Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Sáu, 2024, 10:41:33 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Chiến thắng Hòa Bình thành công xuất sắc về chỉ đạo chiến lược của Đảng  (Đọc 3697 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #20 vào lúc: 03 Tháng Tư, 2023, 08:43:56 am »

Tỉnh đã thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia. Nổi bật là Chương trình xây dựng nông thôn mới được các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, người dân và cộng đồng doanh nghiệp chung tay góp sức thực hiện. Đến hết năm 2020, toàn tỉnh có 3 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (thành phố Hòa Bình, các huyện Lương Sơn, Lạc Thủy); 58/131 xã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới, trong đó có 12 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao.


Trong lĩnh vục quốc phòng, an ninh, cấp ủy, chính quyền các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương; thực hiện xây dựng, củng cố khu vực phòng thủ; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, "thế trận lòng dân" vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; đồng thời tăng cường các biện pháp phòng ngừa đấu tranh chống các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; duy trì và mở rộng các hoạt động đối ngoại. Qua đó, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, góp phần quan trọng tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.


Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được chú trọng, quan tâm thực hiện trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và có nhiều đổi mới, đạt nhiều kết quả tích cực. Đặc biệt, tỉnh Hòa Bình luôn quan tâm xây dựng bộ máy chính quyền các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Những năm gần đây, Hòa Bình là một trong những địa phương đi đầu trong việc thí điểm điều chỉnh sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, huyện của cả nước,.... Những thành tựu quan trọng đó đánh dấu bước phát triển mới, tạo đà vững chắc cho giai đoạn phát triển tiếp theo.


Ghi nhận những đóng góp, những chiến công to lớn của tỉnh trong kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước đã trao tặng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, Huân chương Quân công và Huân chương Độc lập hạng Nhất; nhiều Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba. Hàng chục tập thể, cá nhân được phong tặng, truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; 248 bà mẹ được phong tặng và truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng, 31 gia đình liệt sĩ được trao tặng Huân chương Độc lập...


Tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng và tinh thần chiến thắng Chiến dịch Hòa Bình, trong những năm tới, Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và lực lượng vũ trang tỉnh nhà quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025: "Phấn đấu đến năm 2025, kinh tế tỉnh Hòa Bình đạt mức trung bình của cả nước; đến năm 2030 trở thành tỉnh phát triển, thuộc nhóm dẫn đầu trong khu vực trung du, miền núi Bắc Bộ và đến năm 2050 trở thành tỉnh phát triển của cả nước".


Để hiện thực hóa các mục tiêu Nghị quyết đề ra, Đảng bộ, chính quyền đang tập trung lãnh đạo thực hiện có hiệu quả 4 đột phá chiến lược:

Một là, thực hiện tốt công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch theo quy định của pháp luật.

Hai là, hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh nhằm đẩy mạnh thu hút đầu tư.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động.

Bốn là, phát triển kết cấu hạ tầng, tăng cường huy động mọi nguồn lực để đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội; trong đó tập trung nguồn vốn cho các công trình trọng điểm, cấp thiết.

Với những thành tích đã đạt được, chúng ta càng ý thức sâu sắc hơn về trọng trách to lớn của mình trước các yêu cầu, nhiệm vụ mới. Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, càng khó khăn, phức tạp. Tình hình thế giới, khu vực diễn biến rất nhanh, phức tạp, khó dự báo. Các thế lực thù địch, phản động không ngừng tuyên truyền, kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thách thức, khó khăn luôn đi đôi với những thuận lợi. Trước những vận hội mới, cơ hội mới chúng ta càng thấm nhuần những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc vận dụng phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến".


Kỷ niệm 70 năm chiến thắng Hòa Bình, tự hào ôn lại những chiến công chói lọi và phát huy tinh thần, ý nghĩa lịch sử chiến thắng Chiến dịch Hòa Bình, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Hòa Bình quyết tâm vươn lên mạnh mẽ, nỗ lực cao hơn, tạo sức bật mới để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hòa Bình lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã đề ra.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #21 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:29:58 am »

CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ
TRONG CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Trung tướng TRỊNH VĂN QUYẾT
Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Ủy viên Quân ủy Trung ương,
Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam


Đầu tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp mở cuộc hành binh đánh chiếm thị xã Hòa Bình và vùng phụ cận nhằm bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ, chặt đứt đường giao thông giữa căn cứ địa Việt Bắc với Nam Liên khu 3 và vùng tự do Liên khu 4. Đờ Lát (De Lattre) - Tổng Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương cho rằng việc chiếm đóng Hòa Bình sẽ thu hút bộ đội chủ lực của ta đến tiêu diệt; thắng lợi của cuộc tiến quân sẽ giành lại quyền chủ động trên chiến trường, xoay chuyển tình thế có lợi cho Pháp, nhận thêm sự viện trợ từ Anh, Mỹ.


Trước âm mưu của địch, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chấp thuận đề xuất của Tổng Quân ủy, quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, với nhận định: "Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh và thắng"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 55). Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chúng ta đã huy động lực lượng lớn bộ đội chủ lực tham gia chiến dịch. Các đại đoàn 304, 308, 312 cùng Đại đoàn công pháo 351 có nhiệm vụ đánh địch trên Mặt trận Hòa Bình - Sông Đà; Đại đoàn 316 tiến công địch ở trung du Bắc Bộ; Đại đoàn 320 tiến sâu vào đồng bằng Bắc Bộ, cùng Trung đoàn 42, Trung đoàn 46 (chủ lực Liên khu 3) phối hợp với bộ đội địa phương, dân quân du kích đánh tiêu diệt địch đẩy mạnh phong trào chiến tranh du kích; các đơn vị chủ lực của Bình - Trị - Thiên đẩy mạnh hoạt động tác chiến trên địa bàn.


Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch Hòa Bình mở màn, qua 3 đợt chiến đấu trong suốt 78 ngày đêm. Trên mặt trận chính diện, ta đã phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của địch, giải phóng hơn 1.000km2 và 2 vạn dân, diệt 6.012 tên địch, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy vô tuyến điện, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 17 canô, phá hủy 246 xe quân sự. Trên mặt trận trung du và đồng bằng Liên khu 3, bộ đội chủ lực phối hợp chặt chẽ với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương, kết hợp tác chiến với phá tề, trừ gian, loại khỏi vòng chiến đấu 15.237 tên địch, phá hơn 1.000 đồn bốt, thu 6.126 súng các loại, giải phóng 4.000km2 với hơn 1 triệu dân1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tóm tắt các chiến dịch trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội 2000, tr. 379); phát triển sâu rộng chiến tranh du kích, khôi phục và mở rộng căn cứ du kích, khu du kích cả những địa bàn ở sâu trong vùng địch tạm chiếm. Âm mưu giành lại quyền chủ động của thực dân Pháp đã thất bại hoàn toàn, đây là thắng lợi "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở Trung du và Đồng bằng Bắc Bộ"2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 -2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6).


Thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó hoạt động công tác đảng, công tác chính trị là một trong những yếu tố quan trọng, để lại những kinh nghiệm sâu sắc cho sự nghiệp đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là:

Một là, lãnh đạo tư tưởng, động viên chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ

Tiến hành Chiến dịch Hòa Bình trong bối cảnh sau 4 chiến dịch (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt) và 1 tháng hoạt động du kích không đạt kết quả như dự kiến, "Chúng ta chưa giành được ưu thế quân sự, chưa phá được phòng tuyến của địch, chưa thay đổi được tình thể ở đồng bằng Bắc Bộ"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, 1951, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 573); trong khi thực dân Pháp và tay sai ra sức đẩy mạnh chiến tranh tổng lực, càn quét bình định hết sức quyết liệt hòng biến vùng tạm chiếm và vùng du kích trở thành hậu phương vững chắc của chúng. Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy xác định: "Năm vững và kịp thời lãnh đạo tư tưởng bộ đội, làm cho toàn quân nhận rõ cơ hội thuận lợi và nhiệm vụ quan trọng lần này để nâng cao quyết tâm chiến đấu"2 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiêm trong các chiến dịch lớn, tập 1, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản 1963, tr. 26 - 27). Thực hiện chủ trương này, công tác lãnh đạo tư tưởng, động viên chính trị đã tập trung quán triệt, giáo dục cho bộ đội nhận thức sâu sắc nhiệm vụ chiến dịch, củng cố ý chí quyết tâm chiến đấu, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc ý định của cấp trên ý nghĩa của chiến dịch; nhận định đúng đắn địch, ta, thuận lợi, khó khăn, phương châm tác chiến..., qua đó phát huy tinh thần khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ, củng cố niềm tin vào thắng lợi của chiến dịch. Thành công của các trận đánh Tu Vũ, Đồi Mồi, Điểm cao 600... là do làm tốt công tác quán triệt, giáo dục nên đã chuẩn bị tốt tư tưởng cho bộ đội, tinh thần quyết tâm, ý chí quyết chiến, quyết thắng, sự chủ động, linh hoạt của bộ đội được nâng lên, tạo nên sức mạnh to lớn trong quá trình thực hành tác chiến, trở thành yếu tố căn bản của mọi thắng lợi, của từng trận đánh để đưa chiến dịch đi đến thắng lợi.


Hiện nay, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt trước sự phát triển nhanh của khoa học và công nghệ, đã tác động sâu sắc đến nhiều lĩnh vực, đặc biệt là quân sự, quốc phòng. Nếu chiến tranh xảy ra, địch sẽ triệt để sử dụng vũ khí công nghệ cao với tính chất hủy diệt ngày càng lớn. Điều đó tác động không nhỏ đến tư tưởng của bộ đội; đặt ra nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu để xây dựng và phát huy các nhân tố: Chính trị - tinh thần; ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Từ kinh nghiệm của Chiến dịch Hòa Bình, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải nắm vững chỉ dẫn của V.I. Lênin: "Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường"1 (V.I. Lênin, Toàn tập, Tháng Năm - Tháng Mười một 1920, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 147). Luôn quán triệt và thực hiện nghiêm đường lối, chiến lược của Đảng về quân sự, quốc phòng, nhất là Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, Nghị quyết của Quân ủy Trung ương. Bám sát tình hình nhiệm vụ, thực tiễn đơn vị để tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, giúp họ nhận diện đúng bản chất mối quan hệ giữa đối tượng, đối tác, phát huy sức mạnh của thế trận chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam, vũ khí, trang bị hiện có,... xây dựng phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.


Toàn quân thực hiện nghiêm Đề án "Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới" của Bộ Quốc phòng và Quy chế "Giáo dục chính trị trong Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam" (ban hành kèm theo Quyết định số 438/QĐ-CT ngày 21 tháng 3 năm 2016 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; chú trọng tuyên truyền, giáo dục nhiệm vụ của đơn vị, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; từ đó xác định mục đích, động cơ, thái độ, ý chí quyết tâm, tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, khắc phục khó khăn, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; nâng cao cảnh giác cách mạng, chủ động, nhạy bén, kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, nhất là chống quan điểm sai trái, thù địch và âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình", "phi chính trị hóa" Quân đội của các thế lực thù địch; không mơ hồ, mất cảnh giác, giảm sút ý chí chiến đấu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến, tự chuyển hóa" trong nội bộ, tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng trong từng cơ quan, đơn vị và toàn quân; xây dựng ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #22 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:36:16 am »

Hai là, thực hành dân chủ quân sự rộng rãi, khơi dậy và phát huy tinh thần tự giác phấn đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ

Trong Chiến dịch Hòa Bình, thông qua phát huy dân chủ quân sự đã làm cho từng cán bộ, chiến sĩ nhận thấy niềm vinh dự, tự hào được tham gia chiến đấu; hiểu rõ nhiệm vụ, tác dụng và ý nghĩa lớn lao của chiến dịch, khiến mọi người nêu cao ý chí, vượt qua khó khăn, không ngại gian khổ, kiên quyết làm tròn nhiệm vụ. Phát huy dân chủ quân sự đã hình thành nên những phong trào thi đua giết giặc, lập công, thi hành chính sách... và giúp đỡ lẫn nhau trong thực hiện nhiệm vụ. Thông qua việc mở rộng dân chủ quân sự đã phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tài năng, sáng kiến của quần chúng, nêu cao tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, dám chịu trách nhiệm, chủ động tự giải quyết lấy những khó khăn, vướng mắc, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng.


Điển hình của công tác này là ở Đại đội 41, Tiểu đoàn 84 (Trung đoàn 36, Đại đoàn 308) khi nhận nhiệm vụ luồn sâu, bí mật đột nhập tiêu diệt trận địa pháo địch ở khu Kiểm Lâm, nhiều cán bộ, chiến sĩ lo lắng khó giữ bí mật khi phải vào sâu hậu cứ địch trong điều kiện trăng sáng, vượt qua ruộng lầy; lại phải đối phó với lực lượng bảo vệ pháo của địch mạnh và những khó khăn về đảm bảo thông tin liên lạc, giải quyết thương binh, cũng như bộ đội chưa biết khẩu pháo của địch ra sao,... Để giải quyết những băn khoăn trên, Đảng ủy Trung đoàn 36 đã triệu tập hội nghị, tập trung thảo luận về những khó khăn, về tình hình tư tưởng bộ đội, về kế hoạch lãnh đạo mọi mặt và lấy tinh thần xung phong thực hiện nhiệm vụ.


Do phát huy được dân chủ quân sự, nhiều sáng kiến của tập thể được đưa ra để khắc phục khó khăn một cách tỷ mỷ và sát thực tế; đơn vị đã tìm được cách đặt bàn chân xuống ruộng lầy và rút lên không gây tiếng động, cách ngụy trang bằng rơm để dễ lẫn vào ruộng dưới ánh trăng, cách cắt dây thóp gai vẫn không phát ra âm thanh, cách tiến quân bí mật,... Đơn vị đã tổ chức cho bộ đội quan sát pháo của ta để nắm được hình thù khẩu pháo 105mm. Vấn đề thông tin được huấn luyện đi vào những kỹ thuật tỷ mỷ nhất, đảm bảo tuyệt đối an toàn, bí mật. Vấn đề tải thương được giải quyết bằng cách tự các tổ 3 người sẽ kiểm soát và giải quyết,... Những thắc mắc trong tư tưởng được dân chủ thảo luận và giải quyết nên bộ đội thống nhất về hành động, phấn khởi và tự tin bước vào trận đánh, giành được thắng lợi, phá hủy 4 khẩu pháo 105mm, diệt 20 tên địch, bắt tên đại úy chỉ huy1 (Bộ Tư lệnh Quân đoàn 1, Sư đoàn 308, Lịch sử Sư đoàn 308 - Quân Tiên phong (1949 - 2009), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2009, tr. 101). Tiếng nổ bộc phá của Đại đội là hiệu lệnh cho các đơn vị tiến công tiêu diệt các vị trí của địch ở ngoại vi thị xã, cũng là mở màn cho đợt 3 của chiến dịch.


Dân chủ quân sự chính là thực hiện đường lối quần chúng trong công tác quân sự, là sự vận dụng một cách cụ thể phương pháp lãnh đạo "từ trong quần chúng mà ra lại trở về quần chúng"2 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 123) trong Quân đội, là tập trung và phát huy tài năng của quân chúng để bổ sung cho những hạn chế của lãnh đạo. Đó là phương pháp tốt nhất để nâng cao tinh thần trách nhiệm, làm cho cán bộ, chiến sĩ thống nhất tư tưởng và hành động.


Từ kinh nghiệm của Chiến dịch Hòa Bình, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải luôn nhận thức đúng tầm quan trọng của việc phát huy và mở rộng dân chủ; tiếp tục thực hiện nghiêm Kết luận số 120-KL/TW ngày 7 tháng 1 năm 2016 của Bộ Chính trị (khóa XI) về "Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở"; Chỉ thị số 590-CT/©UQSTW ngày 4 tháng 10 năm 2010 của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) và Hướng dẫn số 1575/HD-CT ngày 15 tháng 10 năm 2010 của Tổng cục Chính trị về "Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong Quân đội"- "Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở. Chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức"3 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 51), để cho mọi cán bộ, chiến sĩ vừa là chủ và vừa làm chủ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của Quân đội; được đóng góp ý kiến vào chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước, vào nhiệm vụ chính trị của Quân đội, vào sự lãnh đạo của Đảng ở đơn vị, được phê bình cán bộ, đảng viên, được quyền phát biểu về mọi vấn đề trong đơn vị; được bảo đảm thông tin về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được thực hiện quyền công dân của mình tham gia vào sinh hoạt chính trị của xã hội; được tham gia bàn bạc, đóng góp ý kiến vào đường lối của Đảng; tham gia ý kiến vào các chương trình, kế hoạch, biện pháp bảo đảm cho huấn luyện đạt kết quá tốt. Đảm bảo dân chủ quân sự luôn phát huy được tinh tích cực, chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm trong chiến đấu, học tập, công tác và sản xuất, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Phát huy dân chủ là cơ sở tạo sự đồng thuận, đoàn kết, ký luật trong nội bộ cơ quan, đơn vị, tăng cường, củng cố vững chắc niềm tin của cán bộ, chiến sĩ vào cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp được thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, phát huy trí tuệ, sức mạnh tập thể hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #23 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:38:19 am »

Ba là, làm tốt công tác dân vận, động viên quần chúng nhân dân tham gia chiến dịch

Chiến dịch Hòa Bình diễn ra trên địa bàn rộng, có nhiều dân tộc, với nhiều đối tượng quần chúng; do vậy, công tác dân vận được quán triệt hết sức sâu sắc, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp để giành thắng lợi. Thực hiện chỉ đạo của Tổng Quân ủy "Có kế hoạch tuyên truyền kịp thời để động viên tinh thần quân dân và phản tuyên truyền địch. Giúp đỡ địa phương giữ vững cơ sở nhân dân, chú ý giúp cơ quan cung cấp"1 (Báo cáo kế hoạch tác chiến chiến dịch và tổng kết kinh nghiệm trong các chiến dịch lớn, Sđd, tr. 27), cấp ủy, chỉ huy các cấp đã quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc phương châm tranh thủ quảng đại quần chúng nhân dân. Khi liên hệ với nhân dân phải có ý kiến của địa phương và do cán bộ địa phương giúp đỡ; tuyệt đối không được cưỡng bức nhân dân buôn bán hay phục vụ bộ đội; tránh tất cả những phiền hà cho nhân dân, dù là nhỏ nhất; giúp đỡ nhân dân đề phòng địch đánh phá cũng như tăng gia sản xuất. Phải tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số, ra sức thuyết phục các đối tượng lang đạo. Đối với dân công, cấp ủy, chỉ huy các cấp được yêu cầu sử dụng dân công đảm bảo hết sức tiết kiệm và hợp lý, đỡ gánh nặng cho nhân dân và đáp ứng cho kế hoạch tác chiến lâu dài. Chỉ sử dụng dân công vào vận chuyển phục vụ chiến đấu, giải quyết các vấn đề liên quan đến chiến trường. Kịp thời chấn chỉnh những hành động đối xử không đúng đối với dân công. Chăm sóc, giúp đỡ nhân dân trong việc tiếp tế, ăn ở, bảo vệ an toàn cho dân công; cử cán bộ có năng lực công tác chính trị phụ trách dân công, phối hợp chặt chẽ với cán bộ địa phương của các đội dân công trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Nhờ làm tốt công tác dân vận nên trong Chiến dịch Hòa Bình, thế trận chiến tranh nhân dân được phát huy cao độ với sự tham gia rộng rãi của nhân dân. Đồng bào từ miền núi đến đồng bằng đang bị địch chiếm đều hết sức, hết lòng phục vụ chiến đấu, cưu mang bộ đội. Trên cả hướng chính diện và sau lưng địch, đồng bào đã cung cấp cho bộ đội hơn 6.000 tấn gạo, 70 tấn muối, 70 tấn thịt, 60 tấn thực phẩm khác; điều trị phục vụ 6.390 thương binh, huy động 333.200 dân công với 11.914.000 ngày công1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), tập V, phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 467). Kết quả trên có ý nghĩa quan trọng đối với thắng lợi của chiến dịch.


Công tác dân vận là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cấp ủy, chỉ huy các cấp, các cơ quan, đơn vị và mọi quân nhân, công nhân, viên chức, lao động quốc phòng. Từ kinh nghiệm của Chiến dịch Hòa Bình, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh "không có dân thì không có bộ đội"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 219); "nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội"2 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 485). Luôn quán triệt và thực hiện nghiêm Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 3 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về "Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới"; Kết luận số 114-KL/TW ngày 14 tháng 7 năm 2015 của Ban Bí thư (khóa XT) về "Nâng cao hiệu quả công tác dân vận của cơ quan nhà nước các cấp"; Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Ban Bí thư (khóa XI) về "Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số"; Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 10 tháng 1 năm 2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về "Công tác tôn giáo trong tình hình mới"... Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện có hiệu quả các phong trào thi đua, cuộc vận động, xây dựng nhiều mô hình, điển hình "Dân vận khéo" trong từng lĩnh vực. Quân đội thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động, sản xuất; phát huy phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ", luôn là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, "thế trận lòng dân" vững chắc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định đe phát triển đất nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #24 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:39:30 am »

Bốn là, công tác đảng, công tác chính trị phải được tiến hành thường xuyên, chủ động, nhạy bén, linh hoạt, bám sát thực tế chiến dịch, chiến đấu

Trong suốt chiến dịch, công tác đảng, công tác chính trị đã phát huy vai trò đảm bảo cho chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, của Tổng Quân ủy đến với cán bộ, đảng viên, quần chúng và biến chủ trương, đường lối, chính sách thành sức mạnh; biến quyết tâm của Trung ương Đảng, của Tổng Quân ủy thành quyết tâm của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Để đạt được thành công đó, công tác đảng, công tác chính trị luôn kịp thời bám sát diễn biến của chiến dịch, kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh, động viên bộ đội, phát huy ý chí chiến đấu, mưu trí, dũng cảm hoàn thành nhiệm vụ. Tiêu biểu ở trận tiến công cứ điểm Tu Vũ, khi địch chống cự quyết liệt lại được pháo binh yểm trợ tối đa nên bộ đội thương vong nhiều, sau nhiều đợt xung phong vẫn chưa dứt điểm được mục tiêu. Trước tình thế đã gần sáng, cơ số đạn và thuốc nổ dùng trong trận đánh không còn nhiều, quân số bị hao hụt, nhưng yêu cầu phải quyết thắng trận mở màn; để khắc phục khó khăn, tập trung binh lực tiêu diệt bằng được cứ điểm Tu Vũ, Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) hội ý gấp, tìm biện pháp tiến công có hiệu quả nhất, động viên cán bộ và đảng viên nêu gương dũng cảm quyết đánh, quyết thắng trận đầu, tạo thế cho chiến dịch. Quyết tâm của Thường vụ Đảng ủy Trung đoàn 88 được các đơn vị trực thuộc và phối thuộc (cả bộ binh, pháo binh và phòng không) thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng xốc lại lực lượng, tập trung sức mạnh đột phá thành công, làm chủ toàn bộ cứ điểm Tu Vũ khi trời rạng sáng, kết thúc trận đánh kéo dài tới gần 6 tiếng đồng hồ. Việc xử trí tình huống chiến đấu phức tạp ở trận Tu Vũ đã được đồng chí Nguyễn Chí Thanh – Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Chiến dịch đánh giá là "kinh điển về công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu"1 (Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị, Lịch sử công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việl Nam (1944 - 2000), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr. 245).


Cùng với bám sát từng trận đánh, trước khi bước vào đạt chiến đấu mới, Cơ quan Chính trị Chiến dịch đã ban hành chỉ thị về công tác đảng, công tác chính trị. Để chuẩn bị cho đợt 2 của chiến dịch, ngày 16 tháng 12 năm 1951, Cơ quan Chính trị Chiến dịch ra Chỉ thị "Công tác chính trị đợt 2", nêu rõ 7 vấn đề phải lãnh đạo, đảm bảo thực hiện thắng lợi. Trong đó, nhấn mạnh việc phải làm cho cán bộ, chiến sĩ thấu triệt những nhận định về thắng lợi, tình hình và nhiệm vụ; phát động học tập Thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng; làm tốt việc chuẩn bị tư tưởng, động viên tinh thần phấn khới thi đua lập công đối với cán bộ, chiến sĩ; kiên định ý chí chiến đấu trong mọi hoàn cành khó khăn, phức tạp; kiên quyết khắc phục vượt mọi khó khăn; liên tục chiến đấu, vừa đánh vừa kịp thời củng cố để phát huy sức mạnh, giành thắng lợi. Chú trọng công tác binh vận, dân vận; nắm vững chính sách đối với hàng binh, tù binh. Đảm bảo giữ bí mật, phòng gian, đề cao cảnh giác...


Trong suốt quá trình chiến đấu, cán bộ chính trị, cơ quan chính trị các cấp đã thường xuyên xem xét trạng thái tinh thần, dũng khí và quyết tâm chiến đấu của bộ đội để tiến hành công tác tư tưởng, cổ động chiến trường, động viên cán bộ, chiến sĩ đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau hoàn thành nhiệm vụ. Phương pháp tiến hành đa dạng, phong phú, hết sức linh động; tày theo điều kiện chiến đấu, thời gian và hoàn cảnh, tiến hành công tác đảng, công tác chính trị được thực hiện thông qua các hình thức, như: Sinh hoạt tập thể hoặc nói chuyện riêng, khuyến khích tự phê bình và phê bình, giáo dục, động viên tư tưởng, thông báo tin chiến thắng kịp thời, các phong trào thi đua..., qua đó xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, quyết tâm chiến đấu vững chắc, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.


Vận dụng kinh nghiệm của Chiến dịch Hòa Bình, trong giai đoạn hiện nay, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải luôn bám sát mọi mặt đời sống xã hội và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nhiệm vụ xây dựng Đảng bộ Quân đội, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng; nâng cao giác ngộ, lập trường, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tình hình kinh tế, chính trị, quân sự thế giới, khu vực, trong nước, nhất là sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đều tác động đến nhận thức, tư tưởng của bộ đội, làm nảy sinh cả những tư tưởng tích cực và tiêu cực, đòi hỏi công tác đảng, công tác chính trị phải bám sát đời sống xã hội, thực tiễn trong Quân đội thì mới có sức sống, tính thuyết phục. Trên cơ sở đó, đề xuất các chủ trương, biện pháp lãnh đạo sát, đúng, kịp thời định hướng, cổ vũ và phát triển nhân tố tích cực, hạn chế tác động tiêu cực, ngăn chặn và loại bỏ những ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, ý chí quyết tâm của bộ đội và sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.


Đồng thời, hoạt động công tác đảng, công tác chính trị phải không ngừng đổi mới, trước hết là sự đổi mới tư duy của cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp, tiếp đến đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác chính trị, tư tưởng trong Quân đội phù hợp với đặc điểm nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm nội dung thiết thực, phù hợp đối tượng; có nhiều hình thức phong phú, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, cập nhật, tiếp thu có chọn lọc những trào lưu, xu thế mới của xã hội, tạo sự lôi cuốn, hấp dẫn, mang lại hiệu quả thực chất trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình đánh dấu bước phát triển mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đã củng cố niềm tin với chiến tranh toàn dân, dù lực lượng vũ trang ta còn có hạn, ta vẫn có thể giành quyền chủ động trên chiến trường chính để đi tới chiến thắng. Thắng lợi quan trọng đó đã để lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc về tiến hành công tác đảng, công tác chính trị, cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng linh hoạt, phù hợp, phát huy tốt vai trò công tác đảng, công tác chính trị, để cho công tác này thực sự là "linh hồn, mạch sống" của Quân đội ta. Qua đó, góp phần thực hiện thành công chủ trương "xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của loàn quân" đã được Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #25 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:43:52 am »

70 NĂM NHÌN LẠI THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH HÒA BÌNH

Thiếu tướng, TS NGUYỄN HOÀNG NHIÊN
Viện trưởng Viện Lịch sử quân sự Việt Nam


70 năm trước đây, dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trang ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta tiến hành Chiến dịch tiến công Hòa Bình, giành thắng lợi vang dội. Chiến thắng Hòa Bình là một sự kiện quan trọng trong tiến trình cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, trực tiếp đập tan kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình, làm phá sản âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược, mở rộng khu Chiếm đóng, bịt chặt cửa ngõ phía Tây Nam đồng bằng Bắc Bộ của thực dân Pháp. Chiến thắng đó còn là minh chứng sống động cho sức mạnh đoàn kết dân tộc, ý chí quyết tâm của quân và dân ta ở cả mặt trận chính và mặt trận sau lưng địch. Với độ lùi thời gian, cùng nguồn tư liệu phong phú, chúng ta có điều kiện để nhìn nhận rõ hơn, sâu sắc hơn tầm vóc, ý nghĩa của Chiến thắng Hòa Bình, được thể hiện trên những luận điểm chủ yếu sau:

1. Chiến thắng Hòa Bình thể hiện tư duy chỉ đạo chiến lược, chiến dịch nhạy bén, sáng tạo của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh

Từ sau thất bại ở biên giới Việt - Trung năm 1950, thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch Đờ Lát, cố gắng giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ, ra sức phát triển quân đội "Quốc gia Việt Nam", tập trung xây đựng lực lượng cơ động, tổ chức phòng tuyến quân sự kiểu mới, đẩy mạnh chương trình bình định vùng tạm chiếm. Trong khi đó, quân và dân ta vẫn nắm quyền chủ động, liên tiếp tiến hành 4 chiến dịch tiến công (Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung, Lý Thường Kiệt), gây nhiều khó khăn, lúng túng cho địch. Trước tình hình đó, thực dân Pháp buộc phải thực hiện các biện pháp nhằm giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Tháng 11 năm 1951, thực dân Pháp quyết định tập trung lực lượng đánh chiếm Hòa Bình.


Trên cơ sở nắm chắc và đánh giá đúng âm mưu, ý đồ chiến lược của địch, ngày 15 tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy họp mở rộng, nhận định: Với cuộc tiến công ra Hòa Bình, địch đã chiếm được một vị trí chiến lược quan trọng, cố gắng giành lại quyền chủ động, gây cho ta những khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế. Nhưng chúng phải dùng một bộ phận cơ động để mở rộng phạm vi chiếm đóng khiến cho chiến tranh du kích ở đồng bằng có điều kiện phát triển. Đồng thời, địch phải phân tán lực lượng trên chiến trường rừng núi, công sự mới xây dựng chưa được vững chắc. Đó là cơ hội để ta tiêu diệt chúng1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 48-49, 55). Tổng Quân ủy đề nghị Bộ Chính trị chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chuẩn bị chiến trường,... Nhất trí với nhận định và đề nghị của Tổng Quân ủy, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định: "Đây là cơ hội rất tốt để mình đánh giặc. Phải thấy điều đó để tin tưởng và quyết tâm đánh và thắng"2 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 48-49, 55).


Từ nhận định và quyết tâm chiến lược trên, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương tranh thủ thời cơ tổ chức chiến dịch phản công tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, phá kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chuẩn bị nhận thấy quân và dân ta chưa đủ khả năng tổ chức chiến dịch phản công, nên sau khi địch tổ chức phòng ngự tương đối hoàn chỉnh, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định thay đổi hình thức tác chiến từ phản công sang tiến công. Đó là quyết định thể hiện sự nhạy bén, linh hoạt, sáng tạo, theo sát diễn biến thực tế chiến trường, phù hợp với thực lực của quân và dân ta.


Đồng thời, với quyết định thay đổi hình thức tác chiến, Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh quyết định mở cuộc tiến công lớn, một mặt tập trung lực lượng chủ lực đánh địch ở hướng chính là Hòa Bình; mặt khác, đưa một bộ phận chủ lực vào hoạt động trong vùng sau lưng địch, chủ yếu là trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Như vậy, kế hoạch tác chiến chiến lược thống nhất gồm 2 hướng: Mặt trận Hòa Bình (mặt trận chính diện) và Mặt trận trung du và đồng bằng Bắc Bộ (mặt trận sau lưng địch), buộc Bộ Chỉ huy quân Pháp phải phân tán lực lượng, tiến tới lúng túng, bị động đối phó. Thực tiễn đã chứng minh Chiến dịch Hòa Bình diễn ra theo phương thức tiến công bao gồm Chiến dịch tiến công Hòa Bình của bộ đội chủ lực trên địa bàn Hòa Bình - Sông Đà - Đường số 6 và các đợt tác chiến của cả lực lượng chủ lực, lực lượng chính trị và đông đảo quần chúng trên địa bàn trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Trong kế hoạch tác chiến trên, Mặt trận Hòa Bình đóng vai trò quyết định, thu hút, giam chân, tiêu diệt một bộ phận lớn sinh lực địch, tạo điều kiện cho mặt trận sau lưng địch đẩy mạnh chiến tranh du kích, tranh thủ thời cơ để phát triển thế và lực. Ngược lại, hoạt động quân sự hiệu quả ở trung đu và đồng bằng Bắc Bộ buộc quân Pháp phải cơ động lực lượng từ Hòa Bình về giải tỏa. Điều này thể hiện trí tuệ quân sự sáng suốt, quyết đoán của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong tổ chức và điều hành chiến tranh, khoét sâu sơ hở của địch để tạo lợi thế cho ta, chớp thời cơ giành quyền chủ động trên chiến trường.


Thực hiện chủ trương trên, Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy quyết định thành lập Bộ Chỉ huy Chiến dịch Hòa Bình, gồm: Đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy Chiến dịch, đồng chí Hoàng Văn Thái giữ chức Tham mưu trưởng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ nhiệm Chính trị kiêm Phó Bí thư Đảng ủy. Lực lượng tham gia chiến dịch trên mặt trận chính diện, gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 304) và Đại đoàn công pháo 351; tại mặt trận sau lưng địch, có 2 đại đoàn bộ binh 316, 320. Tại Mặt trận Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch hạ quyết tâm và giao nhiệm vụ cho các đơn vị: 2 đại đoàn 308,312 tiến công trên hướng chủ yếu, phá vỡ phòng tuyến Sông Đà của địch; Đại đoàn 304 ở hướng thứ yếu của chiến dịch, kiềm chế địch ở thị xã Hòa Bình và đánh địch trên Đường số 6. Trên mặt trận sau lưng địch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ, Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ cho 2 đại đoàn 316 và 320 phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân các địa phương chủ động, tích cực tiêu diệt địch, phá tề, trừ gian, chống phá chương trình bình định của địch, mở rộng các khu du kích và căn cứ du kích.


Trải qua hơn hai tháng chiến đấu (10.12.1951 - 25.2.1952), quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn. Kết quả, ta không chỉ đánh thiệt hại nặng các binh đoàn chủ lực cơ động chiến lược của địch mà còn phá được thế kìm kẹp của địch ở vùng tạm bị chiếm, đập tan âm mưu giành lại quyền chủ động chiến lược của địch. Tại mặt trận chính diện, ta đánh bại ý đồ chiếm đóng Hòa Bình và lập "Xứ Mường tự trị" của thực dân Pháp, làm chủ hoàn toàn khu vực phía Tây đồng bằng Bắc Bộ. Ở mặt trận sau lưng địch, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 15.000 địch, thu 6.000 súng các loại1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1 : Lịch sử quân Sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167), căn cứ du kích được mở rộng, tạo thành thế liên hoàn.


Như vậy, Chiến thắng Hòa Bình thể hiện tư duy, bản lĩnh của Bộ Chính trị, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo chiến lược, chiến dịch, kịp thời điều chỉnh kế hoạch tác chiến phù hợp với diễn biến thực tế trên chiến trường và thực lực của quân và dân ta. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, trực tiếp là Bộ Chỉ huy Chiến dịch, quân và dân ta ở cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch đã đánh bại âm mưu, thủ đoạn quân sự của thực dân Pháp, giành thắng lợi vang dội trong Chiến dịch Hòa Bình. Nói cách khác, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh là nhân tố tiên quyết quyết định thắng lợi Chiến dịch Hòa Bình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #26 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:44:39 am »

2. Chiến thắng Hòa Bình là kết quả của tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm giành thắng lợi của quân và dân ta

Trước khi Chiến dịch Hòa Bình diễn ra, quân và dân ta đã liên tiếp tiến hành 4 chiến dịch tiến công, tuy giành được một số thắng lợi nhưng không đạt mục tiêu chiến lược đề ra. Tại vùng địch tạm chiếm, nhân dân gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở chính trị vũ trang địa phương bị phá vỡ, vùng tự do bị thu hẹp. Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến ý chí, quyết tâm của quân và dân ta. Trước tình hình đó, khi quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình, Trung ương kêu gọi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta hạ quyết tâm: Tranh thủ thời gian, tập trung tinh thần, sức lực, coi đây là cơ hội hiếm có để phát huy sáng kiến..., đánh bại âm mưu quân sự của thực dân Pháp.


Thực hiện quyết tâm đó, tại mặt trận chính diện, Bộ Chỉ huy Chiến dịch tập trung lực lượng, gồm lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Lực lượng cơ động gồm các đại đoàn chủ lực mạnh, được biên chế đầy đủ các đơn vị binh chủng: Pháo binh, phòng không, công binh, thông tin... Lực lượng tại chỗ đã huy động hàng chục nghìn dân công phục vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đạn dược tham gia phục vụ chiến dịch. Ngày 2 tháng 12 năm 1951, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức Hội nghị cán bộ phổ biến nhiệm vụ và kế hoạch tác chiến chiến dịch. Kết thúc Hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra "Huấn lệnh" kêu gọi toàn thể cán bộ, chiến sĩ: "Tìm địch mà đánh, diệt các cứ điểm mới đóng của dịch, diệt các đội càn quét của chúng, cắt đường giao thông liên lạc của chúng, biến sông Đà thành sông Lô năm xưa, Đường số 6 thành Đường số 4, tiêu diệt sinh lực địch, phá tan âm mưu chiếm đóng Hòa Bình"1 (Những tài liệu chỉ đạo các chiến dịch của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, Tập 4, Bộ Tổng Tham mưu xuất bản, 1963, tr. 73). Cán bộ, chiến sĩ trên mặt trận chính diện Hòa Bình đã phát huy tinh thần khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm giành thắng lợi. Nhiều đơn vị, cá nhân đã sáng tạo ra cách đánh hay, hiệu quả, hoàn thành và lập nhiều chiến công xuất sắc.


Ở mặt trận sau lưng địch, bộ đội chủ lực cùng với lực lượng vũ trang địa phương, kết hợp với phong trào nổi dậy của quần chúng tiêu diệt, bức hàng, bức rút hàng loạt cứ điểm của địch, giải tán chính quyền do Pháp lập lên, mở rộng căn cứ du kích và khu du kích, khiến cho vùng tạm chiếm của thực dân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ bị thu hẹp, kế hoạch bình định của thực dân Pháp bị phá sản.


Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhân dân các địa phương tham gia giúp đỡ, ủng hộ chiến đấu, góp phần quan trọng vào công tác bảo đảm cho chiến dịch. Tại mặt trận chính diện, dù không được chuẩn bị trước, nhưng nhân dân các tỉnh Phú Thọ, Sơn Tây, Hòa Bình đã ủng hộ hàng nghìn tấn lương thực, thực phẩm cùng hàng nghìn vật dụng, đồ dùng sinh hoạt. Nhân dân nhiều địa phương hăng hái tham gia vận tải lương thực, đạn dược, làm đường, bảo đảm chiến đấu. Ở vùng sau lưng địch thuộc trung du và đồng bằng Bắc Bộ, nhân dân các thôn, xã xay thóc, giã gạo, góp tre, gỗ làm cầu, thuyền, sẵn sàng tham gia nổi dậy phá tề, trừ gian... Tính chung trong Chiến dịch Hòa Bình, nhân dân ở cả hai mặt trận đã cung cấp 6.275 tấn gạo, 70 tấn muối, 70 tấn thịt, 60 tấn thực phẩm khác, số người tham gia dân công lên tới 333.200 lượt người với 11.914.000 ngày công1 (Vũ Quang Hiển, Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 161).


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành chiến dịch của Bộ Tổng Tư lệnh, quân và dân ta đã nêu cao quyết tâm, đoàn kết chiến đấu, đánh bại kế hoạch chiếm đóng Hòa Bình của thực dân Pháp, đồng thời giành thắng lợi quan trọng tại mặt trận sau lưng địch. Sự tham gia tích cực, hiệu quả của quần chúng nhân dân vào công tác chuẩn bị chiến đấu, phục vụ chiến đấu và chiến đấu ở cả mặt trận chính diện và sau lưng địch góp phần củng cố và thúc đẩy chiến tranh nhân dân phát triển một bước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. "Chiến thắng Hòa Bình đã củng cố niềm tin: Với chiến tranh toàn dân, dù lực lượng vũ trang ta còn hạn chế, ta vẫn có thể giành quyền chủ động trên chiến trường chính để đi tới chiến thắng"1 (Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2018, tr. 805).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #27 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:45:43 am »

3. Chiến thắng Hòa Bình đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp

Trong Chiến dịch Hòa Bình, Bộ Chỉ huy Chiến dịch chủ trương vận dụng phương châm "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu". Ý định của Bộ Chỉ huy Chiến dịch là "đánh điểm, diệt viện", kết hợp chặt chẽ đánh công kiên với đánh phục kích giao thông, tiêu diệt quân viện trên sông, trên bộ, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh vận động, tiêu diệt từng bộ phận quân địch đi càn quét sục sạo, buộc chúng phải co vào các vị trí dã chiến, đánh tiêu diệt quân nhảy dù hoặc ứng cứu giải tỏa. Xây dựng kế hoạch tác chiến, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định thời gian tác chiến chiến dịch có thể kéo dài từ 2 đến 3 tháng, chia thành nhiều đợt chiến đấu, trên nhiều khu vực với những yêu cầu cụ thể khác nhau. Kết quả của đợt 1 sẽ quyết định các bước tiếp theo. Vì vậy, Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định phải kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ tác chiến đợt 1, tạo điều kiện thuận lợi phát triển những đợt sau của Chiến dịch. Thực tiễn trong suốt cả 3 đợt của Chiến dịch Hòa Bình, phương châm "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" đã được Bộ Chỉ huy Chiến dịch vận dụng triệt để, hiệu quả, góp phần quan trọng vào thành công của chiến dịch. Đây cũng chính là hai đặc điểm đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch, phản ảnh tài năng quân sự sắc sảo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch trong quá trình tổ chức và điều hành chiến dịch.


Nét độc đáo và sự phát triển về nghệ thuật quân sự trong Chiến dịch Hòa Bình còn thể hiện ở nghệ thuật đánh trận then chốt. Đây là lần đầu tiên Quân đội ta đánh trận then chốt mở đầu vào cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng ngự của địch, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở đường giao thông vận chuyển chiến dịch, đồng thời tạo thế phát triển thuận lợi cho chiến dịch. Trên cơ sở nghiên cứu chiến trường, Bộ Chỉ huy Chiến dịch quyết định chọn tiến công tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là trận then chốt mở đầu trong đợt 1. Tu Vũ là cứ điểm án ngữ trên trục đường liên tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, cách thị xã Hòa Bình 30km về phía Bắc, nằm sát bờ Tây của sông Đà. Cứ điểm này có vị trí đặc biệt quan trọng trong Phân khu sông Đà - Ba Vì, do Tiểu đoàn lê dương 1 thuộc Trung đoàn Marốc 2 đảm nhiệm phòng ngự, được phối thuộc 1 đại đội bộ binh thuộc Tiểu đoàn 6, 1 trung đội thiết giáp. Địch ở Tu Vũ bảo vệ thị xã Hòa Bình từ xa, ngăn chặn ta tiến công từ Yên Lãng, sẵn sàng cơ động ứng cứu cho cứ điểm Đá Chông, Đoan Hạ, Chẹ (Phân khu Bắc), cứ điểm Pheo, Đầm Huống, Ao Trạch (Phân khu Nam). Bộ Chỉ huy Chiến dịch xác định trận then chốt Tu Vũ để mở đầu là đánh vào vị trí xung yếu nhất trong hệ thống phòng ngự đã phá thế liên hoàn của địch trên phòng tuyến Sông Đà, buộc chúng phải ứng cứu giải tỏa, tạo điều kiện cho chiến dịch phát triển thuận lợi. Thực tế diễn biến chiến dịch cho thấy xác định trận then chốt mở đầu tiêu diệt cứ điểm Tu Vũ là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp.


Về vận dụng chiến thuật, Bộ Chỉ huy Chiến dịch thực hiện đúng nguyên tắc tập trung ưu thế về binh lực, thực hiện bao vây, chia cắt, tiêu diệt địch; kiên quyết áp dụng chiến thuật đánh gần, dưới phi cơ và pháo binh của địch, để khắc phục chỗ mạnh của địch về hỏa lực và lợi dụng chỗ yếu của chúng về tinh thần. Với cách đánh này, ta vừa tránh hạn chế được thương vong, tổn thất cho bộ đội khi tiến công vào những cứ điểm vững chắc của địch, vừa khoét sâu những điểm yếu của địch, buộc đối phương phải tăng viện giải vây, tạo cơ hội cho ta tiêu diệt địch ngoài công sự. Trong quá trình thực hành đánh địch trong công sự vững chắc đã vận dụng linh hoạt nhiều hình thức tác chiến, lúc thì đột phá từ ngoài vào (công kiên) khi thì bí mật luồn vào trong trận địa địch, kết hợp đánh từ ngoài vào và từ trong đánh ra (tập kích). Trên mặt trận chính diện, ngoài đánh công kiên và vận động như các chiến dịch trước, lần này Bộ Chỉ huy Chiến dịch phát triển nhiều cách đánh như sử dụng một bộ phận tinh nhuệ tập kích tiêu diệt các điểm cao, trận địa pháo; sử dụng lực lượng lớn để đánh phục kích trên bộ, trên sông dưới sự hỗ trợ của pháo binh, ở mặt trận sau lưng địch, lần đầu tiên ta sử dụng một lực lượng lớn bộ đội chủ lực đánh sâu vào vùng địch tạm chiếm, vận dụng sáng tạo cách đánh kết hợp giữa tiến công và nổi dậy của quần chúng.


Thắng lợi của Chiến dịch tiến công Hòa Bình đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó "đánh điểm, diệt viện" và "liên tục chiến đấu" là những đặc điểm đặc sắc nhất. Nghệ thuật chọn trận then chốt thể hiện tư duy sáng tạo của Bộ Chỉ huy Chiến dịch trong việc xác định mục tiêu mở đầu, lập thế, điều hành tác chiến, chỉ đạo vận dụng hình thức chiến thuật và biện pháp chiến dịch. Bên cạnh đó, vận dụng chiến thuật, lựa chọn cách đánh hiệu quả đã góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch Hòa Bình.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #28 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:47:18 am »

4. Chiến thắng Hòa Bình đánh bại nỗ lực chiến tranh của thực dân Pháp, tạo đà cho quân và dân ta giữ vững quyền chủ động chiến lược, tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi

Thất bại nặng nề trong Thu - Đông 1950, đặc biệt là ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn đã đẩy quân Pháp vào tình thế vô cùng khó khăn, phải chuyển sang trạng thái phòng ngự chiến lược, thậm chí, tướng Cácpăngchiê (Carpentier), Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương còn có ý định rút bỏ Hà Nội, về phòng giữ Hải Phòng. Tình trạng hỗn loạn ở Đông Dương đã tác động mạnh mẽ đến chính quyền Pháp ở Pari, mâu thuẫn giữa các phe phái lên đến đỉnh điểm. Chính phủ Pháp do Thủ tướng R. Plêven1 (Plêven (Réné Pléven) làm Thủ tướng lần thứ nhất (6.1950 - 2.1951). Tháng 2 năm 1951, Nội các do Plêven đứng đầu bị sụp đổ, Chính phủ mới do Henri Cơi (Henry Queille) đứng đầu được thành lập (2-8.1951). Tháng 8 năm 1951, Plêven (Réné Pléven) làm Thủ tướng lần thứ hai (8.1951 -2.1952)) buộc phải tăng cường các biện pháp chính trị nhằm tiếp tục theo đuổi cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Kết quả, ngày 22 tháng 11 năm 1950, Quốc hội Pháp đã thông qua quyết định ủy quyền cho Chính phủ tăng cường tối đa các biện pháp chiến tranh xâm lược Việt Nam, Lào, Campuchia.


Để tăng cường sự lãnh đạo của Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Chính phủ Pháp quyết định cử Đờ Lát đờ Tátxinhi (Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassigny) làm Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương thay cho Cácpăngchiê và Pinhông (Pignon). Đây là lần đầu tiên kể từ khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương, Chính phủ Pháp tập trung quyền lực của Cao ủy và Tổng Chỉ huy vào một cá nhân. Điều này nhằm khắc phục những mâu thuẫn, cạnh tranh trong bộ máy chỉ đạo chiến tranh của Pháp ở Đông Dương cũng như phát huy tối đa tài năng quân sự của Đờ Lát đờ Tátxinhi.


Ngay sau khi nhậm chức, Đờ Lát nhanh chóng tiến hành sắp xếp lại bộ máy chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương, đồng thời gấp rút xây dựng kế hoạch chiến lược nhằm đảo ngược chiều hướng thất bại của quân Pháp, giành lại quyền chủ động trên chiến trường chính Bắc Bộ. Nội dung chủ yếu của kế hoạch, gồm: ổn định tình hình sau thất bại ở biên giới Việt - Trung; xây dựng cấp tốc các binh đoàn cơ động (Groupement mobile - GM); xây dựng và phát triển quân đội Quốc gia Việt Nam; lập phòng tuyến để bảo vệ trung du và đồng bằng Bắc Bộ; đẩy mạnh càn quét vùng bình định, chiếm đóng, lấn chiếm vùng tự do; sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ;... Để thực hiện kế hoạch, Đờ Lát kiến nghị Chính phủ Pháp bổ sung lực lượng cho quân đội Pháp ở Đông Dương. Đến cuối năm 1950, lực lượng quân Pháp ở Đông Dương là 239.000 quân, trong đó có 117.000 lính Âu - Phi, riêng binh lính Pháp là 63.000 người1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V: Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 19,417). Cùng với đó, ngân sách quốc phòng của Pháp dành cho chiến tranh ở Đông Dương cũng không ngừng gia tăng nhanh chóng.


Triển khai chiến lược mới, thực dân Pháp tăng cường đôn quân, bắt lính, đẩy mạnh xây dựng lực lượng quân đội Quốc gia Việt Nam cả về số lượng và trang bị, tiến hành các cuộc hành quân bình định, lấn chiếm; thiết lập phòng tuyến Đờ Lát... Các thủ đoạn quân sự mới của thực dân Pháp và Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu, bước đầu đạt được một số kết quả nhất định, khiến Chính phủ Pháp ở cả Pari và Bộ Chỉ huy tối cao quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chủ quan cho rằng "cán cân đã nghiêng về Pháp, đã đến lúc có thể dứt khoát từ bỏ thái độ phòng ngự mà Pháp đã chịu đựng từ năm 1948, nhất là từ cuối năm 1950, để chuyển sang thế tiến công"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), Tập V: Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 19,417). Từ đó, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chủ trương đánh đòn quyết định bằng cuộc hành quân đánh chiếm Hòa Bình, mở đầu cho việc giành lại quyền chủ động chiến lược trên chiến trường chính Bắc Bộ.


Tiến hành chiếm đóng Hòa Bình, ngày 9 tháng 11 năm 1951, Bộ Chỉ huy quân Pháp huy động 3 binh đoàn cơ động (GM1, GM2, GM3), 1 tiểu đoàn dù, 2 đại đội biệt kích, mở cuộc hành quân Hoa Tuylíp (Tulipe) đánh chiếm khu vực Chợ Bến. Tiếp đó, ngày 14 đến ngày 15 tháng 10, quân Pháp bổ sung 2 binh đoàn cơ động (GM4, GM7), 3 tiểu đoàn đù, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và 2 đại đội xe tăng mở tiếp cuộc hành quân Lôtuýt (Lotus) đánh chiếm khu vực Hòa Bình - sông Đà - Ba Vì. Cuộc tiến công do tướng Xalăng, Phó Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương trực tiếp chỉ huy. Sau khi chiếm được các mục tiêu trên, Bộ Chỉ huy quân Pháp giao trách nhiệm cho 13 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp, 1 đại đội và 1 trung đội xe tăng tổ chức phòng ngự trên 28 cứ điểm lớn, nhỏ, đánh chiếm, mở rộng khu vực chiếm đóng1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 165). Với lực lượng mạnh, chuẩn bị hậu cần chu đáo, thực dân Pháp hy vọng sẽ giành được thế chủ động tiến công, buộc đối phương phải tuân theo kịch bản chiến tranh của Pháp. Hòa Bình trở thành "canh bạc" của Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương.


Trước hành động quân sự của Pháp ở Hòa Bình, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam hạ quyết tâm phá tan âm mưu của địch bằng một cuộc tiến công lớn trên cả hai mặt trận, trong đó Hòa Bình là mặt trận chính diện. Kết quả, quân đội Pháp gặp thất bại nặng nề, bị loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.000 người, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 tàu, xuồng, phá hủy 12 pháo và hơn 200 xe quân sự, thu 24 pháo và gần 800 súng các loại1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 167; Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử cuộc kháng chiến chóng thực dân Pháp (1945 -1954), Tập V: Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2014, tr. 442: Trên mặt trận Hòa Bình, ta đã tiêu diệt 5.317 tên, bắt 593 tên, thu 24 khẩu pháo các loại, 788 súng, 98 máy thu phát thông tin, phá hủy 12 khẩu pháo, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 17 ca nô, tàu chiến, phá hủy 246 xe quân sự).
   

Thắng lợi của quân và dân ta trong Chiến dịch Hòa Bình góp phần đánh bại nỗ lực quân sự cao nhất của thực dân Pháp ở chiến trường chính Bắc Bộ kể từ sau Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950. Sau thất bại này, thực dân Pháp chẳng những không giành được quyền chủ động mà còn rơi vào tình thế bị động hơn trước. Ngược lại, quân và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ vững quyền chủ động, tiếp tục đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Từ những bài học quý giá trong Chiến dịch Hòa Bình, đặc biệt là bài học về chọn hướng tiến công và vận dụng cách đánh, quân và dân ta đã giành nhiều thắng lợi có ý nghĩa chiến lược sau đó trong các chiến dịch như: Tây Bắc (1952), Thượng Lào (1953), đặc biệt là Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), đưa đến kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.


Chiến thắng Hòa Bình là thắng lợi "cực kỳ quan trọng về tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, đặc biệt là tạo nên thế trận mới chưa từng có của ta ở vùng địch tạm chiếm ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch tiến công Hòa Bình (12.1951 - 2.1952), Hà Nội, 1991, tr. 6). Chiến thắng đó thể hiện đường lối quân sự nhạy bén, linh hoạt, sáng tạo của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh cũng như ý chí, quyết tâm của toàn quân và toàn dân ta trong quá trình thực hành chiến dịch. Chiến thắng Hòa Bình chẳng những đánh dấu bước trưởng thành xuất sắc của cơ quan lãnh đạo kháng chiến trong quá trình tổ chức và điều hành chiến tranh mà còn đưa nghệ thuật quân sự Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới. 70 năm đã trôi qua nhưng Chiến thắng Hòa Bình vẫn chứa đựng giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục vận dụng và phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #29 vào lúc: 04 Tháng Năm, 2023, 07:50:07 am »

CHIẾN THẮNG HÒA BÌNH
KẾT QUẢ SỰ CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG

PGS, TS TRẦN TRỌNG THƠ
Phó Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh


Chiến thắng Biên Giới Thu - Đông 1950 của quân và dân Việt Nam đã tạo ra một bước ngoặt của cuộc kháng chiến, "đánh dấu sự trưởng thành về tổ chức, chỉ huy và trình độ tác chiến của Quân đội ta", đẩy quân đội Pháp ở Đông Dương vào tình thế bị động, kế hoạch quân sự chính trị bị phá sản. Ngoan cố kéo dài chiến tranh để lấy lại danh dự sau thất bại ở Cao Bằng, Lạng Sơn..., giới cầm quyền hiếu chiến Pháp quyết định tập trung vào biện pháp quân sự, sử dụng vũ lực nhiều hơn để có thể giành lại quyền chủ động tiến công trên chiến trường. Người được Chính phủ Pháp phó thác "sứ mệnh lớn lao" đó là Đại tướng, Tổng Thanh tra quân lực Pháp J. M. G. Đờ Lát đờ Tatxinhi (Jean Marie Gabriel de Lattre de Tassigny). Ngày 7 tháng 12 năm 1950, Đờ Lát được cử làm Cao ủy kiêm Tổng Tư lệnh quân đội Pháp tại Đông Dương, một mình nắm cả 2 quyền chỉ huy dân sự và quân sự. Mang theo kinh nghiệm và tầm nhìn của một viên tướng từng giữ chức Tổng Tham mưu trưởng, Tư lệnh Quân đoàn Rhin và Danube khét tiếng, chỉ huy các lực lượng trên bộ tại Tây Âu, ngay khi sang Đông Dương vào ngày 17 tháng 12 năm 1950, Đờ Lát đã xây dựng và triển khai một kế hoạch quân sự có 3 nội dung chính: Xin tăng viện binh; tập trung nỗ lực chiến tranh ở miền Bắc; thiết lập phòng tuyến (được gọi là phòng tuyến Đờ Lát), là một hành lang trắng (no man’s land) rộng 3km bao quanh châu thổ Bắc Bộ để bảo vệ khu vực chiến lược này. Sau chuyến công du sang Mỹ (9.1951) và nhận được lời hứa sẽ "viện trợ dồi dào" từ phía Mỹ, Đờ Lát quyết định mở các trận "phản công" để giành lại quyền chủ động trên chiến trường. Đờ Lát chọn Hòa Bình là mục tiêu tấn công đầu tiên.


Thị xã tỉnh lỵ Hòa Bình nằm sát hữu ngạn sông Đà cách Hà Nội khoảng 110km về phía Tây Nam. Trong quá trình xâm lược Việt Nam lần thứ hai, quân Pháp đã chiếm đóng Hòa Bình, gọi đây là "thủ phủ xứ Mường". Sau thất bại ở biên giới Thu - Đông 1950, quân Pháp rút khỏi Hòa Bình để bảo toàn lực lượng. Cùng với những chuyển biến của hình thái chiến trường, tầm quan trọng Hòa Bình ngày càng nổi lên, là trung tâm điểm giao thông giữa miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Đờ Lát quyết định tái chiếm Hòa Bình nhằm nhiều mục tiêu. Thứ nhất, cắt đứt hành lang tiếp tế của Việt Minh giữa Việt Bắc với Thanh - Nghệ - Tĩnh, "đe dọa con đường "huyết mạch" của Việt Minh nối "tứ giác rừng núi" với kho gạo và người từ "vùng đỏ lớn Bắc Trung Kỳ. "Ở Hòa Bình là bóp họng quân Việt, ngăn chặn họ"1 (Lucien Bodard, Cuộc chiến tranh Đỏng Dương, người dịch: Đoàn Doãn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 857). Thứ hai, giảm áp lực tấn công của Việt Minh trên các địa bàn khác ở Bắc Bộ, nhất là Liên khu 3. Chiếm Hòa Bình dẫn đến việc kiểm soát vùng núi Ba Vì, mở rộng phòng tuyến chiếm đóng đến tận hữu ngạn sông Đà, khống chế Đường số 6, qua đó sẽ uy hiếp, ngăn chặn các đường tiến quân, cơ động của các đại đoàn chủ lực của bộ đội Việt Minh. Giới quân sự Pháp ở Đông Dương cho rằng: Tấn công Hòa Bình là "đi trước chiến cuộc của Việt Minh (...) làm đảo lộn kế hoạch của họ"2 (Yves Gras, Lịch sử cuộc chiến tranh Đông Dương, Pion, Paris, 1979). Thứ ba, chiếm Hòa Bình sẽ tạo cơ hội cho quân Pháp có dịp "tiêu diệt" chủ lực Việt Minh khi đối phương phải chấp nhận các trận đánh trong các công sự phòng thủ của Pháp. Tấn công ra Hòa Bình, quân Pháp còn âm mưu về phương diện tâm lý, nhằm xốc lại tinh thần quân viễn chinh Pháp; mưu toan "thu hút sự ủng hộ" của nhân dân các dân tộc thiểu số ở Hòa Bình.


Với những toan tính đó, quân Pháp huy động một lực lượng lớn gồm 15 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn nhảy dù, 2 liên đoàn thiết giáp, 7 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 2 hải đoàn để đánh ra Hòa Bình (sau đó bổ sung thêm 7 tiểu đoàn bộ binh tới Hòa Bình để mở rộng khu vực chiếm đóng). Từ ngày 9 tháng 11 năm 1951, quân Pháp chia làm 3 mũi: Phía Bắc vào Ba Vì và theo sông Đáy; phía Nam tiến theo Đường số 6; mũi nhảy dù. Ngày 14 tháng 11 năm 1951, quân Pháp chiếm thị xã Hòa Bình và nhanh chóng mở rộng sân bay tại tỉnh lỵ, thiết lập hệ thống phòng thủ dọc sông Đà và Đường số 6 để làm trục tiếp tế. Đích thân Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy Đờ Lát đến Hòa Bình để kiểm tra trận địa và khích lệ tinh thần binh lính.


Địch tấn công Hòa Bình đúng lúc ta đang gặp khó khăn trong việc chọn hướng chiến lược1 (Sau ba chiến dịch tiến công ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (25.12.1950 - 17.1.1951), Chiến dịch Hoàng Hoa Thám (23.3 - 7.4.1951), Chiến dịch Quang Trung (28.5 - 20.6.1951) chưa đạt được mục đích chiến lược, ta mở tiếp Chiến dịch Lý Thướng Kiệt đánh lên miền núi nhưng không đạt được mục tiêu. Do vậy, khi ta quay lại chuẩn bị mở tiếp chiến dịch ở Liên khu 3, thì địch đánh ra Hòa Bình). Với nhãn quan quân sự sắc bén, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy đây là cơ hội để thực hiện nhiệm vụ quân sự lớn mà Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương (27.9 - 5.10.1951) vừa đề ra là "Tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch phòng ngự của chúng, giữ vững thế chủ động, tiến tới giành ưu thế quân sự trên chiến trường chính"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 587). Người chỉ rõ: "Trước kia, ta phải lừa địch ra mà đánh, nay địch tự ra cho ta đánh. Đó là cơ hội tốt cho ta"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 242).


Ngày 23 tháng 11 năm 1951, Bộ Chính trị hợp nhất trí với đề nghị của Tổng Quân ủy về các hướng tiến công trong tinh hình mới. Theo đó, hướng tiến công chủ yếu là Mặt trận Hòa Bình, nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, phá phòng tuyến Sông Đà; hướng phối hợp là đồng bằng Bắc Bộ, có nhiệm vụ phát triển chiến tranh du kích, phối hợp với hương chủ yếu.


Trên cơ sở đó, ngày 24 tháng 11 năm 1951, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị "Về nhiệm vụ phá cuộc tấn công Hòa Bình của địch". Trung ương Đảng chỉ rõ: Địch quyết chiếm Hòa Bình để cắt đường giao thông liên lạc của ta từ Việt Bắc đi các khu phía Nam, bảo vệ các phòng tuyến của chúng ở Tây Nam Trung châu Bắc Bộ, mở rộng phạm vi chiếm đóng, gây ảnh hưởng chính trị đối với Mỹ, Anh và trấn an tinh thần quân đội Pháp. Chỉ thị cũng phân tích: Tấn công, đánh chiếm Hòa Bình, địch buộc dùng phần lớn lực lượng Âu - Phi tinh nhuệ, sơ hở các mặt trận khác, phải phân tán lực lượng trên một mặt trận lớn rộng, rừng núi hiểm trở, công sự chưa kịp xây dựng, chưa kịp củng cố, là cơ hội tốt để ta đánh địch, đồng thời, có thể hoạt động mạnh trong vùng du kích Bắc Bộ nhất là ở tả ngạn sông Hồng. Chỉ thị viết: "Vậy ta phải nắm cơ hội tốt này, tranh thủ thời gian để đánh địch tiêu diệt sinh lực địch trên Mặt trận Chợ Bến, Hòa Bình, trên các mặt trận khác và khắp vùng du kích sau lưng địch, nhằm mục đích phá âm mưu quân sự mới của địch"2 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Sđd, tr. 596).


Chủ trương kết hợp mặt trận chính diện với mặt trận sau lưng địch, kiên quyết đánh bại cuộc hành binh của địch đánh ra Hòa Bình là một quyết định chính xác của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Thực hiện chủ trương của Đảng, từ cuối tháng 11 năm 1951, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh đã điều 3 đại đoàn 308 312 và 304 lên Mặt trận Hòa Bình; điều 2 đại đoàn 320 và 316 vào vùng địch hậu Bắc Bộ phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh phá các cuộc hành quân bình định của địch. Trên cơ sở phân tích âm mưu và các động thái của đối phương, Trung ương Đảng và Bộ Tổng Tư lệnh chủ trương chưa đánh thẳng vào chỗ mạnh của địch là tập đoàn cứ điểm Hòa Bình, mà tập trung binh, hỏa lực đánh vào chỗ yếu của chúng là tuyến sông Đà và Đường số 6, là hai tuyến vận chuyển, tiếp tế thủy bộ của Pháp nhằm "cắt cổ họng" của địch.


Ngày 10 tháng 12 năm 1951, Chiến dịch bắt đầu bằng cuộc tấn công của bộ đội chủ lực ta vào đồn Tu Vũ, một cứ điểm quan trọng của địch ở hữu ngạn sông Đà, được phòng thủ kiên cố. Sau cuộc tiến công đầu tay, bộ đội chủ lực ta liên tục tiến công, phục kích đường tiếp tế bằng sông Đà đến Hòa Bình. Tiếp đó, từ đầu tháng 1 năm 1952, bộ đội chủ lực tập trung đánh công kiên, phục kích trên Đường số 6, tập kích vào thị xã Hòa Bình. Từ các điểm cao, pháo binh ta bắn vào các căn cứ địch trong thị xã, khống chế sân bay, ngăn chặn sự tiếp tế của quân Pháp.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM