Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Bảy, 2024, 06:57:11 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 4024 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #90 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2023, 07:36:24 am »

Hai là, làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng ý chí và quyết tâm chiến đấu cho bộ đội

Nhận yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu, từ Đảng ủy, chỉ huy Đại đoàn đến cấp ủy cơ quan, đơn vị các cấp đã tiến hành làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, làm cho mọi quân nhân thấu suốt vai trò, tầm quan trọng, yêu cầu nhiệm vụ của mình trong chiến dịch; động viên cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm, ý thức trách nhiệm sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Khi gặp khó khăn trong phát triển chiến đấu, lãnh đạo, chỉ huy kịp thời động viên tư tưởng, xác định quyết tâm cho bộ đội, nhanh chóng khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.


Trong trận tiến công cứ điểm Đồi Mồi, cán bộ đại đội, tiểu đoàn còn do dự, khi chuẩn bị chiến đấu, trinh sát Tiểu đoàn 418 2 lần trinh sát Đồi Mồi đều gặp địch, bị thương vong, anh em cho là bị lộ, phần vì địch đã tăng cường bảo vệ, phần vì cán bộ tiểu đoàn đánh giá cao địch, Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh cho bộ đội nửa đường quay về, lấy lý do là trận đánh không bảo đảm và xin chịu trách nhiệm về quyết định của mình trước Trung đoàn ủy. Bí thư Liên chi và Liên chi ủy Tiểu đoàn cũng đồng ý với đề nghị đó của Tiểu đoàn trưởng. Trước tình huống đó, Trung đoàn ủy Trung đoàn 57 triệu tập hội nghị từ cán bộ đại đội trở lên, quán triệt ý nghĩa của trận đánh, thống nhất phương châm đánh chiếm điểm cao, nghiên cứu kỹ phương án tiến công cứ điểm Đồi Mồi và kiểm điểm sự do dự, thiếu quyết tâm, đánh giá quá cao về địch của Tiểu đoàn 418. Tại Hội nghị, Trung đoàn ủy cũng phân tích, phê phán nghiêm khắc khuyết điểm do dự, thiếu quyết tâm, thiếu trách nhiệm của Liên chi ủy, đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm của đồng chí Bí thư Liên chi và đồng chí Tiểu đoàn trưởng. Qua đó, cán bộ đại đội, tiểu đoàn đều thấy vị trí của trận đánh và khả năng tiến công làm chủ điểm cao, nâng cao rõ rệt khí thế chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ.


Việc làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng làm cho mọi quân nhân thấu suốt yêu cầu, nhiệm vụ, khả năng hoàn thành, động viên cán bộ, chiến sĩ nêu cao quyết tâm, ý thức trách nhiệm sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Ngoài việc giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng ý chí quyết tâm, Đại đoàn chú trọng rút kinh nghiệm và phổ biến kinh nghiệm chiến đấu qua từng trận đánh, nhất là kinh nghiệm chuẩn bị chiến dịch, tiến công các cứ điểm. Phát huy tốt yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến đấu là khâu quan trọng nhằm xây dựng sức mạnh tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn. Khi tổng kết Chiến dịch Hòa Bình, đồng chí Nguyễn Chí Thanh - Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đã chỉ ra nguyên nhân: "Công tác lãnh đạo tư tưởng, động viên chính trị giải quyết được chu đáo như vậy đã nâng cao được quyết tâm của cán bộ tiểu đoàn và đại đội"...


Ba là, đề ra nhiều phương án tác chiến, làm tốt công tác chuẩn bị bảo đảm chắc thắng, tiến công tiêu diệt các mục tiêu quan trọng buộc địch phải đưa quân ứng cứu, tạo điều kiện cho ta diệt địch

Chuẩn bị cho Chiến dịch Hòa Bình, Đại đoàn 304 đã chuẩn bị nhiều phương án tác chiến để bộ đội tập luyện, sẵn sàng áp dụng khi có tình huống. Những đoạn đường hiểm yếu, ta đều tổ chức nghiên cứu bố trí trận địa, làm tốt công tác chuẩn bị, sẵn sàng lúc nào cũng có thể đánh được địch tăng viện, tiếp tế hoặc lùng sục dọc đường, như trận đánh ngày 2 tháng 12 năm 1951 của Trung đoàn 66 phục kích địch trên quãng đường từ Cầu Dụ đến Hang Đá, cách thị xã Hòa Bình 15km về phía Đông Bắc, tiêu diệt 34 chiếc xe và toàn bộ quân địch. Đây là một trong những chiến thắng vang dội trên đất Hòa Bình trong những ngày đầu chiến dịch. Cũng trên Đường số 6, tại dốc Kẽm, ngày 11 tháng 12 năm 1951, 1 tiểu đoàn chủ lực cùng Tiểu đoàn 616, Đại đội 16 bộ đội địa phương và du kích xóm Dụ, xã Mông Hóa đã phục kích diệt 2 trung đội, phá hủy 11 xe, giải thoát trên 100 đồng bào bị giặc bắt đi làm phu.


Từ ngày 2 đến ngày 13 tháng 12 năm 1951, Đại đoàn đã diệt 4 đoàn xe, phá hủy hơn 60 xe vận tải và thiết giáp, tiêu diệt hơn 3 đại đội tỉnh nhuệ của địch trên Đường số 6, Đường số 21, làm cho tiếp tế của địch trên đường bộ gặp khó khăn, góp phần tạo nên thế bao vây cụm cứ điểm Sông Đà - Hòa Bình, làm chủ Đường số 6, uy hiếp địch ở phía Nam.


Nhận thấy việc vận chuyển trên Đường số 6 và Đường số 21 bị uy hiếp mạnh, địch cố phòng giữ bằng cách đốt trụi cây cối hai bên đường, rải quân canh gác nghiêm ngặt những quãng đường nghi ta tiến công. Việc vận chuyển tiếp tế phải đi từng đoàn lớn, có máy bay, xe tăng thiết giáp hộ tống và pháo binh dọn đường. Chấp hành mệnh lệnh của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Đại đoàn 304 tiếp tục hoạt động mạnh trên tuyến Đường số 6 và Đường số 21. Đảng ủy Đại đoàn nhận định: "Qua những hoạt động của ta, địch ráo riết tăng cường lực lượng để giữ vững tuyến vận chuyển quan trọng của chúng. Vì vậy, để tiêu diệt địch ta phải tổ chức đánh vào các cứ điểm, diệt những chốt quan trọng của chúng, buộc chúng phải tăng viện để ta đánh".


Ngày 31 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 400 Trung đoàn 9 tiến công điểm cao Hàm Voi, tiêu diệt 1 trung đội Âu - Phi. Mất Đồi Mồi, Hàm Voi, hệ thống bảo vệ Đường số 6 của địch bị uy hiếp mạnh. Nắm vững tình hình sau 2 đợt tiến công, ngày 1 tháng 1 năm 1952, Bộ Chỉ huy Chiến dịch nhận định: "Địch bị thất bại nặng nề, kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình gặp nhiều khó khăn, nhất là do tuyến vận tải trên sông Đã hoàn toàn tê liệt và Đường số 6 luôn luôn bị cắt đứt. Vì vậy, chúng có thể cố gắng chiếm giữ Hòa Bình nhưng hoàn cảnh khách quan cũng có thể buộc địch phải nghĩ đến việc rút quân".


Thực hiện chủ trương của Bộ Chỉ huy Chiến dịch, Trung đoàn 9 và Trang đoàn 57, bám sát Đường số 6 chuẩn bị đánh địch rút chạy. Ngày 23 tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 9 tiêu diệt 2 đại đội địch ờ Thịnh Lang Ngoại, phá hủy 23 xe cơ giới. Tối cùng ngày, Trung đoàn tiếp tục tiêu diệt 30 tên, bắt 27 tên, thu 1 khẩu đại bác 57mm ở Rồng Vàng, Rồng Tằm, cách Xuân Mai 10km về phía Tây.


Kết thúc Chiến dịch Hoà Bình, Đại đoàn 304 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, hiệp đồng chiến đấu trong đội hình chung do Bộ Tổng Tư lệnh chỉ huy. Đại đoàn đã đánh hơn 30 trận, tiêu diệt 1.500 tên địch, phần lớn là lính Âu - Phi tinh nhuệ. Đồng thời, qua thực tế chiến đấu, công tác đảng, công tác chính trị, công tác tổ chức chỉ huy, hiệp đồng tác chiến đã có những bước chuyển biến rõ rệt.


Tiếp nối truyền thống, vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm sâu sắc trong Chiến dịch Hòa Bình, Sư đoàn 304 đã tham gia nhiều chiến dịch tiếp sau trong cả 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, góp phần quan trọng, viết tiếp truyền thống "Thần tốc, táo bạo, quyết thắng" của Quân đoàn 2 anh hùng.


Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu xây dựng Quân đội "cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại", xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, mẫu mực, tiêu biểu, việc vận dụng các bài học kinh nghiệm của Sư đoàn trong hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành luôn là một nội dung có ý nghĩa hết sức quan trọng. Kế thừa và phát triển truyền thống đỏ, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn luôn linh hoạt, nhận định đánh giá đúng tình hình, đề ra các chủ trương, biện pháp tổ chức thực hiện khoa học, hiệu quả đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #91 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2023, 07:38:06 am »

ĐẠI ĐOÀN 320 ĐẨY MẠNH TÁC CHIẾN Ở ĐỒNG BẰNG LIÊN KHU 3 PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá LÊ KHẮC ĐỘ
Phó Sư đoàn trưởng, Tham mưu trưởng Sư đoàn 320


Với Chiến thắng Hòa Bình, quân và dân ta đã đánh bại âm mưu của địch đánh chiếm vùng tự do của ta, phá vỡ ý đồ giành lại quyền chủ động của địch trên chiến trường chính Bắc Bộ, bảo đảm giao thông liên lạc thông suốt giữa Liên khu Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4. Trong chiến dịch này, cùng với hướng chính diện ở Hòa Bình, ta mở mặt trận mới - mặt trận sau lưng địch chủ yếu là trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Đây chiến dịch đầu tiên ta hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa mặt trận chính diện và sau lưng địch, khẳng định nghệ thuật chỉ đạo tác chiến tài tình sáng tạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh dấu bước phát triển của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong thắng lợi chung của Chiến dịch Hòa Bình, hoạt động tác chiến của Đại đoàn 3201 (Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) là 1 trong 6 đại đoàn bộ binh chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 16 tháng 1 năm 1951 tại đình Mông Lá, xã Yên Quang, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Hiện nay là Sư đoàn bộ binh 320, đơn vị trực thuộc Quân đoàn 3, đóng quân tại xã Biển Hồ, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Sư đoàn bộ binh 320 được Đảng, Nhà nước 2 lần phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) ở đồng bằng Liên khu 3 có đóng góp rất quan trọng.


Tham gia Chiến dịch Hòa Bình, cùng với các đại đoàn chủ lực trên hướng chính diện, Đại đoàn 320 được giao nhiệm vụ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích hoạt động tác chiến ở các tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Sơn Tây, Hải Dương, Hưng Yên.


Ngay khi địch mở cuộc hành binh Tuylíp chiếm được Chợ Bến, Đồi Sim, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 320 đánh địch từ thị xã Hòa Bình đến Trung Hà và 2 bên tả, hữu ngạn sông Đà nhằm ngăn chặn, phá thế tiến công của địch và tạo điều kiện cho các đơn vị chủ lực triển khai đội hình chiến dịch. Ngày 16 tháng 11 năm 1951, Đại đoàn 320 lệnh cho Trung đoàn 64 tiến công địch ở Tử Đền, tiêu diệt và bắt toàn bộ 2 đại đội Âu - Phi thuộc Tiểu đoàn lê dương số 2, Trung đoàn lê dương số 3. Tiếp đó, đêm 23 tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 48 tiến công địch ở Đồi Sim, tiêu diệt và bắt 2 đại đội, thu nhiều súng đạn và phương tiện chiến tranh của địch.


Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình mở màn. Tại mặt trận sau lưng địch, từ đêm mùng 9 tháng 12 năm 1951, đợt hoạt động tác chiến phối hợp với mặt trận chính diện Hòa Bình chính thức bắt đầu. Thực hiện kế hoạch tác chiến, Đại đoàn 320 sử dụng Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52, dưới sự chỉ huy trực tiếp của đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn, tập trung tác chiến ở hướng thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình mở đầu đợt hoạt động. Với phương châm tác chiến "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục đánh địch" nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích, Trung đoàn 48 được giao nhiệm vụ tiến công vào thị trấn Phát Diệm và Trung đoàn 52 phục kích địch ở khu vực Yên Ninh ngăn chặn, tiêu diệt viện binh của chúng từ Phước Nhạc xuống; Trung đoàn 64 hoạt động mạnh ở Hà Nam.


3 giờ sáng ngày 10 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 phối hợp lực lượng du kích tiến công Phát Diệm, san phắng 10 vị trí, diệt và bắt 875 tên, thu 186 súng và phá hủy nhiều kho tàng, phương tiện chiến tranh khác của địch, giải phóng thị trấn Phát Diệm. Phối hợp chặt chẽ với Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 và bộ đội địa phương huyện Yên Khánh tổ chức phục kích địch từ Chùa Cao (Vân Đồng) và Phúc Nhạc ứng cứu cho thị trấn Phát Diệm, diệt gọn 2 đại đội địch. Kết hợp với đòn tiến công chính của Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 ờ Phát Diệm, Yên Ninh, Yên Thổ; lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích các huyện Yên Mô, Gia Viễn, Gia Khánh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tỉnh ủy và Tỉnh đội Ninh Bình liên tục bao vây, quấy rối, kiềm chế các vị trí địch ờ Chợ Trung, Phúc Nhạc, Bình Hải, Dưỡng Điềm, Đò Mười, Bình Hòa làm cho binh lính địch hoảng loạn, rút chạy ở các vị trí Tuy Lộc, Lộc Bà, Bình Sa.


Trên hướng Hà Nam, chiều ngày 8 tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 64 phối hợp với lực lượng vũ trang tỉnh Hà Nam tiến công tiêu diệt căn cứ Ngô Khê - cứ điểm trọng yếu của địch nằm án ngữ Đường số 22, kề sát sông Đào, do 1 đại đội ngụy đóng giữ nhằm mở thông con đường liên lạc giữa 3 huyện Lý Nhân, Bình Lục và Duy Tiên sang các tỉnh vùng tả ngạn sông Hồng.


Trên hướng Ninh Bình, Trung đoàn 48 tiếp tục đẩy mạnh tiến công, phá vỡ vành đai địch xung quanh thị trấn Phát Diệm. Đêm 15 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 sử dụng Tiểu đoàn 771 (Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 48 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 1, Trung đoàn bộ binh cơ giới 48) được tăng cường 4 khẩu pháo của Tiểu đoàn công pháo 8342 (Tiểu đoàn công pháo 834 là đơn vị tiền thân của Trung đoàn pháo binh 54, Sư đoàn bộ binh 320) tiến công Yên Mô Thượng, tiêu diệt và bắt toàn bộ 1 đại đội địch chiếm giữ ở đây; trưa ngày 16 tháng 12 năm 1951, Trung đoàn 48 tiếp tục sử dụng Tiểu đoàn 5233 (Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh cơ giới 2, Trung đoàn bộ binh cơ giới 48) phục kích 2 đại đội của Tiểu đoàn Âu - Phi số 22 từ thị trấn Phát Diệm ra tiếp viện cho Yên Mô Thượng ở Xuân Thành, tiêu diệt và bắt 180 lính Âu - Phi.


Phối hợp với quân chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương và dân quân du kích tỉnh Ninh Bình cũng bao vây, đánh chiếm các vị trí Dưỡng Điềm, Đò Mười, Cầu Xanh. Được thắng lợi quân sự cổ vũ nhân dân trong vùng đồng loạt nổi dậy quét tề, diệt gian, xây dựng củng cố khu du kích 13 xã thuộc huyện Kim Sơn, nối liền với các khu du kích Khánh Thiện, Khánh Trung thuộc huyện Yên Khánh.


Cuối tháng 12 năm 1951, trong khi Mặt trận Hòa Bình vẫn đang tiếp diễn và đã thu được những thắng lợi quan trọng sau 2 đợt tiến công; ở mặt trận sau lưng địch, Đại đoàn 320 phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đã mở rộng được vùng giải phóng, tạo được bàn đạp đứng chân vững chắc ở Ninh Bình Theo đó, Trung đoàn 64 đưa Tiểu đoàn 7221 (Tiểu đoàn 722, Trung đoàn 64 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 7, Trung đoàn bộ binh 64) về huyện Ý Yên, Bắc Bình Lục và Vụ Bản; Tiểu đoàn 7062 (Tiểu đoàn 706, Trung đoàn 64 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 8, Trung đoàn bộ binh 64) về 2 huyện Bình Lục và Duy Tiên; Tiểu đoàn 7383 (Tiểu đoàn 738, Trung đoàn 64 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 9, Trung đoàn bộ binh 64) về huyện Lý Nhân hoạt động tác chiến, làm nòng cốt cho bộ đội địa phương và dân quân du kích tiêu diệt sinh lực địch, phát triển chiến tranh du kích.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #92 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2023, 07:38:57 am »

Để phối hợp với hướng chính trong đợt tiến công thứ 3 của chiến dịch, Đại đoàn 320 được lệnh tiến sâu vào vùng địch hậu phía Nam Nam Định, phối hợp cùng lực lượng vũ trang tại chỗ tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng các khu du kích, chuẩn bị vượt sông Hồng đánh sang vùng tả ngạn. Đêm 28 và ngày 29 tháng 12 năm 1951, Đại đoàn lệnh cho Trung đoàn 52 (gồm Tiểu đoàn 3374 (Tiểu đoàn 337, Trung đoàn 52 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 4, Trung đoàn bộ binh 52), Tiểu đoàn 391) và Tiểu đoàn 523 Trung đoàn 48 vượt sông Đáy, phát triển sang 2 huyện Nghĩa Hưng và Nam Trực (tỉnh Nam Định). Để lấy chỗ đứng chân ở địa bàn hoạt động mới, Đại đoàn 320 lệnh cho Trung đoàn 52 sử dụng Tiểu đoàn 337 phối hợp du kích địa phương tiến công tiêu diệt đồn Hải Lạng và đồn Phù Sa thuộc huyện Nghĩa Hưng, Tiểu đoàn 3911 (Tiểu đoàn 391, Trung đoàn 52 hiện nay là Tiểu đoàn bộ binh 6, Trung đoàn bộ binh 52) tiến công tiêu diệt đồn Nam Trực và đồn Ngọc Tĩnh, những thắng lợi trên đã tạo điều kiện cho 6 huyện ở phía Nam tỉnh Nam Định đẩy mạnh hoạt động diệt tề trừ gian, phát triển chiến tranh du kích.


Đầu tháng 1 năm 1952, Hội nghị Đảng ủy Đại đoàn 320 mở rộng đã đề ra chủ trương tác chiến "đưa toàn Đại đoàn vào hoạt động nội tuyến, trong đó phần lớn lực lượng sang tả ngạn sông Hồng, biến hậu tuyến của địch thành tiền phương của ta". Đảng ủy Đại đoàn quyết định đưa Trung đoàn 48 và Trung đoàn 52 tiến sang hoạt động ở vùng tả ngạn sông Hồng. Tư tưởng tác chiến là: "Tích cực, chủ động, phân tán, cơ động linh hoạt, chú trọng đánh gần".


Sau khi phát hiện chủ lực của ta ở Nam Định, địch vội vã rút Binh đoàn cơ động số 4 (GM4) ở Mặt trận Hòa Bình về nhằm tiêu diệt Trung đoàn 52. Trung đoàn 52 đã phối hợp chặt chẽ với quân và dân địa phương dựa vào các lũy tre làng, đào công sự, kiên quyết đánh chặn địch. Đêm mùng 4, rạng ngày 5 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 52 sử dụng Tiểu đoàn 337 tiến hành phục kích trên Đường số 21, đoạn qua Đỗ Xá, Nam Trực, loại khỏi vòng chiến đấu khoảng 40 tên địch, thu toàn bộ vũ khí, đốt cháy 2 xe GMC.


Tiếp đó, Trung đoàn 52 đưa Tiểu đoàn 337 cơ động sang huyện Hải Hậu đánh địch, hỗ trợ địa phương mở khu du kích liên hoàn Nghĩa Hưng - Nam Trực. Ngay khi đặt chân đến khu vực hoạt động mới, đêm mùng 8 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 337 tiến công tiêu diệt đồn Văn Đàn, mở đầu cho phong trào phá tề, trừ gian trong toàn huyện Hải Hậu. Trong hơn 2 tuần tiếp theo, Trung đoàn 52 và lực lượng vũ trang địa phương, dân quân du kích đã đập tan 28 đồn bốt địch, loại khỏi vòng chiến đấu gần 800 tên ngụy binh, dân vệ; xóa 15 đội "hương dũng" khoảng 300 tên; thu 500 vũ khí các loại; quét sạch 64 ban tề, đưa chính quyền cách mạng ra hoạt động công khai.


Để kịp thời phối hợp với chủ lực trên hướng chính diện Hòa Bình, Ban Chỉ huy Mặt trận Đồng bằng lệnh cho Đại đoàn 320 vượt sông Hồng tiến về đánh địch ở Thái Bình. Để nghi binh, tạo điều kiện cho đội hình của Đại đoàn vượt sông, Trung đoàn 64 được lệnh phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương đẩy mạnh các hoạt động tác chiến ở Hà Nam, phía Bắc tỉnh Nam Định, thu hút Binh đoàn cơ động số 4 và thủy binh địch về bến Nhật Tảo, xã Nhân Hưng, huyện Lý Nhân.


Nắm thời cơ, đêm 13 tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 tổ chức cho các đơn vị còn lại hình thành 2 cánh vượt sông Vạc, sông Đáy, sau đó vượt sông Hồng tiến vào Thái Bình. Đêm 17 tháng 1 năm 1952, gồm: Cánh thứ nhất, Đại đoàn bộ và một bộ phận của Trung đoàn 48 được địa phương giúp đỡ vượt sông Hồng lên đất Vũ Tiên Thái Bình. Ngay sau khi đặt chân lên đất Thái Bình, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 48 phối hợp với du kích địa phương đã tổ chức trận phục kích ờ đoạn Thanh Nê - Phương Ngãi, tiêu diệt 1 trung đội lính Âu - Phi. Tiếp đó, Tiểu đoàn 77, Trung đoàn 48 tiếp tục tiến công tiêu diệt địch ở vị trí An Bồi, Tiền Hải và Đông Hưng, hỗ trợ phong trào du kích 2 huyện Kiến Xương và Tiền Hải đẩy mạnh hoạt động. Đêm 18 tháng 1 năm 1951, cánh thứ hai gồm: Lực lượng còn lại của Trung đoàn 48, Trung đoàn 52, Tiểu đoàn sơn pháo 834, Tiểu đoàn phòng không Mai Đà vượt sông Hồng ở bến Cổ Lễ nhưng bị địch phát hiện, ta nhanh chóng triển khai đội hình đánh địch bảo vệ đội hình nên chưa sang được Thái Bình. Thực hiện chủ trương của Đại đoàn: "Đánh địch mở đường mà đi", từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 1 năm 1952, Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn sơn pháo 834 đánh các trận ở Hoành Nha, Hoành Lộ (Giao Thủy, Nam Định), diệt hơn 200 tên, bắt 40 lính Âu - Phi và 90 lính ngụy binh, phá hủy 18 xe cơ giới, giải thoát 30 đồng chí của ta và nhiều người dân bị địch bắt. Đêm 25 tháng 1 năm 1952, cánh quân thứ hai của Đại đoàn vượt sông Hồng tiến sang Thái Bình.


Đến ngày 31 tháng 1 năm 1952, tại thôn Kinh Nhuế, huyện Kiến Xương, tình Thái Bình, Liên khu ủy Liên khu 3 tổ chức cuộc họp do đồng chí Đỗ Mười - Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy Quân khu Tả Ngạn và đồng chí Văn Tiến Dũng - TƯ lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn 320 chủ trì, quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn, thông qua kế hoạch tác chiến gồm 3 bước: Bước 1: Tập trung mở rộng khu Căn cứ phía Nam sông Trà Lý; bước 2: Phát triển lên Bắc sông Trà Lý và 3 huyện Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân (tỉnh Thái Bình); bước 3: Chuyển địa bàn hoạt động sang các huyện Phù Cừ, Tiên Lữ (tỉnh Hưng Yên) và Nam huyện Thanh Miện, Bắc huyện Ninh Giang (tỉnh Hải Dương) tiêu diệt địch, mở rộng căn cứ du kích, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân, phá ngụy quyền, ngụy quân trong vùng địch tạm chiến. Đồng thời, xác định phương châm tác chiến là: "Kết hợp chặt chẽ ba thứ quân, đánh điểm diệt viện, vây điểm diệt viện, kết hợp quân sự với địch vận rộng rãi".


Thực hiện chủ trương của Đảng ủy Mặt trận Tả Ngạn, Đại đoàn 320 quyết định tiến công vào hệ thống đồn bốt địch ở huyện Kiến Xương và huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình). Mở đầu đợt hoạt động tác chiến, đêm 31 tháng 1 năm 1952, Đại đoàn 320 sử dụng 2 tiểu đoàn (77 và 523) thuộc Trung đoàn 48, được tăng cường Tiểu đoàn Công pháo 834 tiêu diệt bốt La Cao. Hòa với tiếng súng của Đại đoàn, lực lượng vũ trang địa phương đồng loạt tiến công bức rút 9 vị trí địch, giải phóng huyện Tiền Hải rồi phát triển sang Nam huyện Kiến Xương và huyện Vũ Tiên. Tiếp đó, Đại đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 337 Trung đoàn 52 và Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48 vượt sông Trà Lý sang vùng Thần Đầu, Thần Huống (huyện Thái Ninh) đánh địch. Với cách đánh linh hoạt, sáng tạo, chỉ trong 3 ngày, hàng chục đồn bốt nhỏ và tháp canh của địch ờ Thần Đầu, Thần Huống bị quét sạch, ta thu hàng trăm súng các loại. Trong vùng, địch chỉ còn lại 3 đồn lớn chưa bị diệt là Chợ Mới, Chợ Cổng và Văn Hàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #93 vào lúc: 11 Tháng Chín, 2023, 07:39:28 am »

Để mở rộng vùng giải phóng, tạo khí thế tiến công địch mạnh mẽ hơn, đêm mùng 7, rạng sáng ngày 8 tháng 2 năm 1951, Đại đoàn 320 lệnh cho Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48, Tiểu đoàn 337 Trung đoàn 52 và Tiểu đoàn công pháo 834 tiến công bốt Chợ Cổng. Sau 1 giờ chiến đấu, ta làm chủ đồn địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 130 tên địch, trong đó có 5 chỉ huy người Phap, thu 1 khẩu pháo 105mm và 300 viên đạn pháo 2 súng cối 81mm, 7 đại liên và trên 100 súng các loại. Tiếp đó, Đại đoàn lệnh cho Tiểu đoàn công pháo 834 dùng ngay khẩu pháo 105mm vừa thu được bắn vào bốt Chạ Mới. Bị pháo ta bắn trúng, tên chỉ huy bị diệt ngay tại chỗ, thông tin liên lạc bị mất, bọn địch hoang mang kéo cơ trắng xin hàng. Được chiến thắng Chợ Cổng, Chợ Mới cổ vũ khí thế tiến công địch của quân và dân bên bờ Bắc sông Trà Lý dâng cao. Quân địch đồn trú trong nhiều đồn bốt nhỏ lân cận như: Xuân Hòa, Danh Giáo, Đồng Chanh, Xuân Hải, Cống Cất, Đồng Tỉnh, Sơn Thọ, Các Động và Bích Du đã nhanh chóng kéo cờ trắng xin hàng khi ta vừa nổ súng tiến công.


Trước sức tiến công liên tục, dũng mãnh của ta, ngày 9 tháng 2 năm 1952, địch điều Binh đoàn cơ động số 4 từ thị xã Thái Bình đi giải vây cho các vị trí dọc Đường số 218 (Thái Ninh). Đại đoàn 320 lệnh cho Trung đoàn 52 sử dụng Tiểu đoàn 391 phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang địa phương dựa chắc vào công sự lũy tre làng anh dũng chiến đấu, kiên quyết chặn dịch, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công trực diện và phục kích, đánh thiệt hại nặng Binh đoàn cơ động so 4, tiêu diệt 126 tên, bắt 18 tên, hầu hết là lính Âu - Phi. Chiều cùng ngày, địch ở đồn Đổng Lương sợ hãi xin hàng.


Sau đợt hoạt động khẩn trương sôi nổi ở phía Nam tỉnh Thái Bình, để mở rộng vùng giải phóng, Đại đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 48 vượt Đường số 10 cơ động lên tác chiến ở các huyện Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân. Riêng Tiểu đoàn 523 hoạt động ở phía Bắc Thái Bình đã tiêu diệt 5 vị trí: Buộm, Dốc Văn, Phú Vật, Mỹ Đình, Cúc Đình và hỗ trợ cho bộ đội địa phương, dân quân du kích tiêu diệt một số vị trí khác, vùng giải phóng 4 huyện phía Bắc tỉnh Thái Bình được mở rộng.


Ở Hà Nam, thực hiện chủ trương đẩy mạnh hoạt động tác chiến trong vùng địch hậu. Đêm mùng 6, rạng sáng ngày 7 tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 64 sử dụng Tiểu đoàn 722 phối hợp với bộ đội địa phương tiêu diệt đại đội biệt kích ở Lạc Tràng (Phủ Lý), diệt và bắt hơn 100 tên, thu nhiều vũ khí. Tiếp đó, Đại đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 64 đưa Tiểu đoàn 706 vượt sông Hồng sang tả ngạn, tiêu diệt vị trí Đào Thành, với mục đích mở cống lấy nước sông Luộc cứu 3 vạn mẫu lúa đang bị khô héo thuộc 3 huyện Tiên Hưng, Duyên Hà và Hưng Nhân (tình Thái Bình).


Trước nguy cơ hàng loạt đồn bốt bị tiêu diệt, địch huy động 2 binh đoàn cơ động số 4 và 7 mở cuộc càn "Mưa phùn" đánh vào khu du kích phía Nam sông Trà Lý, sau đó đánh sang Thụy Anh, Thái Ninh, ngăn chặn chủ lực ta phát triển lên phía Bắc tỉnh Thái Bình. Trước tình hình đó, Đại đoàn 320 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 523, Trung đoàn 48 và Tiểu đoàn 337, Trung đoàn 52 chặn đánh cuộc càn của địch. Từ ngày 15 đến ngày 19 tháng 2 năm 1952, các đơn vị đã triển khai đội hình, chặn đánh quyết liệt địch ở Quảng Lạc, Ô Trình, Hoành Sơn, Hạ Đồng, Vị Dương, Vị Thủy, diệt 300 tên địch, bảo vệ được nhân dân và địa bàn. Bị đòn đau, ngày 20 tháng 2 năm 1952, địch huy động một lực lượng khá đông bộ binh, có máy bay, xe thiết giáp yểm trợ quyết bao vây "cất vó" Tiểu đoàn 337, Trung đoàn 52 ở làng Hạ Đồng (Hồng Hưng, Thụy Anh) nhưng bị Tiểu đoàn 337 và dân quân du kích địa phương kiên quyết ngăn chặn, đánh bật các đợt tiến công liên tiếp của chúng, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Bị ta đánh thiệt hại nặng, địch buộc phải rút lui, chấm dứt trận càn "Mưa phùn".


Trước các đòn tiến công mạnh của ta ở cả mặt trận chính diện Hòa Bình và thắng lợi lớn ở mặt trận sau lưng địch đã làm thay đổi tình thế đồng bằng Bắc Bộ, ngày 23 tháng 2 năm 1952, quân địch rút chạy khỏi Hòa Bình. Đến ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi.


Trong Chiến dịch Hòa Bình, hướng chính diện và mặt trận sau lưng địch đã phối hợp chặt chẽ về thời gian, chọn mục tiêu hiểm yếu; các lực lượng phối, kết hợp tiến công đồng loạt vào nhiều mục tiêu ở 2 chiến trường cách xa nhau làm cho lực lượng của địch bị căng kéo giữa 2 mặt trận, đối phó lúng túng, bị động, không thể chi viện, ứng cứu cho nhau. Nét đặc sắc của chiến dịch còn thể hiện ở nghệ thuật chỉ đạo phối hợp tác chiến nhịp nhàng giữa 2 mặt trận. Do vậy, ngay từ đầu chiến dịch, địch đã nhiều lần phải điều 2 binh đoàn cơ động số 4 và 7 liên tục cơ động giữa 2 chiến trường, không những không phát huy được hiệu quả của vũ khí hiện đại mà còn bị hao tổn sinh lực. Đây là bước phát triển mới rất quan trọng về nghệ thuật quân sự của ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Đại đoàn 320 dưới sự chỉ huy của đồng chí Văn Tiến Dũng - Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn đã vận dụng tốt và phát triển nghệ thuật tác chiến là "đánh điểm, diệt viện" lên một tầm cao mới; đã vận dụng, kết hợp chặt chẽ linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật tiến công địch phòng ngự, vận động tiến công, phục kích, tập kích; kết hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, giành nhiều thắng lợi quan trọng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình.


Những bài học và kinh nghiệm quý báu được đúc rút ra trong Chiến dịch Hòa Bình, đặc biệt là những kinh nghiệm, bài học có được từ hoạt động tác chiến ở vùng sau lưng địch là cơ sở quan trọng đê Sư đoàn 320 tiếp tục nghiên cứu, vận dụng phát triển trong huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu, xây dựng Sư đoàn có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu ngày càng cao; tiếp bước cha anh lập nên những kỳ tích mới, tô thắm truyền thống "Đoàn kết - Nghiêm túc - Dũng cảm - Chiến thắng" của Đại đoàn Đồng Bằng anh hùng; cùng quân và dân Tây Nguyên xây dựng địa phương ngày càng giàu mạnh; bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #94 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 11:49:26 am »

ĐẠI ĐOÀN 316 TRÊN CHIẾN TRƯỜNG PHỐI HỢP
 VỚI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Thượng tá CHU VĂN THÀNH
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316, Quân khu 2


Sư đoàn 316 (tiền thân Đại đoàn 316) - một trong những Sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951 tại làng Cốc Lùng, xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Sư đoàn 316 đã tham gia chiến đấu trên khắp mọi miền đất nước, lập nhiều chiến công, đóng góp vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Trong những trang vàng truyền thống chói lọi đó không thể không kể đến những đóng góp của Sư đoàn 316 trong Chiến thắng Hòa Bình.


Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công đánh chiếm Hoà Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc, Liên khu 3 và Liên khu 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực, phá sự chuẳn bị tiến công Thu - Đông của ta. Từ ngày 9 đến ngày 14 tháng 11 năm 1951, địch liên tiếp mở 2 cuộc hành quân quy mô lớn đánh chiếm Chợ Bến và thị xã Hòa Bình.


Đánh giá tình hình và âm mưu của địch, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận định, địch đánh ra Hòa Bình có gây khó khăn cho ta, nhưng đây là cơ hội để ta tổ chức đánh địch tốt buộc chúng phải phân tán, để lộ nhiều sơ hở. Theo đó, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công lớn trên 2 mặt trận: Tập trung chủ lực trên mặt trận chính Hoà Bình đồng thời đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, đẩy mạnh chiến tranh du kích trong vùng địch tạm chiếm. Trong đó, Đại đoàn 316 cùng với Đại đoàn 320 được giao nhiệm vụ tiến công vùng sau lưng địch nhằm tiêu hao, giam chân, căng kéo lực lượng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ.


Thực hiện nhiệm vụ đó, ngày 20 tháng 11 năm 1951, Đại đoàn 316 được tăng cường thêm Trung đoàn 246, cơ động về Bắc Giang, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc. Đây là địa bàn có vị trí hết sức quan trọng, có hệ thống giao thông thủy bộ đa dạng, địch có điều kiện phát huy những thế mạnh và chúng đã xây dựng được một hệ thống đồn bốt dày đặc. Tuy nhiên, địch cũng bộc lộ những sơ hở và chủ quan, lực lượng tương đối mòng, về phía ta lại có những thuận lợi là nguồn nhân lực, vật lực có thể cung cấp và bổ sung tại chỗ; hơn nữa, nơi đây trải qua quá trình chiến đấu kiên cường, nhiều khu du kích, làng chiến đấu tiêu biểu đã ra đời như ờ Yên Dũng, Quế Võ, Lang Tài...


Trước những nhận định đánh giá tình hình giữa địch và ta cũng như yêu cầu nhiệm vụ được giao, Đại đoàn 316 xác định nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị trực thuộc và phối thuộc như sau: Trung đoàn 98 có nhiệm vụ tiến vào Bắc Ninh, lấy khu du kích Tiên - Quế - Võ làm nơi đứng chân và phối hợp với lực lượng địa phương tiến công địch ở một số đồn, tạo đà phát triển chiến tranh du kích và võ trang tuyên truyền; Trung đoàn 176 hoạt động tại Lạng Giang, Lục Ngạn bảo vệ liên lạc giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm qua tuyến Đường số 13; Trung đoàn 174 được tăng cường 1 tiểu đoàn phòng không và 1 tiểu đoàn sơn pháo tiến sang Vĩnh Phúc đánh địch, tạo điều kiện cho Trung đoàn 98 đánh địch ở tuyến trong, đồng thời là lực lượng đự bị của đại đoàn. Trong giai đoạn này, Sở Chỉ huy cơ bản của Đại đoàn được đóng ở Bắc Giang do đồng chí Lê Quảng Ba phụ trách; Sở Chỉ huy Tiền phương do đồng chí Chu Huy Mân phụ trách cùng đi với các trung đoàn vào vùng sau lưng địch.


Đây là lần đầu tiên Đại đoàn 316 ra quân với một lực lượng lớn, từ rừng núi xuống trung du, đồng bằng, hoạt động sâu sau lưng địch, vừa đánh vừa làm công tác tuyên truyền vận động, phát triển chiến tranh du kích. Trên hướng Vĩnh Phúc, Trung đoàn 174 đã giành được chiến thắng vang dội đánh vào cứ điểm Larivê, chặt đứt một mắt xích trong hệ thống boongke phòng thủ của địch ở "vành đai trắng", cổ vũ và tăng thêm sức mạnh, khả năng tác chiến của lực lượng ta; gây cho địch lúng túng, hoài nghi, tạo điều kiện cho các hướng chiến dịch phát triển thuận lợi.


Trên hướng Bắc Giang, Bắc Ninh, cuối tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 98 bắt đầu lên đường gấp rút tiến về thôn Trừng Xá (vị trí tập kết) làm công tác chuẩn bị tiến công đồn Thứa và Lang Tài. Đồn Thứa đã được xây dựng và củng cố nhiều lần tương đối vững chắc. Lực lượng địch trong đồn có 1 đại đội quân ngụy và hơn 1 trung đội bảo an. Sau khi làm công tác chuẩn bị, đúng 2 giờ ngày 10 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 215 do đồng chí Nguyễn Đức Y - Tiểu đoàn trưởng chỉ huy, phát lệnh nổ súng. Chỉ trong một thời gian ngắn trận đánh đã giành thắng lợi. Toàn bộ lính trong đồn Thứa bị tiêu diệt và bắt gọn, trong đó có tên quan ba người Pháp. Ta thu được nhiều vũ khí, trang bị. Sau chiến thắng, lòng tin của nhân dân lại càng được củng cố, tạo điều kiện cho đơn vị tiệp tục hoạt động và chiến đấu. Đến cuối tháng 12, Trung đoàn 98 tiếp tục đánh địch ở Phù Ninh, Định Mỗ, Phương Xá, Ruôi... gây cho địch tổn thất nặng nề, buộc chúng phải co cụm, không dám hoạt động. Ở hướng Bắc Giang, Trung đoàn 176 hoạt động ở Trại Mít, Quất Lâm cũng giành được nhiều thắng lợi to lớn.


Sau 1 tháng chiến đấu ở vùng sau lưng địch, Đại đoàn 316 đã lập được nhiều chiến công xuất sắc. Vùng giải phóng gồm 3 huyện Gia Bình, Lang Tài và Thuận Thành (Bắc Ninh) được nối liền tạo thành thế liên hoàn vững chắc, phong trào du kích phát triển mạnh, cơ sở kháng chiến được củng cố.


Ngày 15 tháng 12 năm 1951, Sở Chỉ huy Tiền phương của Đại đoàn cùng Trung đoàn 174 cơ động vào Bắc Ninh. Trung đoàn 174 giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 215 đánh Cầu Ngà, Tiểu đoàn 255 đánh Phố Mới. Đến đầu năm 1952, Trung đoàn 174 chuyển xuống hoạt động ở Nam Bắc Ninh, thực hiện đánh những trận chắc thắng ở các vị trí địch trên Đường số 20, Vân Trai, Đam Trai, Kênh Vàng... Vùng giải phóng được mở rộng từ Gia Lương đến bờ sông Thái Bình, tạo điều kiện phát triến sang hướng Nam Sách (Hải Dương).


Ngày 14 tháng 1 năm 1952, đồng chí Hoàng Văn Thái - Tổng Tham mưu trưởng chỉ thị cho Đại đoàn 316 tiếp tục đẩy mạnh hoạt động trong vùng sau lưng địch, chuẩn bị mọi mặt để đập tan các cuộc càn quét lớn của địch. Chấp hành mệnh lệnh của đồng chí Tổng Tham mưu trưởng, Trung đoàn 174 vượt sông Thái Bình sang Nam Sách phối hợp chiến đấu với chủ lực Quảng Yên. Ngay trong đêm ngày 24 tháng 1 năm 1952, ta diệt hai vị trí An Dật và Vạn Tải, sau đó lại vượt sông trở về Bắc Ninh.


Trong lúc Tiểu đoàn 249 và Tiểu đoàn 255 đánh địch ở Nam Sách thì Tiểu đoàn 251 chuẩn bị đánh Thuận Thành. Tối ngày 25 tháng 1 năm 1952, ta nổ súng tiến công (đúng vào đêm 30 Tết) và giành thắng lợi sau 28 phút chiến đấu. Cũng trong thời gian này, Trung đoàn 98 bao vây bức hàng địch ở Mao Điền bên bờ sông Đuống, thu 30 súng, giải tán 80 nhân viên ngụy quyền mới về tập trung ở đồn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #95 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 11:59:52 am »

Ngày 27 tháng 1 năm 1952, dưới sự chỉ huy của đồng chí Chu Huy Mân, Trung đoàn 98 và Trung đoàn 174 triển khai lực lượng ở phía Đông Đường số 38. Địch ở Thiên Thai bị vây hãm, sau một tuần phải xin cứu viện ở Hà Nội. Trước các đợt hoạt động của ta, quân Pháp phải chấm dứt cuộc càn quét ở Nam Sách, dồn quân về Cẩm Giàng để giải vây cho Thiên Thai. Ngày 7 tháng 2, địch dùng 100 xe cơ giới chở 3 tiểu đoàn đánh vào Nghi An, Cửu Cáp nhưng bị ta chặn đánh, buộc chúng phải co cụm về Trạm Trai, Lạc Thổ.


Đầu tháng 2 năm 1952, Bộ Tổng Tham mưu chỉ rõ vai trò quan trọng của chiến trường sau lưng địch với Mặt trận Hòa Bình đồng thời giao nhiệm vụ cho Đại đoàn 316 tiếp tục đẩy mạnh đánh địch, mở rộng địa bàn hoạt động. Chấp hành chỉ thị đó Đại đoàn 316 chủ trương sử dụng Trung đoàn 174 và Trung đoàn 98 tiếp tục đánh địch ở Bắc Ninh, đồng thời mở rộng địa bàn sang Hưng Yên, Hải Dương. Trung đoàn 176 (tăng cường Tiểu đoàn 888) tiến sâu vào Vĩnh Phúc.


Trung tuần tháng 2 năm 1952, Trung đoàn 98 tiến về Tiên Du, Từ Sơn. Đây là địa bàn quan trọng giáp Hà Nội, địch còn khống chế được dân, cơ sở của ta còn yếu. Vào đến Tam Sơn, các đơn vị của ta đang đào công sự thì một trung đội bảo an có tên quận trưởng Từ Sơn cùng đi tiến vào làng. Ta khẩn trương tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Bị bất ngờ, địch bị ta vây bắt gần hết, số còn lại tháo chạy. Sau đó, chúng cho máy bay trinh sát và bắn pháo vào làng nhưng vẫn không phát hiện được chủ lực ta.


Cùng thời gian này, Trung đoàn 174 vượt Đường số 5 sang hoạt động tại Bình Giang (Hải Dương), Tiểu đoàn 888 Trung đoàn 176 tiến sang Vĩnh Phúc. Vừa tới Bình Giang, Trung đoàn 174 nhận nhiệm vụ tiêu diệt đồn Vân Độ, đêm 26 tháng 2, Tiểu đoàn 249 Trung đoàn 174 nổ súng đánh đồn Vân Độ. Bằng hỏa lực áp đảo và lối đánh táo bạo, chỉ trong 40 phút ta đã tiêu diệt gọn đại đội địch, thu toàn bộ vũ khí. Tiếp đó, với sự giúp đỡ của nhân dân ta đã bao vây, uy hiếp gọi hàng và san bằng nhiều đồn bốt, tháp canh và trạm hương dõng. Bỉnh Giang trở thành vùng giải phóng rộng lớn, trực tiếp uy hiếp lực lượng địch đóng tại Hải Dương, Hưng Yên và Đường số 5.


Sau khi diệt đồn Vân Độ, để đánh lạc hướng địch, Trung đoàn 174 nhanh chóng chuyển sang vùng Bắc Thanh Miện (Hải Dương). Tiểu đoàn 249 ở lại giúp nhân dân khôi phục sản xuất, ổn định đời sống. Nhưng do vị trí quân sự trọng yếu, 2 ngày sau, địch huy động 1 binh đoàn cơ động có không quân, pháo binh chi viện tiến đánh Ba Vì, Ô Xuyên. Tiểu đoàn 249 kiên cường chiến đấu trong một ngày đã đập tan 8 đợt xung phong của địch.


Tại Vĩnh Phúc, ngày 25 tháng 2 năm 1952, Tiểu đoàn 888 Trung đoàn 176 vượt "vành đai trắng" Bắc Đa Phúc vào trú quân ở khu du kích Bình Xuyên (huyện Yên Lãng). Tại đây Tiểu đoàn 888 kết hợp với các lực lượng địa phương quét tề, trừ gian, mở rộng khu du kích sang hướng Bình Lâm, Nho Lâm (huyện Yên Lạc). Đêm 3 tháng 3 năm 1952, Đại đội 813 đánh bốt Đồng Tâm, diệt và bắt 40 hương dõng, thu toàn bộ vũ khí. Đại đội 812 bao vây bức rút đồn Đồng Mẫu. Ngày 4 tháng 3 năm 1952, địch điều quân từ Phúc Yên lên đánh chiếm lại Đồng Mẫu và Đồng Tâm nhưng bị ta đánh lui. Ngày 5 tháng 3 năm 1952, địch huy động một lực lượng lớn gồm 6 tiểu đoàn bộ binh, 196 xe tải, 16 xe thiết giáp, 44 xe tăng, 4 máy bay, 3 canô mở cuộc bao vây, càn quét khu vực Nam thị xã Vĩnh Yên. Tiểu đoàn 888 cùng bộ đội địa phương và dân quân du kích đã chủ động kịp thời phân tán lực lượng, dùng lối đánh du kích đánh trả địch quyết liệt. Tại Tứ Trương, Ngũ Kiên, Đại đội 811 cùng các lực lượng tại chỗ đánh liên tiếp 5 đợt tiến công của địch, rồi tổ chức phản kích phá vỡ vòng vây vượt ra ngoài di chuyển lên Bình Xuyên. Sau 7 ngày liên tục chống càn, Tiểu đoàn 888 đã tiêu diệt 300 tên, phá huỷ 4 xe. Ngày 10 tháng 3, Tiểu đoàn rút về Xuân Bảng (bắc Đa Phúc) sẵn sàng nhận nhiệm vụ.


Ngày 23 tháng 2 năm 1952, địch rút khỏi Hòa Bình. Đây là một thắng lợi chiến lược của ta, trong cùng một lúc đánh địch ở 2 mặt trận: Chiến trường và sau lưng địch. Đại đoàn 316 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và nhận lệnh của Bộ rút ra vùng tự do để củng cố. Trung đoàn 98 tiếp tục ở lại Bắc Ninh. Trung đoàn 174 từ Bình Giang chuyển về Bắc Ninh. Đêm 12 tháng 3 năm 1952, trong lúc vượt Đường số 5, Trung đoàn 174 bị địch chặn đường, buộc phải quay trở lại Hải Dương tìm hướng khác hành quân. Trung đoàn chủ trương đánh vào Thanh Miện, vòng sau Hưng Yên gây lạc hướng địch, sau đó bí mật quay về Thuận Thành (Bắc Ninh).


Ngày 25 tháng 2 năm 1952, Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta trong việc chỉ đạo tiến công chiến dịch và đưa lực lượng vũ trang của Quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên 2 mặt trận rộng lớn và phức tạp. Đồng thời, tạo ra cơ hội cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho Quân đội ta tạo đà tiến lên mạnh mẽ hơn. Đặc biệt đối với Đại đoàn 316 (nay là Sư đoàn 316) thông qua phối hợp, chia lửa trong Chiến dịch Hoà Bình đã góp phần củng cố vững chắc sức mạnh, khả năng cơ động chiến đấu và chiến thắng của Sư đoàn. Đồng thời, đây cũng chính là những năm tháng gian khổ mà hào hùng, khẳng định lòng trung thành tuyệt đối của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự tin yêu của nhân dân. Ở đâu và bất cứ lúc nào cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 đều thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, nêu cao tinh thần dũng cảm, kiên cường, bền bỉ, sáng tạo vượt qua mọi khó khăn cùng những gian khổ, hy sinh để giành chiến thắng, xứng đáng là một đơn vị anh hùng.


Phát huy tinh thần Chiến thắng Hoà Bình, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ngừng xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tình hình mới. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; mài sắc ý chí sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng; đoàn kết, thống nhất, năng động, đổi mới và sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thừ thách; hăng hái phấn đấu vươn lên giành nhiều chiến công và thành tích mới trong xây dựng, huấn luyện, học tập và công tác. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Sư đoàn vững mạnh toàn diện, "mẫu mực tiêu biểu", sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #96 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:01:54 pm »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TỈNH HÒA BÌNH
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Đại tá NGUYỄN QUỐC TOÀN
Chỉ huy trường Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Chiến dịch Hòa Bình là một dấu ấn quan trọng, mốc son của quân và dân ta nói chung, quân và dân Hòa Bình nói riêng, trọng đó có sự đóng góp to lớn của lực lượng vũ Irang Hòa Bình đê làm nên chiến thắng này.


Vào tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp tập trung một lực lượng lớn mở cuộc tiến công ra Hoà Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Theo đó, ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp mở cuộc hành binh "Hoa Tuylíp" đánh chiếm Chợ Bến. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân Pháp tiếp tục mở cuộc hành binh "Hoa Sen" - Lôtuýt đánh chiếm thị xã Hòa Bình (nay là thành phố Hòa Bình) và Tu Vũ (nay thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ).


Trước kế hoạch của thực dân Pháp, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, thống nhất đề nghị Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cho mở chiến dịch tại Hòa Bình, chuyển hướng hoạt động sang tiến công địch mới chiếm đóng; xác định Hòa Bình là hướng chính, các nơi khác là hướng phối hợp. Mục đích của chiến dịch là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến Sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định tình hình địch, trên cơ sở đó quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ.


Tại Mặt trận Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giao Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 tiến công trên hướng chủ yếu, có nhiệm vụ phá vỡ tuyến phòng ngự Sông Đà của địch; Đại đoàn 304 đảm nhiệm hướng thứ yếu, có nhiệm vụ kiềm chế địch ở thị xã Hoà Bình và đánh địch trên Đường số 6.


Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch tiến công Hòa Bình bắt đầu. Sau trận mở màn chiến dịch, tấn công cứ điểm Tu Vũ (10 - 11.12.1951), quân ta liên tiếp tổ chức nhiều trận phục kích uy hiếp nặng nề Đường số 6 nơi được coi như mạch máu tiếp tế trên bộ của quân Pháp ở Hòa Bình. Trong đó có những trận phục kích đã làm cho giặc Pháp trở nên khiếp nhược như trận phục kích Cầu Dụ ta diệt 34 xe cơ giới và hàng trăm tên địch, trận Giang Mỗ ta diệt 10 xe cơ giới, trong đó có cả xe tăng.


Tiếp đó, ngày 11 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 375 (Trung đoàn 66 Đại đoàn 308) có sự phối hợp của Tiểu đoàn 616 địa phương, Đại đội 16 (Kỳ Sơn) và du kích xóm Dụ (Mông Hóa) chặn địch ở dốc Kẽm, diệt 2 trung đội địch, phá hỏng 11 xe vận tải, giải thoát cho trên 100 đồng bào bị bắt đi phu. Ngày 13 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 353 (Trung đoàn 9 Đại đoàn 304) phối hợp với bộ đội tình đánh trận Giang Mỗ (xã Bình Thanh, huyện Kỳ Sơn) tiêu diệt và bắt sống hơn 1 đại đội Âu - Phi, phá hủy 5 xe cơ giới, 1 xe tăng. Trong trận này nổi lên tấm gương dũng cảm của Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan gan dạ đuổi theo xe tăng địch, nhảy lên xe, mở nắp ném lựu đạn vào trong xe, tiêu diệt xe tăng địch. Chiến công và tên tuổi người anh hùng mãi mãi gắn liền lịch sử chiến thắng Chiến dịch Hòa Bình.


Ngày 22 tháng 12 năm 1951, Đại đội pháo binh 786 phối hợp với Đại đội 16 (Kỳ Sơn), Đại đội 116 (Mai Đà) và du kích các xã Yên Mông, Hòa Bình bí mật bố trí trận địa phục kích liên hoan trên sông Đà dài 6km, từ xóm Mỵ (Yên Mông) đến Lạc Song (Phú Thọ). Kết quả trận này ta tiêu diệt 4 canô và 1 tàu chiến, LCT cùng hàng trăm tên địch... Tiểu đoàn 616 của tỉnh phối hợp du kích xóm Chăm (xã Quỳnh Lâm) phục kích tại dốc Cun phá hủy 1 xe, tiêu diệt hàng chục tên địch, bẻ gãy cuộc tấn công của địch vào Đường số 12A Trung đoàn chủ lực 36 (Sư đoàn 308) phối hợp du kích Xã Mông ra phục kích địch tại cầu Mè, phá hủy 34 xe, tiêu diệt nhiều địch.


Đến đợt 3 Chiến dịch Hòa Bình (7.1-25.2.1952), ta đã tổ chức nhiều trận đánh các đoàn tàu pháp trên sông Đà và tập trung lực lượng đánh địch ở thị xã Hòa Bình và trên Đường số 6. Các tuyến tiếp tế đường thủy và đường bộ của quân Pháp cho Hòa Bình đều bị cắt đứt. Tiếp đà chiến thắng, trên hướng phối hợp, 2 đại đoàn luồn sâu vào tấn công vùng địch hậu ở đồng bằng Bắc Bộ, khiến hệ thống đồn bốt thực dân Pháp sụp đổ từng mảng. Các tiểu đoàn cơ động của pháp còn lại ở vùng đồng bằng Bắc Bộ phải liên tục chạy ngược, chạy xuôi cứu viện nhau. Lực lượng du kích của ta ở các địa phương có bước phát triển mạnh mẽ hơn trước, gây cho địch những thiệt hại đáng kể.


Trong khi đó, tại Hòa Bình, đêm mùng 7 tháng 1 năm 1952, Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308) đã tổ chức tiến công tiêu diệt đồn Pheo; Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308) được du kích địa phương dẫn đường tập kích thị xã Hòa Bình, diệt các vị trí ngoại vi. Chỉ trong 1 đêm ta hạ 6 đồn. Tiêu biểu là trận đánh của 40 cán bộ, chiến sĩ được huấn luyện chu đáo bất ngờ thọc sâu vào tiêu diệt cụm pháo gồm 4 khẩu pháo 105mm ở sát sân bay Hòa Bình, bắt 20 tên địch, trong đó có tên quan ba chỉ huy. Ngày 8 tháng 1 năm 1952, địch phải rút toàn bộ lực lượng chốt ven sông Đà về tăng cường phòng thủ cho khu vực thị xã. Những ngày tiếp theo, các đơn vị bộ đội địa phương đã phối hợp với bộ đội chủ lực liên tiếp phục kích, chống càn quét, quấy rối, tập kích các vị trí địch. Các đại đội 121 (Lương Sơn), 16 (Kỳ Sơn), 116 (Mai Đà) và 112 (Lạc Sơn) phân tán về các địa phương củng cố, xây dựng lực lượng du kích, đẩy mạnh chiến tranh du kích. Du kích các xã Yên Mông, Hòa Bình, Thịnh Lang, Mông Hóa, Quỳnh Lâm, Phú Cường, Cao Dương, Liên Sơn, Hoàng Sơn... đã tích cực phục vụ, phối hợp chiến đấu cùng bộ đội chủ lực, tham gia tổ chức vận chuyển, giúp đỡ bộ đội hành quân, chuẩn bị trận địa, diệt tề trừ gian, phá cầu đường, phục kích địch...


Ngoài lực lượng trực tiếp tham gia chiến đấu, lực lượng dân công phục vụ chiến đấu, tiếp lương, tải đạn, cứu thương, giúp bộ đội xây dựng công sự trận địa, xây dựng doanh trại, đưa bộ đội qua sông... được tổ chức với quân số hàng nghìn người. Trong chiến đấu, bộ đội địa phương có sự trưởng thành vượt bậc, độc lập tác chiến nhiều trận rất hiệu quả. Điển hình như Tiểu đoàn 616 tập kích quân địch đi càn trú đóng tại điểm cao 585, diệt và bắt 100 tên; Đại đội 116 của du kích Hiền Lương, tại bến Trương bẻ gãy cuộc càn quét lên Chợ Bờ; du kích Cao Dương cắt hàng nghìn mét dây điện thoại địch ở Đường số 21; du kích Quỳnh Lâm, Mông Hóa, Yên Mông thường xuyên bố trí bắn trả địch, không cho chúng vào làng.


Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, công tác binh, địch vận cũng được quan tâm và thực hiện có hiệu quả, khắp nơi đều có cán bộ, có cơ sở kháng chiến hoạt động thường xuyên, bám sát địch và vận động ngụy binh đào ngũ, bỏ ngũ, phản chiến... Kết quả, đã có hơn 50 binh lính địch, trong đó có cả lính Âu - Phi mang vũ khí ra đầu hàng. Hơn 100 ngày diễn ra chiến dịch, quân và dân Hòa Bình đã tiếp nhận và phân phối đến từng đơn vị chiến đấu ngoài mặt trận hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược, lương thực, thực phẩm bảo đảm cho bộ đội đánh thắng. Nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã huy động 200.000 ngày công phục vụ công tác vận chuyển, ủng hộ bộ đội 325 con bò, 200 con lợn, hàng chục tấn lương thực, thực phẩm, hàng nghìn cây tre bương để làm lán trại, làm hàng trăm bè mảng vượt sông suối. Cùng với đó, 291 thanh niên đồng bào các dân tộc Hòa Bình tòng quân, bổ sung cho Quân đội.


Trong khi thế trận chiến tranh nhân dân của ta ngày càng lên cao thì quân Pháp ở Hòa Bình ngày càng rơi vào thế lúng túng chống trả yếu ớt. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 23 tháng năm 1952, địch buộc phải rút chạy, thị xã Hòa Bình được giải phóng. Trên đường rút chạy địch bị lực lượng vũ trang tổ chức truy kích, phục kích, chặn đánh gây ra một số tồn hại nhất định nhất là đoạn đường dài 40km từ Hòa Bình về Xuân Mai, phải mất 2 ngày địch mới rút hết về căn cứ Xuân Mai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #97 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:10:52 pm »

Ngày 25 tháng 2 năm 1952, chiến dịch kết thúc thắng lợi, Hòa Bình được giải phóng lần thứ 2. Trong chiến dịch này, quân và dân tỉnh Hòa Bình tham gia, hiệp đồng phối hợp với bộ độ chủ lực tiêu diệt 6.012 tên, phá hủy 156 xe các loại, 17 tàu chiến, canô, 12 khẩu đại bác; thu trên 800 khẩu súng, có 24 khấu pháo cỡ lớn, 88 máy vô tuyến điện, 10 tấn đạn và 23 nghìn lít xăng dầu... Hòa Bình được giải phóng đã giữ vững đường giao thông liên lạc giữa Việt Bắc với Liên khu 3 và Liên khu 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, làm thất bại âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp. Chiến thắng đó là kết quả của ý chí, tinh thần chịu đựng gian khổ, khắc phục khó khăn, tự lực, tự cường của quân và dân Hòa Bình góp phần tạo nên thắng lợi.


Ra đời và phát triển trên cơ sở các đội vũ trang cách mạng của Đảng, Quân đội, lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc, nuôi dưỡng, không ngừng trưởng thành lớn mạnh. Phát huy truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Chiến thắng Hòa Bình, lực lượng vũ trang tỉnh luôn nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các giai đoạn cách mạng. Thực hiện sự nghiệp đổi mới của đất nước, đứng trước những cơ hội và thách thức, nhất là tác động bởi mặt trái của cơ chế thị trường; lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống, làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, vững vàng về bản lĩnh chính trị, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và nhân dân, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh tại địa phương. Có được những chiến công, những thành tích trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành; tất cả những điều đó thể hiện bản lĩnh chính trị, đức hy sinh cao cả và tinh thần đoàn kết, khắc phục khó khăn của lớp lớp cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh trong suốt thời gian qua.


Để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của Quân đội trong tình hình mới, lực lượng vũ trang tỉnh tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tích cực đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục chính trị; tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luậl của Nhà nước. Đặc biệt cần quán triệt, nhận thức sâu sắc đường lối, quan điểm quân sự, quốc phòng của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi "nước chưa nguy"; tham mưu cho Đảng, Nhà nước về đường lối, chính sách, pháp luật về quốc phòng, quân sự, xử lý các tình huống quốc phòng, an ninh, phòng chống âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Lực lượng vũ trang Hòa Bình tiếp tục cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng đi vào chiều sâu vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, góp phần cùng với quân và dân cả nước bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyên, toan vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc.


Thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho mọi cán bộ, chiến sĩ lực lượng vu trang tỉnh, bám sát hơn sự phát triển của thực tiễn đất nước, Quân đội và của địa phương, làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối đổi mới của Đảng; nắm chắc đối tượng, đối tác, hiểu được bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; có khả năng nhận thức, phân tích, xử lý những vấn đề phức tạp đang diễn ra thực tiễn hằng ngày; tăng cường tính chiến đấu, trong sinh hoạt, học tập và công tác ở mỗi đơn vị trong lực lượng vũ trang tỉnh. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải kết hợp với đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng trong các đơn vị khơi dậy tính tích cực, động cơ phấn đấu vươn lên làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật, có kiến thức nhất định về kinh tế, văn hoá - xã hội; tích cực tuyên truyền gương "người tốt, việc tốt", kết hợp phê phán, đấu tranh với những nhận thức mơ hồ, lệch lạc về đối tượng đối tác. Đồng thời, thực hiện nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo đảm để dân chủ được phát huy đầy đủ trong các đơn vị lực lượng vũ trang tỉnh.


Trong tình hình hiện nay, đi đôi với việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, cần tập trung nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Đồng thời, thực hiện tốt chức năng đội quân công tác, đây là một nhiệm vụ chính trị vừa cơ bản, vừa cấp bách của Quân đội ta. Đòi hỏi lực lượng vũ trang tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành đoàn thể tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương, làm tốt công tác vận động quần chúng, tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, thực hiện tốt Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sông văn hóa ở khu dân cư"; xây dựng đơn vị an toàn, địa bàn an toàn và xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy và cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu; coi trọng xây dựng chất lượng chính trị, chất lượng huấn luyện, diễn tập, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về sức chiến đấu, năng lực điều hành, quản lý của người chỉ huy và ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật, điều lệnh, điều lệ, chế độ quy định của Quân đội và cải cách hành chính quân sự. Đi đôi với nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu đảm bảo cho lực lượng vũ trang tỉnh chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống là đẩy mạnh phong trào thi đua quyết thắng gắn thực hiện tốt Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các cuộc vận động ở địa phương, tuyên truyền vận động nhân dân thực hiên tốt mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể tham gia xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống lụt bão - tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ và khắc phục hậu quả thiên tai, phòng chống dịch bệnh.


Phát huy tinh thần chiến thắng Chiến dịch Hòa Bình, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh Hòa Bình luôn phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng là lực lượng tin cậy của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tinh, thực hiện tốt chức năng tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ ngày càng vững chắc; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh có chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao; góp phần xây dựng tỉnh Hòa Bình giàu về kinh tế, vừng về chính trị, mạnh về quốc phòng, an ninh, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiẹn thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #98 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:12:08 pm »

QUÂN VÀ DÂN THỊ XÃ HÒA BÌNH
GÓP PHẨN GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG

Đồng chí NGÔ NGỌC ĐỨC
Bí thư Thành ủy Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình


Thị xã Hòa Bình (nay là thành phố Hòa Bình) là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Hòa Bình, có diện tích tự nhiên 348,65km2, dân số 135.718 người, với cộng đồng dân tộc chủ yếu là người Kinh, người Mường, người Dao và một số rất ít người Thái, Tày, Mông, Hoa cùng chung sống. Hiện nay, thành phố Hòa Bình có tổng số 19 đơn vị hành chính cáp xã, gồm 12 phường, 7 xã.


Đầu năm 1951, châu Mai Đà chuyển về tỉnh Hòa Bình, 3 xã Hòa Bình, Thịnh Lang và Yên Mông được bàn giao về huyện Kỳ Sơn quản lý và xây dựng. Thực hiện chủ trương của Tỉnh ủy là tích cực xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, đẩy mạnh công tác trừ gian, gìn giữ bí mật, xây dựng Hòa Bình thành hậu phương vững mạnh, các chi bộ đảng và chính quyền các địa phương đã chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng, củng cố lực lượng dân quân, du kích của địa phương. Các ban chỉ huy xã đội, thôn đội được kiện toàn. Trong đó, xã đội trưởng do đồng chí bí thư chi bộ hoặc chi ủy viên trực tiếp đảm nhiệm, còn các thôn đội trưởng phải là đảng viên. Nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn đó, số lượng dân quân, du kích tập trung ngày càng phát triển mạnh. Đến giữa năm 1951, xã Quỳnh Lâm có 3 đại đội dân quân du kích; xã Hòa Bình và xã Yên Mông, mỗi xã có 2 đại đội; xã Thịnh Lang có 1 đại đội. Đặc biệt, xã Yên Mông còn xây dựng được 1 trung đội nữ du kích. Các đại đội, trung đội dân quân du kích tập trung của các xã tích cực luyện tập quân sự, tổ chức canh gác chu đáo nhằm kịp thời phát hiện và chặn đứng hành động phá hoại của bọn gián điệp và biệt kích.


Cùng với đó, các trận địa liên hoàn theo quy mô xóm, thôn cũng được xây dựng ở xã Yên Mông và xã Quỳnh Lâm. Phong trào toàn dân tham gia bảo trợ du kích có bước phát triển mạnh mẽ. Nhân dân xã Yên Mông tự nguyện góp hơn chục tấn thóc và hàng vạn đồng để ủng hộ kháng chiến; nhân dân xã Quỳnh Lâm cũng dành 5 mẫu ruộng tốt nhất cho dân quân du kích tự cày cấy bảo đảm đời sống. Hội Phụ lão ở các xã tích cực vót chông, làm cạm, vót tên, nỏ, tẩm thuốc độc để ủng hộ du kích. Hội Phụ nữ phát động phong trào trồng bông, gai, làm chăn, dệt vải tặng cho du kích làm nhiệm vụ canh gác bảo vệ xóm làng...


Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp mở cuộc tấn công đánh chiếm tỉnh Hòa Bình, do tướng Xalăng (Salan) chỉ huy. Ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân địch đánh chiếm khu vực Đường số 21 và chợ Bến. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân địch tiến công lên thị xã Hòa Bình bằng 3 mũi: Mũi thứ nhất, cơ động từ Xuân Mai lên và chiếm giữ các vị trí xung yếu trên Đường số 6. Mũi thứ hai, ào ạt nhảy du xuống Thịnh Lang, Phố Đúng, Hòa Bình và dàn quân chiếm đóng 2 bên bờ sông Đà. Mũi thứ ba, dùng canô, tàu thủy từ Sơn Tây tiến lên chiếm Tu Vũ, kiểm soát dọc sông Đà lên tới Phương Lâm. Kết quả, chúng nhanh chóng chiếm được thị xã Hòa Bình, kiểm soát dọc sông Đà từ Phú Thọ tới Phương Lâm. Sau đó, địch tập trung lực lượng xây dựng các vị trí kiên cố trên Đường số 6, thị xã Hòa Bình, dọc sông Đà, với khoảng 50 vị trí, hình thành 3 phân khu (Phân khu Sông Đà, Phân khu Thị xã và Phân khu Chợ Bến). Riêng Phân khu Thị xã có gần 30 đồn bốt.


Nhân cơ hội này, bọn lang đạo phản động ráo riết khôi phục lại "xử Mường tự trị".

Về phía ta, được Tỉnh ủy và Huyện ủy Kỳ Sơn trực tiếp chỉ đạo, ngay từ ngày 9 tháng 11 năm 1951, khi địch đánh chiếm Đường số 21 và Chợ Bến, cán bộ, đảng viên các xã đã tổ chức cho nhân dân khẩn trương di chuyển lên Chuộn Trại để tránh thương vong. Đối với lực lượng du kích, do quân địch khá đông, hỏa lực mạnh, nên không triển khai chiến đấu đối mặt với quân thù mà chỉ tổ chức phục kích bắn tỉa, giúp đỡ nhân dân sơ tán an toàn. Ngoài ra, còn hỗ trợ các cơ quan của tỉnh khẩn trương rời thị xã về khu Căn cứ.    


Ngày 18 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương và Tổng Quân ủy quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy. Ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch", vạch rõ, đây là "cơ hội tốt để ta đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình, trên các mặt trận khác và sau lưng địch"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 599).


Theo đó, quân và dân tỉnh Hòa Bình khẩn trương chuẩn bị thực hiện chiến dịch. Để triển khai đánh địch ở dọc sông Đà, Đường số 6 và thị xã, các đại đoàn bộ đội chủ lực như: 304, 308 và 312 được khẩn trương điều về Hòa Bình để chuẩn bị chiến trường. Chi bộ và ủy ban kháng chiến hành chính các xã Yên Mông, Quỳnh Lâm, Hòa Bình và Thịnh Lang quán triệt chủ trương mở chiến dịch của Trung ương và chỉ thị của Tỉnh ủy Hòa Bình tới cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Theo sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Tỉnh đội Hòa Bình và Huyện ủy Kỳ Sơn, du kích Quỳnh Lâm phối hợp chặt chẽ với các đơn vị thuộc Đại đoàn 304 và 312; du kích Hòa Bình, Thịnh Lang, Yên Mông phối hợp tác chiến với các đơn vị thuộc các đại đoàn 308, 312 và 304. Nhân dân thị xã Hòa Bình đã vượt qua mọi địa hình, luồn qua nhiều đồn bốt địch để đưa hàng chục tấn gạo đến các kho trung tuyến ở Mãn Đức (huyện Lạc Sơn), Rạch (huyện Kim Bôi). Hàng trăm thanh niên khỏe của địa phương lên đường phục vụ hàng nghìn ngày công đổ tải đạn, sửa đường, đóng bè mảng, làm lán trại, chuyển thương binh về hậu tuyến. Ngay đợt đầu của Chiến dịch, xã Thịnh Lang đã ủng hộ được 5 tấn thóc, 5 tạ gạo, 3 tạ muối, 300m vải cùng 30 dân công lên đường phục vụ chiến dịch. Đồng bào Dao xã Quỳnh Lâm đã cử 50 nam nữ thanh niên đi dân công giúp vận chuyển pháo để chiếm lĩnh trận địa đồi Rảnh khống chế địch bờ trái sông Đà.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #99 vào lúc: 06 Tháng Mười Một, 2023, 12:13:16 pm »

Các đoàn dân công của địa phương lên đường đi vận chuyển lương thực từ Phú Thọ về nhập vào các kho trong núi thuộc xã Hòa Bình, Thịnh Lang. Nhiều anh chị em ở xã Hòa Bình đã ngày đêm sát cánh cùng bộ đội, dần đường đưa bộ đội chủ lực vào bốt Gai, bốt Đúng; tuyên truyền, động viên nhân dân ủng hộ giúp đỡ bộ đội, nhận và chuyển hàng tạ gạo; tổ chức tiếp tế cơm, nước cho các phân đội pháo binh chốt giữ trên các điểm khống chế địch ờ Phân khu Thị xã. Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc tổ chức đan hàng nghìn đôi sọt, làm hàng trăm cáng thương kịp thời phục vụ chiến dịch. Khi chiến dịch chuyển sang đợt 2, yêu cầu phải đưa bộ đội vượt sông Đà gấp, tổ chức phụ nữ, phụ lão xã Yên Mông đã xung phong và đảm nhận bơi thuyền đưa bộ đội qua sông an toàn. Du kích xóm Chăm (xã Quỳnh Lâm) phối hợp với Tiểu đoàn 616, phục kích địch ở Dốc Cun, diệt 8 tên địch và một xe cam nhông.


Khi Đại đoàn 308 tiêu diệt gọn đồn Tu Vũ, Đại đoàn 312 chiếm lĩnh Điểm cao 600 (Ba Vì) thì Đại đội 116 (Mai Đà) và Đại đội 16 (Kỳ Sơn) cùng du kích các xã Yên Mông, Hòa Bình và Đại đội pháo binh 786 đã phối hợp chia lửa chiến trường, bố trí trận địa phục kích liên hoàn trên sông Đà đoạn từ Mỵ - Yên Mông - Lạc Song (dài 6km). Ngày 12 tháng 12 năm 1951, với sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích, ta đã tiêu diệt 4 canô, 1 tàu LCT khiến hàng chục tên địch bị nhấn chìm xuống lòng sông Đà. Ngày 15 tháng 12 năm 1951, du kích Bình Thanh, Chăm, Vôi, Tháu (xã Quỳnh Lâm) phối hợp với Tiểu đoàn 353 (Trung đoàn 66 Đại đoàn 304) phục kích tại Giang Mỗ đánh tan 1 tiểu đoàn địch, bắt gần 1 đại đội, phá hủy 6 xe cơ giới. Trong trận chiến đấu này, anh hùng Cù Chính Lan đã dũng cảm đuổi theo xe tăng địch, nhảy lên xe dùng lựu đạn diệt xe tăng địch.


Đêm mùng 7 tháng 1 năm 1952, du kích xã Thịnh Lang và xã Hòa Bình cùng với Trung đoàn 36 tiến công địch ở 4 cứ điểm: Dè, Gai, Dậm, đồi Trùng bắt 50 tên, thu toàn bộ vũ khí. Du kích xã Thịnh Lang dẫn đường và hiệp đồng chiến đấu với bộ đội chủ lực, tấn công sân bay Thịnh Lang và các trận địa pháo binh địch ở Ba Vành, đồi Thông (sau phổ Đúng), phá hủy 4 khẩu pháo 105mm, bắt hàng chục tên pháo thủ. Du kích và cán bộ xã Hòa Bình và xã Thịnh Lang còn phục vụ Đại đội 755 chốt giữ trên điểm cao 170, khống chế sân bay Thịnh Lang, phá hủy 3 máy bay và bắn cháy 4 chiếc, sân bay bị hoàn toàn tê liệt. Du kích Bình Thanh (Quỳnh Lâm) phối hợp với Trung đoàn 36, Đại đội 112 Lạc Sơn và Đại đội pháo binh 756 san phẳng các đồn: Chăm, Dậm, Trùng, Máng Nước (Sẩy).


Giữa tháng 1 năm 1952, tình thế địch ở Phân khu Thị xã rất nguy khốn, đường tiếp tế bị chặt đứt, các bốt địch không liên lạc được với nhau. Bọn tề ngụy ban đêm phải chui vào đồn, bốt kiên cố để tránh khỏi sự truy bắt của ta. Đêm 1 tháng 2 năm 1952 du kích xã Quỳnh Lâm phối hợp với Tiểu đoàn 616 (bộ đội chủ lực của tỉnh) và Tiểu đoàn 353 (Trung đoàn 66 Đại đoàn 304) tiến công đồn Gô Tô nằm trên Đường số 16. Đồn Gô Tô bị tiêu diệt - đường tiếp tế bằng xe cơ giới bị cắt, quân địch ở Phân khu Thị xã bị tê liệt và có nguy cơ bị tiêu diệt. Ngày 23 tháng 2 năm 1952, trước sức tiến công mạnh mẽ của ta, giặc Pháp bị tổn thất nặng nề, buộc phải rút quân khỏi thị xã Hòa Bình.


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình có sự đóng góp xứng đáng của quân và dân các dân tộc thị xã Hòa Bình. Hơn 100 ngày đêm chiến đấu và phục vụ chiến đấu, quân và dân thị xã Hòa Bình đã đóng góp hàng vạn ngày công để chuyển lương, tải thương, tải đạn... phục vụ bộ đội "ăn no, đánh thắng". Nhân dân đã dành 30 tấn thóc, góp 200 thuyền bè, hàng trăm con trâu, bò, hàng tạ gà, vịt, rau các loại. Riêng lực lượng du kích địa phương đã độc lập tác chiến 10 trận, phối hợp với bộ đội chiến đấu 30 trận, tiêu diệt hàng trăm tên địch, thu nhiều vũ khí, quân trang, quân dụng khác. Chiến dịch Hòa Bình kết thúc thắng lợi, quê hương được giải phóng, quân và dân các dân tộc thị xã Hòa Bình dạt dào niềm vui chiến thắng, giải phóng quê hương, được sống trong tự do, càng tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.


Ngay sau khi thực dân Pháp rút chạy, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương, quân và dân thị xã Hòa Bình và khu vực lân cận đã nhanh chóng khắc phục khó khăn, thiếu thốn, ổn định đời sống. Việc tháo gỡ bom mìn, tổ chức khai hoang phục hóa hàng trăm mẫu ruộng được hoàn thành trong một thời gian ngắn. Nhân dân các xã Yên Mông, Thịnh Lang và Quỳnh Lâm đã mua sắm được một số trâu bò, nông cụ để khai hoang sản xuất.


Quá trình xâv dựng, chiến đấu và trưởng thành trong hơn 60 năm qua, lực lượng vũ trang thành phố Hòa Bình luôn hoàn thành các nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương, nêu cao tinh thần lao động giúp dân, được nhân dân tin yêu, góp phần giữ vững an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn thành phố; nêu cao truyền thống: "Đoàn kết, hiệp đồng, lập công, chiến thắng"; góp phần tô thắm truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM