Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 19 Tháng Bảy, 2024, 09:48:31 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Ký ức công binh Trường Sơn  (Đọc 3168 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #20 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2023, 03:23:05 pm »

Đường 49 - Trung đoàn thần tốc

Sáng 24 tháng 01 năm 1966 tức mồng 2 Tết Bính Ngọ, trong một khu rừng tre tương đối kín đáo ở Tây Nguyên, Trung đoàn bộ đang đi chúc Tết vui vẻ. Chính uỷ Nguyễn Xuân Kim đang tâm sự ở cơ quan chính trị, Trung đoàn phó Chu Minh Đông đang khề khà hơi men với cơ quan hậu cần. Tôi cùng cơ quan tham mưu đang ngồi bên chén nước trà còn bốc hơi ấm.

- "Báo cáo thủ trưởng, có điện khẩn ở ngoài Đoàn” - chiến sỹ cơ yếu Đoàn Văn Tập vội vã bước vào và trình điện.

- "Chắc là điện chúc Tết, động viên anh em mình vừa hoàn thành nhiệm vụ, hẳn lại có thưởng to rồi” - Tham mưu phó Hoàng Tiến Vinh vừa đỡ bức điện vừa nói.

Tôi có ý lo ngại có chỉ thị cấp tốc, nhưng trước mặt anh em đang trong không khí nghỉ Tết vẫn cố giữ thái độ ung dung, thư thái, mở bức điện ra xem. Ngay đầu điện đã có chữ “Thượng Khẩn”. Tôi căng mắt đọc từng dòng một:

“Mệnh lệnh gửi E 98.

Chuyển ngay Trung đoàn sang làm đường 49. Điểm đầu từ ngã ba Phi Hà, qua các điểm Chín Suối, bãi đá Lâm Phu, Lanh Tanh đèo 200, vượt Nậm Công, rồi qua suối Tà Ngâu, điểm nối sang đất bạn Cam pu chia, điểm cuối K20 Siam Pạng.

Đường dài khoảng 200 ki lô mét. Yêu cầu thi công thật khẩn trương để chuyển hàng ngàn tấn hàng đang bị ứ đọng. Thời gian khổng quá 4 tháng. Liên hệ chặt chẽ với đồng chí Đức Phương, mật danh là “Ông Chủ”. Triển khai ngay và báo cáo về Đoàn”.


Điện còn nói rõ thêm: “Vì ở phía ngoài, địch đánh phá mạnh, nhiều điểm bị tắc, xe hàng không vào được. Đường 49 được mở là một cứu cánh lớn để đưa hàng từ K1 (K: Campuchia) ra nhanh tới các chiến trường, nhất là Tây Nguyên và Khu 5".


Chúng tôi rất hiểu điều đó. Từ khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào, chúng mở liên tiếp các cuộc tiến công hòng bình định nhanh, tiêu diệt quân giải phóng, mà muốn thắng chúng phải đánh mạnh tuyến chi viện đường mòn Hồ chí Minh. Các cửa khẩu và các trọng điêm phía bắc đường Trường Sơn đã bị đánh phá rất mạnh như Pha Nốp, Seng Phan, Vang Mu, Thà Khống, Dốc Thơm... có nơi tắc đường 7 ngày, 10 ngày, vận chuyển gặp rất nhiều khó khăn.


Với tình hình đó, mệnh lệnh mở đường C41 (Đường 49 mang 2 tên 49, C4. Sau này mở thêm đường 49B, và đường 49 kéo dài thì đường 49 gọi là 49A) nhanh chóng rất có ý nghĩa và Trung đoàn đã triển khai khẩn trương. Cơ quan tham mưu, đồng chí Tô Đa Mạn và đồng chí Nguyễn Văn Bảy đã mở bản đồ, nghiên cứu nhanh địa hình, xác định các điểm khống chế và báo cáo nhanh, đường dài khoảng 200 ki lô mét, thi công nhanh cũng mất 5 tháng, có thể chia làm 2 đoạn:

Đoạn 1: Từ Phi Hà đến Tà Ngâu dài khoảng 120 ki lô mét, đường đi dưới rừng cà bông tương đối kín, có một số điểm khó như khu vực Chín Suối dễ lầy lội, bãi đá Lâm Phu dài khoảng 2 ki lô mét đi sát bờ sông Sê Sụ, đèo 200 dài khoảng 5 ki lô mét tương đối trống trải, dốc, đất pha đá, gần địch, địch còn chốt ở Mường Mày.

Đoạn 2: Từ Tà Ngâu đi K20 đường dài khoảng 80 ki lô mét, chủ yếu qua rừng khộp, dễ thi công, cần chú ý điểm vượt sông Tà Ngâu. Cơ quan cũng đã sơ bộ đề xuất cách sử dụng lực lượng và biện pháp tác nghiệp. Các cuộc họp Đảng uỷ, họp quân chính khẩn trương, và được khái quát như sau:


Tinh thần là phải triển khai như một chiến dịch, thật nhanh trong mọi công việc, từ họp hành đến mọi công tác chuẩn bị. Đội hình chiến dịch là Trung đoàn thành một tuyến, mỗi tiểu đoàn một địa đoạn, mỗi đại đội một phân đoạn, vừa nhảy cóc vừa cuốn chiếu trong từng phân đội. Phương pháp tác nghiệp là thi công trong hành tiến. Trinh sát định tuyến đi trước, đội hình tác nghiệp theo ngay. Thi công liên tục, nhiều giờ trong ngày, kể cả đêm. Công tác bảo đảm, đặc biệt là hậu cần, chiến sĩ phải được ăn no, uống đủ. Khẩu hiệu là thần tốc, thần tốc mở đường. Tuyệt đối giữ bí mật. Quyết tâm hoàn thành trong vòng 3 tháng, vượt kế hoạch 2 tháng.


Đúng ngày mồng 02 Tết, chấp hành mệnh lệnh, các tiểu đoàn đã lên đường ngay, thứ tự từ ngoài vào lần lượt là Tiểu đoàn 1, 2, 3. Có một thuận lợi là đã có tuyến đường thồ đi dọc tuyến nên các phân đội triển khai khá nhanh. Lợi dụng đường sông Sê Sụ, chúng ta đã mượn được một số thuyền máy, các thuyền này làm nhiệm vụ rải bộ phận trinh sát và chỉ huy tiểu đoàn ở phía trong. Riêng Trung đoàn bộ, bộ phận đi thuyền máy gồm Trung đoàn phó Chu Minh Đông, đồng chí Tô Đa Mạn, đồng chí Nguyễn Văn Bảy cơ quan tham mưu; đồng chí Bảo, Chủ nhiệm Hậu cần; đồng chí Bá, Chủ nhiệm Chính trị, cùng một số trợ lý đi thẳng vào phía tuyến trong, sau đó đi ngay vào K20 gặp “Ông Chủ" để quan hệ, báo cáo tình hình triển khai, đặc biệt là công tác đảm bảo lương thực, thực phẩm cho bộ đội.


Ngày mồng 03 Tết, 8 giờ sáng, chúng tôi đã có mặt ở K20 trên bờ sông Sê Kông nắng thoáng. Đã từ 2 năm nay, giờ này chúng tôi mới được hưởng một không khí tương đối thanh bình.

Cơ quan "Ông Chủ" thật đơn giản, dưới rặng cây cà bông, trông nề nếp nhưng cũng không quên sẵn sàng chiến đấu, phòng không, phòng địch mặt đất. Những dãy kho liên tiếp đầy ắp hàng, phân tán trong khu rừng gần nơi “Ông Chủ” ở. Thuyền máy chạy trên sông liên tục chở đầy hàng cập bến nhanh chóng rồi lại rời bến khẩn trương. Chúng tôi hình dung được hàng hoá có nhiều nên đòi hỏi phải nhanh chóng hoàn thành con đường và thầm nghĩ, ngành hậu cần quân đội ta thật tài giỏi đã thiết lập được con đường vận tải này.


Rồi đây các vũ khí, binh khí kỹ thuật từ miền Bắc vào B2 đi qua con đường này cũng rất thuận lợi. Những tâm tư, ý nghĩ trên thoảng qua cũng không làm chúng tôi sao nhãng nhiệm vụ trước mắt.

Trong gian phòng nhỏ thông thoáng, trên chiếc bàn dài có bộ ấm chén mầu nâu, hai bộ ghê mây trang nhã, chúng tôi được “Ông Chủ" Đức Phương tiếp. Thật bất ngờ, Ông Chủ không phải dáng nhà tư sản béo mập trắng trẻo như chúng tôi nghĩ. Trông ông cao to, làn da bánh mật, hai con mắt luôn nhấp nháy, nhưng giọng nói lại dễ quyến rũ.


Ông vào đề rất nhanh: “Chúng tôi K20 đã nhận được điện của Tổng cục Hậu cần, Đoàn 559 cho biết Trung đoàn 98 đã nhận lệnh vào làm đường ô tô để chở hàng từ đây. Rất mong các đồng chí vào để hợp đồng công việc, yêu cầu làm thật nhanh để rút hàng".


Ông khoát tay nhìn vảo các bãi hàng xung quanh nói tiếp: “Đây, các anh nhìn, hàng chất đống, toàn hàng cho chiến trường, nào gạo, thực phẩm, nhu yếu phẩm và cả xăng dầu nữa, có đến hàng vạn tấn, phải có đường ô tô thì mới chuyển nhanh được. Trong này rất mong con đường ô tô của các anh, không phải 5 tháng mới xong, mà cần phải nhanh hơn, nếu không mùa mưa ập đến thì không kịp. Để chiến trường đói thiếu, không mở chiến dịch được, để các anh Đoàn 559 đói thiếu trên đống kho đầy hàng hoá lương thực, thử nghĩ sao đành”.


Những lời nói của "Ông Chủ” là lời động viên thiết thực, lời kêu gọi của chiến trường, làm bừng lên một khí thế, một niềm tin, một quyết tâm, con đường nhất định sẽ chóng hoàn thành. Đồng chí Chu Minh Đông phát biểu đề nghị một vài việc, nhất là công tác đảm bảo sức khoẻ, đảm bảo thi công cho bộ đội.


“Ông Chủ” lại khoát tay một cái đài và nói: “Các cậu cứ cho bộ đội ăn no để lấy lại sức vì đã 500 ngày liên tục chịu đói chịu khổ trên Trường Sơn rồi, cần thuốc chống sốt rét, không thiêu, cần dụng cụ làm đường, sẽ có đủ”.


Anh Đông, anh Bảo nhìn nhau và nói nhỏ điều gì.

“Thôi, cho mấy trợ lý quân nhu đến gặp ngay anh Huỳnh Tấn Đại để nhận hàng cho bộ đội”. “Ông Chủ” nói tiếp.

Chỉ cần có gạo ăn no thôi, nhưng “Ông Chủ” lại cấp thêm xà phòng, một ít thuốc lá sợi, một số bịch đường. “Ông Chủ” cũng không quên nhắc:

- “Nếu gặp lính hoặc dân Cam Pu Chia hỏi thì các cậu cứ nói là “cu li” của “Ông Chủ”, hiểu không, không được nói là bộ đội nhá!”
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #21 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2023, 03:23:38 pm »

Ra về anh Chu Minh Đông còn nhắc đồng chí trợ lý quân nhu xin “Ông Chủ” ít chè khô để bộ đội uống, đã rất lâu thèm hương vị miền Bắc.

Đến đây anh Tiệp nói, tôi còn nhớ mãi, khi đoàn hậu cần về, tôi rất phấn khởi nhưng vẫn phê bình ông Đông cần lương thực, thuốc men là chính, sao nhận chè làm gì. Tôi nhớ lúc đó anh Đông cứ phàn nàn mãi, đúng là "lập công nên tội".


Bộ đội, các đơn vị đã vào vị trí của mình. Những chiếc ba lô được xếp hàng ngay ngắn ở một góc đường, anh em chiến sĩ, người chặt cây, đào rễ, người kéo đất san nền. Đây một tốp ba người đang cùng nhau đào phạt những ổ mối to hàng chục mét khối. Chỗ khác một tốp lại cùng nhau đào những tảng đá hộc chắn ngang đường. Không một tiếng bộc phá, không một tiếng reo hò, chỉ nghe thấy những tiếng dao chắc nịch đẽo cây đánh dấu đường, tiếng cuốc bùng bục, tiếng kéo lá rào rào. Trong những ngày này, lao động kéo dài một ngày từ 15 đến 16 giờ, có một số hôm làm thông đêm, bộ đội chỉ được phép ngủ một giấc ngắn tại chỗ, hoặc tại chiếc võng treo trên hai gốc cây. Tất cả mọi người từ chỉ huy Trung đoàn, văn thư đánh máy, liên lạc, y tá, ai cũng cầm cuốc, xẻng, dao cùng tham gia mở tuyến. Ai cũng muốn góp phần nhỏ bé vào nhiệm vụ thần tốc đặc biệt này.


Khó nhất vẫn là mở dốc đá Lâm Phu, đá liền khối, mở sao đủ rộng đưởng và giữ được bí mật. Anh em đã có sáng kiến, đục nhiều lỗ bộc phá nhỏ, tra thuốc, tranh thủ lúc không có máy bay trinh sát cho nổ rồi lại nguỵ trang ngay.


Đèo 200 dài, dốc lớn, cua hẹp, có những đoạn lại hướng về phía địch Mường Mày, At Tô Pơ. Đã chỉnh lại từng đoạn tuyến tránh che khuất mắt địch, chọn giờ làm, đặt đài quan sát, đồng thời cử cán bộ dân vận biết tiếng Lào như đồng chí Phong, Lùng, Tế đi vào bản vận động bà con giữ bí mật và không chế những tên địch còn sót lại.


Vượt sông Tà Ngâu, bước vào đất Cam Pu Chia, làm sao để con đường vào đó được. Đại đội 7 do đồng chí Nguyễn Đình Tùng làm Đại đội trưởng trong bộ quần áo bà ba đen và mũ lá do “Ông Chủ” cấp phát, với danh nghĩa là “cu li” làm công cho "Ông Chủ". Nguyễn Đình Tùng đóng vai cai do “Ông Chủ” thuê tay cầm ba toong đôn đốc. Bằng cách che mắt như vậy, nhiều người dân cũng chẳng để ý, nhưng cũng có người biết chút ít, tò mò hỏi.


Có lần, một ông già người Cam Pu Chia đi qua, thấy đoàn “cu li” đang cặm cụi lao động, thỉnh thoảng lơ là nhìn lên phía trước, nhưng không thấy “ông Cai” đứng đấy nói gì. Ông già thắc mắc tại sao “cu li" làm chểnh mảng, mà “ông Cai" không cho mấy ba toong?


“Cai Tùng” nói nhăng nhít vài câu cố tình đánh trống lảng.

Ông già nói: "Thôi, tôi biết ông Cai và “cu li” của “Ông Chủ” rồi. Các ông là “cu li” Điện Biên Phủ”, đúng không? Ý nói là lính Điện Biên Việt Nam.

Anh em nghĩ, ai biết cứ biết, ta giấu cứ giấu, miễn là không nói, người dân không biết, thế là được. Với lính Cam Pu Chia cũng vậy, một lần đồng chí Mạn, Trưởng ban Tác chiến cùng Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Hoàng Viết Cúc đi trinh sát bên phà Nhăng Xum hữu ngạn sông Sê Kông, phải qua đồn Siêm Pạng, ở đây có lính gác. Làm thế nào để vượt qua trạm gác? Đành phải dở “kịch bản”, nói là “cu li” nhưng họ không hiểu, nên sau đó nói là người của “Ông Chủ”. Họ cười và viết vào một tờ giấy nhỏ cho chúng tôi vào khảo sát! Thế mới biết uy tín “Ông Chủ” lớn biết chừng nào. Thật vậy, trong cuộc chiến đấu, chúng ta đã có nhiều mưu sâu, kế sắc. Anh Tiệp quay lại phía tôi (tác giả bài viết) cười: “Ông Mạn còn nhớ không?”


Nhiệm vụ từng phân đội và toàn Trung đoàn diễn biến liên tục ngày này qua ngày khác. Phân đội vượt qua các phân đội, toàn tuyến của Trung đoàn đã được nối liền.

Đó là ngày 04 tháng 3 năm 1966, một ngày đáng ghi nhớ!

Qua 38 ngày đêm lao động miệt mài liên tục, Trung đoàn đã hoàn thành xong con đường trước thời hạn 4 tháng 22 ngày. Thật là một kỷ lục thần tốc mở đường nói lên một ý chí quyết tâm cao, một tổ chức điều hành giỏi và những kinh nghiệm kĩ thuật tích luỹ trong nhiều năm tháng của cán bộ và chiến sĩ.


Hoàn thành nhiệm vụ, chúng tôi điện báo cáo ngay ra Đoàn và Cục Công binh. Được tin này, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 cử đồng chí Hồng Kỳ, Chủ nhiệm Chính trị đến thăm và tặng Trung đoàn lá cờ "Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược" cùng tâm Huân chương Quân công hạng Ba. Sau đó Tư lệnh Hoàng Văn Thái đến động viên chiến công Trung đoàn vừa lập, tặng Trung đoàn lá cờ "Mở đường thần tốc”. Và cũng từ ngày đó, Trung đoàn 98 - Chi hội Bình Minh vinh dự mang tên “Trung đoàn mở đường thần tốc".


Nhưng niềm vui còn được nhân lên gấp nhiều lần khi đường 49 vừa mở xong, nhiều đoàn xe nối đuôi nhau vào, tranh thủ hai tháng mùa khô còn lại rút lương thực, thực phẩm thuốc men, xăng dầu, hàng vạn tấn còn tồn đọng, kịp cho chiến trường Tây Nguyên, Khu 5 đánh thắng. Từ đường C4 này, Binh trạm 37 được hình thành, địch đã phát hiện, đánh rất ác liêt hình thành các trọng điểm, nhưng vẫn đứng vững mãi mãi trong suốt cuộc chiến như một trong các mũi tấn công chủ yếu để vận chuyển vào chiến trường B2 Nam Bộ.


Hoàn thành đường C4, anh Phan Quang Tiệp quay ra miền Bắc chữa bệnh, ba năm sau, năm 1972, anh trở lại Trường Sơn với nhiệm vụ Cục phó, năm 1973 là Cục trưởng Tham mưu Công binh Bộ Tư lệnh Trường Sơn, gắn bó với tuyến Trường Sơn cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.


Anh là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn với quân hàm thiếu tướng cho đến ngày nghỉ hưu, năm 1989.

Anh Phan Quang Tiệp đã vĩnh biệt cuộc đời ngày 30 tháng 7 năm 2000 tại thành phố Hồ Chí Minh. Các thế hệ lực lượng Công binh Trường Sơn nói chung, trong đó có Trung đoàn 98 không bao giờ quên hình ảnh người chỉ huy đã từng gắn bó một thời, đầy nhiệt huyết, có dũng khí quyết tâm cao, mẫn cán, nghiêm túc, có tư duy sắc sảo trong lãnh đạo chỉ huy, hoà đồng trong mối quan hệ cán binh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #22 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:19:36 am »



Đại tá
TRẦN VĂN PHÚC

Sinh năm:   1941
Quê quán:   Quỳnh Hồng, Quỳnh Phụ, Thái Bình
Thường trú: 459 đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 4 năm 1965
Điện thoại: 04.38542368 - 0912.441021
Nguyên Trợ lý Kỹ thuật Ban Công binh Trung đoàn 98,
Thương uý Trợ lý phòng Kế hoạch, Cục Tham mưu Công binh 559, Nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn


VĨNH BIỆT THIẾU TƯỚNG VÕ BẨM, MỘT TRONG NHỮNG CÔNG THẦN ĐẦU TIÊN MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


Sáng ngày 09 tháng 7 năm 2008, tại Nhà Tang lễ Bộ Quốc phòng ở Hà Nội, từng đoàn người đến viếng và tiễn đưa Thiếu tướng Võ Bẩm về nơi an nghỉ cuối cùng. Bên sắc phục màu xanh của các tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, là những cụ già tuổi xưa nay hiếm, nhiều mái tóc bạc phơ, lưng hơi còng, có cụ phải chống gậy. Đó là những cựu chiến binh bộ đội Trường Sơn đã từng một thời được sống, chiến đấu trên đường Trường Sơn năm xưa dưới sự chỉ huy của vị chỉ huy đầu tiên của Đoàn 559: lúc đó là Thượng tá Võ Bẩm.

Mọi người lặng lẽ thì thầm:

- Thế lại thêm một trong những công thần mở đường Trường Sơn đã vĩnh biệt chúng ta!

Ông sinh ra trong một gia đình nho học, thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Ngay từ nhỏ ông đã chịu ảnh hưởng về lòng yêu nước của người cha là cụ Võ Thạc, một trong những yêu nhân của phong trào khởi nghĩa chống Pháp của vua Duy Tân tại Quảng Ngãi vào năm 1916. Mẹ là bà Trương Thị Bằng, con cháu một dòng họ yêu nước cùng quê.


Mười lăm tuổi ông đã tham gia Cách mạng. Tháng 8 năm 1934, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhiều lần ông bị giặc Pháp bắt tra tấn dã man và bị giam cầm tại các nhà lao Quảng Ngãi, nhà tù Ba Tơ, nhà tù Lao Bảo, nhà tù Buôn Mê Thuột. Sau khi ra tù, đến tháng 10 năm 1945 ông được Xứ uỷ điều động vào quân đội.


Trong kháng chiến chống Pháp ông đã giữ các chức vụ: Trưởng ban Tác chiến - Huấn luyện, kiêm Trưởng ban Du kích chiến tranh Liên khu 5; Chính uỷ Trung đoàn 803, hoạt động mạnh trên các trục đường 14, 19, 21... góp phần đánh bại cuộc hành quân Át Lăng của địch ở Tây Nguyên, phối hợp với mặt trận Điện Biên Phủ.


Sau khi hiệp định Giơ ne vơ ký kết, miền Nam tạm thời dưới quyền cai trị của chính quyền Mỹ - Diệm, với luật 10 - 59, Mỹ Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Biết bao chiến sĩ Cộng sản và đồng bào yêu nước đã ngã xuống dưới ách tàn bạo của kẻ thù. Biết bao người con của miền Nam sống trong cảnh ngày Bắc đêm Nam muốn được trở về chiến đấu giải phóng quê hương.


Tháng 01 năm 1959, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ướng khoa II đã xác định; "... Con đường cách mạng miền Nam là con đường bạo lực cách mạng. Kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang để đánh đổ ách thống trị của Mỹ -Diệm...”.


Ngày 05 tháng 5 năm 1959, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban Thống nhất Trung - ương đã truyền đạt chỉ thị của Bộ Chính trị và trực tiếp giao nhiệm vụ cho ông Võ Bẩm: Mở một con đường đặc biệt trên dãy Trường Sơn. Nhiệm vụ trong năm 1959 là: Tổ chức thiết lập tuyến hành lang, nối thông liên lạc, vận chuyển gấp một số hàng thiết yếu quân sự cho chiến trường Khu 5 khoảng 7.000 súng bộ binh và bảo đảm đưa 500 cán bộ tăng cường cho chiến trường...


Lúc này ông đang là Cục phó Cục Nông trưởng, nên việc đầu tiên là tới các đơn vị có bộ đội miền Nam tập kết để tuyển quân. Tại Sư đoàn 305, Sư đoàn 324, các tập đoàn sản xuất miền Nam, khu công nghiệp Việt Trì, nông trường Việt Lâm, nông trường Đồn Vàng Phú Thọ... theo tiếng gọi của quê hương, các đồng chí đã gạt sang một bên những toan tính của đời thường để lên đường về Nam chiến đấu.


Cuối tháng 5 năm 1959, Đoàn 301 được thành lập gồm 440 cán bộ, chiến sĩ, được biên chế thành 11 đội, trong đó có 9 đội làm nhiệm vụ mở đường, giao liên, vận chuyển; 1 đội trinh sát, 1 đội xây dựng hậu cứ. Đoàn 301 chọn Khe Hó ở miền Tây Quảng Trị làm điểm xuất phát cho tuyến giao liên - vận tải quân sự Trường Sơn. Yêu cầu giữ bí mật theo khẩu hiệu: Đi không dấu. Nấu không khói. Nói không tiếng.


Từ Khe Hó, Đoàn 301 chọn hướng tuyến qua làng Mít, vượt đỉnh 1001, đỉnh 1600 và đỉnh Voi Mọp - động Hàm Nghi ở cao độ 1701. Lịch sử còn ghi lại: từ hơn một thế kỷ trước vào năm 1885 vua Hàm Nghi hạ chiếu cần Vương chống Pháp, ông Tôn Thất Thuyết cùng nhiều sĩ phu yêu nước và các thuộc hạ hộ giá vua Hàm Nghi rút lên đây lập căn cứ tiếp tục chống Pháp. Biết bao người trong Đoàn 301 vẫn còn nhớ những ngày bám trụ bị sốt rét đã được ăn những múi cam hiếm hoi, uống bát nước chè xanh tươi mát của các bậc tiền nhân trồng để lại, nay đã thành hoang dã.


Đầu năm 2003 đoàn cựu chiến binh Trường Sơn về thăm chiến trường xưa đã tới khu vực này thăm Công ty Xây dựng Lũng Lô đang mở đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh. Đồng chí Trung tá Trương Thiếu Dư tâm sự: Hơn nửa thế kỷ trước các bậc tiền nhân đã tới đây chống Pháp. Cách đây hơn 40 năm bộ đội Trường Sơn đã mở đường chống Mỹ cứu nước thắng lợi. Hôm nay chúng tôi rất tự hào được kế tục truyền thống và đi tiếp con đường của cha anh xây dựng đường Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao đời sống ấm no hạnh phúc cho đồng bào các dân tộc...


Ngày 13 tháng 8 năm 1959, sau tám ngày đêm, chuyến hàng đầu tiên của Đoàn 301 đã vào tới Tà Riệp, bắc A Lưới trực tiếp giao cho đồng chí Nguyễn Vạn, Thường vụ Khu uỷ Khu 5, gồm 40 súng tiểu liên, súng trường, 10 thùng đạn và một số quân dụng. Được tin báo về, mọi người vui mừng khôn xiêt, cảm động nghẹn ngào. Sinh thời, khi đã được nghỉ hưu, Võ Bẩm nhớ lại những ngày đầu nhận nhiệm vụ, chủ trương của trên chỉ cho vận chuyển hàng tới bắc sông Bến Hải. Song với tình hình thực tế của chiến trường, ông đã báo cáo và đề nghị đồng chí Nguyễn Văn Vịnh cho vận chuyển hàng vào sâu qua đường 9, ông sẵn sàng chịu kỷ luật khi phải vượt rào vì cách mạng miền Nam. Sau này được cấp trên chấp thuận, niềm vui ấy như được nhân lên gấp đôi đối với ông và cán bộ chiến sĩ trong Đoàn.


Khi vượt đường 9 có biết bao nhiêu khó khăn, địch thường xuyên tuần tra kiểm soát cả ngày lẫn đêm, nhiều toán thám báo đi lẻ và nằm vùng, nhiều tên chỉ điểm, mật vụ cài cắm trong dân bản... Đoàn chỉ còn cách chọn điểm vắng ban đêm để chuyển hàng qua sông Đăkrông. Để xoá dấu vết trên mặt đường khi đi qua, lúc đầu anh em dùng nhiều mảnh gỗ, người đi sau cùng phải thu gom hết. Sau dùng ni lông, người đi sau cùng phải cuộn lại. Một lần đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, sau khi nghe ông báo cáo đã gợi ý: Có thể đào hầm qua đường 9? Từ gợi ý này cán bộ trong Đoàn đã tìm được một cống ngầm, rộng 1 mét, gần đồn Rào Quán, một vị trí chuyển hàng thật lý tưởng, cả một thời gian dài địch không hề hay biết. Tiếc rằng khi nâng cấp đường 9 trong những năm gần đây, chiếc cống đã bị phá huỷ không còn vết tích.


Tháng 11 năm 1959, sau khi giao hàng xong, trung đội Trinh sát của đồng chí Nguyễn Minh Thông đã gặp thám báo địch, buộc phải nổ súng chặn địch để đơn vị rút lui an toàn. Thiếu uý Nguyễn Minh Thông, quê Nghệ An đã hy sinh sau khi cùng đơn vị tiêu diệt 4 tên địch. Thượng sĩ Huỳnh Tương, quê Quảng Nam bị giặc bắt, đưa về Đông Hà tra tấn đã man, nhưng anh nhất định không khai báo. Do vết thương nặng và đòn thù tra tấn anh đã hy sinh anh dũng.


Đó là những liệt sĩ đầu tiên trên đường Trường Sơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #23 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:20:41 am »

Đầu năm 1960 là những ngày khó khăn ác liệt, do những trận càn quét của dịch kéo dài hàng tháng trời, chúng chà đi xát lại, lập vành đai trắng hai bên đường 9. Bà con nhiều bản đã phải chạy lên núi cao tránh địch. Nhiều cơ sơ của ta bị phá vỡ, nhiều cán bộ và đồng bào bị bắt và bị giết...


Qua mùa khô đến mùa mưa, nước dâng đầy các khe suối, hàng không thể nào vận chuyển nổi ở phía Đông, bên đất Việt Nam. Trước tình hình đó, ông đã báo cáo và đề nghị lên cấp trên lật cánh vận chuyển sang phía Tây Trường Sơn, phá thế độc canh ở phía Đông Trường Sơn. Đồng thời xin lực lượng công binh Quân khu 4 mở đường 129 dài gần 140 ki lô mét nối với đường 12 từ Xóm Péng đến Kê Pô đường 9 trên đất Lào. Đề nghị của ông đã được cấp trên chấp thuận.


Phương thức vận chuyển cũng được ông cùng tập thể chỉ huy nghiên cứu, thay đổi nhằm nâng cao năng lực đưa hàng ra phía trước để đáp ứng cho chiến trường miền Nam: Từ dùng sức người gùi hàng tiến tới dùng xe đạp thồ và cả một số xe ô tô Gatz 51, Gatz 63 mới được trang bị. Được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Không quân và Công binh Quân khu 4, một khối lượng hàng hóa khá lớn được chuyển bằng máy bay xuống sân bay Thà Khống, ngoài vũ khí đạn dược còn có cả thiết bị toàn bộ để lắp đặt Đài Phát thanh Giải phóng - Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam vừa mới thành lập.


Ngày 23 tháng 10 năm 1961, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 96/QĐ-QP, phát triển Đoàn 559 tương đương cấp Sư đoàn, được tổ chức biên chế đồng bộ các cơ quan.

Tháng 5 nam 1962, đồng chí Võ Bẩm vinh dự được thay mặt lãnh đạo, chỉ huy Đoàn 559, trực tiếp báo cáo với Bác Hồ về tình hình mở tuyến vận tải quân sự đặc biệt chi viện cho Cách mạng miền Nam và đời sống đồng bào các dân tộc có tuyến vận tải đi qua. Bác chăm chú nghe đồng chí Võ Bẩm báo cáo. Bác rất xúc động, được biết nhiều bà con dân tộc đã nhường cơm gạo cho bộ đội cách mạng, còn mình lại đào củ rừng để ăn thay cơm. Nhiều đồng bào bị địch bắt tra tấn da man nhưng quyết không khai báo cho địch, rất nhiều người hy sinh anh dũng... Thể hiện tấm lòng của đồng bào dân tộc với cách mạng, với Bộ đội Cụ Hồ, trọn tình vẹn nghĩa.


Bác ân cần nói với đồng chí Võ Bẩm:

“Các chú mở đường vận chuyển hàng vào miền Nam như vậy là rất tốt. Các chú cần phải khôn khéo hơn, nhanh chóng hơn mở đường vào sâu tới Tây Nguyên, tới Nam Bộ. Đồng thời chú tổ chức chuyển ngay cho đồng bào những nơi tuyến vận tải đi qua 30 tấn muối, 10 tấn vải..."


Mặc dù đang mùa mưa nhưng Đoàn 559 đã vận chuyển số hàng trên giao cho chính quyền địa phương để phân phát cho đồng bào. Với thực tế chiến đấu, trải nghiệm trên chiến trường, ông đã báo cáo đề xuất tổ chức thí điểm vận tải cơ giới trên đường 129. Mùa khô năm 1963 - 1964, Đoàn vận tải ô tô 245 của Tổng cục Hậu cần đã tham gia. So sánh 6 tháng đầu năm 1963, cả 2 Trung đoàn 70, 71 chỉ vận chuyển được 94 tấn hàng cho chiến trường, thì 6 tháng mùa khô 1963 - 1964 toàn Đoàn đã vận chuyển cho Khu 5 và Trị Thiên được trên 200 tấn súng đạn và quân dụng. Đó là ưu điểm nổi bật của vận chuyển cơ giới. Trải qua hai mùa khô vận chuyển cơ giới (1964-3 966) với những tổn thất khá nặng nề và vượt qua những cuộc đấu tranh tư tưởng bảo thủ, mới khẳng định được: Vận chuyển cơ giới là phương thức chủ đạo.


Trên cơ sở đó ông đã cùng tập thể Bộ Tư lệnh tiếp tục chỉ đạo Trung đoàn 98 Công binh mở tuyến đường Sê Pôn - Mường Noòng - La Hạp - Bạc và tiếp tục cùng Trung đoàn 279 mở tuyến Bạc - Phi Hà - Tà xẻng vào tới Tây Nguyên. Năm 1965, Công trường 128 Bộ Giao thông vận tải phối thuộc mở tuyến đường 128 trong mùa mưa dài 176 ki lô mét từ Mụ Giạ qua Lùm Pùm, Vang Mu, nối với đường 9 tại Na Bo.


Ngày 21 tháng 01 năm 1966, đúng sáng mồng một Têt, ông Nguyễn Tường Lân, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, Phó Tư lệnh Đoàn 559 phát lệnh khởi công đường 20 Quyết Thắng. Những qủa bộc phá thay cho tiếng pháo, nổ ùng uỳnh vang cả khu rừng đại ngàn. Ngày 14 tháng 5 năm 1966 con đường đã hoàn thành, từng đoàn xe nối nhau chạy từ Phong Nha về Lùm Pùm. Sau này trọng điểm liên hoàn ATP đã để lại dấu ấn lịch sử trên đường Trường Sơn. Trên tuyến đường này có nhiều tập thể và cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, trong đó có Anh hùng Vũ Tiến Đề, Nguyễn Thị Nhạ và Đỗ Thị Vân Liệu.


Một sự trùng hợp kỳ lạ: Năm 1960, ông Võ Bẩm cùng đồng đội đã tới khu vực này tìm mở tuyến giao liên. Sáu năm sau, cũng chính ông được tham gia chỉ đạo thi công tuyến đường này. Nhìn những đoàn xe đang chạy, tâm hồn ông như mơ, như thực...


Ngày 27 tháng 01 năm 2008, đồng chí Thiếu tướng Võ sở, cùng một số đồng chí trong Ban Liên lạc Bộ đội Trường Sơn dã tới nhầ riêng chúc Tết ông và gia đình. Bà Trần Thị Thứ, vợ ông định đánh thức ông dậy, mọi người ra hiệu để ông nằm nghỉ. Nhìn khuôn mặt ông thanh thản như người nông dân gặt xong vụ mùa bội thu. Chúng tôi không ngờ rằng, đây là lần gặp ông cuối cùng để rồi xa, xa mãi...


Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh là một chiến công chói lọi, một kỳ tích của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Thiếu tướng Võ Bẩm ra đi nhưng mãi mãi để lại dấu ấn lịch sử trên đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh: Người đầu tiên mở đường Trường Sơn.

Và các thế hệ sau học tập tấm gương sáng ngời về tư tưởng luôn luôn tẫn công và đạo đức cách mạng của người cộng sản Võ Bẩm.

Xin ghi lại nguyên văn bức trướng của nhà văn - nhà báo Nguyễn Trần Thiết tới viếng Hương hồn Công thần đường Trường Sơn Võ Bẩm sáng ngày 09 tháng 7 năm 2008:

   CÔNG đầu Anh khai phá tuyến Trường Sơn
   THÂN tượng là Bác Hồ, được Bác quý yêu, tin tưởng
   VÕ tướng đánh trận nào cũng thắng
   BẨM báo với đời: sứ mạng đã hoàn thành!


Hà Nội, ngày 11 tháng 7năm 2008.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #24 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:35:03 am »

ĐÓN NHÀ THƠ TỐ HỮU TRÊN ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN

Đại tá Trần Văn Phúc


Tối ngày 11 tháng 12 năm 2002, một số cựu chiến binh Binh trạm 12, Bộ đội Trường Sơn đang quây quần tại nhà bác Việt Phương, nguyên Chính uỷ Binh trạm 12, xem quyển sách "Vượt Cha Lo" của Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân phát hành còn thơm mùi mực. Mọi người nhận ra bác Tố Hữu trong tấm ảnh chụp với đoàn cựu chiến binh Binh trạm 12 tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9. Cùng lúc đó đài Truyền hình Việt Nam đưa tin: “Đồng chí Tố Hữu đã qua đời...”


Tất cả chúng tôi đều lặng đi, mỗi người như đang nhớ về những kỷ niệm xưa với bác Tố Hữu.

Tôi không thể nào quên những ngày giữa tháng 5 năm 1973, khi Trung đoàn 98, Bộ đội Trường Sơn đang tập trung mở đoạn Trao đi Bến Giàng, một đoạn trên “Đường 14 xây đựng cơ bản” trong không khí thi đua sôi nổi hướng tới kỷ niệm ngày 19 tháng 5.


Tôi 10 tháng 5 năm 1973 tại chỉ huy sở Trung đoàn ở Trao, đồng chí Tô Đa Mạn, Trung đoàn trưởng gọi tôi lên giao nhiệm vụ:

- Tôi giao cho đồng chí trong 7 ngày phải làm xong 4 nhà tại vị trí X...

Chỉ vào tấm bản đồ tỷ lệ 1/100.000, Trung đoàn trưởng nhẹ nhàng:

- Yêu cầu "trên kín dưới quang" - Rồi ông cười nói tiếp:

- Nhưng phải đảm bảo đẹp, mỹ thuật, phù hợp với cảnh quan chiến trường. Có yêu cầu gì cứ đề đạt.

Tôi đã quen cách giao nhiệm vụ quân sự như thế, nên cũng không đám hỏi làm cho ai ở, cấp nào sẽ đến rồi thận trọng trả lời:

- Báo cáo thủ trưởng, tôi sẽ cố gắng, nhưng thủ trưởng cho tôi đủ quân và dụng cụ thi công.

- Tất nhiên sẽ đáp ứng. Cần triển khai ngay!

Ông trả lời rồi bắt tay tiễn tôi về.

Ngay đêm ấy, tôi suy nghĩ thiết kế mẫu nhà, phác thảo, tính toán vật liệu cho một nhà mẫu, khuya lắm mới xong. Sáng sớm hôm sau tôi cùng tổ trinh sát đi chọn vị trí cắm mốc cho từng nhà, rồi san nền ngay. Đây là dãy đồi nằm về phía Tây sông A Vương, cách Trung đoàn bộ khoảng 300 mét. Mỗi dãy dựng hai nhà nằm hai bên con suối cạn nước trong mát, chảy róc rách thơ mộng. Nhà đều dựa lưng vào sườn đồi, cửa trông về hướng Nam, có rừng cây che khuất.


Một bộ phận của Đại đội 10, Đại đội 11 đi gần cây số chặt tre nứa, vì quanh khu nhà khách không được chặt cây nào nhằm giữ bí mật. Một bộ phận khác thi công, ba ngày sau các nhà được lắp dựng xong. Tôi và anh em khéo tay cố ý trau chuốt, tỉa tót trang trí các cửa sổ, cửa đi. Chỉ bằng vật liệu tre, nứa, song mây, chỗ thì đan, cài theo kiểu hoa thị, chỗ thì tạo hoa văn theo hình quả trám, hình vuông như hoa văn dân tộc. Các bậc tam cấp làm thấp có cọc tre giữ đất. Tay vịn lan can chọn cây tre nhỏ và đều, trau chuốt tỷ mỉ, nhiều đoạn cũng được trang trí hoa văn.


Hai dãy nhà qua lại với nhau bằng chiếc cầu tre nhỏ, bắc qua suối cạn có tạo dáng vòng cong, được chúng tôi đặt tên cầu “Thê Húc Trường Sơn". Từ tay vịn đến trụ, lan can đều trang trí hoa văn, mới trông có vẻ cầu kỳ nhưng lại rất thanh thoát giản đơn, đẹp mắt. Trong mỗi nhà mắc một chiếc võng vi ni lông, một sạp nằm dát bằng toe luồng chẻ nhỏ, ken dầy nằm rất êm. Nửa gian nhà phía bên trái một bộ bàn ghế bằng tre chân chôn xuống nền đất vừa làm bàn ăn, vừa là bàn làm việc. Một căn hầm đủ cho 3 đến 4 người ở. Một bóng điện 40 watts đã phủ "phòng không". Mỗi nhà có mắc điện thoại Liên Xô, liên lạc với Trung đoàn trưởng và Chính uỷ. Để trang trí đẹp mắt, tôi bí mật tuyển chọn và mượn các phòng, ban những giỏ phong lan, nhiều chủng loại mang đến treo ở lan can, ở cửa ra vào, đặc biệt là dọc lan can trên cầu “Thê Húc”. Các giỏ hoa phong lan nhiều chủng loại tươi thắm, khoe sắc vàng, phớt hồng hay màu trắng, tươi mát nổi bật giữa màu xanh của cây rừng...


Đến ngày thứ 6 công trình đã xong toàn bộ. Chính uỷ Nguyễn Sĩ Chỉa, Trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn và đồng chí Phong, Ban Tuyên huấn, bác sĩ Tuấn ở Bệnh xá đi kiểm tra. Các thủ trướng xem rất kỹ rồi kết luận:

- Công trình đạt yêu cầu, cần bổ sung một số điểm...

Hôm sau chúng tôi tiếp tục hoàn thiện theo góp ý bổ sung và tổ chức canh phòng tuần tra cân mật. Mấy chú vệ binh bàn tán:

- Ông Phúc chỉ vẽ vời, các “cụ Trung đoàn" đến ở thì có gì phải tính kỹ thế!

Tôi đứng gần đó nghe thấy chỉ mỉm cười.

- Thì các thủ trưởng chứ ai vào đây!

Thực tình đến giờ phút ây, tôi cũng chưa biết sẽ đón đoàn khách nào!

Về hướng sông Bung, gần một tuần nay Trung đoàn đã lệnh cho Tiểu đoàn do đồng chí Nguyễn Xuân Thu, Tiểu đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Văn Điềng, Chính trị viên Tiểu đoàn mở gấp đường giao liên dài 5 ki lô mét, rộng từ 1 đến 1,5 mét, hai người đi ngược chiều có thể tránh nhau được. Nhiều đoạn rất dốc phải cuốc thành bậc thang có làm lan can tay vịn, có vài chỗ đốc đứng chân người đi trước ngang đầu người đi sau. Riêng đoạn lên xuống cách hai bờ sông 500 mét và bến thuyền dã chiến tại sông Bung chỉ được làm vào chiều ngày N - 11 (N-1 nghĩa là trước ngày sử dụng 1 ngày) nhằm giữ bí mật tuyệt đối.


Lực lượng bảo vệ đã bí mật ém sẵn từ trước, hệ thống phòng không 12 ly 7, đường dây thông tin đã vào trực chiến cấp 1, nhiệm vụ này do đồng chí Đoàn Ngọc Lập, Tham mưu trưởng Trung đoàn chỉ huy.


Đúng đêm 17 tháng 5 năm 1973, đoàn cán bộ Trung đoàn đi đón khách do Trung đoàn trưởng Tô Đa Mạn dẫn đầu đã lặng lẽ đên vị trí tập kết. Đêm cuối tháng, ánh trăng vàng đã ngả về tây soi sáng rừng Trường Sơn yên ả. Xa xa có tiếng gà gáy trong bản lẫn với tiếng chim kêu "khó khăn khắc phục" vọng lại. Mọi người căng mắt nhìn về hạ lưu sông Bung... đứng chờ đợi, muỗi, dĩn vùng này nhiều vô kể!


Trên bầu trời vọng lại tiếng máy bay ầm ì, nhấp nháy đèn đỏ lao về hướng Đà Nẵng. Rồi những chiếc thuyền nhỏ đã lần lượt xuất hiện với tiếng mái chèo khoả nước nhẹ nhàng. Trung đoàn trưởng bấm đèn pin nhấp nháy ánh sáng lọt qua “lỗ phòng không” chỉ bằng đồng xu nhỏ hướng về đoàn thuyền, ánh đèn pin trên thuyền đi đầu đáp lại. Nhận đúng tín hiệu, từng chiếc thuyền cập bến, những cái bắt tay chào hỏi đủ nghe nhưng không kém phần nhiệt tình mến khách.


Bộ phận giao liên Quân khu 5 bàn giao đoàn khách cho Trung đoàn 98 lại xuôi dòng về Hiên, trông rõ trên thuyền xếp những tay lưới đánh cá.

Đi bộ theo đoạn đường giao liên 5 ki lô mét nữa thì đoàn khách được mời lên hai chiếc xe Gatz 69 đợi sẵn ở cửa rừng rồi thẳng tiến về Trao. Chính uỷ Nguyễn Sỹ Chia và một số cán bộ, chiến sĩ phục vụ chờ sẵn và hướng dẫn đoàn vào nhà khách.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #25 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:38:53 am »

Khách mặc trang phục giống nhau: quần áo mầu tro, mũ tai bèo, một số người vai đeo cái bòng nhỏ. Tôi nhận ra thủ trưởng Đinh Đức Thiện người đậm đà, cao to, đi lại đĩnh đạc. Một người khác hơi đậm, cao vừa phải, sau này tôi mới biết là bác Nguyễn Thọ Chân, Bộ trưởng Bộ Lao động. Trung đoàn trưởng đi cùng một người khách tầm thước vừa phải, tay cầm máy ảnh vừa đi vừa hỏi thăm mọi người. Khi đến căn nhà trước mặt, Trung đoàn trưởng nói:

- Báo cáo anh, đây là nơi nghỉ của anh.

- Nhà đẹp hỉ!...

Khách đến ngắm giò phong lan treo trước cửa có bông hoa còn tươi lại thoang thoảng mùi thơm:

- Đến đây mình lại nhớ ATK1 (ATK: an toàn khu) Việt Bắc, nhưng Việt Bắc không có nhiều hoa phong lan đẹp thế ni!...

Chính uỷ tiếp lời:

- Chúng tôi xin tặng anh đem về Hà Nội.

Mọi người cùng cười vui vẻ. Anh Phong cán bộ tuyên huấn ghé tai tôi nói nhỏ:

- Bác Lành khen công trình của anh đây!

- Bác Lành, Nhà thơ Tố Hữu!... Tôi thầm kêu lên.

Đến hôm nay tôi mới được gặp lần đầu tiên, nhà thơ lớn được mọi người hâm mộ khác xa với những hình ảnh đã đăng trên sách báo. Trước đây tôi đã đọc nhiều thơ của bác. Bây giờ bác Tố Hữu là Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đi thăm chiến trường miền Nam, nên tôi càng thầm hiểu công tác đón tiếp quan trọng như thế nào.


Sau này trong bài thơ "Nước non ngàn dặm" của bác Tố Hữu có đoạn:

... Tới đây tre nứa là nhà
Giò phong lan nở nhành hoa nhị vàng
Trưa nằm đưa võng thoảng sang
Một làn hương mỏng, mênh mang nghĩa tình...


Tôi cứ liên tưởng như bác Tố Hữu viết về Trường Sơn khi bác dừng chân ở Trung đoàn 98 và nghỉ trong căn nhà tre nứa ngày ấy ở Trao mà tôi đã góp phần xây dựng.

Tối ngày 19 tháng 5 năm 1973, tại hội trường của Trung đoàn, bác Lành nói chuyện với cơ quan Trung đoàn bộ, cán bộ từ trợ lý trở lên. Bác nói về thời cơ lớn của Cách mạng miền Nam, về làm ăn theo kiểu quản lý kinh tế và khoa học kỹ thuật hiện đại, sau cùng bác nói chuyện về thơ. Chúng tôi đề nghị bác ngâm thơ.

- Mình chỉ đọc chứ không ngâm được thơ.

Với giọng trầm trầm xứ Huế, bác say sưa đọc cho chúng tôi nghe bài thơ "Đường vào". Chúng tôi rât thích đoạn:

   ... Đường ta đi đẹp vô cùng
   Ngàn năm luyện bước Anh hùng đây chăng?
   Đường vui không đợi mùa trăng
   Ta đi làm ánh sao băng giữa đời!


Bác Lành vừa ngừng lời, y sĩ Nguyễn Thị Son quê Hà Tĩnh, cô Hoà, thanh niên xung phong Hà Tây vồn vã chạy lên tặng bác những bó hoa tươi thắm đậm ngát hương rừng. Mọi người đang im lặng, bỗng lại vỗ tay rầm rầm làm rung động cả hội trường.


Bác Lành lại đọc tặng chúng tôi một bài thơ nữa, đọc xong bác nói:

- Bài thơ mình “nhẩm” trên đường đi công tác lần này, chưa kịp sửa, tạm lấy đề mục "Việt Nam máu và hoa”!

Ôi! quả thực là một nhà thơ lớn, nhà thơ cách mạng có tâm hồn. Tôi tâm đắc nhớ kỹ hai câu:

   ... Sài Còn ơi, Huế ơi xin đợi
   Tái hợp huy hoàng cả nước non.


Hôm sau ngày 20 tháng 5 năm 1973, mãi đến 9 giờ, đoàn khách mới lên đường.

Vì chủ khách còn quá lưu luyến và cũng vì đêm hôm qua mưa thượng nguồn đổ về, còn phải chờ nước ngầm A Vương 2 rút bớt.

Tháng 3 năm 2000, đoàn cựu chiến binh Binh trạm 12 đi thăm chiến trường xưa được gặp bác Tố Hữu và chị Thanh, phu nhân của bác tại Nghĩa trang liệt sĩ đường 9. Tôi xin phép được nhắc lại kỷ niệm tháng 5 năm 1973 ở Trường Sơn và nói:

- Chúng cháu đọc thơ của bác, vẫn nhớ đêm đón bác khi bác ngồi thuyền trên sông Bung. Rồi tôi đọc:

... Non cao rực rỡ ánh vàng
Đêm rằm vằng vặc Bến Giàng trăng lên
Con thuyền rời bến sang Hiên
Xuôi dòng sông Cái, ngược triền sông Bung...


Bác Tố Hữu cười nhẹ:

Ừ! Thế mà đã 27 năm rồi đó! Tôi chỉ viết lại, người viết giỏi lắm cũng chỉ nói được một phần sự thực mà thôi!

Mọi người lại cùng cười vui...

Không thể ngờ, đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi được gặp bác Lành, nhà thơ lớn Tố Hữu!

Những người lính Trường Sơn mãi mãi nhớ ơn và tư hào về những khổ thơ của bác Tố Hữu được ghi tại văn bia Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn.

Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang
Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng
Trường Sơn, vượt núi, băng sông
Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa
Trường Sơn, Đông nắng, Tây mưa
Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình


Tôi viết những dòng này xin được coi như những nén hương thơm kính dâng, tưởng nhớ hương hồn bác Tố Hữu an nghỉ ở cõi vĩnh hằng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #26 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:49:42 am »

CÔNG BINH TRƯỜNG SƠN TRONG MÙA XUÂN NĂM 1975

Đại tá Trần Văn Phúc


Thực hiện Nghị quyết 81/QUTVV ngày 05 tháng 5 năm 1973 của Quân uỷ Trung ương chuyên đề về Chi viện chiến trường và phát triển tuyến chi viện Trường Sơn trong tình hình mới, Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã khẩn trương triển khai toàn diện, song vấn đề quan tâm nhất là thế trận cầu đường và lực lượng vận tải cơ giới.


Từ tháng 6 năm 1973 tuyến Đông Trường Sơn đã mở thông đoạn Trao - Bến Giàng, nối liền hậu phương miền Bắc với Tây Nguyên. Sư đoàn 473 tập trung mở chiến dịch Đường 9 - Xưởng Giây dài 120 ki lô mét có cả thiết bị làm đường hiện đại của Cu Ba viện trợ. Nhưng vẫn còn những cái chốt của địch trên hành lang phía Đông Trường Sơn là Đắk Pét (Kon Tum), phải mở đường tránh Đắk Tả - Đắk Tùng dài 30 ki lô mét về phía tây Đắk Pét, Sư đoàn 470 mở đường từ Ô Ranh qua Cam Pu Chia để tránh Đắk Min, Đức Lập.


Đến giữa năm 1974, lực lượng cầu đường trên tuyến Trường Sơn đã có 4 sư đoàn, 5 trung đoàn công binh, và 4 đoàn thanh niên xung phong với quân số trên 6 vạn người và trên 3.000 xe máy các loại. Theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Phan Trọng Tuệ, tháng 3 năm 1974 ông Đặng Hữu, Chủ nhiệm khoa cầu đường, trường Đại học Xây dựng và một số thầy hường Đại học Giao thông đưa hàng trăm kỹ sư vào tăng cường cho công binh Trường Sơn. Cảm động biết bao những học trò trường Đại học Giao thông đã đeo mũ sao đang mở đường Trường Sơn được gặp lại các thầy như thầy Nguyễn Quang Chiêu, Nguyễn Văn Định... trên đèo Bù Lạch cao 1020 mét và cùng phóng tuyến tìm đường trong những ngày lịch sử này.


Ngày 12 tháng 9 năm 1974, Hội nghị Quân chính bộ đội Trường Sơn được triệu tập tại Bến Tắt để quán triệt Nghị quyết của Đảng uỷ Bộ Tư lệnh Trường Sơn mùa khô 1974-1975 bao gồm cả Kế hoạch cơ bản vả Kế hoạch thời cơ. Những cán bộ đã gắn bó với Trường Sơn hàng chục năm trời, nhiều người tóc đã điểm sương, trong những phút giải lao ngoài hành lang, tay năm chặt tay, thầm mong kế hoạch thời cơ đến sớm.


Đối với Cục Tham mưu công binh do đồng chí Phan Quang Tiệp làm Cục trưởng đã chủ động chỉ đạo các cơ quan triển khai chỉ lệnh cầu đường tới các đơn vị công binh. Đồng chí Đỗ Đức Định, Phó phòng Bảo đảm giao thông được biệt phái xuống Trung đoàn 39 Sư đoàn 968 làm Phó Trung đoàn trưởng cùng cán bộ cầu phà và 6 cán bộ khảo sát thiết kế để mở đường bên Lào ngay trong mùa mưa. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1974 đã mở được 60 ki lô mét đường phục vụ vận chuyển ngay khi mùa khô tới. Cuối tháng 01 năm 1975 Cục phó Đỗ Xuân Diễn đi kiểm tra tuyến Tây Trường Sơn từ Bản Đông qua Xa Ra Van, Bản Phồn, X7, tới At Tô Pơ dài gần 400 ki lô mét. Khi đoàn quay ra, đứng trên đỉnh cao nguyên Bô Lô Ven nhìn xuống, cả tuyến đường chỉ còn là vệt bụi màu vàng khổng lồ kéo dài vô tận, người, xe pháo, tên lửa!.. đi như mắc cửi. Có một số đoạn ùn tắc đoàn phải dừng lại cùng đơn vị khắc phục ngay. Ai cũng vội vàng ra trận, chỉ để lại đằng sau những ánh mắt tin tưởng và nụ cười với hàm răng trắng nổi bật giữa cành lá xanh ngụy trang và áo quần đầy bụi màu vàng sẫm.


Các cụm kho dự trữ dọc đường 9 từ Đông Hà đến Tân Lâm cũng như Sa Thầy, Bù Gia Mập... đầy ắp hàng từ quân trang đến đạn dược, lương thực thực phẩm, thuốc quân y, phụ tùng xe máy. Kho K600 của Cục Công binh ở Sa Mưu cũng phải mở rộng để chứa hàng. Các cảng Hòn La, Sông Gianh, Nhật Lệ, Đông Hà ngày đêm tàu vào trả hàng và xuất đi ngay các chiến trường.


Ngày 19 tháng 12 năm 1974. Bộ Tư lệnh Trường Sơn nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham mưu tham gia chiến dịch Tây Nguyên. Tháng 01 năm 1975, Trung đoàn 575 Công binh được thành lập và mở ngay đường chiến dịch. Đến ngày 04 tháng 3 năm 1975, trục đường dài 60 ki lô mét do Trung đoàn 575 thi công cách thị xã Buôn Ma Thuột về phía Bắc 20 ki lô mét, nhưng địch cũng không phát hiện được gì. Sư đoàn 470 có nhiệm vụ bắc cầu phao Sê Rê Pôc và cưa sẵn 2/3 cây trong rùng cao su và đúng 23 giờ ngày 09 tháng 3 năm 1975 công binh chỉ cần gạt nhẹ cây đã tạo thành đường, hộ tống cho xe tăng và pháo tấn công Buôn Ma Thuột. Đó là những yếu tố bất ngờ góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên.


Chúng tôi không thể nào quên, ngày 08 tháng 02 năm 1975, sân bóng đá của Cục Công binh bên bờ Nam sông Bến Hải được đón chiếc máy bay trực thăng đầu tiên của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Từ sáng sớm, cán bộ tác chiến đã ra sân bóng chuẩn bị: 4 đống lửa bốn góc sân được đốt lên, những cột khói mờ xanh cuộn lên không trung. Giữa sân chữ thập bằng vải trắng khô 80 cen ti mét nổi bật trên màu xanh của thảm cỏ. Đúng 8 giờ 30, chiếc trực thăng màu cỏ úa nổi bật ngôi sao vàng trên thân xuất hiện từ phía Đông, ngược sông Bến Hải một đoạn rồi vòng lại và từ từ hạ cánh. Trước khi lên máy bay ra Hà Nội họp, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên xúc động nói với mọi người: Bộ đội Trường Sơn trước đây chỉ có rừng và đêm, giờ đâv chúng ta làm chủ cả mặt đất và bầu trời...


Mọi người có mặt cảm thấy như mơ như thực và tự hào, vinh dự được chứng kiến những giờ phút lịch sử đối với cách mạng miền Nam. Và có ai nghĩ rằng sân bóng do Tiểu đoàn 69 Công binh xây dựng lại trở thành sân bay trực thăng như hôm nay. Sau đó, ngày nào sân bay cũng có trực thăng lên xuống, lúc thì háng chục cán bộ dân chính tăng cường cho các vùng mới giải phóng, lúc thì chở khí tài thông tin, quân y lúc thì các đoàn cán bộ quân sự trong ra ngoài vào, rồi có cả những đoàn người, vai lủng lẳng các máy quay phim, chụp ảnh...


Ngày 18 tháng 3 năm 1975, địch rút chạy khỏi thị xã Quảng Trị về Huế, theo chỉ thị của Bộ Tư lệnh Trường Sơn, Cục trưởng Phan Quang Tiệp giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 99, do đồng chí Vũ Như Thường làm Trung đoàn trưởng, hành quân gấp vào bắc cầu phao Thạch Hãn đủ 2 làn xe, bảo đảm cho bộ đội vượt sông truy kích địch.


Tiếp theo Trung đoàn 8 do Trung đoàn trưởng Nguyễn Việt Phúc chỉ huy đảm bảo giao thông đường B74, 14B để Sư đoàn 324 đánh tràn xuống đường 1 và Huế từ hướng Tây Nam. Trung đoàn 99 tiếp tục bắc cầu phao, cầu be lây trên đường 1 như Thạch Hãn, An Lỗ, Thừa Lưu. Trung đoàn 8 khắc phục các chướng ngại vật, bãi mìn, làm đường vòng tránh, khắc phục cầu Truồi và cầu phao Bến Tuần. Để chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh, Trung đoàn 531 được điều động tiếp theo nhận nhiệm vụ bảo đảm giao thông đường số 1.


Sở chỉ huy tiền phương Cục Công binh do Cục phó Đỗ Xuân Diễn chỉ huy có cán bộ các phòng Bảo đảm giao thông, Kế hoạch, Thiết kế... chỉ đạo trực tiếp các đơn vị công binh và phối hợp với các lữ đoàn công binh, các sư đoàn, quân đoàn bảo đảm cầu đường cho các cánh quân cơ động, hành tiến.


Theo chỉ thị của tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên, ngày 26 tháng 3 năm 1975, một bộ phận cán bộ do Cục phó Cục Công binh Dương Đình Tạ phụ trách bao gồm các cơ quan Tác chiến, Phòng không, Công binh, Vận tải,... có nhiệm vụ trinh sát nắm tình hình cầu đường theo đường 1 từ Quảng Trị trở vào.


Theo tài liệu của địch ta lấy được, từ Quảng Trị vào Xuân Lộc dài gần 1000 ki lô mét có tới 569 cầu lớn nhỏ, nhưng chưa rõ cái nào còn, cái nào bị địch phá huỷ khi rút chạy. Riêng từ Đà Nẵng vào Nha Trang dài 640 ki lô mét, địch đã phá hầu hết các cầu lớn như Cao Lâu, Bà Bầu, An Tân... trong khi khí tài vượt sông của các quân đoàn chỉ đủ vài bộ cầu phà. Vì vậy Bộ Tư lệnh Trường Sơn đồng ý với phương án do Cục Tham mưu Công binh đề xuất: điều gấp 3 Trung đoàn Công binh 98, 8, 531 bảo đảm cầu đường cho cánh quân Duyên hải dọc đường 1 từ Huế vào Nha Trang. Sư đoàn 470 đang bảo đảm giao thông đường 14 nay tiếp tục bảo đảm giao thông từ Plâycu xuống Quy Nhơn và từ Quy Nhơn vào Phan Rang.


Các cụm kho của địch ở Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh, Buôn Ma Thuột... đầy ắp vật tư khí tài, quân trang, quân dụng, lính công binh khoái nhất là dầm cầu be lây, thuyền hợp kim nhôm, thuyền cao su để bắc cầu nổi. Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đồng ý cho công binh lấy các khí tài, vật tư vượt sông tại các kho của địch để khắc phục ngay các cầu bị địch phá huỷ. Các đơn vị công binh cũng kêu gọi, trưng dụng và động viên hàng trăm sĩ quan và lính công binh nguỵ tham gia ngay vào việc khai thác các kho và bắc cầu. Họ làm rất thành thạo, bài bản và tích cực như một phần đáo công chuộc tội với cách mạng.


Trên hai hướng tiến quân là đường 1 và đường Trường Sơn, lực lượng công binh Trường Sơn đã bảo đảm cùng một lúc cho các quân đoàn, binh chủng hợp thành hành quân thần tốc vào Sài Gòn. Công binh Trường Sơn đã khôi phuc kịp thời 96 cầu dài 4.316 mét, có 68 cầu be lây, 15 cầu dầm thép, 5 cầu phao... Bảo đảm giao thông thông suốt trên các trục đường 1,14, 19, 57... Trung đoàn 99 bắc chiếc cầu be lây cuối cùng là cầu Cỏ May ở Vũng Tàu và dừng chân tại thành phố Biên Hòa trong trụ sở phái đoàn Quốc tế. Bộ phận của đồng chí Dương Đình Tạ dừng chân tại nhà máy đèn phía Tây thành phố Biên Hòa. Sở chỉ huy Tiền phương Cục Công binh của đồng chí Đỗ Xuân Diễn dừng chân tại kho Dục Mỹ, cách ngã ba Ninh Hòa về phía tây khoảng 12 ki lô mét.


Trong những ngày chuẩn bị và phát triển của chiến dịch Hồ Chí Minh, mỗi phòng, ban cơ quan Cục Tham mưu Công binh ở Bến Hải chỉ còn vài người, hầu hết cán bộ được cử đi tăng cường cho các mũi tiến quân của công binh. Mỗi buổi sáng giao ban lại thêm một tin thắng lợi mới của quân ta. Ký hiệu cờ đỏ các đơn vị công binh trên sơ đồ mạng đường chiến lược đang từng ngày từng giờ bám sát đại quân tiến về Sài Gòn. Nhiều buổi sau giao ban, Cục trưởng Phan Quang Tiệp còn ngồi lại hàng giờ bên tấm bản đồ 1/100.000 cùng các đồng chí Phạm Văn Thọ, Hoàng Ngọc Châu, Đào Mậu... để tìm các giải pháp vượt sông, bảo đảm vật tư, khí tài cho phía trước.


Và giờ phút lịch sử của dân tộc đã tới...!

13 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi được triệu tập gấp lên phòng giao ban. Cục trưởng Phan Quang Tiệp luôn mỉm cười và ân cần đón tiếp mọi người, một cử chỉ rất khác lạ ở người thủ trưởng quê Quảng Ngãi này. Sau khi mọi người đã yên vị, ông đứng lên tay run run rút tờ điện cơ yếu, giọng hơi lạc đi:

- Các đồng chí... quân ta đã cấm cờ trên Dinh độc lập ở Sài Gòn lúc 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975...

Cả phòng giao ban như bật dậy: Sài Gòn giải phóng rồi. Sài Gòn giải phóng rồi! Chúng tôi ôm lấy nhau, vỗ tay rồi nắm tay nhau chạy ra chạy vô như trẻ nhỏ. Riêng Cục trưởng vẫn ngồi đó, nét mặt đăm chiêu và chúng tôi nhìn thấy hai giọt nước lóng lánh như hai ngồi sao từ khoé mắt ông đang từ từ lăn trên gò má! Ngoài kia các phòng, các ban mọi người chạy ra sân, ra đường cùng vang lên: Sài Gòn giải phóng rồi!... giải phóng rồi... âm thanh ấy như cơn lốc hòa với tiếng vỗ tay vang dội của bà con hai bên bờ sông Bến Hải mãi không dứt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #27 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:52:25 am »



Đại tá
PHẠM VĂN THỌ


Sinh năm:   1937
Quê quán:   Gia Phương, Gia Viễn, Ninh Bình
Thường trú: 1006 đường Hoàng Quốc Việt, Cầu  Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04.3762157
Từ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội tháng 6 năm 1965
Nguyên Phó Tham mưu trưởng Binh tram 14
Thiếu tá Trưởng phòng Kế hoạch. Cục TMCB 559
Nguyên Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh


NHỚ VỀ NHỮNG NGÀY ĐI MỞ ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


Vào tháng 8 năm 1965, tôi đang làm việc tại trường Đại học Giao thông vận tải thì nhận được quyết định vào Công trường 20.

Đoàn công tác có 18 người gồm các kỹ sư, trung cấp, y sĩ, thống kê. Lúc bấy giờ địch đã tập trung đánh phá đường, cầu từ Thanh Hoá trở vào. Đoàn hành quân bằng xe đạp, đêm đi ngày nghỉ dọc theo đường 1 vào tới ngã ba Hoàn Lão thuộc Quảng Bình, qua các cầu lớn đều phải đi đường vòng, vượt sông bằng thuyền ở phía thượng lưu. Đoàn có hai cô y sĩ là Băng Trâm và Băng Hồng cũng đi theo đoàn bình thường như các bạn nam, không cần sự trợ giúp gì đặc biệt, qua sông qua đò cũng tự vác xe đạp và ba lô lên xuống, cùng mò mẫm ban đêm.


Đến đoạn cầu Vằng cầu Hổ, chúng tôi gặp máy bay thả pháo sáng, sau đó ném bom nhưng không trúng đường. Đi qua cầu lại phải vác xe qua cầu khỉ, còn khét mùi khói bom. Đây là trận bom và pháo đầu tiên trong đời, tôi không thấy ai nói gì, cứ lầm lũi đạp xe, các bạn nữ cũng không tỏ ra hốt hoảng. Tuổi trẻ đi đánh Mỹ có nhiều bất ngờ.


Vào đến Phong Nha leo lên hang Cửa Rừng, các thành viên trong đoàn hành quân được phân về các phòng ban của Công trường. Tôi được đồng chí Phan Trầm giao phụ trách một tổ, khảo sát từ Km 0 đến Km 16.

- Có máy đo đạc không ạ? Tôi hỏi anh Phan Trầm.

- Chỉ huy trưởng Công trường cười trả lời: “Có một địa bàn và một tấm bản đồ 1/100.000, làm như thế nào để có một tuyến đường vận tải quân sự na ná như cấp 5 miền núi là do các cậu tự nghĩ ra”.

Tổ chúng tôi có 8 người, tôi là Tổ trưởng, anh Huyền Tổ phó và sáu người nữa làm tất cả mọi việc của một đội khảo sát, máy móc tự sáng tạo bằng các mảnh ván bìa, quả đọi bằng đầu đạn, chúng tôi tiến vào rừng cắm tuyến, vẽ trắc dọc, trắc ngang, bình đồ, đi đường đỏ, tính khối lượng v.v...


Nếm trải đầu tiên là rắn và vắt, thung lũng Đồng Tiền cây cối rậm rạp và ẩm ướt. Nơi này sao mà nhiều rắn xanh thế, dân địa phương cho biết loại rắn này độc lắm, cắn người không thể cứu được, cứ dăm ba bước lại gặp một con, những ngày nắng ấm, chúng bò ra sưởi nắng ở những chỗ trống rất nhiều, nhưng loài rắn này lại rất chậm, chân bước có thể tránh được - tạo hoá cũng có những "điều chỉnh” tự nhiên hợp lẽ như vậy.. Còn vắt thì nhiều vô kể, hễ có hơi người qua là chúng ngóc đầu lên tua tủa như chồng dầy dặc, trên cây thì có vắt xanh bám vào cổ lúc nào không biết. Qua thung lũng này căng thăng lắm, phải đi nhanh chạy vắt, đi không khéo dẫm chân phải rắn xanh thì chắc chết. Thế mà cả thời gian khổng có ai bị rắn cắn, còn vắt thì hôm nào cũng bị vài con, sợ nhất là vắt xanh bám vào cổ, vào đầu, chui vào nách...


Lại nói về quần áo, giày vải, chúng tôi đi vào chiến trường không được chuẩn bị như các đoàn khác hoặc như bộ đội đi B, có lệnh là lên đường ngay, mỗi người chỉ có hai bộ quần áo, một bộ mặc, một bộ bô ba lô mang từ nhà đi, chỉ được phát một bật lửa và một bi đông, chân đi dép lốp. Chúng tôi cũng không phải là khảo sát chuyên nghiệp nên không được phát bảo hộ lao động, sau 10 ngày đi khảo sát có anh chỉ còn một quần dài và một quần “lửng tự tạo” do quần dài rách cụt mất ống. Thế rồi cũng đã khảo sát thiết kế xong 16 ki lô mét đường và chuẩn bị sang giai đoạn thi công. Từ Ba Thang sang phía tây do đội đồng chí Phi Đình Tuấn khảo sát thiết kế.


Chỉ huy trưởng Phan Trầm cho gọi tôi lên lán chỉ huy:

- Cậu nghiên cứu phương án kỹ thuật mở đường qua sườn núi đá, với trang bị xẻng cuốc, xà beng, choòng, búa và thuốc nổ. Yêu cầu tốc độ mở đường mỗi tháng 12 - 15 ki lô mét.

Nhiệm vụ này đối với tôi là rất xa lạ, chưa được học, chưa được làm bao giờ. Nhưng may mắn được Đoàn 559 cử đại uý Thọ xuống công trường hướng dẫn chúng tôi tính toán lượng nổ và kỹ thuật phá nổ. Sau khi tính toán xong, chúng tôi giao cho Đại đội Thanh niên xung phong 452 Nam - Hà thực hiện thử một quả nổ 1,5 tấn ở đầu dốc Đồng Tiền. Đạt kết quả, mọi người rất phấn khởi, ví von với quả bộc phá trên đồi A1 trong chiến dịch Điện Biên Phủ.


Hiệu quả đất đá phá nổ được gần như tính toán, nhưng cây cối về phía vực dạt hết, để lại một khoảng trống, như vậy sẽ lộ mục tiêu, đoán chắc chỉ vài ngày sau địch sẽ phát hiện chính xác ta mở đường ở vị trí nào, và sẽ huy động máy bay đến đánh phá. Nghiêm Đình Huyền đứng cạnh tôi hỏi, bây giờ ta làm kiểu gì?


Tôi chưa suy nghĩ được gì, nhưng như có phản xạ, tôi nói luôn:

- “Nổ to không được thì ta cho nổ nhỏ!”

- Huyền nói: "Ta làm thử cái đã". Thế rồi huy động C452 lấy dốc Dồng Tiền làm nơi thử nghiệm, cả Đại đội dùng xà beng, cuốc đào đất ở các hốc đá, tính toán lượng nổ từ 3 đến 5 ki lô gam gói chặt nhét vào khe đá, phía ngoài đắp đất cho nổ một đoạn dài 15 mét. Sau loạt nổ đã hình thành một vệt đường có bề rộng, có ta luy. Cây cối loại đường kính từ 20 cen ti mét trở lên còn đứng nguyên hai bên đường, chỉ rụng ít lá, mọi người nhảy lên vui mừng “thành công rồi". Từ đó phương pháp mở đường bằng bộc phá liên tục ra đời. Anh Phan Trầm cử luôn tôi làm Phó chỉ huy mở đường đoạn đầu tiên.


Công trường mở đường đến đoạn đá hoa cương phong hoá thành những tảng lớn, có khối to 4 đến 5 mét khối. Chúng tôi đào lỗ mìn vào gần khối đá, cho nổ bọc phá với lượng nổ 5 -10 ki lô gam, nhưng không đẩy được xuống vực. Khi nổ nhìn rõ hòn đá bị nâng lên rồi lại rơi đúng vị trí cũ, dùng xà beng, cây gỗ làm đòn bẩy cũng không đẩy nổi. Sau khi nghiên cứu tôi nói với anh em, loại đá này tuy rắn nhưng lại dòn, ta thử chơi kiểu "trên đe dưới búa”. Anh em gói lượng nổ 5 ki lô gam đặt lên trên hòn đá rồi đắp đất lên cho nổ, tảng đá vỡ thành năm, sáu phần, dùng xà beng dễ dàng bẩy xuống ven đường. Lại một thành công nữa!


Ngày khởi công đồng loạt đã đến. Đúng 17 giờ 30 tết Bính Ngọ đồng chí Phó Tư lệnh Nguyễn Tường Lân ra lệnh nổ loạt bộc phá đầu tiên để đón Xuân và mở màn chiến dịch "Chọc thủng Trường Sơn mở đường thắng lợi”.


Phương pháp kỹ thuật mở đường bằng bộc phá liên tục được áp dụng cho toàn công trường, sau 77 ngày thi công, công trường hoàn thành nhiệm vụ "chọc thủng Trường Sơn". Đây cũng là một kỷ lục của thời bấy giờ với tốc độ mở đường đá từ 15 - 20 ki lô mét/tháng.


Trong quá trình mở đường, tôi được điều sang làm Chủ nhiệm Công binh Trung đoàn 4 bộ binh đang hành quân vào chiến trường dừng lại để mở đường. Nhiệm vụ chủ yếu của tôi là huấn luyện và hướng dẫn bộ đội mở đường.


Cuộc sống quân ngũ bắt đầu! Điều thích thú của tôi là được ăn cơm nấu chín, không bị khê sống, làm việc hội họp đúng giờ, chỉ thị phát ra là có người thực hiện nghiêm chỉnh, được phát một bộ quần áo bộ đội và một đôi giày vải của chiến sĩ. Anh em chúng tôi phấn khởi, thoát khỏi cảnh rách rưới, leo núi dễ dàng, không khó như đi dép lốp.


Bộ quần áo ấy bây giờ cho không ai mặc, nó giầy và cứng như bạt xe, anh em hậu cần nói là của Triều Tiên viện trợ, khi giặt thì lại cứng như mo nang, nhưng lúc bấy giờ lại quý, được cho là ăn chắc mặc bền.


Đường 20 hoàn thành, Công trường 20 giải thể, tôi được chuyển sang quân đội phong quân hàm thượng sĩ, cuộc sống quân ngũ chính thức bắt đầu!
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #28 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2023, 10:57:53 am »



Đại tá
Hoàng Ngọc Châu


Sinh năm:   02-1934
Quê quán:   Diễn Lộc, Diễn Châu, Nghệ An
Thường trú: Nhà 23/N4, Tổ 57, Thịnh Quang, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.38531518 - 0123.7561375
Tứ Bộ GTVT chuyển sang Quân đội năm 1965
Nguyên Trợ lý Phóng Công trình, Đại uý Trưởng phòng Thiết kế Cục TMCB, Bộ Tư lệnh Trường Sơn
Nguyên Viện trưởng Viện Khảo sát Thiết kế - Binh đoàn 12
Nghỉ hưu năm 1992 từ Binh đoàn 12


CHUYẾN THỊ SÁT ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


Công tác tại Phòng Công trình, Cục Tham mưu Công binh, tôi thường được giao các nhiệm vụ nghiên cứu trên bản đồ, vạch các tuyến đường theo yêu cầu của Bộ Tư lệnh, đi thị sát thực địa một số tuyến đường và cũng có thời gian chỉ đạo thi công hiện trường.


Tôi nhớ nhất hai chuyến thị sát đầy ấn tượng, chuyến thị sát đường B80 từ Thừa Thiên vào Kon Tum và lần thị sát tuyến đường tránh đèo Đá Đẽo, phà Xuân Sơn, đến đường 16 khu vực Quảng Binh.

Tháng 6 năm 1967, không về tập kết tại Hương Đô, Hà Tĩnh để học tập và an dưỡng, tôi được phân công trực chiến mùa mưa tại khu vực Rừng Thông đường B45, dưới sự chỉ huy của Cục phó Tham mưu Công binh Nguyễn Văn Kỷ. Chúng tôi được giao nghiên cứu tuyến đường nối từ đường B45 vào Tây Nguyên với yêu cầu tuyến phải hoàn toàn đi sang vùng giải phóng trên địa phận Việt Nam, không qua đất Lào. Dựa trên bản đồ 1/100.000, tổ kỹ thuật bộ phận trực chiến khẩn trương nghiên cứu hướng tuyến báo cáo bằng điện đài về Cục.


Ngay sau đó vài hôm, tôi được đồng chí Cục phó Nguyễn Văn Kỷ giao nhiệm vụ Tổ trưởng tổ thị sát tuyến. Cùng đi có các đồng chí Trần Văn Cư, Vũ Chí Can và y tá Nguyễn Chan.

Trung đoàn 10 được lệnh thị sát từ trong ra. Với ý đồ của Bộ Tư lệnh, sau khi mở xong đường B46, Trung đoàn 10 sẽ là đơn vị trực tiếp mở đường này nên Trung đoàn trưởng, thiếu tá Đinh Hào trực tiếp tham gia. Trung đoàn trưởng Đinh Hào muốn nắm toàn tuyến từ đầu nên từ đường B46 theo đường giao liên phía tây Trường Sơn cắt sang phía đông chờ gặp nhau theo toạ độ được xác định tại phía bắc huyện 40 để cùng đi thị sát đoạn tiếp theo. Cùng đi với đồng chí Đinh Hào có các đồng chí cán bộ kỹ thuật đội Khảo sát Công binh đang công tác tại đường B46 và 1 tiểu đội trinh sát của Trung đoàn, có điện đài 15 Watts để giữ liên lạc với các cấp.


Thị sát vùng giáp biên Trường Sơn hai nước Việt Lào, chúng tôi chịu khí hậu cả hai miền, lúc nắng gắt, lúc mưa dầm lầy lội, thời tiết trong cả chuyến đi vô cùng khó chịu. Có hôm ban sáng lúc lên đường đi thị sát, trời mưa rất to, gió thôi gẫy cả nhánh cây rừng, ni lông che mưa bay phần phật, đến gần trưa thì trời lại nắng gắt. Vùng đất kỳ lạ, cây xoài mọc đầy rừng. Xoài chín vàng ươm, rụng đầy gốc cây, toả một mùi thơm dịu mát. Ngồi nghỉ chân, chúng tôi đặt mũ cối dưới tán cây, chờ gió thổi, quả nào rơi đúng vào mũ thì mới lấy ăn, của rừng nhiều đến như vậy, "rừng vàng biển bạc” mà!


Dân vùng này bị o ép trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ nên đời sống quá khó khăn, nhà cửa quá tạm bợ, chật hẹp không thể nhờ vả được. Chúng tôi phân công một nhóm đi trước tìm địa điểm phù hợp, chặt cây que làm lán, tổ chức hậu cần, lúc cả đoàn làm việc ngoài mặt đường đến chỉ cần lợp ni lông tăng cá nhân, là có chỗ ăn nghỉ ngay. Lán tạm mỗi vị trí ở vài ba ngày, đủ thị sát chi tiết một đoạn đường từ 10 đến 15 ki lô mét rồi lại cuốn chiếu chuyến đi. Tuyến đường chúng tôi chọn đi trên phân thuỷ, lán tạm phải chọn nơi có suối nước, nói là suối nước, nhưng trên phân thuỷ nước chỉ có tại các khe nhỏ.


Thị sát trong cả mùa mưa không eo hẹp về thời gian, không bị thúc bách, khu vực không bị máy bay địch nhòm ngó, nên chúng tôi thống nhất với nhau thị sát kỹ, chọn hướng tuyến hợp lý ngay từ bước thị sát, tính toán khối lượng cụ thể cho từng cây số, vẽ tuyến đường dự kiến chính xác vào bản đồ, ghi chép tỉ mỉ, nhằm giảm bớt công việc cho giai đoạn định tuyến. Trong đoàn thị sát có đến 4 cán bộ kỹ thuật, nhiều chiến sĩ trinh sát đã có trình độ văn hoá cấp 3, nên đây là điều có thể thực hiện được. Anh Đinh Hào là con người thực tế, rất tán thành cách làm này, là Trung đoàn trưởng, người chỉ huy nhưng anh lại ghi chép rất đầy đủ như một trợ lý.


Hướng tuyến được thị sát từ Rừng Thông (Km 34 đường B45), men theo đường phân thuỷ, phía đông Trường Sơn trên đất Việt sát biên giới hai nước Việt Lào.

Về cơ quan Cục, chúng tôi mới biết tuyến đường này được tổ chức thị sát theo ý đồ của Đại tướng Tổng Tư lệnh đã chỉ thị. Đại tướng mong muốn phải sớm xây dựng một hướng tuyến xuyên suốt phía đông Trường Sơn nằm hoàn toàn trên đất Việt từ hậu phương qua đường số 9 vào tận cuối Khu 5.


Hướng tuyến chúng tôi đã thị sát tranh thủ đi phía tây khá xa đường 14 cũ, được xây dựng thời Pháp để đảm bảo an toàn. Nhằm ít khối lượng đào đắp, thời gian thi công nhanh, tránh khu vực địch đang kiểm soát cố gắng bám đường phân thuỷ. Đúng ý đồ chỉ đạo của cấp trên, tuyến đường đã được thị sát hoàn toàn trên đất Việt Nam.


Về đến chỉ huy sở Trung đoàn 10 trên đường B46, tổng hợp hướng tuyến, dự kiến khối lượng toàn tuyến, thống nhất các bước sắp tới, báo cáo về Cục, đoàn thị sát rất phấn khởi vì đã hoàn thành nhiệm vụ.


Cục Tham mưu Công binh điện gọi tôi về báo cáo kết quả. Biết tôi đã trải qua mấy mùa mưa, đang bị sốt rét rừng dày vò đồng chí Đinh Hào cử đồng chí Lương, một chiến sĩ trinh sát thông minh, nhanh nhẹn đã tốt nghiệp cấp 3 phổ thông cùng đi.


Chuyến đi rất khẩn trương, tôi phải về kịp báo cáo tình hình, đồng chí Lương phải ra cơ quan Bộ Tư lệnh kịp làm thủ tục ra Bắc nhập học đào tạo cán bộ nguồn. Hai anh em theo bản đồ địa hình, cắt đường rừng về trạm giao liên T55, bỏ qua nhiều trạm giao liên khác nhằm rút ngắn thời gian. Giữa rừng già âm u tĩnh mịch chỉ có hai người dấn bước.


Ngày thứ hai, vào lúc xế chiều phải qua một dòng sông rộng, trời lại đang mưa rất to, theo bản đồ địa hình, qua sông còn phải đi khoảng tám cây số nữa mới có một bản dân có thể xin nghỉ qua đêm.

Nước sông dâng lên trông thấy mỗi lúc một cao, lội qua sông rất nguy hiểm nhưng không thể ngủ giữa rừng, vì có thể gặp thú dữ, gặp nhiều rủi ro khác, nên phải quyết định nhanh chóng vượt qua sông thì mới kịp đến bản trước khi trời tối. Lũ ống đổ về ào ạt, nước sông dâng quá nhanh, chảy xiết.


Phải vượt qua sông lúc này như đã là mệnh lệnh, đồng chí Lương nhanh chóng gói tất cả tư trang hai người vào ni lông làm phao, súng khoác qua vai thả mình xuống dòng nước. Tôi bám vào báng súng của Lương, cố gắng quậy mình theo đồng chí Lương. Vật lộn với dòng nước lũ qua dòng sông nơi đây khá rộng, gần sang bờ bắc, tôi bị trượt tay mất đà, bị nước cuốn trôi một đoạn. Rất nhanh, Lương chạy theo xuôi dòng nước kịp trao nòng súng cho tôi bám, kéo giữ được tôi lại. Thật hú vía, cuối cùng hai anh em cũng đã sang sông.


Qua bờ bắc, một con nai ngơ ngác nhìn hai người, Lương giương súng định bắn nhưng tôi ra hiệu không, con nai nhẹ nhàng đi vào rừng. Chuyến trở về cơ quan khá mạo hiểm, một chuyến đi đầy ắp kỷ niệm, tôi không thể nào quên.
« Sửa lần cuối: 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:04:30 am gửi bởi vnmilitaryhistory » Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #29 vào lúc: 03 Tháng Mười Một, 2023, 11:00:11 am »

Đã hơn 40 năm trôi qua, tôi không còn có liên lạc được với đồng chí Lương, nhưng không bao giờ tôi quên được những chi tiết này.

Lúc này các đường ngang sang chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên đã được mang tên B70, B71, B72, B73. Với ý đồ dành tên đường B74 cho một tuyến đường vùng Quảng Nam đang khảo sát, sau khi báo cáo tổng hợp xong, tôi để nghị đặt tên đường này là B75. Cục trưởng Phạm Văn Diêu cười, tế nhị “sớm giải phóng được đất nước cũng là mong muốn của mọi người, tuy nhiên hãy đăng ký tên đường này là đường B80".


Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, chúng tôi đã nghỉ hưu, có lần gặp lại người thủ trưởng cũ, tôi nhắc lại chuyện, “Cụ” cười thân mật vẫn như những năm nào, với giọng Khu 5 “Cậu thế mà tiên tri!”

Đầu năm 1968 ta giải phóng Khâm Đức, có cơ hội sử dụng đường 14, do vậy không có kế hoạch khảo sát định tuyến để thi công đường B80 nữa. Cho đến năm 1975, lúc chiến tranh chống Mỹ cứu nước kết thúc, đường B80 cũng chỉ dừng lại là những vạch đỏ đứt đoạn trên bản đồ tham mưu mà thôi.


Đồng chí Trần Văn Cư được Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh trực tiếp giao nhiệm vụ theo dõi chỉ đạo công việc của Đại đội Khảo sát 1 đang thị sát đoạn đầu tuyến đường xây đựng cơ bản Nhà nước và Quân đội giao cho Bộ Tư lệnh Trường Sơn thực hiện từ Troóc trở vào, kết hợp tránh được cả đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn. Tuy nhiên với địa hình vùng núi phức tạp, Đại đội 1 Khảo sát đang gặp nhiều khó khăn trong bước thị sát để định tuyến.


Trăn trở nhiều ngày đêm, các cán bộ kỹ thuật Phòng Công trình dày công nghiên cứu trên bản đồ, tham vọng nếu tránh được cả đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn như dự kiến sẽ giảm bớt chiều dài được khoảng 7 ki lô mét, giảm khối lượng thi công không nhỏ.


Lúc này, một thúc bách không kém quan trọng là Bộ Tư lệnh đã bố trí Đoàn 67, một công trường của Bộ Giao thông vận tải biệt phái sang Bộ Tư lệnh Trường Sơn, do đồng chí Lê Ngọc Hoàn chỉ huy thi công từ đường 10 trở ra, và đã bố trí 2 đơn vị khác cỡ trung đoàn thi công từ đường 20 trở vào.


Hướng tuyến chưa được xác định, trong lúc đó các đơn vị thi công đã tập kết vào vị trí. Đây là một sức ép quá lớn đối với đơn vị khảo sát. Vì thế, Phòng Công trình kiến nghị xin cho thị sát bằng máy bay trực thăng vùng núi phía tây Quảng Bình từ đèo Đá Đẽo dọc Trường Sơn xuống khu vực đường 16 phía nam.


Đây là kiến nghị táo bạo, không chắc được chấp nhận, nhưng lại được Bộ Quốc phòng nhanh chóng đồng ý. Tuy vậy, thời điểm này máy bay trực thăng phải hạn chế giờ bay đành cho chiến đấu nên phương tiện có thể đáp ứng được chỉ là máy bay AH2.


Đầu tháng 6 năm 1973, chuyến bay thị sát được triển khai. Sau một tuần lễ hợp đồng với địa phương, bố trí, chỉ thị trên bản đồ cho Đại đội Khảo sát 1 đốt lửa, tạo khói dưới mặt đất, đánh dâu toạ độ nhiều điểm khống chế giúp tổ thị sát máy bay dễ quan sát địa hình. Điều quan trọng nữa là phải hợp đồng xác định lộ trình bay với tổ bay thật chu đáo, tuyệt đối tránh những đáng tiếc có thể xảy ra.


Cục trưởng Cục Tham mưu Công binh Phan Quang Tiệp trực tiếp chỉ định tổ thị sát gồm 4 thành viên: Trần Văn Cư; Hoàng Ngọc Châu, Trợ lý phòng Công trình; Nguyễn Đinh Hải, Đại đội trưởng Khảo sát 1 và đồng chí Lê Ngọc Hoàn, Đoàn trưởng Đoàn 67. Đồng chí Trần Văn Cư được giao nhiệm vụ tổ trưởng tổ thị sát.


Quan sát địa hình phải qua cửa kính lỗ tròn của máy bay AH2 mặc dù bị hạn chế góc nhìn, nhưng vì được triển khai đủ các điểm dự kiến đúng toạ độ, nhờ khói dưới mặt đất bốc cao nên cũng dễ quan sát.


Tập trung vào nhiệm vụ, chúng tôi đã quên đi mọi âu lo ban đầu: máy bay có tốt, tổ lái có giỏi bay sát vào được những nơi đã chỉ định, Đại đội Khảo sát 1 đốt khói có đúng địa điểm, đúng giờ quy định không? Chúng tôi đùa vui với nhau, Mỹ đã buộc phải ký kết hiệp định Paris, miền Bắc không còn bị máy bay Mỹ oanh tạc, nhưng vẫn còn một mối âu lo nữa là các “cụ dân quân Hoằng Hoá vẫn hăng hái bắn rơi máy bay”...! Không biết tỉnh đội, các huyện đội, các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn đã phổ biên đến tận các tay súng chưa?


Qua 8 vòng bay, tổ thị sát triệt để tận dụng thời gian quan sát không sót các dự kiến, nhận biết được các núi đá cao, các “sông đá” sâu đúng như báo cáo thị sát đầu năm của Đại đội 1.

Ở các vòng bay cuối cùng, tổ quan sát chăm chú, không bỏ sót cơ hội nhưng vẫn không đạt được mong đợi như kỳ vọng. Tổ hội ý chớp nhoáng trên khoang bay và thống nhất: “địa hình khu vực không cho phép đặt tuyến được”, và kết thúc ở vòng bay thứ 8.


Ở nước ta trong thời bình dùng phương tiện máy bay thị sát tuyến đường đã là điều hiếm hoi, từ trước tới nay chưa có điều kiện. Đang trong thời chiến, đây quả là một chuyến bay nghề nghiệp lịch sử, có một không hai. Tuy từ phương tiện hiện đại này, ta không vẽ được một nét đỏ đường liền nét trên bản đồ, nhưng đây là một nỗ lực lớn của Bộ Quốc phòng, của Bộ Tư lệnh Trường Sơn. Từ đó cho phép kết luận rằng không cho phép đặt được tuyến trên địa hình trong khu vực, tránh được cả hai trọng điểm đèo Đá Đẽo và phà Xuân Sơn.


Không đạt được yêu cầu, Cục Tham mưu Công binh phân công Đại đội Khảo sát 2 tiếp tục tổ chức thị sát tìm đường tránh trọng điểm phà Xuân Sơn, không thị sát tuyến tránh đèo Đá Đẽo nữa.

Và điểm đầu đường xây dựng cơ bản Bộ Tư lệnh Trường Sơn được giao tính từ Troóc, phía bắc phà Xuân Sơn.

Chuyến đi thị sát tuyến đường B80 từ đường B45 đến đường B46 phía đông Trường Sơn trên đất Việt chúng tôi phải thực hiện hoàn toàn thô sơ trong hơn hai tháng, lần thị sát tuyến xây dựng cơ bản đông Trường Sơn trên đất Quảng Bình chỉ vẻn vẹn trong hơn 1 giờ đồng hồ bằng phương tiện hiện đại. Trong chiến tranh gian khổ vẫn đầy ắp những kỷ niệm thú vị, chẳng thể nào quên...!
Logged
Trang: « 1 2 3 4 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM