Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 16 Tháng Bảy, 2024, 07:52:37 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 3906 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #90 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:31:43 am »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NGHỆ AN CHI VIỆN CÁCH MẠNG LÀO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Thượng tá PHAN ĐẠI NGHĨA
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy,
Chỉ huy trường Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Nghệ An vừa đóng vai trò hậu phương chi viện cho cuộc kháng chiến ở miền Nam, vừa đương đầu với các cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, đảm bảo mạch máu giao thông vận tải chi viện cho chiến trường lớn. Bên cạnh đó, Nghệ An còn thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp cách mạng Lào, vừa là hậu phương, chi viện sức người sức của, vừa cử lực lượng giúp bạn xây dựng, phát triển thực lực, phối hợp chiến đấu chống kẻ thù chung.


Nghệ An có chung đường biên giới với 3 tỉnh của nước bạn Lào (Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay và Hủa Phăn) dài 419,5km1 (Chỉ thị số 12/2013/CT-UBND, ngày 16 tháng 4 năm 2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An), cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, cùng chiến đấu chống lại kẻ thù chung, mối đoàn kết chiến đấu luôn là nét đẹp truyền thống. Từ ngày Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, mối đoàn kết đó càng được bồi đắp bằng tinh thần quốc tế vô sản trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Với tinh thần "giúp bạn là mình tự giúp mình" và theo yêu cầu của bạn, Nghệ An đã cùng các đơn vị khác của Quân khu 4 cử nhiều đơn vị Quân tình nguyện giúp bạn vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích, xây dựng lực lượng và thế trận, tạo lập căn cứ địa... Lực lượng vũ trang Nghệ An luôn giữ trọn tình nghĩa thủy chung, vẹn toàn với các bộ tộc Lào anh em, sát cánh cùng nhau "hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa", cùng chiến đấu trong mối đoàn kết Việt - Lào chống kẻ thù xâm lược, vì độc lập, tự do của mỗi nước.


Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ cuối năm 1954 đến đầu năm 1955, tại địa bàn các huyện miền núi phía Tây Nghệ An có nhiều diễn biến phức tạp, đế quốc Mỹ câu kết với phái hữu chống phá cách mạng Lào, tung biệt kích, thám báo xâm nhập biên giới tỉnh Nghệ An. Đặc biệt trong tháng 3 và tháng 4 năm 1959, địch cho 2 toán phỉ từ phía Xiêng Khoảng tập kích vào bản Sen Nhôm, Piêng Phạt (huyện Tương Dương), cướp phá tài sản, đốt nhà, sát hại đồng bào ta. Trước tình hình này, tỉnh đã phối hợp với bạn Lào tăng cường tuần tra biên giới, đồng thời tiến hành xây dựng cơ sở, chống địch phá hoại; thành lập Ban miền Tây và Ban Cán sự biên giới để chỉ đạo công tác miền núi và chăm lo vun đắp tình hữu nghị Việt Nam - Lào. Các cơ quan Tỉnh đội tham gia Ban Cán sự biên giới đã phối hợp các lực lượng của tỉnh và của Lào xác định đường biên giới với Lào ở địa bàn một số xã thuộc huyện Tương Dương; kết hợp với bạn, trực tiếp là tỉnh Xiêng Khoảng củng cố mối đoàn kết chiến đấu.


Tháng 5 năm 1959, Tiểu đoàn 2 Pathét Lào bị lực lượng phản động người Lào, được Mỹ chi viện và điều khiển, bao vây và có nguy cơ bị tiêu diệt. Dưới sự chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân khu 4, cán bộ, chiến sĩ lực lượng trinh sát và Tiểu đoàn Biên phòng 925 chi viện đã kịp thời chi viện, hỗ trợ giải vây cho Tiểu đoàn 2. Bộ đội địa phương Nghệ An phối hợp với lực lượng của Trung đoàn 120 và Sư đoàn 324 sẵn sàng tiếp ứng. Đến ngày 6 tháng 6 năm 1959, toàn bộ Tiểu đoàn 2 Pathét Lào đã cơ động tập kết an toàn tại căn cứ tạm thời ở Tương Dương (Nghệ An). Nhân dân và lực lượng vũ trang miền Tây Nghệ An đã tổ chức đón tiếp với tình cảm thân tình, nồng ấm và chu đáo. Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 2 Pathét Lào cảm thấy như được trở về với người thân trong gia đình. Đồng chí Cayxỏn Phômvihản, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Lào trong một lân sang thăm Nghệ An và Quân khu 4 đã bày tỏ những tình cảm, niềm vinh dự, tự hào về tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt - Lào, mà cụ thể là của lực lượng vũ trang Quân khu 4 nói chung, nhân dân, lực lượng vũ trang tỉnh Nghệ An nói riêng. Tiêp đó, theo yêu cầu của bạn, từ tháng 8 năm 1960 Nghệ An đã cử đội công tác "Ba mặt" (gồm Vận động quần chúng, trinh sát bí mật và vũ trang chiến đấu) sang giúp Lao xây dựng phong trào, tổ chức lực lượng, tiến hành binh vận, xây dựng cơ sở tạo thế trận bảo vệ cách mạng bạn, đồng thời tham gia phòng thủ tuyến biên giới phía Tây của tỉnh.


Từ năm 1960, được sự trợ giúp của Mỹ, lực lượng phản động người Lào tăng cường hoạt động ở vùng căn cứ cách mạng Lào giáp với các huyện phía Tây Nghệ An. Quân khu 4 được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng Quân tình nguyện phối hợp lực lượng Pathét Lào mở chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (16.12 - 31.12.1960). Trong đó, Noọng Hét được xác định là mục tiêu quan trọng. Nhận nhiệm vụ trên giao, Nghệ An đã tổ chức 1 đại đội công an vũ trang tham gia đội hình chiến đấu và huy động lực lượng dân quân, du kích huyện Tương Dương làm nhiệm vụ bảo đảm chiến dịch; lực lượng công an vũ trang tham gia bảo vệ đường hành quân, trú quân. Dân công các huyện Con Cuông, Anh Sơn được huy động phục vụ chiến dịch. Các lực lượng Nghệ An đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Tuyến Đường số 7 được khai thông vào tận Mường Mộc, căn cứ kháng chiến của bạn được mở rộng và củng cố. Sự uy hiếp của địch với tuyến Đường số 7 nối liền Nghệ An với Xiêng Khoảng cơ bản được giải tỏa.


Trong những năm 1963 - 1964, ở phía Tây Nghệ An, nhất là các xã vùng biên giới tiếp giáp với tỉnh Xiêng Khoảng, địch gia tăng hoạt động phá hoại như biệt kích, thám báo, nhảy dù và vượt biên xâm nhập lãnh thổ gây mất ổn định an ninh giữa hai nước. Trước tình hình đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã kịp thời đề ra nhiệm vụ cấp thiết về công tác miền Tây và quyết định thành lập Ban Chỉ đạo miền Tây, đồng chí Bí thư Ban Cán sự Tỉnh đội được cử làm Trưởng ban. Ban Chỉ đạo có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, vạch rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt, phối hợp với chính quyền các cấp, các ngành địa phương triển khai huấn luyện, xây dựng các phương án đánh địch, vây bắt biệt kích... giữ vững sự ổn định biên giới giữa ta và bạn.


Để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế cao cả, trên cơ sở thỏa thuận giữa thường vụ tỉnh ủy 2 tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng về tăng cường hợp tác toàn diện, tháng 3 năm 1969, đoàn đại biểu tỉnh Xiêng Khoảng đã sang thăm và hội đàm với đoàn đại biểu Nghệ An. Trên tinh thần kết nghĩa anh em, hai bên thống nhất kế hoạch hợp tác toàn diện tất cả các mặt kinh tế - xã hội, an ninh, quân sự. Về quân sự và an ninh, hai bên đã thống nhất phương án chiến đấu, xây dựng cơ sở, mở rộng vùng giải phóng, củng cố biên giới hữu nghị giữa 2 tỉnh. Trong đó, lực lượng vũ trang Nghệ An phối hợp với quân và dân Xiêng Khoảng mở các chiến dịch giải phóng đất đai, xây dựng vùng giải phóng. Dưới sự chỉ huy của Tỉnh đội, lực lượng vũ trang Nghệ An nhanh chóng triển khai thế trận, phối hợp với quân dân và Lào mở đợt hoạt động mùa khô năm 1969 mang tên "Chiến dịch Mường Ngàn", tiến công đánh phá toàn bộ sào huyệt của địch, giải phóng huyện Mường Mộc. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 30 cán bộ và chiến sĩ huyện Mường Mộc; lực lượng vũ trang Nghệ An có Tiểu đoàn Bộ binh 42, Đại đội Đặc công 18, Đại đội 211 của huyện Tương Dương và 1.700 dân công phục vụ chiến đấu. "Chiến dịch Mường Ngàn" kết thúc, quân và dân 2 tỉnh đã tiêu diệt 43 tên phỉ, làm bị thương và bắt 31 tên, giải phóng 500 dân khỏi ách kìm kẹp. Về cơ bản chiến dịch đã đạt mục tiêu tiến công phá được một bộ phận sào huyệt phi ở phía Đông, đẩy chúng lùi về phía Tây sông Nậm Mô, mở ra một số vùng giải phóng tiếp giáp với biên giới hai nước, tạo được một hành lang giải phóng từ Mường Ngàn của Xiêng Khoảng đến Mường May của tỉnh Bô Ly Khăm Xay, nối liền Đường số 7 xuống Đường số 8.


Với âm mưu nhằm giành lại vị thế đã mất, khi mùa mưa chưa kết thúc, ngày 20 tháng 8 năm 1969, Mỹ huy động 5.000 quân ngụy Thái Lan, 12.000 quân ngụy Lào và lực lượng đặc biệt Vàng Pao được máy bay yểm trợ mở cuộc hành quân Cù Kiệt đánh phá khu căn cứ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của bạn. Sau khi đánh giá tình hình, để bảo toàn lực lượng, Trung ương Đảng nhân dân Lào chỉ thị cho lực lượng kháng chiến Lào cùng nhân dân Xiêng Khoảng lui quân về các huyện miền núi Nghệ An chờ thời cơ phản công. Sau đó, để nhằm đánh bại âm mưu của địch, Trung ương Đảng và quân đội hai nước đã thống nhất tăng cường lực lượng, phối hợp mở chiến dịch phản công nhằm đánh bại cuộc hành quân Cù Kiệt của chúng. Nhận lệnh sát cánh cùng lực lượng bạn chiến đấu, các đơn vị Nghệ An tham gia gồm: Tiểu đoàn 42, Đại đội Đặc công 18, Đại đội Trinh sát 19, Đại đội Cao xạ 52, Đại đội 212 huyện Kỳ Sơn và 1.800 dân công hỏa tuyến phục vụ chiến đấu.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #91 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:34:01 am »

Qua 3 đợt tiến công (25.10.1969 - 25.4.1970), lực lượng vũ trang Nghệ An phối hợp với các lực lượng tham gia chiến dịch đập tan cuộc hành quân Cù Kiệt, phá tan nhiều cụm phỉ, diệt 5 tiểu đoàn, đánh thiệt hại 10 tiểu đoàn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.500 quân địch (chiếm 71% lực lượng địch tham gia cuộc hành quân Cù Kiệt), bắn rơi và phá hủy 117 máy bay, thu 597 súng các loại; giải phóng một vùng rộng lớn khoảng 6.000km2 với hơn 16.000 dân, nối liền vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi - Sảm Thông - Nam Căng Xẻng - Xen Chồ với Sầm Nưa và 4 tỉnh Bắc Lào1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 201. Mục từ Chiến dịch Toàn Thắng (Chiến dịch 139; Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, 25.10.1969 - 25 4.1970)), đẩy địch vào thế bị động. Thắng lợi của chiến dịch góp phần quan trọng làm thất bại âm mưu của Mỹ nhằm kéo dài và mở rộng chiến tranh ở Lào, phân tán, giam chân lực lượng ta để mở rộng chiến tranh sang Campuchia; từ đó, tạo chuyển biến về so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng Lào, mở ra triển vọng cả về quân sự, chính trị và ngoại giao trong việc giải quyết vấn đề Lào2 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 201. Mục từ Chiến dịch Toàn Thắng (Chiến dịch 139; Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, 25.10.1969 - 25 4.1970)), tạo ra điều kiện mới cho sự nghiệp cách mạng hai nước tiếp tục tiến lên.


Sau chiến thắng mùa khô 1969 - 1970, lực lượng vũ trang Nghệ An gồm Tiểu đoàn 42, Tiểu đoàn 43 và Đại đội 211 tiếp tục ở lại làm nhiệm vụ giúp bạn, phối hợp cùng bạn giữ vững, củng cố địa bàn, sẵn sàng đánh địch xâm phạm, lấn chiếm. Cuối mùa mưa năm 1971, địch tổ chức lấn chiếm khu trung tâm Mường Mộc. Chúng chiếm một số vị trí ngoại vi như Cò Hây, Tung Xin, Tham Pợ, uy hiếp tuyến hậu cần của ta, làm cho nhân dân trong vùng lo sợ. Theo yêu cầu của bạn, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh quyết định khôi phục lại Đoàn 7, đồng thời sử dụng tất cả các đơn vị của tỉnh có trên đất bạn, cùng Đại đội 3 thuộc Tiểu đoàn Đặc công 31 do Quân khu tăng cường, triển khai đánh địch lấn chiếm ở Mường Mộc, Mường Nham. Nhiều trận chiến đấu diễn ra ác liệt, đặc biệt là trận chiến đấu giải phóng Mường Nham ngày 2 tháng 4 năm 1971. Phía bạn có đại đội bộ đội trung lập yêu nước, 1 đại đội chủ lực huyện Mường Mộc, 1 trung đội bộ đội địa phương Mường Ngàn cùng hơn 30 cán bộ cơ sở của huyện Mường Mộc làm công tác dân vận và vận động binh lính địch. Phía Nghệ An có Tiểu đoàn 43 và 300 dân công Nghệ An được điều từ phía sau lên trực tiếp phục vụ hỏa tuyến, được tăng cường Đại đội Đặc công 20 Quân khu. Ngày 2 tháng 4 năm ] 971, ta và bạn bắt đầu tiến công địch, đến sáng ngày 8 tháng 4, giải quyết xong các cứ điểm, sau đó chuyển sang truy quét địch. Các lực lượng tham gia chiến đấu ờ Mường Nham đã hoàn thành tốt nhiệm vụ triệt phá cứ điểm phỉ BS226, tích cực bảo vệ vùng giải phóng, uy hiếp hậu cứ địch ở Phu Lom, phá trước âm mưu lấn chiếm của địch ra vùng giải phóng.


Trong năm 1972, lực lượng vũ trang Nghệ An tiếp tục phối hợp tốt với quân và dân tỉnh Xiêng Khoảng tiến công tiêu diệt phỉ mở rộng vùng giải phóng cho bạn, phối hợp với các chiến trường khác ở Lào và với toàn chiến trường Đông Dương. Thực hiện nhiệm vụ do Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 4 giao theo kế hoạch chung của Chiếu dịch 972, căn cứ vào tình hình địch, Đảng ủy Quân sự tỉnh quyết định thành lập Ban Chỉ huy Mặt trận 772. Lực lượng vũ trang tỉnh tham gia gồm Tiểu đoàn 40, Tiểu đoàn 43 và một số đại đội binh chủng, Đại đội 221 của huyện Tương Dương và 1.000 dân công hỏa tuyến phối hợp quân dân huyện Mường Mộc. Ngày 26 tháng 10 năm 1972, Mặt trận 772 mở màn tiến công lực lượng phỉ BS226 ờ Mường Nham, diệt và bất 25 tên địch, làm chủ căn cứ địch. Quân địch ở Bản Nam - Tha Si tháo chạy. Rạng sáng ngày 19 tháng 12 năm 1972, các lực lượng Mặt trận 772 phối hợp lực lượng bạn thọc sâu vào căn cứ Nậm Heo và cứ điểm vòng ngoài của địch ờ Na Kun - Phu Lom. Toàn bộ hang ổ của BS225 và Sở Chỉ huy GM 25 (Binh đoàn Cơ động 25) của lực lượng đặc biệt Vàng Pao ở đây bị phá tan, ta tiêu diệt 75 tên, trong đó có tên trung tá chỉ huy GM 25.


Phối hợp với Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng ở Thượng Lào của liên quân Việt - Lào, theo mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và của Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân khu 4, lực lượng vũ trang Nghệ An đã cùng với lực lượng chính trị - vũ trang của bạn tiến hành các hoạt động quân sự phối hợp với chiến trường chung toàn Đông Dương giành những thắng lợi to lớn, tạo chuyển biến lớn về thế trận, lực lượng cho cách mạng Lào.


Với những chiến thắng liên tiếp, cho đến hết đầu năm 1973 ta và bạn đã củng cố vững chắc vùng giải phóng, đồng thời chặn đánh một số tàn quân địch ở Bom Luật, Chiêng Xa Lỳ. Mặt trận 772 đã làm tốt nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với Chiến dịch 972 Quân khu giành thắng lợi trên Đường số 12, uy hiếp thị xã Thà Khẹt. Giải phóng hoàn toàn huyện Mường Mộc và một vùng rộng lớn phía Đông Đường số 13 từ tỉnh Xiêng Khoảng đến từ tỉnh Bô Ly Khăm Xay, nối thông với nhau thành hành lang Bắc - Nam Lào. Vượt qua nhiều gian khổ hy sinh, lực lượng vũ trang Nghệ An đã cùng các lực lượng khác của Quân khu 4 làm nên chiến thắng quan trọng buộc đế quốc Mỹ và ngụy quyền Lào phải ký Hiệp định Viêng Chăn (21.2.1973), lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc Lào.


Tuy nhiên, trước khi Hiệp định về Lào được ký kết, Mỹ muốn giành lợi thế nên đã tăng cường yểm trợ đắc lực cho phái hữu Viêng Chăn và lực lượng đặc biệt Vàng Pao mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của Lào. Với mục đích nhằm tăng cường áp lực quân sự, tìm kiếm một thắng lợi trên chiến trường để buộc phía cách mạng chấp nhận một giải pháp chính trị do Mỹ đưa ra tại Hội nghị Pari. Trên cơ sở nắm chắc âm mưu, thủ đoạn mới của địch, thực hiện nhiệm vụ Quân khu giao, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh và Ban Chỉ huy Mặt trận 772 đã nhanh chóng chuyển nhiệm vụ sang ngăn chặn các cuộc hành quân của địch lấn chiếm vùng giải phóng, giúp bạn giữ vững địa bàn và thành quả trước khi Hiệp định Viêng Chăn được ký kết (21.2.1973). Chỉ trong 2 tháng trước khi Hiệp định được ký kết, lực lượng vũ trang Nghệ An làm nhiệm vụ trên chiến trường Lào, tiến hành 25 trận đánh lớn nhỏ, diệt và bắt 350 tên địch (trong tổng số 244 trận, diệt 5.600 tên địch của toàn Chiến dịch 972), góp phần giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nối liền vùng giải phóng 2 tỉnh Xiêng Khoảng và Bô Ly Khăm Xay. Thắng lợi này tiếp tục thể hiện sinh động của mối tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt - Lào, là sự khẳng định về ý thức chấp hành nhiệm vụ, là sự cố gắng lớn của quân và dân Nghệ An hết lòng vì nhiệm vụ quốc tế cao cả.


Sau Hiệp định về chấm dứt chiến tranh thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào được ký kết, để phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, tỉnh Nghệ An đã nhanh chóng xác định nhiệm vụ cho các lực lượng vũ trang giúp bạn, trước hết là tích cực xây dựng cơ sở lâu dài, đây mạnh sản xuất chăn nuôi tại chỗ, có hậu cứ với quy mô vừa và nhỏ để bám trụ lâu dài và chuyển bộ đội hoạt động ở Lào thành quân tình nguyện. Theo đó, các lực lượng vũ trang Nghệ An tích cực xây dựng cơ sở giúp bạn. Tiểu đoàn 43 phối hợp cùng lực lượng bạn bám sát cơ sở tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ ý nghĩa thắng lợi của Hiệp định Viêng Chăn. Tiểu đoàn 40 cùng lực lượng bạn tổ chức một số trận truy quét thổ phỉ, làm sạch địa bàn, bảo vệ dân bản vùng giải phóng. Từ năm 1974, khi cách mạng Lào đã phát triển vững chắc, các phương án bảo vệ được triển khai có hiệu quả. Theo sự thỏa thuận chung giữa hai bên Việt - Lào, Nghệ An nhanh chóng rút lực lượng vũ trang trên đất bạn về nước chuẩn bị tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Chiến thắng của quân và dân Lào năm 1975, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước là kết quả của quá trình chiến đấu bền bỉ, kiên cường và anh dũng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân cách mạng Lào. Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết đặc biệt thủy chung của cách mạng hai nước Lào - Việt Nam. Quân và dân Nghệ An tự hào đã kề vai, sát cánh kiên cường chiến đấu cùng bạn trong những năm tháng đấu tranh gian khổ, ác liệt đầy hy sinh và thử thách, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Lào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #92 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:11:06 am »

VỊ TRÍ ĐỊA CHIẾN LƯỢC CỦA NGHỆ AN ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG LÀO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Đại tá PHẠM VĂN ĐÔNG
Chính ủy Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An


Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) quân dân Nghệ An cùng cả nước bước vào giai đoạn cách mạng mới, thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc; giải phóng miền Nam thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cà nước. Nghệ An và các tỉnh thuộc địa bàn Quân khu 4 vừa đảm nhận vai trò vừa là hậu phương, vừa là tiền tuyến trong cuộc kháng chiến ở miền Nam; vừa thực hiện nhiệm vụ đoàn kết chiến đấu với nước bạn Lào cùng chống kẻ thù xâm lược chung. Tham luận này sẽ đề cập đến những nét cơ bản nhất vai trò, vị trí của Nghệ An trong thực hiện nhiệm vụ giúp bạn xây dựng lực lượng và phối hợp chiến đấu vì độc lập, tự do của mỗi nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân Lào.


Về điều kiện địa lý, Nghệ An phân chia thành ba chiến trường và ba vùng rõ rệt, đó là: Vùng rừng núi, vùng trung du - đồng bằng và vùng đồng bằng ven biển. Vùng núi, vùng trung du và đồng bằng chiếm gần 3/4 diện tích toàn tỉnh, tập trung chủ yếu phía Tây - Tây Bắc với một phần dãy Trường Sơn và dãy Phu Hoạt. Phía Tây của tỉnh giáp ba tỉnh của nước bạn Lào gồm: Hủa Phăn, Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay với 468,281 km đường biên giới.


Nghệ An cỏ hệ thống giao thông đa dạng với cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không, là một phần của cơ sở hạ tầng cỏ vị trí, vai trò rất lớn đối với cả kinh tế - xã hội cũng như quốc phòng, an ninh. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975), nhất là trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giao thông vận tải trên địa bàn Nghệ An giữ vai trò hết sức quan trọng của chiến trường miền Nam và chiến trường Lào. Tuyến giao thông đường bộ của tỉnh có một số tuyến đường chính gắn liền với biên giới giữa ta và bạn gồm: Quốc lộ 7A từ thị trấn huyện Diễn Châu đến Cửa khẩu Nậm Cắn (huyện Kỳ Sơn) dài 225km; Quốc lộ 46, nhánh 1 (46A) từ cảng Cửa Lò đến Cửa khẩu Thanh Thủy (huyện Thanh Chương) dài 82km; Quốc lộ 48, nhánh 1 từ Ngã ba Yên Lý (huyện Diễn Châu) đến Cửa khẩu Thông Thụ (huyện Quế Phong) dài 168km; Quốc lộ 48C dài 110km bắt đầu từ ngã ba xã Tam Hợp (huyện Quỳ Hợp) đến Ngã ba Khe Bố xã Tam Quang (huyện Tương Dương).


Trên cơ sở xác định hậu phương là nhân tố thường xuyên quyết định sự thành bại của chiến tranh. Nên ngay từ đầu cuộc kháng chiến, vào những năm 1955 - 1960, khi Nghệ An trở thành hậu phương trực tiếp cho chiến trường Trị - Thiên và Lào, Tỉnh ủy đã xác định phải làm tốt nhiệm vụ hậu phương của mình và thực sự Nghệ An đã trở thành nơi đứng chân xây dựng, dự trữ tiềm lực của chiến tranh cả về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa - xã hội. Là chỗ dựa tiềm lực sức người, sức của, chỗ dựa tinh thần cổ vũ, động viên niềm tin chiến thắng cho tiền tuyến.


Là địa bàn tiếp giáp với chiến trường Lào, trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Nghệ An là một trong những tỉnh trở thành hậu phương trực tiếp cho các đợt hoạt động quân sự. Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký (20.7.1954), tình hình Lào diễn biến rất phức tạp, cuộc đấu tranh cách mạng của bạn đứng trước nhiều khó khăn thử thách. Đế quốc Mỹ dựng lên chính quyền tay sai Càtày Phủixanicon và tiến hành đàn áp lực lượng cách mạng Lào. Lực lượng Pathét Lào phải rút về củng cố tại tỉnh Sầm Nưa Phong Xa Lỳ, lập căn cứ địa kháng chiến. Chủ trương của bạn lúc này là củng cố, xây dựng vùng giải phóng vững mạnh, xây dựng cơ sở cách mạng tại các tinh Trung Lào - Hạ Lào.


Được sự giúp đỡ chí tình của Quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Quân khu 4, cùng quân, dân Nghệ An, lực lượng cách mạng Lào nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt, từ những đơn vị du kích nhỏ lẻ, đến đầu năm 1961, lực lượng bạn đã phát triển có 3 tiểu đoàn độc lập. Lực lượng dân quân du kích được tổ chức thành các tiểu đội ở các làng, bản. Thành tựu 10 năm đầu (1954 - 1964) xây dựng hậu phương trong thời bình, quân dân Nghệ An đã biết kê thừa những kinh nghiệm xây dựng hậu phương kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng thời phát huy cao độ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, tạo nên sức mạnh tổng hợp để xây dựng hậu phương vững mạnh toàn diện trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, đặc biệt là trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh bảo vệ vững chắc hậu phương. Hậu phương Quân khu 4, trong đó có Nghệ An không ngừng được củng cố, tuyến vận tải quân sự Trường Sơn ngày càng phát triển, cùng với sự phát triển lớn mạnh của cách mạng Lào, đã tạo nên thế trận vững chắc trên địa bàn hậu phương chiến lược chi viện cho cách mạng miền Nam và cách mạng Lào.


Xây dựng hậu phương vững mạnh về chính trị, kinh tế, xã hội là vấn đề có tính quy luật để quyết định sự thành bại của chiến tranh. V. I. Lênin đã từng nêu luận điểm khẳng định: Một quân đội giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ1 (Dẫn theo: Nguyễn Đức Thắng, Tăng cường sức mạnh bảo vệ To quốc xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng của V.I.Lênin, Báo Quân đội nhân dân, số ra ngày 21 tháng 4 năm 2021). Thực tế lịch sử các cuộc kháng chiến đã chứng minh rõ điều này. Miền Tây Nghệ An trong suốt cuộc kháng chiến là chỗ đứng chân của tỉnh bạn, là nơi huấn luyện đào tạo cán bộ, bộ đội, du kích cho bạn. Trước đó, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sự liên minh chiến đấu giữa ta và bạn đã phát triển lên đỉnh cao, chung lưng đấu cật tạo nên chiến thắng vẻ vang năm 1954. Trong Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (25.10.1969 - 25.4.1970)2 (Còn có tên Chiến dịch Toàn Thắng hay Chiến dịch 139), các lực lượng vũ trang Nghệ An cùng ra quân, từ bộ đội tỉnh, công an, dân quân đến Bộ đội Biên phòng đều tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Sau chiến thắng, lực lượng vũ trang Nghệ An đã tập trung xây dựng cơ sở, trong đó có các đội cơ sở của Bộ đội Biên phòng đã công tác ở các vùng sâu, vùng xa, vùng xung yếu, tiến hành "ba cùng" xây dựng cơ sở chính trị trên địa bàn mới giải phóng.
   

Trong những năm 1969 - 1970, Nghệ An và Xiêng Khoảng đã tăng cường hợp tác toàn diện trên các mặt kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa - xã hội. Hai tỉnh đã thống nhất phương án phối hợp tác chiến, củng cố quan hệ hữu nghị với tinh thần quan hệ đặc biệt Việt - Lào. Trong năm 1972, trong kế hoạch phối hợp chung với các chiến trường khác ở miền Nam và chiến trường Đông Dương nói chung, Nghệ An đã cùng Xiêng Khoảng mở Mặt trận 872 giành nhiều thắng lợi to lớn, đưa cách mạng Lào phát triển mạnh, tạo ưu thế để đi đến ký kết Hiệp định Viêng Chăn (21.2.1973). Ngoài ra còn phối hợp cùng bạn tập trung xây dựng lực lượng ba thứ quân ngày càng lớn mạnh. Nghệ An luôn thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo trong phối hợp giúp bạn là: "Giúp bạn cơ bản toàn diện, liên tục, lâu dài, được việc, được lòng, được trước mắt, được lâu dài". Trong 30 năm (1945 - 1975) kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Nghệ An thực sự trở thành một vùng căn cứ địa vững chắc, một hậu phương chiến lược quan trọng cho cách mạng Lào, mà trực tiếp là tỉnh Xiêng Khoảng. Sự phối hợp, giúp đỡ đó đồng thời cũng giúp cho Nghệ An bảo vệ vững chắc trật tự, an ninh biên giới phía Tây của tỉnh.


Với vị trí địa chiến lược của một tỉnh cỏ chung 468,281km đường biên giới trên bộ với Lào, Nghệ An không những là vùng căn cứ địa rộng lớn, mà còn là hậu phương chiến lược của bạn. Nhận rõ âm mưu, thủ đoạn trước mắt cũng như lâu dài của địch, trước tình hình phát triển có lợi cho cách mạng hai nước Lào - Việt, ta và bạn đã có những chủ trương và biện pháp nhằm tiếp tục củng cố và mở rộng vùng giải phóng. Tỉnh Nghệ An đã thành lập một lực lượng thường xuyên giúp bạn, gồm Tiểu đoàn 43 bộ đội địa phương và Đoàn 7 - Đội công tác cơ sở đặt tại Mường Mộc, tỉnh Xiêng Khoảng. Ngoài ra còn căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của từng thời điểm, tỉnh cử các đơn vị lực lượng vũ trang giúp bạn, như mở chiến dịch Mường Ngạt năm 1969, lực lượng Nghệ An tham gia có Tiểu đoàn Bộ binh 42, Đại đội Đặc công 18, Đại đội 211 huyện Tương Dương và 1.700 dân công. Trong Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiệng Khoảng, ta đã đánh bại cuộc hành quân Cù Kiệt của địch cuối năm 1969 đầu năm 1970, các đơn vị vũ trang Nghệ An tham gia gồm Tiểu đoàn 42, Đại đội Đặc công 18, Đại đội Trinh sát 19, Đại đội 212 huyện Kỳ Sơn, Đại đội Cao xạ 52 và 1.800 dân công phục vụ chiến đấu. Trong Chiến dịch 972 năm 1972, trên hướng 772, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh đã tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội cối và 2.000 dân công hỏa tuyến cho Đoàn 7.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #93 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:11:34 am »

Tất cả lực lượng Nghệ An làm nhiệm vụ quốc tế giúp bạn đều thường xuyên được giáo dục, quán triệt, nắm vững quan điêm, đường lối quốc tế của Đảng, xác định "Giúp bạn là một trong bốn nhiệm vụ, là một trong ba chiến trường chiến đấu chính", từ đó đã vận dụng đúng đắn trong mọi nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu; lúc khó khăn cũng như khi thuận lợi đều thấu suốt quan điểm "giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình". Hơn 20 năm làm nhiệm vụ quốc tế ở Lào, lực lượng vũ trang cũng như lực lượng dân công hỏa tuyến Nghệ An đã tận tỉnh giúp đỡ bạn về mọi mặt, củng cố và tăng cường mối quan hệ đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa quân đội và nhân dân hai nước, đạt được những kết quả hết sức quan trọng, góp phần đưa cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân Lào giành thắng lợi; đồng thời đã trực tiếp vun đắp, xây dựng tình đoàn kết chiến đấu đặc biệt Việt - Lào ngày càng gắn bó bền vững.


Để phát huy có hiệu quả vai trò vị trí địa chiến lược của tỉnh đối với sự nghiệp cách mạng Lào trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Nghệ An đã kết hợp chặt chẽ và giải quyết tốt mối quan hệ hậu phương với tiền tuyến, dân tộc và quốc tế. Quân, dân Nghệ An đã phát huy sức mạnh của hậu phương để chi viện đắc lực, liên tục và ngày càng to lớn, hiệu quả cho tiền tuyến lớn, cùng với tiền tuyến đánh bại kẻ địch để bảo vệ hậu phương. Với tinh thần tiền tuyến có đánh to thắng lớn hay không là do sức mạnh chi viện của hậu phương lớn quyết định; hậu phương có đáp ứng được yêu cầu tiền tuyến hay không thì với vị trí đầu cầu trung chuyển của Quân khu 4, tỉnh Nghệ An giữ vai trò quyết định. Thực hiện khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến", quân, dân Nghệ An đã dồn tất cả sức lực, khả năng và trí tuệ, vượt lên mọi thử thách, hy sinh thực hiện bằng được quyết tâm chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là bảo đảm giao thông vận tải luôn thông suốt, chi viện cao nhất, kịp thời nhất sức người sức của cho chiến trường miền Nam và cho cách mạng Lào giành thắng lợi. Chỉ tính riêng trong hai cuộc chiến chống chiến tranh phá hoại, bất chấp hành động tàn bạo của Mỹ, vượt lên những đau thương mất mát, quân, dân Nghệ An vừa kiên cường chiến đấu đánh máy bay địch, vừa làm tốt công tác đảm bảo giao thông vận tải, đã vận chuyển được 7.310.000 tấn hàng cho chiến trường miền Nam và Lào. Từ năm 1965 đến năm 1972, tỉnh đã huy động 103.505 người vào bộ đội, 11.585 người đi thanh niên xung phong, 24.480 người đi dân công hỏa tuyến...


Cùng với việc giải quyết tốt mối quan hệ hậu phương với tiền tuyến, hậu phương Nghệ An còn đồng thời giải quyết tốt nhiệm vụ dân tộc và quốc tế. Là tỉnh cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn cùng chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược và các thế lực tay sai, bởi vậy mối đoàn kết liên minh chiến đấu Việt - Lào là truyền thống từ lâu đời và là vấn đề sống còn của cả hai dân tộc. Trong suốt cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, hậu phương Nghệ An trở thành hậu phương trực tiếp, vững chắc của cách mạng Lào, là nơi chi viện sức người, sức của cho chiến trường Lào, thực hiện liên minh đoàn kết chiến đấu của hai nước Việt - Lào trong sự nghiệp chống kẻ thù chung giải phóng đất nước và bảo vệ độc lập chủ quyền của từng dân tộc.


Sau ngày đất nước Việt Nam độc lập thống nhất, cùng bạn Lào vững bước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nghệ An tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế. Phối hợp cùng bạn Lào không chỉ trên lĩnh vực quân sự - quốc phòng, bảo vệ đường biên giới hòa bình, hữu nghị bền vững, mà còn phối hợp cùng bạn trong hợp tác phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, Nghệ An đang ra sức đẩy mạnh hợp tác cùng các tỉnh của bạn (Xiêng Khoảng, Bô Ly Khăm Xay và Hủa Phăn) bảo vệ vững chắc an ninh biên giới, trao đổi hàng hóa, cử chuyên gia giúp đỡ lẫn nhau. Nghệ An và Lào đang trở thành những đối tác kinh tế giàu tiềm năng. Hiện nay tỉnh có hơn 90 doanh nghiệp xuất khẩu và đầu tư vào thị trường Lào trên nhiều lĩnh vực, với tổng vốn đầu tư hơn 200 triệu USD. Chỉ tính riêng giai đoạn 2016 - 2020, Nghệ An đã triển khai nhiều hoạt động hợp tác, giúp đỡ nước bạn với tổng kinh phí hơn 500 tỳ đồng. Riêng đối với lực lượng vũ trang tỉnh cũng đang giúp bạn đầu tư nâng cấp các công trình kho, trạm, mua sắm các thiết bị vật tư kỹ thuật; tổ chức sửa chữa, bảo dưỡng xe máy, vũ khí trang bị kỹ thuật; đồng thời phối hợp cùng bạn làm tốt công tác tìm kiếm, cất bốc và quy tập hài cốt liệt sĩ Quân tình nguyện Việt Nam hy sinh tại Lào.


Mối tình đoàn kết quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt Nam - Lào có truyền thống từ lâu đời, nhất là từ khi có Đảng lãnh đạo, mối quan hệ ấy ngày càng phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đảng bộ, quân và dân Nghệ An đang tiếp tục thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quốc tế giúp bạn trong sáng, thủy chung và mãi mãi xem đây là "tài sản vô giá". Quân và dân Nghệ An luôn chú trọng xây dựng, giữ gìn và phát huy, vun đắp để góp phần đưa quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào ngày càng bền vững.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #94 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:13:20 am »

NGHỆ THUẬT TẠO LẬP THẾ TRẬN TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Đại tá, TS LÊ THANH BÀI
Trưởng phòng Lịch sử Tư tưởng - Tổ chức quân sự,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Thực hiện quyết tâm "đánh bại học thuyết Níchxơn trên toàn chiến trường Đông Dương, tạo ra một chuyển biến căn bản làm thay đổi cục diện chiến tranh ở miền Nam và trên cả bán đảo Đông Dương, giành thắng lợi to lớn, buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt chiến tranh trên thế thua bằng một giải pháp chính trị có lợi cho ta mà chúng có thế chấp nhận được"1 (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 33 (1972), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 37), cùng với mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, Trung ương Đảng và Quân ủy Trung ương Việt Nam phối hợp với Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương Lào chủ trương mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nhằm giữ vững địa bàn chiến lược, phá vỡ quy luật mùa khô hàng năm ta tiến công giải phóng, đến mùa mưa địch tận dụng ưu thế về cơ động, hóa lực, hậu cần để chiếm lại. Ngay trong tháng 2 năm 1972, Bộ Tư lệnh Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi đã nhận được chỉ thị: Sau chiến dịch tiến công, toàn bộ lực lượng sẽ chuyển sang phòng ngự cấp chiến dịch2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập 4 (1969 - 1972), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 415).


Tỉnh Xiêng Khoảng nơi có Cánh Đồng Chum nằm ở khu vực Đông Bắc nước Lào, có vị trí địa chiến lược quan trọng không chỉ với cách mạng Lào mà còn đối với toàn Đông Dương. Giữ được địa bàn chiến lược quan trọng này sẽ bảo vệ trực tiếp vùng căn cứ cách mạng Sầm Nưa của cách mạng Lào, uy hiếp Loong Chẹng - nơi có căn cứ của lực lượng đặc biệt Vàng Pao do Mỹ xây dựng, tạo điều kiện cho cách mạng Lào phát triển. Với cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ba nước Đông Dương, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là hướng chiến lược, mang tính chất phối hợp chiến trường chung hết sức quan trọng; liên quan mật thiết tới việc bảo trị an vùng biên Việt - Lào; tác động đến tuyến chi viện chiến lược 559. Các chiến lược gia quân sự Hoa Kỳ đánh giá "Cánh Đồng Chum là chìa khóa của nước Lào", và đã chọn nơi đây để thực hiện chiến lược "chiến tranh đặc biệt tăng cường" theo công thức: "Quân ngụy Lào + quân Thái Lan + không quân, hậu cần, cố vấn Mỹ". Bởi vậy, đây là địa bàn giành giật quyết liệt giữa ta và địch1 (Tháng 7 năm 1969, địch mở cuộc hành quân Cù Kiệt nhằm đánh chiếm toàn bộ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, xúc hầu hết nhân dân tại khu vực này. Từ ngày 25 thang 10 năm 1969 đến ngày 25 tháng 4 năm 1970, liên quân Việt Nam - Lào mở chiến dịch phản công 139, khôi phục khu trung tâm Cánh Đồng Chum. Tháng 6 năm 1971, địch dùng lực lượng đặc biệt Lào và lực lượng Thái Lan lại tiến công lấn chiếm hầu hết địa bàn này. Từ ngàỵ 18 tháng 12 năm 1971 đến ngày 6 tháng 4 năm 1972, liên quân Việt Nam - Lào tiến hành chiến dịch tiến công mùa khô 1971 - 1972 đánh đuổi địch ra khỏi Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, phát triển thãng lợi, đưa lực lượng áp sát giải phóng Sảm Thông, uy hiếp Loong Chẹng).


Thực hiện chỉ đạo của Thường vụ Quân ủy Trung ương: "Trong bất cứ tình huống nào cũng phải bảo vệ vững chắc vùng Cánh Đồng Chum, bao gồm cả tuyến trung gian, tiếp tục tiến công địch bằng phương thức thích hợp, đẩy địch xa hơn nữa ở Loong Chẹng"2 (Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ Tổng Tham mưu, Biên niên Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập VIII, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2008, tr. 120), trên cơ sở đánh giá về địch, căn cứ thực tiễn chiến trường, Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định: "Để giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum, bảo vệ kho tàng, đường vận chuyển chiến lược, phải tổ chức chiến dịch phòng ngự theo hình thức phòng ngự trận địa vững chắc, có chiều sâu"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987 tr 25), với "tư tưởng tiến công trong tác chiến phòng ngự; lập thế, tạo thời cơ, giành chủ động; vận dụng cách đánh thật linh hoạt; kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa, đánh lớn, đánh rộng rãi, đánh từ xa, đánh cả phía trước, phía sau, phát huy tác chiến để tiêu diệt địch"2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987 tr 25).


Trên cơ sở dự kiến hướng tiến công chủ yếu của địch từ Sảm Thông - Loong Chẹng đánh ra hướng Tây Nam hoặc Nam; hướng thứ yếu có thể từ nhiều hướng bằng đường bộ hoặc đổ bộ đường không, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhanh chóng hình thành các khu vực phòng ngự liên hoàn có trận địa vững chắc, có chính diện và chiều sâu thích hợp. Khu trung tâm Cánh Đồng Chum là khu vực phòng ngự chủ yếu, được xác định phải bảo vệ đến cùng. Hướng phòng ngự chủ yếu là Nam và Tây Nam, hướng thứ yếu là Tây và Tây Bắc. Dự kiến các trận then chốt có thể diễn ra ở phía Nam cánh đồng Căng Xẻng trên trục từ Bản Ngua đi Bản Phồn (hướng Nam) và Bản Khổng - đồi Năm Mỏm (phía Tây). Cụm Phu Tâng - Phu Tôn là cụm phòng ngự then chốt trong khu vực chủ yếu đồng thời là cụm then chốt nhất trên toàn địa bàn chiến dịch.


Từ nhận định trên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch xác định địa bàn chiến dịch bao gồm khu tứ giác: Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng, với chiều dài 60km, chiều rộng 50km, trong đó Cánh Đồng Chum là khu trung tâm. Toàn bộ địa bàn chiến dịch được chia thành 5 khu vực:

- Khu Trung tâm Cánh Đồng Chum, gồm 4 cụm chốt: Phu Tâng - Phu Seo, Phu Keng, Phu Khế, là khu vực phòng ngự chủ yếu, đánh địch trên hướng Nam và Tây Nam.

- Khu Hin Tặng là khu trung gian với 3 cụm: Xa Phan, Phu Pha Xay, cụm 2 điểm cao 1990A và B, là khu vực phòng ngự cơ bản phía trước rất quan trọng của hướng phòng ngự chủ yếu, bảo vệ phía Tây Nam Cánh Đồng Chum. Đây là khu vực có lợi thế về địa hình, là bàn đạp tiến công, được xác định là khu vực diễn ra các trận tranh chấp quyết liệt, dai dẳng giữa ta và địch.

- Khu Noọng Pẹt, gồm 2 cụm: Phu Học, Phu Nốc Cốc, là khu vực phòng ngự thứ yếu để đối phó trực tiếp với địch có thể xuất phát tiến công từ căn cứ Buôm Loọng, nhằm bảo vệ Cánh Đồng Chum tứ phía Đông Bắc.

- Khu Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng, là khu vực phòng ngự thứ yếu, đánh địch từ xa, bảo vệ phía Tây Bắc và phía Đông cho khu trung tâm. Trong đó ở khu Mường Sủi chủ yếu đối phó với lực lượng phái hữu phản động từ Sa La Phu Khun tiên vào còn ở hướng Xiêng Khoảng đề phòng hoạt động biệt kích thám báo.


Đây là chiến dịch phòng ngự có sự tham gia của lực lượng vũ trang cách mạng Lào nên hai bên thống nhất: Ta phụ trách khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum, khu trung gian, khu Noọng Pẹt; bạn phụ trách khu vực thị xã Xiêng Khoảng và khu vực Mường Sủi, chiếm giữ các chốt: Phu Ca Pó, các điểm cao 1196, 1630 và 2050. Ngoài ra, các đơn vị binh chủng, các đơn vị của bạn được bố trí xen kẽ ở các khu vực phòng ngự để hỗ trợ hiệp đồng chi viện cho bộ binh đánh địch, bảo vệ địa bàn.


Cùng với xây dựng các khu vực phòng ngự, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo xây dựng công sự trận địa vững chắc, làm đường cơ động cho bộ binh xuất kích, cho xe tăng, pháo binh cơ động trong điều kiện nhiều đèo cao, suối dốc, bất lợi với thời tiết mưa nhiều tổ chức hệ thông tin liên lạc vững chắc để chỉ huy hợp đồng chặt chẽ trong mọi tình huống.


Dựa vào thế trận phòng ngự được chuẩn bị chu đáo, bố trí lực lượng hợp lý, sau 179 ngày đêm chiến đấu (21.5 - 15.11.1972) liên quân Việt Nam - Lào đã tác chiến 244 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch, đánh thiệt hại nặng 3 binh đoàn cơ động (21, 23, 26), 3 tiểu đoàn quân Thái Lan và đánh thiệt hại 5 binh đoàn cơ động khác, bắn rơi 38 máy bay, thu 859 súng các loại1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, quyển 1, Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 250). Đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công chiến lược của Mỹ - ngụy Lào đập tan âm mưu đánh chiếm địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum đánh bại thêm một bước học thuyết Níchxơn ở Lào, làm phá sản công thức "quân ngụy Lào + quân Thái Lan + không quân, hậu cần, cố vấn Mỹ"; phá được tiền lệ có tính quy luật mùa khô ta giữ, mùa mưa địch chiếm, góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường chung. Kể từ đây, Cánh Đồng Chum luôn là căn cứ địa trọng yếu của ta, bảo đảm thế liên hoàn vững chắc cho vùng căn cứ địa của cách mạng Lào, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phối hợp trên chiến trường chung ba nước Đông Dương.


Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã để lại những kinh nghiệm về tạo lập thế trận phòng ngự sau:

1. Đánh giá đúng ỷ đồ địch, chủ động tạo lập thế trận vững chắc, linh hoạt, phá được thế tiến công của địch

Lập thế, tạo thời cơ, giành quyền chủ động trong tác chiến phòng ngự là yếu tố quan trọng đảm bảo giành thắng lợi. Đế tạo lập được thế trận có lợi trước hết yêu cầu phải nắm chắc về địch. Trên cơ sở nắm được quy luật của địch, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam dự kiến địch sẽ huy động từ 30 đến 40 tiểu đoàn bộ binh, từ 3 đến 4 tiểu đoàn pháo binh, bao gồm quân phái hữu Lào, quân Thái Lan có không quân Mỹ chi viện. Hướng tiến công chủ yếu có thể là từ Hin Họp, Văng Viêng, Na Xa Ra, Loong Chẹng, Sảm Thông; hướng phối hợp từ Sa La Phu Khum ra Mường Sủi. Từ nhận định đó, cơ quan tham mưu chiến lược đã chỉ đạo Bộ Tư lệnh 959 cùng với bạn xây dựng vùng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thành một khu vực phòng thủ vững chắc lâu dài, toàn diện, tạo thế bất khả xâm phạm cho vùng căn cứ địa cách mạng Lào, đồng thời là bàn đạp xuất phát tấn công của ta về hướng Tây và Tây Nam. Phương châm chỉ đạo tác chiến là kết hợp chặt chẽ cơ động tiến công với chốt giữ khu vực, lực lượng cơ động là thành phần chủ yếu, chốt là thành phần quan trọng. Lây tác chiến hiệp đồng binh chủng là phương án tác chiến chủ yếu, đồng thời tổ chức phòng thủ tác chiến có trọng điểm.


Với cách bố trí phòng ngự thành 5 khu vực, ta đã hình thành thế trận phòng ngự hình tròn, đảm bảo đánh lui, đánh bại được các lực lượng quân địch từ bất cứ hướng tấn công nào, dù đó là hướng chính diện hay vu hồi, luồn lách, thọc sâu đều bị đánh bại bên ngoài khu vực phòng ngự của ta, không cho chúng đánh chiếm được các khu vực, không thể phá vỡ thế bố trí phòng ngự của ta, không đánh thắng về mặt chiến dịch.


Cùng với đó, việc xác định chính xác nhiệm vụ của từng khu vực phòng ngự đã góp phần tạo nên nét đặc sắc của nghệ thuật tạo lập thế trận. Trên cơ sở xác định nhiệm vụ hàng đầu của chiến dịch là giữ bằng được địa bàn chiến lược này, Cánh Đồng Chum được xác định là khu vực phòng ngự chủ yếu của toàn chiến dịch. Tuy nhiên, tùy theo tính chất, đặc điểm khác nhau của từng khu vực, nên ngoài khu vực phòng ngự chủ yếu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch cũng xác định chính xác vị trí của từng khu vực khác, nhằm phát huy vai trò phối hợp, tạo nên thế phòng ngự vững chắc. Dựa vào địa hình và điều kiện tiếp xúc với lực lượng chủ yếu của địch, ta xác định rõ khu trung gian giữ vai trò rất quan trọng bởi muốn tiến công lớn, địch phải chiếm bàn đạp này vừa để triển khai lực lượng tiến công, vừa trực tiếp ngăn chặn ta bảo đảm an toàn cho hậu phương lớn của chúng. Trung đoàn 174, đơn vị có nhiều kinh nghiệm chiến đấu được giao nhiệm vụ phòng giữ Thực tiễn chiến dịch đã chứng minh nhận định trên hoàn toàn chính xác ta và địch giành giật gần ba tháng tại địa bàn này, đến khi không còn khả năng đánh chiếm được, địch mới chuyển tiến công chủ yếu sang các hướng khác, nhung vẫn không ngừng tranh chấp với ta tại đây. Sự kiên cường chiến đấu của Trung đoàn 174, giữ vững khu trung gian đã có tác dụng lớn bảo đảm sự đứng vững của khu vực phòng ngự chủ yếu Cánh Đồng Chum.


Với cách bố trí các khu vực phòng ngự như vậy, ta đã tạo lập nên thế trận linh hoạt. Khi địch tập trung tiến công vào vực trung gian trên hướng tiến công chủ yếu của hướng Đông Nam, ta đã tập trung lực lượng kiên quyết giữ, buộc chúng phải chuyển hướng, lấy Tây Bắc là hướng chủ yếu, nhưng khi bị thất bại trên hướng Tây Bắc, địch lại chuyển sang hướng Tây. Tuy nhiên, các khu vực phòng ngự đều phát huy lác dụng liên kết linh hoạt, chặt chẽ, tạo điều kiện để Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhanh chóng chuyển hóa thế trận, chuyển từ hướng phòng ngự thứ yếu lên chủ yếu, bảo đảm kịp thời đánh địch từ nhiều hướng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #95 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:14:21 am »

2. Chú trọng xây dụng trận địa vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu

Để đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự vững chắc, liên hoàn, có chiều sâu nhằm hạn chế sức mạnh tiến công của địch, là chỗ dựa để bảo toàn lực lượng, phát huy sức mạnh tiến công của ta, là bàn đạp để tiến hành phản kích, phản đột kích, tiến công tiêu diệt địch, hình thành thế xen kẽ đội hình giữa ta và địch, chia cắt cô lập địch và đánh địch từ nhiều phía; Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã chỉ đạo xây dựng hệ thống trận địa vừa đảm bảo kiên cường giữ vững trận địa, vừa đảm bảo tiến công tiêu diệt địch.


Trong điều kiện lực lượng công binh chỉ có tiểu đoàn 25 và 14, nhưng khối lượng công trình hết sức lớn, để thực hiện được nhiệm vụ thiết bị chiến trường, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã động viên cao nhất mọi lực lượng, phương tiện, coi trọng cả số lượng và chất lượng. Tận dụng các biện pháp kỹ thuật hiện để bảo đảm tính bền vững của công trình. Với những công trình đặc biệt như đường hầm chỉ huy, nhất thiết phải có cán bộ, nhân viên kỹ thuật và phương tiện của công binh đảm nhiệm. Vì thế, trong thời gian tương đối ngắn, bộ đội ta vừa thực hiện các hoạt động chiến đấu nhỏ vừa xây dựng được hệ thống chốt trận địa từ dã chiến nâng dần lên vững chắc, kiên cố, làm công sự chiến đấu trước, công sự sinh hoạt sau. Đến trước ngày địch tổ chức tiến công lớn ta đã xây dựng được 658m đường hầm xuyên núi Phu Tâng, Phu Keng, Phu Học1 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 37) và nhiều công sự kiên cố ở các chốt và cụm chốt trọng yếu. Ở khu trung gian do địch tiến công sớm hơn, ta không có nhiều thời gian để xây dựng công sự trận địa, nhưng các đơn vị đã kịp thời cải tạo các hang đá làm hầm sinh hoạt và kho tàng.


Để đảm bảo tính cơ động, phát huy thế liên hoàn, trên 300km đường đã được xây dựng, đóng vai trò là trục vận chuyển tiếp, cơ động lực lượng. Cùng với các đơn vị công binh, các đơn vị bộ binh tự đảm nhiệm đường cơ động của đơn vị theo phương án chiến đấu, có tổ chức các đường bí mật để triển khai lực lượng. Riêng Trung đoàn 148 đã làm được 2 đường có tổng chiều dài trên 40km với 80 chiếc cầu nhỏ bảo đảm cơ động ở hướng Nam2 (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 37); Trung đoàn 866 làm được nhiều đường cơ động, bắc được cầu dây cáp qua suối Nậm Khô. Bộ đội công binh đã giải quyết được đường cơ động ở một số trọng điểm cho xe tăng và pháo binh, có đường ngầm vượt suối khi mưa lũ. Ở những khu vực dự kiến xảy ra các trận đánh then chốt đã hình thành công sự trận địa chắc chắn


Như vậy, hệ thống công sự trận địa đã được chuẩn bị sẵn sàng cho chiến dịch, với hệ thống chốt và các cụm chốt liên hoàn hạt nhân,... tạo thành các khu vực phòng ngự cơ bản trên suốt chiều sâu phòng ngự. Các công trình này gồm công sự chiến đấu cho bộ binh, cho hỏa lực, hào chiến đấu, hào giao thông, hầm trú ẩn, hầm quân y, kho và hệ thống đường cơ động trong các cụm chốt và giữa các khu vực phòng ngự. Đồng thời, để bảo đảm sức sống cao hơn cho các công trinh, trận địa phòng ngự, bộ đội ta đã thực hiện một khối lượng không nhỏ các công trình, trận địa giả để nghi binh, lừa địch.


Coi trọng việc xây dựng hệ thống trận địa vững chắc, lấy đó làm nội dung cơ bản của việc lập thế trận phòng ngự của ta để phá thế tiến công của địch"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử nghệ thuật chiến dịch Việt Nam 1945 - 1975, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003, tr. 439) đã "đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật bảo đảm công trình"2 (Hồ Quang Hưng, Chiến đấu phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, nét nổi bật về nghệ thuật tạo lập thế trận. Tạp chí Khoa học quân sự, số 7/2015, tr. 103) trong chiến dịch phòng ngự, là yếu tố quan trọng tạo nên thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972.


3. Bố trí lực lượng hợp lý, phát huy sức mạnh để giành thắng lợi

Trên cơ sở xác định khu vực phòng ngự, tổ chức các điểm chốt, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã bố trí lực lượng hợp lý, phát huy sức mạnh của từng đơn vị. Hai thành phần chiến đấu chủ yếu của chiến dịch là lực lượng phòng ngự trận địa và lực lượng cơ động, mỗi lực lượng có tính chất nhiệm vụ khác nhau. Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã sử dụng 2 trung đoàn bộ binh phòng ngự, 2 trung đoàn bộ binh làm nhiệm vụ cơ động. Mỗi trung đoàn phòng ngự dùng 1 tiểu đoàn làm lực lượng cơ động.


Căn cứ vào khả năng chiến đấu của các đơn vị, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã bố trí lực lượng một cách hợp lý, nổi bật là điều Trung đoàn 174 vào phòng ngự khu trung gian, rút Trung đoàn 335 ra làm lực lượng cơ động, tạo điều kiện cho cả 2 trung đoàn phát huy được sở trường, hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch giao; Trung đoàn 174 kiên cường bám trụ suốt 179 ngày đêm tại khu trung gian, góp phần quan trọng vào việc giữ vững khu vực phòng ngự chủ yếu; Trung đoàn 335 phát huy khả năng tiến công vận động tốt, có hiệu suất chiến đấu cao, thương vong chỉ bằng 1/16 của địch.


Cùng với đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã căn cứ vào tính chất của nhiệm vụ để tổ chức lực lượng thích hợp. Trung đoàn 866 phòng ngự Cánh Đồng Chum và khu vực Noọng Pẹt, từ biên chế 3 tiểu đoàn đã được tăng lên 5 tiểu đoàn và 1 đại đội độc lập. Trong đó, các tiểu đoàn cũng không có tổ chức biên chế giống nhau, như Tiểu đoàn 924 là đơn vị phòng ngự chủ yếu, được tổ chức thành 1 đại đội và 1 trung đội chốt, 2 đại đội cơ động; Tiểu đoàn 5 ở Phu Học có 1 đại đội chốt, 2 đại đội cơ động; Tiểu đoàn 7 ở Phu Keng có 2 đại đội chốt 1 trung đội cơ động,... Các đơn vị chốt đều giảm quân số nhưng được tăng thêm hỏa khí, có chiến sĩ một mình sử dụng 2 - 3 khẩu súng các loại. Bởi vậy, toàn trung đoàn có đến 8 khẩu cối 120mm và 106,7mm, 24 khẩu cối 81mm, 82mm; 25 khẩu đại liên và 12,7mm. Việc bố trí lực lượng giữ chốt như trên đã tạo nên lực lượng ít nhưng đảm bảo chất lượng chiến đấu cao.


Bên cạnh đó, các đơn vị binh chủng cũng được tổ chức thành hai thành phần lực lượng tăng cường cho các đơn vị phòng ngự tại chốt, cụm chốt và lực lượng binh chủng cơ động của chiến dịch. Với cách bố trí như vậy, dựa vào thế trận phòng ngự đã hình thành mạng lưới pháo binh hoàn chỉnh, phát huy kịp thời đánh địch từ xa đánh phủ đầu khi chúng mới lọt vào trận địa hoặc khi địch dùng trực thăng đổ quân, tạo điều kiện cho bộ binh tiến công tiêu diệt địch. Dựa vào tính năng của vũ khí, các đơn vị pháo phòng không được phân nhiệm rõ ràng: Pháo cao xạ 37mm bảo vệ đường vận chuyển và các trận địa pháo binh xe kéo; súng máy cao xạ 14,5mm và 12,7mm tham gia bảo vệ các trận địa pháo, tăng cường cho các trung đoàn bộ binh để đánh phản kích và đánh đích trên không, trên mặt đât đẽ giữ vững trận địa phòng ngự. Lực lượng tăng thiết giáp chủ yếu được sử dụng trong các trận phản đột kích ở các địa hình đã chuẩn bị sẵn.


Khu vực phòng ngự tổ chức khoa học, hệ thống công sự trận địa được chuẩn bị vững chắc, bố trí lực lượng hợp lý đã tạo nên thế trận phòng ngự vững chắc, phát huy được sức mạnh của ta hạn chế, chia cắt lực lượng tiến công của địch. Cùng với đó phát huy tính linh hoạt trong thực hành chiến đấu, phát huy cao độ khả năng tác chiến của các lực lượng, liên quân Lào - Việt Nam đã làm nên thắng lợi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, để lại những kinh nghiệm quý cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng cho tạo lập thế trận tác chiến phòng thủ trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đó là, chú trọng xây dựng thế trận phòng thủ ngay từ thời bình, có phương án phân chia khu vực phòng thủ chủ yếu để tạo lập thế trận phòng thủ "vững chắc, liên hoàn, hiểm hóc, linh hoạt, có chiều sâu", luôn giành thế chủ động trong mọi tình huống, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu tấn công của địch, bảo vệ vững chắc khu vực phòng thủ, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #96 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:16:27 am »

PHÒNG NGỰ CƠ ĐỘNG - NÉT ĐẶC SẮC CỦA CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Thượng tá, ThS PHẠM HỒNG THÁI
Phòng Kế hoạch, quản lý khoa học và đào tạo –
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 là chiến dịch lần đầu tiên Quân đội nhân dân Việt Nam liên minh với Quân giải phóng nhân dân Lào triển khai một chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh. Thắng lợi của chiến dịch này đã đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn nhất của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan dưới sự chi viện của không quân Mỹ; giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum; góp phần làm thất bại học thuyết Níchxơn ở Lào, đồng thời đánh dấu bước trưởng thành mới của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Thành công của chiến dịch để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý về nghệ thuật quân sự, trong đó phòng ngự cơ động là một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam được thể hiện trên những vấn đề chủ yếu sau:


Một là, tổ chức phòng ngự lẩy cơ động làm chủ yếu

Thông thường, phòng ngự là trạng thái tương đối tĩnh, ở đó, phía phòng ngự tổ chức chuẩn bị thế trận, xây dựng hệ thống công sự, trận địa, thiết bị chiến trường để sẵn sàng đón đánh đối phương tiến công. Tuy nhiên, trong chiến dịch này, trên cơ sở đánh giá chính xác tình hình, Quân ủy Trung ương đã chủ động chỉ đạo chiến trường sẵn sàng chuyển sang hình thức tác chiến mới đó là trạng thái phòng ngự nhưng ở trong thế chủ động tiến công không phòng ngự thụ động. Thực hiện chủ trương trên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã xây dựng thế trận phòng ngự lấy hành động tiến công là chính. Do vậy, ta chỉ tổ chức các chốt, cụm chốt phòng ngự trên những hướng, khu vực trọng điểm, không dàn trải thành các căn cứ lớn.


Về sử dụng lực lượng, thay vì sử dụng 3/4 quân số làm lực lượng phòng ngự thì ta chỉ dùng một nửa, một nửa quân số còn lại dành cho lực lượng làm nhiệm vụ cơ động tiến công. Với cách tổ chức phòng ngự và sử dụng lực lượng trên, ta vừa có lực lượng phòng ngự cổ định, sẵn sàng đánh địch tiến công từ mọi hướng bằng việc thành lập các chốt phòng ngự vững chắc, đồng thời vừa có lực lượng cơ động để chủ động tiến công địch, phá thế triển khai, sẵn sàng chặn đánh địch vu hồi cũng như tăng sức chiến đấu cho lực lượng phòng ngự và kịp thời xử trí các tình huống. Lần đầu tiên trong tác chiến phòng ngự, ta tổ chức lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động ngay từ đầu. Trước khi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra, ta chỉ tiến hành phòng ngự cấp chiến thuật với 2 bộ phận chủ yếu là bộ phận phòng ngự và bộ phận dự bị. Khi đánh địch trước tiền duyên, ta chỉ sử dụng một đơn vị nhỏ của bộ phận phòng ngự được phái ra cảnh giới vòng ngoài đảm nhiệm, còn bộ phận dự bị với số lượng ít, nhiệm vụ chủ yếu là cơ động tăng sức chiến đấu cho bộ phận phòng ngự. Chính vì vậy, việc phòng ngự mang tính chất thụ động hơn, khả năng tác chiến thiếu tính linh hoạt.


Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972), đối tượng tác chiến của ta có ưu thế về vũ khí, trang bị hiện đại, làm chủ trên không, khả năng trinh sát phát hiện mục tiêu tốt, sức cơ động cao, có thể tiến công trên nhiều hướng. Nhiệm vụ của phòng ngự chiến dịch là bảo vệ mục tiêu chiến lược với không gian rộng, thời gian dài, trong khi đó năng lực bảo đảm nhiều mặt của ta còn hạn chế. Nếu ta chỉ tập trung phòng ngự trên một hướng cố định với cách thức tổ chức phòng ngự đơn thuần thi sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí không hoàn thành nhiệm vụ.


Đầu tháng 4 năm 1972, ngay sau khi chiến dịch tiến công kết thúc, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị phải tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum từ mùa mưa 19721 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1987, tr. 22). Thực hiện chỉ đạo đó, trên cơ sở đánh giá tình hình, đối tượng tác chiến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch nhận định: Lực lượng nòng cốt trong cuộc hành quân của địch là các GM2 (Quân Thái Lan bảo đảm phía sau để củng cố bàn đạp, chốt giữ các khu vực mới chiếm và sẵn sàng tiến công, dưới sự chi viện trực tiếp của không quân Mỹ) dưới sự chi viện của hỏa lực và không quân Mỹ có thể cùng một lúc tiến công trên nhiều hướng, hoặc đổ bộ đường không bất ngờ đánh vào bên sườn, phía sau khu vực Cánh Đồng Chum. Do vậy, ngay từ đầu, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã phân chia địa bàn tác chiến thành 5 khu vực phòng ngự với vị trí, vai trò khác nhau: Khu vực phòng ngự chủ yếu là trung tâm Cánh Đồng Chum; khu trung gian (Hin Tặng) là khu vực phòng ngự cơ bản phía trước bảo vệ phía Tây Nam Cánh Đồng Chum; Noọng Pẹt là khu vực phòng ngự thứ yếu để đối phó với địch tiến công từ căn cứ Buôm Loọng, bảo vệ Cánh Đồng Chum từ phía Đông Bắc; Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng là 2 khu vực phối hợp chiến dịch, đánh địch từ xa, bảo vệ phía Tây Bắc và phía Đông cho khu trung tâm. Với cách tổ chức phòng ngự hình vòng cung, ta có khả năng đánh địch tiến công từ nhiều hướng. Trên mỗi khu vực, ta chỉ tổ chức các chốt phòng ngự trọng điểm mà không hình thành các căn cứ lớn, đây là một nét khác biệt trong tác chiến phòng ngự.


Về tổ chức lực lượng, quán triệt tư tưởng tiến công1 (Lập thế, tạo thời cơ, giành thế chủ động, kết hợp đánh nhó, đánh vừa, đánh lớn, đánh rộng rãi, đánh từ xa, đánh cả phía trước, phía sau, phát huy tác chiến hiệp đồng binh chủng để tiêu diệt địch), Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức 2 thành lực lượng chủ yếu là lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động. Mỗi tiểu đoàn, trung đoàn đảm nhiệm phòng ngự cũng phải tổ chức thành 2 bộ phận (bộ phận phòng ngự và bộ phận cơ động) để tăng tính chủ động trong tác chiến. Lực lượng phòng ngự gồm 2 trung đoàn bộ binh (74 và 866) cùng 1/3 xe tăng - thiết giáp, 1/4 pháo binh chiến dịch tổ chức các chốt, cụm chốt phòng ngự kìm chân địch, số còn lại tập chung chủ yếu cho lực lượng cơ động chiến dịch với 2 trung đoàn bộ binh (148 và 335) cùng toàn bộ số pháo binh, phòng không, tăng - thiết giáp còn lại. Để chủ động tiến công địch từ sớm, từ xa, lực lượng cơ động của ta còn có các đơn vị binh chủng khác như: Tiểu đoàn Đặc công 41 ở Na Bầu (Đông Bắc Xiêng Khoảng) đảm nhiệm luồn sâu vào hậu phương địch cùng một bộ phận pháo tầm xa (130, 85mm và ĐKB) cơ động đánh phá khu Loong Chẹng, Sảm Thông nhằm phá thế chuẩn bị của địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #97 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:17:19 am »

Hai là, chủ động tiến công phá thế triển khai của địch

Trên cơ sở bố trí các chốt, điểm tựa, lực lượng phòng ngự sẵn sàng ngăn chặn địch, nghi binh, nhưng vẫn lấy hoạt động tác chiến của lực lượng cơ động làm chính. Lực lượng cơ động chiến dịch tổ chức phân tán, luồn sâu của đặc công triển khai trên địa bàn trọng yếu nhằm phá thế tiến công của địch, buộc địch bộc lộ sớm đội hình và ý định, ta có điều kiện tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch trước tiền duyên, phá thế triển khai tiến công của địch.


Đúng như nhận định và quyết tâm tác chiến của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, để chuẩn bị cho cuộc tiến công vào khu vực Cánh Đồng Chum, địch tập trung phần lớn lực lượng, kho tàng và sở chỉ huy ở Loong Chẹng, Tôm Tiêng. Ngay từ đầu, ta đã chủ động tổ chức tiến công các căn cứ hành quân, trận địa hỏa lực, sở chỉ huy, các căn cứ ở phía sau lưng địch. Bằng việc sử dụng 2 đội đặc công cùng một số pháo cơ động, luồn sâu liên tục tiến công địch ở Loong Chẹng, Sảm Thông (hậu phương của địch) uy hiếp sân bay, phá hủy kho tàng và khu chỉ huy của Vàng Pao, gây khó khăn cho chúng về chỉ huy, vận chuyển tiếp tế, cơ động lực lượng. Lực lượng luồn sâu phối hợp với lực lượng cơ động ở khu trung gian phá thế tiến công của địch, đẩy chúng vào thế bị động đối phó.


Mở đầu tiến công, địch đánh chiếm khu trung gian ở Phu Phaxay nhằm tạo bàn đạp chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn ra Cánh Đồng Chum. Ta kiên quyết ngăn chặn, tiêu hao, phá thế triển khai tiến công của địch. Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 (lực lượng cơ động chiến dịch) đã chủ động tiến hành liên tiếp các trận đánh nhỏ tạo thế. Phối hợp chặt chẽ với lực lượng phòng ngự, Tiểu đoàn 6 đã tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của GM 30, đánh tan 2 tiểu đoàn đặc biệt (BS) của phái hữu Lào (diệt trên 200 tên), đẩy lùi toàn bộ cánh quân địch trên hướng Đông Nam về Tôm Tiêng (6.6.1972). Đến ngày 26 tháng 6, trước tình huống địch chuyển hướng tiến công, Trung đoàn 148 đã chủ động chuyển sang hướng Tây Nam phối hợp với Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 tiến công địch tại Hin Đăm, Thẩm Lửng và tiến công địch ở các mỏm phía Tây của Điểm cao 1800. Đến ngày 4 tháng 7, ta đã đẩy lui nhiều cuộc tiến công của địch. Phối hợp với các lực lượng cơ động tác chiến vòng ngoài, bộ phận chốt giữ một số điểm cao ở Bắc Xiêng Khoảng của Tiểu đoàn Đặc công 41 hiệp đồng chặt chẽ với bạn bảo vệ vững chắc thị xã và địa bàn xung quanh.


Hoạt động tác chiến tạo thế nhuần nhuyễn đã giúp cho ta giữ vững khu trung gian, đẩy địch vào thế bị động lúng túng. Bằng việc chủ động tiến công địch từ sớm, từ xa, phối hợp tiến công địch trước tiền duyên, ta đã phá được thế triển khai tiến công của địch. Kết quả đợt 1: Trong 82 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, ta đã cơ bản bẻ gãy cuộc tiến công mở đầu của địch, từng bước khôi phục lại các điểm trọng yếu bị địch đánh chiếm, giữ vững khu trung gian; đánh bại ý định tiến công đánh chiếm bàn đạp để chuẩn bị tiến công lớn; làm đảo lộn kế hoạch của địch, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các trận then chốt chiến dịch.


Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa tiến công với phòng ngự tạo thế liên hoàn, vững chắc

Quán triệt tư tưởng phòng ngự tích cực, ta đã tổ chức lực lượng tiến công phá thế địch ở hậu phương của chúng và cả tuyến trung gian nhằm ngăn chặn địch. Tác chiến ngăn chặn, về cơ bản là hành động chiến đấu phòng ngự nhưng hoàn toàn không phải là thụ động chống đỡ, nằm trong công sự chờ địch tiến công mới đánh trả. Đó là hành động phòng ngự tích cực, chủ động tiến công địch, tìm địch mà đánh, đánh địch bằng mọi cách. Theo quyết tâm tác chiến chiến dịch, lực lượng phòng ngự cũng tổ chức bộ phận cơ động, bộ phận cảnh giới đánh địch vòng ngoài. Do vậy, ngay từ khi địch triển khai đánh chiếm tuyến xuất phát xung phong làm bàn đạp tiến công, ta đã chủ động đánh địch từ xa bằng các bộ phận nhỏ lẻ bám sát địch ở tuyến cảnh giới, phục kích đường cơ động, bí mật tập kích các khu vực trú quân ban đêm, thực hành bắn tỉa tiêu diệt các mục tiêu quan trọng của địch như sở chỉ huy, điện đài...


Khi địch thực hành tiến công, lực lượng phòng ngự dựa vào lợi thế của địa hình; thế vững chắc của hệ thống công sự; thế bố trí binh, hỏa lực hiểm hóc, bất ngờ sử dụng hỏa lực ngăn chặn địch ở chính diện; hiệp đồng chặt chẽ với lực lượng cơ động, thực hành đánh nhỏ, đánh vừa dưới sự chi viện của pháo binh chiến dịch kiềm chế các trận địa pháo binh địch. Hỗ trợ trực tiếp cho các chốt còn có lực lượng phòng không chiến dịch ngăn chặn hoạt động của máy bay, khống chế hoạt động đổ bộ đường không của địch vào bên sườn, phía sau đội hình phòng ngự của ta. Bằng các hoạt động phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng cơ động và phòng ngự, ta đà kìm chân, ngăn chặn, buộc địch sớm triển khai đội hình đối phó để thực hành tiêu hao làm suy yếu địch, phá thế tiến công của chúng. Do vậy, mặc dù mở đầu cuộc tiến công, địch tập trung binh lực, hỏa lực đánh phá ác liệt và thực hành đột phá vào trận địa phòng ngự của ta, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt trên tất cả các hướng, nhưng ta vẫn giữ vững các chốt trọng yếu như Phu Phaxay ở khu trung gian, Phu Hủa Sang ở hướng Nam, Phu Học ở hướng Đông Bắc..., ngay cả khi địch lợi dụng khoảng tiếp giáp giữa các chốt phòng ngự của ta để tổ chức mũi vu hồi. Ta đã dựa vào các chốt phía trước và sau lưng địch phối hợp chặt chẽ với lực lượng cơ động chiến dịch, tạo thế xen kẽ đánh bại địch.


Bốn là, nắm vững thời cơ, tập trung lực lượng thực hiện trận then chốt chiến dịch

Nét khác biệt của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là ta không thụ động chờ địch đến mà tổ chức phòng ngự mang tính cơ động cao, giữ thế chủ động tiến công, kịp thời điều chỉnh lực lượng bảo đảm đánh địch trên tất cả các hướng và giải quyết kịp thời các tình huống chiến dịch. Do đó, khi địch tiến công đồng loạt trên tất cả các hướng cũng như chuyển hướng tiến công, ta vẫn luôn giữ được thế chủ động tập trung lực lượng thực hiện thắng lợi trận then chốt chiến dịch.


Trong khi liên tục giành giật với ta ở khu trung gian, địch tập trung hơn 40 tiểu đoàn mở cuộc tiến công lớn vào Cánh Đồng Chum trên 3 hướng và bất ngờ hình thành hướng chủ yếu, bằng việc đổ bộ đường không ở Tây Bắc thọc sâu vào trung tâm Cánh Đồng Chum thực hiện chia cắt chiến dịch. Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã lệnh cho lực lượng phòng ngự kết hợp chặt chẽ với lực lượng cơ động lần lượt bẻ gãy các hướng tiến công của địch. Tiêu biểu như các trận của Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148 phối hợp cùng lực lượng Quân giải phóng nhân dân Lào đánh bại lực lượng cơ động đồ bộ đường không của GM 24 ở Bản Lao (15.8.1972); Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 335 phối hợp với 2 đại đội cơ động của Tiểu đoàn 5 phòng ngự cụm chốt Phu Học tiến công GM 27, diệt gần 600 tên (18.8.1972) chặn đứng được cuộc tiến công của chúng.


Khi nhận thấy địch đã sử dụng toàn bộ lực lượng đặc biệt Vàng Pao vào cuộc tiến công (trừ GM 28 mới thành lập) và hình thành hướng tiến công chủ yếu bất ngừ thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu ở Cánh Đồng Chum. Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết tâm tập trung lực lượng thực hiện trận then chốt chiến dịch bằng việc sử dụng Trung đoàn 335 cùng với lực lượng dự bị xe tăng và pháo binh, hiệp đồng với 2 tiểu đoàn của bạn cùng lực lượng phòng ngự của Trung đoàn 866 tiến hành phản đột kích trên hướng Tây Bắc, đồng thời chỉ đạo các hướng khác đẩy mạnh tác chiến ngăn chặn, cô lập các cánh quân địch; điều Trung đoàn 148 tập trung tiến công cánh quân địch ở hướng Nam tạo thế, tạo thời cơ cho trận then chốt chiến dịch.


Thực hiện ý định trên, ngày 29 tháng 8, các lực lượng chiến dịch đã chiếm lĩnh trận địa xong. Trung đoàn 335 (thiếu Tiểu đoàn 1) được tăng cường súng cối 120mm, được sự chi viện trực tiếp của pháo binh chiến dịch trên hướng chủ yếu tiến công từ Đông Nam. Tiểu đoàn 2 Quân giải phóng nhân dân Lào được tăng cường 4 xe tăng trên hướng thứ yếu tiến công từ Đông Bắc xuống. Lực lượng bao vây đón lõng gồm 2 đại đội của Tiểu đoàn 701 Quân giải phóng nhân dân Lào bố trí tại bờ Tây sông Nậm Ngừm, 1 đại đội của Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 866 bố trí ở Bắc sông Nậm Ngừm (đoạn Bắc Phu Keng). Đến 6 giờ 45 phút ngày 30 tháng 8, các hướng đông loạt tiến công.


Bị đánh bất ngờ trong lúc đang triển khai tiến công, đội hình địch bị rối loạn. 18 giờ ngày 30 tháng 8, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 được tăng cường 4 xe tăng T-59 phối hợp với Tiểu đoàn 2 và 4 xe tăng của bạn từ hướng Đông Bắc tiến công địch co cụm ờ Bản Áng. Địch rút chạy, bị ta truy kích và tiêu diệt ở sông Nậm Ngừm (31.8 ). Với việc tập trung lực lượng lớn của Trung đoàn 335 (lực lượng cơ động), Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 866 (lực lượng phòng ngự) phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân chủ yếu của địch, tiêu diệt một bộ phận lực lượng mạnh nhất của GM 21 và GM 26, phá thế tiến công của địch. Trận then chốt mở đầu thắng lợi, ta giữ vững địa bàn phòng ngự.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 đã đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược của bạn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng địch, phối hợp có hiệu quả với chiến trường toàn Đông Dương nói chung và cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Thành công của chiến dịch đánh dấu bước phát triển mới của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam, làm sáng tỏ, phong phú thêm lý luận nghệ thuật chiến dịch phòng ngự. Trong đó, nét đặc sắc nổi bật là nghệ thuật phòng ngự cơ động. Dùng chốt chặn chiến dịch làm mồi nhử, lấy cơ động tiến công trong phòng ngự làm chính. Nét nghệ thuật đặc sắc ấy của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một trong những cơ sở lý luận quan trọng để ta tiếp tục vận dụng vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #98 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:19:22 am »

BÀO ĐẢM VŨ KHÍ, TRANG BỊ TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ
CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Đại tá, ThS ĐỖ VĂN HINH
Trưởng phòng Lịch sử Hậu cần - Kỹ thuật quân sự,
Viện Lịch sử quân sự - Bộ Quốc phòng


Sau khi Chiến dịch tiến công Cánh Đồng Chum - Mường Sủi mùa khô 1971 - 1972 kết thúc, từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam và Lào quyết định mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Đây là chiến dịch phòng ngự được tổ chức bài bản, hoàn chỉnh, dài ngày và liên tục của liên quân Việt Nam - Lào trên địa bàn có ý nghĩa chiến lược, nơi thường xuyên diễn ra các cuộc đụng đầu ác liệt giữa ta và địch. Do chiến dịch diễn ra vào mùa mưa, công tác chuẩn bị, bảo đảm và hoạt động tác chiến nói chung, bảo đảm vũ khí, trang bị cho chiến dịch nói riêng gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo sâu sát, kiên quyết của Bộ Tư lệnh Chiến dịch và sự nỗ lực của cán bộ, chiến sĩ làm công tác bảo đảm vũ khí, trang bị đã đáp ứng tốt yêu cầu tác chiến, góp phần vào thắng lợi của chiến dịch.


Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, các lực lượng làm công tác bảo đảm phải bảo đảm một khối lượng lớn vũ khí, trang bị cho 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh của Quân tình nguyện Việt Nam; 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội địa phương của Quân giải phóng nhân dân Lào1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân Sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 246-247). Ngoài vũ khí bộ binh, xe vận tải, chiến dịch được trang bị các loại: Pháo xe kéo 130, 122 và 85mm; súng cối 120, 82, 81 và 106,7; pháo không giật ĐKZ57mm, ĐKZ75mm, ĐKZ82mm; pháo phản lực ĐKB; pháo phòng không 37mm súng máy phòng không 14,5 và 12,7mm; các loại xe tăng - thiết giáp T-59, T-34 và K-63. Do các đơn vị được tăng cường nhiều loại vũ khí hỏa lực nên hậu cần chiến dịch đã xây dựng kế hoạch quy định lượng dự trữ vũ khí đạn cho từng khu vực, kho, trạm theo phương án tác chiến, trước mắt ưu tiên cho khu trung gian. Kịp thời vận chuyển bổ sung trước khi mưa lởn, khẩn trương "lót" đạn cho các khu vực và đơn vị. Có kế hoạch bảo vệ chống địch đánh phá, bảo quản các kho tàng, vũ khí, trang bị để bảo đảm chiến đấu trong suốt mùa mưa. Các kho, trạm vũ khí ở phía sau được tổ chức chặt chẽ, trang bị phù hợp, có phương án tác chiến tại chỗ chu đáo, tổ chức hiệp đồng chặt chẽ để có thể chiến đấu ngăn chặn được địch trong khoảng thời gian nhất định, tạo điều kiện cho bộ binh cơ động tiêu diệt địch.


Trên cơ sở các căn cứ hậu cần ở Noọng Pẹt - Khang Khay - Lạt Buột, ta xây dựng thêm căn cứ hậu cần Bản Thẩm - Thẩm Cạp trên Đường số 7B để tiếp nhận vũ khí, trang bị do 2 binh trạm 13 và 10 của tuyến vận tải chiến lược giao. Hậu cần chiến dịch tổ chức 2 cụm kho phía trước ở Nậm Xiêm, Bản Hai bảo đảm vũ khí, đạn dược cho các đơn vị chiến đấu ở phía Nam Cánh Đồng Chum và củng cố cụm kho Bản Khổng bảo đảm vũ khí, đạn dược cho hướng Tây đánh địch ở Sảm Thông. Trong quá trình thực hành chiến dịch, hậu cần tổ chức thêm cụm kho Xiêng Nưa bảo đảm cho hướng Hin Tặng. Trước khi bước vào chiến dịch, các đơn vị được bảo đảm đầy đủ trang bị pháo phòng không, pháo mặt đất và vũ khí bộ binh.


Rút kinh nghiệm của các năm trước, đến mùa mưa, khi các đơn vị quân tình nguyện rút về tuyến sau là địch tiến ra lấn chiếm Cánh Đồng Chum. Vì vậy, từ khi Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi đang còn tiếp diễn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã nhận được chỉ thị sơ bộ về nhiệm vụ bảo vệ và giữ vững địa bàn chiến lược này. Ngay sau khi chiến dịch tiến công mùa khô 1971 - 1972 kết thúc, hậu cần đã chuyển sang chuẩn bị vũ khí, trang bị cho chiến dịch phòng ngự. Để chuẩn bị, 2 binh trạm vận tải chiến lược 11 và 13 tranh thủ những ngày mùa khô còn lại, vận chuyển vũ khí, đạn dược cho chiến dịch phòng ngự. Hậu cần chiến dịch đã nhận được 42% tổng nhu cầu đạn của chiến dịch. Riêng đạn pháo 122mm, do gặp nhiều khó khăn nên gằn đến ngày "N" mà 2 binh trạm vẫn chưa có để vận chuyển. Qua kiểm tra, phát hiện ở kho Huổi Xuông của Binh trạm 11 còn loại đạn 122mm, hậu cần chiến dịch điều xe đến trực tiếp đưa vào các trận địa pháo kịp thời gian. Song, một khó khăn mới đặt ra là các đơn vị đã thay đổi ĐKZ82mm bằng loại mới, trong khi đó binh trạm lại chuyển vào rất nhiều đạn cũ nên gây lãng phí về thời gian và công sức của bộ đội.


Lực lượng kỹ thuật của chiến dịch và của Sư đoàn 316 được hợp nhất để điều chỉnh lại các cụm kho vũ khí đạn phía trước, thu dọn vũ khí, trang bị của chiến dịch tiến công về căn cứ hậu cần chiến dịch phòng ngự. Một bộ phận chuyển giao cho các trung đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự, như: Các kho vũ khí đạn phía trước ở Bản Hai giao cho hậu cần Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ giữ khu trung gian; các kho ở Bản Khổng rút về căn cứ Noọng Pẹt - Khang Khay, một lượng vũ khí giao cho Trung đoàn 866 phòng thủ khu trung tâm. Căn cứ hậu cần Thẩm Cạp - Bản Thẩm rút gọn, cỏ các kho vũ khí đạn ở Bản Thẩm và Bản Quang. Các kho, trạm vũ khí ở căn cứ hậu cần Noọng Pẹt - Khang Khay - Lạt Buột được tổ chức thành đại đội. Cách bố trí như vậy đã hình thành thế bảo đảm theo khu vực phòng ngự của trung đoàn và chiến dịch. Công tác đảm bảo kỹ thuật, vũ khí, trang bị của các đơn vị xe tăng, pháo đã lự tổ chức trên một cấp cho đơn vị mình... Do đó, chiến dịch chỉ cần có 1 trạm sửa chữa nhỏ và 1 trạm sửa chữa vừa bộ phận xe - máy, 1 trạm sửa chữa quân giới đối với pháo phòng không và pháo cơ giới. Ngoài các trạm cố định trên, chiến dịch có các tổ sửa chữa súng phòng không và pháo cơ giới cơ động xuống phối hợp với thợ đơn vị thực hiện sửa chữa tại chỗ.


Từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 5 năm 1972, địch dùng máy bay đánh phá ác liệt các cao điểm, khu trung gian, từ hai hướng Đông Nam và Tây Nam. Trung đoàn 174, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148, lực lượng đặc công và đơn vị pháo tầm xa của ta liên tục đánh trả ngăn chặn địch, đẩy lùi các cuộc tiến công; tiến hành phản đột kích tiêu diệt địch, khôi phục trận địa đã mất. Hậu cần chiến dịch đã bảo đảm đầy đủ vũ khí, trang bị cho lực lượng phản đột kích thành công, đủ đạn cho đơn vị pháo binh, đặc công đánh thọc sâu vào căn cứ Loong Chẹng. Trong 82 ngày đêm chiến đấu giữ vững khu trung gian, hậu cần chiến dịch đã kịp thời bổ sung vũ khí, đạn dược cho các đơn vị.


Trong 2 tháng 8 và 9 năm 1972, địch tổ chức hai đợt tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum, các đơn vị phòng ngự lần lượt bẻ gãy các mũi tiến công, sau đó Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức phản đột kích, cơ động lực lượng dự bị đánh bại các cuộc tiến công của địch. Do có sự chuẩn bị trước, các trung đoàn cùng với các cụm hậu cần chiến dịch kịp thời bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng phòng thủ và phản đột kích. Tháng 10 năm 1972, địch tập trung hơn 60 tiểu đoàn phái hữu Lào và quân Thái Lan tiến công vào phía Nam Cánh Đồng Chum, ta tổ chức phản đột kích tiêu diệt gọn từng bộ phận, buộc địch phải rút chạy. Trong đợt phản đột kích này, lực lượng kỹ thuật đã phát huy hết khả năng để bổ sung vũ khí, đạn dược cho các đơn vị chiến đấu ngăn chặn địch. Đạn dược tiêu thụ được bổ sung kịp thời, nhất là đạn hỏa lực cho các đơn vị pháo binh, phòng không. Kết quả trong toàn chiến dịch, các lực lượng đã bảo đảm được 442 tấn đạn các loại và 400 tấn nhiên liệu1 (Bộ Quốc phòng - Học viện Hậu cần, Lịch sử hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2000, tr. 194).


Tuy nhiên, do được bổ sung nhiều chủng loại phương tiện binh khí kỹ thuật mới không có trong biên chế của đơn vị nên công tác bảo đảm kỹ thuật có nhiều khó khăn, phức tạp. Trước thực tế trên, các đơn vị có xe tăng, xe thiết giáp, pháo xe kéo lấy việc sửa chữa tại chỗ, ở ngay nơi hư hỏng là chủ yếu (bãi xe, trạn địa, đường cơ động), vận dụng phương pháp dồn lắp thay thế bộ phận, cụm để nhanh chóng khôi phục tình trạng kỹ thuật, duy trì sự hoạt động liên tục của phương tiện, binh khí kỹ thuật trong chiến đấu. Đối với các loại xe, máy và các loại pháo thông thường, chiến dịch thực hiện vừa sửa chữa ở trạm vừa tăng cường thợ xuống cùng đơn vị tiến hành sửa chữa. Đối với các tiểu đoàn cao xạ, vì có thợ trực tiếp tại đơn vị nên các việc sửa chữa nhẹ đều được tiến hành kịp thời, nhanh chóng. Sau mỗi trận chiến đấu, các loại pháo lớn đều được kiểm tra kỹ thuật 100%, tiến hành sửa chữa nhẹ nếu cần.


Kết thúc Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch, đánh thiệt hại nặng 3 GM (21, 23, 26), 3 tiểu đoàn Thái Lan; thu 859 súng, có 4 khẩu pháo 105mm và 4 khẩu cối 106,7mm; phá hủy trên 500 khẩu súng các loại, bắn rơi 38 máy bay, bắn cháy 38 chiếc khác, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Tổng kết tác chiến phòng ngự trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 -1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 283).


Thành công của công tác bảo đảm vũ khí, trang bị cho Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã để lại những kinh nghiệm có thể vận dụng, kế thừa trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc (nếu xảy ra trong tương lai).


Một là, nhanh chóng điều chỉnh lực lượng, chuyển thế bảo đảm vũ khí, trang bị từ tiến công sang phòng ngự

Trong tác chiến, các chiến dịch phòng ngự chuyển tiếp từ chiến dịch tiến công trước đó do thời gian chuẩn bị ngắn, trong khi đó vừa phải bảo đảm chiến dịch tiến công đang diễn ra, vừa làm công tác chuẩn bị cho chiến dịch phòng ngự tiếp theo. Vì vậy, điều quan trọng là phải nhanh chóng điều chỉnh lực lượng, chuyển thế bảo đảm vũ khí, trang bị cho phù hợp với loại hình tác chiến mới.


Trong Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, khi chiến dịch tiến công đang diễn ra (cuối tháng 3 năm 1972), hậu cần chiến dịch đã tổ chức lại lực lượng bảo đảm vũ khí, trang bị phù hợp với tác chiến phòng ngự: Hậu cần chiến dịch hợp nhất với hậu cần Sư đoàn 316 để tổ chức lại các thành phần lực lượng, điều chỉnh lại các kho, trạm bảo đảm vũ khí, trang bị. Hai cụm kho phía trước ở Nậm Xiêm, Bản Hai được chuyển giao cho các trung đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự. Từ 2 cụm kho và 1 căn cứ bảo đảm phía trước được rút lại thành 1 cụm kho phía trước để tăng cường vũ khí, trang bị cho các trung đoàn làm nhiệm vụ phòng ngự hình thành thế bảo đảm theo khu vực không còn bảo đảm theo tuyến như trong chiến dịch tiến công.


Trong chiến dịch tiến công, bố trí kho, trạm vũ khí, trang bị thường bám sát đơn vị để kịp thời bảo đảm theo sự phát triển của các hướng tiến công, nhưng khi chuyển sang phòng ngự phải bố trí lại theo từng khu vực phòng ngự. Việc di chuyển, triển khai bố trí lại các kho, trạm vũ khí, trang bị đã hình thành thế bảo đảm theo khu vực khá hoàn chỉnh, lực lượng kỹ thuật được sử dụng hợp lý, gọn, mạnh theo từng khu vực phòng ngự, tạo thế liên hoàn, vững chắc. Trong chiến dịch, 2 trung đoàn 174 và 866 khi cần có thể nhận vũ khí, đạn dược ở cụm hậu cần của trung đoàn hoặc cụm hậu cần chiến dịch ở Bản Thẩm. Với sự điều chỉnh lại lực lượng và bố trí như vậy đã hình thành thế bảo đảm vũ khí, trang bị theo khu vực ở từng khu vực phòng ngự, cả ở trung đoàn và chiến dịch.


Trong chiến dịch này, ta sử dụng nhiều vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, tác chiến liên tục, dài ngày, hậu cần chiến dịch phải triển khai các kho vũ khí đạn, trạm sửa chữa vũ khí trên nhiều hướng, nhiều khu vực bảo đảm cho các lực lượng tác chiến kịp thời.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #99 vào lúc: 25 Tháng Chín, 2023, 09:19:57 am »

Hai là, bố trí lực lượng liên hoàn, vững chắc, có lực lượng cơ động, kịp thời bảo đảm vũ khí, trang bị cho các trận tiến công, trận phản đột kích

Bố trí lực lượng kỹ thuật là triển khai cơ quan, phân đội, kho trạm vũ khí, trang bị vào những vị trí thích hợp đã được lựa chọn và chuẩn bị trước, phù hợp với thế trận phòng thủ của chiến dịch, nhằm tạo thế trận liên hoàn, vững chắc, thuận lợi để tiến hành các hoạt động bảo đảm có hiệu quả cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến.


Bố trí các kho, trạm bảo đảm vũ khí, trang bị phải phù hợp với đội hình tác chiến của chiến dịch phòng ngự, có kết hợp chặt chẽ giữa tập trung có trọng điểm với phân tán thích hợp, đáp ứng kịp thời mọi tình huống. Các kho, trạm vũ khí phải bố trí theo khu vực phòng ngự, đồng thời phải gắn với cấp chiến lược và các đơn vị, sẵn sàng cơ động bảo đảm cho các đợt phản đột kích. Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta bố trí lực lượng bảo đảm vũ khí, trang bị ở khu vực Noọng Pẹt - Khang Khay - Lạt Buột, phía trước là kho Bản Thẩm ở sau Trung đoàn 866 và kho Bản Quang sau Trung đoàn 148, phía sau là 2 binh trạm 11 và 13 của cấp chiến lược. Việc bố trí đã hình thành thế bảo đảm vũ khí, trang bị theo khu vực, có thể hỗ trợ, chi viện lẫn nhau trong quá trình chiến đấu.


Bố trí hệ thống kho, trạm phải thuận tiện cho vận tải chiến lược giao vũ khí, trang bị cho chiến dịch. Cự ly giữa hệ thống kho, trạm chiến dịch với chiến lược ở phía sau và với các đơn vị ở phía trước phải thích hợp với các loại phương tiện sử dụng (ô tô, thô sơ), có hệ thống giao thông thông suốt và đủ diện tích triển khai các kho dự trữ vũ khí, trang bị, bí mật, an toàn. Trong chiến dịch phòng ngự có các đợt phản đột kích, căn cứ hậu cần chiến dịch phải có lực lượng cơ động sẵn sàng bám sát với đội hình tác chiến, tiến hành bảo đảm vũ khí, trang bị được liên tục, kịp thời.


Ba là, tổ chức bảo đảm và quản lý vũ khí, trang bị phải chặt chẽ, chủ động, kịp thời

Trong chiến dịch phòng ngự, tác chiến hiệp đồng binh chủng, lực lượng tham gia lớn, thời gian dài nên vũ khí, đạn dược tiêu thụ nhiều, chiếm đến 38%. Vì vậy, cơ quan kỹ thuật các cấp và người chỉ huy binh chủng cần tiến hành tổ chức chỉ đạo công tác tổ chức bảo đảm vũ khí, đạn dược đầy đủ, kịp thời, chính xác và phải sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhất; đồng thời, cần khắc phục quan điếm chỉ lo bảo đảm vũ khí cho bộ binh, coi nhẹ hay bỏ sót bảo đảm cho các binh chủng. Thực tiễn bảo đảm đạn hỏa lực, nhất là đạn pháo xe kéo thường chiếm tỷ lệ trên dưới 60% tổng số đạn dược cho chiến dịch phòng ngự. Bên cạnh đó, cần phải quan tâm bảo quản đạn dược, tổ chức sửa chữa kịp thời xe, pháo cho đơn vị xe tăng và pháo phòng không.


Mặt khác, phải chú trọng tổ chức mạng lưới bảo đảm kỹ thuật chặt chẽ, kịp thời để luôn duy trì đủ số vũ khí, trang bị tham gia chiến đấu. Sửa chữa nhỏ, vừa, thay thế dồn lắp, kết hợp tăng cường thợ sửa chữa xuống các phân đội binh chủng với việc các trạm phía sau luôn sẵn sàng cơ động lên phía trước để sửa chữa khi cần thiết. Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cấp trên chỉ thị các phân đội binh chủng phải đưa trạm sửa chữa đi theo với nguyên tắc là cao hơn một cấp. Đây là biện pháp rất thích hợp. Quá trình chiến dịch vẫn phải duy trì việc chấp hành các chế độ bảo quản, bảo dưỡng định kỳ phù hợp với điều kiện chiến đấu, không được bỏ qua đối với các quy trình kỹ thuật. Về mặt tổ chức, cơ quan kỹ thuật chiến dịch, sư đoàn và tại các kho, trạm cân có cán bộ, nhân viên kỹ thuật binh chủng giúp chỉ đạo đảm bảo vũ khí, trang bị cho binh chủng được toàn diện, đầy đủ, kịp thời và chính xác.


Ngoài ra, trong chiến dịch phòng ngự, lượng vũ khí, đạn dược tiêu thụ nhiều nên công tác tiếp nhận, bảo quản, cấp phát là rất lộn, việc chỉ đạo cũng rất phức tạp. Trong chiến dịch này, ta đã rất cố gắng trong việc tiếp nhận, bảo quản, quản lý nhưng tổn thất do địch, do ta vẫn còn ở mức cao (thường trên 10%) và kéo dài trong toàn bộ chiến dịch làm tăng thêm khó khăn cho công tác bảo đảm. Do đó, cần tập trung làm tốt khâu tiếp nhận, bảo quản, quản lý ở các kho vũ khí các cấp, nhất là kho của chiến dịch, khâu vận chuyển cả cơ giới và bộ, khâu quản lý sử dụng tại đơn vị và trong tay cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, phải tăng cường giáo dục, tổ chức hướng dẫn việc chấp hành chức trách, chế độ quy định, nguyên tắc và thưởng phạt nghiêm minh, kết hợp chặt chỗ giữa yêu cầu phải đáp ứng đầy đủ kịp thời, chính xác với sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nhất; gắn việc bảo đảm chiến đấu trước mắt với yêu cầu tác chiến lâu dài.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM