Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 02:25:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Việt Nam không thể nào quên - Quyển 1  (Đọc 3442 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #40 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:56:00 pm »

Các trận chiến với những con “quạ sắt” trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng

Đầu tháng 10 năm 1965, chúng tôi đã huấn luyện và đưa ba trung đoàn tên lửa phòng không vào chiến đấu. Trung đoàn thứ hai được thành lập trên cơ sở biên chế các học viên ở Trung tâm huấn luyện thứ hai. Đại tá N.V. Bazhenov được bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng, Kỹ sư trưởng trung đoàn là Thiếu tá A. Zaika (kỹ sư trưởng của trung đoàn cũng là phó trung đoàn trưởng phụ trách kỹ thuật - ND). Trung đoàn có phiên hiệu là 238. Ngày 20 tháng 9 năm 1965, Trung đoàn ra quân trận đầu đánh thắng bắn rơi 10 máy bay Mỹ, trong đó Tiểu đoàn 83 dưới sự chỉ huy của Thiếu tá Ryzhik trong ba trận đánh đã bắn rơi ba máy bay Mỹ.

Trung đoàn thứ ba có phiên hiệu 285 được thành lập vào cuối tháng 10 năm 1965. Chỉ huy Trung đoàn là Đại tá K.V. Zavadsky.

Ở đây, tôi xin kể lại một trong những trận đánh trên vùng trời Hà Nội.

Các thành phố lớn nhất của miền Bắc Việt Nam là Thủ đô Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng. Đương nhiên, để bảo vệ hai thành phố này, trước tiên phải sử dụng lực lượng Bộ đội Tên lửa Phòng không. Dù khi cần thiết, có thông tin máy bay địch âm mưu đánh vào các mục tiêu khác, các trung đoàn tên lửa phòng không vẫn có thể bí mật triển khai đội hình chiến đấu trên các trận địa phục kích nằm dưới đường bay của máy bay địch, nhưng sau đó phải quay trở lại ngay khu vực Hà Nội và Hải Phòng. Tại đây, các đơn vị phòng không được thành lập thành từng cụm bảo vệ mục tiêu, dù mỗi tiểu đoàn tên lửa phòng không có ba đến năm trận địa dự bị. Trong trường hợp bắn rơi máy bay, các tiểu đoàn cần nhanh chóng rút về các trận địa dự bị, giống như trong trường hợp phục kích. Cụm phòng không này được pháo cao xạ các cỡ cũng như lực lượng không quân, máy bay MiG-17 bảo vệ.

Đường 5 là tuyến đường huyết mạch giữa Hà Nội và Hải Phòng. Khoảng cách giữa hai thành phố khoảng 107 kilômét. Trước khi vào thành phố Hà Nội, các phương tiện phải qua cầu Long Biên được bắc trên sông Hồng. Đây là cây cầu đẹp, có chiều dài khoảng 1.800 mét, là một trong những cây cầu dài nhất Đông Nam Á, do người Pháp xây dựng. Từ lâu, không quân Mỹ đã có âm mưu đánh phá cây cầu này, đánh vào Hà Nội. Nhưng mỗi lần còn cách Hà Nội 50 kilômét họ đã phải quay trở lại vì sợ bị bắn rơi. Nhưng đến đầu tháng 10, không quân Mỹ vẫn quyết định tiến hành một cuộc không kích vào Hà Nội, chủ yếu là vào cầu Long Biên. Các thông tin tình báo đã cho biết về âm mưu của đế quốc Mỹ, và chúng tôi bắt đầu tăng cường sức chiến đấu của các lực lượng phòng không xung quanh Hà Nội, đặc biệt là các đơn vị trong vùng lân cận cầu Long Biên.

Ngày 5 tháng 11 năm 1965, không quân Mỹ thực hiện cuộc không kích đầu tiên vào cầu Long, Biên, nhưng cây cầu không hư hại gì. Các đơn vị tên lửa phòng không đã bắn rơi ba chiếc máy bay, còn các đơn vị pháo cao xạ cũng bắn rơi một số chiếc khác. Nhưng không quân Mỹ không dừng lại ở đó.

Ngày 17 tháng 11, không quân Mỹ tiến hành cuộc không kích lần thứ hai, chúng phá hủy một phần giàn cầu, nhưng Bộ đội Tên lửa Phòng không đã hạ bốn máy bay Mỹ.

Cuộc tiến công thứ ba vào Hà Nội diễn ra vào ngày 1 tháng 12 và không quân Mỹ tổn thất năm chiếc. Trên cầu có những bộ phận bị phá hủy, nhưng các công nhân Việt Nam đã nhanh chóng phục hồi lại cây cầu chỉ sau một ngày đêm. Không quân Mỹ chủ yếu dùng máy bay F-105 ném bom và có sự yểm trợ của máy bay F-4. Các máy bay Mỹ phải hạ độ cao xuống rất thấp để ném bom trúng cầu và nghiễm nhiên chúng trở thành mục tiêu cho các đơn vị pháo cao xạ Việt Nam. Tôi đã nhiều lần có mặt trong xe “U” (xe chỉ huy) dưới sự chỉ huy của Tiểu đoàn trưởng và quan sát trên màn hình những chiếc máy bay bị bắn rơi. Bộ đội Tên lửa Phòng không bắn rơi một trong những chiếc F-105. Tôi thầm nghĩ, tại sao nó phải bay đến đây, đến một đất nước nghèo khổ, giết những người vô tội và phá hủy những ngôi nhà xơ xác của họ. Chẳng lẽ ở Mỹ không có việc gì cho nó. Tôi cay đắng nhớ thời niên thiếu đói khổ của mình, khi phát xít Đức xâm chiếm, những tên lính SS đẫy đà vì ăn quá nhiều bánh mì của chúng tôi, chúng đã đẩy chúng tôi ra cánh đồng đông lạnh và tôi nghĩ rằng phát xít thì ở đâu cũng là phát xít.

Cụm phòng không ở Hải Phòng cũng giống như cụm phòng không ở Hà Nội, nhưng hơi dịch về phía nam, vì phải bảo vệ những cây cầu chạy qua hai con sông cắt ngang đường 5 (Hà Nội - Hải Phòng). Mặc dù các cụm phòng không có đủ các loại vũ khí mạnh, nhiều máy bay chiến đấu - ném bom của Mỹ bị bắn rơi, nhưng cũng không thể bắn hạ được những máy bay đánh trúng cầu.

Cần phải sửa chữa những đoạn câu bị hư hỏng. Vì vậy, phải có phà để đảm bảo giao thông trên đường 5 không bị gián đoạn. Khi đó, Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam không chỉ vũ khí tên lửa mà còn cả thiết bị cho ngành công nghiệp, nông nghiệp, bao gồm thiết bị làm phà. Ở các lĩnh vực này cũng có những chuyên gia Liên Xô, nhưng công việc chính thuộc lĩnh vực cầu phà do các bạn Việt Nam thực hiện. Tôi đã nhiều lần phải sử dụng những chuyến phà như thế này, mặc dù tôi không thấy thuận tiện, thoải mái, chẳng khác nào đi thuyền.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #41 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:57:18 pm »

Tôi đặc biệt nhớ chuyến đi cuối cùng qua sông Hồng. Trong những ngày hạ tuần tháng 4 năm 1966, một nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô đã sang Việt Nam thay thế do Kỹ sư trưởng phụ trách. Tôi đã đi cùng với đồng chí Kỹ sư trưởng để làm quen với các trung đoàn tên lửa phòng không, trong đó có trung đoàn ở Hải Phòng. Khi trở về Hà Nội, đúng lúc chúng tôi đi gần tới cầu qua sông Hồng thì máy bay Mỹ bay tới ném bom. Chúng tôi nhanh chóng ra khỏi xe, chạy đến các hào tránh bom, nhưng các bạn Việt Nam đào hào với kích thước của người Việt, chúng tôi không thể chui xuống hào được. Chúng tôi đành phải ngồi tránh trên bờ.

Nhưng may mắn thay, các xạ thủ phòng không của chúng tôi đã sớm bẻ gãy cuộc không kích, nhưng đường lên cầu bị hư hỏng và chúng tôi đã phải qua phà. Sông Hồng rộng, phà của chúng tôi lắc lư khá lâu trên sông, vì tốc độ của phà chậm.

Lần chạm trán cuối cùng của tôi với các cuộc ném bom và bắn phá của đế quốc Mỹ đã kết thúc như thế, nhưng ở Việt Nam tôi thường xuyên phải chịu đựng các cuộc ném bom này. Mỗi lần tránh bom Mỹ, tôi luôn nhớ lại “kinh nghiệm” khi chúng tôi ẩn nấp để tránh các vụ ném bom máy bay phát xít. Khi còn nhỏ, tôi sống ở làng Seversky Donets (làng Saltov cũ) và ngày 23 tháng 2 năm 1943 quê chúng tôi đã được giải phóng khỏi sự giam cầm của Đức Quốc xã. Từ tháng 2 đến tháng 5, làng Seversky Donets của chúng tôi là tiền tuyến, nên ngày nào cũng bị đánh bom, vì qua sông sang làng bên có hai cây cầu với con đê có tổng chiều dài nhỏ hơn cầu Hà Nội. Chúng tôi sống gần các cây cầu, và luôn phải trú ẩn trong những hầm lạnh, ẩm ướt. Vì vậy, khi ở Việt Nam, những cảnh tượng mình chứng kiến khiến tôi nhớ lại thời thơ ấu của mình. Rất mong bạn đọc thông cảm cho phút tình cảm này của tôi, vì những kỷ niệm về một cuộc sống đã qua - đó cũng là cuộc sống.

Vào giữa trung tuần và hạ tuần tháng 10 năm 1965, đế quốc Mỹ cho máy bay trinh sát không người lái BQM-34A nhiều lần xâm phạm bầu trời Hải Phòng. Điều nảy cho thấy đế quốc Mỹ đang chuẩn bị những cuộc không kích lớn. Trinh sát mặt đất cũng khẳng định những giả định này. Các đơn vị phòng không của chúng tôi tăng cường theo dõi không phận Hải Phòng. Ngày 20 tháng 10, tên lửa của chúng tôi đã bắn rơi chiếc máy bay không người lái BQM-34A trên bầu trời thành phố này. Đây là chiếc máy bay đầu tiên bị Bộ đội Tên lửa Phòng không bắn hạ ở Hải Phòng. Trung đoàn tên lửa phòng không 238 (trung đoàn phòng không thứ hai) làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu này. 14 giờ ngày 5 tháng 11, không quân Mỹ bắt đầu ném bom cầu Lai Vu - cây cầu trên tuyến đường sắt Hải Phòng đi Hà Nội. Đây là trận không kích đầu tiên kể từ sau ngày 5 tháng 8 năm 1964, khi đế quốc Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân trên miền Bắc Việt Nam. Trong trận này, cụm phòng không của chúng tôi đã bắn rơi ba máy bay Mỹ và không cho phép chúng đánh bom xuống cầu.

Thật không may, ngày 7 tháng 11, một tiểu đoàn hỏa lực của chúng tôi sau khi bắn trúng mục tiêu, đơn vị không kịp di chuyển trận địa nên đã bị không quân Mỹ đưa máy bay đến ném bom, gây thiệt hại rất nặng. Trong tháng 11, không quân Mỹ đã nhiều lần đến phá hủy các mục tiêu ở Hải Phòng, đặc biệt nhằm vào khu vực cảng và các kho nhiên liệu chiến lược, nhưng họ đã không đạt được mưu đồ đó.

Một đặc điểm mà các đơn vị tên lửa phòng không của chúng tôi cần phải tập trung tìm biện pháp khắc phục là, đối phương bắt đầu thả nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực. Từ tàu sân bay, quân đội Mỹ đã phát ra một loại nhiễu cực mạnh làm mờ toàn bộ màn hình của các trắc thủ. Các cuộc không kích được thực hiện chủ yếu là máy bay loại A-4D là máy bay tiêm kích bom hay cường kích hạm A-6. Được Moskva cho phép, chúng tôi đã điều chỉnh lại tần số các máy phát. Tình hình đã được cải thiện và hiệu quả chiến đấu của các đơn vị đã tăng lên. Tính đến giữa tháng 12, đã có 15 máy bay Mỹ bị bắn rơi, rất nhiều trong số đó bị các đơn vị phòng không bắn hạ. Số lần bay vào không phận Việt Nam của máy bay Mỹ đã giảm xuống nhiều.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #42 vào lúc: 26 Tháng Hai, 2023, 07:59:30 pm »

Đón năm mới 1966

Trước năm mới, Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Liên Xô sang thăm Việt Nam. Đồng chí Shelepin - Ủy viên Bộ Chính trị Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô làm trưởng đoàn. Đoàn còn có đồng chí Ustinov, Thượng tướng Tolubko và nhiều quan chức khác. Đại diện Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô được tập hợp tại Đại sứ quán, nơi có cuộc họp với các thành viên của đoàn. Trong bài phát biểu của mình, đồng chí Shelepin đánh giá cao công việc của chúng tôi và tuyên bố rằng Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô luôn theo sát diễn biến các sự kiện ở Việt Nam. Và trong lời kết, đồng chí chúc tất cả chúng tôi tiếp tục đạt được thành công hơn nữa trong sự nghiệp đầy trách nhiệm của mình.

Sau đó, Đại tá Dzyza công bố danh sách những người được tặng thưởng, chúng tôi ở lại phòng này, các đồng chí còn lại chuyển đến phòng khác. Đồng chí Ustinov trao các giải thưởng. Trong số những người được trao giải thưởng có các sĩ quan nhóm chuyên gia vô tuyến điện Bộ đội Tên lửa Phòng không, bao gồm cả tôi. Tôi được tặng thường Huân chương Sao Đỏ (Lệnh số 3.572.296 của Đoàn Chủ tịch Liên Xô, ký ngày 13 tháng 10 năm 1965) và nhận được quyết định phong quân hàm lên Trung tá trước niên hạn. Ở phòng bên cạnh đã kê sẵn những dãy bàn với rượu sâm panh. Chúng tôi đến đó và rót rượu vào cốc. Một lúc sau, các thành viên của phái đoàn do đồng chí Shelepin làm trưởng đoàn đã bước vào phòng. Chúng tôi đã được các đồng chí trong đoàn chúc mừng ngắn gọn, và chúng tôi nâng cốc chúc mừng lẫn nhau.

Một máy bay từ Liên Xô đem quà cho chúng tôi cũng bay cùng với Đoàn đại biểu đến Hà Nội. Mỗi người chúng tôi được nhận một gói quà: cán bộ cao cấp nhận gói số 1, cán bộ trung cấp nhận gói số 2, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và lính nghĩa vụ nhận gói số 3. Có một gói riêng, trong gói có bốn kilôgam bánh mì đen cho mỗi người. Đối với chúng tôi, bánh mì đen, cá trích và nước lạnh là cả một niềm mơ ước. Và mơ ước đó cuối cùng đã đến.

Các bưu kiện đã được trao ngày 31 tháng 12 vào đêm giao thừa của năm mới. Đón năm mới, các đồng chí Việt Nam tổ chức tiệc chiêu đãi chúng tôi. Trong bữa tiệc có cây đào, nhiều hoa và đồ trang trí được treo trên các cành đào giống như cây thông trong dịp giáng sinh ở Liên Xô. Buổi chiêu đãi đã diễn ra trong bầu không khí vui vẻ và ấm tình đồng đội, có các nghệ sĩ tới biểu diễn, đốt pháo, sau đó chúng tôi đã đi dạo trong công viên Hà Nội đến gần sáng. Sau đó chúng tôi đi nghỉ một chút để tránh cái nóng ban ngày.

Cuộc sống hằng ngày lại tiếp tục trôi đi, các cuộc không kích, các trận đánh, các buổi lên lớp ở trung đoàn, ở trung tâm huấn luyện. Sau khi những thiết bị mới được chuyển sang Việt Nam, chúng tôi lại thành lập thêm những trung đoàn mới. Đến cuối nhiệm kỳ công tác của chúng tôi, chúng tôi đã thành lập được bốn trung đoàn tên lửa phòng không. Trung đoàn 274 là trung đoàn thứ tư dưới sự chỉ huy của Đại tá V.V. Fedorov. Ngày 29 tháng 4 năm 1966, ngày chúng tôi chuẩn bị lên đường về nước là ngày chiếc máy bay Mỹ thứ 1.000 bị bắn rơi trên tỉnh Bắc Thái(1).

Trong khoảng thời gian từ ngày 30 tháng 4 năm 1965 đến ngày 30 tháng 4 năm 1966, với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Liên Xô, các chiến sĩ Bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam đã bắn rơi 603 máy bay của Mỹ. Trong suốt những năm chiến tranh, đây là số máy bay của Mỹ bị Bộ đội Tên lửa Phòng không bắn rơi nhiều nhất, đã có những trường hợp một tiểu đoàn chỉ bằng một tên lửa đã bắn rơi hai máy bay (5 trường hợp), một vụ bắn rơi ba máy bay.

Tôi còn nhớ một câu chuyện nữa. Vào đầu tháng 4 năm 1966, Ủy ban đại diện đứng đầu là Phó Tư lệnh Binh chủng Tên lửa Phòng không quốc gia, Trung tướng Vikhor đã sang thăm Việt Nam. Nhiệm vụ chủ yếu của Ủy ban là nghiên cứu các phương án chiến đấu của các. đơn vị tên lửa phòng không Việt Nam mới được thành lập, phân tích kết quả bắn trúng, lý do thất bại, độ phức tạp trong chống nhiễu, độ tin cậy khai thác và sử dụng thiết bị. Đồng thời, Trung tướng Vikhor cũng quan tâm đến các điều kiện sinh hoạt hằng ngày của các chuyên gia quân sự Liên Xô. Các thành viên của Ủy ban đã đến thăm các trung tâm huấn luyện và một số đơn vị. Đoàn đã có nhiều cuộc trò chuyện với các kỹ sư trưởng của trung đoàn, đặc biệt là các chỉ huy của trung đoàn và tiểu đoàn. Nhưng tôi đã được tiếp kiến nhiều nhất, vì vào thời điểm đó, Đại tá Dzyza đã đi nghỉ mát và tôi đã phải báo cáo cả cho Đại tá và cho cả mình. Và cùng với công việc hiện tại, theo yêu cầu của Trung tướng Vikhor, cần viết một báo cáo về các vấn đề mà ông đã thống kê. Ông thông báo cho tôi hai tin vui: Chúc mừng tôi được trao tặng Huân chương Cờ Đỏ của Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô ngày 13 tháng 12 năm 1966 theo Quyết định số 558 744 vì có thành tích trong việc tổ chức công tác cải tiến tên lửa cho Quân đội nhân dân Việt Nam và vì các thành tích chiến đấu; và chúc mừng tôi được bổ nhiệm làm Kỹ sư trưởng Quân đoàn 19, Bộ Tư lệnh Phòng không thành phố Chelyabinsk. Ông nói, ông không mang theo Huân chương sang Việt Nam vì tháng 4 tôi sẽ về nước. Đại tá A.M. Dzyza đã yêu cầu giữ tôi lại thêm một nhiệm kỳ nữa nhưng không được Moskva đáp ứng, vì trong ba tháng qua, Quân đoàn 19 không có Kỹ sư trưởng. Vâng, làm việc ở Việt Nam quá nóng bức. Vì vậy, ông nói với tôi để tôi chuẩn bị về nước, Ủy ban đã rời Việt Nam. Nhóm chúng tôi hoàn thành công việc đào tạo được một đội ngũ cán bộ khung các kỹ sư nghiên cứu cải tiến tên lửa của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trước khi rời Việt Nam, chúng tôi được Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam và đại diện Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam mời tới dự tiệc chia tay, cảm ơn chúng tôi vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tặng Huy chương Hữu Nghị và trao giấy chứng nhận của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 30 tháng 4 năm 1966, chúng tôi lên máy bay về nước và rạng sáng ngày 1 tháng 5 tôi đã ở nhà, vì chúng tôi bay trên máy bay đặc biệt. Máy bay chỉ hạ cánh ở một số điểm để tiếp nhiên liệu, và được cung cấp một cách nhanh chóng. Tháng 5 là tháng đầy niềm vui khi chúng tôi được gặp gia đình và những người thân.

Thành phố Kharkov, năm 2007


(1) Nay là hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #43 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:37:50 pm »

KOLESNIK NIKOLAI NIKOLAEVICH


Kolesnik Nikolai Nikolaevich nguyên đội trưởng Đại đội bệ phóng của Trung đoàn lửa phòng không 236 và 261 từ tháng 7 năm 1965 đến tháng 3 năm 1966.

Khi đã về nước, ông luôn nhớ đến những ngày chiến đấu ở Việt Nam và ủng hộ Việt Nam bằng những hoạt động trong các tổ chức đoàn kết Việt Nam. Cụ thể là: từ năm 1967 đến nay, ông là hội viên Hội Hữu nghị Nga - Việt; đầu năm 1988, ông được bầu làm Phó Chủ tịch Đoàn và từ năm 1994 đến nay làm Chủ tịch Đoàn Hội Cựu chiến binh Xôviết tại Việt Nam - một tổ chức xã hội của những chuyên gia quân Liên Xô từng công tác tại Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Ông là tác giả kiêm biên tập viên cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam là thế đó”. Đây là một tập hồi của các cựu chiến binh Xôviết đã công tác tại Việt Nam trong những năm 1965-1975. Ông là một trong những người đứng ra tổ chức cuộc triển lãm ảnh có tên gọi “Việt Nam chiến đấu. Chiến tranh 1961-1975” diễn ra tại Moskva từ ngày 28 tháng 3 đến ngày 17 tháng 4 năm 2017. Ông vinh dự được tiếp kiến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước Trần Đại Quang trong những lần Đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước Việt Nam sang thăm Liên bang Nga.

Do có nhiều đóng góp vào thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ông đã được Chính phủ Việt Nam tặng thưởng Huy chương Hữu Nghị, Chính phủ Liên Xô tặng thưởng Huân chương Cờ Đỏ và nhiều Huân chương, Huy chương cao quý khác. Đầu năm 2013, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký quyết định tặng thưởng ông Huân chương Hữu Nghị vì đã có nhiều đóng góp vào việc củng cố và phát triển tình hữu nghị và hợp tác chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam - Liên bang Nga.

Những dòng hồi ức của ông về những năm tháng ở Việt Nam không chỉ có khỏi lửa chiến tranh mà còn đậm đà tình cảm của quân và dân hai nước Việt Nam - Liên Xô trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được nhân dân toàn thế giới ủng hộ.

Xin trân trọng giới thiệu với độc giả bài viết “Vừa là thầy giáo, vừa là người bạn chiến đấu và chiến thắng” của cựu chiến binh Xôviết Nikolai Kolesnik.


LỜI CỦA TÁC GIẢ

Bài này tôi muốn giới thiệu với độc giả một bức tranh toàn cảnh những thông tin về Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô từng tham gia trong chiến tranh ở Việt Nam (1965-1974). Tuy là một trong số hàng trăm chuyên gia quân sự Liên Xô được cùng với những học trò của mình là Bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam trực tiếp chiến đấu, đánh trả lại các cuộc không kích của máy bay Mỹ, song tôi có thể chưa phác họa được đầy đủ một bức tranh toàn cảnh như mong muốn. Rất mong những người đã tham gia sự kiện này đóng góp những thông tin bổ sung.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #44 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:40:12 pm »

VỪA LÀ THÀY GIÁO, VỪA LÀ NGƯỜI BẠN CHIẾN ĐẤU VÀ CHIẾN THẮNG

Những người con Xôviết tham gia chiến đấu tại Việt Nam (1965-1974)

Số phận của con người cũng như số phận của các dân tộc và các quốc gia luôn có quan hệ mật thiết với nhau. Chiến thắng của nhân dân Việt Nam là sự kế tiếp chiến thắng của nhân dân Liên Xô trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại và chiến thắng của lực lượng phòng không Liên Xô trong việc đánh trả cuộc tiến công đầu tiên của không quân phát xít Đức vào Moskva ngày 22 tháng 7 năm 1941 đã trở thành một điểm mở đầu đúc rút kinh nghiệm, để sau này lực lượng phòng không Liên Xô hỗ trợ cho lực lượng phòng không Việt Nam giành thắng lợi trong các cuộc đánh trả không quân Mỹ giai đoạn 1964-1975.

Người Việt Nam không bao giờ mất niềm tin vào chiến thắng. Họ nói: “Chúng tôi nhất định thắng đế quốc Mỹ, cũng như Liên Xô đã chiến thắng phát xít Đức, bởi vì, các bạn dạy chúng tôi chiến đấu, còn chúng tôi học các bạn cách giành chiến thắng”.

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, không quân Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam nhằm ngăn chặn hậu phương chi viện cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Cái gọi là “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” là cái cớ để Mỹ ném bom xuống miền Bắc Việt Nam. Mỹ đã dùng tàu khu trục “Maddox” và “Turnjoy” để dựng lên màn kịch này. Năm 1968, tại Mỹ đã cho công bố các tài liệu của Lầu Năm Góc (Bộ Quốc phòng), chứng minh rằng sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 4 tháng 8 năm 1964 với các tàu khu trục “Maddox” và “Turnjoy” là một sự khiêu khích đã có kế hoạch trước.

Tháng 2 năm 1965, Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Liên Xô do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Kosyghin dẫn đầu sang thăm Việt Nam. Đoàn đã ký một Hiệp định Liên Chính phủ về việc Liên Xô giúp đỡ toàn diện cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ. Tháng 4 năm 1965, một đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn dẫn đầu sang thăm Liên Xô, đề nghị Liên Xô viện trợ khẩn cấp về quân sự. Cụ thể hoá các Hiệp định Liên Chính phủ đã ký, ngày 6 tháng 7 năm 1965, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã thông qua Nghị quyết số 525-200. Trên cơ sở Nghị quyết này, một đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đã được thành lập để sang Việt Nam.

Việc thành lập Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện, phải cẩn trọng việc lựa chọn các ứng viên trong số các ứng viên ưu tú. Họ là cán bộ chỉ huy, kỹ sư, kỹ thuật viên hạ sĩ quan và lính nghĩa vụ. Khi được tuyển chọn, họ được thông báo là sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ giai đoạn đầu xây dựng và hình thành các đơn vị chủ yếu của lực lượng phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam.

Theo Hiệp định Liên Chính phủ, ngày 16 tháng 4 năm 1965, Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đầu tiên đáp chuyến bay tới Hà Nội. Đoàn gồm có: Đại tá Alesandr Matveevich Dzyza - Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam; Trung tá Levizky Gleb Aleksandrovich - Chuyên gia nghiệp vụ, Tham mưu trưởng của Đoàn; Thiếu tá Kushnar Leonid Fedorovich - Kỹ sư trưởng; Thiếu tá Vodorez Leonid Fedorovich - Chuyên gia huấn luyện chiến đấu; Trung tá Vasin Pavel Ivanovich - Chuyên gia kỹ thuật vô tuyến điện quân sự; Trung tá Uzlenkov Aleksandr Yakovlevich - Chuyên gia hậu cần; Trung tá Bandurkin Vladimir Fedorovich - Chuyên gia huấn luyện hoa tiêu dẫn đường cho máy bay chiến đấu; Đại úy Fokeev Lev Mikhailovich - Chuyên gia, Kỹ sư Bộ đội Tên lửa Phòng không; Đại úy Kostriko Vladislav Mikhailovich - Chuyên gia, Kỹ sư vô tuyến điện quân sự; Grammov Alexandr Ivanovich - Chuyên gia thông tin.

Cùng ngày, theo các điều khoản của Hiệp định Liên Chính phủ giữa Liên Xô và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc Liên Xô cung cấp tổ hợp tên lửa phòng không S-75 (SAM-2) cho Việt Nam để đánh trả các cuộc không kích của đế quốc Mỹ, một đoàn tàu đặc biệt chở khoảng 200 chiến sĩ Bộ đội Tên lửa áp tải các phương tiện kỹ thuật đã rời Quân khu Phòng không Baku, Cộng hòa Azerbaizan, đi qua lãnh thổ Trung Quốc đến Việt Nam.

Nhiệm vụ của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô là trong thời gian ngắn nhất phải huấn luyện và đưa hai trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam vào chiến đấu. Hai trung tâm huấn luyện đã được thành lập cách Hà Nội không xa.

Đại tá Mikhail Nikolaievich Tsygankov, Chỉ huy trưởng các chuyên gia quân sự Liên Xô tại Trung tâm huấn luyện thứ nhất (Trung tâm này thuộc Quân khu Phòng không Moskva chỉ đạo). Các chuyên gia quân sự Liên Xô ở Trung tâm này huấn luyện cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Tên lửa Phòng không đầu tiên (Trung đoàn 236) Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong Ban chỉ huy Trung tâm còn có: Thiếu tá Nikolai Alekseevich Meshkov - Kỹ sư trưởng Trung tâm; Trung tá Mikhail Phedorovich Barsuchenko - Phó chỉ huy trưởng về chính trị.

Đại tá Nikolai Vasilievich Bazenov - Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện thứ hai (Trung tâm này thuộc Quân khu Phòng không Baku chỉ đạo). Các chuyên gia quân sự Liên Xô ở Trung tâm huấn luyện thứ hai đào tạo cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tên lửa phòng không thứ hai (Trung đoàn 238) của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong Ban chỉ huy Trung tâm huấn luyện còn có Đại úy Anatoly Borisovich Zaika - Kỹ sư trưởng Trung tâm; Trung tá Ivan Ivanovich Smimov - Phó chỉ huy trưởng về chính trị.

Nhằm bổ sung lực lượng giáo viên và trợ giảng, trong tháng 7 có thêm 100 chuyên gia từ Quân khu Phòng không Moskva bay sang Hà Nội. Tháng 9 năm 1965 có thêm một nhóm chuyên gia và đầu năm 1966 thêm một nhóm chuyên gia nữa, đưa tổng số chuyên gia quân sự Liên Xô tới Việt Nam lên đến 382 người.

Để thực hiện được nhiệm vụ giúp đỡ Việt Nam mà Chính phủ Liên Xô đã giao, từ tháng 4 năm 1965 đến tháng 5 năm 1967 đã có hơn hai nghìn chuyên gia quân sự Liên Xô là cán bộ, chiến sĩ thuộc các binh chủng khác nhau được cử sang Việt Nam. Họ được cử đến các trung tâm huấn luyện vừa mới thành lập để đào tạo và hướng dẫn các cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam sử dụng thành thạo các loại vũ khí và phương tiện kỹ thuật hiện đại thuộc các binh chủng như: bộ khí tài tên lửa phòng không, các phương tiện thông tin chỉ huy, máy bay MiG-21, xe tăng, ô tô, quân y, tình báo điện đài, an ninh thông tin, khoa học quân sự và công nghiệp quốc phòng. Số chuyên gia trong lĩnh vực phòng không chiếm gần 90%.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #45 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:41:27 pm »

Tháng 10 năm 1965, Tổng cục Tình báo Bộ Tổng Tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô đã cử một nhóm chuyên gia khoa học công nghiệp quốc phòng sang Việt Nam để nghiên cứu các chiến lợi phẩm thu được của Mỹ, như thiết bị kỹ thuật, đạn dược, chất nổ; xử lý vô hiệu hóa những đạn chưa nổ; lấy mẫu các chiến lợi phẩm là thiết bị kỹ thuật và đạn để gửi về Liên Xô. Lãnh đạo nhóm chuyên gia này là: Đại tá Nazarkin, và thay ông là Đại tá V.P. Grechanin (trong năm 1965); Đại tá Kolotilshikov Boris Ivanovich (1966-1967); Đại tá Kapalkin Sergei Vasilievich (1967-1968); Đại tá Suranov Boris Sergeevich (1968); Đại tá Sergeev Georgi Ivanovich (1969-1970); Đại tá Zhironkin (1970-1971).

Làm việc trong nhóm chuyên gia này có các sĩ quan tại ngũ: Slivko German Vladimirovich; Mikhailov Iuri Aleksanđrovich.

Các chuyên gia dân sự là sĩ quan dự bị gồm: Anosov Aleksanđr Mikhailovich; Bogđanov Vlađivir Ivanovich; Vlasov Piotr Ivanovich; Volkov Vladivir Ivanovich; Golov Evgheniy Mikhailovich; Gurov Viktor Aleksandrovich; Zotov Vadim Viktorovich; Kalaida Ronstantin Stepanovich; Konđrachev Vadim Pavlovich; Lebedev Vladimir Ivanovich; Prokopenko Igor Timopheevich; Radin Yaroslav Yakovlevich; Tarapov Anatoliy Aleksandrovich; Shpinko Evgeniy Petrovich.

Tổng số các chuyên gia trong lĩnh vực này đã sang Việt Nam trong những năm 1965-1971 khoảng 45 người, đến nay phần lớn họ đã không còn, chỉ còn có 8 người, song sức khỏe cũng đã yếu.

Rất tiếc, các chuyên gia dân sự của ngành công nghiệp quốc phòng làm việc trong chiến tranh ở Việt Nam, không được công nhận là những người đã tham gia chiến đấu, vì thế họ không được Bộ Quốc phòng và Chính phủ Liên bang Nga đưa vào danh sách của Tổ chức “các cựu chiến binh”, mà tổ chức này đã được luật pháp của Liên bang Nga quy định. Mặc dù Tổng cục Tình báo đã cấp cho mỗi người một giấy chứng nhận, xác nhận họ đã ở Việt Nam trong một giai đoạn chiến tranh và “... trong điều kiện chiến đấu khó khăn, họ đã thực hiện một số nhiệm vụ đặc biệt trong nhiệm kỳ công tác”.

Trong chiến tranh Việt Nam, Lữ đoàn tàu trinh sát độc lập của Hạm đội Thái Bình Dương Liên Xô đã được triển khai đến vùng biển mà các máy bay không quân và hải quân Mỹ hoạt động như ở Thái Bình Dương (khu vực đảo Guam - Căn cứ không quân chiến lược của Mỹ), trong vùng Biển Đông và trong Vịnh Bắc Bộ. Các thủy thủ của Lữ đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt là kịp thời thông báo cho lực lượng phòng không Việt Nam những chuyến bay của không quân Mỹ từ căn cứ trên vào miền Bắc Việt Nam. Chỉ huy đầu tiên của Lữ đoàn là Đại tá Hải quân Dmitry Lukas Timopheevich. Ngoài ra, tàu trinh sát hoạt động cách vịnh Apra (đảo Guam) ba hải lý. Đây chính là căn cứ tàu ngầm hạt nhân được trang bị tên lửa đạn đạo “Polaris - Poseidon” của Hải đoàn số 15 Mỹ. Ngoài nhiệm vụ chính là theo dõi hoạt động của tàu ngầm hạt nhân nêu trên, các tàu trinh sát của Lữ đoàn còn có nhiệm vụ phát hiện các máy bay ném bom chiến lược B-52 cất cánh từ căn cứ không quân Andersen (đảo Guam) có hành trình đến Việt Nam. Thời gian bay đến các mục tiêu ở Việt Nam thường khoảng 6 giờ. Và trong khoảng thời gian đó, hệ thống phòng không Việt Nam đã được cảnh báo qua hệ thống thông tin liên lạc cực nhanh từ tàu trinh sát, qua Bộ Tổng Tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô và sau đó đến các đơn vị phòng không tại Việt Nam.

Về sự kiện này, Chuẩn đô đốc Hải quân Liên Xô Vladimir Karev Anisimovich đã ghi trong hồi ký của mình: “Những trang không được làm rõ trong cuốn sách sử kỷ của Hạm đội Thái Bình Dương”, ông chính là Thượng úy, Chỉ huy Tình báo điện tử của nhóm bộ đội đặc biệt nêu trên trong những năm 1969-1973.

Nhằm ngụy trang không cho đối phương phát hiện, các tàu trinh sát được trang bị lại thành những tàu đánh cá loại trung bình và loại nhỏ, trên tàu có lắp đặt thiết bị vô tuyến điện. Các nhóm tàu tình báo điện tử của đơn vị kỹ thuật vô tuyến hàng hải số 19 được giao nhiệm vụ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trinh sát. Nhóm tàu này có khả năng thu thập các loại thông tin tình báo; tiến hành thăm dò định vị các đài phát tín hiệu, trinh sát điện tử các trạm rađa.

Trong giai đoạn 1964-1974, có 17 tàu tình báo của Chiến đoàn đã đến vùng chiến sự Việt Nam và thực hiện 94 cuộc hành quân với thời gian mỗi đợt hoạt động từ ba đến bốn tháng. Nhờ những thông tin từ những tàu trinh sát này, mà máy bay ném bom của đế quốc Mỹ vừa cất cánh từ căn cứ trên đảo Guam, Quân đội nhân dân Việt Nam và các chỉ huy của quân đội Liên Xô đã biết được số lượng máy bay và hướng bay của chúng. Và tại Việt Nam, các chiến sĩ phòng không đã sẵn sàng tiếp đón “những vị khách không mời” trên không này.

Cũng như nhiều nhân viên dân sự của ngành công nghiệp quốc phòng, các thủy thủ quân sự đã tham gia những cuộc hành quân trên biển đầy khó khăn và nguy hiểm, đến nay cũng không thể có được Giấy chứng nhận có quyền hưởng những ưu đãi, mà chỉ nhận được câu trả lời: “... Trong hồ sơ lưu trữ của Bộ Quốc phòng Nga không có các số liệu khẳng định ông đã tham gia chiến đấu trong thời gian làm nhiệm vụ ở nước ngoài”, mặc dù tại mục III của Phụ lục đính kèm Luật Liên bang “về Cựu chiến binh” đã được ghi rõ: “Từ tháng 1 năm 1961 đến tháng 12 năm 1974, trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam, các thủy thủ trên các tàu trinh sát thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Hải quân Liên Xô đã hoàn thành các nhiệm vụ quân sự trên Vịnh Bắc Bộ”.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #46 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:43:54 pm »

Chuẩn bị ra quân trận đầu

Sau một số lần máy bay của đế quốc Mỹ xâm phạm bầu trời Trung tâm huấn luyện thứ nhất, Chỉ huy Trung tâm huấn luyện đã đưa ra một ý tưởng là biến bộ khí tài huấn luyện thành bộ khí tài chiến đấu để đập tan các cuộc xâm phạm bầu trời Việt Nam của không quân Mỹ. Mặc dù khi cử các chuyên gia quân sự Liên Xô sang Việt Nam chưa nêu nhiệm vụ là họ trực tiếp tham gia chiến đấu, nhưng mọi người cũng đã được thông báo trước: “... Chúng ta sẽ làm việc trong những điều kiện gần sát với chiến đấu”.

Chúng tôi đã rà soát xem có bao nhiêu học viên Việt Nam có thể bổ sung vào đội hình các khẩu đội của chúng tôi. Vì số lượng sĩ quan và chiến sĩ Liên Xô lúc đó chỉ có 39 người ở mỗi đơn vị cấp tiểu đoàn. Theo biên chế mỗi đơn vị cấp tiểu đoàn ở Liên Xô trong thời bình là 75 người, như vậy mỗi đơn vị còn thiếu 36 người. Trước tình hình đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã có cuộc gặp với ông Sherbakov Ilya Sergeevich - Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Liên Xô tại Việt Nam.

Ngay sau cuộc gặp, đẩu tháng 6 năm 1965, Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Việt Nam đã thành lập trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên có số hiệu là Trung đoàn 236. Trung đoàn có năm tiểu đoàn, trong đó bốn tiểu đoàn hoả lực: Tiểu đoàn 61, Tiểu đoàn 62, Tiểu đoàn 63, Tiểu đoàn 64 và một tiểu đoàn kỹ thuật: Tiểu đoàn 65.

Phiên hiệu của các tiểu đoàn không hề thay đổi, kể cả khi tiểu đoàn được lệnh tăng cường chiến đấu cho một trung đoàn tên lửa phòng không khác. Đại tá Tsygankov - Trưởng trung tâm huấn luyện được cử làm Trung đoàn trưởng; Thiếu tá Meshkov được cử làm Kỹ sư trưởng. Chúng tôi khẩn trương chuẩn bị hai tiểu đoàn (63 và 64) hành quân ra trận địa.

Kỹ sư trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Bộ đội Tên lửa Phòng không Liên Xô, Thiếu tá Kushnar Leonid Fedorovich chỉ huy công tác chuẩn bị của Tiểu đoàn 63; còn Kỹ sư trưởng Trung tâm huấn luyện thứ nhất, Thiếu tá Meshkov chỉ huy công tác chuẩn bị của Tiểu đoàn 64. Thời gian này, lãnh đạo Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam là Đại tá Dzyza.

Trận đầu ra quân đánh thắng

Trong suốt cả đêm 22 tháng 7 năm 1965, hai tiểu đoàn 63 và 64 hành quân ra trận địa và sớm ngày 23 tháng 7 cả hai tiểu đoàn đã chiếm lĩnh được trận địa ở cách nhau 10-12 kilômét. Quân số của mỗi tiểu đoàn lúc bấy giờ có 30 người trong Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô và được bổ sung thêm một số cán bộ, chiến sĩ Việt Nam đã được đào tạo. Cả hai trận địa nằm ở địa bàn gần bến phà Trung Hà thuộc huyện Ba Vì cách Hà Nội khoảng 50 kilômét.

Ngày 24 tháng 7 năm 1965, trong trận đầu ra quân, hai tiểu đoàn tên lửa phòng không (63 và 64) đã bắn rơi ba máy bay Mỹ F-4C, thường gọi là “Con ma”. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của Binh chủng Phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ đội Tên lửa đã sử dụng bộ khí tài tên lửa phòng không bắn rơi những máy bay ném bom - loại máy bay tiêm kích siêu âm của đế quốc Mỹ. Đặc biệt ba máy bay vừa mới bị bắn hạ là những chiếc máy bay thứ 339, 400 và 401 bị bắn rơi trên miền Bắc Việt Nam kể từ đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ.

Theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1968, ngày 24 tháng 7 trở thành ngày truyền thống của Bộ đội Tên lửa Phòng không Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 63 là Thiếu tá Mozaev Boris Stepanovich, Tiểu đoàn trưởng phía Việt Nam là Đại úy Nguyễn Văn Thân. Sĩ quan điều khiển là Thượng úy Vladilav Konstantinov, phía Việt Nam là Trung úy Lã Đình Chi.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 64 là Thiếu tá Ilinyk Phedor Konstantinov, phía Việt Nam là Đại úy Nguyễn Văn Ninh. Sĩ quan điều khiển là Thượng úy Oleg Bonđarev, phía Việt Nam là Trung úy Phạm Trương Uy (sau này anh được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân).

Các trắc thủ bám sát tín hiệu mục tiêu bằng tay (cabin U) của Tiểu đoàn 63 gồm: Hạ sĩ Anatoly Bondarenko, hai binh nhất Vladimir Tishchenko và Yuriy Papushov, còn ở Tiểu đoàn 64 là Hạ sĩ Petr Zalipsky, hai binh nhất Malyga Valery và Bogdanov.

Các chỉ huy của Tiểu đoàn 61 là Thiếu tá Proskumin và Đại úy Hồ Sĩ Hưu, ở Tiểu đoàn 62 là Đại tá Chernexov Vasily Grigorievich và Đại úy Nguyễn Tiến Thụ.

Sau này Tiểu đoàn 62 là tiểu đoàn đầu tiên bị tên lửa “Shrike” của Mỹ bắn trúng (Shrike là loại tên lửa không đối đất chống rađa được trang bị trên máy bay ném bom của Mỹ). Nó có đầu tự dẫn, hoạt động theo nguyên tắc “tự động điều khiển theo bức xạ sóng điện tử”, nghĩa là khi rađa, anten của ta phát sóng lên không trung, máy thu của tên lửa “Shrike” bắt được cánh sóng đó và phi công chỉ cần nhấn nút phóng, quả tên lửa “Shrike” sẽ theo trục cánh sóng rađa, tự tìm đến mục tiêu với xác suất gần như tuyệt đối. Để tránh được tổn thất, các sĩ quan điều khiển tên lửa của ta đã dày công nghiên cứu, thậm chí đã hy sinh, mới tìm ra cách tránh được tên lửa “Shrike” (trong những sĩ quan điều khiển đó là Đại tá Nguyễn Lành, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 67 Trung đoàn tên lửa phòng không 275 - ND).

Từ ngày 24 tháng 7 năm 1965 đến tháng 3 năm 1966 (trước thời điểm các chuyên gia quân sự Liên Xô của trung đoàn hết nhiệm kỳ công tác), dưới sự chỉ huy của Trung tá Ilinyk, các tiểu đoàn hoả lực đã đánh 18 trận và bắn rơi 24 máy bay Mỹ. Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam, Thiếu tướng Belov Grigoryi Andreevich đã báo cáo về Liên Xô đề nghị phong thưởng cho Trung tá Ilinyk.

Trong thời gian này, Trung đoàn 236 bắn rơi 70 máy bay địch với tổng số tên lửa sử dụng 120 quả. Như vậy tỉ lệ tiêu thụ đạn cho một máy bay nhỏ hơn 2 (chỉ tiêu là 3 quả đạn hạ 1 máy bay) - Đây thực sự là con số lý tưởng.

Việc sử dụng thành công tên lửa phòng không của Liên Xô tại Việt Nam làm cho đế quốc Mỹ rơi vào trạng thái sốc, đặc biệt là buộc phải tạm dừng các phi đội từng làm bá chủ trên không và chấm dứt việc ném bom xuống miền Bắc Việt Nam của không quân Mỹ tưởng như không trừng trị được. Và quan trọng nhất, các hệ thống tên lửa phòng không của Liên Xô đã làm suy yếu tinh thần chiến đấu của các phi công Mỹ. Thứ nhất, buộc họ phải bay cao trong những đám mây, ngoài tầm bắn của lực lượng phòng không, và chi ném bom những thành phố không được bảo vệ. Ngoài ra, phi công Mỹ cần biết: họ có thể không bay trở về trong chuyến bay gây tội ác này... Sợ bị nhiều thương vong mới, quân đội Mỹ đã buộc phải ngừng ném bom hoàn toàn xuống miền Bắc Việt Nam trong hai tuần. Trong thời gian này, đế quốc Mỹ chỉ cho máy bay trinh sát không người lái xâm nhập không phận miền Bắc Việt Nam để xác định các trận địa tên lửa phòng không. Bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam đã kịp thời hạ gục chúng.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #47 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:46:21 pm »

Chiến thuật phục kích

Theo quy định về biên chế, một tiểu đoàn hoả lực tên lửa phòng không S-75 có sáu bệ phóng, một trạm điều khiển tên lửa, một đài trinh sát và xác định mục tiêu. Nhưng tại Việt Nam, điều kiện địa hình nhiều đồi núi và rừng rậm, nên gặp nhiều khó khăn trong hành quân dã chiến, trang bị như thế sẽ quá cồng kềnh cho chiến thuật “phục kích” ở Việt Nam. Vì thế, trong thực tế thường chọn phương án “Tiểu đoàn gọn nhẹ” có hai, ba bệ phóng, không có đài trinh sát và xác định mục tiêu, cũng không có các đơn vị yểm trợ khác. Mặc dù phương án này đã được áp dụng cho một tiểu đoàn và thời gian thu hồi khí tài sau trận đánh chỉ hết 25 - 30 phút, nhưng do trận địa không được các đơn vị khác yểm trợ và không có khả năng bắn hạ các mục tiêu của tốp thứ hai và các tốp tiếp theo, nên tiểu đoàn dễ bị tổn thất. Vì vậy, trong tháng 6 năm 1971 đã có tám tiểu đoàn tên lửa phòng không bị giảm sức chiến đấu.

Tuy nhiên, Bộ đội Tên lửa Phòng không Việt Nam đã áp dụng thành công chiến thuật phục kích; nhanh chóng thay đổi vị trí sau mỗi trận chiến và khéo léo ngụy trang. SAM (tên lửa phòng không) đã đón máy bay Mỹ ở những nơi mà họ không ngờ lại có tên lửa. Các cuộc phục kích là các đơn vị hợp thành cũng như các hệ thống phòng không đơn lẻ. Chiến thuật này đã làm đảo lộn các số liệu tình báo của tình báo không quân Mỹ. Chiến thuật này đã tạo điều kiện cho các đơn vị hoả lực Việt Nam có khả năng bất ngờ đánh trả các tốp máy bay Mỹ, khiến không quân Mỹ luôn trong trạng thái căng thẳng và phải tiêu hao số lượng lớn lực lượng và phương tiện cho việc trinh sát và thực hiện các phi vụ trên không, có nghĩa là khả năng chiến đấu của lực lượng phòng không Việt Nam đã được nâng lên.

Các bạn Việt Nam đã rất khéo léo dựng những trận địa tên lửa giả ngay trên trận địa mà các tiểu đoàn hoả lực vừa mới thu hồi khí tài sau trận chiến. Các bạn Việt Nam đã dùng tre, cót và sơn để làm những mô hình tên lửa và các xe chỉ huy, chúng giống đến mức đã trở thành một cái mồi bẫy thực sự cho máy bay Mỹ. Thông thường, bẫy này được giăng ra ngay sau mỗi trận đánh. Trong một cuộc tập kích vào một trận địa giả, không quân Mỹ đã bị mất thêm vài máy bay, vì xung quanh các trận địa giả là các đơn vị pháo cao xạ Việt Nam đã được triển khai. Các xạ thủ pháo cao xạ Việt Nam là những chiến sĩ dũng cảm, mưu lược, bắn rơi nhiều mục tiêu bay ở tầm thấp và đã giành được những thắng lợi giòn giã. Một trận đánh mà chúng tôi đã được chứng kiến là trận phục kích ở gần thị xã Phủ Lý. Tiểu đoàn 61 Trung đoàn tên lửa phòng không 236 của chúng tôi do Thiếu tá Proskumin Ivan Konstantinovich và Đại úy Hồ Chí Hữu chỉ huy trong trận đánh đầu tiên của mình vào đêm 11 ngày 12 tháng 8 năm 1965 với ba tên lửa đã bắn hạ bốn máy bay Mỹ. Sĩ quan điều khiển Tiểu đoàn 61 là Trung úy Constantin Karetnikov, các trắc thủ bám mục tiêu bằng tay là Binh nhất Nikolai Volkov, Alexandr Burxev Cherkviani và Tarzan Cherkvianhi, kỹ thuật viên hệ thống xác định tọa độ là Trung úy Nguyễn Văn Thân - sau này là Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sau đây tôi xin kể chi tiết hơn về sự kiện này.

Chuẩn bị trận địa hỏa lực

Hoàng hôn cuối ngày đã buông xuống. Sau khi thực hiện đầy đủ những quy định ngụy trang ánh sáng, chúng tôi bắt đầu những công việc chuẩn bị trận địa đã được lựa chọn trước cho Tiểu đoàn 61. Ba giờ sau, máy bay Mỹ bắt đầu ném bom thị xã Phủ Lý cách trận địa chúng tôi 8 kilômét về phía đông.

Không quân Mỹ định kỳ thả bom dù phát sáng. Thời gian chiếu sáng của mỗi đợt 5 - 8 phút. Phi công Mỹ hoàn toàn không ngờ sẽ bị lưới lửa phòng không Việt Nam trừng phạt, họ đã thản nhiên ném bom xuống thị xã Phủ Lý nơi đã bị bỏ trống. Chúng sử dụng nơi đây như một trường bắn huấn luyện để trải nghiệm việc ném bom ban đêm. Chúng tôi nhìn thấy rõ các quả bom chiếu sáng và nghe rõ những tiếng bom nổ inh tai.

Sau khi ném bom, máy bay Mỹ bay vòng ngược lại, bay qua cả trận địa của chúng tôi. Khi bầu trời được chiếu sáng, chúng tôi nhìn rõ những bóng đen hung dữ trên bầu trời. Những tiếng động cơ phản lực trên đầu và những tiếng nổ chói tai của bom ném xuống thị xã đã làm tăng thêm sự lo lắng và nguy hiểm, như thể báo trước “Ngày mai đang chuẩn bị đến với chúng tôi”. Việc chuẩn bị trận địa hoả lực của chúng tôi đã diễn ra trong hoàn cảnh như thế.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #48 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:47:22 pm »

Xét về quan điểm chiến thuật, trận địa đạt yêu cầu, vì nó là một dốc núi nằm phía trên thung lũng chạy theo hướng từ nam đến bắc. Điều này giúp cho chúng tôi có tầm nhìn bao quát tốt ở phía nam. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, trận địa gặp những khó khăn: sườn núi có độ dốc hơn 25 độ, và phải làm nền bậc thang nằm ngang cho mỗi bệ phóng và cabin. Bức tường thẳng đứng của nền bậc thang đặt bệ phóng phải cao hai mét. Đất nhiều sỏi đá, chúng tôi phải dùng cuốc chim và xẻng để đào, do đó công tác chuẩn bị trận địa mất nhiều công sức và thời gian.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Huyện ủy huyện Gia Viễn, mọi tầng lớp nhân dân địa phương, từ phụ nữ, trẻ em, cụ già... đều ra giúp chúng tôi. Người mang quang gánh để chuyển đất, người đem cuốc, xẻng và cuốc chim để đào và xúc đất. Mọi người rất vui vẻ, hăng say với công việc. Trong số đó, có một người xã Gia Sơn, nơi mà chúng tôi đã nghỉ dừng chân trước khi ra trận địa. Đây là một người đàn ông luống tuổi, mọi người gọi ông là Vũ Anh. Ông chính là người buổi sáng đã đưa cho tôi chậu nước để rửa mặt. Như một người bạn cố tri, ông vui vẻ, mỉm cười và hỏi tôi cần đào đất ở độ sâu bao nhiêu ở chính giữa bãi đặt bệ phóng tiếp theo. Tôi giải thích rằng, phải đào bỏ các lớp đất tới độ sâu bằng chiều dài của lưỡi lê, và chuyển đất về phía nam bãi để đắp thành một lối vào nơi đặt bệ phóng. Ông Vũ Anh hiểu ý, lắc bộ râu thưa thớt và giơ nắm đấm tay mình về phía máy bay đang bay trên đầu chúng tôi và hô vang.

- Máy bay Mỹ sẽ phải tan xác!

Một người khác là một phụ nữ còn trẻ, xinh đẹp, tên là Liên. Chị cùng với con trai mười hai tuổi tên là Đông đến giúp đỡ chúng tôi. Chị khéo léo cầm cuốc và đào những khối đất đá sỏi. Còn cháu Đông bốc đất, nhanh chóng bỏ vào các sọt hoặc thúng ở trên quang của những người gánh đang đứng chờ. Một phụ nữ khác gánh đất, không cần phải để đòn gánh xuống, mà cứ để đòn gánh trên vai rồi lấy hai tay lật mạnh hai sọt đất xuống bãi cần lấp. Công việc mỗi lúc một nhộn nhịp và vui vẻ hơn, và rồi nhiều người cùng đến và giúp chúng tôi. Trận địa ngày một rộng ra, người ngày một đông hơn.

Chỉ trong đêm đó, không dưới 300 người dân địa phương đã giúp chúng tôi chuẩn bị trận địa. Và nhờ đó, đến rạng sáng hôm sau, trận địa đã sẵn sàng cho trận đánh. Chúng tôi bắt đầu triển khai khí tài. Mặc dù sau một đêm không ngủ và mệt mỏi, song nhân dân địa phương không muốn rời khỏi trận địa. Mọi người thích thú quan sát trận chiến, ngắm nhìn những vật kỳ lạ - những tên lửa, những chiếc xe ô tô lạ thường, máy kéo, các bệ phóng và cả chúng tôi nữa - những chàng trai của đất nước Xôviết.

Bao giờ cũng thế, các cháu nhỏ ở đâu cũng tò mò một cách đặc biệt, ở Việt Nam, các cháu ít khi được nhìn thấy những chiếc xe ô tô như thế này và cả tên lửa thật, mà chúng có thể chạm tay vào các quả tên lửa đó. Đối với các cháu, đó là một ngày hội thực sự.

Nhưng sự mệt mỏi đã cướp đi cái gì đó của mỗi người. Đã gần 5 giờ sáng, mọi người phải rời trận địa trở về nhà sau một đêm làm việc mệt nhọc. Trước khi đi, họ yêu cầu chúng tôi bắn rơi ít nhất một máy bay và chắc chắn phải để cho họ nhìn thấy những mảnh vỡ của máy bay. Bởi vì, theo như Liên nói: “Vì chúng mà chúng tôi không có nhà ở. Chúng ném bom cả ngày và đêm. Thật đáng nguyền rủa. Họ chẳng sợ cái gì”.

Chúng tôi hứa nhất định sẽ thực hiện được nguyện vọng của họ. Khi chia tay, tôi đã tặng cháu Đông huy hiệu có hình nhà du hành vũ trụ Gagarin. Cậu bé rất vui mừng, nắm chặt chiếc huy hiệu trong bàn tay bé xíu, cậu bé vẫy tay tạm biệt chúng tôi và hét lên:

- Liên Xô! Gagarin! Tên lửa! Tốt! Tạm biệt!

Những người dân địa phương tình nguyện đến giúp chúng tôi đã chia tay chúng tôi về nhà. Họ đã thức thâu đêm, san lấp gần như nửa quả đồi đất sỏi để chúng tôi có trận địa, chuẩn bị bước vào cuộc chiến với máy bay Mỹ. Mặc dù mệt mỏi khắp người, song cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 61 chúng tôi vẫn sẵn sàng, nghiêm chỉnh thực hiện các mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên. Trong điều kiện ban đêm, để xác định được độ chính xác mặt bằng nằm ngang của bãi đặt bệ phóng tên lửa là một việc rất khó. Tôi đã dùng một tấm ván có độ dài hai mét và một vỏ chai nước chanh để đựng nước làm thước đo mặt phẳng. Nhờ dụng cụ đo “độ bằng phẳng” này, chúng tôi nhanh chóng giảm độ lệch về mặt phẳng của bãi đặt bệ phóng tên lửa xuống tới 3 độ. Độ lệch này phù hợp với yêu cầu. Sau này, thước đo “độ bằng phẳng” loại này được phổ biến áp dụng rộng rãi. Đôi khi có điều kiện, phương pháp này được thay bằng vài xô nước đổ trực tiếp ra bãi đất, kết quả có thể tốt hơn.

Do là đất đồi, và quan trọng nhất là để giảm thời gian thu hồi khí tài sau mỗi trận đánh, chúng tôi đã nghĩ ra một mẹo nhỏ: Đối với các cây cọc cố định bệ phóng và cố định cầu đi vào bệ phóng, chúng tôi chỉ đóng xuống đất một phần hai chiều cao của cọc. Nhờ đó, khi thu hồi khí tài, chúng tôi chỉ việc dùng xà beng nhanh chóng đào và nhổ chúng lên, rút ngắn 2 - 3 phút so với việc chôn sâu theo quy định.

Chúng tôi còn có “những bí mật khác của người lính” như làm thế nào nhanh chóng triển khai khí tài từ trạng thái hành quân sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu và ngược lại, hay “kỹ xảo” làm giảm bớt thời gian thực hiện các thao tác khác, nhưng tôi sẽ không tiết lộ với các bạn đâu.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Moderator
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #49 vào lúc: 27 Tháng Hai, 2023, 09:49:12 pm »

Những công việc chuẩn bị cuối cùng

Vậy là khí tài đã được triển khai. Việc còn lại là nối các dây cáp điều khiển và dây cáp cung cấp điện. Để bảo vệ các dây cáp khỏi bị cháy do luồng nhiệt độ cao phát ra từ tên lửa khi phóng lên, chúng tôi phải đào một rãnh không cần sâu, dài chừng 10 mét để đặt cáp. Công việc này cũng làm mất thêm nhiều công sức. Tôi nhìn thấy đồng đội Lai, ngồi xổm, dùng xà beng đào đất. Đồng chí Lai mệt mỏi, nhát đào thưa dần, rời rạc và cuối cùng cậu ngất xỉu ngay trên hố đang đào nhưng trong tay vẫn cầm xà beng. Đồng chí Thanh đưa Lai vào lán để nghỉ ngơi. Cuối cùng, chúng tôi đã đào xong hào và đặt cáp, đấu nối các đầu cáp với nhau. Bệ phóng đã được “hồi sinh”.

Chúng tôi san phẳng mặt rãnh cáp, định hướng, đặt các góc nạp đạn, tiến hành kiểm tra từng phần và kiểm tra chức năng của hệ thống điều khiển phóng - tất cả đã sẵn sàng. Chúng tôi cho xe chở đạn (TZM) vào vị trí nạp và nạp đạn vào bệ phóng. Đồng hồ lúc đó đã chỉ 5 giờ 30 phút sáng. Chúng tôi cầm điện thoại báo cáo với chỉ huy:

- Khẩu đội 5 đã sẵn sàng chiến đấu. Bệ phóng đã được nạp đặn. Tầng 1 và tầng 2 của đạn đã được kết nối.

- Được. Hãy kiểm tra Khẩu đội 6. Nếu cần thiết, hãy giúp đỡ họ.

Tôi men theo sườn đồi có nhiều cây đu đủ mới trồng hướng đến Khẩu đội 6. Các bạn đang nạp đạn vào bệ phóng. Tôi hỏi Khẩu đội 6:

- Thế nào rồi các bạn?

- Khó quá - Akhunov trả lời - Nạp lần thứ hai rồi. Lần thứ nhất không thể quay càng xe TZM. Tên lửa bị ống thu khí nén đẩy vào tường thẳng đứng. Chúng tôi đã phải đào sâu thêm tám centimét.

- Ừ, ở Khẩu đội 5 mọi việc đã sẵn sàng, tên lửa đã vào vị trí.

Sau khi đã chắc chắn rằng mọi việc ở Khẩu đội 6 đã hoàn thành, tôi trở về Khẩu đội 5. Cả cơ thể mệt mỏi, lưng đau, các ngón tay thì không thể duỗi thẳng được. Tại thời điểm này, tiếng còi báo động vang lên:

- Báo động!

Tôi nhìn đồng hồ. Đúng 6 giờ sáng.

Báo động phòng không

Chúng tôi nhanh chóng đưa tên lửa vào tư thế phóng và hạ tên lửa xuống tầm ngang chân núi. Tôi báo cáo chỉ huy Tiểu đoàn:

- Trung đội 3 đang ở trong hào.

Mặc dù thực tế không có cái hào nào cả.

- Được! Một tốp mục tiêu đang bay từ biển vào hướng bắc, cự ly 240.

Tôi ước tính sau 10 - 15 phút, các mục tiêu sẽ bay vào khu vực kiểm soát của chúng tôi. Chúng tôi cần phải đào những hào trú ẩn, mặc dù đó chỉ là hào nông. Đất ở đây ít đá hơn trên núi, nhưng không có cuốc chim và xà beng thì cũng vất vả.

Sau nửa giờ có lệnh “Hết báo động” - mục tiêu không bay vào vùng phóng đạn. Quay về phía đông và hướng chúng tôi sang bên trái. Hai mươi phút sau, còi báo động lại hú lên, nhưng lần này các máy bay cũng không bay vào vùng phóng đạn. Báo động phòng không như thể này kéo dài cả ngày. Mười tám lần báo động, chúng tôi đều sẵn sàng ở vị trí chiến đấu của mình và đang nín thở chờ lệnh “Phóng”. Mười tám lần dây thần kinh của chúng tôi căng thẳng đến tột cùng, nhưng cuối cùng lần nào cũng thay vì lệnh “Phóng” bằng lệnh “Hết báo động”: 1 - 2 phút trước khi vào khu vực bắn, máy bay địch đột ngột đổi hướng, bay vòng qua chúng tôi, lúc thì bên phải, lúc thì bên trái, hoặc thậm chí còn quay trở lại.

Phân tích tình hình, chúng tôi cho rằng, các phi công Mỹ trong đêm sau khi ném bom thị xã Phủ Lý, bay trên đầu chúng tôi quay về căn cứ, họ có thể đã phát hiện trận địa chúng tôi và thăm dò vùng bắn của chúng tôi, họ cho rằng các dây thần kinh của chúng tôi đã mệt mỏi và chúng tôi sẽ phóng đạn trước thời gian quy định. Các máy bay bay thành từng tốp 2, 4, 6 hoặc thậm chí 8 chiếc trong khoảng thời gian 15-30 phút. Trong ngày hôm đó, chúng tôi ba lần ngồi vào ăn trưa. Trong bữa ăn trưa đơn giản, chúng tôi phải ba lần bỏ bát đũa vì có còi báo động, và chúng tôi đã ném tất cả mọi thứ lại để chạy đến bệ phóng và cabin. Ăn trưa xong, chúng tôi lại sẵn sàng bên bệ phóng và cabin.

Gần tối, máy bay Mỹ bắt đầu ít xuất hiện thường xuyên, hơn nữa còn bay cách trận địa chúng tôi hơn 70 cây số. Chúng tôi có bữa ăn tối thảnh thơi và yên bình hơn.

Chúng tôi bắt đầu chuẩn bị ngủ đêm. Các bạn Việt Nam dựng lều của mình gần các chiến hào đã được đào ban ngày. Nhằm sơ tán lực lượng - chúng tôi chuyển lên cao hơn một chút, ở phía đối diện sườn đồi. Khi hoàn thành việc sắp xếp đã 8 giờ tối... Trời đã tối hẳn.

Ngày hôm trước, dự báo thời tiết cho biết đêm có mưa và gió mạnh. Chúng tôi cẩn thận cài tất cả các móc khuy cài bạt che các bệ phóng đã nạp tên lửa. Các sào để cuộn bạt được đặt trong túi riêng. Do mệt mỏi, nên đôi mắt chúng tôi cứ nhắm lại. Trong suốt mấy đêm liền, chúng tôi chỉ chợp mắt được nửa giờ ngay bên bệ phóng hay trong lều. Ăn tối xong, chúng tôi phân công người trực, còn những người khác tranh thủ đi ngủ.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM