Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 02:42:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 3640 lần)
0 Thành viên và 3 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #50 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2023, 06:56:47 am »

CHIẾN TRƯỜNG BA NƯỚC ĐÔNG DƯƠNG
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Thượng tá, TS PHAN SỸ PHÚC
Phó Trưởng phòng Lịch sử quân sự thế giới,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Cuối năm 1951, đầu năm 1952, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã giành thắng lợi lớn trong Chiến dịch Hòa Bình. Với chiến thắng này, quân và dân ta đã đánh bại âm mưu chiếm đóng vùng tự do, phá tan ý đồ giành thế chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ; nối thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, tạo điều kiện cho những thắng lợi quan trọng về sau. Đây là chiến thắng mang ý nghĩa chiến lược về quân sự và chính trị đối với nước ta và có ảnh hưởng đến cục diện chung toàn chiến trường Đông Dương. Mặt khác, những hoạt động của lực lượng kháng chiến ở các chiến trường Lào, Campuchia cũng đã có những ảnh hưởng, vai trò nhất định trong việc "chia lửa", góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình tại Việt Nam.


Sau 4 năm tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, trên toàn chiến trường Đông Dương, nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia đã giành được những thắng lợi cả về quân sự, chính trị, ngoại giao... Lúc này, được Mỹ tích cực giúp đỡ, thực dân Pháp tiếp tục theo đuổi chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" ngày một triệt để hơn. Về tổng thể, địch tập trung lực lượng phòng giữ và bình định vùng chiếm đóng, chủ yếu là vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, đồng thời ra sức tăng cường lực lượng, nhất là viện binh từ Pháp sang, chuẩn bị điều kiện để phản công nhằm tiêu diệt chủ lực Việt Minh, giành lại quyền chủ động chiến lược đã mất. Được cử sang làm Tổng Chỉ huy quân viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương, tướng Đờ Lát (De Lattre de Tassigny) nhanh chóng đề ra kế hoạch mới. Mục tiêu của Đờ Lát là tiến hành "chiến tranh tổng lực" để bình định những vùng tạm chiếm và chuẩn bị tiến ra vùng tự do nhằm vơ vét sức người sức của của ba nước Đông Dương, chuẩn bị tổng phản công giành lại quyền chủ động chiến lược. Các hoạt động của địch đã gây cho lực lượng kháng chiến ba nước Đông Dương nhiều khó khăn, nhất là cuộc đấu tranh vùng sau lưng địch càng phức tạp.


Phát huy thắng lợi đã giành được trong 4 năm, tiếp tục đưa cuộc kháng chiến đi lên, bước sang giai đoạn mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương xác định: "Đông Dương là một chiến trường cùng chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và cách mạng Việt Nam có trách nhiệm tiếp tục giúp cách mạng Lào, Campuchia, hơn lúc nào hết, chúng ta phải ra sức giúp đỡ Lào, Campuchia xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, phát triển chiến tranh du kích"1 (Dẫn theo Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 81, 82, 83, 280 Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào (1945 - 1954) ", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 65). Tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương họp, xác định nhiệm vụ và biện pháp chủ yếu cho cách mạng Việt Nam Lào và Campuchia lúc bấy giờ là "tiêu diệt thực dân Pháp xâm lược và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành độc lập, thống nhất cho đất nước, bảo vệ hòa bình thế giới". Văn kiện Đại hội khẳng định: "Chúng ta kháng chiến, dân tộc bạn Miên, Lào cũng kháng chiến. Bọn thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ là kẻ thù của ta và của dân tộc Miên, Lào. Vì vậy ta phải ra sức giúp đỡ anh em Miên, Lào, giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào. Và tiến đến thành lập mặt trận thống nhất các dân tộc Việt - Miên - Lào"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 36), về tổ chức đảng ở mỗi nước, theo đề nghị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, vào thời điểm đó, trên cơ sở của Đảng Cộng sản Đông Dương nên tổ chức ở mỗi nước một Đảng Cộng sản để lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc mình.


Ở Lào, thực hiện kế hoạch Đờ Lát nhằm biến Lào thành một chiến trường phối hợp quan trọng, phục vụ mở rộng cuộc chiến tranh Đông Dương, thực dân Pháp tập trung ở Lào gồm 20.000 quân, trong đó có 60% quân ngụy Lào, 40% quân Âu - Phi và quân ngụy Việt Nam, mở các cuộc càn quét ác liệt vào các vùng căn cứ kháng chiến. Đồng thời, địch dùng các thủ đoạn chiến tranh tâm lý, tuyên truyền lừa bịp, mua chuộc, lôi kéo hòng chia rẽ, cô lập làm suy yếu tình đoàn kết chiến đấu của quân và dân hai nước Lào - Việt. Ở Đông Lào, ngoài trung tâm phòng thủ Khang Khay, Cánh Đồng Chum, địch gấp rút lập 29 đồn bốt và một số sân bay nhằm đánh chiếm toàn bộ khu vực các huyện Mường Kham, Mường Pẹc, Mường Khum, Mường Mộc, hình thành một vành đai an toàn cho chúng ở sát biên giới tỉnh Nghệ An (Việt Nam).


Trong 2 năm 1951 - 1952, thực dân Pháp tập trung nhiều lực lượng cơ động liên tục mở các cuộc càn quét, đánh phá dữ dội các căn cứ kháng chiến, trọng tâm là các tỉnh ở Bắc Lào, hòng "biến Bắc Lào thành nơi trú quân" hỗ trợ cho đồng bọn của chúng ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Địch tập trung hơn 1.000 quân càn quét vùng Nậm Bạc kéo dài hơn 1 tháng. Chúng mở rộng chiếm đóng thêm 63 vị trí trong tổng số 126 vị trí ở Thượng Lào, gây cho các lực lượng kháng chiến của Lào và Việt Nam nhiều khó khăn2 (Dẫn theo: Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử các đoàn 81, 82, 83, 280 Quân ltình nguyện Việt Nam tại Lào (1945 - 1954)", Sđd, tr. 156).


Để tăng cường sức mạnh giúp cách mạng Lào, tháng 4 năm 1951, Bộ Tư lệnh Quân tình nguyện Mặt trận Thượng Lào được thành lập. Các lực lượng Quân tình nguyện ở đây được thống nhất thành 4 đoàn (81, 82, 83, 280 - mỗi đoàn tương đương 1 trung đoàn). Tổng quân số của Mặt trận Thượng Lào là 2.343 người1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập 5, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 206). Việc thành lập các đoàn Quân tình nguyện Việt Nam là sự kiện quan trọng đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc về quy mô tổ chức lực lượng và là thay đổi về chất, tạo ra lực mới để phối hợp tác chiến quy mô ngày càng lớn trên chiến trường Lào, tiến tới giành những thắng lợi ngày càng to lớn hơn.


Trong những năm 1951 - 1952, thực dân Pháp ra sức càn quét, bình định các vùng mới giải phóng, các căn cứ địa của Lào, các nơi cơ sở cách mạng còn yếu và lực lượng vũ trang kháng chiến còn phân tán. Do địch có lực lượng đông, vũ khí hiện đại, ta lại chưa đủ sức ngăn chặn các cuộc càn quét quy mô của địch nên vùng giải phóng bị thu hẹp, nhiều cơ sở bị phá. Quân tình nguyện Việt Nam đã cùng bộ đội Lào Ítxala kiên cường bám địa bàn, bám dân, tích cực chiến đấu chống địch lấn chiếm, tiêu hao, kiềm chế địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại, giữ vững cơ sở, tham gia cùng nhân dân lao động sản xuất.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #51 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2023, 06:58:04 am »

Ở Hạ Lào (gồm 3 tỉnh Chăm Pa xắc, Xalavan và Atôpơ, chiếm 1/6 diện tích nước Lào), với lực lượng gần 1 trung đoàn, được triển khai trên toàn địa bàn, trong đó có hơn 200 cán bộ dân vận, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng bộ đội Ítxala đẩy mạnh chiến tranh du kích chống địch càn quét, giữ vững thế trận của cách mạng. Trên Đường số 13 và vùng Mường Mun, ta và bạn tiến công tiêu diệt đồn Xu Ma Kha cùng một số vị trí khác. Mùa Xuân năm 1952, Đại đội 200 của Liên khu 5 chi viện cho Hạ Lào cùng Đại đội Xaychắccàphắt trá hình giả Tây và ngụy Lào, giữa ban ngày tập kích tiêu diệt đồn Chămpi. Trận đánh thắng giòn giã, mưu trí này đã tạo không khí phấn khởi cho nhân dân Hạ Lào, khiến quân địch khiếp sợ1 (Ban Liên lạc Quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường Hạ Lào - Đông Bắc Campuchia (1948 -1954), (Lưu hành nội bộ), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 182).


Ở Mặt trận Tây Nam của Hạ Lào, đến giữa năm 1951, trước các hoạt động càn quét, khủng bố của địch, các đơn vị vũ trang tuyên truyền của ta phải rút về phía Đông Đường số 13. Trước các hoạt động càn quét ráo riết của địch, các tổ dân vận của ta và bạn đều bị bật khỏi các bản. Lực lượng vũ trang ta và bạn chuyển sang hoạt động với những phương thức uyển chuyển thích hợp, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ trên nhiều phương diện, ngoan cường chiến đấu, khắc phục gian khổ, khó khăn, tạo sức mạnh tổng hợp, từng bước phá tan âm mưu của kẻ thù. Cán bộ ta và bạn bí mật bám dân, bám địa bàn xây dựng cơ sở từ nhỏ đến lớn, từ từng người ra cả bản, bồi dưỡng cốt cán, phát huy tính chủ động sáng tạo của họ, từng bước khôi phục và phát triển cơ sở, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân, từ đấu tranh kinh tế, chính trị bằng hình thức hợp pháp đến nửa hợp pháp, tiến lên tiến hành chiến tranh du kích ngày càng mạnh, giải phóng nhân dân khỏi sự kìm kẹp của địch. Đầu năm 1952, có thêm lực lượng từ Liên khu 5 sang tăng cường, lực lượng ta và bạn ở đây trở lại vùng tạm bị chiếm, tăng cường hoạt động, nhanh chóng khôi phục các vùng cơ sở cũ, phát triển ra các vùng mới, vào sát các vị trí của địch. Phong trào chiến tranh du kích lên cao khiến quân địch phải co lại trong đồn. Các cuộc càn quét lùng sục thưa dần và phạm vi thu hẹp. Quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội Ítxala tiến hành những trận đánh nhỏ lẻ bằng thức tập kích, phục kích, tiến lên tổ chức những trận đánh địch càn quét. Những thắng lợi đó đã mở ra khả năng tiến lên đánh nhiều trận liên kết thành một đợt tác chiến, thành chiến dịch.


Ở Viêng Chăn, đầu năm 1952, trước sự phát triển của phong trào kháng chiến Lào, quân địch hoảng sợ, tập trung lực lượng đánh phá, càn quét dữ dội hòng tiêu diệt lực lượng liên quân Việt - Lào. Ngoài các đồn cũ như Bản Cơn, Phô Nhồng, Thành Gòn, Mường Xa Kỷ..., địch còn tăng cường đóng thêm các đồn Bạn Xang, Tan Piều (Tu La Khôm), Bạ Nhẹ, Bạn Đon (Nặm Tòn) ngay trong vùng kháng chiến của cách mạng Lào. Các hoạt động của địch gây nhiều khó khăn cho kháng chiến Lào, nhất là về lương thực. Các đơn vị bộ đội Lào Ítxala và Quân tình nguyện Việt Nam vẫn kiên trì bám đất, bám dân, tiến hành các trận đánh giáng trả các cuộc tiến công, càn quét của địch.


Trong 2 năm 1951 - 1952, lực lượng bộ đội Ítxala cùng Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào đã phối hợp vừa chống địch càn quét, bảo vệ căn cứ kháng chiến, vừa phải tiến hành các mặt xây dựng và phát triển thực lực cách mạng. Nhờ đó, lực lượng cách mạng ở Lào đã từng bước đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn bình định của địch. Các khu Căn cứ, vùng giải phỏng ở Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào được giữ vững, chính quyền kháng chiến, các đoàn thể cách mạng được củng cố, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ, tạo thế uy hiếp địch ở các vùng chúng kiểm soát, kể cả những nơi sát đô thị. Riêng đoàn 83 đã cùng bạn xây dựng và củng cố 5 căn cứ vùng kháng chiến vững chắc, tạo thế liên hoàn trong toàn tỉnh. Nhiều vùng trước là hậu phương của địch đã chuyển dần thành khu du kích của kháng chiến Lào. Các khu Căn cứ kháng chiến, căn cứ du kích được củng cố và phát triển đóng vai trò thực sự là chỗ dựa quan trọng để cung cấp sức người, sức của cho kháng chiến; đồng thời là bàn đạp để lực lượng kháng chiến tiến công tiêu diệt địch trong các trận đánh lớn trong các chiến dịch quan trọng trên chiến trường Lào.


Nhờ sự giúp đỡ của bộ đội và chuyên gia Việt Nam, đến đầu năm 1952, cách mạng Lào đã xây dựng được lực lượng vũ trang ba thứ quân (gồm đại đội chủ lực của khu, đại đội bộ đội tỉnh, trung đội vũ trang huyện và dân quân, du kích ở bàn, mường). Riêng ở Trung Lào, bạn đã xây dựng được 100 du kích (Ma Hả Xây); 600 du kích và 1 trung đội bộ đội địa phương (Mường Noòng), hơn 1.000 du kích và 2 trung đội bộ đội địa phương. Được sự giúp đỡ của Quân tình nguyện Việt Nam, bộ đội Ítxala cũng đã có bước phát triển, với quy mô tổ chức cao nhất là bộ đội chủ lực khu, đại đội bộ đội tỉnh và trung đội ở huyện.


Ở chiến trường Campuchia, những tháng cuối năm 1951, đầu năm 1952, về cơ bản âm mưu, thủ đoạn của thực dân Pháp vẫn không có gì thay đổi so với thời kỳ trước. Quân Pháp ở đây bị đẩy vào thế phòng ngự, buộc phải điều thêm lực lượng tăng viện, thay đổi thế bố trí, gấp rút xây dựng, phát triển lực lượng quân đội ngụy Campuchia, nhằm từng bước rút quân Pháp cũng như lính Âu - Phi sang chiến trường Bắc Bộ Việt Nam. Vì vậy, hoạt động quân sự chủ yếu của quân Pháp những năm 1951 - 1952 nhằm củng cố những vị trí then chốt, giành giật lại những vị trí đã mất, ngăn chặn bước phát triển toàn diện của phong trào kháng chiến toàn diện Khơme Ítxarắc để rảnh tay đối phó với Quân đội nhân dân Việt Nam ở chiến trường chính Bắc Bộ Việt Nam. Nếu như cuối năm 1949, đầu năm 1950, địch tăng viện 8.000 quân sang chiến trường Campuchia, nâng tổng số lực lượng quân Pháp ở đây lên 20.000 người, trong đó có 4 trung đoàn cơ động, thì đến cuối năm 1951, địch lại điều bớt lực lượng sang chiến trường Bắc Bộ Việt Nam. Lúc này ở Campuchia chi còn lại 2 tiểu đoàn quân Pháp. Tuy vậy, lực lượng quân đội Vương quốc Campuchia lại tăng lên rất nhanh.


Cùng với sự thay đổi về quân số, thực dân Pháp tổ chức bố trí lại chiến trường, chia Campuchia thành 3 khu (Bắc, Trung tâm và Nam). Trong đó, lực lượng mạnh nhất tập trung ở khu Nam, chú trọng đóng chốt tập trung ở các đô thị quan trọng. Các tuyến đường huyết mạch như Đường số 1 (Phnôm Pênh - Batambang), Đường số 13 (Xtung Treng - Crachiê), Đường số 1 Bis (Xiêm Riệp - Côngpông Chàm), Đường số 17 (Campốt - Takeo) và các tuyến đường thủy, bộ từ Phnôm Pênh đi Sài Gòn được quân Pháp tăng cường kiểm soát.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #52 vào lúc: 08 Tháng Sáu, 2023, 06:58:51 am »

Với lực lượng đó, quân Pháp và quân đội Vương quốc Campuchia đẩy mạnh củng cố các vùng đang chiếm giữ, liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, giành lại những địa bàn đã bị mất, ngăn chặn phong trào kháng chiến Khơme Ítxarắc hòng tạo thế chia cắt giữa chiến trường Campuchia với chiến trường Việt Nam và Lào. Địch tập trung quân càn quét vùng Đông Nam, Tây Nam, tung gián điệp và các nhóm vũ trang biệt lập..., tiến công vùng giải phóng của lực lượng kháng chiến Campuchia. Bên cạnh đó, chúng còn lập ra một số nhóm Khơme Ítxarắc giả danh, cát cứ từng địa phương, lập vùng giải phóng giả hiệu để lừa bịp nhân dân, ngăn cản các đơn vị liên quân Việt Nam - Campuchia tiến công quân Pháp ở các tỉnh trung tâm và thành thị.


Dù vậy, những khó khăn, thất bại về quân sự đã khiến chế độ cai trị của thực dân Pháp ở Campuchia lâm vào khó khăn, khủng hoảng. Các lực lượng thân Pháp ở Campuchia cũng có nhiều mâu thuẫn. Lúc này, Xihanúc công khai đòi Pháp trao trả chủ quyền và khôi phục lại "nền độc lập quốc gia" cho Vương quốc Campuchia. Trước những yêu cầu đó, chính quyền Pháp ở Campuchia buộc phải thay đổi sách lược, tỏ ra mềm dẻo hơn, không sử dụng các biện pháp trấn áp trắng trợn đối với các khuynh hướng có tính chất độc lập như trước. Tháng 9 năm 1951, thực dân Pháp tổ chức lại cuộc bầu cử Quốc hội lập hiến ở Campuchia, Đảng Dân chủ giành chiến thắng. Nhân cơ hội đó, thực dân Pháp khoét sâu mâu thuẫn giữa Đảng Dân chủ và Hoàng gia Campuchia.


Về phía cách mạng Campuchia, thực hiện chủ trương Đại hội II Đảng Cộng sản Đông Dương (2.1951), ngày 28 tháng 6 năm 1951, Ban Cán sự Đảng toàn Miên triệu tập Hội nghị cán bộ toàn Miên tại Lơbớt (Campốt), quyết định thành lập Ban Vận động xây dựng Đảng Nhân dân cách mạng Khơme1 (Đại hội lần thứ IV Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia (26 - 29.5.1981) quyết định lấy ngày 28 tháng 6 là Ngày thành lập Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia), hoạt động như Ban Trung ương lâm thời. Đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng Campuchia, ngày 19 tháng 6 năm 1951, tại làng Côngpông Tơrôcông, bộ đội Khơme Ítxarắc được thành lập trên cơ sở thống nhất các đơn vị vũ trang cách mạng trong cả nước Campuchia. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng Campuchia, phản ảnh hiệu quá của bộ đội tình nguyện Việt Nam trong việc giúp đỡ cách mạng Campuchia. Từ lúc này, bộ đội Khơme Itxarắc từng bước trở thành lực lượng vũ trang nòng cốt của cách mạng Campuchia, phối hợp chặt chẽ với Quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia tiếp tục phát triển. Bộ đội Khơme Ítxarắc ngày càng phát triển, "từ 20 trung đội thời kỳ trước, đến năm 1952 bộ đội Khơme Ítxarắc địa phương huyện đã có 69 trung đội"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết hoạt động Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2021, tr. 108).


Đến giữa cuối năm 1951, phong trào cách mạng ở các vùng miền của Campuchia cũng có những bước phát triển mạnh mẽ. Ở Tây Nam Campuchia đã hình thành 4 vùng hay phân khu gồm các huyện, mỗi huyện đều có các đơn vị vũ trang khá mạnh. Tây Campốt gồm 3 huyện, Đông Campốt gồm 4 huyện, mỗi huyện có một đơn vị tương đương trung đội như các đơn vị bộ đội: 126, 129 và 640. Vùng Takeo - Nam Côngpông Xpư có các đơn vị bộ đội: 471, 515 và 620; vùng Bắc Côngpông xpư có bộ đội 305. Cùng với việc kiện toàn lại tổ chức vùng, các đơn vị bộ đội Khơme Ítxarắc phối hợp với Quân tình nguyện Việt Nam liên tục tổ chức các trận đánh, đợt hoạt động quân sự, mở rộng vùng giải phóng, bảo vệ chính quyền, hỗ trợ phong trào đấu tranh của Mặt trận Ítxarắc. Tiêu biểu là đầu năm 1952, Đại đội 160 Quân tình nguyện Việt Nam cùng nhân dân Campuchia chặn đánh 1 đại đội địch khi chúng càn vào xã Ô, huyện Chúc, diệt 1 trung đội, thu nhiều vũ khí các loại và bắt một số tù binh. Tiếp đó, đơn vị phối hợp với bộ đội 640 bảo vệ căn cứ cùng du kích tiến công gây nhiều thương vong cho Tiểu đoàn Âu - Phi càn quét khu Căn cứ kháng chiến ở Tây Nam. Khi tiểu đoàn này rút ra Đường số 17, đến suối Ô Crahon, tiếp tục bị Đại đội 160 cùng Đại đội 180 và 2 trung đội của Đoàn Vận tải xuyên Tây chặn đầu, khóa đuôi, chia cắt đánh thiệt hại nặng. Kết quả của những trận đánh này, Liên quân đã loại khỏi vòng chiến đấu 140 tên địch, thu 1 trung liên, 6 tiểu liên và 15 súng trường.


Ở miền Tây Bắc Campuchia, bộ đội tình nguyện và các đơn vị vũ trang cách mạng Campuchia đã tích cực tiến công địch, bảo vệ vùng giải phóng. Trên địa bàn tỉnh Puốcxát, Đại đội 140 tổ chức đánh địch khi chúng đang đổi quân ở Lếch (1.1952), diệt gọn 3 xe quân sự và 2 trung đội địch, thu toàn bộ vũ khí...


Ở vùng Đông Nam Campuchia, cùng với quá trình tổ chức lại địa bàn, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các ban cán sự vùng thuộc miền, các đơn vị vũ trang Liên quân Việt Nam - Campuchia liên tiếp tổ chức đánh địch, tiêu hao, tiêu diệt quân địch, bảo vệ và mở rộng vùng giải phóng. Cuối năm 1951, thực dân Pháp huy động 8 tiểu đoàn (có 8 xe bọc thép và 4 khẩu pháo lớn) tổ chức cuộc càn quét và đóng chốt trước chùa Krabaora, đồn Kom Chimeát. Các lực lượng kháng chiến Khơme phục kích đánh địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 50 tên địch, trong đó có cả sĩ quan Pháp tham gia chỉ huy cuộc càn.


Ở vùng Đông Bắc Campuchia, tháng 9 năm 1951, Ủy ban Mặt trận Dân tộc giải phóng lâm thời miền Đông Bắc Campuchia được thành lập, thu hút được nhiều nhân sĩ tham gia. Phong trào cách mạng trong vùng đi vào nền nếp và ngày càng phát triển, tạo thành vùng cơ sở liên hoàn rộng lớn. Hệ thống mặt trận Khơme Ítxarắc, chính quyền cách mạng Campuchia từ miền xuống phum, khum từng bước được củng cố. Lực lượng dân quân du kích hình thành ở nhiều nơi, phối hợp với bộ đội Khơme Ítxarắc và Quân tình nguyện Việt Nam đánh địch bảo vệ phum, sóc. Đến tháng 11 năm 1951, Ban Cán sự đã tổ chức chỉnh huấn cho cán bộ phụ trách các đội, các địa phương về đường lối kháng chiến và phương pháp vận động quần chúng... Nhờ đó, phong trào kháng chiến ngày một phát triển vững chắc. Đầu năm 1952, sau một thời gian bị đánh mạnh, quân Pháp ở Xtung Treng phục hồi lại có được lực lượng tăng viện nên đã mở nhiều cuộc hành quân đánh phá vùng căn cứ kháng chiến. Kết hợp với chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp chúng đóng đồn bốt, lập các khu dồn dân, thực hiện "tát cạn nước bắt cá", vừa đàn áp, vừa dụ dỗ mua chuộc, vu khống, xuyên tạc, chia rẽ nội bộ kháng chiến. Các thủ đoạn của địch gây ra nhiều khó khăn tổn thất cho lực lượng kháng chiến. Cán bộ Campuchia sát cánh cùng bộ đội tình nguyện Việt Nam kiên trì bám địa bàn, vận động nhân dân, tuyên truyền giải thích, phục hồi cơ sở. Nhờ đó, đồng bào nhận ra âm mưu, thủ đoạn của địch và nhận ra chân lý, trở lại ủng hộ kháng chiến, cơ sở cách mạng nhờ đó được phục hồi.


Như vậy, những thắng lợi của các lực lượng cách mạng Lào, Campuchia trên các chiến trường nước bạn đã có ảnh hưởng, có vai trò quan trọng tới cục diện chung của chiến trường ba nước Đông Dương, buộc thực dân Pháp phải căng mình, chia quân ra đối phó ở nhiều nơi, không thể tập trung quân tạo những đòn đánh mạnh theo kế hoạch. Những hoạt động tích cực, hiệu quả của các lực lượng kháng chiến ở Lào và Campuchia đã gián tiếp góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình của quân và dân Việt Nam cuối năm 1951, đầu năm 1952 trên chiến trường chính Bắc Bộ. Thắng lợi đó càng khăng định sự đúng đắn trong chủ trương của Đảng nâng quan hệ hợp tác Việt Nam - Lào - Campuchia lên tầm cao mới, phù hợp với sự phát triển của cuộc đấu tranh của ba dân tộc, với đặc điểm của từng nước. Đồng thời, nó cũng làm thất bại âm mưu của Pháp, Mỹ nhằm chia rẽ Đông Dương, biến Đông Dương thành chốt ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô, Trung Quốc và chống lại trào lưu cách mạng lan xuống các nước Đông Nam Á. Những thắng lợi của Liên minh đoàn kết chiến đấu ba nước Đông Dương trong Đông - Xuân 1951 - 1952 cũng như những thắng lợi trong quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp đã càng góp phần khẳng định: Liên minh chiến đấu ba nước Đông Dương là nhân tố đảm bảo thắng lợi của cuộc kháng chiến ở mỗi nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #53 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:00:14 am »

NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG TỪ SAU CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI THU - ĐÔNG 1950 ĐẾN CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Trung tá, TS LÊ VĂN CỬ
Phó Trưởng phòng Lịch sử kháng chiến,
Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


Sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta chuyển sang giai đoạn mới. Phát huy thắng lợi, quân và dân ta liên tiếp mở các chiến dịch tiến công vào trung du và đồng bằng Bắc Bộ nhưng kết quả đều không đạt mục tiêu đề ra. Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp đánh chiếm ra khu vực Hòa Bình - Sông Đà. Trước tình hình đó Trung ương Đảng đứng đâu là Chủ tịch Hô Chi Minh, Tong Quân ủy và Bọ Tổng Tư lệnh quyết định điều chỉnh hướng hoạt động trong Đông - Xuân 1951 - 1952, mở chiến dịch tiến công Hòa Bình. Đó là quyết định thể hiện sự chỉ đạo chiến lược xuất sắc đưa đến thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình. Chặng đường từ sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 đến Chiến dịch Hòa Bình là chặng đường Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục được thử thách trong chiến đấu và trưởng thành nhanh chóng, đặc biệt trong tác chiến tập trung với quy mô ngày càng lớn, tiếp tục duy trì và phát triển thế tiến công chiến lược.


Sau thất bại ở biên giới Việt - Trung trong Thu - Đông 1950, thực dân Pháp bị mất quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ. Trước tình hình đó, Chính phủ Pháp buộc phải dựa vào Mỹ, xin viện trợ Mỹ để tiếp tục cuộc chiến ở Đông Dương, đồng thời triển khai kế hoạch do Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm Cao ủy Pháp ở Đông Dương Đờ Lát đờ Tátxinhi (De Lattre de Tassigny) đề ra: Kế hoạch Đờ Lát. Thực hiện Kế hoạch Đờ Lát, Pháp và chính quyền "Quốc gia Việt Nam" ráo riết bắt lính, tập trung quân cơ động, xây dựng 7 binh đoàn cơ động chiến lược (GM) và 4 tiểu đoàn dù bố trí ở các tỉnh phía Bắc đồng bằng Bắc Bộ. Đến cuối năm 1951, tổng quân số Pháp ở Đông Dương tăng lên 338.000 (trong đó quân Âu - Phi có 128.000 người); tổng quân số của "Quân đội Quốc gia Việt Nam" có 210.000 người (chiếm 62% tổng quân số quân đội Liên hiệp Pháp)1 (Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.447).


Cùng với việc tăng nhanh quân số, thực dân Pháp xúc tiến xây dựng phòng tuyến boongke ở Bắc Bộ gồm 113 vị trí, do 20 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng, kéo dài từ Hòn Gai, Đông Triều, Lục Nam, Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Hà Đông đến Ninh Bình. Ở vành ngoài, chúng triệt hạ làng mạc, dồn dân vào vùng chúng kiểm soát để lập "vành đai trắng". Trên khắp chiến trường từ Bắc đến Nam, chúng liên tiếp tiến hành các cuộc càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang, đánh phá cơ sở, giành dân và phá hoại, cướp đoạt kinh tế, gây cho lực lượng kháng chiến nhiều khó khăn. Chúng còn dốc sức củng cố chính quyền "Quốc gia Việt Nam", lập "hương dũng", "hương đồn", tuyên truyền cho nền "độc lập quốc gia" của Bảo Đại, đề cao Mỹ nhằm lừa gạt dân chúng.


Trong khi đó, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày càng phát triển lớn mạnh về mọi mặt. Sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950, Việt Nam dân chủ cộng hòa được nối thông với Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, được nhiều nước xã hội chủ nghĩa công nhận và giúp đỡ, nhất là Trung Quốc và Liên Xô. Kinh tế, văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế ngày càng phát triển, về quân sự, Quân đội nhân dân Việt Nam có sự trưởng thành vượt bậc. Ngoài 2 đại đoàn được thành lập trước Chiến dịch Biên Giới là Đại đoàn 308 (8.1949) và Đại đoàn 304 (3.1950), từ cuối năm 1950 đến trước khi mở màn Chiến dịch Hòa Bình, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục thành lập thêm 3 đại đoàn bộ binh: 312 (12.1950), 320 (1.1951), 316 (5.1951) và Đại đoàn công pháo 351 (3.1951). Như vậy, trước khi diễn ra Chiến dịch Hòa Bình, Quân đội nhân dân Việt Nam đã có 5 đại đoàn bộ binh chủ lực và 1 đại đoàn công binh, pháo binh. Đây là "những binh đoàn cơ động - quả đấm chiến lược" để thực hiện các chiến dịch lớn, các đợt hoạt động mang tầm chiến lược, tạo chuyển biến trên chiến trường có lợi cho ta, bất lợi cho đối phương. Tổng quân số chủ lực của ta tính đến cuối năm 1951 là 253.270 người1 (Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 308). Bên cạnh các đại đoàn chủ lực còn có các trung đoàn, tiểu đoàn bộ đội địa phương của các liên khu, các tỉnh. Tuy nhiên, vùng trung du, đồng bằng đông người, nhiều của vẫn nằm trong vùng kiểm soát của Pháp. Tác chiến tập trung được đẩy mạnh một bước, nhưng chiến tranh du kích tại vùng địch hậu chậm phát triển, một số nơi gặp khó khăn, nhất là ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.


Trước tình hình trên, nhằm đẩy mạnh cuộc kháng chiến phát triển hơn nữa, từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951, Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II được triệu tập. Đại hội xác định nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng Việt Nam lúc này là "tiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mỹ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn, bảo vệ hòa bình thế giới"2 (Đảng Cộng sán Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 32-33), về quân sự, Đại hội chỉ ra nhiệm vụ phải tích cực xây dựng bộ đội chính quy, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích; coi trọng giáo dục bản chất cách mạng đi đôi với chấn chỉnh về tổ chức biên chế, tăng cường kỷ luật, không ngừng rèn luyện về kỹ thuật, chiến thuật. Phương châm tác chiến vẫn là lấy du kích chiến làm chính, vận động chiến làm phụ, nhưng phải đẩy mạnh vận động chiến tiến lên, làm cho vận động chiến tiến tới giữ địa vị chủ yếu.


Phát huy thắng lợi sau Chiến dịch Biên Giới, ta quyết tâm giữ vững và phát huy quyền chủ động chiến lược. Chủ trương của ta lúc này là, nhân lúc địch đang hoang mang sau thất bại ở biên giới và chưa kịp củng cố hệ thống phòng ngự chiến lược của chúng ở cửa ngõ đồng bằng, ta tranh thủ phát triển tiến công tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên địa bàn trung du và đồng bằng, làm thay đổi cục diện chiến trường, tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ. Vì vậy, ta liên tiếp mở 3 chiến dịch lớn do Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy, tiến công địch ở hướng trung du và đồng bằng Bắc Bộ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #54 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:01:15 am »

Chiến dịch Trần Hưng Đạo (Chiến dịch Trung Du) diễn ra từ ngày 25 tháng 12 năm 1950 đến ngày 17 tháng I năm 1951, tiến công vào phòng tuyến của quân Pháp ở vùng trung du Bắc Bộ từ Đông Việt Trì, Vĩnh Yên, Phúc Yên đến Tây sông Cầu. Lực lượng tham gia gồm 2 đại đoàn 308 và 312, 4 liên đội sơn pháo 75mm (Trung đoàn 675), 4 tiểu đoàn địa phương và dân quân du kích, có sự phối hợp hoạt động tác chiến của lực lượng vũ trang vùng duyên hải Đông Bắc và đồng bằng Sông Hồng, về cách đánh chiến dịch, ta chủ trương kết hợp đánh vận động với đánh công kiên, đánh điểm, diệt viện (lấy diệt viện làm chính). Tranh thủ yếu tố bí mật, bất ngờ, sử dụng từng tiểu đoàn bôn tập, tiến công đồng loạt, tiêu diệt một số cứ điểm đột xuất nhằm khơi ngòi, kéo viện; tập trung lực lượng thích hợp để diệt viện tại khu vực dự kiến.


Đợt 1 chiến dịch diễn ra từ ngày 25 đến ngày 29 tháng 12 năm 1950, mở đầu bằng chặn đánh cuộc hành quân Bêcatxin của Pháp vào khu vực tập kết của ta ở Xuân Trạch - Liễn Sơn, buộc địch phải co về thị xã Vĩnh Yên. Đêm 26 và 27 tháng 12, ta vận động bao vây, tiến công diệt 5 cứ điểm kiên cố: Hữu Bằng, Tú Tạo, đồi Cà Phê, Yên Phụ, Thằn Lằn, nhưng đánh các cứ điểm Chợ Thá, Chợ Vàng không thành công. Địch tăng cường phòng thủ Vĩnh Yên.


Đợt 2 diễn ra từ ngày 30 tháng 12 năm 1950 đến ngày 18 tháng 1 năm 1951. Vận dụng phương châm "đánh điểm diệt viện", ta tiến công diệt cứ điểm Ba Huyên (14.1.1951), chặn đánh quân ứng cứu ở Thanh Vân - Đạo Tú, truy kích địch tới thị xã Vĩnh Yên và bao vây thị xã. Tuy nhiên, quân Pháp tiếp tục đưa lực lượng cơ động có máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc hành quân giải tỏa, đánh chiếm Núi Đanh. Sau 2 ngày chiến đấu giành giật các điểm cao phía Bắc Vĩnh Yên trong điều kiện hỏa lực phi pháo áp đảo của địch (lần đầu tiên địch sử dụng bom napan), bộ đội gặp khó khăn và tổn thất, Bộ Chỉ huy quyết định kết thúc chiến dịch. Kết quả, ta loại khỏi chiến đấu khoảng 5.000 địch, giải phóng vùng Bắc Vĩnh Yên và một phần Phúc Yên1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 202).


Chiến dịch Trần Hưng Đạo đánh dấu bước trưởng thành quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam cả về đánh địch trong công sự vững chắc và đánh địch ngoài công sự, cả đánh đêm và đánh ngày trên địa hình trống trải, địch có điều kiện phát huy mặt mạnh về hoả lực không quân, pháo binh và khả năng cơ động. Lần đầu tiên, trên địa hình trống trải, bộ đội ta tiêu diệt được 10 cứ điểm có trên dưới 1 đại đội địch chiếm giữ. Trong chiến dịch, ta đã vận dụng thành công chiến thuật đánh vận động để tiêu diệt các cứ điểm nhỏ, thực hiện tốt phương châm đánh điểm, vây điểm để diệt viện, lấy diệt viện làm chính. Tuy nhiên, bộ đội thương vong nhiều do lần đầu tiên phải đối mặt với hỏa lực dày đặc và quân cơ động ứng chiến nhanh của địch trong một chiến dịch tiến công trên địa hình trung du. Quân ta hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch nhưng chưa hoàn thành nhiệm vụ hỗ trợ cho vùng sau lưng địch phát động chiến tranh du kích.


Sau Chiến dịch Trần Hưng Đạo, Tổng Quân ủy nhận định địch sẽ khẩn trương củng cố vùng tạm chiếm và nhất là triển khai kế hoạch xây dựng phòng tuyến boongke vây quanh đồng bằng Bắc Bộ. Trên cơ sở đó, Tổng Quân ủy đề xuất mở chiến dịch Hoàng Hoa Thám tiến công vào tuyến phòng thủ Đường số 18 của quân Pháp từ Bãi Thảo đến Uông Bí, dài 50km, nhằm tiêu diệt sinh lực, phá vỡ chủ trương "phòng thủ và cân bằng lực lượng" của địch, phát triển chiến tranh du kích trên chiến trường Đông Bắc Bắc Bộ.


Lực lượng tham gia gồm 2 đại đoàn 308 và 312, 2 trung đoàn độc lập 98 và 174, 4 liên đội sơn pháo 75mm thuộc Trung đoàn 675, 2 tiểu đoàn công binh và lực lượng vũ trang địa phương. Hướng phối hợp có các đại đoàn 304 và 320 hoạt động kìm chân địch ở Vĩnh Phúc, Hà Đông, Hà Nam. Đường số 18 là địa bàn xung yếu trên hướng Đông Bắc, địa hình trung du xen lẫn rừng núi nên Tổng Quân ủy dự kiến quân ta có điều kiện "đánh điểm, diệt viện".


Chiến dịch Hoàng Hoa Thám diễn ra từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 7 tháng 4 năm 1951, với 2 đợt chiến đấu. Đợt 1 từ ngày 23 đến ngày 31 tháng 3, thực hiện phương pháp tác chiến "đánh điểm, diệt viện", ta tiến cộng diệt 5 vị trí: Lán Tháp, Lọc Nước, Máng Nước, Sống Trâu, Chấp Khê ở phía Bắc và Đông Nam Uông Bí để khêu ngòi nhử viện. Tuy nhiên, chờ 3 ngày địch không ra, ta tiếp tục diệt các cứ điểm Bí Chợ, Tràng Bạch và chuẩn bị tiến công Uông Bí. Bị cô lập và uy hiếp, quân Pháp ở Uông Bí rút chạy về Quảng Yên theo Đường số 18, nhưng ta không kịp chặn đánh. Đêm 29 và 30 tháng 3, quân ta tiến công các cứ điểm Mạo Khê Mỏ, Mạo Khê Phố không thành công, phải lui quân với thương vong cao do hai vị trí đều đã được tăng cường, bị bom napan và đạn pháo của hạm đội địch từ sông Đá Bạc ngăn chặn. Kết thúc đợt 1, ta mở được khoảng 30km trên tuyến Mạo Khê - Biểu Nghi nhưng không thực hiện được "đánh điểm, diệt viện".


Đợt 2 diễn ra từ ngày 1 đến ngày 7 tháng 4 năm 1951. Lúc này, địch tăng cường lực lượng phòng giữ Đông Triều, Phả Lại. Ta chủ trương chuyển hướng sang Đông Bắc Phả Lại, nhưng cả 4 trận tiến công các cứ điểm Bãi Thảo, Bến Tắm, Hoàng Gián, Hạ Chiểu đều không thành công, bị thương vong nhiều do hỏa lực pháo binh địch từ Đông Triều và từ phía sông Đá Bạc bắn chặn. Trước tình thế bất lợi, Bộ Chỉ huy phải kết thúc chiến dịch.


Kết quả chiến dịch, quân ta đã loại khỏi chiến đấu hơn 1.300 địch nhưng không đạt mục tiêu đề ra1 (Bộ Quốc phòng - Trung tâm Từ điển Bách khoa quân sự, Từ điển Bách khoa quản sự Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 177). Theo đồng chí Lê Trọng Tấn, "Chiến dịch Hoàng Hoa Thám là một chiến dịch không thành công. Mục đích chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch hay là thay đổi cục diện chiến trường, không rõ. Cả 3 đại đoàn đều không hoàn thành nhiệm vụ. Ta mở chiến dịch trong tình hình chưa có chuẩn bị đầy đủ về địa hình, nhất là về hậu cần. Các đơn vị đều thương vong cao, không hoàn thành nhiệm vụ"1 (Lê Trọng Tấn, Từ Đồng Quan đến Điện Biên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 176-177).


Kết thúc Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, ta quyết định mở thêm một chiến dịch nhằm tiếp tục đẩy mạnh thế tiến công chiến lược, đồng thời hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của nhân dân vùng sau lưng địch. Trong buổi họp ngày 20 tháng 4 năm 1951, Trung ương quyết định mở Chiến dịch Quang Trung (Chiến dịch Hà Nam Ninh) trên địa bàn Hà Nam Ninh, tiến công vào phòng tuyến sông Đáy của quân Pháp từ Nam Phủ Lý (Hà Nam) đến Yên Mô (Ninh Bình). Mục đích của chiến dịch nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá tan khối ngụy quân, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tranh thủ nhân dân (phần lớn là đồng bào công giáo). Lực lượng tham gia gồm 3 đại đoàn: 308, 304 và 320; 5 đại đội sơn pháo, 1 trung đoàn công binh và các lực lượng vũ trang địa phương. Phối hợp với chiến dịch, các lực lượng vũ trang ở phía tả ngạn sông Hồng như Hưng Yên, Thái Bình đẩy mạnh hoạt động. Phương pháp tác chiến chiến dịch là "đánh điểm, diệt viện", nhưng do đặc điểm chiến trường và tình hình có thể chuyển biến nhanh nên lúc đầu chủ yếu là đánh điểm, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng để chuyển sang đánh viện cả trên bộ, trên sông và quân dù.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #55 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:02:10 am »

Chiến dịch Quang Trung diễn ra từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 20 tháng 6 năm 1951, với 2 đợt chiến đấu. Đợt 1, từ ngày 28 đến ngày 31 tháng 5, trên hướng Ninh Bình (hướng chính), bộ đội tiến công vào thị xã, diệt địch ở nhà thờ Đại Phong, các cứ điểm Non Nước, Gối Hạc; diệt 6 cứ điểm nhỏ ở khu vực Yên Mô - Yên Khánh, đánh địch ở Chùa Hữu, Yên Thịnh rút chạy. Trên hướng Nam Hà Đông, ta diệt 3 cứ điểm, đánh viện trên đoạn Đoan Vỹ - Mai Cầu - Kinh Đông. Tuy nhiên, trong đợt I, ta đánh một số cứ điểm không thành công như: Lan Khê, Chùa Cao, Kỳ Cầu. Đối phó với cuộc tiến công của ta, Pháp đưa lực lượng từ Nam Định sang phản kích và tăng cường phòng thủ các trọng điểm: Thị xã Ninh Bình, Phủ Lý, Hoàng Đan.


Đợt 2, diễn ra từ ngày 1 đến ngày 20 tháng 6, ta tiến công cứ điểm Chùa Cao (lần 2) không thành công; đánh các cứ điểm Cầu Bút, Ngọc Cầm không diệt gọn; bức hàng vị trí Núi Sậu và đánh viện trên đoạn Ninh Bình - Yên Phú. Trong khi đó, quân Pháp tiếp tục tăng viện cho các trọng điểm, dùng hỏa lực pháo binh, không quân tiêu hao lực lượng ta và càn quét một số nơi. Trước tình hình đó, từ ngày 8 tháng 6, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương mỗi đại đoàn để lại 1 trung đoàn cùng lực lượng vũ trang địa phương chống địch càn quét, củng cố cơ sở, giúp dân thu hoạch mùa màng; bộ phận còn lại lui về phía sau củng cố lực lượng. Trên hướng Nam Hà Đông, Hà Nam, ta diệt vị trí Phúc Lâm, tập kích địch ở Mai Câu. Ngày 19 tháng 6, địch tập trung càn quét lớn vào khu vực Chợ Cháy (Nam Hà Đông), bị 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 48 cùng lực lượng vũ trang địa phương chặn đánh quyết liệt, loại khỏi vòng chiến đấu gần 400 quân địch rồi rút khỏi vòng vây.


Ngày 20 tháng 6, Chiến dịch Quang Trung kết thúc, ta loại khỏi vòng chiến đấu hơn 4.000 quân địch (40% là lính Âu - Phi), tiêu diệt và bức rút 23 đồn bốt; thu hơn 1.000 súng các loại, 18 máy vô tuyến điện, vũ khí quân dụng đủ trang bị cho một trung đoàn; phá huỷ 16 xe quân sự, đánh chìm, đánh hỏng 5 tàu và ca nô địch1 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyên 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Quang Trung (Chiến dịch Hà Nam Ninh, 28.5 - 20.6.1951)).


Nét đặc sắc của Chiến dịch Quang Trung là lần đầu tiên quân ta tiêu diệt được quân địch trong một thị xã và tiêu diệt được 4 đại đội địch trong công sự vững chắc; có phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa nội tuyến (phòng tuyến Sông Đáy) với ngoại tuyến (tả ngạn Sông Hồng). Đây là kinh nghiệm quý trong chiến đấu công kiên cũng như mở ra khả năng thực hiện sự phối hợp giữa hai mặt trận phía trước và vùng sau lưng địch sau này. Tuy nhiên, quân ta không hoàn thành nhiệm vụ cả về tiêu diệt địch và giải phóng đất đai. Nhiệm vụ hỗ trợ phong trào chiến tranh du kích, vận động ngụy quân và tranh thủ nhân dân chưa đạt kết quả mong muốn. Nguyên nhân về chiến lược là ta chọn hướng tiến công không phù hợp, địch dựa vào hỏa lực, phi pháo, tận dụng địa hình đồng bằng thuận lợi và phương tiện cơ động nhanh để tăng viện, mau chóng làm thay đổi so sánh lực lượng và thế trận chiến dịch. Nghệ thuật điều hành chiến dịch đã không tạo được điều kiện để bộ đội khắc phục những yếu kém đã mắc phải trong 2 chiến dịch Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám trước đó.


Như vậy, lần đầu tiên trong vòng khoảng nửa năm (từ tháng 12.1950 đến tháng 6.1951), ta tiến hành liên tiếp 3 chiến dịch quy mô nhiều đại đoàn chủ lực, kết hợp đánh vận động và đánh trận địa trên chiến trường trung du và đồng bằng Bắc Bộ, đối mặt cả ngày và đêm với các binh đoàn cơ động (GM) và quân dù của địch cả trên bộ và trên sông. Cũng là lần đầu tiên, cấp chiến lược chỉ đạo phối hợp giữa ba thứ quân trên quy mô nhiều liên khu, giữa chủ lực tiến công trên hướng chính của chiến dịch với các lực lượng vũ trang địa phương diệt tề trừ gian và chống càn quét trong vùng sau lưng địch. Bước tiến bộ nổi bật của bộ đội ta thể hiện trong trận diệt địch chiếm đóng một thị xã (Ninh Bình) trong Chiến dịch Quang Trung Hày các trận đánh địch cơ động ở Xuân Trạch (Vĩnh Phúc) trong Chiến dịch Trần Hưng Đạo. Cùng với tiêu diệt sinh lực địch (khoảng 10.000 tên, trong đó một nửa là quân cơ động ứng chiến)1 (Trần Trọng Trung, Bài học chỉ đạo chiến lược - chiến dịch Xuân - Hè năm 1951, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 7.2011, tr. 11) và một số trang bị chiến lợi phẩm thu được, ta đã làm thất bại cuộc hành binh càn quét quy mô lớn của địch (hành quân "Chim dẽ giun" (Bécassine) và làm chậm kế hoạch củng cố của địch trên chiến trường chính Bắc Bộ trong nửa đầu năm 1951.


Tuy nhiên, cả 3 chiến dịch đều không hoàn thành nhiệm vụ chiến lược đề ra. Sự chỉ đạo tác chiến chiến lược không tạo điều kiện cho nghệ thuật chiến dịch phát triển kể từ Chiến dịch Biên Giới 1950. Về chỉ đạo chiến lược, ta đã đánh giá không đúng so sánh lực lượng giữa ta và địch sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950: Đánh giá ta quá cao, đánh giá địch quá thấp, về chiến dịch, nổi lên là thiếu sót về vận dụng cách đánh. Phương châm "đánh điểm, diệt viện" là đúng nhưng bộ đội quá chú trọng đánh điểm mà không nhận thức đầy đủ nhiệm vụ đánh địch ngoài công sự. Về nghệ thuật chọn mục tiêu (đánh điểm) mở màn chiến dịch, ta đã chọn mục tiêu quá nhiều dẫn tới kết quả, hoặc là không dứt điểm được, hoặc là mục tiêu không đủ sức thu hút viện binh địch. "Cấp chiến dịch đã không bảo đảm các yếu tố chắc thắng trong các trận tiến công cứ điểm"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong 30 năm chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ (1945 - 1975), Tập I: Trong kháng chiến chống Pháp (1945 -1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 153), không vận dụng được những kinh nghiệm chỉ đạo, chỉ huy bảo đảm chắc thắng, nhất là thắng trận đầu như Đông Khê trong Chiến dịch Biên Giới 1950.


Chính vì về tư tưởng chiến thuật, phương châm "đánh điểm, diệt viện" quán triệt không đầy đủ; về nghệ thuật chiến dịch, không cài được thế hiểm, bộ đội bố trí xa đường tiến quân của địch; về chỉ huy tác chiến, nắm tình huống không sát và nắm quân không chặt (bộ đội ngủ, không cảnh giới...) nên bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh viện, kể cả có lần viện binh lớn xuất hiện. Bởi vậy, không tạo nên bước ngoặt phát triển chiến dịch có lợi cho ta.


Sau 3 chiến dịch đều không hoàn thành nhiệm vụ đề ra, quân và dân ta trong vùng địch tạm chiếm, vùng du kích vẫn gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở kháng chiến bị vỡ. Trong Đông - Xuân 1951 - 1952, Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương điều động một số trung đoàn vào hoạt động vùng sau lưng địch ở Trung du và đồng bằng sông Hồng. Thời gian hoạt động dự định vào giữa tháng 12 năm 1951. Ngày 10 tháng 11 năm 1951, Bộ Chỉ huy Tiền phương của Bộ lên đường làm công tác chuẩn bị mở Chiến dịch ở Liên khu 3.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #56 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:03:04 am »

Trong khi ta đang triển khai kế hoạch hoạt động trong Đông - Xuân 1951-1952 thì quân Pháp bất ngờ tiến quân đánh chiếm Hòa Bình và tổ chức phòng ngự thành 2 phân khu: Phân khu Sông Đà - Ba Vì (khu Bắc) và Phân khu Hoà Bình - Đường số 6 (khu Nam). Ngoài ra, quân Pháp tổ chức Phân khu Chợ Bến là tiền đồn phía Đông bảo vệ Hoà Bình.


Đánh giá tình hình và âm mưu địch, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy nhận định địch đánh ra Hoà Bình là một cơ hội hiếm có để ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Từ nhận định trên, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn trên hai mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hoà Bình đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Lực lượng tham gia gồm 3 đại đoàn bộ binh: 308, 312 và 304, Đại đoàn công pháo 351 và lực lượng vũ trang địa phương, ở hướng phối hợp, 2 đại đoàn 316, 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm ở đồng bằng Bắc Bộ, cùng lực lượng vũ trang địa phương đánh địch, hỗ trợ nhân dân nổi dậy, phá tề, trừ gian, mở rộng khu du kích.


Sau hơn 2 tháng với 3 đợt chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), ở mặt trận Hoà Bình, các đơn vị chủ lực cùng lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân trên địa bàn đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá huỷ 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại; giải phóng khu vực Hoà Bình - sông Đà gồm 2.000km2 với 20.000 dân, giữ vững đường giao thông chiến lược giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4; đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng vùng chiếm đóng và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp. Ở mặt trận địch hậu, các lực lượng vũ trang và đông đảo nhân dân đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 địch, thu hơn 6.000 súng các loại, 10 khẩu pháo, 41 máy vô tuyến điện, giải phóng 4.000km2 với khoảng 2 triệu dân, mở rộng nhiều khu du kích và căn cứ du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm, phối hợp và hỗ trợ cho mặt trận chính Hoà Bình giành thắng lợi1 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1: Lịch sử quân sự, CD phiên bản 1.0, năm 2015, mục từ: Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952)). Nhiều khu du kích liên huyện, liên tỉnh ra đời, tạo thành thế liên hoàn từ Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh qua Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, Sơn Tây. Kết quả bình định đồng bằng Bắc Bộ theo Kế hoạch Đờ Lát của thực dân Pháp cơ bản bị phá vỡ.


Như vậy, trải qua hơn 6 năm tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp, đến đầu năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình là chiến dịch đã gây cho địch tổn thất lớn nhất cả về binh lực, phương tiện chiến tranh, vị trí đóng quân ở cả mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Quân và dân Việt Nam "đã giành nhiều thắng lợi cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất, giải phóng dân, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta trong vùng địch tạm chiếm ở Trung du và đồng bằng Bắc Bộ"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12-1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6).


Qua sự chỉ đạo, chỉ huy và thực hành Chiến dịch Hòa Bình, có thể thấy bước phát triển vượt bậc về nghệ thuật quân sự. Về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch, Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã đánh giá đúng địch, chọn hướng tiến công chính xác, kịp thời chuyển hướng cho phù hợp với tình hình mới, đồng thời có sự lãnh đạo sâu sát trong toàn bộ chiến dịch. Trên cơ sở đó, Bộ Chỉ huy Chiến dịch đã xác định và vận dụng chính xác phương châm và tư tưởng chỉ đạo tác chiến trong suốt quá trình tổ chức chỉ huy thục hành chiến địch, đó là: Nắm vững và kiên trì vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" tập trung đánh giao thông trên sông, trên bộ, khoét sâu khó khăn của địch về vận tải tiếp tế, dồn địch vào thế bị bao vây, cô lập, tổ chức, sử dụng lực lượng thích hợp, bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày trên phạm vi chiến trường rộng lớn.


Về vận dụng chiến thuật, các đơn vị chủ lực đã vận dụng đúng nguyên tắc tập trung ưu thế về binh lực, thực hiện bao vây chia cắt, tiêu diệt địch. Trên hướng chính diện Mặt trận Hòa Bình, ngoài đánh công kiên và đánh chính diện như các chiến dịch trước, lần này bộ đội phát triển nhiều cách đánh mới như đánh địch vận chuyển trên sông, dùng lực lượng ít nhưng tinh nhuệ tập kích tiêu diệt các điểm cao và trận địa pháo của địch, v.v... Riêng với hình thức chiến thuật công kiên, chiến thắng Tu Vũ đã khẳng định bước trưởng thành lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, mở ra khả năng đánh tiêu diệt quân địch phòng ngự trong công sự vững chắc với hình thức cụm cứ điểm có tiểu đoàn tăng cường có xe tăng, pháo binh chi viện. "Từ Tu Vũ và Chiến dịch Hòa Bình đã hình thành những tư tưởng giúp chúng ta tiến đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bài học trí tuệ đổi mới, dân chủ, đoàn kết trong trận Tu Vũ, trong sách: Chiến thắng Tu Vũ 10.12.1951, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 18), ở hướng phối hợp, các đơn vị thực hiện "đánh điểm diệt viện", vây điểm diệt viện kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn, tiến công và nổi dậy của quần chúng.


Chiến dịch Hòa Bình là kết quả của nghệ thuật chiến tranh nhân dân đặc sắc. Cả ba thứ quân của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã đồng loạt tiến công, liên tục chiến đấu dài ngày trên một chiến trường rộng lớn, có sự phối hợp, hỗ trợ rất lớn của đông đảo quần chúng nhân dân với nhiều cách đánh linh hoạt, sáng tạo trên cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Tuy nhiên, trong tổ chức, điều hành chiến dịch cũng bộc lộ những nhược điểm, thiếu sót, nổi lên là có lúc tác phong chỉ huy thiếu chu đáo, cụ thể, khiến một số trận đánh điểm không thành công thương vong cao, bỏ lỡ nhiều thời cơ đánh địch vận động và không thực hiện được tiêu diệt lớn quân địch rút chạy. Mặc dù vậy, thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chính Bắc Bộ có lợi cho ta và đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhất là nghệ thuật chiến dịch phát triển lên một bước mới cao hơn.


Nhìn lại chặng đường chiến đấu của quân và dân ta từ sau Chiến thắng Biên Giới - Thu Đông 1950 đến Chiến dịch Hòa Bình, có thể thấy đó là quá trình rèn luyện, thử thách và không ngừng phát triển, đặc biệt là về chỉ đạo chiến lược và nghệ thuật chiến dịch. Trải qua 3 chiến dịch không đạt mục đích chiến lược đề ra, quân và dân ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu và làm nên thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình, tạo nên bước chuyển biến mới về cục diện chiến trường, làm cơ sở để quân và dân ta tiếp tục tiến lên giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa, đi đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #57 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:07:06 am »

Phần thứ hai
CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH - THÀNH CÔNG XUẤT SẮC VỀ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG

ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC TỈNH HÒA BÌNH GÓP PHẦN VÀO THẮNG LỢI CỦA CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Đồng chí BÙI VĂN KHÁNH
Phó Bí thư Tỉnh ủy,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình


Cách đây 70 năm, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tài tình về nghệ thuật quân sự của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân tỉnh Hòa Bình đã đoàn kết một lòng, anh đũng chiến đấu, góp phần làm nên chiến thắng to lớn trong Đông - Xuân 1951 - 1952.


Sau khi quân Pháp tập trung lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình. Tiếp đó, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 22-CT/TƯ đề ra nhiệm vụ phá cuộc tiến công Hòa Bình của địch, nêu rõ, đây là "cơ hội tốt đề ta đánh địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 597).


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và Liên khu ủy 3, trong 2 ngày 23 và 24 tháng 11 năm 1951, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hòa Bình đã họp và đề ra nhiệm vụ trọng tâm phục vụ chiến dịch là: Tận dụng mọi khả năng, mọi lực lượng tuyên truyền, phân tích âm mưu tái chiếm Hòa Bình của địch, những khó khăn địch vấp phải, triển vọng chiến thắng của ta, động viên nhân dân đóng góp sức người, sức của phục vụ chiến đấu; đẩy mạnh công tác địch vận, ngụy vận, coi đây là một trọng tâm công tác. Về công tác quân sự, lấy xây dựng du kích là chính, nâng cao chất lượng bộ đội địa phương. Hai đồng chí tỉnh ủy viên được phân công chịu trách nhiệm chỉ đạo các mặt hoạt động cụ thể phục vụ chiến dịch. Việc huy động nhân lực được giao cho Ban Dân công tỉnh chịu trách nhiệm. Tỉnh Đoàn thanh niên Cứu quốc đảm đương việc huy động nam, nữ thanh niên phục vụ công tác quân y.


Ngay sau Hội nghị, được sự chỉ đạo của Thường vụ Tỉnh ủy, Mặt trận Liên Việt tỉnh đã triệu tập "Hội nghị nhân dân bàn về chống giặc". Gần 200 đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân, trong đó có nhiều thân hào, thân sĩ từ nhiều huyện, nhiều vùng trong tỉnh đã về dự Hội nghị tại xã Đại Đồng (Lạc Sơn). Hội nghị chỉ rõ khả năng của quân ta, chỗ yếu và thất bại không thể tránh khỏi của địch, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.


Ngày 9 tháng 12 năm 1951, Thường vụ Tỉnh ủy phát động cuộc thi đua lập công với ba nội dung: Phát triển chiến tranh du kích, thi đua giết giặc lập công; đẩy mạnh địch, ngụy vận, tích cực phục vụ tiền tuyến. Bộ đội địa phương (trừ Tiểu đoàn 616 hoạt động tập trung) đều phân tán về cơ sở làm nhiệm vụ củng cố, dìu dắt dân quân du kích hoạt động.


Thực hiện kế hoạch phối hợp giữa Ban Chỉ huy Mặt trận với địa phương, ngày 3 tháng 1 năm 1952, Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy mở rộng quyết định những công việc cần làm ngay: Đưa nhân dân quanh vị trí chiếm đóng của địch sơ tán ra vùng tự do; tăng cường lực lượng dân công, vận chuyển gấp lương thực phục vụ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương; đẩy mạnh địch vận, thực hiện gây nhân mối, vận động đông đảo nhân dân tham gia công tác địch vận, tuyên truyền chiến thắng, vận động toàn dân tham gia phục vụ chiến dịch. Thường vụ Tỉnh ủy xác định hướng địa bàn công tác chính là Đường số 6 và khu vực xung quanh thị xã, yêu cầu các huyện (trừ huyện Lạc Sơn), các ban, ngành phải tăng cường thêm cán bộ cho các địa bàn trên.


Sau Hội nghị, hàng trăm cán bộ được huy động tăng cường cho khu vực thị xã Hòa Bình và Đường số 6 giúp các xã xây dựng cơ sở phá tề, làm công tác địch vận, vận động nhân dân quanh các vị trí địch tạm chiếm triệt để sơ tán lên rừng, hình thành các tuyến trắng, bao vây, triệt mọi nguồn tiếp tế lương thực, thực phẩm của địch. Các đơn vị bộ đội tỉnh phối hợp cùng bộ đội chủ lực liên tiếp phục kích, chống càn quét, quấy rối, tập kích các vị trí địch. Các đại đội 121 (Lương Sơn), 16 (Kỳ Sơn), 116 (Mai Đà), 112 (Lạc Sơn) và Tiểu đoàn 616 phân tán về các xã củng cố, xây dựng lực lượng dân quân du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng bị uy hiếp và vùng địch chiếm đóng lên cao độ. Ban Địch vận các cấp phối hợp cùng các đoàn thể, các lực lượng ráo riết thực hiện với nhiều hình thức: In và phát hành hàng nghìn bức thư của Bác Hồ gửi anh em ngụy binh, thông báo của Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh về việc thi hành chính sách khoan hồng của Chính phủ, Bác Hồ đối với những người lầm đường theo giặc trở về với nhân dân...


Nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền tin chiến thắng, động viên, giáo dục nhân dân đoàn kết đấu tranh chống giặc, Thường vụ Tỉnh ủy quyết định từ tháng 1 năm 1952, tờ "Toàn Thắng" sẽ ra hằng tháng, tăng từ 2 trang lên 4 trang, nâng số lượng phát hành lên 2.000 tờ mỗi kỳ. Tờ báo do Ban Tuyên huấn tỉnh chịu trách nhiệm biên tập, phát hành và hướng dẫn sử dụng làm tài liệu chính tuyên truyền trong Đảng bộ và nhân dân.


Các ngành từ Thông tin tuyên truyền, Công an, Giao thông đến Chi sở mậu dịch, từ Mặt trận Liên Việt đến Đoàn Thanh niên Hội Phụ nữ, Nông hội... đã huy động mọi lực lượng của mình tham gia phục vụ chiến đấu với tinh thần tất cả cho chiến đấu, tất cả cho chiến thắng. Toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh ra quân với tinh thần phấn khởi, với khí thế khẩn trương, sôi động chưa từng có. Nhân đân các dân tộc trong tỉnh đã thể hiện tinh thần không tiếc sức người, sức của cho chiến thắng. Đảng bộ, quân dân tỉnh Hòa Bình đã tiếp nhận và phân phối đến các đơn vị ngoài mặt trận hàng trăm tấn lương thực, vũ khí, đạn dược đảm bảo cho bộ đội ăn no, đánh thắng. Trong vòng hơn 100 ngày tham gia phục vụ chiến dịch, nhân dân các dân tộc trong tinh đã huy động 200.000 ngày công phục vụ công tác vận chuyển, ủng hộ bộ đội 323 con bò, 200 con lợn, hàng nghìn cây tre, bương... để dựng lán trại, làm hàng trăm bè mảng giúp bộ đội vượt sông, suối...


Phối hợp chặt chẽ cùng các đơn vị chủ lực, quân và dân Hòa Bình đã chiến đấu anh dũng góp phần vào thắng lợi của chiến dịch. Đến ngày 23 tháng 2 năm 1952, tỉnh Hòa Bình hoàn toàn được giải phóng. Một lần nữa, Hòa Bình là nơi ghi đậm dấu ấn thất bại thảm hại của quân đội viễn chinh Pháp!


Chiến dịch Hòa Bình đã đập tan kế hoạch chiếm đóng, âm mưu dựng lại "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp trên đất Hòa Bình; giải phóng 5.000km2 đất đai khu vực Hòa Bình - sông Đà với gần 2 triệu dân; giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4; góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch; làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp.


Kể từ ngày đầu kháng chiến, số binh lực bị tiêu diệt và tan rã trong Chiến dịch Hòa Bình là thiệt hại cao nhất của Pháp qua một chiến dịch. Toàn chiến dịch, ta tiêu diệt 6.012 tên địch, 156 xe các loại, 17 tàu chiến, ca nô, 24 đại bác, 9 máy bay cùng nhiều phương tiện chiến tranh khác.


Nhìn lại chặng đường 70 năm, từ chiến thắng của Chiến dịch Hòa Bình đến nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình có quyền tự hào trước diện mạo ngày càng đổi mới của quê hương. Từ một trong những tinh cực kỳ khó khăn, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, trình độ dân trí thấp, nền kinh tế chủ yếu là nông - lâm nghiệp và còn mang nặng tính tự cấp, tự túc, công nghiệp, thương mại, dịch vụ chưa phát triển, đến nay, nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đoàn kết, phấn đấu đạt được nhiều kết quả đáng tự hào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #58 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:07:54 am »

Trong nhiệm kỳ 2015 - 2020, kinh tế của tỉnh duy trì được tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân hằng năm đạt 7,59%; quy mô nền kinh tế được mở rộng, năm 2020 tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt khoáng 54.956 tỷ đồng, gấp 1,65 lần so với năm 2015. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản. Đến hết năm 2020, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 45,58% (công nghiệp chiếm 38,89%), dịch vụ chiếm 29,32%, nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 19,98%, thuế sản phẩm 5,12%. GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt khoảng 63,8 triệu đồng, gấp 1,6 lần so với năm 2015, cao hơn trung bình khu vực trung du và miền núi phía Bắc và bằng khoảng 92% GDP bình quân đầu người của cả nước. Các chi tiêu thu ngân sách Nhà nước, tổng vốn đầu tư toàn xã hội, số doanh nghiệp, hợp tác xã thành lập, hoạt động có hiệu quả, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, tỷ lệ đô thị hóa, tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới đều đạt và vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tinh khóa XVI, nhiệm kỳ 2015 -2020 đã đề ra.


Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả quan trọng, cấp ủy, chính quyền các cấp và cả hệ thống chính trị đã tích cực, chủ động, sáng tạo trong triển khai thực hiện, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Xây dựng nông thôn mới được phát triển theo đúng quy hoạch và Đề án đã ban hành. Nhận thức của người dân về vai trò chủ thể được nâng cao; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng lên. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu vực nông thôn từng bước được đầu tư nâng cấp, đáp ứng yêu cầu phát triển; công tác an sinh xã hội được quan tâm, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Từ năm 2016 đến năm 2019, toàn tỉnh đã có thêm 57 xã đạt chuẩn nông thôn mới; lũy kế đến cuối năm 2019, tổng số xã về đích nông thôn mới là 88 xã (chiếm 46% tổng số xã), trung bình số tiêu chí nông thôn mới trên 1 xã đạt 15,01 tiêu chí. Thực hiện Nghị quyết 830/NQUBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh, đến cuối năm 2020, có 3 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, 44,3% số xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới, hoàn thành trước một năm thực hiện nhiệm vụ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (đứng thứ 3 các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, đứng đầu các tỉnh Tây Bắc về xây dựng nông thôn mới).


Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh, kể cả vùng cao vùng khó khăn được cải thiện đáng kể. Văn hóa - xã hội được chăm lo phát triển, có nhiều tiến bộ. Việc thực hiện chính sách đối với người có công được quan tâm, các hoạt động xã hội, từ thiện được đẩy mạnh. Công tác quốc phòng - quân sự địa phương được tăng cường, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được quan tâm, phương thức lãnh đạo của Đảng có nhiều đổi mới. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc, lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó đánh dấu bước phát triển mới, tạo đà vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo.


Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình khóa XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định tập trung thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược: 1- Cải cách hành chính. 2- Tập trung phát triển nguồn nhân lực. 3- Xây dựng kết cấu hạ tầng góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Theo đó, tỉnh đã chủ động thể chế hóa các chính sách, pháp luật phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh theo hướng hiện đại, đồng bộ và hội nhập, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, thuận lợi; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính. Tỉnh Hòa Bình đã thành lập Trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh, cấp huyện, duy trì bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở 151 xã, phường, thị trấn, áp dụng phần mềm một cửa điện từ dùng chung để tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị từ tinh đến cơ sở từng bước được nâng cao.


Cùng với đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo các cấp ủy, chính quyền tổ chức thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng, chất lượng, hướng tới cơ cấu nhân lực hợp lý, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội và năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế; thực hiện rà soát, sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo. Nguồn nhân lực nội tỉnh đã phát triển cả về số lượng và chất lượng; năm 2020, năng suất lao động đạt 99,3 triệu đồng/lao động, gấp 1,65 lần so với năm 2015.


Các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn từ các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và nhân dân đã được các cấp, các ngành huy động bằng nhiều cơ chế, chính sách phù hợp để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm đã huy động đạt khoảng 80.630 tỷ đồng. Kết cấu hạ tầng giao thông được chú trọng, nhiều tuyến giao thông trọng điểm đã và đang được đầu tư tạo động lực phát triển. Hệ thống thuỷ lợi được duy trì và mở rộng, nhiều công trình thủy lợi được đầu tư nâng cấp, xây dựng mới đảm bảo tưới tiêu và phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản. Hệ thống cấp nước sạch sinh hoạt được cải thiện, nguồn tài nguyên nước được khai thác hiệu quả, an ninh nguồn nước được đảm bảo; nhiều công trình nước sinh hoạt phục vụ người dân nông thôn được quan tâm đầu tư. Hệ thống lưới điện được đầu tư phát triển, chất lượng điện từng bước được cải thiện. Tỉnh đã tích cực phối hợp với Tập đoàn Điện lực Việt-Nam (EVN) thực hiện dự án mở rộng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, dự án năng lượng nông thôn 2, dự án cấp điện nông thôn từ lưới điện quốc gia và huy động các nguồn vốn khác đầu tư xây dựng hạ tầng điện phục vụ sản xuất, sinh hoạt của nhân dân.


Hạ tầng công nghệ thống tin phát triển nhanh, đồng bộ, mạng truyền dẫn đã được cáp quang hóa đến 10 huyện, thành phố, đáp ứng yêu cầu phục vụ công việc, giao dịch của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Kết cấu hạ tầng phục vụ thương mại, dịch vụ phát triển với nhiều loại hình; có nhiều cơ sở kinh doanh, trung tâm thương mại hiện đại được xây dựng từ nguồn xã hội hóa. Hạ tầng giáo dục và đào tạo được chú trọng đầu tư, hằng năm ngân sách tỉnh dành 20% đầu tư cho giáo dục. Mạng lưới hạ tầng y tế được đầu tư khá đồng bộ; chú trọng phát triển mạng lưới y tế cơ sở. Thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được đầu tư phát triển. Từng bước đầu tư cải tạo, nâng cấp các công trình hạ tầng về văn hóa. Hạ tầng khoa học, công nghệ bước đầu đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.


Hòa Bình tiếp tục củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát hiện và xử lý kịp thời những vụ việc phức tạp, không đê trở thành điểm nóng; đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình hình tội phạm và tệ nạn về ma túy; thực hiện tốt các chính sách về tôn giáo, dân tộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #59 vào lúc: 26 Tháng Sáu, 2023, 07:09:44 am »

PHÚ THỌ - NƠI MỞ ĐẦU CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Đồng chí BÙI MINH CHÂU
Ủyy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Phú Thọ


Sau thất bại nặng nề ở biên giới trong Thu - Đông 1950, đồng thời bị quân ta đánh liên tiếp ở trung du và một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, thực dân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Để giành lại quyền chủ động trên chiến trường, mùa Đông năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành quân chiếm đóng Hòa Bình, lập phòng tuyến Sông Đà nối liền với tuyến phòng thủ trung du, sông Đáy nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đồng bằng Bắc Bộ, ngăn chặn liên lạc của ta giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Về chính trị, Pháp muốn biến khu tập trung đồng bào Mường ở vùng này thành "Xứ Mường tự trị" để tiếp tục thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc.


Việc đánh chiếm Hòa Bình của thực dân Pháp đã ảnh hưởng trực tiếp đến vùng tự do của Phú Thọ. Một số khu vực Tây - Nam của tỉnh bị địch chiếm lại, trong đó có Tu Vũ thuộc xã Tân Tiến, huyện Thanh Sơn (nay là xã Tu Vũ, huyện Thanh Thủy). Thực dân Pháp đã tập trung xây dựng cứ điểm Tu Vũ thành một cứ điểm quân sự nhằm làm điểm án ngữ sông Đà và làm bàn đạp để đánh thọc sâu vào vùng hậu phương của Phú Thọ. Địch thường xuyên dùng không quân oanh tạc để hỗ trợ cho quân lính tại các vị trí mới chiếm đóng trên đất Phú Thọ. Ở Việt Trì, địch tổ chức càn quét các xã Chính Nghĩa, Minh Khai. Từ vị trí Toa Đen (Bạch Hạc) và từ phía Trung Hà (thuộc Sơn Tây), địch dùng đại bác bắn phá suốt một dải từ Hạc Trì lên Lâm Thao và từ hạ huyện Tam Nông đến thượng huyện Thanh Thủy. Không quân Pháp hoạt động ráo riết, bắn phá nhiều điểm của Đường số 2, bến phà Đoan Hùng, bắn thuyền bè trên sông và ném bom vào nhiều thị trấn, nhất là những nơi chúng nghi có kho tàng hoặc các mục tiêu quan trọng về chính trị và kinh tế của ta. Xung quanh cứ điểm Tu Vũ, địch tổ chức càn quét đốt cháy hơn 100 căn nhà, tàn phá hơn 300ha lúa, gây tang tóc đau thương cho nhân dân địa phương.


Tu Vũ được quân Pháp xây dựng thành một vị trí then chốt trong tuyến phòng thủ Sông Đà. Thực hiện chiếm đóng cứ điểm này là 1 tiểu đoàn lính Âu - Phi thuộc Trung đoàn bộ binh Marốc số 1, 1 đại đội thuộc Tiểu đoàn ngụy Mường số 6 với 6 xe tăng và thiết giáp trực chiến. Cứ điểm được xây dựng rất kiên cố bao quanh vòng ngoài là hàng rào thép gai dày đặc. Địch tổ chức phân chia cứ điểm thành 3 khu A, B và C. Mỗi khu đều có nhiều lô cốt chiến đấu và hỏa lực mạnh. Riêng Khu B là trung tâm phòng ngự, có sở chỉ huy tiểu đoàn và 2 đại đội bộ bịnh được trang bị 1 xe tăng, pháo 37mm, ĐKZ 75mm; có 1 lô cốt lớn được bao quanh bởi 4 ụ chiến đấu. Ngoài ra, cứ điểm Tu Vũ còn được yểm trợ bằng hỏa lực từ các vị trí núi Chẹ, Đá Chông, thủ pháo và có thể được tăng viện từ canô, tàu chiến theo đường sông Đà.


Xác định cứ điểm Tu Vũ là một mắt xích quân sự quan trọng nằm trong tuyến phòng thủ then chốt của địch trên dọc tuyến sông Đà và đây là hướng tiến công chủ yếu của ta đánh địch ở Hòa Bình tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình để tiêu diệt địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích phối hợp chặt chẽ để đánh bại cuộc tiến công của Pháp đánh chiếm Hòa Bình.


Sau khi phân tích tình hình cụ thể trên chiến trường, đồng thời để đảm bảo trận mở màn chắc thắng, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến dịch phát triển và mở rộng hành lang vận chuyển hậu cần, Bộ Tổng Tư lệnh quyết định lập trung binh lực, hỏa lực đột phá phòng thủ tuyến Sông Đà, bắt đầu bằng trận tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, núi Chẹ. Để trực tiếp chỉ đạo chiến dịch, Sở Chỉ huy tiền phương do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ đạo đặt vị trí gần Đồn Vàng (Thanh Sơn), cách cứ điểm Tu Vũ khoảng 20km. Quân và dân vùng Tây Bắc, đặc biệt là quân và dân tỉnh Phú Thọ được Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao nhiệm vụ phối hợp với Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) đánh địch bên tả ngạn sông Đà, tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, đánh quân cứu viện của địch trên sông Đà.


Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, tiếng súng mở đầu cho Chiến dịch Hòa Bình bắt đầu nổ trên tất cả các hướng tiến vào trung tâm cứ điểm Tu Vũ. Trung đoàn 88 và lực lượng vũ trang địa phương được lệnh tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ. Theo kế hoạch hiệp đồng, đúng 20 giờ, Trung đoàn 88 chia làm 3 mũi tiến công chiếm lĩnh trận địa, Tiểu đoàn 29 chiếm lĩnh phía Đông, tiến đánh Khu B, Tiểu đoàn 23 đánh phía Bắc Khu A, Tiểu đoàn 322 đột nhập khu vực Đông Nam diệt Khu C. Địch phát hiện bị quân ta bao vây tiêu diệt, hoả lực của chúng từ trong cứ điểm và ở 3 vị trí yểm trợ kháng cự quyết liệt, tạo thành một vành đai lửa bao quanh cứ điểm. Các đơn vị của ta bị pháo địch bắn dữ dội, nhưng với tinh thần anh dũng, kiên cường, quyết chiến, quyết thắng, cán bộ, chiến sĩ bí mật tiếp cận mục tiêu, triển khai lực lượng, hình thành thế bao vây, cắt gỡ hàng rào dây thép gai, dùng hỏa lực chế áp quân địch, thọc sâu chia cắt tiêu diệt từng bộ phận, tiến tới tiêu diệt toàn bộ sinh lực địch... Trận đánh diễn ra rất ác liệt. Khi quân ta bắt đầu tiến công, địch tập trung hỏa lực mạnh hòng ngăn cản bước tiến quân của ta. Dưới làn mưa đạn, cán bộ, chiến sĩ nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, anh dũng xông lên tiêu diệt địch. Đến 1 giờ sáng ngày 11 tháng 12, Tiểu đoàn 322 đã chiếm xong Khu C, sau đó dùng hỏa lực mạnh kiềm chế địch ở khu B. Cuộc chiến đấu ở 2 khu A, B diễn ra rất quyết liệt, ta và địch giằng co từng ụ súng. Đến 2 giờ 50 phút sáng ngày 11 tháng 12, quân ta hoàn toàn làm chủ được 2 khu này. Sau hơn 5 giờ chiến đấu ác liệt, cứ điểm Tu Vũ của địch bị tiêu diệt. Quân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu tiểu đoàn thứ nhất thuộc Trung đoàn Marốc số 1, tiêu diệt 158 tên địch, bắt 12 tên (trong đó có tên quan ba Leveux), phá huỷ 3 xe tăng và 1 xe bọc thép; giải phóng cho hơn 100 thanh niên bị địch giam giữ tại đây.


Trận tiến công cứ điểm Tu Vũ của Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) kết hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích là trận công kiên lớn nhất, trận đánh mở màn cho Chiến dịch Hòa Bình đã hoàn thành nhiệm vụ do Bộ Tổng Tư lệnh giao. Ta đã tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Tu Vũ, xóa bỏ một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ Sông Đà của địch, làm cho chúng không có căn cứ để mở rộng và đẩy mạnh chiến dịch theo kế hoạch, tạo điều kiện cho bộ đội ta đánh bại âm mưu của địch. Đây cũng là một trong những trận chiến đấu tiêu biểu chống quân xâm lược Pháp của tỉnh Phú Thọ nói riêng, của Quân đội ta, nhân dân ta nói chung.


Trận đánh thành công thể hiện sự chỉ đạo chặt chẽ của Quân ủy Trung ương, vai trò lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của bộ đội chủ lực (Trung đoàn 88) phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, đánh giá đúng tình hình, hạ quyết tâm chính xác, chủ động hiệp đồng, vận dụng linh hoạt các hình thức, thủ đoạn chiến đấu, kiên quyết tiến công giành thắng lợi. Với chiến thắng trong trận tiến công cứ điểm Tu Vũ - trận đánh mở đầu của Chiến dịch Hòa Bình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khen ngợi cán bộ, chiến sĩ, quân và dân địa phương: "Trận Tu Vũ là thắng lợi đầu tiên của quân ta đánh địch trong công sự... Nó biểu hiện một tinh thần hy sinh quả cảm, tích cực tiêu diệt địch và tính chủ động linh hoạt trong chiến đấu... Tôi biểu dương các đồng chí đà đánh trận Tu Vũ, cả du kích và bộ đội, biểu dương anh chị em dân công và đồng bào các dân tộc, đặc biệt là các mẹ đã hết sức giúp đỡ bộ đội cùng nhau làm nên chiến thắng lớn"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bài học trí tuệ đổi mới, dân chủ, đoàn kết trong trận Tu Vũ, in trong Kỷ yếu Hội tháo khoa học "Chiến thắng Tu Vũ - 10.12.1951", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 17, 18, 19). Nhìn lại cả quá trình diễn biến của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại tưởng Võ Nguyên Giáp đã có nhận xét: "... có trận Tu Vũ mới có Him Lam, Độc Lập... Từ Tu Vũ và Chiến dịch Hòa Bình đã hình thành những tư tưởng giúp chúng ta tiến đánh Chiến dịch Điện Biên Phủ. Với trận Tu Vũ, các đồng chí đã góp phần quan trọng cho những thắng lợi lớn sau này"2 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bài học trí tuệ đổi mới, dân chủ, đoàn kết trong trận Tu Vũ, in trong Kỷ yếu Hội tháo khoa học "Chiến thắng Tu Vũ - 10.12.1951", Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1996, tr. 17, 18, 19).


Thắng lợi đó chứng tỏ bước trưởng thành của Quân đội ta, đó là thắng lợi của quá trình phát triển và chuẩn bị mọi mặt của ta và sự phối hợp, ủng hộ của nhân dân địa phương; làm rạng rỡ thêm tinh thần đánh giặc giữ làng, giải phóng quê hương, đất nước của nhân dân Phú Thọ nói riêng và của Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung. Tham gia Chiến dịch Hòa Bình, quân và dân tỉnh Phú Thọ đã phát huy khả năng cao nhất của địa phương, dốc sức phục vụ chiến trường, cung cấp nhân lực, vật lực cho chiến dịch với tinh thần "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng".
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM