Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Sáu, 2024, 07:14:38 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Lịch sử Bộ đội Biên phòng Cao Bằng 1959-2009  (Đọc 4932 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #60 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2023, 09:27:46 am »


Từ năm 1959, đồn Công an nhân dân vũ trang Trà Lĩnh triển khai đóng đồn bảo vệ biên giới phụ trách địa bàn gồm các xã Cô Mười, Hùng Quốc, Tri Phương, Quang Hán, Xuân Nội; trong đó có khu vực đồi Phja Un ở xã Hùng Quốc chưa từng phát sinh tranh chấp.

Tháng 9.1974, phía Trung Quốc cho người sang ngăn cản cán bộ, chiến sỹ Đồn Công an nhân dân vũ trang Trà Lĩnh tuần tra bảo vệ đối với khu vực đồi Phja Un. Họ tuyên bố khu vực núi Phja Un là lãnh thổ Trung Quốc. Đồn Biên phòng Trà Lĩnh đã nhiều lần trao đổi và tiến hành phản kháng việc làm sai trái, đổi trắng thay đen, vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc.

Ngày 10.9.1974, phía Trung Quốc huy động lực lượng đến bao vây, doạ nạt tổ tuần tra của cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Trà Lĩnh và dân quân xã Hùng Quốc đang hoạt động tại khu vực Phja Un. Hơn 300 người dân của xã Hùng Quốc với tinh thần của phong trào “toàn dân làm tốt công tác quản lý, bảo vệ biên giới” đã kéo đến Phja Un, phối hợp với cán bộ, chiến sỹ biên phòng và dân quân ta kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc. Cuộc đấu tranh của dân ta kéo dài 3 ngày đêm, rất bền bỉ và kiên quyết. Phía Trung Quốc dùng xe ô tô chở người qua biên giới tăng cường lực lượng cố tình lấn chiếm Phja Un. Nhân dân địa phương cũng quyết một lòng đấu tranh giữ đất. Bà con tự lo tiếp tế, đảm bảo hậu cần, tự mang theo đồ dùng nấu ăn, lương thực, thực phẩm đến Phja Un, đảm bảo đủ sức bám trụ. Trong cuộc đấu tranh nổi lên gương cụ Hoàng Văn Thương, 80 tuổi, nằm chặn trước xe ô tô chở lính Trung Quốc, nhất định không cho chạy vào đất Việt Nam. Cuối cùng, đến chiều ngày 12.9.1974, phía Trung Quốc mới rút về bên kia biên giới.

Cuộc đấu tranh chống lấn chiếm ở Phja Un tạm lắng, thì ngày 17 và 18.9.1974, phía Trung Quốc lại huy động một lực lượng lớn thực hiện lấn chiếm ở 15 điểm thuộc vùng Lục Khu, huyện Hà Quảng. Tại 15 điểm này, cuộc đấu tranh chống lấn chiếm của quân dân Hà Quảng, trực tiếp là cán bộ, chiến sỹ các Đồn Biên phòng Sóc Hà, Nặm Nhũng, cùng dân quân, công an và đồng bào các xã Sóc Hà, Nà Sác, Trường Hà, Lũng Nặm, Kéo Yên, Cải Viên, Tổng Cọt, Nội Thôn... diễn ra vô cùng gian khổ và quyết liệt; nhất là cuộc đấu tranh diễn ra từ ngày 21 đến ngày 24.9.1974, tại Lũng Mới, một khu vực nằm giữa hai mốc quốc giới 105 - 106. Phía Trung Quốc huy động hơn 3.000 người vượt qua biên giới vào chiếm đất để canh tác trên lãnh thổ Việt Nam tại Lũng Mới. Tổ tuần tra biên giới của ta gồm cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Nặm Nhũng và dân quân xã Lũng Nặm đến khu vực bị lấn chiếm giải thích về hành động vi phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, liền bị họ bao vây, đe doạ. Đồng bào các dân tộc địa phương đánh kẻng, mõ báo động, truyền ám hiệu từ các xóm, xã sát biên vào sâu các xóm, xã nội địa. Trên 2.000 đồng bào ta đã kéo ra khu vực Lũng Mới kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, bảo vệ tổ tuần tra biên giới của ta, buộc lực lượng lấn chiếm phải rút về nước.

Từ tháng 10 đến đầu tháng 12.1974, các vụ lấn chiếm, tranh chấp đất đai trong biên giới ta ở Cao Bằng tạm thời lắng xuống. Nhưng cuối tháng 12.1974, các lực lượng của Trung Quốc lại tiếp tục kéo sang tranh chấp vùng đất Keng Thắm - Nà Ngà với diện tích rộng trên 60.000m2, ở vào đoạn giữa mốc 41 - 42, thuộc xã Quang Long, huyện Hạ Lang, địa bàn phụ trách của Đồn Biên phòng Bí Hà1.

Ngày 28.12.1974, Đội tuần tra biên giới của Đồn Biên phòng Bí Hà trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ đoạn biên giới từ mốc 41 - 42, thì bị hơn 300 người Trung Quốc mai phục xông ra bao vây ở vị trí gần mốc 42. Họ mang theo nhiều vũ khí như trung liên RPĐ, súng trường CKC, tiểu liên AK, nhiều gậy gộc, dao rựa, dao quắm... Họ xô đẩy, ném đất đá vào 10 người của Đội tuần tra của ta, đòi tước vũ khí, bắt cán bộ, chiến sỹ ta. Đội tuần tra của ta hết sức bình tĩnh giải thích cho những người xâm phạm trái phép vào lãnh thổ Việt Nam hiểu vùng đất mà họ đang đứng là hoàn toàn thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam và từ nơi này ra đến đường biên giới chung giữa hai nước còn các xa khoảng 300 mét và đề nghị họ bình tĩnh để cùng trao đổi, giải quyết. Bất ngờ một tên dùng gậy đánh vào đầu đồng chí đội trưởng tuần tra, làm đồng chí gục xuống. Cùng lúc đó, họ xông vào hành hung, đấm đá, giằng co, cướp giật vũ khí, trang bị, xé rách áo quần và trói cả 10 người của Đội tuần tra.

Nhận được tin báo, cấp uỷ, chính quyền và nhân dân xã Quang Long đã tổ chức lực lượng cùng với cán bộ chỉ huy Đồn Biên phòng Bí Hà đến khu vực bị tranh chấp để đấu tranh. Ta yêu cầu những người lấn chiếm phải tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam và phải cứu chữa những người bị thương. Sau khi được người dân bản Kiểng chỉ rõ trắng đen, số người Trung Quốc sang lấn đất buộc phải rút về nước.

Sáng ngày 29.12.1974, 4 cán bộ của Trạm Biên phòng Khoa Giáp, Trung Quốc, do Trạm trưởng Hoàng Điện Văn dẫn đầu đã sang liên hệ với Đồn Biên phòng Bí Hà (đối diện với Trạm Biên phòng Khoa Giáp) xin được làm thủ tục trao trả 10 người Đội tuần tra biên giới của Đồn Biên phòng Bí Hà. Với thiện chí giữ gìn quan hệ láng giềng hữu nghị và sự bình yên cho biên giới, ta đã phối hợp giải quyết hậu quả do họ gây nên; nhắc họ nhận rõ chủ quyền lãnh thổ của mỗi nước trên cơ sở các hiệp định, hiệp nghị biên giới và sự định vị lâu đời của các cột mốc 41, 42.
_________________________________________
1. Nay là Đồn Biên phòng Thị Hoa, phụ trách 3 xã Thị Hoa, Cô Ngân và Thái Đức. Sau khi thành lập năm 1959, Đồn còn phụ trách cả địa bàn hai xã Quang Long, Việt Chu. Năm 1987, Đồn Biên phòng Quang Long được thành lập, đóng tại xã Quang Long, hai xã Quang Long và Việt Chu thuộc phạm vi phụ trách của Đồn Biên phòng Quang Long.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #61 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2023, 09:33:47 am »


Cuối năm 1974, phía Trung Quốc còn triển khai lực lượng đẩy cao hoạt động tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và quyền sử dụng nguồn nước ở khu vực thác Bản Giốc, xã Đàm Thuỷ, huyện Trùng Khánh, gần mốc quốc giới 53. Đây là khu vực chủ quyền lãnh thổ Việt Nam, kể từ sau các Hiệp ước biên giới Pháp - Thanh năm 1887 và 1895. Vụ việc ở đây cũng bắt nguồn từ việc phía Trung Quốc đề nghị và được bà con ta cho phép đặt tạm một trạm xay xát nhỏ chạy bằng sức nước ở khu vực thác Bản Giốc, trong phần lãnh thổ Việt Nam. Từ đó họ chiếm dụng toàn bộ mặt nước ở đoạn thác này. Đến cuối năm 1972, đầu năm 1973, phía Trung Quốc công khai đòi hỏi chủ quyền đối với khu vực thác Bản Giốc. Cuối năm 1974, các hoạt động tranh chấp của Trung Quốc ở khu vực Thác Bản Giốc được liên tục đẩy lên cao và ngày càng quyết liệt. Họ huy động hàng ngàn người mang theo đục, búa, xà beng, thuốc nổ, quyết phá đỉnh thác để làm thay đổi dòng chảy có lợi cho họ, vi phạm các hiệp định, hiệp nghị, thoả thuận về biên giới giữa hai nước.

Cán bộ, chiến sỹ Đồn Biên phòng Pò Peo1 cử tổ công tác đến khu vực thác Bản Giốc giải thích cho những người từ Trung Quốc về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam đối với khu vực này. Nhưng nhiều người trong số họ tỏ thái độ bất chấp và hết sức hung hãn. Họ dùng ớt bột trộn với tro bếp được chuẩn bị sẵn và đất đá ném tới tấp vào cán bộ, chiến sỹ ta. Trước việc làm của phía Trung Quốc, nhân dân các xã Chí Viễn, Đàm Thủy kịp thời đến ứng cứu cho các chiến sỹ biên phòng. Cuộc đấu tranh chống lấn chiếm diễn ra hết sức gay go, quyết liệt. Phía Trung Quốc tiếp tục cho người khoan, đục các lỗ để nhồi thuốc nổ phá đá, nhân dân xã Đàm Thuỷ dùng các cây thân gỗ hoặc cọc tre đóng bịt các lỗ đã được đục sẵn, không cho họ nhồi thuốc nổ để phá hoại. Họ ghép các khối thuổc nổ với nhau để khi phát nổ có sức công phá lớn, khoét thành các hố sâu không cần phải khoan, đục. Nhiều cụ già địa phương liền kéo đến nằm, ngồi lên trên các khối thuốc nổ, ngăn không cho họ hành động. Trước thái độ kiên quyết, bám trụ đấu tranh liên tục suốt mấy ngày đêm của ta, cuối cùng họ phải rút về nước. Nhân dân Đàm Thuỷ xô hết số thuốc nổ của họ để lại xuống sông Quây Sơn.

Để tạo ra cơ sở pháp lý, hợp thức hoá cho các hoạt động lấn chiếm, phía Trung Quốc còn bí mật tiến hành di dời, hoặc đập phá một số cột mốc quốc giới. Trước tình hình đó, thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương và hướng dẫn của Bộ Tư lệnh, từ cuối tháng 3.1974, cùng với các đơn vị trên tuyến biên giới Việt - Trung, Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng đã phối hợp cùng cấp uỷ, chính quyền và quân dân địa phương tiến hành khảo sát, điều tra hiện trạng biên giới ở phạm vi tỉnh. Qua điều tra, khảo sát đã phát hiện 18 mốc quốc giới bị xê dịch vào lãnh thổ Việt Nam, 11 mốc khác bị đổ vỡ. Đồng thời phối hợp với địa phương điều tra thực địa tại 38 điểm diễn ra tranh chấp trong năm 1974, hoàn chỉnh hồ sơ 31 điểm, báo cáo Bộ Tư lệnh để phục vụ Nhà nước ta xúc tiến các cuộc đấu tranh ngoại giao, pháp lý bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Mặt khác, các đồn đã phối hợp với địa phương phát quang 35 km đường biên giới để dễ dàng quan sát, kịp thời phát hiện các biến động thay đổi đường biên giới; xử lý 5 cột mốc bị xê dịch để chuyển trở lại đúng vị trí cũ; lập hồ sơ hơn 1.000 đối tượng sưu tra2, tổ chức giáo dục răn đe và cải tạo tại chỗ hàng trăm tên, bắt tập trung cải tạo hàng chục tên chống phá cách mạng nghiêm trọng.

Chấp hành các chỉ thị, kế hoạch của trên, Đảng uỷ - Ban chỉ huy Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng thống nhất chủ trương triển khai thí điểm công tác điều tra, khảo sát khu vực biên giới tại xã Hùng Quốc, huyện Trà Lĩnh. Đây là địa bàn do Đồn Biên phòng Trà Lĩnh (nay là Đồn Biên phòng Hùng Quốc) phụ trách. Sau một thời gian thực hiện nhiệm vụ, ta phát hiện Đàm Quý Thỏ, tức Đàm Văn Thỏ, quê ở công xã Long Bang, huyện Trịnh Tây, Trung Quốc là đối tượng được cơ quan công an Trung Quốc phái sang hoạt động. Tên này đã lén lút quan hệ móc nối với một số cán bộ, chiến sỹ của Đồn Biên phòng Trà Lĩnh, một số thành viên của đoàn khảo sát và lợi dụng sơ hở của ta, đi lại nhiều nơi trong tỉnh và sang tỉnh Hà Giang... Y từng viết hơn 20 bản báo cáo giả gửi cho đồn Biên phòng Trà Lĩnh để gây uy tín, xin cư trú chính trị và nhận cộng tác bí mật với đồn, tạo vỏ bọc hoạt động lâu dài.

Ngày 24.9.1974, theo chỉ đạo của Bộ Công an và Cục Trinh sát Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng lập chuyên án QT 02 nhằm làm rõ hoạt động gián điệp của đối tượng, phục vụ bóc gỡ các cơ sở ngầm của nước ngoài, làm trong sạch địa bàn. Phòng Trinh sát Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng được Cục Trinh sát trực tiếp chỉ đạo và cử cán bộ phối hợp lập kế hoạch đấu tranh chuyên án. Đến cuối tháng 1.1975, ta quyết định kết thúc chuyên án. Ngày 25.1.1975, tên Thỏ bị bắt quả tang khi đang trên đường trở về huyện Trịnh Tây mang theo các tài liệu bí mật an ninh quốc gia của Việt Nam. Y khai rõ được giao nhiệm vụ sang Việt Nam để điều tra hoạt động của bộ đội Việt Nam và bộ đội Liên Xô đóng dọc biên giới, chính sách của Việt Nam đối với người Hoa và bắt liên lạc với tình báo viên của chúng đã cài cắm sẵn ở thị xã Cao Bằng.
______________________________________
1. Đồn được thành lập từ năm 1959. Nay gọi là Đồn Biên phòng Ngọc Khê. Khi mới thành lập, đồn phụ trách địa bàn toàn bộ các xã biên giới của huyện Trùng Khánh. Từ năm 1987, ở phạm vi huyện có thêm Đồn Biên phòng Lăng Yên, phụ trách hai xã Lăng Yên, Ngọc Chung và Đồn Biên phòng Đàm Thuỷ, phụ trách hai xã Đàm Thuỷ, Chí Viễn. Hiện Đồn Ngọc Khê còn phụ trách 4 xã Ngọc Khê, Ngọc Côn, Đình Phong, Phong Nặm.
2. Sưu tra là biện pháp nghiệp vụ cơ bản của lực lượng kiểm soát biên phòng, hải quan được tiến hành trên cơ sở kết quả thu thập, xử lý thông tin và điều tra nghiên cứu nắm tình hình.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #62 vào lúc: 18 Tháng Năm, 2023, 09:35:15 am »


Bước vào mùa xuân năm 1975, cuộc cách mạng của quân dân ta ở miền Nam có bước phát triển nhảy vọt. Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với cả nước, lực lượng Công an nhân dân vũ trang gấp rút chuẩn bị mọi mặt, kịp thời phục vụ cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phòng miền Nam. Tháng 2.1975. Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang kêu gọi các đơn vị tình nguyện tham gia chi viện miền Nam và quyết định điều động cán bộ, chiến sỹ từ các đơn vị tỉnh, thành trên toàn miền Bắc về Hà Nội thành lập các đơn vị có phiên hiệu B17, B18, B19... để đi làm nhiệm vụ tăng cường cho lực lượng An ninh vũ trang miền Nam.

Tại Cao Bằng, Đảng uỷ - Ban chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh thông báo cho các đơn vị tình hình phát triển mới của cách mạng miền Nam; chủ trương của Bộ Công an và Bộ Tư lệnh về việc động viên cán bộ, chiến sỹ tình nguyện tham gia chi viện cho cách mạng miền Nam. Ngay sau khi nhận được thông báo, hàng trăm lá đơn tình nguyện từ cơ quan, đơn vị, đồn, trạm biên phòng trong tỉnh gửi lên Đảng uỷ - Ban chỉ huy tỉnh xin tình nguyện được tham gia làm nhiệm vụ chi viện cho các tỉnh phía Nam. Căn cứ nhu cầu chi viện và tình hình cụ thể của địa phương, lãnh đạo Ty Công an Cao Bằng thống nhất với Đảng uỷ - Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh xây dựng kế hoạch điều động hơn 200 cán bộ, chiến sỹ công an trong tỉnh đi làm nhiệm vụ chi viện. Trong đó có các lực lượng trinh sát, cảnh sát, công an nhân dân vũ trang, công an huyện, cảnh sát khu vực. Ngày 28.4.1975, căn cứ vào báo cáo đề xuất của Đảng uỷ - Ban Chỉ huy tỉnh, Bộ Tư lệnh ra quyết định điều động 187 cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng, “trong đó có nhiều đồng chí là con em đồng bào các dân tộc, do đồng chí Đinh Ngọc Tuy làm trưởng đoàn lên đường chi viện kịp thời cho các tỉnh miền Nam vừa được giải phòng, đảm đương nhiệm vụ ở các tỉnh Long An, Kiên Giang biên giới Tây Nam của Tổ quốc”1.

Ngày 30.4.1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 của quân và dân ta mà đỉnh cao chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Tiểu đoàn 18 (d18) với thành phần gồm cán bộ, chiến sỹ của nhiều đơn vị Công an nhân dân vũ trang, trong đó có một bộ phận Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng, được giao nhiệm vụ bảo vệ dinh độc lập (Dinh Thống nhất), Ủy ban quân quản thành phố Hồ Chí Minh và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân ta đã thắng lợi hoàn toàn. Cùng với toàn Đảng bộ, quân dân trong tỉnh và cả nước, từ thời điểm này Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng chuyển sang một thời kỳ mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội.
____________________________________________
1. Tư liệu lưu tại Phòng Chính trị. Sở Công an Cao Bằng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #63 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2023, 10:18:57 am »


CHƯƠNG 3

CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG, XÂY DỰNG KHU VỰC BIÊN GIỚI VỮNG MẠNH,
ĐẤU TRANH CHỐNG LẤN CHIẾM, CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ TỔ QUỐC (1975 -1979)



I. HỢP NHẤT TỈNH. CỦNG CỐ, PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG. XÂY DỰNG KHU VỰC BIÊN GIỚI VỮNG MẠNH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ MỚI

Ngày 30.4.1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta đã giành thắng lợi hoàn toàn, mở ra một giai đoạn mới cho cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, với bản chất hiếu chiến và xâm lược, đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố theo đuổi mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng câu kết với các thế lực thù địch thực hiện “kế hoạch hậu chiến”, tiếp tục phá hoại những thành quả của cách mạng và đe doạ xâm phạm chủ quyền lãnh thổ của nước ta; ngăn cản nhân dân ta khôi phục, xây dựng lại đất nước.

Tháng 8.1975. Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 24 để định ra nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới. Chấp hành chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng đoàn Bộ Nội vụ1 chỉ thị cho toàn lực lượng Công an nhân dân vũ trang: “Phải khẩn trương củng cố, kiện toàn tổ chức, xây dựng lực lượng Công an nhân dân vũ trang vững mạnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới... cần kiện toàn bộ máy tổ chức lãnh đạo, chỉ huy Công an nhân dân vũ trang các tỉnh phía Nam".

Thực hiện chủ trương trên, tháng 5.1975, Bộ Tư lệnh phát động trong các đơn vị Công an nhân dân vũ trang phía Bắc phong trào 2 tình nguyện: Tình nguyện làm tốt nhiệm vụ chi viện cho các tỉnh phía Nam; Tình nguyện nhận và làm thêm, làm tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền an ninh ở phía Bắc trong mọi tình hình.

Hưởng ứng chủ trương của Trung ương, trực tiếp là của Bộ Tư lệnh, Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng cùng với các đơn vị trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung, Việt - Lào, tuyến biển đảo và các đơn vị bảo vệ nội địa... sôi nổi thi đua tiếp tục đăng ký tình nguyện chi viện cho an ninh vũ trang các tỉnh phía Nam.

Trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, tình hình an ninh trật tự tiếp tục ổn định. Tuy nhiên các đối tượng phản động, gián điệp tình báo vẫn ngấm ngầm tăng cường các hoạt động xâm nhập, điều tra thu thập tình báo trên nhiều lĩnh vực. Chúng tận dụng yếu tố địa hình núi non hiểm trở, hẻo lánh, đời sống đồng bào các dân tộc miền núi còn nhiều khó khăn để tuyên truyền, xuyên tạc, thực hiện chiến tranh tâm lý, chia rẽ nội bộ, đoàn kết giữa Đảng và quần chúng nhân dân. Địa bàn xâm nhập và thu thập tình báo ở Cao Bằng thời kỳ này tập trung nhiều qua con đường công khai như tham quan, du lịch, thăm quê của những người đi xa lâu ngày trở về... Hướng xâm nhập chủ yếu là từ nội địa ra và qua các cửa khẩu vào.

Đường biên giới quốc gia ở địa phận tỉnh Cao Bằng qua các vùng rừng núi có nhiều đường mòn qua lại được bọn phản động và ngoại kiều triệt để lợi dụng, móc nối qua biên giới, thực hiện mưu đồ nhen nhóm lại lực lựợng, nhằm tiếp tục chống đối chế độ và phá hoại thành quả cách mạng. Ngoài ra, các đối tượng như gián điệp, phản động tay sai cũ của Pháp, nổi lên ở Cao Bằng sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng là các phần tử phản động mới, phản động trong đồng bào dân tộc thiểu số. Trong số đó đáng chú ý là loại gián điệp mới của Mỹ và bọn tay sai (ký hiệu là P86). Đây là loại gián điệp do cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA) và Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo của nguỵ quyền Sài Gòn (CIO)2 tuyển chọn trong số cán bộ, bộ đội của ta bị địch bắt trên chiến trường miền Nam. Địch huấn luyện cấp tốc các đối tượng này thành gián điệp rồi cài cắm trở lại hoạt động ở miền Bắc và trong các vùng giải phóng miền Nam dưới nhiều vỏ bọc như nghỉ phép, đi công tác, đi chữa bệnh, đào binh, lạc ngũ, trao trả tù binh... để ẩn nấp, chống phá lâu dài. Qua quá trình đấu tranh, ngành Công an còn phát hiện P86 bao gồm cả một số cán bộ, nhân dân miền Nam ra Bắc để học tập, chữa bệnh; ngư dân làm nghề vận tải trên biển bị địch bắt, tuyển chọn, huấn luyện rồi thả về miền Bắc. Từ tháng 5-6.1975, lực lượng trinh sát trong các đơn vị Công an nhân dân vũ trang Cao Bằng đã phát hiện thấy các dấu hiệu hoạt động của những đối tượng nghi P86 và chủ động phối hợp với Công an tỉnh đấu tranh.
_______________________________________
1. Ngày 6.6.1975, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khoá V nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra quyết định hợp nhất Bộ Công an và Bộ Nội vụ thành một bộ, gọi là Bộ Nội vụ.
2. CIA viết tắt từ Central Intelligece Agency; CIO viết tắt từ Central Intelligece Office.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #64 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2023, 10:23:01 am »


Cùng thời gian từ tháng 5.1975 trở đi, tình hình biên giới Việt Nam - Trung Quốc ngày càng xảy ra nhiều vụ việc phức tạp. Các lực lượng bộ đội, công an, dân binh... từ bên kia biên giới liên tiếp gây ra nhiều vụ tranh chấp, xâm lấn lãnh thổ nước ta. Riêng đoạn biên giới Cao Bằng, từ tháng 5 đến tháng 12.1975, các lực lượng từ bên kia biên giới đã tranh chấp, lấn chiếm trên phạm vi tất cả các huyện giáp biên của Cao Bằng. Họ lấn chiếm ở các khu vực mốc 20, 21, 22, 23 lấn chiếm Lũng Tàn1 (huyện Thạch An); cồn Pò Đon (trên sông Bắc Vọng, thị trấn Tà Lùng, huyện Quảng Hoà); mốc 28, 29, 30, 31, ở cánh đồng Đông Nạng, khu vực Nà Khao, xã Thị Hoa, huyện Hạ Lang; mốc 53, 54, ở Bản Giốc, xã Đàm Thuỷ; mốc 62, 63, (Giảng Gà, xã Đình Phong) khu vực mốc 84, 85 Pò Peo, xã Ngọc Khê2 (huyện Trùng Khánh); mốc 93, 94, 95 ở Phja Un (huyện Trà Lĩnh); mốc 104, 105 ở Pác Có, xã Lũng Nặm; mốc 111, 112, 113 ở xóm Nà Sác, xã Sóc Giang3; mốc 114, 115, 116, 117, 118 ở Phai Luông, xã Sóc Giang (huyện Hà Quảng); mốc 120, 121 ở 2 xóm Pò Mắn và Bó Gai, xã Cần Yên (huyện Thông Nông); mốc 128, 129 ở xóm Phiêng Mòn, Cốc Tào, xã Nặm Quét (nay là xã Cô Ba); mốc 136 phụ, xã Cốc Pàng, huyện Bảo Lạc... Năm 1975, các lực lượng của Trung Quốc vi phạm trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta 523 lần; tăng cao hơn hẳn so với năm 1974. Họ sử dụng nhiều lực lượng tranh chấp với ta tại 88 điểm trên biên giới và tuyên bố “đó là đất của Trung Quốc”. Trong đó, căng thẳng và nóng bỏng nhất diễn ra ở các mốc quốc giới 15, 16, 53 thuộc phạm vi tỉnh Cao Bằng. Phần lớn các điểm bị lấn chiếm này là những vùng có nguồn nước, rừng gỗ quý, các loại khoáng sản...

Trước tình hình mới, ngày 20.9.1975, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc bỏ đơn vị hành chính cấp khu, hợp nhất tỉnh nhằm điều chỉnh lĩnh vực quản lý hành chính của đất nước. Thực hiện chủ trương đó, ngày 27.12.1975, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (khoá V, kỳ họp thứ 2) quyết nghị "... Hợp nhất tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn thành một tỉnh mới lấy tên là Cao Lạng...”.

Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Bộ Nội vụ, ngày 26.12.1975, Bộ Tư lệnh ra Chỉ thị số 19/BTL chỉ đạo các đơn vị liên quan trong lực lượng chuẩn bị thực hiện việc hợp nhất. Công an nhân dân vũ trang tỉnh Cao Bằng được Bộ Tư lệnh thông báo sẽ hợp nhất với Công an nhân dân vũ trang tỉnh Lạng Sơn thành một đơn vị chung là Công an nhân dân vũ trang tỉnh Cao Lạng. Theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh, các đơn vị hợp nhất có nhiệm vụ:

- Lãnh đạo thực hiện tốt công tác tư tưởng, chính trị, làm cho cán bộ, chiến sỹ thông suốt với chủ trương của Đảng và Nhà nước.

- Nhanh chóng ổn định tổ chức, duy trì mọi hoạt động thường xuyên của đơn vị, đảm bảo đoàn kết, thống nhất, chủ động ứng phó kịp thời, hiệu quả mọi tình huống.

- Quản lý chặt chẽ nội bộ, tài chính, tài sản, trang bị, phương tiện không để sơ hơ, lãng phí, tham ô, mất mát, hư hỏng.

Ngày 18.2.1976. Bộ Tư lệnh ra Quyết định số 09/QĐ-BTL, hợp nhất Công an nhân dân vũ trang hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn thành Công an nhân dân vũ trang tỉnh Cao Lạng và quy định mọi hoạt động của Công an nhân dân vũ trang tỉnh Cao Lạng “đều đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Tỉnh uỷ; chỉ đạo, chỉ huy toàn diện của Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang và sự chỉ đạo nghiệp vụ của Trưởng ty Công an Cao Lạng, có chức năng, nhiệm vụ tổ chức, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới Tổ quốc trong phạm vi tỉnh”.

Về cơ cấu tổ chức, biên chế, Bộ Tư lệnh quy định Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng có Ban Chỉ huy tỉnh, các đơn vị trực thuộc và hệ thống các đồn biên phòng.

Cơ quan Ban chỉ huy tỉnh có 167 cán bộ, chiến sỹ, được tổ chức thành 10 bộ phận: Ban chỉ huy (5 người), Ban Tham mưu (34 người), Ban Chính trị (24 người), Ban Trinh sát (19 người), Ban Hậu cần (24 người), Ban Hành chính - Quản trị (16 người), Trung đội Thông tin (19 người), Tiểu đội lái xe (13 người), Bệnh xá (6 người), Tiểu đội Vệ binh (7 người). Tuyến biên giới tỉnh Cao Lạng có 18 đồn biên phòng. Quân số các đồn tạm thời giữ yên theo nguyên trạng, để tránh xáo trộn và từng bước điều chỉnh khi tình hình cho phép.
_______________________________________
1. Lũng Tàn nay thuộc xã Đức Long, huyện Thạch An.
2. Nay tách thành hai xã Ngọc Khê và Ngọc Côn.
3. Nay là xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #65 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2023, 10:45:35 am »


Ngày 22.2.1976, Bộ Nội vụ ra quyết định giải thể Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang khu Việt Bắc và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng. Theo đó, Trung tá Vũ Tá Lại giữ chức Chỉ huy trưởng; Trung tá Hoàng Khiêm giữ chức Chính uỷ; Thiếu tá La Văn Cừu và Thiếu tá Trần Đình Mưu làm Chỉ huy phó.

Tháng 3.1976, sau khi hợp nhất và nhanh chóng kiện toàn về tổ chức, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ Cao Lạng, Đảng bộ Công an nhân dân vũ trang tỉnh Cao Lạng tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ nhất, tại thị xã Cao Bằng. Đại hội tập trung đánh giá tình hình, xác định nhiệm vụ và bàn các biện pháp đảm bảo cho công tác biên phòng ở Cao Lạng thực hiện đúng đường lối an ninh, quốc phòng, đối ngoại của Đảng, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc. Đối với công tác biên phòng trước tình hình mới, Nghị quyết Đại hội xác định nhiệm vụ của các đơn vị Công an nhân dân vũ trang trong toàn tỉnh Cao Lạng là “phải tăng cường các biện pháp tổ chức nắm tình hình, đi sâu về mọi mặt để xác định phương thức, thủ đoạn hoạt động và sự phân hoá của các loại đối tượng theo Nghị quyết 31 của ngành... Trên cơ sở đó có đối sách đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn, trấn áp kịp thời. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ, quản lý quốc giới nguyên trạng lịch sử, chống lấn chiếm đất đai; bảo vệ tài nguyên đất nước, tài sản xã hội chủ nghĩa, giữ vững nguyên tắc độc lập chủ quyền và tình đoàn kết hữu nghị quốc tế.

Tích cực làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương, tuyên truyền, giáo dục, phát huy quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của quần chúng nhân dân các dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đẩy mạnh sản xuất, thực hiện 3 cuộc cách mạng ở khu vực biên phòng, đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong địa bàn đơn vị phụ trách”.

Từ năm 1976, nhiệm vụ của Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng hết sức nặng nề. Khu vực biên giới của tỉnh theo địa giới hành chính mới có đường biên dài gần 600 km, 236 cột mốc quốc giới, 11 huyện biên phòng, 50 xã giáp biên, hơn 10 dân tộc với khoảng 110.500 dân sống xen kẽ nhau; có nhiều cửa khẩu địa phương, cửa khẩu quốc gia và cửa khẩu quốc tế; lớn nhất là cửa khẩu Hữu Nghị và các cửa khẩu quan trọng khác như Tà Lùng, Hùng Quốc, Sóc Giang... Nhiệm vụ càng nặng nề hơn trong bối cảnh biên giới Việt - Trung đang tiếp tục diễn biến theo hướng ngày càng căng thẳng, phức tạp.

Căn cứ tình hình thực tế ở khu vực biên giới, ban Thường vụ Tỉnh uỷ Cao Lạng chỉ đạo các cấp đơn vị trong tỉnh cần đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng xã biên giới vững mạnh để tăng cường khả năng quản lý, bảo vệ biên giới. Tỉnh uỷ chỉ đạo cần tập trung thí điểm ở địa bàn trọng điểm. Trên cơ sở đó, tiến hành sơ tổng kết, rút kinh nghiệm, phát động trên diện rộng.

Thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ, từ giữa năm 1976, sang năm 1977, Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng xây dựng và thực hiện kế hoạch phối hợp, hiệp đồng cùng các lực lượng của Ty Công an, Tỉnh đội, cấp uỷ, chính quyền và nhân dân địa phương mở cuộc vận động thí điểm làm trong sạch địa bàn tại huyện Bảo Lạc. Bảo Lạc là huyện vùng cao biên giới, rộng gần 2000km2, dân cư thưa thớt, có đường biên giới quốc gia dài gần 55km, giáp huyện Nà Po, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Đây là địa bàn quan trọng về quốc phòng - an ninh, nằm ở phía Tây của tỉnh, cách tỉnh lỵ (thị xã Cao Bằng) 140km. Đường giao thông đến huyện chất lượng kém. Việc đi lại gặp nhiều khó khăn. Trên địa bàn huyện có 9 dân tộc cùng chung sống. Trong đó, 4 dân tộc Mông, Tày, Nùng, Dao chiếm tỷ lệ trên 84% (riêng người Mông đông nhất chiếm tỷ lệ 27%). Đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nhiều tập quán cũ, lạc hậu vẫn còn tồn tại. Nhân dân hai bên biên giới có nhiều mối quan hệ huyết thống, thân tộc, dòng họ... thường xuyên qua lại thăm thân, mua bán, trao đổi hàng hoá. Ý thức quốc gia, quốc giới, nhất là ý thức cảnh giác với âm mưu của bọn chống phá cách mạng, làm tổn hại đến chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia của một bộ phận không nhỏ bà con chưa cao. Từ đó việc di dân tự do từ bên kia biên giới sang cư trú ở Bảo Lạc ngày càng tăng cao. Trong số những người sang cư trú bất hợp pháp ở Bảo Lạc, một số đối tượng hoạt động vì mục đích chính trị đã được nước ngoài cho trà trộn để cài cắm vào nội bộ ta.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #66 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2023, 10:46:25 am »


Công tác điều tra trong cuộc vận động thí điểm năm 1976 đã giúp ta phát hiện 1.208 người từ bên kia biên giới sang cư trú trái phép ở Bảo Lạc. Họ cư trú ở 196/336 xóm của toàn huyện. Năm 1977, số người cư trú trái phép ở huyện tăng lên 3.141 người và sinh sống ở tất cả 22 xã của toàn huyện. Ở nhiều xã, những người cư trú trái phép sống tập trung thành từng xóm riêng. Có một số xã, số người cư trú theo dạng này đã chiếm tỷ lệ khá cao như ở xã Cô Ba là 25%, xã Cốc Pàng là 30%... Họ chặt phá cây cối để dựng nhà ở, làm chuồng trâu bò, làm củi, tự ý đốt phá rừng, khai phá 460 hécta đất nương rẫy để trồng trọt làm ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội của huyện, gây mất đoàn kết với bà con địa phương. Đặc biệt, một số người có việc làm sai phạm được cán bộ và đồng bào địa phương nhắc nhở đã tỏ thái độ coi thường chính quyền, công khai phản ứng cán bộ ta ở cơ sở, tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, gây bất bình trong quần chúng.

Qua sàng lọc phân loại, cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang phối hợp với Công an Cao Lạng làm rõ trong số người từ bên kia biên giới sang cư trú trái phép tại huyện Bảo Lạc có 31 đối tượng thuộc gia đình địa chủ, phú nông. Nhiều trường hợp là công an, sỹ quan quân đội, cán bộ khoa học kỹ thuật, đảng viên Đảng Cộng sản; 246 người lấy vợ Việt Nam; 321 phụ nữ lấy chồng Việt Nam; 22 người làm con nuôi của người Việt Nam. Nhiều đối tượng là những tên lưu manh, trộm cướp, cờ bạc, có tiền án, tiền sự bên nước họ. Số ít còn lại khai nhận là có họ hàng, kết nghĩa với người Việt Nam... Tình hình này dẫn đến việc gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Số vụ phạm pháp ở Bảo Lạc trong đó có nhiều vụ trọng án hàng năm đều tăng. Trong 3 năm (1973 - 1975), số vụ phạm pháp tăng bình quân trên 20%, năm cao nhất tăng 30%. Trong đó, 65% các vụ phạm pháp do các đối tượng người nước ngoài cư trú trái phép gây ra.

Cuộc vận động thí điểm làm trong sạch địa bàn biên giới ở huyện Bảo Lạc được đông đảo quần chúng đồng tình, tích cực giúp đỡ. Nhiều bà con đồng bào các dân tộc đã chủ động tham gia, kiên trì vận động những người vượt biên giới sang cư trú trái phép trở về nước họ. Được các lực lượng của ta phối, kết hợp chặt chẽ, bền bỉ tuyên truyền, giải thích về pháp luật Việt Nam, giáo dục, thuyết phục về chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia theo thông lệ quốc tế, gần 2.000 người nước ngoài cư trú trái phép ở Bảo Lạc đã chấp thuận trở về nước. Đồng thời cuộc vận động đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao ý thức về quốc gia, quốc giới, ý thức cảnh giác với ý đồ đen tối của các thế lực phản động, thù địch. Hàng trăm người từ quần chúng đến cán bộ, đảng viên ở cơ sở, từ cấp xã đến cấp huyện đã tự liên hệ, nhận rõ những sơ hở mất cảnh giác của mình trong việc quan hệ về nguyên tắc với người nước ngoài. Một số người đã nhận rõ việc làm sai trái của mình khi chứa chấp, che giấu người nước ngoài cư trú trái phép, hoạt động trái pháp luật. Qua cuộc vận động, các đồn biên phòng đã có điều kiện thuận lợi hoàn thiện danh sách sưu tra, các phương án đấu tranh với các loại đối tượng; làm trong sạch địa bàn, củng cố các lực lượng công an, dân quân, góp phần ổn định đời sống, sản xuất của bà con các dân tộc ở các xã trong khu vực biên giới ở huyện Bảo Lạc.

Sau khi tổng kết rút kinh nghiệm cuộc vận động làm trong sạch địa bàn huyện Bảo Lạc, Đảng uỷ - Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng đã tham mưu cho Tỉnh uỷ thực hiện kế hoạch phát động cuộc vận động xây dựng “xã an ninh vững mạnh” trong khu vực biên giới toàn tỉnh. Để thực hiện cuộc vận động, cán bộ, chiến sỹ các đơn vị, đồn, trạm biên phòng, trực tiếp là các đội vận động quần chúng, lực lượng trinh sát, có lúc tăng cường thêm lực lượng của các đội vũ trang, đã tích cực làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền địa phương. Đồng thời, anh em được tổ chức thành các đội công tác đã thực hiện “bốn cùng” để tuyên truyền, phổ biến mục đích cuộc vận động; lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người dân, làm cho bà con yên tâm làm ăn, sản xuất và tự giác giúp đỡ, tham gia cuộc vận động. Các đội công tác biên phòng phối hợp với cán bộ lãnh đạo địa phương tổ chức cho bà con học tập “quy chế biên giới”, học tập tài liệu “Bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới là trách nhiệm của toàn dân”, kết hợp mở các lớp tập huấn kỹ, chiến thuật quân sự và nghiệp vụ an ninh cho dân quân, công an xã. Nhờ đó bà con đồng bào các dân tộc ở 55 xã biên giới Cao Lạng đã chủ động cung cấp cho các đội công tác nhiều nguồn tin quan trọng, liên quan đến các loại đối tượng ở địa bàn. Kết quả, năm 1977, với sự phát hiện của quần chúng, ta đã bắt được 20 tên thám báo xâm nhập khu vực biên giới hoạt động điều tra thu thập tin tức. Các đơn vị biên phòng xây dựng, phát triển thêm được 97 cơ sở bí mật, tiến hành lập danh sách sưu tra và lập hồ sơ xác lập hiềm nghi tổng cộng 2.958 đối tượng. Trong đó, 2.012 đối tượng nghi vấn gián điệp, 444 đối tượng phản động, 502 đối tượng phạm tội hình sự; xác lập các chuyên án, phá một số vụ án, lập hồ sơ đề nghị tập trung cải tạo một số đối tượng khác.

Cuối năm 1977, tổng kết phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc kết hợp với cuộc vận động xây dựng “xã an ninh vững mạnh”, trong 55 xã biên giới Cao Lạng, 5 xã được tỉnh công nhận đạt danh hiệu “Quyết thắng”, 17 xã đạt danh hiệu tiên tiến, 17 xã khá. Nhưng kết quả quan trọng nhất là qua phong trào và cuộc vận động, các cấp uỷ Đảng, chính quyền, lực lượng công an, dân quân, các đoàn thể quần chúng ở cơ sở được củng cố vững chắc hơn trước, ý thức bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, cảnh giác với âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động, thù địch trong cán bộ, đảng viên, quần chúng được nâng lên rõ rệt, thể hiện ở việc tố cáo các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của bọn xấu, khai báo những trường hợp cư trú chưa được phép... với cán bộ lãnh đạo địa phương, cán bộ, chiến sỹ biên phòng. Các phương án hiệp đồng bảo vệ biên giới giữa các lực lượng ở cơ sở tiếp tục được hoàn thiện và tổ chức diễn tập theo định kỳ...

Nhờ những nỗ lực trên nhiều mặt của Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng, trực tiếp là các đồn biên phòng trên biên giới và sự chỉ huy, điều hành của Bộ chỉ huy quân sự thống nhất, sự phối hợp, giúp đỡ của cấp uỷ, chính quyền, nhân dân các dân tộc biên giới, sự hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, cơ quan, ban, ngành địa phương, khu vực biên giới Cao Lạng những năm 1975 - 1978 đã được xây dựng củng cố thành phòng tuyến vững chắc, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền quốc gia trong tình hình mới.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #67 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2023, 10:47:58 am »


II. ĐẤU TRANH CHỐNG LẤN CHIẾM, BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, TOÀN VẸN LÃNH THỔ, AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA

Đến cuối năm 1975, các lực lượng của phía Trung Quốc đã chốt giữ trái phép trên lãnh thổ Việt Nam 102 điểm và đang tiếp tục gây căng thẳng, tranh chấp với ta ở 7 điểm khác. Từ tháng 1 đến tháng 7.1976, Trung Quốc tiếp tục gây thêm 43 điểm tranh chấp lấn chiếm khác vào đất của ta. Trong đó, riêng biên giới ở phạm vi tỉnh Cao Lạng, phía Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam 287 lần, với 4.862 lượt người (bao gồm 1.281 lượt bộ đội, 130 lượt công an, 808 lượt công nhân, 2.643 lượt với danh nghĩa là người dân) tại 33/43 điểm trên toàn tuyến biên giới Việt - Trung.

Từ năm 1976, trong các vụ tranh chấp, lấn chiếm vào đất ta, Trung Quốc hành động gay gắt, quyết liệt hơn nhiều so với trước. Lực lượng họ huy động để tranh chiếm đất của ta thường từ 300 - 400 người, có vụ họ huy động đến 2.000 người. Thành phần tham gia lấn chiếm chủ yếu là bộ đội, công an biên phòng, dân binh, tù nhân được đưa từ một số nhà tù, trại cải tạo của Trung Quốc... Tại địa phận Cao Lạng, khu vực các mốc 19, 20, 53, 94, 114 là những nơi bị các lực lượng của Trung Quốc kéo sang tranh chấp, lấn chiếm căng thẳng và quyết liệt nhất. Họ thẳng tay xô xát, hành hung gây thương tích đối với những người của ta tham gia đấu tranh chống lấn chiếm. Tại khu vực quốc giới 128 - 129 tại Lũng Láo Lú (xã Nặm Quét, huyện Bảo Lạc), các lực lượng từ Trung Quốc kéo sang phá nhà ở giữ chốt của cán bộ, chiến sỹ biên phòng Cao Lạng. Họ phá bỏ 10 cầu tre trên đường tuần tra biên giới của ta từ Hà Tháo Trá đi Cốc Pàng; hành hung những người Việt Nam ra khuyên bảo, ngăn cản, gây thương tích hơn 60 người và giằng co, cướp giật của chiến sỹ biên phòng Việt Nam 8 băng đạn AK.

Nghiêm trọng hơn, ngày 15.1.1977, các lực lượng công an, dân binh, công nhân từ Trung Quốc sang làm đường vào lãnh thổ ta, khu vực thuộc phạm vi bảo vệ của Đồn Biên phòng Nặm Quét (nay gọi là Đồn Biên phòng Cô Ba, xã Cô Ba, huyện Bảo Lạc). Cán bộ, chiến sỹ đồn cùng dân quân và bà con các dân tộc ở địa phương đấu tranh ngăn chặn hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam. Bọn người lấn chiếm liền xô xát, đánh đập đồng bào và chiến sỹ ta, làm bị thương 2 chiến sỹ, bắt 1 chiến sỹ của Đồn Biên phòng Nặm Quét đưa về trạm biên phòng của họ ở Lũng Hồ. Lính của họ chĩa súng vào ngực ép chiến sỹ ta phải thừa nhận yêu sách của họ đối với đất đai Việt Nam. Chiến sỹ biên phòng Đồn Nặm Quét vẫn kiên quyết phản đối mọi hành động phi đạo lý, bác bỏ mọi đòi hỏi phi lý từ phía họ. Cuối cùng đối phương buộc phải trả người.

Trước tình hình mới, ngày 3.12.1977, Bộ Tư lệnh lực lượng điện khẩn chỉ đạo lực lượng Công an nhân dân vũ trang các tỉnh phía Bắc phải chú ý cảnh giác với hành động của đối phương trong thời gian tiếp theo, có thể họ còn tiếp tục gây ra những điểm nóng mới, nghiêm trọng hơn; phải “theo dõi chặt chẽ những đối tượng có thể gây ra những vụ rối loạn, có kế hoạch đối phó kịp thời, thông báo cho Ban Chỉ huy đồn và các đơn vị cơ động sẵn sàng đối phó. Các đội công tác biên phòng phải thường xuyên hoạt động ở địa bàn. Mọi tình hình diễn biến phải kịp thời báo cáo về Bộ Tư lệnh để chỉ đạo” (Điện số 33). Đồng thời cuối năm 1977, Bộ Tư lệnh quyết định tăng quân số cho các đồn trên tuyến biên giới phía Bắc và cho phép mỗi tỉnh biên phòng trên tuyến này lập thêm 2 - 3 đại đội cơ động.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới và chấp hành chỉ đạo của Bộ Tư lệnh, Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng vừa tích cực phối hợp với các đơn vị, lực lượng, nhân dân biên giới đấu tranh chống lấn chiếm đất đai, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, vừa khẩn trương củng cố, kiện toàn tổ chức từ cơ quan Ban Chỉ huy đến các đơn vị cơ sở, đồn, trạm biên phòng trên biên giới. Đảng uỷ, Ban Chỉ huy tỉnh thống nhất chủ trương tập trung mọi biện pháp tạo chuyển biến mạnh mẽ toàn diện trong đơn vị. Trong đó tập trung vào hai khâu trọng điểm là tổ chức và tư tưởng.

Thực hiện chủ trương đó, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Công an vũ trang Cao Lạng khẩn trương tổ chức cho cán bộ, chiến sỹ, đảng viên, đoàn viên học tập quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, các Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 30, 31; các chỉ thị của Bộ Tư lệnh, nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Cao Lạng; tình hình nhiệm vụ của đơn vị. Qua học tập, cán bộ, chiến sỹ đều nhận thức đúng đắn đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, thông suốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhiệm vụ của ngành Công an, trực tiếp là nhiệm vụ chung của lực lượng và của Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng. Trong hoạt động bảo vệ biên giới, 100% cán bộ, chiến sỹ thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng đúng đắn, luôn nêu cao tinh thần “khắc phục khó khăn - dũng cảm trước địch - trung thành với Đảng - tận tuỵ với dân”, kiên quyết đấu tranh, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc.

Năm 1977, đến cuối năm 1978, Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng tập trung xây dựng, củng cố điểm ở 4 đồn biên phòng Tổng Cọt, Đàm Thuỷ (thuộc Cao Bằng cũ), Tân Thanh, Thanh Loà (thuộc Lạng Sơn cũ). Trên cơ sở đó, thực hiện kế hoạch củng cố, tăng cường sức chiến đấu cho tất cả các đồn trên toàn tuyến biên giới thuộc phạm vi tỉnh. Mặt khác, được Bộ Tư lệnh cho phép, Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh đã triển khai thành lập thêm 4 đại đội cơ động là c1, c3, c5, c7 để tăng cường lực lượng đấu tranh chống lấn chiếm và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biên giới.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 32, sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, Đảng uỷ - Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh xác định nhiệm vụ bảo vệ biên giới lúc này là tiếp tục củng cố, phát triển lực lượng, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Trước mắt không để cho các lực lượng bên kia biên giới mở rộng thêm điểm và diện lấn chiếm, bám sát cấp uỷ, chính quyền địa phương, hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng, tăng cường tuần tra biên giới; tăng cường công tác vận động quần chúng, dựa chắc vào dân, chủ động nắm chắc tình hình trong ngoài biên giới; kịp thời tham mưu đề xuất và thực hiện mọi hình thức, biện pháp, nỗ lực đấu tranh xoá bỏ các hiện trạng mới được tạo ra trên biên giới; thu hồi, quản lý và bảo vệ vững chắc các vùng đất bị lấn chiếm. Kết quả, năm 1977, các đơn vị biên phòng đã cùng quân dân trong tỉnh bước đầu hạn chế được các hoạt động lấn chiếm, xóa được một số điểm hiện trạng mới do đối phương tạo ra, phá được gần 60m kè đá, san lấp được khoảng 100m rãnh dẫn nước xây trái phép trên lãnh thổ ta. Thu dọn 21 điểm với diện tích 10.630m2 do người nước ngoài xâm canh và chủ động thu hoạch được hơn 3.000kg ngô, đỗ tương ở 7 điểm bị những người lấn chiếm gieo trồng trái phép. Tổ chức bảo vệ và đưa bà con trở về những khu vực bị lấn chiếm trước đây làm ăn, sinh sống và từng bước ổn định đời sống.
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #68 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2023, 10:50:05 am »


III. CHUẨN BỊ SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, TOÀN VẸN LÃNH THỔ, AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA

Trước những động thái mới của bọn phản động quốc tế, ngày 1.1.1978, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 03 yêu cầu các địa phương, các lực lượng vũ trang phải chủ động chuẩn bị công tác phòng thủ chống xâm lược và xác định rõ mối quan hệ phối hợp giữa công an nhân dân vũ trang với các cơ quan quân sự địa phương. Đồng thời, Ban Bí thư chỉ đạo phải xây dựng được cơ chế chỉ huy thống nhất từ cấp tỉnh, thành đến cấp quận, huyện.

Thực hiện thông báo trên, ngày 31.1.1978, Bộ Tư lệnh lực lượng ra Mệnh lệnh số 05 cho các đơn vị trên tuyến biên giới phía Bắc sẵn sàng đối phó với mọi khả năng xảy ra chiến tranh, thực hiện quyết tâm bảo vệ biên giới của lực lượng Công an nhân dân vũ trang, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên phòng.

Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh, từ đầu tháng 2.1978, Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng xây dựng xong phương án chiến đấu cấp tỉnh và triển khai xuống các đồn vào ngày 13.3.1978 (trước quy định của Bộ Tư lệnh 2 ngày); triển khai xong kế hoạch bố phòng chiến đấu vào ngày 27.4.1978 (trước quy định 3 ngày). Đảng uỷ, Ban Chỉ huy Công an nhân dân vũ trang tỉnh căn cứ vào tình hình cụ thể đã xác định quyết tâm: Bất cứ tình hình diễn biến phức tạp đến đâu vẫn đảm bảo bảo vệ chặt chẽ biên giới. Kiên quyết và tích cực bắt sống, tiêu diệt các toán tình báo, gián điệp, các toán vũ trang phản động từ bên ngoài xâm nhập; trấn áp bọn phản động bên trong, kiên quyết chiến đấu trong khu vực biên phòng. Sau gần 3 tháng tích cực phấn đấu, cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng từ tỉnh đến các đồn, trạm biên phòng đã khẩn trương, nghiêm túc thực hiện đầy đủ, toàn diện các khâu liên quan cho nhiệm vụ chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ biên giới Tổ quốc.

Để có lực lượng hỗ trợ cho các tỉnh biên giới phía Bắc chiến đấu khi có tình huống trực tiếp, ngày 30.3.1978, Bộ Tư lệnh thành lập Trung đoàn 12 cơ động biên phòng trên cơ sở bổ sung cán bộ, quân số cho Tiểu đoàn 12 (tức Đoàn Thanh Xuyên cũ). Địa bàn cơ động hoạt động của Trung đoàn 12 được Bộ Tư lệnh xác định tập trung vào 2 hướng chính là hai tỉnh Cao Lạng và Quảng Ninh. Tháng 4.1978, Bộ Tư lệnh điều động Trung đoàn 12 lên tăng cường cho hướng Đồng Đăng, Cao Lộc (tỉnh Cao Lạng) và Đình Lập (tỉnh Quảng Ninh)1. Đồng thời, Đại đội 3 Công an nhân dân vũ trang Cao Lạng cũng được Ban chỉ huy tỉnh điều động đến làm nhiệm vụ ở khu vực huyện Trùng Khánh.

Tháng 7.1978, Ban Chấp hành trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ tư xác định nhiệm vụ cho cả nước trong tình hình mới. Nghị quyết của hội nghị nhấn mạnh cần phải thấu suốt quan điểm nắm vững cả hai nhiệm vụ vừa xây dựng kinh tế, vừa tăng cường lực lượng quốc phòng và an ninh, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu khi có tình huống.

Ngày 5.7.1978, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang ra Chỉ thị số 35, xác định trước khả năng xảy ra chiến tranh xâm lược hoặc nổ ra bạo loạn, gây phỉ trên biên giới phía Bắc, toàn lực lượng phải nâng cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc. Đồng thời, các đơn vị phải hết sức kiềm chế, tránh mắc mưu khiêu khích của đối phương, cố gắng đến mức cao nhất, bảo vệ hoà bình cho biên giới, giữ vững quan hệ truyền thống của biên giới láng giềng hữu nghị. Chỉ thị cũng chỉ rõ: “Khi chiến tranh xảy ra, lực lượng Công an nhân dân vũ trang phải xác định rõ là lực lượng trực tiếp chiến đấu và nổ súng đầu tiên để ngăn chặn và kiềm chế địch, chờ quân đội triển khai, đồng thời hướng dẫn nhân dân trong địa bàn sơ tán để tránh thiệt hại, tham gia các lực lượng tổ chức quản lý, giữ gìn an ninh khu vực biên giới, phòng ngừa, ngăn chặn bọn biệt kích, thám báo, diệt trừ thổ phỉ, trấn áp bạo loạn. Cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vũ trang cần nhận rõ đối tượng đấu tranh mới, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng”. Cùng với Mệnh lệnh số 05, ngày 31.1.1978, Chỉ thị 35 của Bộ Tư lệnh có ý nghĩa hết sức thiết thực chuẩn bị cho toàn lực lượng nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của đối tượng đấu tranh mới, chủ động chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu trên các mặt chính trị, tư tưởng, quyết tâm chiến đấu, xây dựng thực lực, thế trận biên phòng toàn dân, thế trận phòng thủ trước nguy cơ bị tấn công; chủ động tạo thế và chuyển thế, chiến đấu phòng ngự, phản công, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc.
______________________________________
1. Ngày 29.12.1978, huyện Đình Lập được sát nhập vào tỉnh Lạng Sơn (Nghị quyết Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ tư).
Logged
chuongxedap
Đại tá
*
Bài viết: 13138



« Trả lời #69 vào lúc: 20 Tháng Năm, 2023, 10:52:23 am »


Trong khi quân dân ta hết sức cố gắng giữ gìn hoà bình cho biên giới và luôn nêu cao cảnh giác đề phòng một cuộc chiến tranh xâm lược thì chính quyền nước láng giềng phía Bắc liên tục thực hiện nhiều hoạt động mới, làm cho tình hình biên giới tiếp tục căng thẳng. Từ tháng 5.1978, họ dựng ra cái gọi là “nạn kiều”, leo nấc thang mới trong âm mưu chống phá Việt Nam. Đến giữa năm 1978, tình hình trên tuyến biên giới phía Bắc tiếp tục diễn biến xấu theo chiều hướng tiến tới đỉnh điểm căng thẳng. Tại địa bàn tỉnh Cao Lạng, hàng ngàn người Hoa đã bỏ nhà cửa, tài sản, tập trung tại các cửa khẩu Sóc Giang, Tà Lùng, Hữu Nghị và thị trấn Đồng Đăng để tìm đường sang về nước. Nhiều bà con người Hoa đã vượt biên trái phép theo các đường mòn qua biên giới ở các xã Bảo Lâm, Tân Thanh, Thuỵ Hùng, Sóc Hà, Nà Sác, Mỹ Hưng... gây nên tình trạng mất ổn định cho an ninh trật tự khu vực biên giới. Cán bộ, chiến sỹ các đồn, trạm biên phòng đã kiên trì giải thích, giáo dục cho đồng bào hiểu sự thật về cái gọi là “nạn kiều”, hiểu về luật lệ xuất nhập cảnh qua biên giới.

Sau khi giải quyết vụ “nạn kiều”, tỉnh ủy Cao Lạng phát động quân dân trong tỉnh mở chiến dịch đẩy mạnh công tác phòng thủ, chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biên giới. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy “ở xã biên giới mỗi xã thành lập 1 trung đội đến 1 đại đội cơ động được trang bị vũ khí và huấn luyện kỹ thuật. Các cơ quan, xí nghiệp xây dựng lực lượng tự vệ bảo vệ cơ quan. Ở biên giới dân quân du kích phối hợp với bộ đội tuần tra, canh gác biên giới, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống”1, phong trào dựng rào chắn biên giới của quần chúng phát triển tự giác và hết sức mạnh mẽ.

Từ ngày 27.8.1978, quân dân trong tỉnh tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 19/CT-CL, ngày 15.7.1978, của Ủy ban hành chính tỉnh về việc xây dựng củng cố tuyến phòng thủ biên giới. Bộ đội, công an nhân dân vũ trang và dân quân tự vệ mở đầu chiến dịch bằng việc tham gia hàng ngàn ngày công, dùng dây thép gai rào lấp ở các đoạn biên giới cửa khẩu trọng yếu của tỉnh Cao Lạng. Riêng dân quân tự vệ đã tham gia trên 3.000 ngày công. Hưởng ứng chương trình do tỉnh phát động, toàn dân trong tỉnh sôi nổi làm chông tre (ở nông thôn) và chông sắt (ở thị trấn, thị xã, các xí nghiệp), góp hàng vạn gốc tre tươi, hàng triệu mũi chông, bàn chông phục vụ rào chắn, phong toả biên giới. Tiêu biểu là cán bộ công nhân viên các cơ quan tỉnh và nhân dân thị xã Cao Bằng, với hàng vạn mũi chông chuyển đến hai huyện Trà Lĩnh, Hà Quảng. Khi biết tin tỉnh Cao Lạng phát động nhân dân làm chông bảo vệ biên giới, các tỉnh Bắc Thái, Hà Bắc2 đã tích cực ủng hộ, chi viện hàng triệu mũi chông cho biên giới Cao Lạng. Tính đến đầu tháng 11.1978, quân dân Cao Bằng đã làm được trên 5 triệu mũi chông, bàn chông sắt, gần 4 triệu mũi chông tre, đóng góp trên 30.000 gốc tre, thực hiện kế hoạch trồng tre dọc theo biên giới, làm thành hàng rào tự nhiên dài trên 62km; hàng ngàn người tham gia với hàng vạn ngày công. Nhân dân địa phương đã sát cánh cùng các lực lượng vũ trang đào nhiều hào chống tăng, lập các bãi mìn chống bộ binh và xe tăng, đề phòng bị tấn công.

Từ tháng 9.1978, nhiều đơn vị quân đội, cùng nhiều vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh của phía H1 liên tục được điều chuyển, tăng cường ra sát khu vực biên giới trên toàn tuyến phía bắc Việt Nam. Tại nhiều nơi, họ lợi dụng các điểm cao, dùng các loại súng đại liên, trung liên bắn vào lãnh thổ Việt Nam. Riêng trên tuyến biên giới Cao Lạng, ngày 12.9.1978, nhiều người mặc quân phục lính Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ Việt Nam tại các huyện Hạ Lang, Trùng Khánh, Trà Lĩnh... Khi bị cán bộ, chiến sỹ biên phòng và nhân dân địa phương đấu tranh, ngăn chặn, họ xông tới hành hung, xô xát. Họ nổ súng khiêu khích các lực lượng của ta ở xã Lý Quốc (địa bàn phụ trách của Đồn Biên phòng Lý Vạn, nay là Đồn Biên phòng Lý Quốc, huyện Hạ Lang) và xã Ngọc Khê (địa bàn phụ trách của Đồn Biên phòng Pò Peo, nay là Đồn Biên phòng Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh)...

Ngày 1.11.1978, phía H1 huy động hàng ngàn người vượt qua biên giới sang khu vực đồi Chông Mu bao vây, nổ súng uy hiếp một tổ chốt của dân quân ta làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới... Ta kiên trì đấu tranh và hết sức tự kiềm chế. Tình hình vẫn tiếp tục căng thẳng.
________________________________________
1. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Cao Bằng (1930 - 2000). Sđd, tr. 420.
2. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá IX, kỳ họp thứ 10, ngày 6.11.1996, phê chuẩn việc tách thành lập lại tỉnh, chia Bắc Thái thành hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên; Hà Bắc thành hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM