Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 12:33:58 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 3632 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #60 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:10:21 am »

Từ giữa tháng 9 năm 1951, Liên Khu ủy Việt Bắc đã chỉ thị cho Tỉnh ủy Phú Thọ phải tích cực chuẩn bị mọi mặt để phá kế hoạch củng cố vùng trung du của địch. Theo đó, ngay cuối tháng 9, Tỉnh ủy triệu tập Hội nghị gồm đại diện của Tỉnh đội, Tiểu đoàn 72 Đại đoàn 308 và các huyện Thanh Thủy, Tam Nông, Lâm Thao và Hạc Trì để bàn và phổ biến kế hoạch chống địch càn quét, chiếm đóng. Vì vậy, khi địch mở các cuộc càn quét vào địa bàn các huyện trên, chúng đã vấp phải sự chiến đấu kiên cường của quân và dân địa phương. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương phối hợp với dân quân du kích các xã anh dũng chiến đấu, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm chúng phải co cụm vào các vị trí để cố thủ.


Phối hợp với Mặt trận Hòa Bình, cuối tháng 11 năm 1951, cơ quan quân sự tỉnh Phú Thọ đã lãnh đạo và chỉ huy các lực lượng vũ trang địa phương liên tiếp bao vây, tiến công địch, kìm hãm chân chúng trong các vị trí chiếm đóng. Dân quân, du kích và bộ đội địa phương các huyện chặn đánh địch ở nhiều nơi. Du kích các xã phục kích địch đi tuần trên sông Đà, bắn vào các vị trí trong cứ điểm Tu Vũ. Bộ đội địa phương trong tỉnh và Đại đội du kích Thục Luyện (Thanh Sơn) phối hợp với Đại đoàn 312 tiêu diệt hàng trăm tên địch với 4 đại đội Âu - Phi bị thiệt hại nặng; Tiểu đoàn Thái số 3 bị tiêu diệt... Những hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương đã góp phần tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, tạo điều kiện cho bộ đội chủ lực tập trung vào mặt trận chính Hòa Bình, Sông Đà, Đường số 6.


Tháng 12 năm 1951, tỉnh Phú Thọ được Trung ương và Liên khu Việt Bắc giao nhiệm vụ chuẩn bị nhân lực, vật lực phục vụ Chiến dịch Hòa Bình. Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh và các địa phương xác định đây là nhiệm vụ trung tâm, đột xuất nên đã tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời. Tỉnh đã thành lập Ban Chuẩn bị chiến trường, điều động 4 đồng chí Tỉnh ủy viên cùng 30 cán bộ giúp việc, tổ chức phổ biến Thư kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời động viên nhân dân dồn sức hoàn thành mọi mặt công tác, đảm bảo yêu cầu chiến dịch.


Bên cạnh sự chỉ đạo các lực lượng vũ trang địa phương phối hợp chiến đấu, Tỉnh ủy và chính quyền tỉnh Phú Thọ đã vận động cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tình phục vụ tích cực cho chiến dịch. Chưa có chiến dịch nào lại gấp rút và động viên lực lượng lớn như Chiến dịch Hòa Bình.


Để làm tốt nhiệm vụ vận chuyển lương thực và vũ khí phục vụ chiến dịch, tỉnh Phú Thọ phối hợp với bộ đội Công binh mở mới và sửa chữa nhanh chóng những tuyến đường vận tải quân sự Phú Thọ - Đồn Vàng - Hòa Bình; mở thêm nhiều tuyến đường dài hàng trăm kilômét; sửa chữa 60km đường ôtô, làm bến vượt, những sân tránh xe; làm hàng chục cầu phao ở Cẩm Khê, Yên Lập, Ngọc Lập, Thục Luyện, Đồng Cốc, Hương Cần, Đèo Huống, Bản Thôn... Quân và dân Phú Thọ đã nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ, hy sinh, đóng góp 3.000 tấn gạo, 800 con lợn, 150 con trâu, bò thịt và 2.000 chiếc thuyền, 45.000 dân công phục vụ thường xuyên cho cả chiến dịch. Riêng trận công phá Tu Vũ, trong các đêm từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 12 năm 1951, mặc cho pháo sáng và đạn địch từ trên máy bay bắn phá, đèn pha của canô địch tuần tiễu phát hiện và uy hiếp, nhân dân các làng ven sông đã dùng hàng trăm thuyền nhỏ nhanh chóng đưa bộ đội qua sông an toàn, luồn sâu vào vùng sau lưng địch ở Ba Trại. Cũng trong trận chiến đấu này, huyện Thanh Thủy đã huy động hơn 500 dân công làm nhiệm vụ tiếp đạn, cứu thương, vận chuyển lương thực, thuốc men cho bộ đội.


Sau Chiến thắng Tu Vũ, với quyết tâm triệt hẳn tuyến vận tải đường sông của địch, không cho địch có cơ hội củng cố lực lượng, ngày 14 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 387 thuộc Đại đoàn 308 phối hợp với bộ đội và dân quân du kích địa phương phục kích bắn chìm 2 sà lan của địch, làm cho địch hoang mang lo sợ, phải cầu viện từ Sơn Tây sang chiếm đóng vị trí Phương Viên. Trung đoàn 36 Đại đoàn 308 và bộ đội địa phương cũng bố trí trận địa phục kích ở Lạc Song, chặn đánh tàu địch từ bến Ngọc xuôi về Trung Hà. Khoảng 11 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1951, 1 đoàn tàu chiến và 6 canô của địch lọt vào trận địa phục kích của ta. Trận đánh diễn ra nhanh gọn, ta bắn chìm 1 tàu chiến và bắn cháy 4 canô, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, bắt 80 tên, làm tê liệt hoàn toàn đường tiếp tế của địch trên sông Đà. Đây là trận đánh thể hiện sự mưu trí, dũng cảm của quân và dân ta. Sau những thắng lợi trên, cơ sở đảng, chính quyền nhân dân tại khu vực này được củng cố, chiến tranh du kích được đẩy mạnh và phát triển, quân và dân Phú Thọ phấn khởi tích cực phối hợp tác chiến và phục vụ cho Chiến dịch Hòa Bình đến khi toàn thắng.


Những đóng góp tích cực của Đảng bộ, quân và dân Phú Thọ trong Chiến dịch Hòa Bình đã được Trung ương Đảng và Chính phủ tuyên dương với 37 huân chương cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Riêng Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 - Đại đoàn Quân Tiên phong, đơn vị chủ công đánh đồn Tu Vũ và giành thắng lợi hoàn toàn, được Hội đồng Chính phủ tặng danh hiệu "Trung đoàn Tu Vũ". Địa điểm Chiến thắng Tu Vũ được công nhận Di tích lịch sử kháng chiến và Tượng đài chiến thắng Tu Vũ được công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia.


Ngay từ khi mới được thành lập và trong suốt những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỳ, cũng như trong chiến đấu bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, lực lượng vũ trang tỉnh Phú Thọ đã đoàn kết một lòng, đồng cam cộng khổ, chiến đấu dũng cảm kiên cường, lập nhiều chiến công hiển hách, ghi đậm dấu ấn hào hùng của dân tộc. Từ những chiến công mở đầu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược như Chiến thắng Sông Lô, Chiến thắng Tu Vũ, Chiến thắng Cầu Hai - Chân Mộng cho đến Chiến thắng Điện Biên Phủ và Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đều có đóng góp to lớn của quân và dân Phú Thọ.


Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Phú Thọ là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng trong thế trận phòng thủ đất nước. Thời gian qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức song Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, đổi mới sáng tạo, quyết tâm phấn đấu và đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực. Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang tỉnh luôn phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện, thị xã, thành phố ngày càng vững chắc. Chất lượng tổng hợp, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, góp phần quan trọng cùng nhân dân các dân tộc trong tỉnh giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; phấn đấu đưa tỉnh Phú Thọ là tỉnh phát triển hàng đầu của vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #61 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:11:33 am »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG LIÊN KHU 3
"CHIA LỬA" VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Trung tướng NGUYỄN QUANG NGỌC
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Tư lệnh Quân khu 3


Sau khi thực dân Pháp thực hiện cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến sông Đà, tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích vùng trung du và châu thổ sông Hồng. Là hướng phối hợp quan trọng, quân và dân Liên khu 3 đã tích cực "chia lửa" với mặt trận chính, trực tiếp góp phần làm nên những thành công vang dội trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tổng kết: "Đây là chiến dịch kép. Một chiến dịch gồm hai mặt trận. Mặt trận chính là Hòa Bình, mặt trận phối hợp là vùng địch hậu trang du và đồng bằng Bắc Bộ. Trong suốt quá trình chiến dịch, hai mặt trận này đã gắn bó với nhau một cách hữu cơ, cùng tạo điều kiện cho nhau để giành thắng lợi. Có thể nói nếu không có thắng lợi ở nơi này thì cũng không có thắng lợi ở nơi kia"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phú, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 293 - 294).


Thực hiện chủ trương Hội nghị lần thứ hai của Ban Chap hành Trung ương Đảng (27.9 - 5.10.1951), từ ngày 9 đến ngày 10 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, quyết định phân tán chủ lực trên nhiều chiến trường với quy mô trên dưới một đại đoàn, phối hợp mật thiết với lực lượng vũ trang của Liên khu 3, Liên khu 1 luân phiên tác chiến, buộc các binh đoàn cơ động của thực dân Pháp phải phân tán đối phó, từ đó tiêu diệt sinh lực địch, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển. Tổng Quân ủy cũng chủ trương sử dụng một số đại đoàn hoạt động phân tán ở trung du và hữu ngạn Liên khu 3 để thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích sau lưng địch và mở chiến dịch Liên khu 3 tiến công địch ở đồng bằng. Tuy nhiên, khi ta đang chuẩn bị mở chiến dịch, quân Pháp đã xây dựng kế hoạch phản công, chuẩn bị đưa toàn bộ lực lượng cơ động chiến lược mở cuộc hành quân đánh chiếm tỉnh Hòa Bình - tỉnh tự do duy nhất của Liên khu 3, mở đầu cho cuộc phản công nhằm cắt đứt đường giao thông huyết mạch của lực lượng kháng chiến từ Bắc vào Nam, khiến "chủ lực đối phương phải tham chiến", từ đó giành "thắng lợi quân sự, chính trị vang dội", dựng lại "Xứ Mường tự trị" ở Hòa Bình.


Để phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, theo sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Liên khu 3 đã thành lập Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng gồm các đồng chí ủy viên Thường vụ Liên khu ủy và đồng chí Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320. Ngày 27 tháng 11 năm 1951, Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng họp xác định kế hoạch Đông - Xuân 1951 - 1952: Đẩy mạnh tác chiến, phối hợp với mặt trận chính tiêu diệt địch và nhân cơ hội địch đưa quân cơ động ra ngoại tuyến, tập trung đánh mạnh ở sau lưng, phá vỡ hệ thống chiếm đóng của chúng, tranh thủ nhân dân, phục hồi cơ sở, mở rộng và củng cố các khu du kích, căn cứ du kích, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, đẩy mạnh công tác địch vận, giành lại kho nhân tài, vật lực của Liên khu1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 301).


Đợt hoạt động của Liên khu được chia thành 2 bước: Bước thứ nhất, tập trung toàn bộ lực lượng của Đại đoàn 320 cùng lực lượng vũ trang tại chỗ đánh mạnh ở Hà Nam, Ninh Bình tiêu diệt địch, phá ngụy quân, ngụy quyền, tạo địa bàn đứng chân để tiếp tục đưa chủ lực vào sâu hơn. Bước thứ hai, Đại đoàn 320 (thiếu 1 trung đoàn) vượt sông Hồng sang Thái Bình cùng Trung đoàn 42 và bộ đội địa phương, dân quân du kích đẩy mạnh tác chiến, khôi phục và mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, uy hiếp Đường số 5. Đồng thời, tập trung 2 trung đoàn chủ lực (1 trung đoàn của Đại đoàn 320 và Trung đoàn 46 của Liên khu 3) cùng lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh tác chiến ở Hà Nam, Nam Định, tạo thế căng kéo, phối hợp với chiến trường chính và tiếp tục mở rộng các vùng giải phóng. Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng cũng quyết định thành lập các hội đồng cung cấp từ Liên khu tới các tỉnh, thành phố, các huyện để chi viện cho chiến trường.


Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1951, các đơn vị, địa phương trên địa bàn Liên khu 3 tổ chức chuyển quân và triển khai các mặt bảo đảm chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Ở các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương và Kiến An các đơn vị bộ đội địa phương đều đưa lực lượng vào vùng địch tạm chiếm đánh địch. Các cơ quan cấp tỉnh, huyện tổ chức một bộ phận gọn, nhẹ bám sát vùng xung yếu chỉ đạo phong trào. Ban Chuẩn bị chiến trường của các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, Hòa Bình chuẩn bị huy động lực lượng, vật chất bảo đảm cho bộ đội chủ lực tác chiến trên mặt trận chính diện Hòa Bình, đồng thời sẵn sàng đánh địch tại địa phương, phát triển chiến tranh du kích.


Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình mở màn. "Chia lửa" với mặt trận chính, Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng quyết định đưa lực lượng bí mật tiến sâu vào trong vùng địch hậu, thực hiện đánh từ trong đánh ra với mục tiêu tiến công đầu tiên là Phát Diệm (Ninh Bình). Theo đó, Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 tập trung tác chiến ở hướng Phát Diệm. Trung đoàn 64 tổ chức tác chiến ở vùng sau lưng địch Hà Nam. Bộ đội địa phương, dân quân du kích toàn Mặt trận đẩy mạnh đánh nhỏ, phối hợp với chủ lực và hỗ trợ cho đồng bào nổi dậy phá tề, giành lại quyền làm chủ thôn, xã. Được sự che chở, đùm bọc của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 và bộ đội địa phương tỉnh Ninh Bình bí mật vượt qua nhiều đồn giặc, vành đai trắng và nhiều sông ngòi bằng các phương tiện chuyên chở do nhân dân giúp đỡ để chiếm lĩnh vị trí tiến công. Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 có sự phối hợp của các lực lượng tại chỗ đã san phẳng 10 vị trí, diệt và bắt 875 tên địch, thu 186 súng và phá huỷ nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh khác, giải phóng thị trấn Phát Diệm. Đồng thời, Trung đoàn 52 và bộ đội địa phương huyện Yên Khánh tiêu diệt và bắt toàn bộ lực lượng chi viện tiến qua Yên Ninh về Phát Diệm. Đến cuối tháng 12 năm 1951, các đơn vị chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân du kích đã phối hợp chặt chẽ, liên tục tiêu diệt, tiêu hao, bao vây, quấy rối địch, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân nổi dậy phá tề. Sau hơn nửa tháng hoạt động, Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 cùng quân và dân tỉnh Ninh Bình đã giành được những thắng lợi quan trọng, tiêu diệt 2/3 quân chiếm đóng, phá 128/138 ban tề, giải phóng phần lớn huyện Yên Mô, một phần huyện Kim Sơn, xây dựng nhiều cơ sở trong đồng bào công giáo ở Phát Diệm, mở một số khu du kích mới ở Kim Sơn, nối liền với khu du kích Yên Khánh. Thắng lợi đã làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, quân ngụy ở phía Nam tỉnh Ninh Bình, trực tiếp mở đường cho lực lượng ta vượt sông Đáy, tiến sâu hơn vào trong vùng địch hậu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #62 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:12:06 am »

Để kịp thời phối hợp với mặt trận Hoà Bình, chiều ngày 8 tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 64 từ vùng tự do hành quân vào vùng địch hậu Hà Nam. Đêm mùng 10, rạng ngày 11 tháng 12, Tiểu đoàn Hưng Công đã san phẳng vị trí Ngô Khê (ven sông Đào), mở đường liên lạc giữa các huyện Lý Nhân, Bình Lục, Duy Tiên, đồng thời tiêu diệt một đại đội biệt kích đi ứng cứu ở Tái Kênh, làm chấn động tinh thần binh lính ngụy ở Hà Nam. Tiếp đó, từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 12 năm 1951, dân quân du kích trong tỉnh tổ chức vây ép các đồn bốt giặc và hỗ trợ nhân dân nổi dậy phá tề, diệt dõng, giành lại quyền làm chủ thôn, xã. Đến giữa tháng 12 năm 1951, chủ lực ta đã có mặt trên toàn tỉnh Hà Nam và phía Bắc tỉnh Nam Định. Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, đân quân du kích liên tục chiến đấu tiêu diệt, tiêu hao quân địch. Bộ đội chủ lực tập trung tiêu diệt các vị trí quan trọng của địch. Lực lượng tại chỗ của ta kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, binh vận đã xóa bỏ hàng chục vị trí tề dõng, chuyển các thôn, xã tạm bị chiếm thành các làng xã chiến đấu. Chiến tranh du kích và phong trào đấu tranh của nhân dân phát triển mạnh mẽ đã xóa bỏ hệ thống ngụy quyền cơ sở mà quân địch đã phải mất nhiều công sức gây dựng. Chỉ trong gần một tháng hoạt động ở Hà Nam, ta đã san phẳng 14 cứ điểm, bức rút, bức hàng 24 cứ điểm khác, diệt 45/50 vị trí tề vũ trang, hương tổng dũng, phá 312/380 ban tề, thu gần 1.000 súng, tăng cường trang bị cho các đơn vị bộ đội địa phương và du kích các xã. Cùng với thắng lợi quân sự, công tác tranh thủ nhân dân cũng đạt được kết quả lớn, các cơ sở chính trị được mở rộng, nhiều khu du kích mới được hình thành ở các huyện.


Tại Hà Đông, chấp hành nhiệm vụ hoạt động Đông - Xuân 1951 - 1952 của Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 3, bộ đội địa phương và dân quân du kích đẩy mạnh hoạt động quân sự, đồng thời kết hợp với tiến công chính trị, binh vận. Nửa cuối tháng 12 năm 1951, nhân dân Hà Đông đã vùng dậy tổng phá tề, phục hồi cơ sở ở 171 thôn, mở 5 khu du kích ở các huyện ứng Hòa, Phú Xuyên, Thường Tín và Liên Nam. Ở Sơn Tây, Hòa Bình, ngoài trực tiếp phối hợp đánh địch tại mặt trận chính, quân và dân 2 tỉnh còn đẩy mạnh hoạt động quấy rối, tiêu hao, bao vây đồn bốt, đánh phá giao thông vận chuyển của địch và tham gia công tác phục vụ chiến dịch. Chỉ riêng tỉnh Hòa Bình, tháng 12 năm 1951, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh đã huy động nhân dân tham gia 200.000 ngày công làm nhiệm vụ vận tải, chuyển thương, mở đường, bảo đảm cho chủ lực ta chiến đấu thắng lợi.


Cuối tháng 12 năm 1951, sau khi mở rộng vùng giải phóng, tạo bàn đạp đứng chân ở Ninh Bình, Trung đoàn 52, Trung đoàn 48 tiên sâu vào vùng địch hậu ở phía Nam tỉnh Nam Định cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, đồng thời mở đường để chuẩn bị đưa chủ lực vượt sông Hồng đánh sang tả ngạn.


Trung và hạ tuần tháng 12 năm 1951, ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực địch ở cả mặt trận chính Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch. Ở hữu ngạn sông Hồng, chiến tranh du kích đã diễn ra sôi nổi và có chuyển biến mạnh. Ở tả ngạn sông Hồng, cơ sở quần chúng và phong trào chiến tranh du kích bước đầu phục hồi, tạo tiền đề căn bản cho ta giữ vững quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ trong Đông - Xuân 1951 - 1952. Trước tình hình đó, để chống đỡ với miền đồng bằng đang rung chuyển và chống lại áp lực của chủ lực ta tại mặt trận chính, ngày 8 tháng 1 năm 1952, quân Pháp rút lực lượng khỏi phân khu Sông Đà về tăng cường phòng thủ khu vực thị xã Hòa Bình - Đường số 6, đồng thời đưa một phần lực lượng cơ động về đồng bằng.


Thực hiện chủ trương của Tổng Quân ủy về việc đưa chủ lực sang tả ngạn, đẩy mạnh củng cố cơ sở, chống càn quét, phát triển chiến tranh du kích, phối hợp với mặt trận Hòa Bình - Đường số 6, Thường vụ Liên khu ủy và Ban Chỉ đạo Mặt trận đồng bằng quyết định đưa toàn bộ Đại đoàn 320, các trung đoàn 42, 46 vào vùng địch hậu phối hợp cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích các tỉnh đồng bằng hoạt động lâu dài, tiêu diệt sinh lực địch, phá ngụy quân, ngụy quyền, bảo vệ nhân dân, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích sau lưng địch. Theo đó, Trung đoàn 64 hoạt động mạnh ở Hà Nam, Bắc Nam Định để nghi binh đánh lạc hướng địch, tạo điều kiện thuận lợi cho Đại đoàn bộ và các trung đoàn 48, 52 đánh qua khu vực phía Nam tỉnh Nam Định, vượt sông Hồng sang chiến đấu ở Thái Bình. Trung tuần tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 64 tiêu diệt một số vị trí ven sông Hồng, uy hiếp phía Bắc thị xã Nam Định, ở phía Nam tỉnh Nam Định, ta cũng liên tiếp giành thắng lợi. Nhân cơ hội đó, được sự hỗ trợ của Trung đoàn 46, lực lượng quân sự và chính trị các huyện Nghĩa Hưng, Giao Thủy và Hải Hậu tiến công phá vỡ toàn bộ hệ thống tề dõng của địch ở Hạ Nghĩa Hưng và giải phóng phần lớn các huyện Giao Thủy, Hải Hậu.


Bằng đòn tiến công quân sự của lực lượng vũ trang ba thứ quân, kết hợp với đòn tiến công chính trị, binh vận với nhiều hình thức phong phú của nhân dân, chỉ sau một thời gian ngắn, ta đã bức rút, bức hàng 40 vị trí, diệt và phá bỏ 87/103 ban tề vũ trang, mở được các khu du kích, căn cứ du kích rộng lớn ở phía Nam tỉnh Nam Định, ở khu vực phía Bắc Nam Định, ta cũng mở lại các khu du kích ở nhiều huyện và nối liền với các khu du kích, căn cứ du kích ở Hà Nam, đưa phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn tỉnh chuyển sang một bước phát triển nhảy vọt mới.


Ở Tả Ngạn, Bộ Chỉ huy Mặt trận Tả Ngạn và tỉnh ủy các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An và thành phố Hải Phòng tổ chức cho bộ đội địa phương, dân quân du kích cùng Trung đoàn 42 đẩy mạnh tác chiến phối hợp với chiến trường chính diệt địch, mở rộng địa bàn. Tháng 12 năm 1951 và nửa đầu tháng 1 năm 1952, trọng điểm hoạt động của Mặt trận Tả Ngạn là địa bàn tỉnh Thái Bình. Bộ đội địa phương, dân quân du kích đã hỗ trợ quần chúng nổi dậy liên tiếp phá tề, diệt dõng ở nhiều huyện, mở lại các khu du kích. Cuối tháng 1 năm 1952, các đơn vị của Đại đoàn 320 lần lượt vượt sông Hồng sang Thái Bình hoạt động. Theo quyết định của Thường vụ Liên khu ủy 3, Đảng ủy Mặt trận vùng sau lưng địch Tả Ngạn được thành lập. Các đồng chí Đỗ Mười, Nguyễn Khai, Dương Hữu Miên, Văn Tiến Dũng tham gia Đảng ủy Mặt trận và trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến đấu. Đảng ủy Mặt trận chủ trương đưa toàn bộ lực lượng đánh mạnh nhằm tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích, vận động nhân dân phá ngụy quân, ngụy quyền.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #63 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:12:55 am »

Từ ngày 18 tháng 1 năm 1952, các đơn vị thuộc Đại đoàn 320 đã vượt qua sự phong tỏa của địch, tiến sang đất Thái Bình. Qua những đợt hoạt động đầu tiên, bộ đội chủ lực và địa phương đã làm rung chuyển hệ thống chiếm đóng của quân Pháp, quân ngụy ở phía Nam thị xã Thái Bình. Thực hiện chủ trương của Đảng ủy Mặt trận vùng sau lưng địch Tả Ngạn, ngày 3 tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 tiến công hệ thống chiếm đóng của địch ở Kiến Xương và Tiền Hải. Cùng thời gian đó, bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình và dân quân du kích các huyện Kiến Xương, Tiền Hải bao vây bức hàng 9 vị trí do bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đóng giữ, giải phóng huyện Tiền Hải. Phát huy thắng lợi, lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục phát triển lên Vũ Tiên - Kiến Xương phối hợp với dân quân du kích và đồng bào trong vùng bao vây bức hàng 12 vị trí, giải phóng gần hết huyện Kiến Xương và khu vực phía Nam huyện Vũ Tiên. Các tiểu đoàn Thanh Lũng, Kiên Trung, Tiểu đoàn pháo thuộc Đại đoàn 320 vượt sông Trà Lý phối hợp với các lực lượng tại chỗ giải phóng huyện Thái Ninh và Thụy Anh. Huyện ủy và Ban Chỉ huy Huyện đội các huyện Tiên Hưng, Thư Trì và Duyên Hà sử dụng lực lượng vũ trang tại chỗ và huy động nhân dân bao vây bức rút nhiều vị trí, mở lại các khu du kích. Tháng 2 năm 1952, ta tiếp tục bao vây, bức hàng nhiều vị trí, phục hồi khu du kích, căn cứ du kích Tiên - Duyên - Hưng, mở rộng vùng giải phóng ờ 4 huyện phía Bắc tỉnh Thái Bình. Cuộc đấu tranh của quân và dân Thái Bình đã có bước phát triển nhảy vọt, Qua hơn 1 tháng hoạt động, ta đã xoá bỏ toàn bộ kết quả bình định của địch trong 6 tháng cuối năm 1950 và đầu năm 1951; tiêu diệt, bức hàng, bức rút 75 vị trí; giải phóng hoàn toàn các huyện Tiền Hải, Kiến Xương, 3/4 diện tích huyện Thụy Anh, 1/3 diện tích huyện Đông Quan; phục hồi khu du kích liên huyện Vũ Tiên, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi và Phụ Dực. Hệ thống tề dõng, chính quyền cơ sở của địch ở Thái Bình cơ bản bị tan rã.


Ở Hải Dương và Hưng Yên, thực hiện nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Mặt trận vùng sau lưng địch Tả Ngạn, cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 1952, các trung đoàn 42, 174 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu diệt nhiều vị trí địch, tổ chức đánh phá giao thông, mở rộng khu du kích, căn cứ du kích. Mỗi tỉnh giải phóng được hàng trăm thôn, xã và mở lại các khu du kích, căn cứ du kích ở tất cả các huyện. Khu du kích, căn cứ du kích Bắc sông Luộc đã được mở rộng (gồm 7 huyện) thành căn cứ liên tỉnh, nối liền với các khu du kích, căn cứ du kích ở phía Bắc tỉnh Thái Bình.


Tại Kiến An, chấp hành nhiệm vụ của Liên khu ủy và Ban Chỉ đạo Mặt trận vùng sau lưng địch Tả Ngạn, Tỉnh ủy và Ban Chỉ huy Tỉnh đội chủ trương sử dụng lực lượng đẩy mạnh hoạt động phối hợp chiến trường và tranh thủ quân cơ động địch đang bị thu hút, giam chân ở mặt trận chính, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự và vận động chính trị, khôi phục, phát triển cơ sở trong vùng địch tạm chiếm, trọng điểm là phục hồi khu du kích Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Sau hơn 1 tháng kiên trì bám đất, bám dân, ta đã phục hồi được cơ sở chính trị ở Tiên Lãng, Vĩnh Bảo. Đồng thời với tiến công quân sự, ta phát động nhân dân đấu tranh chính trị, kinh tế, chống bắt phu, nộp thuế. Cuối tháng 1, đàu tháng 2 năm 1952, đảng bộ địa phương phát động nhân dân đứng lên phối hợp cùng lực lượng vũ trang bao vây, bức hàng, bức rút toàn bộ 46 đồn hương dõng trong vùng, giải phóng 22 xã. Khu du kích, căn cứ du kích Tiên Lãng - Vĩnh Bảo trở thành căn cứ chính và là bàn đạp tiến công quan trọng của ta tại Kiến An - Hải Phòng. Đầu tháng 2 năm 1952, để đối phó với phong trào chiến tranh du kích Kiến An đang phục hồi, Bộ Chỉ huy quân Pháp điều động 1 binh đoàn cơ động chiến lược dùng 38 xe bọc thép có không quân, pháo binh chi viện mở cuộc hành quân càn quét vào khu du kích Tiên Lãng nhưng không thu được kết quả nên chuyển hướng sang huyện Vĩnh Bảo. Những trận đánh nhỏ, diệt nhỏ của bộ đội địa phương hoạt động phân tán và dân quân du kích diễn ra khắp nơi làm cho quân cơ động của địch hết sức căng thẳng và tổn thất không nhỏ nên phải kết thúc cuộc càn quét. Việc ta khôi phục và giữ vũng được khu du kích, căn cứ du kích Tiên Lãng - Vĩnh Bảo càng củng cố thêm niềm tin và sức mạnh thế trận tại chỗ của ta ở các mặt trận nằm sâu trong vùng địch hậu.


Kết hợp tiến công quân sự với tiến công chính trị, binh vận, quân và dân Liên khu 3 còn đánh mạnh vào tinh thần binh lính địch, làm hàng nghìn lính ngụy bỏ ngũ trở về nhà, nhiều người đem theo cả vũ khí về giao nộp cho chính quyền cách mạng. Trước Đông - Xuân 1951 - 1952, hầu như toàn bộ vùng châu thổ sông Hồng nằm dưới sự kiểm soát của địch, đến đầu năm 1952, ta đã giải phóng hơn 2 triệu đồng bào, với diện tích 4.800km2 (bằng 2/3 diện tích vùng châu thổ); khu du kích được mở ở hầu hết các huyện đồng bằng, nhiều khu du kích, căn cứ du kích liên huyện, liên tỉnh rộng lớn xuất hiện1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Sđd, tr. 334). Cơ sở chính trị và vũ trang của ta cũng đã phát triển khá mạnh ở các vùng có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa. Âm mưu chia rẽ lương - giáo, phá khối đoàn kết dân tộc, thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt" bị đánh bại một bước quan trọng.


Bị thất bại trên cả mặt trận chính và đặc biệt là trên mặt trận sau lưng địch, ngày 23 tháng 2 năm 1952, quân Pháp bỏ Hòa Bình rút chạy. Tỉnh Hòa Bình được giải phóng. "Chia lửa" với mặt trận chính, quân và dân Liên khu 3 đã tiêu diệt, bắt hơn 10.000 quân địch, tiêu diệt 160 cứ điểm, diệt khoảng 1.000 vị trí do tề vũ trang, tổng dõng, vệ sĩ đóng giữ, thu và phá hủy nhiều vũ khí, đạn dược và các phương tiện chiến tranh1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 3, Quân khu 3 - Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, Sđd, tr. 333). Thắng lợi to lớn của ta ở mặt trận sau lưng địch làm thay đổi tình thế ở đồng bằng Bắc Bộ, có ý nghĩa quan trọng đối với thắng lợi của toàn bộ Chiến dịch Hòa Bình. Đó là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, là kết quả của tư duy sắc sảo, nhạy bén của Bộ Chỉ huy tối cao và Bộ Tư lệnh Chiến dịch trong phân tích tình hình, đánh giá về lương quan lực lượng, trong định ra phương thức và phương châm hoạt động cho toàn chiến dịch cũng như cho từng mặt trận. Đồng thời là thắng lợi của chủ trương "lấy dân làm gốc", kiên trì tổ chức toàn dân đánh giặc bằng sức mạnh của lực lượng tổng hợp kiên quyết mở cuộc đấu tranh toàn diện ở mặt trận sau lưng địch đẩy mạnh tiến công địch bằng cả ba thứ quân, bằng kết hợp chặt chẽ giữa tiến công quân sự với tiến công chính trị, binh vận, giữa đánh địch và thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng kháng chiến ở vùng địch hậu về mọi mặt.


Chiến thắng Hòa Bình và những hoạt động quân sự của ta trong vùng địch hậu Liên khu 3 đã giáng một đòn mạnh vào kế hoạch chiến lược của Đờ Lát, khiến quân Pháp "tổn thất về sinh mạng và trang bị không kém gì Chiến dịch Biên Giới và Chiến dịch Điện Biên Phủ sau này"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Sđd, tr. 294), làm xoay chuyển cục diện trên chiến trường đồng bằng Bắc Bộ theo chiều hướng có lợi cho ta. Chiến thắng Hòa Bình cũng là cuộc tập dượt cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của phong trào cách mạng ở Liên khu 3. Với sự phát triển cả về số lượng, chất lượng của lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, quân dân Liên khu 3 sẵn sàng cùng cả nước tiến lên giành những thắng lợi lớn hơn, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #64 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:24:32 am »

QUÂN VÀ DÂN TRÊN ĐỊA BÀN QUÂN KHU 2
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Thiếu tướng PHẠM HỒNG CHƯƠNG
Tư lệnh Quân khu 2


Chiến thắng Hòa Bình trong Đông - Xuân 1951 - 1952 là chiến thắng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị và quân sự trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong chiến thắng này, quân và dân Tây Bắc (Quân khu 2 ngày nay) đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não chiến dịch, giữ gìn bí mật cho chủ lực của Bộ triển khai lực lượng đánh tạo thế; đồng thời cung cấp sức người, cơ sở vật chất, lương thực cho chiến dịch, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình, đánh dấu sự khởi đầu giành quyền chủ động trên chiến trường của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa cách mạng nước ta bước sang giai đoạn mới.


Sau thất bại trong Chiến dịch Biên Giới 1950, quân Pháp ở Đông Dương rơi vào thế bị động, phái tìm cách để giữ thế chủ động về chiến lược. Từ cuối năm 1950, thực dân Pháp tăng quân, đổi tướng, triển khai kế hoạch quân sự mới ở Đông Dương. Tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi sau khi sang Việt Nam đã khẩn cấp triển khai xây dựng một loạt hệ thống đồn, bốt kiên cố, vững chắc ở những vị trí có ý nghĩa chiến lược dọc theo các tuyến giao thông quan trọng hòng kiểm soái, ngăn chặn mọi hoạt động của ta, nhất là các cuộc tiến công của quân chủ lực từ vùng thượng du xuống đồng bằng và cắt đứt nguồn tiếp tế nhân lực, vật lực từ vùng châu thổ sông Hồng, nơi đông dân, nhiều lúa gạo cho căn cứ cách mạng. Đồng thời, cho quân đẩy nhanh quá trình bình định nông thôn, các vùng tạm chiếm bằng các cuộc hành binh càn quét quy mô lớn nhằm tiêu diệt các cơ sở chính trị, vũ trang, bắt lính, dồn dân, triệt phá kinh tế...


Đến đầu tháng 9 năm 1951, những nỗ lực về quân sự của thực dân Pháp đã làm cho tình hình của ta ở Tây Bắc gặp rất nhiều khó khăn. Với kế hoạch tăng cường khối phòng thủ độc lập Tây Bắc, địch đã co về củng cố Nghĩa Lộ (Yên Bái) để giữ vững vựa thóc lớn của Tây Bắc và uy hiếp phía Tây căn cứ địa Việt Bắc. Chúng củng cố những cứ điểm nhỏ thành cứ điểm vừa do 1 đại đội đóng giữ, lập mới 4 tiểu khu Nghĩa Lộ, Gia Hội, Ba Khe, Gốc Báng; mỗi tiểu khu Có 1 tiểu đoàn chiếm đóng. Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp tăng cường 3 tiểu đoàn quân viễn chinh cho Tây Bắc, đồng thời tăng cường nắm thổ ty, lang, đạo, khủng bố đàn áp nhân dân, phá vỡ cơ sở kháng chiến. Phong trào cách mạng ở Yên Bái tạm lắng xuống, các đội du kích ở Sơn La chưa có hoạt động tác chiến đáng kể. Tại Lai Châu mới tạo được chỗ đứng chân trong đồng bào Mông ở 3 huyện Điện Biên, Tuần Giáo, Quỳnh Nhai. Đường giao thông từ các địa phương về Liên khu Việt Bắc thường xuyên bị địch phục kích, ngăn chặn...


Trước tình hình đó, Liên khu ủy Việt Bắc chủ trương xây dựng Lào Cai làm bàn đạp chính, tiến tới giải phóng Lai Châu, mở đường vào hoạt động sâu trong hậu địch. Ngày 13 tháng 9 năm 1951, Thường vụ Liên khu ủy quyết định: "Mở đợt hoạt động đẩy mạnh chiến tranh du kích" phục vụ đấu tranh Chính trị, bảo vệ mùa màng và chuẩn bị chiến trường cho tác chiến trong Thu - Đông 1951 - 1952. Cùng thời điểm này, từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 31 tháng 10 năm 1951, Bộ Tổng Tư lệnh mở Chiến dịch Lý Thường Kiệt đánh vào Phân khu Nghĩa Lộ nhằm tiếp tục giữ vững thế chủ động tiến công quân địch trên chiến trường chính, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tiêu diệt phỉ củng cố phát triển cơ sở trong vùng sau lưng địch ở Tây Bắc, giải phóng đất đai, đồng thời thăm dò phản ứng của quân viễn chinh Pháp khi ta tiến công lên rừng núi. Kết thúc chiến dịch, ta tiêu diệt khoảng 1.000 tên địch, thu hàng trăm súng các loại, 15 tấn đạn, 13 tân quân trang quân dụng và 60 tấn luơng thực.


Trong khi quân và dân Quân khu 2 cùng các đơn vị tiến hành Chiến dịch Lý Thường Kiệt, từ cuối tháng 10 năm 1951, sau khi giành được kết quả nhất định trong lấn chiếm đồng bằng Bắc Bộ, tướng Đờ Lát tuyên bố, đã tới lúc giành lại chủ động trên chiến trường, buộc Việt Minh phải tiếp nhận chiến đấu trên một địa hình do Pháp lựa chọn. Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp đã chọn Hòa Bình làm nơi quyết chiến nhằm mục tiêu cắt rời phần đất của Việt Minh ở Việt Bắc đã nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa khỏi phần còn lại rộng lớn ở phía Nam Việt Nam, để mở đường cho bước 2 - đánh chiếm vùng tự do Liên khu 4.


Bộ Chỉ huy quàn viễn chinh Pháp nhận định Hòa Bình là nút giao thông thủy - bộ nối liền Việt Bắc với đồng bằng hữu ngạn sông Hồng, vùng tự do Liên khu 4, là cửa ngõ tiến lên Tây Bắc thông sang Thượng Lào. Chiếm được Hòa Bình, không những thực hiện được việc chia cắt chiến trường mà còn mở rộng phòng tuyến Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, giảm nhẹ sự cô lập của Tây Bắc, uy hiếp vùng tự do của ta ở Phú Thọ, Tây Ninh Bình. Đờ Lát cho rằng, với việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ thu hút được lực lượng ta đến chiến trường đã chọn để "nghiền nát". Thắng lợi về mặt quân sự sẽ tạo thế cho việc lập lại "xứ Mường tự trị", tiếp tục chính sách chia rẽ dân tộc, biến Hòa Bình thành bàn đạp tiến công vào vùng rừng núi Tây Bắc.


Ngày 14 và ngày 15 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm thị xã Hòa Bình, Đường số 6. Tiếp đó, địch đánh chiếm Đá Chông, Núi Chẹ (Sơn Tây), La Phù, Tu Vũ (Phú Thọ), thiết lập phòng tuyến sông Đà hỗ trợ cho khu vực Hòa Bình. Đồng thời, địch tăng cường cho máy bay bắn phá sâu vào vùng tự do của ta, dùng đại bác từ vị trí Toa Đen (Hạc Trì) và Trung Hà liên tục bắn phá vào làng mạc suốt một dải ven sông Hồng, sông Đà từ Việt Trì qua Lâm Thao, Tam Nông đến Thanh Thủy, gây tổn thất nghiêm trọng cho nhân dân Phú Thọ.


Về phía ta, trên cơ sở đánh giá tình hình, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình. Bộ Chính trị quyết định tổ chức Bộ Chỉ huy Chiến dịch, cử các đồng chí: Võ Nguyên Giáp - Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch; Hoàng Văn Thái - Tham mưu trưởng Chiến dịch; Nguyễn Chí Thanh - Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy Chiến dịch. Lực lượng tham gia trên mặt trận chính gồm các đại đoàn 308, 312, 304, 351 và lực lượng vũ trang địa phương; trên mặt trận phối hợp có 2 đại đoàn 316 và 320 cùng các và lực lượng tại chỗ tiến công địch, diệt tề trừ gian, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Hoàng Văn Thái cùng bộ phận của Bộ Tổng Tham mưu hành quân về xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê (Phú Thọ) thiết lập Sở Chỉ huy Tiền phương để kịp thời chỉ đạo, chỉ huy tác chiến chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #65 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:26:56 am »

Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TW "về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Chỉ thị nêu rõ: Nhiệm vụ của Mặt trận Hòa Bình là phải tiến công tiêu diệt địch, động viên lực lượng toàn dân phá kế hoạch chiếm đóng, dựng lực lượng ngụy quân, đặt cơ sở ngụy quyền, tuyên truyền lừa phỉnh nhân dân; mặt trận trung du và đồng bằng Bắc Bộ phát triển mạnh mẽ các hoạt động chiến tranh du kích tiến công tiêu diệt địch ở các đồn, bốt lẻ, thậm chí bao vây, đánh chiếm các quận, lỵ, mở rộng và phát triển căn cứ du kích; tuyên truyền, vận động nhân dân bất hợp tác với địch, đẩy mạnh công tác địch vận lôi kéo những người đang hợp tác với địch trở về với cách mạng... Chấp hành chỉ thị của Trung ương Đảng, các lực lượng, các địa phương từ miền xuôi đến miền ngược gấp rút chuẩn bị mọi mặt cho chiến dịch; trọng tâm là xây dựng ý chí, quyết tâm chiến đấu; giáo dục tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; bảo đảm các mặt cho lực lượng tiến công tiêu diệt địch trên hai mặt trận.


Ở Tây Bắc, sau Chiến dịch Lý Thường Kiệt, công tác vùng địch tạm chiếm có thuận lợi và phát triển, cơ sở của ta được mở rộng, chiến tranh du kích được đẩy mạnh. Tuy nhiên, địch đã nhanh chóng bổ sung lực lượng, tăng cường càn quét, khủng bố, binh địch vùng chiếm đóng. Từ tháng 11 năm 1951 đến tháng 2 năm 1952, quân Pháp đã tổ chức trên 40 trận càn, trong đó có 6 trận quy mô từ 100 đến 300 quân, kéo dài từ 1 đến 5 ngày. Trọng điểm càn quét của địch là vùng ta có cơ sở, nhất là các cơ sở gần các căn cứ quan trọng của ta và cướp bóc kinh tế, gom dân để dễ kiểm soát, khống chế, đã gây cho quân và dân Tây Bắc rất nhiều khó khán và thiệt hại.


Quán triệt sâu sắc nhiệm vụ được giao trong Đông Xuân 1951 - 1952 của Trung ương Đảng, lực lượng vũ trang và nhân dân trên địa bàn Quân khu 2 đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực tiêu diệt sinh lực địch, đập tan kế hoạch tiến công của địch. Liên khu ủy Việt Bắc và các tỉnh ủy tích cực đẩy mạnh phong trào đấu tranh vùng sau lưng địch, đồng thời chỉ đạo lực lượng vũ trang tăng cường phối hợp chiến đấu và huy động cao nhất lực lượng, cơ sở vật chất, lương thực phục vụ Chiến dịch Hòa Bình. Trước hết, huy động lực lượng dồn sức chuẩn bị địa điểm, cơ sở vật chất, xây dựng các kho lương thực, vũ khí đạn dược của Tồng cục Cung cấp được bố trí các ở khu trung tuyến Đồn Vàng, huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) đủ cho 2 đại đoàn bước vào hoạt động; huy động dân công tập kết thóc gạo, xay xát lương thực, làm đường và bảo vệ Sở Chỉ huy Chiến dịch và các căn cứ du kích.


Trung ương và Liên khu Việt Bắc giao nhiệm vụ cho Phú Thọ chuẩn bị chiến dịch và tham gia chiến đấu. Những ngày cuối tháng 11 năm 1951, lực lượng vũ trang địa phương Phú Thọ đà liên tục bao vây, tiến công, kìm chân địch trong các vị trí của chúng, phục kích địch đi tuần tiễu trên sông Đà, bắn súng uy hiếp Tu Vũ. Tiểu đoàn 72 của Phú Thọ sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở Chiến dịch Lý Thường Kiệt, trở về Thu Cúc, Lai Đồng gặp địch đã phối hợp với bộ đội Đại đoàn 312 tiêu diệt gần 100 tên địch vào ngày 25 tháng 11 năm 19511 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945 - 2005), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2007, tr. 116).


Theo kế hoạch tác chiến chiến dịch, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho các đại đoàn 308, 312 tiến công trên hướng chủ yếu, phá vỡ tuyến phòng ngự sông Đà của địch. Đại đoàn 308 (thiếu Trung đoàn 102) ở tả ngạn sông Đà tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân viện trên sông Đà từ Tu Vũ đến thị xã Hòa Bình. Đại đoàn 312 ở hữu ngạn diệt cứ điểm Chẹ, đánh quân viện trên đường từ Sơn Tây đi Đá Chông và từ Đá Chông đến Chẹ. Đại đoàn 304 đánh ở hướng thứ yếu của chiến dịch, kiềm chế địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch ờ Đường số 6. Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) làm lực lượng dự bị dừng chân ở Cổ Tiết (Nam thị xã Phú Thọ) phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương Phú Thọ sẵn sàng đánh địch càn quét ra vùng tự do Hạc Trì, Lâm Thao Hưng Hóa, Đường số 2. Chiến dịch diễn ra trên địa bàn từ Xuân Mai đến thị xã Hòa Bình và từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà là vùng rừng núi sát với đồng bằng, có 2 dãy núi cao (Ba Vì và Viên Nam).


Trong quá trình hoạt động tác chiến của các đơn vị chủ lực trực thuộc Bộ, ngay từ trước khi mở màn chiến dịch, lực lượng vũ trang Quân khu và tỉnh Phú Thọ đã xây dựng phương án phối hợp chặt chẽ với Đại đoàn 308 sẵn sàng tiêu diệt địch càn quét vùng tự do ở Hạc Trì, Lâm Thao, Đường số 2 và Hưng Hóa. Đồng thời, bảo vệ tuyệt đối bí mật và an toàn cho Sở Chỉ huy Chiến dịch; chuẩn bị tốt điểm trú quân tập kết và vị trí triển khai đội hình tiến công của Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 theo kế hoạch tác chiến. Lực lượng vũ trang và nhân dân Phú Thọ tích cực phối hợp cùng các đơn vị mở nhiều đường nhỏ và sửa chữa hàng chục kilômét đường ôtô, làm nhiều bến vượt sông và hàng trăm cầu phao ở Cẩm Khê, Yên Lập, Ngọc Lập, Thục Luyện, Hương Cần...; huy động hơn 1.000 chiếc thuyền của nhân dân để vận tải phục vụ chiến dịch trên đoạn sông Hồng, từ Thanh Ba, Chí Chủ đến sông Bứa.


Khó khăn lớn nhất của Đại đoàn 312 trong chiến dịch là phải tổ chức vượt sông Đà để thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong điều kiện nước sông lớn, chảy xiết và địch kiểm soát vô cùng gắt gao. Ban đêm, máy bay thả pháo sáng và bắn phá liên tục; canô của địch từ các vị trí Tu Vũ, La Phù, Đá Chông thay nhau tuần tiễu quét đèn pha trên sông và hai bên bờ. Khi địch lập xong vành đai trắng bên hữu ngạn sông Đà, nhân dân ven sông đã phải chuyển đi nơi khác. Mỗi kilômét vành đai, địch bố trí khoảng 45 tên và 8 khẩu liên thanh, cứ 9km lại bố trí 1 khẩu đại bác sẵn sàng bắn chi viện. Lường trước được khó khăn của Đại đoàn 312 nên khi giao nhiệm vụ cho đơn vị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã căn dặn: Thắng lợi của cuộc vượt sông dựa vào hai yếu tố, dựa vào dân, bám hẳn vào dân và giữ bí mật nghiêm ngặt.


Để tạo điều kiện cho Đại đoàn hoàn thành nhiệm vụ và phối hợp tác chiến cho mặt trận chính diện, Liên khu ủy và cấp ủy, chính quyền địa phương trên địa bàn Quân khu đã lãnh đạo, chỉ đạo lực lượng vũ trang và nhân dân giữ gìn tuyệt đối bí mật cho các đơn vị hành quân tập kết, trú quân; tổ chức tốt việc phòng chống gián điệp, biệt kích do thám tình hình, phá hoại các cơ quan, kho tàng; vận động ủng hộ, cung cấp lương thực cho bộ đội. Nhân dân các làng ven sông đã mang hàng trăm chiếc thuyền nan, là tài sản giá trị, quan trọng nhất để kiếm sống, mưu sinh của gia đình cho bộ đội mượn để vượt sông Đà đánh địch. Nhờ đó, trong đêm mùng 7 và mùng 8 tháng 11 năm 1951, Đại đoàn 312 đã vượt sông thành công và nhanh chóng tiếp cận mục tiêu, triển khai chuẩn bị tiến công địch. Tiếp đó, hằng đêm, nhiều cụ già, chị em phụ nữ tỉnh Phú Thọ bên tả ngạn sông Đà đã dùng thuyền nan nhỏ vượt qua làn đạn pháo của địch chuyển lương thực, thuốc men phục vụ bộ đội đánh giặc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #66 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:28:14 am »

Trong trận đánh cứ điểm Tu Vũ (vị trí phòng ngự then chốt của địch trên phân khu sông Đà, thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ, do Tiểu đoàn bộ binh Marốc số 1 (1/2RTM) - một đem vị thiện chiến của Pháp trấn giữ), Tiểu đoàn 72 Phú Thọ đã phối hợp với Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) tiêu diệt nhiều địch, phá hủy vũ khí và phương tiện chiến tranh. Ngay sau Chiến thắng Tu Vũ, ngày 14 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 387 (Đại đoàn 308) phối hợp với bộ đội và dân quân du kích huyện Thanh Thủy phục kích bắn chìm 2 sà lan ở Yến Mao, làm cho quân địch ở La Phù hoang mang lo sợ phải cầu viện lực lượng từ Sơn Tây sang tăng cường phòng thủ. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) và Đại đội sơn pháo 756 (Trung đoàn 675) cùng bộ đội huyện Thanh Thủy bố trí trận địa phục kích ở Lạc Song bên bờ sông Đà, bắn chìm 1 tàu chiến, bắn cháy 4 canô, tiêu diệt gọn 1 tiểu đoàn địch, bắt 80 tên, làm tê liệt hoàn toàn đường tiếp tế của địch trên sông Đà1 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945 - 2005), Sđd, tr. 117).


Cũng trong thời gian diễn ra chiến dịch, sau khi ta làm chủ cứ điểm Tu Vũ, Sở Chỉ huy Chiến dịch di chuyển từ Đồng Lương, huyện Cẩm Khê về xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn (Phú Thọ) để bảo đảm sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh sát gần hơn với hoạt động tác chiến của bộ đội khu vực Hòa Bình. Quân và dân Quân khu 2 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ an toàn cho Sở Chỉ huy Chiến dịch.


Tỉnh Phú Thọ vừa là mặt trận trực tiếp, nơi diễn ra trận đánh Tu Vũ quan trọng trong ngày mở màn chiến dịch (10.12.1951), vừa là hậu phương trực tiếp của chiến dịch nên được Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị nhân lực, vật lực phục vụ cho chiến dịch. Trước nhiệm vụ trên giao hết sức khẩn trương và khó khăn, số lượng dân công phục vụ, lương thực, thực phẩm huy động tương đối lớn, lại phải vận chuyển qua sông Đà vào hậu địch ém sẵn trong điều kiện ngày đêm giặc tuần tiễu, theo dõi, phá hoại ráo riết..Liên khu ủy Việt Bắc và Tỉnh ủy Phú Thọ xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, đột xuất nên đã tập trung lãnh đạo kịp thời, sâu sát, động viên nhân dân dồn sức hoàn thành đúng thời gian với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng. Bằng những nỗ lực cao nhất, tỉnh đã huy động được 12.500 dân công loại A, 30.000 dân công loại B, 38.501 dân công loại C; 3.000 tấn gạo, 800 con lợn, 150 con trâu bò thịt và 2.000 chiếc thuyền kịp thời phục vụ cho chiến dịch1 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tinh Phủ Thọ (1945 - 2005), Sđd, tr. 116).


Cùng với đó, theo kế hoạch ban đầu, tỉnh Phú Thọ được giao phải huy động 600 y tá, hộ lý, nhưng khi diễn biến chiến đấu phát triển phải bổ sung thêm 1.800 người. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ, Tỉnh ủy cử 2 đồng chí Tỉnh ủy viên và một số cán bộ chuyên trách công tác tổ chức trạm y tế và chuyển tải, chăm sóc thương binh. Các đoàn thể quần chúng trong tỉnh đều có kế hoạch tham gia đón tiếp, săn sóc, phục vụ, động viên thương binh, bệnh binh... Ngoài ra, nhân dân Phú Thọ còn quyên góp, gửi quà tặng các chiến sĩ ngoài mặt trận trên 23 triệu đồng.


Phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, tinh Vĩnh Phúc được Liên khu ủy Việt Bắc giao nhiệm vụ tăng cường "bộ đội, cán bộ vào địch hậu phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình và mặt trận Bắc Ninh, Bắc Giang tiêu hao sinh lực địch, đẩy mạnh du kích chiến tranh, phục hồi cơ sở"1 (Tỉnh ủy Vĩnh Phúc - Đảng ủy Quân sự tình, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (1950 - 2020), xuất bản năm 2020, tr. 134, 140). Thực hiện chủ trương trên, từ trung tuần tháng ! 2 năm 1951 đến ngày 22 tháng 2 năm 1952, quân và dân Vĩnh Phúc mở hai đợt hoạt động tiến công vào vùng địch hậu phối hợp với Chiến dịch Hòa Bình, giành nhiều thắng lợi, đạt được kết quả to lớn, diệt, phá 22 vị trí, tháp canh, tiêu diệt 1.200 địch, làm bị thương 151 tên, gần 500 lính bảo an, hương dũng ra hàng, giải tán hết tề ở 26 xã. Một số cơ sở đảng được phục hồi, cơ sở quân chúng được mở rộng, mở được 3 khu du kích ở địch hậu gồm 18 xã, 45 thôn2 (Tỉnh ủy Vĩnh Phúc - Đảng ủy Quân sự tình, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc (1950 - 2020), xuất bản năm 2020, tr. 134, 140)... Đây là những nhân tố quan trọng mở ra điều kiện mới để quân và dân Vĩnh Phúc tiếp tục tiến lên giành những thắng lợi mới.


Chiến dịch Hòa Bình thắng lợi, quân và dân Liên khu Việt Bắc, trực tiếp là quân và dân Tây Bắc (Quân khu 2 ngày nay) được Đảng, Chính phủ tặng nhiều phần thưởng. Riêng quân và dân tỉnh Phú Thọ đã được tặng thưởng 37 huân chương (chiếm hơn 55,2% tổng số huân chương toàn chiến dịch); huyện Thanh Ba được tặng 1 huân chương về thành tích huy động dân công cùng hàng trăm bằng khen giấy khen cho các đơn vị và cá nhân xuất sắc3 (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Phú Thọ (1945- 2005), Sđd, tr. 117). Quân và dân trên địa bàn Quân khu 2 tự hào đã có nhiều đóng góp quan trọng trong Chiến dịch Hòa Bình, tạo nên thế và lực mới cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp phát triển thuận lợi.


70 năm đã trôi qua, chúng ta vẫn luôn khẳng định rằng, Chiến thắng Hòa Bình là bước ngoặt chiến lược quan trọng, mốc son trong lịch sử cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là một trong những chiến dịch điển hình về chỉ đạo chiến lược đúng đắn, tài tình của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng Tư lệnh, để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Vận dụng, kế thừa thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình chính là những bài học về sự lãnh đạo của Đảng, về nghệ thuật chỉ đạo phối hợp chiến đấu của các mặt trận, các lực lượng, phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, đại đoàn kết toàn dân, trong đó có sự đóng góp rất quan trọng, to lớn của lực lượng vũ trang và nhân dân Quân khu 2 tạo thành sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi vẫn giữ nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #67 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:29:46 am »

QUÂN VÀ DÂN HÀ NỘI TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Thiếu tướng NGUYỄN QUỐC DUYỆT
Ủy viên Thường vụ Thành ủy Hà Nội,
Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội


Đầu năm 1951, sau khi nhậm chức Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, Đờ Lát đờ Tátxinhi - viên tướng năm sao nổi tiếng vào bậc nhất của nước Pháp đã tìm mọi cách đối phó với các chiến dịch tiến công của quân ta. Quân Pháp vừa ra sức củng cố, tăng cường lực lượng cơ động, vừa xây dựng phòng tuyến boongke bằng bê tông cốt thép (còn gọi là "Phòng tuyến Đờ Lát") nhằm bao vây chia cắt đồng bằng Bắc Bộ với căn cứ địa Việt Bắc. Đến cuối năm 1951, Đờ Lát cùng giới quân sự Pháp đều cho rằng, thế và lực của Pháp đã thay đổi, "nhìn chung cán cân đã nghiêng về phía Pháp, đã đến lúc... chuyển sang thế tiến công"1 (Yves Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, bản dịch lưu tại Thư viện Quân đội). Từ đánh giá đó, Đờ Lát quyết định mở cuộc hành quân tái chiếm Hòa Bình - tỉnh tự do duy nhất còn lại của Liên khu 3. Đây là địa bàn mà quân Pháp đã buộc phải rút bỏ sau thất bại ở biên giới (Thu - Đông 1950). Mục tiêu của Đờ Lát là nhằm thu hút khối chủ lực của ta vào nơi mà quân Pháp đã bày sẵn thế trận để tiêu diệt, nối lại hành lang Đông - Tây; lập "Tam giác sắt" Hà Nội - Sơn Tây - Hòa Bình; ngăn chặn vận chuyển, giao thông, tiếp tế của ta từ Việt Bắc xuống Liên khu 3, vào Liên khu 4 và các chiến trường phía Nam, gây ảnh hưởng chính trị để củng cố ngụy quân, ngụy quyền, tranh thủ viện trợ của Mỹ.


Từ ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp sử dụng 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn đù lê dương và 2 đại đội biệt kích (Commăngđô) số 21, 22 mở cuộc hành quân Tuylíp do tướng Đờ Linarét - Tư lệnh Bắc Bộ chỉ huy. Được máy bay và pháo binh yểm trợ, quân Pháp chia làm 3 mũi tiến công đánh chiếm khu vực Chợ Bến, bao gồm huyện Lương Sơn (Hòa Bình) và huyện Mỹ Đức (Hà Đông). Sau 4 ngày, địch đã hoàn thành đánh chiếm khu vực này. Quân Pháp thiết lập 20 vị trí theo Đường số 21 từ Xuân Mai xuống Chợ Bến và từ Ba Thá vào Miếu Môn, hình thành tuyến phòng thủ Đường số 21 ở phía Nam nối với Đường số 6.


Tiếp đó, trong 2 ngày (14-15.11.1951), địch huy động 5 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3, GM4, GM7), 3 tiểu đoàn dù, hơn 700 xe cơ giới, nhiều xe tăng, tàu chiến, máy bay tổ chức hai cánh quân được máy bay yểm trợ mở cuộc hành quân Lôtuýt theo Đường số 6 đánh chiếm thị xã Hòa Bình và khu vực ven sông Đà (thuộc các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn).


Ngày 14 tháng 11 năm 1951, cánh quân thứ nhất gồm GM1, GM3 và 200 xe cơ giới từ Xuân Mai tiến lên đánh chiếm Hùng Sơn. Cánh quân thứ hai gồm GM2, GM4 và 500 xe cơ giới đổ quân xuống Trung Hà, Hòa Lạc đánh chiếm khu vực núi Ba Vì. Ngày 15 tháng 11 năm 1951, từ Hùng Sơn, địch đánh chiếm các điểm cao trong đó có Dốc Kẽm, Bãi Nai rồi vượt qua thị trấn Kỳ Sơn tiến lên Hòa Bình.


Cánh quân thứ hai tiếp tục đánh chiếm Ba Vì, một bộ phận vượt qua Ba Vì đánh chiếm Túy Cổ Hạ (Bãi Vàng) thuộc xã Phú Cường (Kỳ Sơn). Đồng thời, từ phía Trung Hà, GM4, GM7 cùng 3 đại đội pháo, 1 đại đội xe tăng hành quân bằng đường thủy ngược sông Đà rồi chia làm 2 mũi theo Đường số 87 và Đường số 89 đánh chiếm Đan Thê, Đá Chông, Chẹ, sau đó tiếp tục ngược sông Đà tiến lên thị xã Hòa Bình.


Sau khi dồn lực cho cuộc hành binh chiếm đóng Hòa Bình, thực dân Pháp lo sợ phía sau lưng không yên ổn liền rút 3 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn pháo binh về đồng bằng châu thổ sông Hồng. Với 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội công binh và 1 trung đội xe tăng, địch tổ chức thành 2 phân khu nhằm chiếm đóng lâu dài và sẵn sàng đè bẹp chủ lực của ta tại Hòa Bình. Phân khu sông Đà - Ba Vì (Phân khu Bắc) có 5 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn dù, 1 trung đội xe tăng, 1 tiểu đoàn pháo binh do Đại tá Đôđơliê chỉ huy. Sở Chỉ huy đạt ở Đan Thê. Phân khu Hòa Bình - Đường số 6 (Phân khu Nam) có 6 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội xe tăng do Đại tá Clêmăng chỉ huy. Sở Chỉ huy đặt tại thị xã Hòa Bình. Một số đơn vị bộ binh, pháo binh, xe tăng chiếm giữ Đường số 6, lực lượng dự bị đóng ở Trung Hà. Đồng thời, quân Pháp cũng tổ chức Phân khu Chợ Bến thành tiền đồn phía Đông nhằm bảo vệ cho Hòa Bình. Địch xây dựng thị xã Hòa Bình thành 1 tập đoàn cứ điểm gồm 28 vị trí lớn, nhỏ. Mỗi cứ điểm có từ 1 đến 2 đại đội bộ binh, 1 trung đội xe tăng, 1 đại đội pháo binh. Các cứ điểm đều có thể hỗ trợ cho nhau khi bị tiến công. Phân khu Nam trở thành một cụm cư điểm mạnh - một hình thức tổ chức chiếm đóng quy mô tương đối lớn theo kiểu tập đoàn cứ điểm, lần đầu tiên xuất hiện ở chiến trường Đông Dương1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V. Phát triển chiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 421 - 422).


Tái chiếm thị xã Hòa Bình "đã tiêu thổ" khá dễ dàng, các mục tiêu khác trên Đường số 6 và 2 bờ sông Đà đều nhanh chóng bị đánh chiếm khiến Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cùng giới hiếu chiến Pháp đều coi đó là một chiến thắng quan trọng. Hòa Bình trở thành "một canh bạc" lớn của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương với mong muốn tìm kiếm chiến thắng có ý nghĩa chiến lược hòng giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ.


Về phía ta, ngay từ cuối tháng 10 năm 1951, khi xây dựng kế hoạch tác chiến Đông - Xuân, Bộ Tổng Tư lệnh đã dự kiến kế hoạch đối phó với các cuộc tiến công của địch ra vùng tự do, nhất là với hướng Lạng Sơn và Hòa Bình. Ngày 19 tháng 10 năm 1951, khi báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị phương hướng chiến dịch mùa Đông năm 1951 và kế hoạch đề phòng địch tiến công, Tổng Quân ủy dự kiến, nếu địch đánh ra Hòa Bình thì đó là một cơ hội cho ta tiêu diệt.


Sau khi nhận được tin địch đã đánh ra Hòa Bình, Bộ Tổng Tư lệnh lập tức chỉ thị cho các địa phương, đơn vị đình chỉ công tác chuẩn bị mở chiến trường Liên khu 3. Trong báo cáo gửi Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy phân tích: Với cuộc tiến công ra Chợ Bến, Hòa Bình, địch đã chiếm được một vị trí chiến lược quan trọng, cố gắng giành lại quyền chủ động, gây cho ta những khó khăn mới về quân sự, chính trị và kinh tế. Nhưng chúng đã phải dùng một bộ phận cơ động để mở rộng phạm vi chiếm đóng, khiến cho chiến tranh du kích ở đồng bằng có điều kiện phát triển, đồng thời phân tán một lực lượng trên chiến trường rừng núi, giao thông không thuận lợi, trong một thời gian nữa địch mới xây đẳp được công sự, do đó ta có cơ hội tiêu diệt địch. Tổng Quân ủy kiến nghị mở chiến dịch Hòa Bình, chuyển kế hoạch hoạt động Đông - Xuân 1951 - 1952 sang tiến công địch nơi mới chiếm đóng. Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác phối hợp, mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch ở chiến trường Hòa Bình và đẩy mạnh chiến tranh du kích ở nơi khác.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #68 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:31:48 am »

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị nhất trí với nhận định và kiến nghị của Tổng Quân ủy. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ "Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch Trung ương chỉ rõ, đó là cơ hội tốt để ta đánh địch và xác định nhiệm vụ của quân và dân ta là phải đánh địch ở Chợ Bến, Hòa Bình, Hưng Hóa, phá kế hoạch chiếm đóng của chúng.


Theo chủ trương của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân dân ta sẽ thực hiện đánh địch trên cả 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị giao Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ đạo chiến dịch và mặt trận chính diện Hòa Bình. Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được chỉ định làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch.


Trên mặt trận chính diện, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng 3 đại đoàn bộ binh 308, 312, 304 và 2 trung đoàn công binh - pháo binh thuộc Đại đoàn 351 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích tổ chức phục kích, tập kích tiêu diệt quân cơ động của địch trên cả hai tuyến giao thông thủy - bộ (theo Đường số 6 và sông Đà), đồng thời tiến hành vây hãm, tiêu bao, tiêu diệt khối quân cơ động của địch trong các cứ điểm ở thị xã Hòa Bình. Đại đoàn 316 và Đại đoàn 320 có nhiệm vụ luồn sâu vào vùng địch hậu thuộc đồng bằng Bắc Bộ, phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân các tình Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương đẩy mạnh các hoạt động tập kích, phục kích, phá tề, phát triển chiến tranh du kích nhằm tiêu hao tiêu diệt sinh lực địch, biến hậu phương của địch thành tiền phương, thành hậu phương của ta.


Cả hai mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch đều có sự lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương tói các liên khu, tỉnh, huyện, xã.

Nhằm động viên quân dân ta, cuối tháng 11 năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và quân dân du kích tham gia Chiến dịch Hòa Bình. Người chỉ rõ:

   "Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh.
   Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là một cơ hội rất tốt cho ta...
   ... Bộ đội chủ lực đánh. Bộ đội địa phương, dân quân du kích cũng đánh. Các lực lượng phải phối hợp với nhau chặt chẽ để tiêu diệt sinh lực của địch"
1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242).


Thực hiện chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Tổng Quân ủy - Bộ Tổng Tư lệnh, của Khu ủy - Bộ Tư lệnh Liên khu 3, quân dân Hà Nội cùng với quân dân các địa phương đồng thời thành lập các ban chuẩn bị chiến trường các cấp, khẩn trương triển khai các hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu.


Chấp hành mệnh lệnh của trên, các đơn vị các địa phương tổ chức chuyển quân chuẩn bị tác chiến và khẩn trương triển khai các mặt công tác bảo đảm, phục vụ chiến đấu. Các ban chuẩn bị của các tỉnh, trong đó có Sơn Tây, Hà Đông huy động dân công, tập kết thóc gạo, xay xát lương thực cho chiến dịch. Cơ quan hậu cần tổ chức hành lang cung cấp: Một hành lang phục vụ cho các đơn vị tác chiến ở khu vực sông Đà và một bảo đảm cho khu vực Nam Đường số 6 và địch hậu Liên khu 3. Ở phía Bắc thị xã Hòa Bình có 3 tuyến vận tải: Tuyến cơ giới, tuyến thuyền và tuyến dân công. Tuyến cơ giới dài 80km có 27 ôtô chở vũ khí đạn dược, tuyến thuyền dài 50km có trên 100 thuyền lớn, nhỏ để chở gạo, tuyến dân công và xe thồ dài 1.00km để vận chuyển lương thực, thực phẩm.


Tại Sơn Tây, cuối tháng 11 năm 1951, đồng chí Kim - Phó Bí thư Tỉnh ủy và đồng chí Trung - Tỉnh đội trưởng cùng hàng chục cán bộ tỉnh, huyện về các xã vận động nhân dân dùng thuyền đưa Đại đoàn 312 từ Phú Thọ vượt sông Đà. Từ đêm mùng 6 đến ngày 8 tháng 12 năm 1951, với sự giúp đỡ của nhân dân 2 bên ven sông cùng hàng trăm chiếc thuyền nan, Đại đoàn 312 vượt sông từ làng Đoan Hạ (huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ) vượt sông Đà luồn sâu vào vùng sau lưng địch ở Ba Trại, Ba Vì. Cũng trong thời gian này, các cụ già, chị em phụ nữ dùng thuyền nan chở lương thực, thuốc men cho bộ đội. Nhân dân Bất Bạt, Ba Vì dù thiếu đói vẫn nhường gạo, đào 20.0000 gốc sắn tiếp tế cho bộ đội. Sáng ngày 10 tháng 12, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích tiến hành trận phục kích tiêu diệt 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn dù số 1 của địch ở xóm Ninh Mít (Tây Nam núi Ba Vì), mở đầu chiến dịch.


Đêm ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 tiến công cứ điểm Tu Vũ - một vị trí rất quan trọng trong cụm phòng ngự then chốt của địch ở Phân khu Sông Đà - Ba Vì, cách thị xã Hòa Bình hơn 30km, do 1 tiểu đoàn Âu - Phi cùng 6 xe tăng đóng giữ; được máy bay, tàu chiến và các trận địa pháo của địch ở Chẹ, Thủ Pháp, Đá Chông (20 khẩu) bên hữu ngạn sông Đà yểm trợ, chi viện tối đa.


Trận Tu Vũ diễn ra vô cùng ác liệt. Khi quân ta đang triển khai chiếm lĩnh trận địa xuất phát tiến công thì bị địch phát hiện. Ngoài hỏa lực rất mạnh của cứ điểm, từ các trận địa bên phía hữu ngạn đã bắn tới 5.000 viên đạn pháo vào đội hình ta. Sau 5 giờ chiến đấu, Trung đoàn 88 đã tiêu diệt được cứ điểm song cũng bị thương vong lớn.


Sau khi cứ điểm Tu Vũ bị tiêu diệt, Trung đoàn pháo binh 676 Đại đoàn công pháo 351 và Trung đoàn bộ binh 36 Đại đoàn 308 cùng bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân huyện Bất Bạt (nay là huyện Ba Vì) liên tục phục kích, bắn chìm nhiều tàu chiến địch trên sông Đà. Sáng ngày 11 tháng 12 năm 1951, bắn chìm 1 tàu chiến và bán bị thương 2 chiếc khác ờ Đoan Hạ. Chiều cùng ngày, ta phục kích đoàn tàu 3 chiếc của địch, bắn chìm 2 chiếc. Toàn bộ số binh lính địch trên 2 chiếc tàu đều bị tiêu diệt hoặc bị bắt. Chiếc còn lại vội kéo cờ trắng chạy vào bờ xin hàng.


Ngày 22 tháng 12 năm 1951, ta lại diệt gọn đoàn tàu chiến gồm 5 chiếc của địch, làm tê liệt tuyến vận tải đường sông của địch trên sông Đà, buộc thực dân Pháp phải lập cầu hàng không tiếp tế cho Hòa Bình.


Đêm 29 tháng 12 năm 1951, được đồng chí Trình (Xã đội trưởng) và 7 du kích người dân tộc Dao xã Minh Quang dẫn đường và phối hợp chiến đấu, Trung đoàn 141 (thuộc Đại đoàn 312) tập kích các vị trí của địch ở các điểm cao 400 và 600 trên núi Ba Vì. Tại điểm cao 400, chỉ sau 10 phút, quân ta đã đánh chiếm được Sở Chỉ huy, Trung tâm điện đài, diệt 1 đại đội địch, bắt 20 tên. Tại điểm cao 600, trận đánh diễn ra quyết liệt hơn. Sau 6 giờ chiến đấu, ta mới làm chủ được trận địa, tiêu diệt 120 tên địch, bắt 135 tên.


Những trận tiến công của quân dân Hà Nội trên các trục đường giao thông thủy, bộ trong Chiến dịch Hòa Bình không chỉ tiêu diệt một phần sinh lực, phương diện chiến tranh của địch mà quan trọng hơn là chặt đứt con đường tiếp tế, chi viện của địch, bao vây cô lập các vị trí địch, nhất là cụm quân địch ở thị xã.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #69 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:32:43 am »

Trong những ngày diễn ra chiến dịch, nhân dân Hà Nội từ vùng tự do đến vùng địch tạm chiếm, từ nông thôn đến đô thị, từ vùng thấp đến vùng cao đều tích cực tham gia, góp công, góp sức tiêu diệt địch, ngăn chặn địch và phục vụ chiến đấu. Nhân dân hăng hái đi dân công sửa đường, bắc cầu, vận chuyển lương thực vũ khí, cứu chữa, chăm sóc thương binh, chôn cất liệt sĩ. Riêng các huyện Quảng Oai, Tùng Thiện, Bất Bạt, có ngày huy động đến hơn một nghìn người. Nhiều chị em phụ nữ không ngại hy sinh, gian khổ, hăng hái làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực, tải thương, phục vụ cứu chữa thương binh. Nhiều cụ già 70 - 80 tuổi vẫn hăng hái xung phong phục vụ bộ đội. Nhân dân Hà Nội còn theo dõi địch, cung cấp kịp thời tình hình cho bộ đội, đẫn đường cho bộ đội đánh giặc và là những người có công đầu trong công tác binh vận, địch vận.


Trong trận đánh ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đội du kích Giáp Thượng phần lớn là nữ do đồng chí Đinh Văn Thức (người dân tộc Mường) chỉ huy được giao nhiệm vụ phối hợp với tổ trung liên của Đại đội 8 (Trung đoàn 141 Đại đoàn 312) chặn đánh một mũi tiến công của địch từ khu vực Núi Chẹ đánh vào nơi trú quân của ta. Trung đội vừa dẫn đường, vừa cùng bộ đội chặn đánh địch. Khi xạ thủ trung liên hy sinh, anh Thức lập tức thay thế, bắn mãnh liệt vào đội hình địch, bẻ gãy nhiều đợt tiến công của địch, tiêu diệt nhiều tên, bắt 3 tên lính Pháp. Với thành tích đặc biệt xuất sắc đó, cuối năm 1952, đồng chí Đinh Văn Thức vinh dự được cử tham gia Đoàn đại biểu Thanh niên Việt Nam dự Đại hội liên hoan thanh niên và sinh viên thế giới tổ chức ở Liên Xô và được Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Lênin, Liên Xô tặng Huy chương Vàng1 (Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Ba Vì (1945 - 2017), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2017, tr. 169).


Có nhiều tấm gương nổi bật của nữ du kích trong Chiến dịch Hòa Bình như Cao Thị Nấm - Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc xã Thuần Mỹ, huyện Tùng Thiện kiêm chỉ huy đội du kích. Chị đã cùng đội du kích phối hợp với bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương tiếp tục đánh địch tại xã Thuần Mỹ và xã Đông Sơn. Đội du kích do chị chỉ huy đã tiêu diệt 15 tên, bắn bị thương và bắt 20 tên, phá hủy 2 xe cơ giới, thu 12 súng các loại, vận động 35 lính ngụy đầu hàng. Sau Chiến dịch Hòa Bình, chị không may bị sa vào ổ phục kích của địch ở Cầu Trôi. Biết chị là một cán bộ quan trọng, địch đưa chị về giam ở Nhà tà Nhà Tiền (Hà Nội). Suốt nhiều tháng liền, mặc cho địch dùng mọi cực hình tra tấn, chị vẫn tỏ rõ khí phách kiên trung, bất khuất, khiến bọn giám thị nhà tù khiếp sợ. Biết không thể khuất phục được người nữ du kích, ngày 16 tháng 3 năm 1953, địch đã hèn hạ tiêm thuốc độc sát hại chị. Với những chiến công, những thành tích đặc biệt xuất sắc trong quá trình hoạt động cách mạng cũng như trong Chiến dịch Hòa Bình, ngày 4 tháng 5 năm 2000, liệt sĩ Cao Thị Nấm được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân1 (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Lịch sử phụ nữ đồng bằng Bắc Bộ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1955), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội, 2002, tr. 288-289).


Trước đòn tiến công của ta ở mặt trận chính diện Hòa Bình và mặt trận sau lưng địch, ngày 23 tháng 2 năm 1952, thực dân Pháp buộc phải cho quân rút chạy khỏi thị xã Hòa Bình. Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, trong đó có sự góp sức của quân dân Hà Nội.


Trải qua hơn 2 tháng chiến đấu, trên cả 2 mặt trận chính diện và sau lưng địch, quân và dân ta đã tiêu diệt 22.000 tên. Riêng ở mặt trận sau lưng địch, quân dân ta đã diệt 15.000 tên, tiêu diệt, bức hàng, bức rút hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh (chiếm hai phần ba tổng số đồn bốt tháp canh của địch). Các khu du kích, căn cứ du kích của ta được mở rộng và nối liền với nhau thành thế liên hoàn từ Bắc Giang xuống Bắc Ninh, qua Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây, Phúc Yên. Hai triệu dân được giải phóng. Âm mưu phản công tiêu diệt bộ đội chủ lực ta, giành lại quyền chủ động chiến lược của địch bị đánh bại.


Thắng lợi Hòa Bình là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy về phân tích tương quan lực lượng, nhận định tình thế chiến tranh, xác định phương thức, phương châm hoạt động đúng đắn; sự kết hợp mặt trận chính diện với mặt trận vùng sau lưng địch; việc sử dụng cách đánh liên tục, tiêu diệt sinh lực địch, sự chỉ đạo tấn công địch trên cả 2 hướng chiến lược chủ yếu, việc tổ chức phối hợp nội tuyến với ngoại tuyến, linh hoạt trong dân vận, địch vận, đặc biệt là sự kết hợp tác chiến của bộ đội chủ lực với bộ đội địa phương và dân quân du kích của các tỉnh trên địa bàn tác chiến, trong đó có đóng góp to lớn của quân dân Thủ đô Hà Nội.


Chiến thắng Hòa Bình có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần làm thay đổi cục diện trên chiến trường chính Bắc Bộ, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho Quân đội ta nói chung và cho lực lượng vũ trang Thu đô Hà Nội nói riêng. Trong đó, bài học kinh nghiệm về công tác địch vận, công tác dân vận, công tác xây dựng lực lượng 3 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ) có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Những kinh nghiệm đó đã góp phần xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang Thủ đô Hà Nội vững mạnh toàn diện; luôn phát huy vai trò nòng cốt trong tham mun giúp Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng Thành ủy, Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác quốc phòng, quân sự địa phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ Thủ đô Hà Nội ngày càng vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội địa bàn Thủ đô, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh, bền vững của Thủ đô.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM