắn, gươm và cờ mỗi thứ một cây, ngoài ra, lại còn quân trang, quân dụng, một số tiền giấy của Nhật Bản. Trong số này có cả thuốc lá thơm, đồ hộp của quân Nhật. Trên mỗi điếu thuốc lá thơm, đều có in hai chữ "Ngự Tứ" (Vua ban)!

Trận đánh Vệ Cương đã mở màn cho những trận đánh vào quân Nhật sau này. Nó chẳng những chứng minh cho nhân dân ở vùng Giang Nam biết sức chiến đấu của "Tân Tứ Quân", mà còn là một bài học nặng nề cho quân xâm lược Nhật, đang kiêu căng ngang tàng. Đồng thời, cũng làm cho quân đội của Quốc dân đảng đang nằm yên ở chung quanh, cảm thấy tự xấu hổ.

Túc Dụ là người chỉ huy trực tiếp trận đánh này, tỏ ra rất hài lòng đối với kết quả của trận đánh, nên ông có viết một bài thơ ngũ ngôn để kỷ niệm:

Tân Biên Tân Tứ Quân,
Tiên Khiển xuất Giang Nam.
Vi Cương trảm Sĩ Tĩnh,
Xứ nữ tấu khải hoàn.


Dịch:

Tân Tứ Quân mới lập,
Phái trước vào Giang Nam.
Vi Cương chém Sĩ Tĩnh,
Lần đầu được khải hoàn.


Trần Nghị, một viên tư lệnh của một cánh quân được phái tới để tiếp ứng cho Túc Dụ, nghe Túc Dụ đắc thắng, hết sức vui mừng, bèn làm một bài thơ để chúc mừng như sau:

Loan cung xạ Nhật đáo Giang Nam,
Chung dạ tuyên hô dịch đảm hàn,
Trấn Giang thành hạ sơn tao ngộ,
Thoát thủ trảm đắc Tiểu Lâu Lan.


Dịch:

Cung thần xạ Nhật đến Giang Nam,
Đêm vắng hò reo giặc nát tan.
Trấn Giang đường nhựa vừa tao ngộ.
Một kiếm trừ xong tiểu Lâu Lan
1
______________________________________
1. Dựa theo sự tích Phó Giới Tử giết vua Lâu Lan hồi năm Nguyên Phượng thứ tư, triều nhà Hán ở Trung Quốc.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #17 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2023, 12:32:09 pm »


Cuộc chiến tranh kháng Nhật tiến vào giai đoạn giằng co, phái ngoan cố trong Quốc Dân Đảng lại muốn tiến hành chống cộng. Cuối năm 1939, họ phát động một cao trào chống cộng mới, mặc dù "Bát Lộ Quân" và "Tân Tứ Quân" phản kích, nhưng quân ta lâm vào một tình thế rất nguy hiểm. Vì để phá vỡ sự bao vây phong tỏa của địch, phải cấp tốc có một hành động quả đoán về mặt quân sự. Do vậy, chánh phó chỉ huy Tân Tứ Quân ở Giang Nam là Trần Nghị và Túc Dụ bèn đề nghị với trung ương tiến về phía Bắc tỉnh Giang Tô, để mở căn cứ địa mới cho cuộc kháng chiến chống Nhật. Kiến nghị này có một ý nghĩa hết sức trọng đại về mặt chiến lược.

Phía Bắc tính Giang Tô có một vùng đất rộng mấy vạn cây số vuông, sản xuất nhiều lương thực, bông vải, muối, là những vật tư chiến lược của quân đội. Nhân khẩu ở vùng này có đến hai chục triệu người. Nếu có thể đứng chân được tại đây, thì cũng có thể liên kết được các căn cứ kháng Nhật ở vùng Giang Nam, Hoa Bắc, và Lưỡng Hoài, và có thể dấy lên một cao trào chiến tranh kháng Nhật mới ở vùng Trường Giang, và sông Hoài. Nơi đây có rất nhiều điều kiện, sông ngòi, ao hồ chằng chịt, tiện đánh du kích. Lương thực, bông vải lại đầy đủ, có thể giải quyết được vấn đề cấp dưỡng cho quân đội. Ở đây lực lượng của quân Nhật cũng tương đối yếu, và cơ sở quần chúng lại tương đối vững mạnh.

Nhưng, trên quãng đường xây dựng căn cứ kháng Nhật tại phía Bắc Giang Tô, lại gặp một viên đá cản đường vừa rắn vừa thối, đó là tên chủ tịch tỉnh Giang Tô của Quốc dân đảng là Hàn Đức Cần và số quân đội ngoan cố dưới sự chỉ huy của ông ta. Hàn Đức Cần là một tay chống cộng khét tiếng, trong con mắt của người dân ở vùng phía Bắc tỉnh Giang Tô, thì quân đội của ông ta là "thấy giặc thì chạy, thấy bá tánh thì uy hiếp". Hầu hết những địa bàn lớn ở vùng phía Bắc Giang Tô, đều nằm trong tay của hắn. Trong cao trào chống Cộng lần thứ nhất, chính hắn đã gây ra nhiều vụ án tàn sát đảng viên Cộng sản đẫm máu.

Ngoài Hàn Đức Cần, ở phía tỉnh Giang Tô còn có hai toán võ trang của Quốc Dân Đảng cần phải lưu ý. Một toán gọi là "Tổng chỉ huy du kích Lổ, Tô, Hoản" (tức Sơn Đông, Giang Tô và An Huy) trú đóng tại Thái Châu, do Lý Minh Dương và Lý Trường Giang chỉ huy. Và, một cánh nữa là "Tổng đoàn cảnh sát thuế" của bộ tài chánh Quốc dân đảng. Hai cánh võ trang này có sự mâu thuẫn với Hàn Đức Cần, có thể lợi dụng được. Nhưng một khi đụng chạm tới quyền lợi thuộc địa bàn của họ, thì họ có thể đánh nhau chết sống.

Lực lượng võ trang của ba người này cộng lại ước chừng mười sáu vạn người.

Đến tháng bảy năm 1940, quân chủ lực bộ chỉ huy của Tân Tứ Quân vượt sông Trường Giang, tiến vào phía Bắc tỉnh Giang Tô, hội nhập cùng với chi đội Giang Tô và An Huy, cũng như "tung đội"1 đã chiến đấu kiên trì tại phía Bắc Giang Tô từ lâu, thành lập bộ chỉ huy Bắc Giang Tô do Trần Nghị làm tư lệnh, Túc Dụ làm phó tư lệnh. Đồng thời, họ bắt đầu sắp xếp lại bộ đội, chia thành ba tung đội, chín đoàn, toàn quân gồm hơn bảy nghìn người.

Căn cứ vào phương châm trung lập thế lực trung gian, cô lập thế lực ngoan cố, mà trước kia đã định Trần Nghị và Túc Dụ xây dựng căn cứ địa làm trung tâm chỉ huy tại Huỳnh Kiều.

Trấn Huỳnh Kiều nằm tại khu trung tâm các huyện Thái Hưng, Thái Huyện, Hải An, Như Hạo, Tịnh Giang, là trục giao thông chủ yếu, mà cũng là nơi tập kết lương thực. Nếu khống chế được địa điểm này, thì có thể cắt đứt được sự liên hệ giữa Hàn Đức Cần với quân Nhật, và quân của Lý Minh Dương, Lý Trường Giang và Tổng đoàn cảnh sát thuế vụ, lại giúp cho quân ta có căn cứ để tiến thoái. Vùng đất này thuộc quyền cai quản của lữ thứ tư Bảo An của họ Hàn, chiếm nó, không gây ra sự xung đột đối với thế lực của Quốc dân đảng. Nhất là chiếm được Huỳnh Kiều thì sẽ buộc Hàn Đức Cần lật ngửa ván bài của hắn ra, tiện việc sớm giải quyết vấn đề ở phía Bắc Giang Tô. Dựa vào tình hình địch đông ta ít, thì cuộc diện này không thể tiếp tục kéo dài nữa.
______________________________________
1. Đơn vị tương đương quân đoàn cơ động đánh địch trong thời kỳ đầu của Hồng quân Trung Quốc (N.D).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #18 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2023, 12:32:59 pm »


Một khi đã hạ quyết tâm, thì tức khắc thi hành liền. Trong tình trạng trung lập được Lý Minh Dương và Lý Trường Giang, vào ngày hai mươi tám tháng bảy năm 1940, sau một đêm chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt được hai nghìn quân ngoan cố chiếm giữ vùng đất này và đoạt lấy Huỳnh Kiều. Hành động quân sự vừa kết thúc, liền triển khai đấu tranh chính trị, phái năm vị huyện trưởng mới đến nắm quyền tại năm huyện chung quanh, xây dựng cơ quan hành chánh, đặt trạm thu thuế, mở rộng quân đội v.v... Trong một thời gian ngắn, một huyện mới bắt đầu hình thành và căn cứ địa kháng Nhật đã chào đời. Đồng thời, cũng ngỏ ý với Hàn Đức Cần là sẵn sàng chia khu để phòng thủ, và đoàn kết để kháng Nhật.

Hàn Đức Cần làm thế nào chịu ngồi yên mà nhìn Tân Tứ Quân phát triển mạnh lớn lên? Ông ta một mặt hứa hẹn sẽ đàm phán, một mặt phái bộ đội đi thăm dò thực lực của Tân Tứ Quân, bằng cách tấn công một vài nơi. Nhưng kết quả, họ bị thiệt hại to trên chiến trường.

Qua đó, Hàn Đức Cần thấy không thể hành động liều lĩnh, nên ông ta bèn thay đổi sách lược, một mặt tích cực tập trung quân đội lại để chuẩn bị bao vây tấn công, một mặt khác ra lệnh cho các địa phương chung quanh Huỳnh Kiều phong tỏa không cho lương thực, bông vải vận chuyển tới nơi này có ý đồ cô lập kinh tế, để Tân Tứ Quân không thể sống nổi.

Tiết trời đã sắp vào thu, mấy nghìn người đang cần lương thực và đang cần bông vải để làm áo ấm. Đồng thời, chung quanh đang bị địch bao vây, tình hình rất nguy cấp. Nếu kéo dài tình trạng này, đối với ta là hoàn toàn bất lợi. Cho nên Tân Tứ Quân vì muốn thoát khỏi cục diện bất lợi đó, bèn cử binh đánh chiếm trấn Khương Yến. Đây là một thị trấn giàu có ở vùng phía Bắc Giang Tô. Người ở địa phương này thường gọi Khương Yến là: "Khương Yến Vàng". Qua trận đánh nói trên, chẳng những phá vỡ được kế hoạch bao vây của Hàn Đức Cần, mà còn chiếm được rất nhiều vật tư quân dụng khác.

Để chứng tỏ quân ta có thành ý đoàn kết kháng chiến, nên sau khi chiếm được trấn Khương Yến, bèn xuống lệnh cho bộ đội ngưng tấn công, đồng thời phát động các giới nhân sĩ có tinh thần dân chủ, đứng ra kêu gọi đình chiến để đàm phán.

Trong lòng Hàn Đức Cần rất oán hận Tân Tứ Quân, cho rằng mình đang chiếm ưu thế tuyệt đối về mặt quân sự, nên tất nhiên là ông ta không bao giờ chịu đình chiến để đàm phán. Nhưng qua lời kêu gọi của các nhân sĩ yêu nước, ông ta không thể không tỏ ra là người có tinh thần đoàn kết. Do vậy, ông ta đặt điều kiện tiên quyết rất cao. Ấy là: Tân Tứ Quân phải trả thị trấn Khương Yến lại cho ông ta, thì mới ngồi vào bàn đàm phán. Theo ý ông ta thị trấn này mỗi tháng thu được năm vạn đồng tiền thuế, vậy Tân Tứ Quân sẽ không bao giờ chịu giao trả. Một khi Tân Tứ Quân cự tuyệt, thì ông ta sẽ có cớ để tiến quân đánh Tân Tứ Quân.

Nào ngờ Trần Nghị và Túc Dụ đã tương kế tựu kế, đi một ván cờ thật cao. Họ bằng lòng điều kiện của Hàn Đức Cần, rút Tân Tứ Quân ra khỏi Khương Yến, nhưng đồng thời họ lại thông báo cho Lý Minh Dương và Lý Trường Giang tiến chiếm thị trấn này. Trên danh nghĩa Lý Minh Dương và Lý Trường Giang đều thuộc quyền chỉ huy của Hàn Đức Cần, nên việc họ tiến chiếm Khương Yến là hoàn toàn hợp lý.

Với kế một mũi tên bắn được hai con nhạn, đã chứng tỏ Trần Nghị và Túc Dụ là người có trí tuệ rất cao:

Thứ nhất, là thấy việc ác chiến với quân đội của Hàn Đức Cần là chuyện không thể tránh khỏi, vậy cần phải thu quân về, và chuẩn bị đối phó.

Thứ hai, là đã chấp nhận điều kiện của Hàn Đức Cần, thì phải thực hiện. Nên ông ta xua quân tấn công, là ông ta đã thua lý.

Thứ ba, Lý Minh Dương và Lý Trường Giang bỗng không lại được một vùng đất phì nhiêu nên hết sức cảm kích đối với Tân Tứ Quân. Như vậy, sau này nếu Tân Tứ Quân ác chiến với Hàn Đức Cần, thì họ có thể đứng trung lập.

Hàn Đức Cần vừa tức vừa giận. Lúc bấy giờ, bộ đội của Huỳnh Khắc Thành thuộc Bát Lộ Quân được lệnh Nam tiến cũng đã đến vùng Liên Thủy, Bảo Ứng, và tạo thành một sự uy hiếp nghiêm trọng đối với Hàn Đức Cần. Nếu không nhanh chóng giải quyết Tân Tứ Quân ở vùng Huỳnh Kiều, một khi hai cánh quân của Bát Lộ Quân và Tân Tứ Quân họp lại, thì thế lực của Hàn Đức Cần tại vùng phía Bắc Giang Tô sẽ sụp đổ. Vì bảo vệ lợi ích và địa bàn, ông ta nhất định phải giải quyết hai cánh quân này trước khi họ hợp lại với nhau. Nếu đem ra so sánh, thì Tân Tứ Quân người ít, lại yếu, dễ giải quyết hơn. Cho nên ông ta đưa ra phương châm "Nam trước Bắc sau, mỗi nơi đều phá vỡ". Và, vào ngày ba mươi tháng chín năm 1940, ông ta đã chỉ huy bộ đội tinh nhuệ của mình gồm hai mươi sáu đoàn, tổng số hơn hai vạn quân, tiến đánh vào Huỳnh Kiều. Chiến lược này của ông ta có thể nói là rất sáng suốt. Vì nếu ông ta thực hiện được ý nguyện của mình, thì tình hình ở phía Bắc tỉnh Giang Tô sẽ rất bất lợi cho quân ta.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #19 vào lúc: 12 Tháng Năm, 2023, 12:33:47 pm »


Một trận đánh quyết định cho Tân Tứ Quân xây dựng căn cứ ở phía Bắc Giang Tô, hay là chết, đã mở màn như thế đó. Một sự thử thách gay gắt, đang đặt trước mặt Trần Nghị, Túc Dụ. Trần Nghị và Túc Dụ phân tích tình hình trước mắt, và so sánh lực lượng giữa ta và địch. Xong, họ quyết định đánh nhau chứ không né tránh. Vì, trận giặc này sớm muộn gì cũng phải đánh, nếu không đánh, thì không còn có cách nào đứng chân được ở vùng phía Bắc tỉnh Giang Tô.

Nhưng, muốn đánh sớm hay muộn không phải do ta quyết định, vì Hàn Đức Cần đã đưa cao ngọn đao của mình lên, thì không ứng chiến cũng không thể được.

Lúc bấy giờ, nếu quyết chiến rõ ràng là có nhiều nhân tố bất lợi. Tuy Bát Lộ Quân tiến xuống phía Nam đã đến được Liên Thủy, nhưng bộ đội ở miền Bắc đối với một địa hình có nhiều sông ngòi, hồ ao như miền Nam, họ chiến đấu cũng như tiến quân rất chậm chạp, khó bề phối hợp nhịp nhàng trong một chiến dịch như thế này. Nếu quyết chiến thì chỉ có thể dựa vào bảy nghìn người có trong tay của mình mà thôi. Nguyên tắc nhất quán của Hồng quân trong chiến lược, thường lấy ít thắng nhiều. Nhưng trong chiến thuật thì phải lấy nhiều thắng ít. Nếu so sánh lực lượng giữa địch và ta, thì là ba vạn đối với bảy nghìn. Như vậy, trận giặc này làm sao đánh được? Trận giặc này, đặc biệt là một khi quyết chiến, thì phải tiến hành tiêu diệt chiến. Vậy, lấy bảy nghìn người để nuốt chửng ba vạn người, có được không?

Trải qua một sự nghiên cứu rất kỹ, Túc Dụ đề ra một phương án vừa táo bạo lại vừa chu đáo. Trước tiên, ông ta phân tích cách tiến quân của địch. Hàn Đức Cần sẽ áp dụng chiến thuật tiến công ba đường. Thứ nhất là ông ta sẽ dùng chủ lực do Lý Thủ Duy chỉ huy, đó là quân tám mươi chín để tấn công tuyến phía Đông của Huỳnh Kiều. Một toán chủ lực khác do Ông Đạt chỉ huy, gồm lữ sáu độc lập, sẽ tiến công tuyến Bắc của Huỳnh Kiều. Hai tuyến này hợp lại thành ra cánh trung lộ. Đó là lực lượng uy hiếp chủ yếu. Kế đó, Hàn Đức Cần lại dùng Lý Minh Dương và Lý Trường Giang để tấn công phía Tây Huỳnh Kiều, xem là lộ quân phía hữu, và lấy lữ đoàn bảo an của năm địa phương hợp lại tiến vào phía Đông Nam Huỳnh Kiều, xem là lộ quân phía tả.

Túc Dụ cho rằng, quân địch bố trí tấn công như vậy là muốn tiêu diệt chủ lực của ta. Do vậy, triệt thoái khỏi Huỳnh Kiều, hoặc cố thủ nơi đó đều không phải là thượng sách, mà nên lấy Huỳnh Kiều làm trục trung tâm, dùng một bộ phận bộ đội giữ chắc để dụ địch đi sâu, rồi sau mới đánh gãy từng cánh quân để tiêu diệt chúng.

Tiếp đó, Túc Dụ lại đề xuất một phương án táo bạo ngoài sức tưởng tượng của mọi người: ấy là trước tiên tiêu diệt lữ sáu độc lập của Ông Đạt. Những lữ này được trang bị rất đầy đủ, và có chất lượng cao, toàn bộ đều dùng súng bộ binh bảy mươi chín, và mỗi một tiểu đội đều có một khẩu trung liên kiểu Tiệp Khắc. Các sĩ quan chỉ huy đều xuất thân từ Trường Võ bị chính quy, và binh sĩ gồm có hơn ba nghìn người. Cánh quân này chính là gạo cội của Hàn Đức Cần, là vốn quý nhất của hắn. Muốn gặm cục xương này đầu tiên, không biết có bị gãy răng hay không? Nhưng, Túc Dụ lại có kiến giải độc đáo của mình. Ông chỉ rõ, nguyên tắc tác chiến thông thường của ông ta là trước đánh vào nơi yếu của địch, nhưng lần này chúng ta lại xuất kỳ binh, đánh trước vào đơn vị mạnh nhất của địch. Điều đó ngoài sự bất đắc dĩ ra, còn dựa vào lòng quyết thắng của toàn quân, nên có thể nói là có căn cứ, chứ không phải phiêu lưu.

Nói là bất đắc dĩ, vì hai cánh quân gồm lữ sáu độc lập và quân tám mươi chín đều là chủ lực để tiến công vào Huỳnh Kiều, nếu không tiêu diệt hai cánh quân này, thì bản thân sẽ khó thoát khỏi cảnh khốn đốn. Trong khi khó nuốt chửng được quân tám mươi chín, thì chọn lựa lữ sáu độc lập là hay nhất. Hơn nữa, hai cánh quân của họ Lý đều giữ thái độ trung lập, nhưng họ có trở mặt bất tử hay không, là điều không thể khẳng định được. Một khi họ trở mặt, một vạn quân của họ sẽ ập tới, thì Huỳnh Kiều không làm sao trở tay kịp. Nếu chúng ta chỉ trong một trận đánh mà tiêu diệt được lữ sáu độc lập, thì hai họ Lý sẽ không dám liều lĩnh tấn công ta. Sau cùng, mục tiêu của Hồng quân là tiêu diệt chiến, vậy chỉ cần tiêu diệt lộ quân cánh phía Bắc, thì có thể giúp cho bộ đội tiến thoái tự do, và hình thành sự bao vây quân tám mươi chín của địch.

Còn nói về cơ sở của sự tất thắng, ấy là trận giặc này đã vượt ra ngoài dự liệu của địch, nó có tính bất ngờ nên địch không kịp phòng bị. Hồng quân có thể tập trung hơn địch gấp đôi, để hình thành ưu thế cục bộ trên chiến trường. Từ đó, chiến thắng được lữ sáu độc lập là đơn vị rất tự cao tự đại. Đội hình tiến công của họ thường kéo dài đến mấy cây số, sẽ bị Hồng quân cắt đứt từng đoạn để bao vây tiêu diệt. Binh sĩ và sĩ quan của Hồng quân có kinh nghiệm tác chiến phong phú, hoàn toàn có thể nuốt chửng được cục xương này!

Sự phân tích của Túc Dụ được Trần Nghị ủng hộ. Thủ trưởng của các tung đội đều quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu được giao. Theo sự sắp đặt của Túc Dụ, sẽ tập trung hai tung đội một và hai đơn vị chủ lực, gồm sáu nghìn người, phục kích tại tuyến phía Bắc Huỳnh Kiều, và lấy "tung đội ba" trên một nghìn người sẽ cố thủ Huỳnh Kiều, thu hút cánh quân tám mươi chín của địch, khiến chúng không thể chia quân đi tăng viện nơi khác.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM