Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 25 Tháng Sáu, 2024, 09:08:17 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 3781 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #70 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:34:21 am »

NHỚ LẠI CÔNG TÁC CHUẨN BỊ CHIẾN TRƯỞNG
CỦA TRUNG ĐOÀN 88 TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH


Đại tá NGUYỄN QUỐC THỊNH
Nguyên sĩ quan tác huấn Trung đoàn 88,
Đại đoàn 308 trong Chiến dịch Hòa Bình,
nguyên Phó Giám đốc Học viện Khoa học quân sự


Đông - Xuân 1951 - 1952, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình (10.12.1951 - 25.2.1952). Đây là một sự kiện quan trọng góp phần tạo nên bước phát triển mới trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp: Quân và dân ta tiếp tục giữ quyền chủ động và phát triển thế tiến công chiến lược, trong khi thực dân Pháp ngày càng lâm vào thế bị động, lúng túng, bị mất quyền chủ động chiến lược. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình chẳng những đánh dấu bước phát triển của Quân đội ta về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên cả hai mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch rất rộng lớn mà còn ghi nhận bước tiến mới về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đây cũng là lần đầu tiên Quân đội ta tiến công quân địch phòng ngự kiểu lập đoàn cứ điểm và giành thắng lợi.


Sinh ra, lớn lên và học tập ở Hà Nội, ngay từ năm học lớp 4, lớp 5 bậc tiểu học, tôi đã tham gia phong trào Hướng đạo sinh do các ông Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu lãnh đạo. Sau Cách mạng Tháng Tám, mùa Hè năm 1946, tôi được dự lớp "Trẻ Gióng" do Đội tự vệ chiến đấu Hà Nội tổ chức, được học lập cách sử dụng vũ khí, giúp rất nhiều cho công tác trinh sát, tác huấn sau này. Khi tham gia Quân đội, do bộ đội ta lúc đó nhiều người chưa biết chữ, trong khi tôi đã học xong đệ tam phổ thông (tương đương như lớp 8 hiện nay) nên được nhiều chỉ huy đơn vị lúc đó như các anh Phạm Hồng Cư, Trần Xuân Trường, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thái Dũng... quý mến, giúp đỡ. Nhờ nhanh nhẹn, thông minh, có tố chất của công tác trinh sát nên các trận đánh của đơn vị tôi đều được đi theo. Do đó, tôi học tập được nhiều kinh nghiệm, kiến thức về trinh sát và tác huấn.


Chiến dịch Hòa Bình đã diễn ra cách đây 70 năm nhưng mỗi lần nhắc đến, những ký ức của một thời chiến đấu gian khổ nhưng rất vẻ vang lại ùa về trong tâm trí tôi. Khi đó, tôi là sĩ quan tác huấn Trung đoàn 88, Đại đoàn 308, được trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị chiến trường của Trung đoàn trong suốt chiến dịch, đặc biệt là công tác chuẩn bị cho những trận đánh quyết định, tiêu biểu nhất là trận công kiên Tu Vũ mở màn chiến dịch mà tôi không thể nào quên.


Giữa năm 1951, bộ đội ta vừa trải qua đợt chỉnh huấn, vì vậy, trình độ nhận thức về nhiệm vụ chính trị được nâng cao. Cán bộ, chiến sĩ đều có tinh thần quyết tâm, mong muốn được đi chiến đấu. Sau khi quân Pháp đánh chiếm Hòa Bình, Trung đoàn 88 chúng tôi vẫn đóng quân ở Phú Thọ. Trong anh em, có người thắc mắc và viết trên bích báo:

   Chiến dịch Thu Đông đã mở rồi;
   Đại đoàn chủ lực vẫn nằm chơi!

Đúng như mong đợi của cán bộ, chiến sĩ lúc đó, cuối tháng 11 năm 1951, Trung đoàn 88 chúng tôi được lệnh chuẩn bị tiến công cứ điểm La Phù. Qua nghiên cứu sơ bộ, La Phù là cứ điểm nằm ở tả ngạn sông Đà, cách Trung Hà chừng 30km, xung quanh là vùng ngập nước. Trung đoàn 88 đã có kinh nghiệm chiến đấu qua các trận Bãi Thảo (Quảng Ninh, 4 - 6.4.1951), trận Chùa Cao (Ninh Bình, 4 - 6.6.1951) cũng là vùng nước ngập, việc tiến vào trận địa khó khăn, dễ lộ bí mật, không đào được công sự, bị phi cơ, pháo binh bắn phá, dễ bị thương vong và đặc biệt khi bị thương dễ nhiễm trùng uốn ván.


Nhưng ngay sau đó, Trung đoàn trưởng Nguyễn Thái Dũng và Chính ủy Trung đoàn Đặng Quốc Bảo được gọi lên Sở Chỉ huy Chiến dịch gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 88 tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, mở màn Chiến dịch Hòa Bình thay đơn vị bạn.


Được cấp trên tin tưởng, giao nhiệm vụ đánh trận mở màn chiến dịch, anh em rất phấn khởi. Với truyền thống đánh công kiên (từ năm 1949 đến năm 1951, Trung đoàn 88 đã từng tiêu diệt cứ điểm cấp trung đội, đại đội Âu - Phi chiếm đóng như: Bản Trại, 3.1949; Nà Han, 11.1949; Hữu Bằng, Thằn Lằn, 1.1951) nhưng chi là tiêu diệt các cứ điểm cấp trung đội, đại đội do từng tiểu đoàn ta đảm nhiệm. Nay nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm do 1 tiểu đoàn Âu - Phi chiếm đóng mà là trận đánh của toàn Trung đoàn, có pháo binh tham gia nên càng quyết tâm chiến thắng, khí thế bộ đội lên cao.


Ngày hôm sau, Trung đoàn 88 thành lập đoàn cán bộ đi chuẩn bị chiến trường gồm: Đồng chí Nguyễn Thái Dũng - Trung đoàn trưởng; các đồng chí Trương Đình Mậu - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 29, Vũ Phương - Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 23 và đồng chí Vinh - Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 322; các đại đội trưởng, các bộ phận trợ chiến, khinh pháo, quân báo, tác huấn, thông tin đi nghiên cứu cứ điểm.


Một bộ phận nhỏ cán bộ tác huấn, quân báo đi trước để liên hệ với cán bộ địa phương nhờ giúp đỡ, nắm tình hình chung cung cấp cho đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường. Tôi là một trong những cán bộ tác huấn Trung đoàn tham gia bộ phận này. Vì đã khá quen thân với các anh Vân Thường, Đào Tiệm ở đại đội quân báo nên tôi nhanh chóng hòa đồng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.


Cứ điểm Tu Vũ do 1 tiểu đoàn Âu - Phi thuộc Trung đoàn Marốc số 1 chiếm đóng, nằm bên tả ngạn sông Đà, sát mép sông, trên địa hình bằng phẳng, khô ráo. Từ Tu Vũ, có đường bộ và đường thủy từ Hòa Bình đi Trung Hà. Tuy là mùa nước cạn nhưng canô và tàu nhỏ vẫn đi lại dễ dàng. Phía Tây cứ điểm là dãy núi Yên Lãng cao 205m, cách xa chừng 3km. Từ chân núi ra Tu Vũ rất bằng phẳng, lau lách mọc cao khoảng bằng đầu người. Phía Đông cứ điểm có núi Chẹ cao 135m, đối diện Tu Vũ cũng có địch chiếm đóng. Từ Chẹ, có canô qua sông đến Tu Vũ.


Lúc này, đã vào tháng 11 âm lịch, trời chớm lạnh, quang đãng, lúc sáng sớm và chập tối nhiều sương khói làm giảm tầm quan sát. Ban đêm, trăng thượng tuần mọc muộn nhưng càng về sau trăng mọc sớm hơn, rất sáng.


Trước đó, phát hiện đơn vị thuộc Trung đoàn 209, Đại đoàn 312 của ta đến điều tra, địch đã tăng cường đối phó, khẩn trương xây dựng công sự, trận địa, rào thêm các lớp hàng rào. Do cạnh sông, tiện đường bộ, việc vận chuyển vật liệu xây dựng khá thuận tiện và vào các xóm dỡ nhà dân nên tôc độ xây dựng, củng cố trận địa của địch rất nhanh. Chúng tăng cường tuần tiễu, phục kích ngăn chặn, phát hiện bộ đội ta; tổ chức 2 đội tuần tra, đội tuần tra ban ngày sục vào sâu, sát chân núi Yên Lãng, chiều rút về. Ban ngày, chúng cảnh giác nhưng qua một ngày mệt mỏi, đến chiều tâm lý nghỉ ngơi, chúng rút rất nhanh. Đội tuần tra đêm thường ăn tối xong, chờ trăng lên mới lên đường và thường tuần tiễu, phục kích gần cứ điểm chứ không đi xa.


Trăng thượng tuần mọc muộn, ngày hôm sau mọc sớm hơn hôm trước chừng 55 phút. Lúc trăng chưa lên, trời tối nhiều sương khói, cứ điểm lại sáng đèn, từ đồn địch quan sát ra ngoài khó, nhưng từ bên ngoài, nếu gần, quan sát địch rất tốt. Đêm mùng 5 tháng 12 năm 1951, tức mùng 7 tháng 11 âm lịch, đoàn cán bộ tiến hành trinh sát và đề xuất "Nghiên cứu trong trước, nghiên cứu ngoài sau". Khi bộ phận tuần tra địch ban ngày rút thì tổ chức bám theo, chờ chập choạng tối, tiềm nhập vào gần cứ điểm, quan sát các hàng rào, ụ súng, lô cốt, cách bố trí của địch... Khi trăng gần lên thì rút ra ngoài, tiếp tục nghiên cứu, bố trí các trận địa, tập kết, hỏa lực, các trạm tải thương, trạm quân y... Ngay đêm mùng 5 tháng 12, về cơ bản ta đã quan sát được các ụ súng, lô cốt, hàng rào địch.


Ngày 6 tháng 12 năm 1951, đồng chí Trung đoàn trưởng đã sơ bộ dự kiến kế hoạch tiến đánh, chọn các mũi đột phá, phân công đơn vị, các đường tiến công...

Theo kế hoạch tác chiến của Trung đoàn trưởng, bộ phận Tác huấn nhanh chóng lập sa bàn cứ điểm. Bộ phận Tác huấn của Trung đoàn đi chuẩn bị chiến trường có 3 người: Đồng chí Đỗ Thế Nhân - Trưởng Tiểu ban mới được bổ sung từ đơn vị bạn trước chiến dịch; đồng chí Lại Văn Đạm và tôi - Nguyễn Quốc Thịnh. Nhưng ngày 6 tháng 12 năm 1951, đồng chí Lại Văn Đạm được lệnh trở về đơn vị để tập trung đi học lái máy bay nên chỉ còn 2 người. Với tinh thần khẩn trương, bộ phận Tác huấn đã hoàn thành sa bàn để Trung đoàn trưởng phổ biến dự kiến kế hoạch tấn công, phân công, giao nhiệm vụ tiếp tục tiềm nhập, nghiên cứu, lên kế hoạch tác chiến của đơn vị.


Đêm mùng 6 tháng 12 năm 1951, do trăng mọc sớm hơn nên ta phải khẩn trương vào sâu nắm tình hình địch, địa hình, hướng đột phá, đột kích tung thâm. Do mải mê nghiên cứu nên bên phía Nam, ngòi Lát, bộ phận cán bộ Tiểu đoàn 322 bị địch phục kích, bắn bị thương đồng chí Vinh - Tiểu đoàn phó và đồng chí Quý, Đại đội trưởng Đại đội 231 trợ chiến. Đồng chí Qúy bị địch bắt, dùng cưa gỗ cưa chân, tra hỏi (sau năm 1954, đồng chí Quý phục viên, đảm nhận chức vụ Chánh Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng). Sau khi tiềm nhập, các cán bộ tiểu đoàn và đại đội đã nắm thêm được tình hình địch, dự kiến cửa mở, hướng đánh tung thâm, đường tiến quân và lên kế hoạch tiến đánh Tu Vũ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #71 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:36:45 am »

Ngày 7 tháng 12 năm 1951, đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường thông qua kế hoạch tiến đánh Tu Vũ, giao nhiệm vụ cho các đơn vị. Căn cứ vào nhiệm vụ được giao, các đơn vị xây dựng kế hoạch tác chiến, dự kiến công tác chuẩn bị chiến đấu.


Bộ phận quân báo tiếp tục bám địch, theo dõi các hoạt động. Bộ phận Tác huấn và Thông tin cho làm nhiều lộ tiêu (cọc trắng có khắc ký hiệu các đơn vị) cắm hướng dẫn đường tiến quân. Theo phân công của chỉ huy Trung đoàn 88, tôi xuống các đơn vị giúp công tác chuẩn bị chiến đấu. Là chiến sĩ cũ của Đại đội Tô Văn nên anh em quen biết rất nhiều. Tôi thường kể lại chuyện chiến đấu của đại đội, nhắc lại những kỷ niệm vui buồn, những sai sót dễ mắc phải như cách đánh bộc phá liên tục có yểm trợ của hỏa lực và tổ lựu đạn; cách nhận hướng đặt bộc phá; cách đặt chân trụ khi nằm đánh bộc phá. Đó là những kinh nghiệm nhỏ song có ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh bộc phá, mở cửa mở, thời gian mở cửa...


Theo kế hoạch của mặt trận, đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, đơn vị bạn sẽ tiến công cứ điểm Chẹ, kiềm chế các cứ điểm Đá Chông, Thủ Pháp. Nhưng do chiều mùng 10 tháng 12, ta gặp địch tại Ninh Mít nên không thực hiện tiến công theo đúng kế hoạch. Từ vị trí Chẹ, địch dùng súng bắn thẳng, súng cối, pháo binh yểm hộ Tu Vũ, pháo binh từ Đá Chông, Thủ Pháp liên tục bắn hàng nghìn quả đạn pháo chi viện Tu Vũ, gây nhiều khó khăn cho Trung đoàn. Để giải quyết khó khăn, tập trung tiêu diệt bằng được cứ điểm Tu Vũ, Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 họp gấp, tìm biện pháp tiến công có hiệu quả nhất, động viên cán bộ, đảng viên nêu gương dũng cảm, quyết đánh, quyết thắng trận đầu, tạo thế cho chiến dịch. Do dây điện thoại bị đứt, không liên lạc được với các tiểu đoàn, tôi được phái xuống Tiểu đoàn 322 gặp đồng chí Nam Hà - Tham mưu trưởng để phổ biến quyết tâm của Đảng ủy Trung đoàn. Băng qua sân bay, lội qua ngòi láp, tôi gặp đồng chí Đậu Sỹ Tụ - Trung đội trưởng, đồng chí Đỗ Trọng - Đại đội phó Đại đội 225 đang mở cửa mở, rồi gặp đồng chí Nam Hà truyền đạt quyết tâm của Đảng ủy. Sau đó, tôi trở lại Chỉ huy sở theo dõi tình hình và truyền phát lệnh chiến đấu.


Quyết tâm của Đảng ủy Trung đoàn được các đơn vị trực thuộc và phối thuộc thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng xốc lại lực lượng, tập trung đột phá thành công, làm chủ toàn bộ cứ điểm Tu Vũ khi trời rạng sáng. Chiến thắng Tu Vũ của Trung đoàn 88 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý về cách đánh công kiên cho các chiến dịch sau này. Trong buổi Lễ kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Tu Vũ (10.12.1951 - 10.12.1991), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát biểu "Có Tu Vũ, Nghĩa Lộ mới có Him Lam, Độc Lập ở Điện Biên Phủ". Sau trận đánh, Trung đoàn 88 vinh dự được mang danh hiệu Trung đoàn Tu Vũ.


Giải quyết xong cứ điểm Tu Vũ, có dịp nghiên cứu lại thực địa, kiểm tra, so sánh nhận xét của đoàn cán bộ đi trinh sát chuẩn bị chiến trường và cách bố phòng của địch, từ đó đánh giá công tác điều tra thực địa. Nói chung về cơ bản là đúng, là tốt, chỉ không phát hiện địch có xe tăng, xe thiết giáp mà cho là xe ô tô vận tải.


Sau đợt 1 chiến dịch, Trung đoàn 88 được lệnh vượt sông Đà hoạt động phía Bắc Đường số 6, có nhiệm vụ đánh chặn quân tiếp viện, vận chuyển tiếp tế, tạo thế bao vây, cô lập Hòa Bình. Tôi và đồng chí Nguyễn Hoàng - Tiểu đoàn phó được tăng cường cho Cơ quan Tác huấn đi tìm chỗ giấu quân, đường tiến quân ra quốc lộ, tính toán thời gian cần thiết để tiến ra đường, dự tính cả thời gian bị địch bắn chặn.


Trong những năm 1948 - 1949, Trung đoàn 88 đã nhiều lần đánh phục kích địch trên Đường số 4, tiêu diệt các đoàn xe vận tải. Địa hình Đường số 4 quanh co, hiểm trở, cây rừng mọc um tùm, dễ giấu quân, khi ta chặn đánh, dồn xe và quân địch vào một vùng hẹp, thực hiện "Chặn đầu, khóa đuôi" để tiêu diệt, tiêu biểu như các trận Lũng Vài, Bố Củng (1.1948), Bông Lau, Lũng Phầy (4 - 9.1949), Khua Đa Nam Meo (12.1949). Nhưng ở trung du, địa hình bằng phẳng, trống trải, khó giấu quân, nếu phát hiện bộ đội ta tiếp cận, chúng sử dụng phi pháo ngăn chặn. Sau khi rút quân từ sông Đà về, địch tăng cường cho Đường số 6, bố trí thêm nhiều điểm đóng quân, cử các đội tuần tra, chiếm đóng cao điểm dọc đường, sục sạo vào ven đường, làm công sự cá nhân. Để khắc phục khó khăn đó, nhận nhiệm vụ cắt Đường số 6, Trung đoàn 88 tổ chức nhiều bộ phận nhỏ, dùng vũ khí bộ binh, cối 60mm bám gần đường, bắn tỉa các tổ tuần tra của địch. Khi đi trên đường, các đội tuần tra của địch thường chốt tại các chỗ đào công sự cá nhân, tối rút về đồn. Lợi dụng ban đêm, ta bố trí lựu đạn tại các công sự đó, khi địch đến, ta bắn tỉa buộc chúng phải nhảy vào công sự, vướng lựu đạn của ta. Ngoài ra, ta tổ chức bộ đội đánh phục kích các đoàn xe vận tải, các đội quân vận chuyển lớn của địch.


Do địa hình như trên, đơn vị phải tập kết bộ đội xa đường, dẫn đến khi vận động ra tấn công địch phải qua nhiều đoạn trống, nên đòi hỏi người chỉ huy phải tính toán thời gian, đoạn đường để đánh quân địch, hạn chế tác động phi pháo. Trung đoàn tổ chức đài quan sát, theo dõi sự vận chuyển của địch, chỉ định đồng chí Nguyễn Hoàng - Tiểu đoàn phó lên đài quan sát nắm địch, nhận định tình hình, đề xuất việc xuất kích bộ đội từ xa nhằm giữ bí mật khi tiếp cận quân của chúng, giảm thương vong. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, Tiểu đoàn 322 đã diệt được 2 đại đội địch ở khu Bãi Nai, cầu Mè, Cầu Dụ.


Qua trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị chiến trường trong Chiến dịch Hòa Bình cũng như nhiều trận đánh, nhiều chiến dịch khác, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm như sau:

1. Trong một trận đánh, bộ phận chuẩn bị chiến trường không phải chỉ một lần mà là phải nhiều lần tiềm nhập cứ điểm. Cán bộ chuẩn bị chiến trường cần nâng cao quyết tâm tiêu diệt địch.

2. Khi chuẩn bị chiến trường, cán bộ phải thấy rõ trách nhiệm với đơn vị, cần chuẩn bị tốt bảo đảm thắng lợi trận đánh, giảm bớt xương máu đồng đội. Cần thực hiện "Vào tận nơi, nhìn tận mắt, sờ tận tay" .

3. Cán bộ tham mưu cần học tập, nghiên cứu, tìm hiểu quy luật hoạt động, cách bố trí và các vũ khí, khí tài của địch đế đề xuất cách xử trí. Ví như đầu năm 1951, địch trang bị loại "mìn cóc" có chăng dây gần mặt đất, khi ta chạm phải, mìn nảy lên cao ngang bụng mới nổ, ta không nắm được, cho là pháo cối địch, lệnh bộ đội tản ra, càng đụng nhiều mìn.

Hay như ta và địch gần nhau, kiểu cài răng lược, phi pháo địch không dám yểm trợ bộ binh, chúng dùng loại cối nhỏ bắn gần, dùng bom châu chấu, vùng sát thương nhỏ, ta chỉ cần dùng công sự, có "con cúi" (tạo bằng các cành cây nhỏ) là đã có thể hạn chế tác dụng của đạn địch.

4. Cần nắm được quy luật thời tiết, vùng miền hoạt động, chú ý các hiện tượng nhỏ, rất bình thường, nhưng khi ta đánh lớn nhiều đơn vị tham gia lại gây ra khó khăn, dễ bị lạc.

5. Khi dự kiến kế hoạch, phái dự kiến trường hợp khó khăn nhất, đề ra cách xử lý. Theo phương châm chuẩn bị xử lý khó nhất đề xứ lý trường hợp dễ nhất nếu gặp cũng không gây hoang mang, luôn làm chủ tình huống.

6. Trong chiến đấu, hạn chế phi pháo địch, ta chủ động tiến sát địch khi có thể. Vừa hạn chế thương vong, lại giảm thời gian mở cửa mở, nhanh chóng phát triển tung thâm, như tranh thủ cắt hàng rào, gỡ mìn, đưa hỏa lực vào trong hàng rào, bắn ngắm trực tiếp (trận Tu Vũ).

Như vậy, cán bộ lại càng phải dũng cảm vào sâu, quan sát cách bố trí hoạt động của địch.

Đó cũng là manh nha tư tưởng, nghệ thuật tác chiến "nắm thắt lưng địch mà đánh" của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh sau này.

Chiến tranh đã lùi xa nhưng những ký ức về thời trai trẻ được tham gia Chiến dịch Hòa Bình vẫn vẹn nguyên trong ký ức của tôi. Mỗi lần nhớ lại, tôi không khỏi bồi hồi, xúc động trước những gì mà mình cùng đồng đội đã trải qua, đặc biệt là tham gia công tác chuẩn bị chiến đấu trong trận Tu Vũ mở màn chiến dịch. Đến nay, dù đã nghỉ hưu nhưng tôi vẫn luôn ý thức sâu sắc về trách nhiệm của một người lính, một cựu chiến binh, luôn nguyện suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, cho hạnh phúc của nhân dân. Vinh dự, tự hào là người lính Cụ Hồ, tôi vẫn luôn giáo dục truyền thống cách mạng và gia đình cho con, cháu; tham gia công tác xã hội, tiếp tục góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh đồng thời tô thắm thêm truyền thống Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #72 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:40:06 am »

ĐẠI ĐỘI 209 BÍ MẬT MỞ ĐỘT PHÁ KHẨU,
BẤT NGỜ TIẾN CÔNG KHU B CỨ ĐIỂM TU VŨ,
NHANH CHÓNG HOÀN THÀNH NHIỆM VỤ CHIẾN ĐẤU, ÍT THƯƠNG VONG


Đồng chí ĐỖ HẠP
Nguyên Đại đội trưởng Đại đội 209 Tiểu đoàn 23 Trung đoàn 88 Đại đoàn 308;
nguyên Vụ trưởng Vụ 1, Bộ Công nghiệp nặng


Tháng 11 năm 1951, sau đợt chỉnh huấn chính trị và huấn luyện quân sự hơn 3 tháng tại Thanh Hóa và Phú Thọ, tinh thần bộ đội lên rất cao, mong mỏi được đi chiến đấu lập chiến công, đồng thời để "rửa hận Chùa Cao"1 (Trong Chiến dịch Trung đoàn 88 hai lần tiến công vị trí của địch ở Chùa Cao không thành công). Địch tiến công ra Hòa Bình, Trung ương Đảng và Tổng Quân ủy nhận định: "Đó là một cơ hội tốt cho ta tiêu diệt nhiều sinh lực địch...". Bác Hồ cũng gửi thư động viên bộ đội:   Trước kia ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh, đó là một cơ hội tốt cho ta...".


Được giao nhiệm vụ tham gia tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, một vị trí then chốt của địch trên phòng tuyến Sông Đà, mở màn cho Chiến dịch Hòa Bình, cán bộ và chiến sĩ Đại đội 209 rất phấn khởi, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu, lập chiến công.


Đại đội 209 chiến đấu trong đội hình Tiểu đoàn 23, làm nhiệm vụ "Mũi điểm" trên hướng tiến công thứ yếu của Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 vào khu B cứ điểm Tu Vũ. Quá trình chiến đấu chia làm 2 bước:

Bước 1- Chuẩn bị chiến đấu

1. Trinh sát thực địa (lúc đó gọi là chuẩn bị chiến trường)

Đoàn cán bộ đi trinh sát thực địa của Tiểu đoàn 23 gồm các cán bộ tiểu đoàn, các đại đội trưởng (trong đó có tôi - Đại đội trưởng Đại đội 209) và các trung đội trưởng bộc phá của các đại đội, được 1 dân quân người địa phương dẫn đường, từ chân núi theo đường Xóm Né - Đồng Xuân, qua phía Bắc sân bay, nhằm hướng làng Tu Vũ. Đêm hôm đó, tiết trời mùa Đông trên miền núi ven sông có sương mù nhẹ, ánh trăng bàng bạc, tâm nhìn xa hạn chế, nhưng đến gần lại nhìn rất rõ, rất thuận lợi cho việc trinh sát.


Bắt đầu rời chân núi, xuống bãi bằng rộng mênh mông, lau sậy mọc cao ngút đầu người. Được đồng chí dân quân địa phương dẫn đường, đoàn cán bộ đi trinh sát vạch lau tạo thành một lối đi (lúc về lại vuốt thẳng trở lại để xóa dấu vết).


Từ đầu làng Tu Vũ, đoàn chúng tôi chiếu thẳng hướng vị trí dự định chọn đột phá khẩu cho Đại đội 209. Từ đầu làng ra, trước mặt là bãi phẳng đã được phát quang. Đi khỏi đầu làng khoảng 250 - 300m, gặp một cây bị chặt đổ, thân rất to, ngồi xuống che khuất đầu người. Để tránh lộ người trên khoảng không thì đoàn chúng tôi không trèo qua thân cây, mà núp dưới thân cây rồi men theo bên phải về phía ngọn cây đổ. Đến chỗ thân cây chia thành 2 cành lớn, 1 cành nằm sát mặt đất, 1 cành chổng lên trời, tôi là người bò đầu, nghi ngở chỗ chui qua giữa 2 cành này có thể có mìn, tôi ra hiệu cho cả đoàn dừng lại, một mình bò lên sờ thì quả nhiên thấy một sợi dây thép căng vào đúng tầm người chui qua. Biết đây là một bẫy mìn kéo nổ, tôi thận trọng sờ theo đường dây, tháo dây khỏi kíp mìn, rồi từ từ cuộn lại ở phía đầu kia mắc vào cành cây rồi lấy 1 nhánh cây nhỏ cắm chốt quả mìn (và khi chui ra đoàn không quên đặt dây mìn lại như cũ, đề phòng địch đi tuần tra, phát hiện mất dấu). Từ thân cây đổ này vào tới hàng rào thứ nhất khoảng 200m, tôi và Trung đội trưởng bộc phá vừa bò vừa dò mìn vào tới hàng rào thứ nhất, Trung đội trưởng bộc phá quay lại đón đoàn lên. Chỉ có Tiểu đoàn trưởng, cán bộ tác huấn và Trung đội trưởng thông tin của Tiểu đoàn lên, còn tất cả dừng lại sau thân cây. Địa hình rất bằng phẳng, trong đồn cao hơn bên ngoài, nhìn rõ 6 lớp hàng rào dây thép gai, 1 số ụ súng và lô cốt cao ở trong trung tâm khu B, trong lớp hàng rào cũng là loại mìn kéo nổ.


Tiểu đoàn trưởng xác định hướng và điểm đột phá xong đi xem các điểm mở cửa của các đại đội khác, hẹn giờ tập trung ở đầu làng Tu Vũ để trao đổi, tôi và Trung đội trưởng bộc phá xem kỹ lại thực địa, chọn vị trí mở đột phá khẩu, xác định ụ súng đầu cầu, hướng phát triển vào tung thâm và trận địa hỏa lực của Đại đội.


Đại đội 213 được chọn làm mũi diện của Tiểu đoàn nghiên cứu đánh dọc theo đường cái thẳng cổng phía Bắc vào.

Đại đội 211 được giao nhiệm vụ làm đội dự bị của Tiểu đoàn.


2. Tiến hành bồi dưỡng kỹ thuật

Đại đội 209 tổ chức các bãi tập nhỏ có hàng rào như ở đồn địch, lấy dây rừng giả làm dây thép gai, luyện tập thành thục động tác phối hợp giữa người cắt và người cuộn dây, cuộn lại gọn ghẽ, không ảnh hưởng tới động tác xung phong của các đội đột kích. Ôn lại lý thuyết vô hiệu hóa các loại mìn địch thường dùng như mìn nhảy, mìn đạp nổ, đặc biệt luyện tập thành thạo gỡ các loại mìn kéo nổ mà địch đang bố trí phổ biến ở trong đồn. Song song với việc luyện tập bí mật khắc phục chướng ngại vật, một bộ phận khác tiến hành luyện tập đánh bộc phá ống, đặc biệt coi trọng việc đánh liên tục, nối đuôi nhau thành một đường thẳng tiến lên phía trước. Tuy luyện tập bí mật khắc phục chướng ngại vật nhưng vẫn chuẩn bị đầy đủ số bộc phá ống cho việc không kỳ tập được thì chuyển sang cường tập.


Ôn tập kỹ thuật nằm thấp đào công sự và quy định mọi người đều phải có một dụng cụ đào công sự - nếu thiếu xèng, cuốc, phải tự tạo lấy một dụng cụ đào công sự như chọn lấy đoạn thân cây tre ở gần gốc chẻ đôi vót vát như hình cái xẻng.


Trong khi phổ biến kế hoạch tác chiến, quy định đội hình toàn Đại đội phải bố trí ở phía trước thân cây đô, không được ai lợi dụng thân cây đổ này, vì tử giác cho thân cây to đổ thường là mục tiêu đã chuẩn bị sằn của các loại pháo và vũ khí bắn cầu vồng của địch. Trong Hội nghị phổ biến kế hoạch tác chiến của Tiểu đoàn 23, tôi cũng đã kiến nghị như vậy, nhưng rất tiếc là cơ quan chỉ huy Tiểu đoàn vừa kịp đến sau thân cây này đã bị pháo cối địch sát thương cả Tiểu đoàn trưởng và Chính trị viên và một số cán bộ, chiến sĩ khác.


Luyện tập theo nhiệm vụ chiến đấu: Các trung đội, các tiểu đội căn cứ vào nhiệm vụ đã được phân công trong chiến đấu, tạo dựng mô hình vị trí tác chiến của mình để luyện tập.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #73 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:41:12 am »

Bước 2- Chiếm lĩnh trận địa và thực hành chiến đấu

Đêm mùng 10 tháng 12 năm 1951, trăng sáng hơi có sương nhẹ, toàn Đại đội 209 hành quân ra chiếm lĩnh trận địa, người nào cũng mang theo một số cành cây để khắc phục các bãi lầy trên đường tiến quân, tạo điều kiện thuận lợi cho pháo binh, hoả khí nặng và cho các bộ phận mang vác nặng như tải đạn và tải thương hành quân.


Phía Tiểu đoàn 29 và Trung đoàn bộ bị lộ, địch bắn pháo chặn, tôi chỉ huy Đại đội cơ động dạt về phía Bắc, nhằm hướng làng Tu Vũ để tránh các làn pháo bắn chặn của địch. Toàn Đại đội hành quân an toàn về phía ngoài đầu làng Tu Vũ. Trước khi hạ lệnh cho các trung đội lần lượt vào chiếm lĩnh trận địa, tôi không quên cho đồng chí dân quân dẫn đường quay trở lại vị trí xuất phát.


Toàn Đại đội 209 bí mật tiếp cận mục tiêu, trung đội bộc phá được lệnh bí mật cắt dây thép gai và gỡ mìn mở dần đột phá khẩu: Ban Chỉ huy Đại đội kiểm tra vén gọn người chiến sĩ cuối cùng của Đại đội lên phía trước thân cây đổ và dừng lại đến đâu đào công sự đến đấy, người trước tiến lên, người sau lắp vào và tiếp tục đào công sự của người trước.


Pháo địch bắt đầu bắn quanh đồn, nhận định là pháo địch không thể bắn vào sát hàng rào của chúng, Ban Chỉ huy Đại đội 209 lệnh cho Trung đội bộc phá cắt hàng rào, gỡ mìn đến đâu, chui vào trong công sự đến đó, anh em hành động rất bí mật nên địch ở trong đồn không hề phát hiện.


Thấy pháo địch khép dần vào, bắn lên phía trước thân cây đổ, Ban Chỉ huy Đại đội 209 hạ lệnh cho các trung đội đột kích dồn đội hình lên gần sát hàng rào hơn, Trung đội đột kích 1 ở bên phải đột phá khẩu, Trung đội đột kích 2 ở bên trái thành đội hình hàng ngang, vây quanh hàng rào cứ điểm. Địch càng bắn mạnh, càng khép dần hỏa lực vào gần hàng rào, quân ta càng tiếp cận và đào công sự mạnh hơn. Ban Chỉ huy Đại đội 209 đã không máy móc tuân thủ đội hình "Đầu nhọn, đuôi dài" đã được học trong chiến thuật đánh công kiên. Chính cái đội hình hàng ngang "trái khoáy" này và việc tích cực đào công sự đã làm giảm thương vong của Đại đội trong giai đoạn chiếm lĩnh trận địa, triển khai đội hình chiến đấu.


Các tổ gỡ mìn và cắt hàng rào của Đại đội 209 được lệnh lần lượt thay nhau lên làm nhiệm vụ một cách hết sức bí mật. Do được huấn luyện kỹ, anh em lần lượt cắt được 3 lớp hàng rào và vô hiệu hóa được các bãi mìn trên cửa mớ. Đến khi còn 1 lớp hàng rào cuối cùng, anh em được lệnh dừng lại vì sợ khắc phục nốt hàng rào cuối cùng, gần địch quá, dễ lộ bí mật. Anh em chuẩn bị sẵn bộc phá ống để khi có lệnh cường tập nốt hàng rào và bãi mìn cuối cùng.


Khi có lệnh nổ súng của Trung đoàn, tôi đã ở trong công sự (do liên lạc viên Đại đội đã đào sẵn) bên cạnh Tiểu đội trưởng Tiểu đội bộc phá 1 cùng Trung đội trưởng Trung đội bộc phá, hạ lệnh đánh quả bộc phá đầu tiên và cũng là quả bộc phá cuối cùng mở đột phá khẩu. Người chiến sĩ đánh quả bộc phá thứ 2 vào ụ súng tiền duyên của địch. Lúc này bên phải Đại đội 217 (Đại đội Tô Văn) của Tiểu đoàn 29 và bên trái Đại đội 213 Tiểu đoàn 23 cũng bắt đầu đánh những quả bộc phá đầu tiên.


Tôi hạ lệnh cho Trung đội đột kích 1 lên chiếm lĩnh đầu cầu, một mũi đánh thẳng vào nhà kho chuẩn bị đánh lô cốt chính của địch, một mũi phát triển về bên phải, phía của Đại đội 217 đang mở đột phá khẩu, một mũi phát triển về bên trái phía Đại đội 213 cũng đang mở đột phá khẩu bằng bộc phá liên tục.


Mũi phát triển về bên phải nhanh chóng chiếm được ụ súng cuối cùng giáp hàng rào ngăn cách khu B với khu A, được lệnh dùng trung liên bắn vào lô cốt chính của địch trong khu A đang cản trở Tiểu đoàn 29 mở đột phá khẩu cho đến khi các chiến sĩ vào đánh lô cốt này hét to yêu cầu ngưng bắn mới thôi.


Trung đội đột kích 2 được lệnh vào tiếp sức cho Trung đội đột kích 1 đánh vào lô cốt và phát triển về phía Đại đội 213, Trung đội bộc phá được lệnh củng cố để làm đội dự bị của Đại đội.

Lúc đầu do bị đánh bất ngờ, địch đối phó rất lúng túng, quân ta chiếm lĩnh ụ súng đầu cầu và phát triển vào trong và hai bên tương đối thuận lợi. Địch rút vào lô cốt giữa đồn chống trả tương đối quyết liệt: Khi Đại đội 213 sau 13 quả bộc phá liên tục vào được đồn, phát triển thẳng theo đường cái vào phía trong, đánh bộc phá vào lô cốt, địch đối phó yếu ớt và rút dần về phía sau, lúc này Tiểu đoàn 29 đã mở được cửa mở, đang phát triển vào tung thâm của địch.


Đại đội 209 hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu một cách nhanh chóng. Một bộ phận của Trung đội bộc phá được điều vào phối hợp với Đại đội 213 truy kích địch ra bờ sông, còn đại bộ phận đại đội chiếm lĩnh Khu B.


Trong trận đánh, toàn Đại đội hy sinh 3 đồng chí, bị thương 7 đồng chí trong chiến đấu tung thâm; không có thương vong trong giai đoạn tiến quân và chiếm lĩnh trận địa.

Sau trận đánh này, bản thân tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng Nhì (sau đổi thành Huân chương Chiến công) và được đề bạt Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 23.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #74 vào lúc: 13 Tháng Bảy, 2023, 07:42:29 am »

Qua trận đánh, có thể rút ra một số vấn đề về chiến thuật:

1. Về chọn hướng tiến công chủ yếu

Hướng phòng ngự chủ yếu của địch trong trận này về phía Tây, phía quân ta dễ lợi dụng rừng núi tiến công xuống. Trong khi đó, ta lại chọn hướng tiến công chủ yếu về hướng này, tức là chọn vào chỗ rắn nhất, mạnh nhất và địch đề phòng nhất. Nếu ta chọn chủ yếu vào khu B, nhanh chóng đánh chiếm khu B và khu C, rồi từ hai mặt này, đánh vào 2 sườn khu A, kết hợp với mũi tiến công thứ yếu từ hướng Tây vào, đồng thời có một mũi vu hồi ra phía bờ sông, chắc chắn là dễ phá vỡ khu A nhanh, ít thương vong và bao vây tiêu diệt gọn quân địch.


2. Về bảo đảm thông tin liên lạc và giữ vững kỷ luật chiến trường

Trong trận đánh này, Tiểu đoàn 322 tiêu diệt được khu C là thành tích to lớn. Tuy nhiên, tiêu diệt xong khu C, người chỉ huy cao nhất Tiểu đoàn 322 không tích cực bắt liên lạc với Ban Chỉ huy Trung đoàn, trong lúc trận chiến đấu còn đang tiếp diễn bên khu A và khu B mà đã cho rút quân ra khỏi trận địa khi chưa có lệnh của Ban Chỉ huy Trung đoàn là một khuyết điểm rất lớn về kỷ luật trong chiến đấu. Nếu lúc đó, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 322 tích cực khắc phục khó khăn, bắt liên lạc với Ban Chỉ huy Trung đoàn, tổ chức truy kích địch qua ngòi Lát phối hợp với khu A và khu B thì trận đánh có thể kết thúc sớm hơn và ta ít thương vong hơn.


3. Việc chủ động hiệp đồng giữa các mũi, các hướng trong tiến công là rất cần thiết

Trong chiến đấu, tình huống diễn ra rất nhanh chóng, mọi hành động hiệp đồng đều chờ lệnh cấp trên thì không kịp thời. Trong trận Tu Vũ, quá trình đánh vào tung thâm địch, nếu tôi chủ động tổ chức lực lượng đánh một mũi vào sườn khu A, thay vì chỉ dùng hoả lực trung liên chi viện thì việc tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 29 hoàn thành nhiệm vụ sẽ tốt hơn.


Sau Chiến dịch Hòa Bình, Trung đoàn 88 được giao nhiệm vụ tiêu diệt đồn Nghĩa Lộ Phố trong Chiến dịch Tây Bắc (cuối năm 1952). Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 29 là mũi điểm, Tiểu đoàn 23 là mũi diện 1, Tiểu đoàn 322 làm mũi diện 2. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 23 ốm nặng, không đi chiến đấu được. Trên quyết định bổ sung cho Tiểu đoàn 23 một tiểu đoàn phó và quyết định cho tôi làm Tiểu đoàn phó chỉ huy Tiểu đoàn trong suốt chiến dịch. Cũng như trận Tu Vũ, Tiểu đoàn 23 bí mật khắc phục chướng ngại vật, nhanh chóng mở đột phá khẩu, chiếm lô cốt đầu cầu. Khi vào tới trong đồn, nhận thấy Tiểu đoàn 29 còn đang lúng túng ngoài hàng rào vì bị 3 quả bộc phá ống không nổ, tôi liền hạ lệnh cho một mũi đánh sang chiếm lô cốt đầu cầu, tạo điều kiện cho xung kích của Tiểu đoàn 29 bắc ván và trải chăn qua hàng rào dây thép gai. "Ba mũi giáp công" của Tiểu đoàn 23, Tiểu đoàn 29 và Tiểu đoàn 322 cùng tiêu diệt đồn Nghĩa Lộ Phố trong thời gian 2 giờ 30 phút.


Sau trận này, tôi được tặng thường Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất (nay là Huân chương Chiến công hạng Nhất).

Chiến dịch Hòa Bình mặc dù diễn ra cách đây 70 năm, với trận Tu Vũ mở màn giành thắng lợi giòn giã, nhưng trong ký ức của mình, tôi vẫn còn nhớ như in diễn biến của sự kiện này. Qua chiến đấu, bản thân tôi có bước trưởng thành, được cấp trên tin tưởng giao trách nhiệm cao hơn và tôi đã cùng đơn vị tiêu diệt đồn Nghĩa Lộ Phố, góp phần vào thắng lợi trong Chiến dịch Tây Bắc. Mãi mãi trong tôi niềm tự hào về những tháng năm tuổi trẻ, đã tham gia và góp phần công sức nhỏ bé của mình vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc chống thực đân Pháp xâm lược.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #75 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2023, 09:39:49 am »

CHIẾN THẮNG TIÊU DIỆT CỤM CỨ ĐIỂM
TRÊN ĐỈNH NÚI 600 BA VÌ (29 - 30.12.1951)


Đại tá NGUYỄN HỮU TÀI
Nguyên Chính trị viên phó Tiểu đoàn 16,
Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 tham gia Chiến dịch Hòa Bình;
nguyên Phó Cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng Tham mưu


Sau những thất bại nặng nề ở Biên Giới Thu - Đông 1950 đến trung du và đồng bằng Bắc Bộ, trong thế bị động về chiến lược, tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi, Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương tập trung nhiều binh đoàn cơ động có xe tăng, pháo binh và không quân yểm trợ, theo Đường số 6 và sông Đà đánh chiếm Hòa Bình nhằm giành lại quyền chủ động chiến lược; mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặn đường liên lạc vận chuyển của ta giữa Việt Bắc và các liên khu 3,4; tiêu diệt một bộ phận chủ lực và phá sự chuẩn bị tiến công Thu - Đông của ta. Trước âm mưu, thủ đoạn của địch, Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã nhận định đây là thời cơ cho ta tiêu diệt địch và quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, trên khắp các chiến trường, đặc biệt là ở đồng bằng Liên khu 3.


Trước khi mở chiến dịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia Chiến dịch Hòa Bình. Trong thư, Người nhấn mạnh: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh. Nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội rất tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 242).


Để bảo đảm thắng lợi của chiến dịch, Bộ Tổng Tư lệnh sử dụng một lực lượng lớn các đơn vị chủ lực. Hướng chủ yếu của chiến dịch có 3 đại đoàn chủ lực: 308, 312 và 304. Hướng phối hợp và sau lưng địch có 2 đại đoàn 316 và 320. Nhiệm vụ của Đại đoàn 312 (thiếu Trung đoàn 165) là vượt sông Đà sang dãy núi Ba Vì phía sau lưng phòng tuyến sông Đà của địch.


Được tham gia Chiến dịch Hòa Bình, lúc này tôi đang giữ cương vị Chính trị viên phó Tiểu đoàn 16, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312. Trước đó, trong Chiến dịch Lý Thường Kiệt (29.9 - 31.10.1951), chỉ huy Tiểu đoàn 16 có Tiểu đoàn trưởng Trần Đình Khiết và tôi - Nguyễn Hữu Tài, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 11 chuyển sang. Sau Chiến dịch Lý Thường Kiệt, vì Chính trị viên Tiểu đoàn Trần Nguyên Độ và Phó Tiểu đoàn trưởng Chu Phương Đới đi chỉnh huấn ở Bộ, Tiểu đoàn trưởng Trần Đình Khiết hy sinh, nên chỉ còn tôi là chỉ huy Tiểu đoàn duy nhất khi hành quân về. Khi hành quân đi Chiến dịch Hòa Bình vẫn chỉ có mình tôi chỉ huy Tiểu đoàn. Lúc đầu, Tiểu đoàn 16 được phân công bố trí ở tả ngạn Sông Đà, tổ chức đánh địch trên sông và bảo đảm cho toàn Đại đoàn hành quân từ Phú Thọ đến mặt trận. Chúng tôi dùng đại liên bắn tàu của Pháp trên sông Đà và bắt sống 1 tàu chở hàng từ Hòa Bình về. Sau đó vượt sông sang Ba Vì.


Đợt 1 chiến dịch diễn ra nhiều trận đánh ác liệt. Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 tiêu diệt vị trí Tu Vũ ở tả ngạn sông Đà, mở màn chiến dịch. Nhiều trận phục kích trên sông Đà tiêu diệt nhiều tàu chiến của địch ở khu vực Lạc Song. Trung đoàn 209 đã tiêu diệt 2 đại đội khi chúng đưa Binh đoàn cơ động số 4 vào càn quét khu tự do của ta ở Ninh Mít; Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141 đã phục kích tiêu diệt nhiều xe quân sự của địch trên Đường số 87 ở khu vực Ba Trại thuộc Ba Vì...


Sang đợt 2, Bộ Chỉ huy Chiến dịch, trực tiếp là Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lệnh cho Đại đoàn 312 phải tiêu diệt cụm cứ điểm của địch trên đỉnh núi 600 Ba Vì. Trung đoàn 141 vinh dự được giao nhiệm vụ quan trọng này. Đó là đỉnh núi của nhánh núi Ba Vì nhô ra phía sông Đà, là điểm cao khống chế của chiến dịch, yểm trợ cho phòng tuyến Sông Đà và khu vực dưới chân núi từ Trung Hà tới Chẹ, Đá Chông... Trên đỉnh cao 600, địch có thể quan sát, hiệu chỉnh cho pháo binh và không quân bắn phá các khu vực trú quân của ta, yểm trợ cho các binh đoàn cơ động càn quét vùng Sơn Tây và chi viện cho các cứ điểm khác của chúng khi bị ta tiến công.


Dựa vào địa thế hiểm trở, sườn núi dốc đứng, chỉ có đường độc đạo ôtô từ dưới chân núi đi lên, địch đóng quân trên khu vực có biệt thự của viên tướng Pháp Moócđăng - Tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương thời Pháp thuộc, tuy biệt thự đã bị phá hoại nhưng còn hầm nhà và tường cao vây quanh. Lực lượng địch tại đây có 2 đại đội lê dương chiếm đóng, làm các lô cốt và công sự dã chiến.


Sau khi ta tiêu diệt căn cứ Tu Vũ, địch tăng thêm 1 đại đội biệt kích (Commăngđô) chiếm đóng cao điểm phía trước 550m thành cứ điểm dã chiến bảo vệ cho cứ điểm chính. Lực lượng địch tại đây có thể được không quân và pháo binh dưới chân núi chi viện. Vì vậy chúng coi đây là cứ điểm vững chắc, bất khả xâm phạm.


Với mục tiêu có đặc điểm như vậy, đánh trận này ta gặp nhiều khó khăn như:

1- Địa hình hiểm trở, dốc núi cao, vực sâu, không có điều kiện triển khai binh lực và hỏa lực khi tiến công.

2- Do chỉ có đường ôtô độc đạo từ dưới chân núi lên nên trinh sát và cán bộ nghiên cứu chiến trường không thể tiếp cận tìm hiêu cách bố trí binh hỏa lực và công sự của địch.

3- Thời gian chuẩn bị cho trận đánh rất gấp, ngày 16 tháng 12 năm 1951, nhận lệnh của Đại đoàn, Trung đoàn phải tiêu diệt địch trên đỉnh núi 600, trước ngày 30 tháng 12 năm 1951 để phối hợp chiến trường chung.

4- Về chủ quan: Trung đoàn 141 vừa trải qua Chiến dịch Lý Thường Kiệt không hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch ở Nghĩa Lộ, quân số bị tiêu hao. Chưa có thời gian củng cố, chưa kịp bổ sung quân số, nhiều cựu binh và tiểu đội trưởng của Tiểu đoàn 11 bị thương vong. Tuy nhiên, trải qua nhiều trận đánh, cán bộ và chiến sĩ có kinh nghiệm và rất quyết tâm chiến đấu.


Nhưng khó khăn chính là chưa nắm được tình hình địch và xác định được cách đánh.

Trong lúc ta đang bàn cách khắc phục mọi khó khăn thì may mắn có 2 hàng binh lê dương người gốc Ba Lan ra hàng. Họ cung cấp cho ta nhiều tin tức quý giá về binh lực, bố trí của địch. Trong tình hình ấy, tìm ra cách đánh phù hợp là rất quan trọng. Phải sáng tạo và dựa vào kinh nghiệm các trận đánh kỳ tập trước đây.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #76 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2023, 09:40:47 am »

Biết được khó khăn của Trung đoàn 141, Bộ Chỉ huy Chiến dịch cử 2 phái viên đốc chiến là Thiếu tướng Hoàng Sâm, Tư lệnh Liên khu 3 và đồng chí Cao Xuân Hổ đến giúp đỡ Trung đoàn.

Ban Chỉ huy chung trận đánh Ba Vì được chỉ định gồm: Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Hồ Quang Hóa, Chỉ huy trường; Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 16 Chu Phương Đới, Chỉ huy phó; Chính trị viên Tiểu đoàn 11 Đào Đình Luyện, sau rút về Sở Chỉ huy Trung đoàn, Chính trị viên Tiểu đoàn 16 Trần Nguyên Độ, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 16 Nguyễn Hữu Tài. Trung đoàn trưởng Trung đoàn 141 Nam Long.


So sánh lực lượng khi ấy, ta có 2 tiểu đoàn bộ binh, địch có 3 đại đội phòng ngự trên đỉnh núi và có công sự tương đối vững chắc.

Khi ấy ta chưa có kỹ thuật của đặc công nên kế hoạch tác chiến phải sáng tạo, táo bạo, không có hỏa lực chi viện nên phải dùng binh lực mạnh và tinh, bí mật, áp sát đồn địch, bất ngờ xung phong. Phương châm đề ra là dùng xung lực mạnh, giảm bớt đầu mối chỉ huy, tăng cường lực lượng xung kích cho các tiểu đội. Hai tiểu đoàn 11 và 16 sáp nhập thành một và lập ban chỉ huy chung, mỗi tiểu đoàn biên chế thành 2 đại đội, quân số của tiểu đội đầy đủ 10 người. Như vậy, ta dùng 4 đại đội để tiêu diệt 3 đại đội của địch. Kế hoạch chiến đấu chia làm 2 bước:

Bước 1: Tiểu đoàn 11 có 2 đại đội bí mật tiếp cận, bao vây rồi bất ngờ dùng thủ pháo, đồng loạt xung phong tiêu diệt cứ điểm phía trước trên Cao điểm 550 do đại đội biệt kích (Commăngđô) của địch án ngữ phía trước trên Cao điểm 600.

Bươc 2: Trong khi đó, Tiểu đoàn 16 theo đường cái xông thẳng lên Cao điểm 600, lợi dụng vách đá và tường cao để hạn chế pháo cối và hỏa lực bắn thẳng của địch.


Với cương vị Chính trị viên phó Tiểu đoàn 16, khi các thủ trướng tiểu đoàn đi học vắng mặt, tôi đã đưa Tiểu đoàn đến vị trị tập kết an toàn trên sườn núi Ba Vì và tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Gần đến ngày nổ súng thì các anh Trần Nguyên Độ và Chu Phương Đới về.


Để bảo đảm thắng lợi, công tác chuẩn bị lúc này là quan trọng nhất. Trước hết là chuẩn bị về tinh thần, động viên bộ đội có quyết tâm cao và tin tưởng chiến đấu thắng lợi. Đảng ủy Tiểu đoàn và các chi bộ họp để quán triệt nhiệm vụ và tham gia thảo luận cách đánh, cách khắc phục khó khăn, giải quyết những thắc mắc và tổ chức dân chủ về quân sự. Tiếp đó là chuẩn bị quyết tâm chiến đấu, giao nhiệm vụ cho các đơn vị và các cán bộ, đảng viên; chuẩn bị về tổ chức và vật chất cho trận đánh như: Các chiến sĩ dũng cảm, có sức khỏe và quyết tâm cao được bổ sung vào các tổ chiến đấu 3 người, nhằm thực hiện cách đánh được xác định là: Dùng thang leo lên vách núi và tường cao, đồng loạt ném thủ pháo và nhảy qua bờ tường xung phong. Làm nhiều thang tre, mỗi tiểu đội một thang tre dài từ 3 - 4m, mỗi chiến sĩ đeo từ 4 - 5 quả thủ pháo cùng tiểu liên và trung liên khi xung phong. Không đào công sự, không ngụy trang, cuốc xẻng và các thứ phát ra tiếng động và ánh sáng như bật lửa, đèn pin phải để lại nơi trú quân. Chỉ có cán bộ đại đội có đèn pin nhưng phải dán kín chỉ để lọt ánh sáng bằng hạt đậu. Không được đi giày đinh. Những người nghiện thuốc lào hay ho không được vào đội xung kích mà bổ sung vào các đội cáng thương, vận tải và anh nuôi.


Về bảo đảm thông tin liên lạc, có tín hiệu nhận nhau trong đêm tối. Rút kinh nghiệm trong trận Nghĩa Lộ, có đơn vị lạc đường trong hành tiến, nên đường hành quân trong đêm có đường mòn, lối rẽ đều có trinh sát chỉ đường, tránh bị lạc trong hành quân như trận đánh Nghĩa Lộ trước đó.


Cả đơn vị như một công trường, làm thủ pháo, làm thang tre, tập mang vác trong hành tiến và trong chiến đấu, đặc biệt là công tác giữ bí mật trong lúc chuẩn bị và khi hành quân tiếp cận địch.

Ngày 29 tháng 12, trời lạnh và tối nhanh, các đơn vị tập trang lúc 17 giờ kiểm tra toàn bộ vũ khí, trang bị. Mọi người phải nhảy xem có phát ra tiếng động không. Sau đó đọc quyết tâm thư rồi mới xuất phát. Tôi được phân công đi cùng Tiểu đoàn trưởng Chu Phương Đới ở tiền phương cùng thê đội 1 của tiểu đoàn do Đại đội trưởng Bạch Đăng Hội chỉ huy. Đồng chí Trần Nguyên Độ, Chính trị viên Tiểu đoàn ở Sở Chỉ huy chung với đồng chí Hồ Quang Hóa.


Có 2 đồng chí dân quân người Dao sống ở sườn núi Ba Vì là Triệu Phú Hồng và Triệu Hữu Tài là người dẫn đường, từ sườn núi Ba Vì đến vị trí chiến đấu. Khoảng 23 giờ các đơn vị của Tiểu đoàn 11 đã bí mật áp sát và bao vây cứ điểm dã chiến của đơn vị biệt kích địch. Tiểu đoàn trưởng Hồ Quang Hóa báo cáo với Trung đoàn trưởng Nam Long đơn vị đã sẵn sàng. Trung đoàn trưởng ra lệnh nổ súng.


Theo tín hiệu, các chiến sĩ đồng loạt tiến công vào các chiến hào của địch cùng với tiểu liên và trung liên xung phong. Bị bất ngờ, địch không kịp chống đỡ, sau gần 30 phút, Tiểu đoàn 11 đã làm chủ trận địa, tiêu diệt và bắt toàn bộ đại đội commăngđô của địch.


Trong khi đó, Tiểu đoàn 16 do Tiểu đoàn trưởng Chu Phương Đới chỉ huy theo đường ôtô tiến thẳng lên cứ điểm chính 600. Tôi đi cùng anh Chu Phương Đới lập Sở Chỉ huy Tiểu đoàn ngay trên đường cái dựa vào vách núi và khe nước bên đường ôtô. Thông tin rải dây liên lạc với chỉ huy phía sau và các đại đội. Anh Đới đi theo đại đội xung kích, tôi có nhiệm vụ báo cáo với cấp trên, nhận lệnh và báo cáo diễn biến chiến đấu. Phía sau là thê đội xung kích 2.


Địch đã kịp thời đối phó, các khẩu đại liên ở cổng chính liên tục nhả đạn về phía đường ôtô nhưng quân ta đã áp sát các cứ điểm phía chân vách núi. Từ trên cao, địch liên tục thả lựu đạn và bắn đạn cối 60mm xuống phía dưới để sát thương ta. Vì vậy, các chiến sĩ bắc thang leo lên nhưng bị đánh chặn lại. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt, đến gần sáng, ta vẫn chưa bám được vào bờ tường. Đã có một số thương vong, ta phải dừng lại để củng cố và tìm cách leo lên tường. Trời gần sáng thì ta phát hiện được một điểm có thể bắc thang leo lên tường, ta cho một tổ nghi binh thu hút địch đối phó ở hướng cổng chính, trong khi đó các chiến sĩ bí mật bắc thang lên bờ tường ném thủ pháo vào đồn địch. Trong lúc địch bị thương vong và hoang mang do tiếng thủ pháo nổ như bắn đại bác của ta thì khẩu trung liên của Lê Văn Tỷ và sau đó của Nguyễn Văn Bệ đã đặt trên bờ tường bắn vào tung thâm chi viện cho các mũi leo lên bờ tường và xung phong. Địch rút chạy vào hầm ngầm, ta liên tục ném thủ pháo vào trong, số địch còn lại phải xin hàng.


5 giờ sáng ngày 30 tháng 12 năm 1951, ta làm chủ trận địa, tiêu diệt 155 tên, bắt 135 tên, đa số là lính Âu - Phi, thu toàn bộ vũ khí, trang bị của địch, trong đó có nhiều thực phẩm chuẩn bị cho Tết dương lịch 1952. Về phía ta, hy sinh 15 đồng chí và bị thương 90 đồng chí.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #77 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2023, 09:43:04 am »

Sau chiến đấu thắng lợi, tôi định vào đồn, nhưng anh Chu Phương Đới ngăn lại. Tôi theo đội hình hành quân về hướng 400 và ngược lên khu tập kết 1.000m theo kế hoạch lui quân. Ngay sáng hôm đó, sau khi nghe báo cáo chiến thắng của Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 Lê Trọng Tấn, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã gửi điện khen Trung đoàn 141. Bức điện viết:

"Trung đoàn 141, Đại đoàn 312 được giao nhiệm vụ tiêu diệt cụm cứ điểm 600 Ba Vì trong điều kiện rất khó khăn.

Các đồng chí đã chiến đấu rất dũng cảm, chiến thắng oanh liệt, lập công xuất sắc. Bộ Tổng Tư lệnh đã báo cáo thành tích của Trung đoàn lên Bác Hồ và Trung ương Đảng. Bác rất vui và gửi lời khen ngợi đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 141.

Trận thắng lợi ở Ba Vì đã góp phần đưa chiến dịch phát triển sang giai đoạn mới. Bộ Tổng Tư lệnh quyết định tặng danh hiệu Trung đoàn Ba Vì và Huân chương Quân công hạng Ba cho Trung đoàn 141".


Chiến thắng Ba Vì có giá trị và ý nghĩa về nhiều mặt. Ta đã chọc mù "con mắt" chiến dịch của địch trên Điểm cao Ba Vì, góp phần uy hiếp tuyến phòng ngự Sông Đà của địch, buộc chúng phải rút khỏi một loạt vị trí Chẹ, Đá Chông, Mỹ Khê, Thủ Pháp. Do đó, đường vận chuyển trên Sông Đà của địch bị cắt đứt. Với chiến thắng này, ta kết thúc đợt 2 chiến dịch và chuyển sang đánh địch ở Hòa Bình và trên Đường số 6, sau đó giải phóng thị xã Hòa Bình, đánh địch rút chạy trên Đường số 6, kết thúc thắng lợi chiến dịch.


Về chiến thuật, đây là trận đánh táo bạo, tiêu diệt gọn hiệu suất chiến đấu cao, bắt nhiều tù binh và ta tổn thất ít. Trong điều kiện khó về địa hình cho tiến công, lợi cho thế phòng thủ, ta dùng binh lực ít và cách đánh sáng tạo, chuẩn bị chu đáo, quyết tâm cao, bí mật, bất ngờ, hạn chế điểm mạnh của địch về pháo binh và không quân.


Trong trận này, thành công của công tác đảng, công tác chính trị là xây dựng quyết tâm cao, các đơn vị đoàn kết hiệp đồng trong chiến đấu, phát huy dân chủ, vai trò của đảng viên, cán bộ, nổi bật như đồng chí Tiểu đội trưởng Lê Văn Tỷ, người đưa trung liên lên bờ tường, yểm trợ cho lực lượng xung kích (sau đó đồng chí là Chiến sĩ thi đua toàn quốc). Tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Bệ (sau này là Chiến sĩ thi đua toàn quân) và Tiểu đội trưởng Tống Tính, chiến sĩ xung kích của Tiểu đoàn 11 là những đảng viên gương mẫu, xung kích đi đầu. Đại đội trưởng Bạch Đăng Hội của Tiểu đoàn 16 chỉ huy khôn khéo và dũng cảm.


Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 16 Chu Phương Đới, sau này là Thiếu tướng, Tư lệnh Mặt trận 378 ở chiến trường nước bạn Lào, lúc ốm nặng, anh viết về chiến thắng Ba Vì như sau:

   "Quân lệnh như sơn
   Cán binh một lòng
   Thông minh, sáng tạo
   Dũng cảm phi thường
   Tiêu diệt quân thù
   Giải phóng Tản Viên".


Hai du kích người Dao là Triệu Hữu Tài và Triệu Phú Hồng đã dẫn đường sát cánh chiến đấu cùng bộ đội chủ lực lúc khó khăn.

Đỉnh núi 600 Ba Vì đã được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia và ngày nay trở thành một điểm đến du lịch và nghỉ dưỡng ở vườn quốc gia Ba Vì.

Chiến thắng trên đỉnh núi Ba Vì là chiến thắng oanh liệt trong truyền thống anh hùng của Trung đoàn 141, được các thế hệ sau tiếp nối và phát huy. Từ Trung đoàn 141 - Trung đoàn Ba Vì của Đại đoàn 312 trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược đã tách ra thành 3 trung đoàn 141 anh em: Trang đoàn 141 Sư đoàn 312 Quân đoàn 1; Trung đoàn 141 Sư đoàn 7 Quân đoàn 4; Trung đoàn 141 Sư đoàn 3 (Sao vàng) Quân khu 5 (từ năm 1979 chuyển thuộc Quân khu 1). Những chiến công của Trung đoàn 141 được nối tiếp từ Him Lam (Điện Biên Phủ) trong kháng chiến chống thực dân Pháp đến Vạn Tường (Quân khu 5) trong kháng chiến chống Mỹ; từ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trên chiến trường Lào đến các chiến thắng An Lộc, Đường số 13, Bình Dương, Bình Phước (Đông Nam Bộ); từ Thành cổ Quảng Trị đến những cánh rừng già Campuchia.


Các trung đoàn 141 đã phát huy truyền thống Ba Vì, chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc và đều được tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nhiều chiến sĩ Trung đoàn Ba Vì đã nằm lại trên các chiến trường từ Bắc chí Nam và trên cả 3 nước anh em Việt Nam - Lào - Campuchia. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã mang thương tật suốt đời, trở về xây dựng đất nước, quê hương ngày một tươi đẹp, sung túc hơn, hướng đến một ngày mai tươi sáng cho con cháu. Nhiều cán bộ trong trung đoàn trưởng thành các tướng lĩnh nổi tiếng như: Trung tướng Nam Long, Thượng tướng Đào Đình Luyện, Thiếu tướng Hồ Quang Hóa, Thiếu tướng Chu Phương Đới, Thiếu tướng Trần Nguyên Độ...


Ngày nay, Đảng ta, nhân dân ta đang ra sức phấn đấu thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu: Xây dựng nước Viêt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Chúng tôi - những chiến sĩ "Bộ đội Cụ Hồ", với truyền thống Ba Vì anh hùng, nguyện suốt đời học tập và là theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh và triệt đế thực hiện Di chúc của Ngươi với khát vọng giữ cho đất nước hòa bình, ổn định, cuộc sống của nhân dân ngày càng tươi đẹp, Tổ quốc phồn vinh và phát triển mọi mặt ngang tầm với các nước tiên tiến trên thế giới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #78 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2023, 09:44:41 am »

VỊ TRÍ ĐỊA CHIẾN LƯỢC CỦA TỈNH HÒA BÌNH
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP


Đại tá QUÁCH ĐĂNG PHÚ
Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình


Hòa Bình - quê hương mang khí thiêng sông núi, nơi có vị trí địa chiến lược quan trọng, là mảnh đất có bề dày lịch sử, văn hóa, một trong những cái nôi của nền văn minh người Việt cổ - "Văn hoá Hòa Bình". Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân dân các dân tộc tỉnh Hoà Bình có truyền thống đoàn kết, cần cù trong lao động sản xuất, anh dũng, kiên cường trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Từ khi có Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, truyền thống đó được bồi đắp, hội tụ và lan tỏa tạo nên sức mạnh vô cùng to lớn giúp nhân dân các dân tộc trong tỉnh vượt qua khó khăn thử thách, giành được nhiều thành tựu trên con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước.


Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hòa Bình là địa bàn chiến lược nối liền đầu não kháng chiến Việt Bắc với Liên khu 3, Liên khu 4 và chiến trường toàn quốc. Hòa Bình được Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đặc biệt quan tâm.


Ở Bắc Bộ, địa bàn tỉnh Hòa Bình có ý nghĩa chiến lược, là cửa ngõ vào Thủ đô Hà Nội, lên vùng Tây Bắc, là bản lề giữa đồng bằng Bắc Bộ, Liên khu 4 với Tây Bắc, Việt Bắc và là cửa ngõ thông sang Lào. Hòa Bình là giao điểm của nhiều tuyến giao thông thủy, bộ quan trọng, về đường bộ có Đường số 6 là con đường chiến lược nổi Hà Nội, đồng bằng Bắc Bộ với Tây Bắc và Thượng Lào; Đường số 12, Đường số 15 từ Ninh Bình, Thanh Hóa qua Hòa Bình nối với Tây Bắc, Việt Bắc; Đường số 21 chạy dọc địa giới phía Đông tỉnh nối từ khu quân sự Thông - Sơn Lộc (Sơn Tây cũ) với Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa. Sau này, Đường Hồ Chí Minh, con đường huyết mạch Bắc - Nam hoàn thành đi qua huyện Lương Sơn, Lạc Thủy, Yên Thủy, Lạc Sơn và đường cao tốc Láng - Hòa Lạc kéo dài tới thành phố Hòa Bình đã và đang nâng tầm vị trí chiến lược trọng yếu của Hòa Bình với Thủ đô Ha Nội và cả nước. Đường thủy có sông Đà từ phía Tây Bắc qua địa phận tỉnh Hòa Bình và nối với sông Hồng ở Việt Trì; sông Bôi chảy qua huyện Lạc Thủy rồi nhập vào hệ thống sông Đáy ở tỉnh Ninh Bình. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có sông Bưởi ở Lạc Sơn, sông Bùi ở Lương Sơn. Những con đường thủy, đường bộ đều là những mạch máu giao thông quan trọng nối Hòa Bình với các tỉnh xung quanh.


Núi rừng ở Hòa Bình có địa thế, địa hình khá hiểm trở, chia thành 2 tiểu vùng: Tiểu vùng thứ nhất, trải dài từ Đà Bắc qua Tân Lạc, Lạc Sơn, Mai Châu nối với miền núi thượng du Thanh Hóa. Tiểu vùng thứ hai, bao gồm các huyện từ Kỳ Sơn, Lương Sơn xuống đến Lạc Thủy. Địa hình rừng núi trong tỉnh bị chia cắt bởi nhiều thung lũng trải rộng, kéo dài thành những cánh đồng tương đối bằng phẳng và các triền bãi ven sông.


Do vị trí, địa thế, địa hình có những đặc điểm như trên Hòa Bình trở thành một địa bàn cơ động chiến lược ở Bắc Bộ là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, là hậu cứ bảo vệ Thủ đô Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ. Địa hình, địa thế hiểm trở tạo nên lợi thế trong việc xây dựng căn cứ, một thế đất "tiến có thế đánh, lui có thể giữ". Thực tiễn trong tiến trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, núi rừng Hòa Bình đã từng nhiều lần là căn cứ dấy binh, là địa bàn hoạt động chống xâm lăng. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Hòa Bình từng là hậu cứ của chiến trường Liên khu 3, là hành lang giao thông chiến lược giữa Liên khu 3, Liên khu 4 với Việt Bắc, Tây Bắc.


Đầu năm 1947, địa bàn huyện Lạc Thủy được chọn làm căn cứ của Ủy ban kháng chiến hành chính Khu 2, của Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Hà Nam. Nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quân đội đã về làm việc tại đây như các đồng chí Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Hà Kế Tấn... Đặc biệt, khu vực xã Cổ Nghĩa là nơi Bộ Tài chính, Kho Bạc, Xưởng in tiền làm việc. Tuy nhiên, đến đầu tháng 4 năm 1947, khi quân Pháp tiến công đánh chiếm thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Nhà máy in tiền và Kho Bạc phải chuyển lên Việt Bắc. Tại đây còn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nghỉ chân khi Người đi công tác ở tỉnh Thanh Hóa vào tháng 2 năm 1947.


Ngày 15 tháng 4 năm 1947, thực dân Pháp bắt đầu tiến công đánh chiếm Hòa Bình. Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc chỉ đạo xây dựng phong trào đấu tranh trong vùng tạm bị giặc chiếm, Trung ương Đảng quyết định sáp nhập xã Mai Châu vào huyện Lạc Sơn, còn toàn bộ huyện Mai Đà và 3 xã Hòa Bình, Thịnh Lang, Yên Mông của huyện Kỳ Sơn chuyển về Khu 4. Cũng trong thời gian này, Khu ủy Khu 2 đã quyết định thành lập An toàn khu (ATK) tại 6 xã vùng "trong" của Lương Sơn (xã Nật Sơn, Vĩnh Đồng, Kim Bôi, Kim Truy, Hạ Bì, Tú Sơn) vì khu vực này có những điều kiện rất thuận lợi.


Về địa thế, đây là khu vực tương đối kín, xung quanh có nhiều dãy núi đá bao bọc; hệ thống đường giao thông lớn nối vùng này với các con đường số 6, 12, 21 chưa có nên hạn chế được sức cơ động ra vào của địch. Ngược lại, đối với ta, bằng những con đường nhỏ, đường mòn xuyên rừng vẫn bảo đảm thuận lợi đế giao thương với các vùng xung quanh. Từ đây, đi xuống đồng bằng cũng không xa, có thể vào Lạc Sơn, từ đó vào Liên khu 4, lên vùng Tây Bắc và nhất là nối liền với Lạc Thủy, Nho Quan, là khu an toàn của Khu ủy trên đất Hà Nam, Ninh Bình, về chính trị, đây là khu vực có cơ sở cách mạng, thế lực phản động lang đạo không lớn, những lang có uy thế nhất trong vùng đều đang tham gia chính quyền tỉnh, về kinh tế, đây là Mường Động (nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động), một trong 4 vùng trù phú của Hòa Bình, có khả năng tự cung, tự cấp về lương thực, thực phẩm.


Thu - Đông năm 1949, Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu 3 quyết định mở Chiến dịch Lê Lợi (chiến dịch giải phóng tỉnh Hòa Bình lần thứ nhất), hướng tiến công chính là Hòa Bình, nhằm mục đích tiêu diệt một phần sinh lực địch, giáng một đòn mạnh vào hành lang Đông - Tây của địch, giải phóng một phần đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào chiến tranh nhân dân ở địa phương tiếp tục phát triển. Cuối tháng 1 năm 1950, chiến dịch kết thúc thắng lợi. "Phòng tuyến sông Đà", "Hành lang Đông - Tây" của giặc bị phá vỡ một mảng lớn; Đường số 12 và các vị trí quan trọng của địch trên con đường này bị uy hiếp nghiêm trọng; "Xứ Mường tự trị" bị giáng một đòn mạnh, hầu như rệu rã. Thắng lợi to lớn của chiến dịch đã tạo đà cho phong trào kháng chiến ở Hòa Bình phát triển mạnh mẽ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #79 vào lúc: 01 Tháng Tám, 2023, 09:45:28 am »

Sau thất bại ở Chiến dịch Biên Giới (1950), tiếp đó lại bị đánh mạnh ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ buộc quân Pháp lâm vào thế phòng ngự bị động. Trước tình hình đó, cuối tháng 10 năm 1951, tướng Đờ Lát đờ Tátxinhi tuyên bố: Đã tới lúc giành lại chủ động trên chiến trường buộc Việt Minh phải chấp nhận chiến đấu trên một địa hình do Pháp lựa chọn. Với quan điểm trên, bộ máy chiến tranh của Pháp ở Đông Dương đã thống nhất chọn Hòa Bình là địa bàn cần phải đánh chiếm. Bởi Pháp nhận định Hòa Bình có vị trí chiến lược rất quan trọng đối với quân ta, là một nút giao thông thủy - bộ nối liền Việt Bắc với đồng bằng và miền Trung. Cho dù biết rõ địa hình Hòa Bình có lợi cho ta, nhưng Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương lại cho rằng cần phải có miếng mồi ngon, thì Việt Minh mới chấp nhận trận đánh do mình sắp xếp. Ngoài ra, đánh chiếm Hòa Bình, quân Pháp sẽ cắt rời Việt Bắc với đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung. Đồng thời, đây sẽ là tiền đề để Pháp tiến đánh vùng tự do Liên khu 4.


Thực dân Pháp cho rằng: "Hòa Bình sẽ là chiếc cối xay thịt nghiền nát Việt Minh". Và để chuẩn bị "đón tiếp" bộ đội chủ lực của ta, ngay sau khi đổ quân chiếm đóng Hòa Bình, quân Pháp đã xây dựng hệ thống cứ điểm mạnh hình thành 2 tuyến phòng ngự dọc Đường số 6 và dọc sông Đà. Đây là 2 vị trí vô cùng quan trọng, quyết định sự thành bại của chiến dịch bởi lúc này địch tập trung lực lượng chủ yếu ở thị xã Hòa Bình, nhận sự vận chuyển tiếp tế chủ yếu từ đồng bằng lên, do đó địch bố trí lực lượng tương đối lớn và trang bị hỏa lực rất mạnh, có cả đại bác để quyết giữ và giành thế chủ động trên 2 tuyến đường này. Chiến dịch đánh chiếm Hòa Bình do Xalăng - Phó Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy.


Trước kế hoạch của Pháp, ngày 18 tháng 11 năm 1951, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Tổng Quân ủy họp bàn và nhất trí mở chiến dịch Hòa Bình, đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng địch hậu, đẩy mạnh chiến tranh du kích, trọng tâm là đồng bằng Bắc Bộ. Chiến dịch Hòa Bình do Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng Tư lệnh làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy. Chiến dịch mở màn vào ngày 10 tháng 12 năm 1951, kết thúc ngày 25 tháng 2 năm 1952, ta giành thắng lợi và buộc quân Pháp phải rút chạy khỏi Hòa Bình.


Sau hơn 2 tháng chiến đấu anh dũng, quân và dân tỉnh Hoà Bình phối hợp với bộ đội chủ lực anh dũng chiến đấu, tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch: 6.012 tên bị tiêu diệt, bắn rơi 9 máy bay, phá hủy 156 xe các loại, bắn chìm 17 tàu chiến và canô, phá hủy 12 khẩu pháo. Ta thu được 800 khẩu súng các loại, trong đó có 24 khẩu pháo, 88 máy vô tuyến điện và 23.000 lít xăng, dầu.


Với phương châm tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của địch, diệt các đội càn quét, cắt đứt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình, đồng thời xác định đây là 2 vị trí chiến lược quan trọng, quyết định đến thắng lợi của chiến dịch, Tổng Quân ủy đã chỉ đạo chiến dịch tập trung phá vỡ hệ thống phòng tuyến của địch trên sông Đà và Đường số 6, cắt đứt con đường tiếp tế của địch. Với địa thế hiểm yếu của sông Đà và Đường số 6, theo sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy, quân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình đã cùng với bộ đội chủ lực tạo nên những trận đánh oanh liệt, đập tan ý đồ của địch, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Tiêu biểu như trong đợt tiến công lần thứ nhất, tại mặt trận chính diện, ta tập Irung tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ, Núi Chẹ - các trọng điểm án ngữ con đường vận chuyển huyết mạch trên sông Đà.


Tiếp đà thắng lợi, dân quân du kích tập kích cùng với bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương tổ chức tiêu diệt địch ở đồi Bục Bịch (Bãi Vàng, Kỳ Sơn). Đại đội 16 (huyện Mai Đà), Đại đội 16 (huyện Kỳ Son) và Trung đội du kích xã Yên Mông (huyện Kỳ Sơn) đã phục kích bắn cháy, bắn chìm nhiều tàu chiến địch. Ngày 22 tháng 12 năm 1951, trong vòng 20 phút chiến đấu trên một trận địa phục kích, bộ đội và du kích đã đánh tan một đoàn tàu chiến, ca nô của địch, bắn chìm 1 tàu Mônitô (LCT) và 6 canô.


Đó là trận phối hợp phục kích tại Dốc Kẽm, trên Đường số 6 của du kích xóm Dụ, xã Mông Hóa, huyện Kỳ Son, tỉnh Hòa Bình (11.12.1951), tiêu diệt 2 trung đội địch, phá hủy 12 xe quân sự, giải thoát an toàn cho 100 đồng bào ta bị địch bắt đi phu. Trận đánh ờ Dốc Kẽm đã góp phần củng cố lòng tin của nhân dân địa phương đối với lực lượng vũ trang địa phương, đồng thời khẳng định cách đánh phục kích táo bạo, bất ngờ của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích xã, góp phần hạn chế được việc mở rộng hệ thống đồn bốt và kế hoạch càn quét của địch; giải quyết khó khăn về vũ khí, trang bị cho các lực lượng vũ trang địa phương trong giai đoạn tổng phản công.


Đó là trận tiêu diệt xe cơ giới địch tại Dốc Giang Mỗ, xã Bình Thanh, huyện Kỳ Sơn trên Đường số 6 (13.12.1951). Khi địch lọt vào trận địa, bất ngờ nổ súng tiêu diệt gọn 1 đại đội địch, phá hủy 5 xe cơ giới. Trận tiến công địch tại Dốc Giang Mỗ, Bình Thanh đã ghi dấu son lịch sử, chiến thắng oanh liệt và tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường của Anh hùng Cù Chính Lan "Dũng sĩ diệt tăng trên đường 6". Tấm gương của Cù Chính Lan đã cổ vũ toàn quân thi đua diệt xe tăng và xe cơ giới địch. Trận chiến đấu đã góp phần quan trọng vào việc đập tan bộ máy chính quyền phản động của địch ở khắp nơi trong tỉnh; làm tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, góp phần làm nên thắng lợi to lớn của Chiến dịch Hòa Bình.


Những trận tiến công địch trên các trục giao thông thủy bộ không chỉ tiêu diệt một phần sinh lực địch, phương tiện chiến tranh của địch mà quan trọng hơn là chặt đứt con đường chi viện tiếp tế của chúng, bao vây cô lập các vị trí địch ở khu vực thị xã Hòa Bình.


Trong đợt 2 của chiến dịch, Hội nghị Thường vụ Tỉnh ủy mở rộng họp và xác định địa bàn công tác chính hiện nay là Đường số 6 và khu vục quanh thị xã Hòa Bình. Trên các hướng Đường số 6, Đường số 21, khu vực thị xã Hòa Bình, quân dân ta liên tục tiến công địch dưới các hình thức: Công đồn, diệt viện, phong tỏa giao thông... thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng lên cao, đẩy thực dân Pháp ngày càng lúng túng ở mặt trận chính Hòa Bình cũng như đồng bằng Bắc Bộ.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM