Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 28 Tháng Chín, 2023, 11:38:48 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 1648 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #80 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 08:06:07 am »

Phối hợp chiến đấu với bộ binh, các bộ phận phòng không, thông tin, trinh sát, quân y, anh nuôi đều tham gia đánh địch. Đại đội 21 chốt giữ trên Điểm cao 1236 đã diệt gọn một chiếc máy bay T-28 từ hướng Loong Chẹng tới cứu nguy cho quân địch tháo chạy. Lực lượng còn lại được lệnh phát huy hỏa lực phòng không, kiên quyết đánh địch trên mặt đất, truy kích tàn quân địch. Các chiến sĩ của ta đã mưu trí, dũng cảm xung kích tiêu diệt địch. Lợi dụng địa hình, đặt súng trên các mô đất cao, ghìm nòng băn vào đội hình địch, diệt tại chỗ hàng chục tên địch. Mặc dù máy bay địch thi nhau quần đảo, trút bom và bắn rốc két vào trận địa, các chiến sĩ Đại đội 21 vẫn kiên cường truy kích địch. Trưởc sức tiến công như vũ bão của quân ta, đội hình địch bị rối loạn. Chúng cho máy bay tăng cường bắn phá, ngăn chặn, bảo vệ đồng bọn rút chạy. Bất chấp bom đạn, các chiến sĩ Tiểu đoàn 6 tích cực truy kích, tiêu diệt thêm hàng chục tên nữa.


Kết quả trong trận chiến đấu này, Trung đoàn 148 tiêu diệt hơn 300 tên, bắn rơi 2 máy bay, góp phần cùng các đơn vị bạn loại khỏi vòng chiến đấu 1.240 tên, thu 1.500 súng các loại, đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công đánh chiếm Cánh Đồng Chum của địch1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Lịch sử Sư đoàn 316 (1951 - 2021), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2021, tr. 235). Nhận được tin thắng trận, Bộ Chỉ huy tối cao Quân Giải phóng nhân dân Lào gửi điện khen ngợi cán bộ, các đơn vị tham gia trận đánh đã nêu cao truyền thống anh hùng, giành thắng lợi to lớn, bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược quan trọng này.


Sau khi cánh quân chủ yếu bị bẻ gãy, địch co cụm lại phía Nam Cánh Đồng Chum chờ thời cơ. Kiên quyết bồi thêm cho địch một đòn nữa, Bộ Tư lệnh Chiến dịch lệnh cho Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148, Trung đoàn 335, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88, 2 đại đội đặc công, 1 đại đội xe tăng thực hành bao vây tiến công quân địch co cụm. Lực lượng còn lại của Trung đoàn 148 về đứng chân ở Phu Keng Luông, Xiêng Nưa làm lực lượng dự bị.


Đêm mùng 2 tháng 11, các đơn vị triển khai chiếm lĩnh trận địa tiến công. 3 giờ sáng ngày 3 tháng 11, Tiểu đoàn 5 tiến đánh Điêm cao 1513, sau đó phát triển tiêu diệt sở chỉ huy tiểu đoàn quân Thái Lan (BC612) ở Nam Nậm Cọ. Cuộc chiến đấu diễn ra tới 7 giờ sáng, nhưng vẫn chưa kết thúc. Địch ngoan cố dựa vào công sự, chiến hào chống trả quyết liệt.


Trong lúc trận đánh đang ở thế giằng co, quyết liệt, ta thu được tin từ bộ phận kỹ thuật quân địch, chúng yêu cầu máy bay ném bom vào vị trí của Tiểu đoàn 5. Mặc dù có nguy cơ chịu thương vong, tổn thất, nhưng sau khi hội ý cùng chỉ huy Tiểu đoàn 5, đồng chí Đào Trọng Lịch, Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn, trực tiếp chỉ huy trận đánh, báo cáo Bộ Tư lệnh Chiến dịch xin ở lại giữ vững trận địa, vì nếu đi chuyển thì sự chỉ huy sẽ bị gián đoạn và trận đánh sẽ gặp nhiều khó khăn. Được cấp trên chấp nhận và sau 1 giờ chiến đấu kiên cường, ta đã chiếm được Điểm cao 1513, sở chỉ huy tiểu đoàn quân Thái Lan (BC612) bị tiêu diệt.


Ngày 14 tháng 11, ta tiếp tục đánh địch co cụm. Tiểu đoàn 5 bao vây đón lõng ở Nam Khang Kho, đánh vào bọn địch rút chạy. Đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, ta khôi phục lại toàn bộ khu vực này và kết thúc trận đánh ở Đông Nam Cánh Đồng Chum. Để phát triển những thắng lợi đã giành được, cải thiện thế phòng ngự ở khu trung gian, tạo điều kiện chuyển vào hoạt động mùa khô thuận lợi hơn, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương tiếp tục tiến công. Ngày 5 tháng 12, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 tiến công cứ điểm Hin Đăm, diệt sở chỉ huy của Tiểu đoàn quân Thái Lan (BC609) và tiến công Phu Lũng Mạt, sau đó chuyển sang truy kích địch rút chạy. Ngày 8 tháng 12, trận đánh kết thúc, Tiểu đoàn 6 cùng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 loại khỏi vòng chiến đấu 378 tên, chiếm lại Hin Đăm, Thẩm Lửng, Phu Lũng Mạt và một phần dãy Điểm cao 1800, cải thiện thế phòng ngự ở khu vực trung gian.


Như vậy, qua hơn 5 tháng chiến đấu liên tục, Trung đoàn 148 cùng các đơn vị bạn đã lập công xuất sắc, góp phần vào thắng lợi to lớn của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn có tính chất chiến lược của địch, loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch trong đó có 179 tên bị bắt giữ; đánh 244 trận lớn nhỏ, trong đó có có 1 trận quy mô tương đương sư đoàn, 9 trận quy mô trung đoàn và trung đoàn tăng cường; đánh thiệt hại nặng 3 binh đoàn cơ động (21,23,26), 3 tiểu đoàn quân Thái Lan (618,619, 609); đánh thiệt hại 5 binh đoàn cơ động khác (15, 22, 24, 30, 32); đánh bại hoàn toàn cuộc hành quân tiến công quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum1 (Viện Khoa học Quân sự - Khoa Nghệ thuật Quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, 1977, tr. 87). Thắng lợi này góp phần đánh bại một bước học thuyết Níchxơn ở Lào, làm cho "lực lượng đặc biệt" Vàng Pao tổn thất nặng, khiến cho quân đánh thuê Thái Lan không còn thực hiện được chức năng làm chỗ dựa chủ yếu cho quân ngụy Lào.
   Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một trong những chiến dịch lớn, tiêu biểu Trung đoàn 148 tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong chiến dịch này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả, phát huy truyền thống, khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, chiến đấu kiên cường, dũng cảm, có những đóng góp xứng đáng, lập nhiều chiến công xuất sắc. Đây là dấu mốc quan trọng trong chặng đường lịch sử hơn 76 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Trung đoàn. Quá trình Trung đoàn tham gia tác chiến phòng ngự cho thấy, để phòng ngự thắng lợi cần xây dựng tinh thần và ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội; phân tích, đánh giá, dự báo chính xác về địch, từ đó xây dựng quyết tâm và phương án, cách đánh phù hợp; đồng thời, làm tốt công tác chuẩn bị chiến đấu, chủ động xây dựng công sự, trận địa, bảo đảm quan sát và đánh địch từ xa. Bên cạnh đó, cán bộ, chỉ huy đơn vị cần làm tốt công tác động viên tư lường bộ đội, kiên quyết chiến đấu không rời trận địa. Đây là những bài học quý để cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn tiếp tục phát huy, vận dụng có hiệu quả trong huấn luyện chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, cùng lực lượng vũ trang Quân khu 2 bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược Tây Bắc của Tổ quốc, xứng đáng với truyền thống đơn vị vinh dự 2 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #81 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 08:07:37 am »

TRUNG ĐOÀN 866 TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Trung tá NGUYỄN NGỌC SINH
Chính ủy Trung đoàn 866 Sư đoàn 31 Quân đoàn 3


Trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972), Trung đoàn 866 (nay thuộc Sư đoàn 31, Quân đoàn 3) là đơn vị chủ lực quân tình nguyện, cùng các lực lượng tham gia chiến dịch, tạo nên chiến thắng vang dội trên đất nước bạn. Đó cũng là mốc son lịch sử đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của Trung đoàn 866.


Đầu năm 1965, trước yêu cầu cấp thiết của cuộc kháng chiến của bạn, Đoàn 866 Quân tình nguyện được thành lập ở tỉnh Xiêng Khoảng đề tăng cường khả năng, thống nhất chỉ huy và kịp thời tổ chức đánh bại các cuộc hành binh lấn chiếm của địch vào vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1966. Thực hiện Chỉ thị của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 26 tháng 8 năm 1966, Đoàn 866 chuyển thành Trung đoàn 866, do Quân khu Tây Bắc chỉ đạo và quan hệ về mặt tác chiến với Đoàn 5 chuyên gia.


Ra đời đáp ứng yêu cầu khách quan, cấp thiết của cuộc chiến đấu bảo vệ địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của cách mạng Lào trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước từ cuối năm 1966 đến đầu năm 1972, Trang đoàn 866 cùng các đơn vị quân tình nguyện và lực lượng vũ trang cách mạng Lào tham gia nhiều đợt hoạt động, chiến dịch lớn trên địa bàn chiến lược này. Tiêu biểu là Chiến dịch Toàn Thắng1 (Còn gọi là Chiến dịch 139 hay Chiến dịch phản công giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng) từ ngày 25 tháng 10 năm 1969 đến ngày 25 tháng 4 năm 1970, cùng với các đơn vị quân tình nguyện phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào khôi phục vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng bị lực lượng đặc biệt Vàng Pao và quân đội Thái Lan (được không quân Mỹ chi viện) lấn chiếm trong cuộc hành quân Cù Kiệt.


Tiếp đó, Trung đoàn 866 đã tham gia Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (18.12.1971 - 6.4.1972), cùng với các đơn vị quân tình nguyện Việt Nam, phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào đánh quân đội phái hữu Lào và quân đội Thái Lan tại khu vực Cánh Đồng Chum - Loong Chẹng (thuộc tỉnh Xiêng Khoảng) tiêu diệt sinh lực, phá âm mưu lấn chiếm của địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng.


Thực hiện quyết tâm chiến lược của hai Trung ương Đảng hai nước Việt Nam và Lào, đầu tháng 4 năm 1972, Quân ủy Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định phối hợp với bạn tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Chiến dịch này nhằm đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan trong mùa mưa năm 1972, phá vỡ quy luật mùa khô ta chiếm đóng mùa mưa khi ta rút thì địch chiếm lại, tồn tại trên địa bàn chiến lược này, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và bảo vệ sườn phải cho Chiến dịch Trị - Thiên và Chiến dịch Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972.


Trong chiến dịch này, Trung đoàn 866 được tăng cường 1 đại đội pháo xe kéo (2 pháo 122mm, 2 pháo 85mm), 1 đại đội xe tăng thiết giáp (2 xe T-34, 2 xe K-63) đảm nhiệm phòng ngự khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum và khu vực Noọng Pẹt. Trung đoàn tổ chức và phân chia nhiệm vụ cho các đơn vị như sau: Tiểu đoàn 924 cử 1 đại đội chốt giữ Phu Tâng, 1 đại đội chốt giữ Phu Tôn, 1 đại đội thiếu làm nhiệm vụ cơ động; Tiểu đoàn 6 cử 1 đại đội chốt giữ Phu Seo, 1 đại đội chốt giữ Phu Hủa Sang, 1 đại đội cơ động; Tiểu đoàn 7 cử 1 đại đội chốt giữ Phu Keng, 1 đại đội chốt và hoạt động ở Phu Thông - Bản Khổng, 1 trung đội cơ động; Tiểu đoàn đoàn 5 cử 1 đại đội chốt giữ Phu Học, 2 đại đội cơ động. Tiểu đoàn 8 là lực lượng cơ động chung của Trung đoàn, tập kết ờ Đông Nam Phu Hè. Đại đội 24 chốt giữ Phu Khê. Lực lượng pháo binh, xe tăng chiến dịch tăng cường do Trung đoàn bố trí ở Bản Quay (Tây Bắc Phu Tâng). Ngoài ra, Trung đoàn còn tổ chức 1 đại đội cối 120mm (2 khẩu), các chốt và cụm chốt đều được tăng cường từ 2 đến 4 khẩu cối (82 hoặc 106,7mm), từ 3 đến 5 khẩu ĐKZ (57 hoặc 75mm), từ 2 đến 6 súng máy cao xạ hoặc đại liên. Sở Chỉ huy của Trung đoàn ở Điểm cao 1505.


Tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972, Trung đoàn 866 có những thuận lợi cơ bản. Đó là, Trung đoàn được sự quan tâm lãnh đạo của chỉ huy cấp trên, được tăng cường hoả lực, phòng ngự trong đội hình chung của chiến dịch, có sự phối hợp chặt chẽ với đơn vị bạn và lực lượng vũ trang địa phương tạo nên sức mạnh tổng hợp cao. Bên cạnh thuận lợi, đơn vị cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn như: Nhiệm vụ mới rất nặng nề, trình độ lãnh đạo chỉ huy của cán bộ các cấp, trình độ tác chiến của các phân đội còn có những hạn chế, địa bàn đảm nhiệm rộng, thời gian triển khai khẩn trương, khối lượng công việc lớn. Dù vậy, quán triệt sâu sắc yêu cầu nhiệm vụ, nắm chắc tình hình mọi mặt, Đảng ủy và Ban Chỉ huy Trung đoàn đã kịp thời lãnh đạo chỉ huy đơn vị chuẩn bị tốt mọi mặt đảm bảo bước vào chiến dịch với quyết tâm và khí thế cao nhất giành chiến thắng. Từ tháng 4, tranh thủ thời gian khi các đơn vị bạn chặn đánh địch ở khu trung gian, Trung đoàn 866 khẩn trương xây dựng hệ thống công sự trận địa chốt. Được sự giúp đỡ trực tiếp của kỹ sư công trình thuộc Trường Đại học Kỹ thuật quân sự, Tiểu đoàn 5 đã hoàn thành hệ thống công sự xuyên núi Phu Học. Tiếp đó, các đường hầm xuyên núi khác được xây dựng ở Phu Keng (2 cửa), Phu Tâng (3 cửa), Phu Hủa Sang (hầm chữ U)1 (Tính đến đầu tháng 8, Trung đoàn 866 đã làm được 658m đường hầm xuyên núi)... Cùng với việc tập trung xây dựng công sự trận địa chốt liên hoàn, vững chắc, đơn vị đã tích cực chủ động chuẩn bị hệ thống đường cơ động cho bộ binh, xe tăng trong mùa mưa, một chiếc cầu bằng dây cáp được bắc qua suối Nậm Khô.


Bên cạnh đó, dù phải triển khai nhiều công việc với khối lượng lớn và khẩn trương, nhưng Trung đoàn 866 vẫn dành thời gian tổ chức huấn luyện chiến đấu bổ sung cho cán bộ, chiến sĩ các đơn vị. Cán bộ từ cấp tiểu đội đến trung đoàn được huấn luyện, bồi dưỡng về chiến thuật chiến đấu phòng ngự, kỹ thuật chiến đấu giữ chốt. Trong những ngày khẩn trương chuẩn bị chiến đấu, những tin chiến thắng to lớn ở hai miền Nam, Bắc được truyền đến bộ đội trên các chốt càng làm cho khí thế thi đua thêm sôi động. Tiểu đoàn 924 có 100% quân số xung phong lên đường làm nhiệm vụ chiến đấu; Tiểu đoàn 7 thi công đường hầm vất vả, nặng nhọc nhưng bộ đội vẫn sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ được giao. Tiểu đoàn 5 vừa xây dựng công sự, thường xuyên bám địch và phối hợp với lực lượng của Sư đoàn 316 tiến công Buôm Loọng 2 lần, có dẫu thương vong nhưng cán bộ, chiến sĩ đơn vị vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, luôn lạc quan yêu đời và nêu cao quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.


Bước vào chiến dịch, trong thế trận phòng ngự chuẩn bị sẵn, Trung đoàn 866 kiên cường đánh chặn những đợt tiến công dữ dội của địch ngay từ những ngày đầu ở khu trung gian. Thực hiện khẩu hiệu: "Còn người, còn chốt", "Một người, một tổ cũng tiến công", cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã tiêu diệt một bộ phận GM 22 ở Tây Nam Bản Khổng, giữ vững đồi Năm Mỏm, diệt nhiều địch ở Phu Thông, bẻ gãy cảnh quân đổ bộ của GM 21, GM 26 ở Bắc Phu Keng. Có nhiều trận đánh hiệu suất chiến đấu cao trong đợt chiến đấu này. Được chiến công đợt 2 chiến dịch cổ vũ, từ ngày 11 đến ngày 30 tháng 9, Trung đoàn 866 sử dụng Tiểu đoàn 8 đánh chiếm Điểm cao 1244 và Bản Thang góp phần cùng Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 148 ) và Tiểu đoàn 2 (Trung đoàn 335) đẩy lui cánh quân GM 21, GM 30 của địch tiến công trên hướng tiến công chủ yếu phía Tây. Liên tiếp bị thất bại, đầu tháng 10 năm 1972, địch tập trung các GM: 15, 23, 26, 30, 32, 31 (dự bị ), 2 tiểu đoàn bộ binh Thái Lan có pháo binh, không quân chi viện mạnh tiếp tục tiến công các vị trí của ta. Ý định của chúng là đánh chiếm Căng Xẻng làm bàn đạp để tiến công Phu Tâng, Phu Tôn, Phu Seo, cô lập Phu Hủa Sang tiến tới làm chủ các mục tiêu trên. Tuy nhiên, ngay từ ngày đầu, chúng đã bị ta chặn đánh từng bước, Trung đoàn 866 phối hợp chặt chẽ với các trung đoàn 335, 148, 88 và đặc công tiêu hao nhiều sinh lực, vũ khí và phương tiện chiến tranh của địch. Cuối tháng 10, địch phải co lại bám giữ khu vực Cha Ho, Bản Phồn, Điểm cao 1388, Bản Xưa, Na Van và khu vực phía Nam nhằm giữ bàn đạp, chờ thời cơ tiếp tục tiến công. Trước tình hình thuận lợi, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định sử dụng Trung đoàn 335, Trung đoàn 148, Tiểu đoàn 924 và đại đội xe tăng (5 chiếc)... bất ngờ phản kích đột kích ở cánh đồng Căng Xẻng vào ngày 26 tháng 10. Trong trận đánh này, Tiểu đoàn 924 (Trung đoàn 866) cùng đại đội xe tăng từ Phu Tâng dũng mãnh tiến công đánh chiếm các điểm cao 1239, 1228 rồi thọc sâu xuống phía Nam phá vỡ đội hình địch, dồn chúng vào khu quyết chiến. Trận phản đột kích thắng lợi giòn giã, ta loại khỏi vòng chiến đấu 1.240 tên địch, thu 1.500 súng các loại, giáng đòn quyết định vào âm mưu lấn chiếm Cánh Đồng Chum của địch vào mùa mưa năm 1972. Phát huy thắng lợi, tháng 11 và nửa đầu tháng 12 năm 1972, ta tiếp tục đánh địch co cụm và quét sạch chúng ra khỏi khu vực bàn đạp phía Nam Cánh Đồng Chum.


Ngày 15 tháng 11, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng kết thúc thắng lợi. Sau 179 ngày đêm chiến đấu anh dũng, liên quân Việt Nam - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên dịch, đánh thiệt hại nặng 3 GM, đánh thiệt hại 5 GM khác, thu và phá 859 súng các loại, bắn rơi và bắn cháy 40 máy bay1 (Xem thêm: Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 62-63), giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum. Góp phần xứng đáng vào chiến công to lớn này, Trung đoàn 866 đã đánh 77 trận với nhiều hình thức, quy mô khác nhau, loại khỏi vòng chiến đấu 861 tên địch (bắt 64 tên, cỏ 1 tên phó chỉ huy binh đoàn cơ động và 3 tên tiểu đoàn trưởng, một số tên chỉ huy đại đội), thu 100 súng các loại (có 12 khẩu súng cối, 11 khẩu súng ĐKZ, 2 khẩu đại liên, 4 khẩu M79), nhiều máy thông tin; phá huỷ 4 súng cối, 2 khẩu ĐKZ 57mm, 3 khẩu đại liên và nhiều đạn dược, quân dụng, về hoạt động của Trung đoàn 866 trong Chiến dịch này, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đánh giá: Trung đoàn 866 phòng thủ địa bàn rộng, trọng yếu, xác định được quyết tâm, chấp hành mệnh lệnh nghiêm, tích cực chủ động hiệp đồng với đơn vị bạn, kiên cường giữ vững khu vực phòng thủ, chủ động phản kích đánh bại các đợt tiến công của địch. Trung đoàn hoàn thành nhiệm vụ trên giao, là đơn vị bước đầu được thử thách, có triển vọng tác chiến phòng giữ Cánh Đồng Chum.


Với thắng lợi của chiến dịch, địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum được giữ vững; thế trận liên hoàn giữa các vùng căn cứ địa của cách mạng Lào được bảo đảm; sườn phía phải của hướng tiến công chiến lược Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam được bảo vệ. Trung đoàn 866 đã góp phần vào thắng lợi của chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào với cách đánh sáng tạo, hiệu quả; góp phần đúc kết kinh nghiệm, làm phong phú lý luận về nghệ thuật chiến dịch Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Chặng đường lịch sử của Trung đoàn 866 là chặng đường chiến đấu và xây dựng của một trung đoàn bộ binh chủ lực gắn liền với lịch sử hào hùng của dân tộc, đồng thời gắn liền với sự nghiệp đoàn kết liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung vì hòa bình, độc lập, tự do và tình hữu nghị giữa ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự giúp đỡ, cưu mang, đùm bọc hết lòng của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân và làm nhiệm vụ; sự giúp đỡ của quân, dân nước bạn, Trung đoàn 866 đã trưởng thành, vững mạnh, lập nên những kỳ tích trong chiến đấu và trong xây dựng. Trung đoàn vinh dự được Đảng, Nhà nước 2 lần tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1978 và 1979), được nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào tặng thưởng Huân chương Ítxala hạng Nhất, được Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăngco hạng Nhất - Huân chương cao quý nhất của nước bạn.


50 năm đã trôi qua, những chiến công oanh liệt của Trung đoàn 866 đã đi vào lịch sử. Tự hào về truyền thống vẻ vang "Trung thành, tận tuỵ, tự lực, tự cường, đoàn kết, khiêm tốn, mưu trí, dũng cảm" và kế thừa những kinh nghiệm vô cùng phong phú mà các thế hệ cha anh để lại, thế hệ cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 866 hôm nay đang vững bước tiến lên trên con đường xây dựng đơn vị cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân viết tiếp những trang sử mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #82 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:11:54 am »

VAI TRÒ LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG CỦA TRUNG ĐOÀN 335 TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Trung tá NGHIÊM QUỐC HÙNG
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 335 Sư đoàn 324 Quân khu 4


Ngày 22 tháng 4 năm 1965, Bộ Quốc phòng ra quyết định rút gọn Lữ đoàn 335 để thành lập Trung đoàn Bộ binh 335. Trải qua 57 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Trung đoàn 335 - "Đoàn Thảo Nguyên" luôn kế thừa truyền thống vẻ vang của các đơn vị tiền thân (Sư đoàn 335, Lữ đoàn 335) hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ, được Đảng, Nhà nước hai lần tuyên dương danh hiệu "Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân". Trong quá trình ấy, Trung đoàn tham gia nhiều chiến dịch, trong đó, nổi bật là vai trò làm lực lượng cơ động trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972), với những trận đánh then chốt chiến dịch đạt hiệu suất cao. Đây là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên trên chiến trường nước bạn của liên quân Việt Nam - Lào, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch, bảo vệ vùng mới giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào, đồng thời tạo thế phối hợp với cuộc tiến công chiến lược của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam Việt Nam.


Ngay sau thất bại trong mùa khô 1971 - 1972, địch tăng cường lực lượng chuẩn bị thực hiện cuộc tiến công, hòng tái chiếm khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong mùa mưa 1972. Đến ngày 20 tháng 5 năm 1972, địch đã tập trung ở Quân khu 2 tới 76 tiểu đoàn bộ binh (trong đó có 18 tiểu đoàn quân Thái Lan), 3 tiểu đoàn pháo binh, nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại, được không quân Mỹ chi viện, hình thành 4 khu vực xung quanh Cánh Đồng Chum là: Sảm Thông - Loong Chẹng, Buôm Loọng, Tôm Tiêng - Pha Đông và Sa La Phu Khun.


Về phía ta, nhờ theo dõi sát diễn biến tình hình, dự đoán chính xác âm mưu, thủ đoạn của địch nên đã sớm chủ động trao đổi, bàn bạc với phía bạn Lào và hai bên đã thống nhất kế hoạch tổ chức phòng thủ Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Theo đó, đầu tháng 4 năm 1972, khi Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi mùa khô 1971 - 1972 bước vào những ngày cuối cùng, ta và bạn quyết định mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972, quyết tâm kiên quyết đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực của địch làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng Lào, xây dựng địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum thành căn cứ địa cách mạng vững chắc cho bạn. Địa bàn chiến dịch được phân chia làm 5 khu vực phòng ngự gồm: Khu trung tâm Cánh Đồng Chum - khu vực phòng ngự chủ yếu; khu Noọng Pẹt; khu Hin Tặng (khu trung gian); khu thị xã Xiêng Khoảng và khu Mường Sủi.


Lực lượng tham gia chiến dịch phòng ngự1 (Lực lượng ta tham gia chiến dịch có: 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh. Lực lượng bạn Lào có: 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội địa phương và dân quân du kích tỉnh Xiêng Khoảng) được chia thành lực lượng phòng ngự trận địa và lực lượng cơ động. Trung đoàn 335 là lực lượng cơ động của chiến dịch, có nhiệm vụ cơ động đánh địch tiến công trên hướng Tây, Tây Bắc Cánh Đồng Chum và khu vực Khang Khay; cùng Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 866 bảo vệ Phu Học - Noọng Pẹt, sẵn sàng cơ động xuống hướng Nam phối hợp cùng Trung đoàn 148 đánh các trận lớn then chốt của chiến dịch. Ngoài nhiệm vụ chiến đấu, Trang đoàn còn được giao nhiệm vụ tranh thủ củng cố huấn luyện, sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới khi có biến chuyển tình hình trong mùa khô năm 1972 - 19731 (Sư đoàn 324 - Trung đoàn 335, Lịch sử Trung đoàn 335 - Đoàn Thảo Nguyên (1965 - 2015), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 77).


Thời gian từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5 năm 1972, trong lúc ta đang điều chỉnh lực lượng, chuyển trạng thái từ chiến dịch tiến công sang chiến dịch phòng ngự thì địch đưa quân từ Loong Chẹng nống lấn ra Sảm Thông, các điểm cao 1900B và 1800, từ Tôm Tiêng ra các điểm cao 1863 và 1804 (phía Nam Phu Phaxay). Trung đoàn 335 từ bàn đạp bao vây, uy hiếp Loong Chẹng, được lệnh rút về đứng chân khu vực trung gian, tổ chức các chốt phòng ngự ờ Phu Phaxay, các điểm cao 1978 và 1800, phối hợp với 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312)2 (Sau khi Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi mùa khô 1971- 1972 kết thúc, Sư đọàn 312 được lệnh rút khói Cánh Đồng Chum đi làm nhiệm vụ mới nhưng tạm thời để lại 1 tiểu đoàn bộ binh tiếp tục bám địch ở khu trung gian, đánh nhỏ kết hợp với hoạt động nghi binh, tạo điều kiện cho các lực lượng chiến dịch rảnh tay triển khai gấp rút nhiệm vụ phòng ngự) đánh một số trận nhỏ ngăn, chặn địch và đẩy lùi các mũi nống lấn của địch. Tiếp đó, thực hiện quyết định của Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao: Trung đoàn 335 (và Trung đoàn 148) "tập trung mọi khả năng nhanh chóng củng cố, huấn luyện và tổ chức chiến đấu theo phương án làm lực lượng cơ động của chiến dịch"3 (Viện Khoa học quân sự - Khoa Nghệ thuật quân sự, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum mùa mưa năm 1972, 1977, Tài liệu lưu hành nội bộ, tr. 58), Trung đoàn đã tiến hành bàn giao lại địa bàn khu trung gian cho Trung đoàn 174.


Sau các cuộc tiến công thăm dò, ngày 21 tháng 5, địch dùng không quân đánh phá dữ dội vào khu trung gian và các trục đường vào Cánh Đồng Chum, sau đó, chúng mở cuộc tiến công vào khu vực trung gian. Tuy nhiên, các hướng tiến công của chúng đều bị các đơn vị của Trung đoàn 174 và Trung đoàn 148 dựa vào công sự trận địa tích cực ngăn chặn, đẩy lui. Đồng thời, trên hướng Mường Sủi, ta và bạn cũng đẩy lui nhiều đợt tiến công của địch. Đến ngày 10 tháng 8, đợt 1 chiến dịch kết thúc, ta đã đánh thiệt hại một số tiểu đoàn địch, giữ vững được tuyến phòng ngự trung gian, tạo điều kiện tốt để các đơn vị bước vào đợt 2 chiến dịch.


Sau khi được bổ sung quân số, củng cố lực lượng, tổ chức huấn luyện theo phương án tác chiến của đơn vị làm nhiệm vụ cơ động, tinh thần cán bộ, chiến sĩ trong toàn Trung đoàn rất phấn khởi, tin tưởng vào khả năng phòng thủ địa bàn của đơn vị. Bộ đội được quán triệt sâu sắc nhiệm vụ từ cấp trung đoàn tới chiến sĩ. Lương thực, đạn dược được bổ sung vận chuyển đến từng đơn vị. Công tác chuẩn bị hoàn tất thì cũng là lúc địch bất đầu tiến công.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #83 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:13:10 am »

Bước vào đợt 2 chiến dịch, ngày 11 tháng 8, địch tập trung hơn 40 tiểu đoàn ồ ạt tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum từ ba hướng Đông Nam, Tây và Đông Bắc. Sau hơn 10 ngày tiến công nghi binh thu hút lực lượng ta, địch bất ngờ sử dụng GM 21 và GM 26 - hai binh đoàn cơ động mạnh nhất của lực lượng đặc biệt đổ bộ bằng trực thăng xuống khu vực Điểm cao 1098, Bản Sang (Bắc Phu Keng 3km), hình thành cánh quân chủ yếu ở hướng Tây Bắc, với ý đồ nhanh chóng đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu ở Cánh Đồng Chum.


Trước tình hình trên, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, liên quân Việt Nam - Lào trên các hướng tích cực ngăn chặn địch, đồng thời tập trung lực lượng đánh trận then chốt, tiêu diệt quân địch ở Phu Keng. Ta đưa Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 335 vào lập bàn đạp ở Phu Xản và chiến đấu tạo thế. Ngày 29 tháng 8, các lực lượng tham gia trận phản đột kích ở Phu Keng đã vào vị trí tập kết, sẵn sàng nổ súng tiến công địch. Trung đoàn 335 (thiếu) được tăng cường 2 khẩu pháo 130mm và 2 khẩu pháo 122mm, 1 khẩu pháo 85mm và cối 120mm, đảm nhiệm hướng tiến công chủ yếu từ Đông Nam đánh vào 5 vị trí của địch ở Khăm Mường và 3 vị trí ở Điểm cao 1202. Tiểu đoàn 2 Quân giải phóng nhân dân Lào được tăng cường 4 xe tăng, đảm nhiệm hướng thứ yếu, đánh từ Đông Bắc xuống. Một đại đội thuộc Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 866 cùng 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn 701 Quân giải phóng nhân dân Lào, bao vây, đón lõng, triển khai ở bờ Tây song Nậm Ngừm.


Đến 6 giờ 45 phút ngày 30 tháng 8, pháo binh chi viện hỏa lực cho Trung đoàn nổ súng, bắn dồn dập trong vòng 15 phút sau đó các hướng đồng loạt nổ súng tiến công, địch bị đánh bất ngờ rối loạn ngay từ đầu. Trung đoàn đánh chiếm 5 cụm địch ờ Mường Khăm và 3 cụm địch ở Điểm cao 1202. Địch rút chạy lên hướng cầu Sắt bắc qua sông Nậm Ngừm, bị các lực lượng ém sẵn ở đây đánh bật lại. Địch co cụm và gọi trực thăng đến bốc quân.


Đến 18 giờ cùng ngày, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 được tăng cường 4 xe tăng, phối hợp với Tiểu đoàn 2 Quân giải phóng nhân dân Lào cùng 4 xe tăng của bạn, tiến công vào đội hình địch co cụm ở Bản Sang. Địch xô nhau rút chạy, bị quân ta truy kích sát, hoảng loạn vượt sông bị nước lũ cuốn trôi. Khoảng 200 tên địch đã bị tiêu diệt trên đường tháo chạy. Sáng ngày 31 tháng 8, số địch còn lại tổ chức vượt sông Nậm Ngừm, Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 2 được xe tăng phối hợp truy kích bao vây, diệt thêm 129 tên và bắt 35 tên, ta và bạn tổ chức lùng sục, truy quét, gợi hàng tiếp, trong 2 ngày diệt và bắt được 300 tên. Đến ngày 3 tháng 9, trận phản đột kích kết thúc thắng lợi giòn giã. Trung đoàn 335 và bạn Lào đã tiêu diệt 679 tên địch, bắt 43 tên, thu nhiều vũ khí trang bị của địch, 2 GM (21 và 26) bị thiệt hại nặng nề. Ta đã bẻ gãy hoàn toàn cánh quân chủ yếu của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng lực lượng mạnh nhất của chúng, phá tan ý đồ đánh nhanh, thắng nhanh, đánh sâu vào khu vực phòng ngự chủ yếu của ta1 (Với chiến công nàỵ, Trung đoàn 335 đuợc Bộ Tư lệnh Chiến dịch khen ngợi kịp thời, được Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào gửi thư khen và dược Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba).


Bị thất bại, từ ngày 11 tháng 9, địch tăng cường lực lượng và chọn hướng Tây làm hướng chủ yếu tiến công vào trung tâm Cánh Đồng Chum. Dựa vào bàn đạp Phu Thông, do GM 22 đã chiếm lại (23.8 ), địch tăng cường thêm GM 30, 1 tiểu đoàn Thái Lan (BC619), và 1 bộ phận của tiểu đoàn pháo Thái Lan (BA636), hình thành cánh quân chủ yếu ở hướng Tây. Hướng Đông Bắc, GM 24 và GM 27 tiến công ra Lạt Buột, Phu Keng, chiếm Bắc Cánh Đồng Chum. Hướng Nam, GM 23 và GM 15 tiến công Nậm Cọ - Phu Hủa Sang, đánh chiếm cánh đồng Căng Xẻng, phát triển lên Phu Tâng. Để phối hợp với 3 hướng trên, địch đổ bộ 1 tiểu đoàn biệt kích xuống Ta Li Nọi, nhằm quấy phá hậu phương ta.


Diễn biến đợt 3 chiến dịch, các trận đánh giữa ta và địch diễn ra ác liệt, giành giật nhau từng mỏm đồi. Đến ngày 20 tháng 9, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định tạm ngừng tiến công, đồng thời điều Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 và 1 trung đội xe tăng vào thay thế Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 148. Ngày 26 tháng 9, ta tiếp tục tiến công. Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 và Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 866 tiến công trên hướng chủ yếu, chiếm được Phu Thông, các điểm cao 1276 và 1244, Bản Thang... Đến ngày 29 tháng 9, trận phản đột kích ở Bản Khổng, Bản Thang kết thúc thắng lợi. Ta diệt trên 400 tên, bắn rơi 3 máy bay và đẩy lùi mũi tiến công chủ yếu hướng Tây của địch. Cùng với thắng lợi trên các hướng khác trong đợt 3 chiến dịch, thắng lợi trong trận phản đột kích thứ hai đã góp phần cổ vũ tinh thần, củng cố quyết tâm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận nói chung, Trung đoàn 335 nói riêng. Các đơn vị kịp thời tổ chức rút kinh nghiệm và củng cố, bổ sung lực lượng.


Bước sang tháng 10 năm 1972, thời tiết bắt đầu chuyển dần sang mùa khô, cũng là lúc quân địch tập trung trên 60 tiểu đoàn, nhầm chiếm địa bàn phía Nam Cánh Đồng Chum, hòng tạo thế cho cuộc đàm phán ngày 15 tháng 10 năm 1972. Từ ngày 5 tháng 10, địch bắt đầu tiến công nhiều mục tiêu ở Nam Cánh Đồng Chum.


Trước âm mưu, thủ đoạn mới của địch, quán triệt và thực hiện nhiệm vụ Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao, Trung đoàn 335 và Trung đoàn 148 về tập kết tại phía Đông và Tây cánh đồng Căng Xẻng chuẩn bị sẵn sàng tạo thế, tạo thời cơ để tiến hành một số trận đánh phản đột kích then chốt, tiến tới đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của địch. Ngày 8 tháng 10, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 335 tập kích địch ở Bản Xưa, Điểm cao 1.172, sau đó dựa vào các chốt ngăn chặn địch tiến công vào Phu Keng Luông Phu Huột Ngày 9 tháng 10, Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 cùng Đại đội 2 Tiểu đoàn 924 Trung đoàn 866 được tăng cường 5 xe tăng, 2 xe thiết giáp có pháo binh chi viện, đánh bật địch ở Bản Ngua, các điểm cao 1228 và 1239. Đốn ngày 12 tháng 10, sau các trận đánh nhỏ ta mở trận phản đột kích thứ nhất trong đợt 4 chiến dịch. Theo đó, Trung đoàn 335 phối hợp với 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 148 tổ chức đánh chiếm Cha Hồ, chặn đánh địch ờ Điểm cao 1239, bao vây địch ở Điểm cao 1243, buộc địch co cụm về Nậm Cọ. Ngày 14 tháng 10, trận phản đột kích kết thúc thắng lợi. Ta diệt 635 tên địch, đánh thiệt hại nặng GM 23, bắn rơi 3 máy bay, bẻ gãy và đẩy lùi một bước cánh quân địch.


Mặc dù bị tổn thất nặng nề, địch đã nhanh chóng bổ sung quân số, tăng thêm 2 tiểu đoàn Thái Lan ra Nậm Cọ, lập thêm trận địa pháo 105mm và tổ chức đợt tiến công mới dưới sự chi viện mạnh mẽ của không quân và pháo binh. Từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 10, đội hình các GM của địch triển khai lực lượng đánh chiếm các điểm cao 1172 và 1236, Bản Xưa, Phu Seo; các tiểu đoàn quân đánh Thái Lan chốt giữ điểm cao 1223 và 1239, Cha Ho; GM 21 đến GM 26 chiếm giữ Keo Khoang, Nậm Cọ; GM 15 và 2 tiểu đoàn Thái Lan giữ Khang Kho làm lực lượng dự bị.


Được Bộ tăng cường thêm Trung đoàn 88, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định tập trung lực lượng đánh trận then chốt thứ hai trong đợt 4, đồng thời là trận then chốt chiến dịch vào cụm quân địch từ Nam Bản Quay đến Bắc Khang Kho. 3 giờ 10 phút ngày 26 tháng 10, Trung đoàn 335, Trung đoàn 148, Tiểu đoàn 924 Trung đoàn 866, đại đội xe tăng (có 8 chiếc) được pháo binh chi viện đồng loạt nổ súng đánh vào đội hình quần địch đang tập trung trong các mục tiêu tiến công. Trung đoàn 335 được tăng cường Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88, dựa vào cụm chốt Phu Hủa Sang đánh vào Cha Ho, Bản Hai, Bản Phồn, Điểm cao 1388, chia cắt đội hình địch, hình thành thế bao vây không cho địch bỏ chạy về Nậm Cọ, Khang Kho.


Quân địch bị bất ngờ trước sự tiến công của ta, các GM bị đánh đã trở nên rối loạn, địch phải tăng cường các hoạt động của không quân để ngăn chặn các hướng tiến công của ta, bảo vệ cho quân của chúng tháo chạy. Các đơn vị của Trung đoàn 335 cùng các đơn vị bạn bám sát địch, tạo thành thế xen kẽ, giành giật rất quyết liệt. Đêm 26 tháng 10, lợi dụng trời tối, địch phân tán chạy về Khang Kho, Nậm Cọ. Trận phản đột kích giành thắng lợi giòn giã. Trung đoàn đã cùng các đơn vị bạn tiêu diệt 1.240 tên địch, bắt 79 tên, thu 1.500 vũ khí các loại (trong đó có 21 khẩu pháo cối và ĐKZ).


Sau thất bại ở cánh đồng Căng Xẻng, địch rút về co cụm, tổ chức phòng ngự trên các khu vực ở Đông Nam Cánh Đồng Chum. Thực hiện quyết tâm của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, từ ngày 2 đến ngày 5 tháng 11, Trung đoàn 335 (thiếu) Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88, cùng lực lượng đặc công tiếp tục bao vây, tiến công tiêu diệt 1 tiểu đoàn quân Thái Lan và GM 26 ở Phu Tu Ngua, Phu Vai, Nậm Cọ, Khang Kho. Quân địch bị thiệt hại nặng phải rút chạy về Tôm Tiêng, Pha Khao, ta làm chủ hoàn toàn khu vực trung gian Nam Cánh Đồng Chum.


Đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng kết thúc thắng lợi. Phát huy vai trò lực lượng cơ động chiến dịch, Trung đoàn 335 góp phần cùng các đơn vị trên toàn Mặt trận loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch..., đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công lấn chiếm quy mô lớn của địch, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Nửa thế kỳ trôi qua, Chiến thắng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 in đậm dấu ấn trong tiến trình lịch sử hai nước Việt Nam và Lào. Thắng lợi của chiến dịch đánh dấu bước trưởng thành về nghệ thuật quân sự nói chung, nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến dịch phòng ngự nói riêng. Vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng phòng ngự tích cực - phòng ngự kết hợp giữ vững trận địa với hành động tác chiến tiến công, tạo điều kiện để chuyển sang phản công hoặc tiến công, phát huy vai trò lực lượng cơ động chiến dịch, Trung đoàn 335 cùng với đơn vị bạn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt hiệu suất chiến đấu cao trong chiến đấu, đặc biệt là các trận then chốt, góp phần to lớn vào thắng lợi chung của chiến dịch. Những kinh nghiệm quý đúc rút từ thực tiễn tác chiến của Trung đoàn 335 - Đoàn Thảo Nguyên trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng 1972 cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng làm cơ sở phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, không ngừng làm giàu thêm truyền thống vỏ vang "Trung dũng, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, đoàn kết, chiến thắng" của Trung đoàn trong tình hình mới.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #84 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:16:34 am »

CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG
TIẾNG NÓI CỦA NGƯỜI TRONG CUỘC

Trung tướng NGUYÊN HỮU KHẢM
Trung tướng, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng


Trong một năm, những người lính chúng tôi đã từng đi qua các cuộc chiến tranh đều có những ngày tháng của một thời để nhớ lại và suy ngẫm. Với tôi, tháng 5 là tháng đầy ắp trong ký ức về những kỷ niệm khó quên.


Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972), một chiến dịch phòng ngự điển hình của Quân đội ta, đã có nhiều tướng lĩnh, các nhà nghiên cứu về lịch sử và nghệ thuật quân sự Việt Nam viết về chiến dịch này, nhưng tôi nghĩ, viết về những kỷ niệm trước và trong chiến dịch cũng rất cần thiết, đó là tiếng nói của những người trong cuộc, với cách nhìn nhận cụ thể và rõ nét hơn.


Tôi có một vinh dự là ngay sau khi nhập ngũ, tôi được về Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 của Quân khu Tây Bắc. Sư đoàn 316 là một trong những sư đoàn có bề dày truyền thống chiến đấu giúp cách mạng Lào cả trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và sau này là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Tôi có 7 năm cùng Sư đoàn 316 tham gia trực tiếp 5 chiến dịch và nhiều trận đánh ở chiến trường Bắc Lào. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là chiến dịch cuối cùng tôi được tham gia cùng Sư đoàn trên chiến trường nước bạn.


Từ năm 1969 trở về trước, khi mùa khô đến (từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau), Sư đoàn 316 chúng tôi sẽ cơ động từ Tây Bắc nước ta sang nước bạn Lào đánh địch. Đến mùa mưa, do địa hình thời tiết và công tác bảo đảm hậu cần gặp rất nhiều khó khăn, các đơn vị lại rút quân về nước. Những nơi ta đã giải phóng trước đây thì bàn giao lại cho các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào và Quân giải phóng nhân dân Lào đảm nhiệm. Vì vậy, anh em chúng tôi gọi là "chiến trường theo mùa".


Về phía địch, lợi dụng mùa mưa, các đơn vị của ta còn lại ở chiến trường quá mỏng, chúng dựa vào ưu thế cơ động của trực thăng cùng sự chi viện của hỏa lực không quân, pháo binh, tổ chức hành quân đánh chiếm lại những khu vực mà ta đã giành được trong mùa khô. Chiến trường giữa ta và địch giành đi, giật lại trong nhiều năm tại một số khu vực nên bộ đội ta ví von "đánh địch ở chiến trường Lào như ném đá xuống ao bèo tấm", về chiến thuật, các đơn vị của Sư đoàn 316 chủ yếu tiến công địch trong công sự vững chắc và tập kích địch tạm dừng, khi tổ chức phòng ngự chỉ ở cấp tiểu đoàn, đại đội.


Sau Chiến dịch Toàn Thắng1 (Chiến dịch Toàn Thắng (còn gọi là Chiến dịch 139 hay Chiến dịch Cánh Đồng Chum -Xiêng Khoảng, 25.10.1969 - 25.4.1970) là chiến dịch phản công của Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Lào nhằm khôi phục vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (Lào) bị lực lượng đặc biệt Vàng Pao, quân đội Thái Lan (được không quân Mỹ chi viện) lấn chiếm trong cuộc hành quân Cù Kiệt (8.1969-2.1970)), Sư đoàn 316 nhận được chỉ thị của trên ở lại chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cùng các đơn vị bạn đánh địch trong mùa mưa, không cho chúng chiếm lại vùng giải phóng. Cũng từ đây, chúng tôi không còn "chiến đấu theo mùa" như trước nữa. Bởi mùa mưa của những năm 1970 - 1971 là những năm tháng chiến đấu vô cùng gian khổ và ác liệt. Lực lượng của ta bị tổn thất không nhỏ vì thương vong trong chiến đấu và bệnh tật, nhất là bệnh sốt rét.


Tháng 7 năm 1971, lực lượng đặc biệt Vàng Pao được tăng cường các tiểu đoàn bộ binh và pháo binh quân đội Thái Lan cùng sự chi viện tối đa của không quân Mỹ, trong đó có máy bay ném bom chiến lược B-52, chúng mở cuộc tiến công quy mô lớn để đánh chiếm lại địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Chúng tôi đã phải chiến đấu liên tục nhiều ngày để ngăn chặn địch. Trước tình hình chiến sự diễn ra căng thẳng và phức tạp, Đảng ủy, Chỉ huy Trung đoàn 148 triệu tập gấp cán bộ chủ trì quân sự, chính trị ở các tiểu đoàn và đại đội trực thuộc về họp để bàn cách đánh và ổn định tư tưởng bộ đội. Đồng chí Nguyễn Hữu An, Phó Tư lệnh Mặt trận 959 (Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - sau này đổi thành Mặt trận 31, rồi Mặt trận 316) và Chính ủy Sư đoàn 316 Lê Vũ xuống dự. Chúng tôi được chỉ huy Trung đoàn giới thiệu: Đồng chí Nguyễn Hữu An nguyên là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 308 trong Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, sau chiến dịch được trên điều động về làm Phó Tư lệnh Mặt trận 959. Có cấp trên đến dự, cán bộ ta phát biểu khá sôi nổi, nhưng cũng chỉ tập trung vào 2 vấn đề chính: Một là, về tình hình bộ đội ta, qua chiến đấu liên tục trong mùa mưa gian khổ, quyết liệt nên quân số hao hụt đo thương vong và bệnh tật, nhiều đơn vị phải dồn ghép quân số; tư tưởng bộ đội đã bộc lộ muốn nghỉ ngơi chờ mùa khô đến rồi đánh tiếp. Hai là, về cách đánh của ta hiện nay không hiệu quả, chủ yếu là sử dụng lực lượng cấp đại đội, tiểu đoàn tập kích địch vào ban đêm, sau đó rút khỏi trận địa, không tổ chức phản kích địch ở quy mô cấp tiểu đoàn, trung đoàn để tiêu diệt lớn lực lượng địch, cũng không tổ chức phòng ngự để ngăn chặn địch. Ta đã mất một số điểm cao quan trọng để giữ trung tâm Cánh Đồng Chum. Một số cán bộ đã mạnh dạn nói rằng: Nếu cứ đánh như hiện nay ta sẽ không giữ được Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng lâu dài, lại tiếp tục "ném đá vào ao bèo tấm" như những năm trước đây... Tôi thấy đồng chí Nguyễn Hữu An rất chăm chú lắng nghe và ghi chép, có lúc gặng hỏi về tư tưởng bộ đội, về kinh nghiệm chiến đấu, cách đánh và phương pháp tổ chức chỉ huy chiến đấu... Đến gần cuối cuộc họp, đồng chí Nguyễn Hữu An phát biểu. Mở đầu, đồng chí động viên chúng tôi, chia sẻ về những khó khăn, gian khổ, hy sinh mà bộ đội ta ở Mặt trận đang dũng cảm vượt qua. Tiếp đó, đồng chí tóm tắt tình hình và nguyên nhân thắng lợi to lớn của ta ở Mặt trận Đường 9 - Nam Lào mùa khô năm 1971. Mục đích của đồng chí là để chúng tôi tìm hiểu, so sánh, vận dụng vào Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Thời gian còn lại của cuộc họp, đồng chí phân tích với chúng tôi về mạnh, yếu của địch, của ta; về tình hình chĩển trường trong những năm gần đây và đang diễn ra ở Mặt trận Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tôi vẫn nhớ những ý chính mà đồng chí Nguyễn Hữu An đã phân tích và kết luận:

Thứ nhất, ở Mặt trận này, ta và địch đã quá hiểu nhau về chủ trương và ý định. Thậm chí, ta hiểu rất rõ khi địch tiến công đánh chiếm (lấn chiếm) ra địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, chúng lựa chọn vào thời gian nào, xuất phát từ đâu, đi hướng nào, mục tiêu trước mắt, tiếp theo là ở đâu. Vì qua nhiều lần trước, do điều kiện địa hinh, thời tiết mùa mưa, địch chiếm ưu thế nên thường tiến công theo lối cũ ...


Thứ hai, trong những năm qua ta đã giành được những chiến thắng có ý nghĩa to lớn ở Mặt trận này. Đã hai lần ta đánh sát vào nơi hang ổ của địch, sau đó lại phải rút ra, bỏ ngỏ tuyến trung gian đê địch làm bàn đạp triển khai tiến công ra Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Có những nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng nguyên nhân chính là ta không tổ chức được hệ thống phòng ngự để đánh địch giữ vững địa bàn trong mùa mưa, ngại đánh địch trong mùa mưa.


Thứ ba, ta còn thiếu chủ động, tích cực trong công tác chuẩn bị trước về chiến trường. Cách đánh chưa linh hoạt, sáng tạo để tiêu diệt lớn lực lượng địch


Thứ tư, muốn giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta phải tổ chức phòng ngự có chiều sâu và trọng điểm, buộc địch vào thế không có bàn đạp, không có chỗ dựa khi tiến công lấn chiếm. Không cho địch tập trung được lực lượng và phối hợp giữa đổ bộ đường không và tiến công đường bộ. Phòng ngự có chiều sâu là thiết lập hệ thống từ sát hang ổ của địch mà ta thường gọi là tuyến trung gian. Phòng ngự có trọng điểm là tổ chức phòng ngự kiên cố, vững chắc, có khả năng trụ vững liên tục, dài ngày trên các điểm cao có thể khống chế toàn bộ khu vực Cánh Đồng Chum như: Phu Tâng, Phu Hủa Sang, Phu Seo, Phu Hoạt, Phu Keng và trung tâm ờ Bản Áng. Về sử dụng lực lượng và cách đánh, ta phải có sự thay đổi. Ngoài lực lượng phòng ngự, phải có lực lượng cơ động mạnh để phản kích đánh địch ở cấp trung đoàn trên từng hướng, kết hợp với các thủ đoạn chiến đấu như tập kích, phục kích và chia cắt địch... (đồng chí Nguyễn Hĩru An nhấn mạnh).


Kết thúc buổi nói chuyện, đồng chí Nguyễn Hữu An đã căn dặn thêm: Trước mắt, các đồng chí ra về phải chỉ huy và động viên bộ đội đánh địch thật tốt trong mùa mưa này. Mùa khô tới ta phải quyết tâm giành lại địa bàn chiến lược này để giữ vững cho đến ngày cách mạng Lào thắng lợi hoàn toàn. Chúc các đồng chí khỏe và quyết thắng. Tất cả chúng tôi đứng bật dậy, vỗ tay không ngớt, khuôn mặt ai cũng ngời sáng niềm vui và tin tưởng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #85 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:17:25 am »

Đúng như lời đồng chí Nguyễn Hữu An đã nói với chúng tôi, mùa khô 1971 - 1972, ta mở Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, tạo ra thế trận có lợi để ngay sau đó ta mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong mùa mưa - một chiến dịch phòng ngự điên hình của Quân đội ta.


Sau này, khi về học tại Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng), được nghiên cứu về Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tôi mới nhận ra rằng, nội dung buổi nói chuyện của đồng chí Nguyễn Hữu An tại cuộc họp của cán bộ các cấp của Trung đoàn 148 vào tháng 8 năm 1971 chính là ý định ban đầu của quyết tâm Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tư duy chiến lược của vị tướng trận mạc đã vượt trước thời gian, làm thay đổi cục diện chiến trường nước Lào, làm thất bại một bước căn bản học thuyết Níchxơn ở Lao, phối hợp và hỗ trợ cho các chiến dịch trong cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường miền Nam Việt Nam năm 1972 giành thắng lợi.


Trở về với những kỷ niệm trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Sư đoàn 316 có 2 trung đoàn bộ binh 174 và 148. Trong chiến dịch này, Sư đoàn có nhiệm vụ đánh địch trên hướng phòng ngự chủ yếu của chiến dịch (Đông Nam Cánh Đồng Chum). Trung đoàn 174 làm nhiệm vụ phòng ngự ở tuyến trước gồm các điểm cao 1800A, 1800B và khu vực Hin Đăm, Hin Tặng (chúng tôi thường gọi là tuyến trung gian). Trung đoàn 148 là lực lượng cơ động trên hướng chủ yếu của chiến dịch, sẵn sàng đánh địch tiến công từ Sảm Thông, Loong Chẹng ra Đông Nam Cánh Đồng Chum.


Đợt 1 chiến dịch trong tháng 6, địch tổ chức tiến công nhiều đợt vào đội hình phòng ngự của Trung đoàn 174, nhưng không thành công. Chúng vòng ra phía sau đánh chiếm Thẩm Lửng và dãy Hin Đăm. Ngay ngày hôm sau, ta tổ chức đánh chiếm lại, nhưng địch liên tục tổ chức các đợt tiến công để tạo bàn đạp tiến ra Cánh Đồng Chum. Tiểu đoàn 5 chúng tôi được lệnh vào tăng cường đánh địch cùng Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 3. Đến cuối tháng 6, lực lượng địch thuộc Binh đoàn cơ động 30 (GM 30) bị ta đánh thiệt hại nặng, buộc phải lui về phía sau.


Tháng 7, Tiểu đoàn 5 được lệnh quay ra đánh chặn địch ờ Đông Nam Phu Seo. Gần hai tháng quần nhau với địch, Tiểu đoàn chúng tôi được trên cho rút về Bản Hai để củng cố lực lượng. Tháng 8 và 9, địch tăng cường lực lượng tiến công ra Nam và Tây Nam Cánh Đồng Chum. Cuối tháng 9, có không quân và cả máy bay B-52 yểm trợ, địch đã chiếm được các điểm cao 1239, 1228, 1214, Xiêng Nưa, Bản Xưa và dự định đánh chiếm Phu Seo, Phu Tâng làm bàn đạp để đánh chiếm trung tâm Cánh Đồng Chum. Tuy nhiên, địch đã bị các lực lượng của ta chặn lại, bị tổn thất khá lớn về lực lượng, buộc phải dừng lại chuyển vào phòng ngự lâm thời. Ta tiếp tục tập kích và đánh chia cắt không cho chúng co cụm.


Ngày 27 tháng 9, Tiểu đoàn 5 chúng tôi được lệnh cùng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 tiến công vào đội hình của GM 23 địch đang tạm dừng từ Phu Huột đến Điểm cao 1236. Theo kế hoạch hiệp đồng, Tiểu đoàn 2 đánh cắt đuôi đội hình địch ở khu vực Bản Na Thon, cùng lúc Tiểu đoàn 5 tập kích địch ở Điểm cao 1236. Tuy nhiên, Tiểu đoàn 2 không tìm thấy địch, trên cũng không thông báo cho chúng tôi biết nên cả tiểu đoàn cứ chờ đợi đến giờ nổ súng (theo cách lấy tiếng súng hiệp đồng của Tiểu đoàn 2). Khi trời đã sáng, Tiểu đoàn trưởng quyết định nổ súng xung phong, song bị pháo binh địch bắn vào đội hình và vấp phải sự chống trả quyết liệt của chúng, khiến ta buộc phải rút xuống chân đồi đào công sự trụ lại. Đến 9 giờ sáng, địch sử dụng từng tốp máy bay T-28, AD-6 thay nhau đến ném bom phát quang, bom bi vào khu vực của Tiểu đoàn. Ba cán bộ tiểu đoàn, trong đó có Tiểu đoàn trưởng cùng nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh, số bị thương cũng rất lớn. Tiểu đoàn 5 về cơ bản đã bị giảm sút sức chiến đấu nghiêm trọng phải rút về phía sau củng cố lực lượng. Sau trận đánh này, chúng tôi đã rút ra nhiều bài học xương máu. Nhưng có một điều đã làm tôi nhớ lại, đó là lời căn dặn của đồng chí Nguyễn Hữu An trong cuộc họp cán bộ Trung đoàn 148, tháng 8 năm 1971 là: "Trong chiến đấu, tình huống thường diễn biến rất mau lẹ, bởi vậy công tác hiệp đồng phải chặt chẽ, dự kiến đầy đủ các tình huống có thể xảy ra. Cán bộ phải bám sát bộ đội mới có thể xử trí và ra các quyết định kịp thời. Tôi nghe nói ở chiến trường Lào, cán bộ cấp trung đoàn, sư đoàn chỉ huy ở khá xa bộ đội, cần phải thay đổi".


Cuối tháng 10 năm 1972, ta tiến hành phản kích đánh đòn quyết định, đẩy lui hoàn toàn lực lượng tiến công của địch. Diễn biến chiến dịch rất thuận lợi cho ta, địch bị tiêu diệt lớn, rút chạy tán loạn. Tiểu đoàn 5 chúng tôi được nhận nhiệm vụ đón lõng địch, chặn địch không cho chúng rút chạy về phía sau. Tiếp theo chúng tôi đánh địch ở Khang Kho và truy kích địch tới Nậm Xiêm, bắt nhiều tên địch.


Cuối tháng 12 năm 1972, Tiểu đoàn 5 trong đội hình Trung đoàn 148 tiến về đánh cụm cứ điểm Buôm Loọng nhưng không thành công. Đây cũng là trận đánh cuối cùng mà tôi tham gia ở chiến trường nước bạn Lào.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #86 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:23:23 am »

NHỚ VỀ MỘT CHIẾN DỊCH LỚN TRÊN ĐẤT BẠN LÀO

Đại tá CAO KÍNH
Nguyên Phó Giám đốc Học viện Kỹ thụật quân sự, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 335 trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng


Nửa thể kỷ trôi qua kể từ ngày Quân đội ta phối hợp cùng với Quân giải phóng nhân dân Lào tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5- 15.11.1972). Trong lịch sử chiến đấu của Quân đội ta, đây là lần đầu tiên ta triển khai nhiệm vụ phòng ngự ở quy mô chiến dịch một cách hoàn chỉnh, hiệp đồng chiến đấu chặt chẽ với Quân giải phóng nhân dân Lào và giành được thắng lợi lớn, góp phần bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, bảo vệ vùng giải phóng của cách mạng Lào, góp phần cùng các chiến trường khác trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, tạo thế mới cho cuộc kháng chiến của ta và bạn Lào. Đối với cá nhân tôi, trên cương vị là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 335, chiến thắng của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 là một trong những sự kiện đáng nhớ, có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời quân ngũ của mình.


Trước chiến dịch phòng ngự

Đầu năm 1972, tôi là Trung đoàn phó Trung đoàn 335 Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào. Khi cấp trên quyết định mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đồng chí Trung đoàn trưởng Trung đoàn 335 cùng với đại diện của Quân giải phóng nhân dân Lào - đơn vị phối hợp tham gia chiến dịch, đi trinh sát chiến trường chuẩn bị bố trí trận địa chiến đấu cho đơn vị. Không may, đoàn trinh sát bị trúng bom của địch đồng chí Trung đoàn trưởng hy sinh, vì thế tôi được giao nhiệm vụ Trung đoàn trưởng chỉ huy đơn vị tham gia từ đầu đến cuối chiến dịch.


Như chúng ta đã biêt, trước khi tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, ta và bạn tiến hành Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum mùa khô 1971 - 1972. Căn cứ vào đánh giá chính xác tình hình địch - ta và xu hướng phát triển của cách mạng Đông Dương lúc bấy giờ, ngay khi chiến dịch tiến công còn chưa kết thúc, ta sớm chủ trương tổ chức chiến dịch phòng ngự tại khu vực chiến lược Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nhằm đánh bại ý định tái chiếm khu vực này của địch trong mùa mưa năm 1972. Lúc này, Bộ có chủ trương phát triển Trung đoàn 335, tổ chức diễn tập đánh nhỏ, đánh tập trung quy mô cấp trung đoàn. Sau khi Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum kết thúc thắng lợi, Trung đoàn 335 được giao nhiệm vụ phòng ngự ở 3 cao điểm Phu Phaxay, 1797, 1800.


Lúc đầu, về mặt tư tưởng, bản thân tôi cũng như cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn không được thoải mái khi phải đảm nhận nhiệm vụ phòng ngự, phải nói đúng ra là "ngại". Tất nhiên, anh em chúng tôi đều ý thức được đã là mệnh lệnh thì phải chấp hành, không từ chối, không thoái thác. Dù vậy, đây là vấn đề tư tưởng, yêu cầu Đảng ủy, Ban Chỉ huy Trung đoàn phải tập trung giải quyết tốt. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tôi từng tham gia nhiều trận đánh phòng ngự. Nhưng đối tượng tác chiến của đơn vị chúng tôi bây giờ là quân ngụy Lào và lính đánh thuê Thái Lan trên chiến trường nước bạn, chứ không phải quân Pháp; vũ khí, trang bị, thủ đoạn chiến đấu của địch cũng khác. Trước đây, đơn vị chúng tôi tổ chức phòng ngự trên đồi C1 ở Điện Biên Phủ...


Trước yêu cầu, nhiệm vụ mà chiến dịch phòng ngự đặt ra, Đảng ủy, chỉ huy Trung đoàn chúng tôi nhận thấy phải giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ toàn Trung đoàn nắm rõ và thực hành tổ chức cấu trúc trận địa phòng ngự bảo đảm hoàn thành mục tiêu đánh bại các đợt tiến công của địch. Khi đó, chúng tôi đã tiến hành hướng dẫn anh em cách thức phòng ngự, từ cấu trúc trận địa đến cách đánh, lâu nay ít khi làm công tác này. Ở Cánh Đồng Chum có nhiều điểm cao có giá trị chiến thuật, trên đỉnh cây lúp xúp, nhưng xuống sườn núi cây to hơn, nhiều hon. Chúng tôi quán triệt cho đơn vị từ tiền duyên ra phía trước phải phát quang xạ giới khoảng 30m để quan sát địch tiếp cận tốt hơn, vừa lấy những cây đó làm chướng ngại vật.


Chúng tôi hướng dẫn chiến sĩ đào địa đạo hàm ếch, chủ động đặt các quả lựu đạn mở nắp sẵn bên cạnh để tiện sử dụng khi địch tiến công; bố trí phù hợp thiết bị bắn dọc từ chiến hào tiền duyên lên đến chiến hào tung thâm, hướng dẫn cách đào, cách đặt súng và những vật cản, chướng ngại vật ngăn chặn sự phát triển của địch dọc chiến hào, hay cách cắm cọc chuẩn trên hố chiến đấu cá nhân của từng loại súng. Chúng tôi tổ chức huấn luyện theo từng cấp để từ đó huấn luyện cho tất cả các anh em trong đơn vị, làm mẫu để học tập rồi rút kinh nghiệm phổ biên rộng ra. Về mặt tư tưởng, Ban Chỉ huy Trung đoàn nhận thức sâu sắc vấn đề xây dựng trận địa phòng ngự phải kiên cố, để anh em tin tưởng vào khả năng phòng ngự thắng lợi của mình, về cách đánh trong phòng ngự, tôi rất tâm đắc đối với hình thức vận động tiến công kết hợp chốt. Theo đó ta dùng một bộ phận chốt, còn đại bộ phận tiến công. Đây là một hình thức chiến thuật phù hợp và được vận dụng hiệu quả trong chiến dịch này, tôi rất tâm đắc với chiến thuật này.


Trung đoàn 335 là một trong ba lực lượng cơ động chiến dịch

Trong kế hoạch tác chiến, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức 2 thành phần lực lượng: Lực lượng phòng ngự và lực lượng cơ động. Theo đó, lực lượng cơ động chiến dịch gồm: Trung đoàn Bộ binh 335 + Trung đoàn Bộ binh 148 và đến tháng 10 năm 1972, Bộ tăng cường thêm cho chiến dịch Trung đoàn Bộ binh 88 Sư đoàn 308C. Lực lượng cơ động có nhiệm vụ sẵn sàng phái một bộ phận tăng cường các khu vực bị uy hiếp, phối hợp với lực lượng phòng ngự tại chỗ, giữ vững các cụm chốt trọng yếu hoặc phản kích khôi phục lại các khu vực địch chiếm. Nhiệm vụ chủ yếu là sử dụng tập trung, tác chiến hiệp đồng, tổ chức các trận phản kích then chốt của chiến dịch nhằm bẻ gãy các mũi, các cánh quân địch trên các khu vực đã được dự kiến.


Đối với Trung đoàn 335, nhiệm vụ cụ thể là: Cơ động đánh địch trên hướng Tây, Tây Bắc Cánh Đồng Chum và khu vực Khang Khay; cùng với Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 866 bảo vệ Phu Học - Noọng Pẹt.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Trung đoàn 335 cùng các đơn vị bạn bước vào cuộc chiến đấu kiên cường, lần lượt đánh chận các đợt tiến công của quân địch. Trải qua 4 đợt chiến đấu, từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, Trung đoàn 335 đã nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, đạp bằng mọi khó khăn và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trôn giao, góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Qua 179 ngày đêm chiến đấu ác liệt của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đối với tôi, trận đánh GM 22 vào Phu San và trận đánh Điểm cao Phu Thông (diệt 1 tiểu đoàn lính đánh thuê Thái Lan) là 2 trận đánh tiêu biểu mà Trung đoàn 335 đã hoàn thành xuất sắc. Ớ đây xin được nói thêm, qua thực tiễn giao chiến thì thấy, tinh thần chiến đấu của quân Thái Lan tốt hơn quân ngụy Lào, sức chịu đựng của quân ngụy Lào khi bị quân ta phản công không bằng quân Thái Lan; hơn nữa, quân Thái Lan tỏ ra bài bản và kinh nghiệm hơn, trước khi tấn công, chúng thường cho quân trinh sát kỹ lưỡng trận địa.


Trong chiến đấu, khi bàn giao nhiệm vụ phòng ngự cho đơn vị bạn, Trung đoàn 335 (thiêu Tiểu đoàn 2) được giao nhiệm vụ đánh chiếm Điểm cao 1608 Phu Xa Coi, phát triển vào Khang Kho. Lúc này, tư tưởng anh em cán bộ, chiến sĩ rất phấn khởi vì được thực hiện nhiệm vụ đúng với sở trường của mình là cơ động tiến công, không phải đảm nhiệm phòng ngự nữa. Tuy nhiên, cũng như các đơn vị bạn, khó khăn lớn nhất lúc bấy giờ là vấn đề cơ động hỏa lực từ vị trí Trung đoàn đến vị trí đánh GM 22 (khoảng 20km). Đây là vấn đề ta đã nhìn ra trước khi tiến hành chiến dịch và chủ động trong phương án bảo đảm tiếp tế. Phát huy tinh thần, ý chí quyết chiến, quyết thắng, đạp bằng mọi thử thách, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã hoàn thành tốt việc bảm đảm vận chuyển vũ khí, đạn dược, nước uống và lương thực phục vụ đánh dài ngày. Cuối cùng, Trung đoàn 335 đã đánh chiếm được Điểm cao 1608 Phu Xa Coi, phát triển vào Khang Kho. Đồng thời, tạo điều kiện cho Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C truy kích địch chạy về Tôm Tiêng. Thắng lợi này cùng với kết quả của quân ta giành được trên hướng Đông Bắc và hướng Tây đã góp phần vào thắng lợi chung của chiến dịch. Thật vinh dự và tự hào khi bản thân tôi cùng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 335 Quân tình nguyện Việt Nam được tham gia và góp phần vào thắng lợi của một chiến dịch lớn trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Lào anh em. Sau chiến dịch, tôi được tặng thưởng Huân chương Chiến công Cánh Đồng Chum. Đây là phần thưởng cao quý không chỉ đối với cá nhân tôi mà đó là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước và Quân đội nước bạn dành cho Quân tình nguyện Việt Nam, trong đó có Trung đoàn 335.


Một thắng lợi có ý nghĩa chiến lược và để lại nhiều kinh nghiệm quý

Chiến thắng của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 có ý nghĩa to lớn, ta đã phá được một tiền lệ có tính quy luật trên một địa bàn chiến lược: Mùa khô ta đánh chiếm Cánh Đồng Chum, nhưng đến mùa mưa, do khó khăn trong công tác bảo đảm hậu cần, ta chủ động rút quân, địch chiếm lại. Song, lần này ta kiên quyết đứng lại trong mùa mưa và đã giành được thắng lợi, từ đây Cánh Đồng Chum vĩnh viễn là căn cứ địa trọng yếu của ta.


Thắng lợi của chiến dịch có một ý nghĩa quan trọng về đường lối chỉ đạo chiến tranh cách mạng của Đảng ta, nó khẳng định trong chiến tranh không chỉ có hình thức tiến công, phản công, mà còn có cả phòng ngự. Đó là tất yếu. Do đó, cần phải nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm tác chiến phòng ngự để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ khi tình hình thực tế thay đổi. Làm tốt điều này sẽ góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật quân sự độc đáo của chiến tranh nhân dân Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo.


Trong tác chiến phòng ngự ờ một khu vực chiến lược, vận động tiến công kết hợp chốt là hình thức phù hợp, hiệu quả. Trên cương vị là Trung đoàn trưởng, tôi cho rằng, đây là một trong những nét đặc sắc nhất về cách đánh trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972.


Từ thực tiễn chỉ huy đơn vị tác chiến trong một chiến dịch lớn trên đất bạn Lào, tôi nhận thức rõ vai trò quan trọng của người chỉ huy. Bên cạnh những yêu cầu chung, phải thật sự gương mẫu, tiêu biểu trong mọi nhiệm vụ, thì một yêu cầu không thể thiếu được đó là phải sâu sát, nắm vững tâm tư, nguyện vọng của anh em nhằm xây dựng ý chí, quyết tâm và lòng tin của cán bộ, chiến sĩ. Chỉ khi nào người chỉ huy nắm chắc được ý định của trên, tập trung được ý chí, quyết tâm và sự tin tường của anh em cán bộ, chiến sĩ thì sẽ đạp bằng mọi khó khăn, thử thách, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #87 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:25:30 am »

NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC VỀ CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ
CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Đại tá NGÔ DOANH
Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 335, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng năm 1972


Tiểu đoàn Bộ binh 2 trong đội hình Trung đoàn 335 đã tham gia chiến đấu trên 3 hướng Tây, Nam và Tây Bắc với 3 trong 4 đợt của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cách đây đã 50 năm. Là chỉ huy tiểu đoàn, những kỷ niệm về những trận đánh cam go, khốc liệt; về tinh thần chiến đấu dũng cảm, không quản khó khăn, gian khổ, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ; về mối đoàn kết liên minh đặc biệt giữa quân đội hai nước Việt Nam - Lào cùng hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao... luôn in đậm trong tâm trí tôi.

1. Trận đánh GM 21, GM 26 tại Bản Sang trong đợt 2 chiến dịch, ngày 30 tháng 8

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chốt giữ Phu Mộc - khu vực Loong Chẹng, Trung đoàn 335 về đứng chân ở khu vực Bản Son làm lực lượng cơ động của chiến dịch. Ngày 21 tháng 8 năm 1972, địch dùng 72 lần chiếc máy bay trực thăng đổ GM 21 (GM - Groupement Mobile - Binh đoàn cơ động) xuống khu vực các điểm cao 1202 và 1098 (Đông Bắc Phu Keng 5km). Ngày hôm sau, địch tiếp tục dùng 100 lần chiếc trực thăng đổ GM 26 xuống khu vực Bản Sang, mở rộng bàn đạp chuẩn bị tiến công đánh chiếm Phu Keng. Có thể nói, đây là 2 GM mạnh của địch mà đơn vị chúng tôi phải chiến đấu trong chiến dịch này. Trung đoàn 335 (thiếu Tiểu đoàn Bộ binh 1 đang hoạt động ở Phu Xan) được Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao nhiệm vụ, có pháo binh chi viện và xe tăng phối thuộc, phối hợp với Tiểu đoàn 2 và Tiểu đoàn 701 Quân giải phóng nhân dân Lào cùng lực lượng giữ chốt của Trung đoàn 866 (Phu Keng) tiến hành phản đột kích, tiêu diệt GM 21 và GM 26.


Ngày 29 tháng 8, các lực lượng tham gia trận phản đột kích đã vào vị trí tập kết và đêm hôm đó đã vào chiếm lĩnh vị trí xuất phát tiến công an loàn, bí mật. 6 giờ sáng ngày 30 tháng 8, dưới sự chi viện của pháo mặt trận, các đơn vị ta đồng loạt nổ súng tiến công. Phối hợp với Tiểu đoàn 3 từ hướng Bắc, Tiểu đoàn 2 từ hướng Đông Bắc tiến công GM 21 ở các điểm cao 1202, 1098. Bị tiến công bất ngờ, địch tháo chạy về hướng cầu sắt qua sông Nậm Ngừm, bị lực lượng phục kích tiêu diệt một số và hơn 200 tên bị nước lũ cuốn trôi, một bộ phận rút chạy về hướng Bàn Sang co cụm cùng GM 26 chống trả quyết liệt. Để nhanh chóng giải quyết trận đánh, chiều 30 tháng 8, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định tăng cường 4 xe tăng T-59 cho Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 335 phối hợp với Tiểu đoàn 2 Quân giải phóng nhân dân Lào (có 4 xe tăng) tổ chức tiến công địch. Địa hình khu vực Bản Sang đồi thấp, cây thưa, (tại đây, 8 năm trước, vào ngày 18 tháng 5 năm 1964, Tiểu đoàn 2 chúng tôi đã chiến đấu tiêu diệt 1 trung đoàn tăng Coong Le, bắt sống, bắn cháy và thu toàn bộ xe tăng). 18 giờ 30 phút ngày 30 tháng 8, được pháo binh chi viện, lực lượng ta và bạn đồng loạt tiến công. Phát hiện các lực lượng ta tiến công, địch tháo chạy về hướng đồi Năm Mỏm, nhưng bị lực lượng phục kích của chiến dịch tiêu diệt, bắt sống. Sáng ngày 31 tháng 8, ta và bạn tiếp tục trung kích, tiêu diệt và bắt nhiều quân địch. Đến ngày 3 tháng 9, trận phản đột kích kết thúc, ta tiêu diệt tổng cộng 679 tên, bắt 43 tên, thu nhiều vũ khí, GM 21 và GM 26 bị tổn thất nặng nề. Có thể nói, đây chính là trận đánh hiệp đồng tiêu biểu giữa Trung đoàn 335 và Quân giải phóng nhân dân Lào đạt hiệu suất chiến đấu cao, được Bộ Tư lệnh Chiến dịch biểu dương ngay sau đó.


2. Trận đánh Tiểu đoàn chiếm đóng 619 quân Thái Lan (BC619) tại Điểm cao Phu Thông ngày 26 tháng 9 năm 1972

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ trận phản đột kích tiêu diệt GM 21 và GM 26 ở Tây Bắc Cánh Đồng Chum, Trung đoàn 335 về đứng chân tại khu vực Bản Son, còn Tiểu đoàn 2 chúng tôi về đứng chân tại Phu Hè, làm nhiệm vụ cơ động do Bộ Tư lệnh Chiến dịch trực tiếp chỉ huy, công tác hậu cần bảo đảm do Trung đoàn 866 đảm nhiệm. Sau khi Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 866 không đánh chiếm được Phu Thông - Bản Thang do BC619 địch chiếm giữ. Ngày 18 tháng 9, Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 2 (được Trung đoàn 335 tăng cường 2 khẩu cối 120mm và 2 khẩu 12,7mm) phối hợp với Tiểu đoàn 8 của Trung đoàn 866 tổ chức tiến công BC619 địch tại Điểm cao Phu Thông.


Sau khi nhận nhiệm vụ, tôi cùng đồng chí Chính trị viên, đồng chí Tiểu đoàn phó và cán bộ các đại đội đã trinh sát Điểm cao Phu Thông. Theo Cơ quan Tác chiến Mặt trận thông báo về báo cáo của Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 866 thì ở Phu Thông địch mới chiếm, chưa có hàng rào và công sự vững chắc. Nhưng khi đi trinh sát, phát hiện Điểm cao Phu Thông đã có công sự và 5 hàng rào thép gai, chúng tôi nhận định hệ thống này có từ khi địch tiến công lấn chiếm Cánh Đồng Chum hồi cuối năm 1971. Từ đó, chúng tôi nhanh chóng hoàn thành phương án đánh chiếm Điểm cao Phu Thông báo cáo Bộ Tư lệnh Chiến dịch, về lực lượng, Tiểu đoàn sẽ sử dụng 2 đại đội tiến công Điểm cao Phu Thông, 1 đại đội dự bị. Về cách đánh, dùng mìn định hướng ĐH20 phá hàng rào, quét mìn mở cửa cho bộ binh tiến công. Sử dụng hỏa lực Trung đoàn tăng cường cùng với chi viện của pháo binh Mặt trận bắn phá trận địa phòng ngự của địch, chi viện cho các hướng mũi tiến công đánh chiếm Điểm cao Phu Thông. Thời gian nổ súng dự kiến là 5 giờ ngày 26 tháng 9 năm 1972. Để bảo đảm chắc thắng, đồng chí Lê Linh, Chính ủy Chiến dịch cùng các cán bộ Phòng Tác chiến Mặt trận đến kiểm tra trực tiếp tại thực địa. Đồng chí Lê Linh nhất trí, động viên cán bộ Tiểu đoàn phải xây dựng quyết tâm chiến đấu cho anh em, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tin tường vào quyết tâm chiến đấu của Tiểu đoàn vì đơn vị đã có kinh nghiệm trong trận tiến công Điểm cao Phu Keng tháng 12 năm 1971. Cán bộ Phòng Tác chiến Mặt trận cũng tham gia cùng chúng tôi một số biện pháp trong tổ chức hiệp đồng chiến đấu, bảo đảm chắc thắng.


Sau 5 ngày chuẩn bị, đêm 25 tháng 9, Tiểu đoàn và các đơn vị tăng cường, phối thuộc đã vào vị trí triển khai chiến đấu. Theo kế hoạch, 5 giờ ngày 26 tháng 9 sẽ nổ súng tiến công, nhưng lúc này trận địa pháo của mặt trận chi viện cho Tiểu đoàn báo cáo không quan sát được mục tiêu vì sương mù dày đặc. Đợi 20 phút sương mù vẫn chưa tan, pháo vẫn chưa khai hỏa được. Trong khi đó, ở vị trí xuất phát chiến đấu, anh em các đơn vị lại quan sát rõ quân địch đi lại trong chiến hào. Đồng chí Bùi Xuân Mầm, Tiểu đoàn phó đề nghị cho nổ mìn phá rào, vì 2 quả mìn ĐH20 như 2 chiếc nón đặt trước hàng rào, nếu địch phát hiện sẽ lộ hướng tiến công. Tôi báo cáo về Sở Chỉ huy Chiến dịch tình hình trên và đề nghị cho phép Tiểu đoàn nổ súng mà không chờ pháo mặt trận chi viện nữa, quyết tâm của Tiểu đoàn sẽ sử dụng hỏa lực Trung đoàn tăng cường trực tiếp chi viện cho bộ binh đánh chiếm Phu Thông.


Đề nghị của Tiểu đoàn được Bộ Tư lệnh Chiến dịch đồng ý. Đúng 5 giờ 30 phút ngày 26 tháng 9, tôi ra lệnh nổ mìn định hướng phá rào, làm hiệu lệnh cho các trận địa cối 120mm và súng máy phòng không 12,7mm cùng hỏa lực của Tiểu đoàn đồng loạt nổ súng bắn phá trận địa phòng ngự của địch. Khi điểm hóa, mìn định hướng chỉ nổ được 1 quả, tôi điện lệnh đồng chí Mầm cho anh em dùng lựu đạn kích nổ quả thứ hai, anh em đã buộc 4 quả lựu đạn để kích nổ quả mìn định hướng thứ 2. Sau 10 phút hỏa lực bắn phá trận địa phòng ngự, mìn định hướng đã quét sạch hàng rào, cửa mở đã mở, tôi ra lệnh cho Đại đội 7 ở hướng chủ yếu, và Đại đội 8 ở hướng thứ yếu, đồng loạt nổ súng đánh chiếm mỏm 1 và 2 Điểm cao Phu Thông, cối 120 và 82mm chuyển làn bắn vào khu vực Sở Chỉ huy của BC619, súng máy phòng không 12,7mm khóa tầm, hướng bắn tầm cao trên đầu để bộ binh xung phong (đây là cách đánh tiến công sở trường của Tiểu đoàn những năm trước đó ở Nậm Bạc - Luông Phabăng và trận tiến công Phu Keng ngày 20 tháng 12 năm 1971). Sau 20 phút, với tinh thần chiến đấu dũng cảm, Tiểu đoàn đã hoàn toàn làm chủ Điểm cao Phu Thông, Đại đội 7 và Đại đội 8 tiếp tục phát triển đánh chiếm Sở Chỉ huy BC619, địch tháo chạy về hướng Nam. Tôi quyết định cho Đại đội 6 dự bị vào chiến đấu, toàn Tiểu đoàn truy kích địch xuống Điểm cao 1276, Bản Khổng, diệt thêm một số địch, hoàn thành nhiệm vụ tiến công đánh chiếm Điểm cao Phu Thông.


Sau trận đánh, theo thông báo của Cơ quan Mặt trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng Tư lệnh đã gọi điện cho Tư lệnh Chiến dịch biểu dương Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh thiệt hại nặng BC619 địch, chiếm Điểm cao Phu Thông, đạt hiệu suất chiến đấu cao, góp phần cùng các lực lượng bạn bẻ gãy hướng tấn công hướng Tây của địch vào Cánh Đồng Chum. Lời khen ngợi của Đại tướng Tổng Tư lệnh là nguồn cổ vũ, động viên rất lớn với cán bộ, chiến sĩ toàn tiểu đoàn chúng tôi, tiếp tục xây dựng quyết tâm trong thực hiện các nhiệm vụ tiếp theo. Sau trận tiến công Phu Thông, Tiểu đoàn 2 trở về đội hình chiến đấu của Trung đoàn 335, tổ chức các trận đánh địch ở khu vực phía Nam Cánh Đồng Chum.


Trong đó, tham gia trận phản đột kích quyết định ngày 26 tháng 10 năm 1972 ờ Nam Phu Tâng và Cha Ho.

Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng đã giành thắng lợi hoàn toàn. Đây là thắng lợi của quyết tâm mà Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Chỉ huy tối cao Quân giải phóng nhân dân Lào, trực tiếp là Bộ Tư lệnh Chiến dịch liên quân Việt Nam - Lào đã đề ra: Xóa bỏ quy luật của những năm trước đây trên chiến trường Lào (điển hình là Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng) là ta tiến công đánh chiếm trong mùa khô, đến mùa mưa do điều kiện bảo đảm tác chiến của ta hạn chế, quân địch lại tổ chức nống lấn và chiếm lại; sau đó, ta lại phải tổ chức chiến dịch tiến công mới.


Là người trực tiếp tham gia chiến dịch, tôi nhận thấy: Thành công của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng thể hiện tài nghệ lãnh đạo, chỉ huy sáng suốt của Bộ Tư lệnh Chiến dịch liên quân Việt Nam - Lào. Trước tiên, chúng ta đã phân tích nhận định đánh giá đúng về địch: về số lượng các lực lượng địch sẽ tiến công lấn chiếm trên từng hướng, từng trận; đánh giá đúng điểm mạnh, yếu, khả năng chiến đấu của từng đối tượng chiến đấu, trong đó có các binh đoàn cơ động và lính Thái Lan; thủ đoạn và hình thức tiến công của địch trên từng hướng, từng trận đánh. Cùng với đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch đã đánh giá, khơi dậy được quyết tâm, khả năng chiến đấu của từng đơn vị ta và bạn, sử dụng lực lượng phòng ngự, cơ động hợp lý; tin tường, kiểm tra, động viên, bảo đảm hậu cần, cơ sở vật chất cho chiến dịch, cho từng trận đánh đáp ứng kịp thời; phát huy được sức chiến đấu trong từng trận đánh, các đơn vị đều hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, công tác tổ chức hiệp đồng chiến đấu giữa ta và bạn Lào đã bảo đảm hết sức chặt chẽ, linh hoạt, thích hợp trong từng trận đánh, góp phần quan trọng vào thắng lợi trận then chốt quyết định, kết thúc toàn thắng Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Những trận chiến cam go, khốc liệt của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 335 nói riêng và nhiều đơn vị khác của liên quân Việt - Lào nói chung trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng dù đã diễn ra cách đây 50 năm, song vẫn in đậm trong tôi với niềm vinh dự, tự hào lớn lao. Tôi luôn tin tưởng lịch sử hào hùng đó của Quân đội ta sẽ luôn được phát huy trong các thế hệ tiếp theo, tiếp tục lập nên những chiến công mới, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, tươi đẹp, giữ vững và phát huy truyền thống quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào thủy chung son sắt vì sự nghiệp xây dựng, phát triển của mỗi nước.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #88 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:27:46 am »

ĐÓNG GÓP CỦA ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC TỈNH NGHỆ AN VỚI CÁCH MẠNG LÀO TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC

Đồng chí NGUYỄN THỊ THU HƯỜNG
Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nghệ An


Cùng dựa lưng vào dải Trường Sơn hùng vĩ, cùng uống nước dòng Nậm Nơn, Nậm Mộ, Nghệ An (Việt Nam) và Xiêng Khoảng (Lào) có chung đường biên giới dài 167,626km, là láng giềng gần gũi, cùng chung sống lâu đời và có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau trên nhiều mặt. Với vị trí chiến lược "kề vai sát cánh", địa bàn Nghệ An - Xiêng Khoảng là nơi quần tụ, sinh sống của cư dân nhiều tộc người: Kinh, Thái, Mông, Khơ Mú, Thổ, Ơ Đu, Lào Lùm, Lào Xủng, Lào Thơng... Truyền thống văn hóa, lịch sử đã gắn kết tình cảm nhân dân hai bên biên giới. Mặc dù nguồn gốc ít có nét chung, nét tương đồng, nhưng dân cư hai bên biên giới Việt Nam - Lào luôn sống hòa thuận hữu hảo. Từ lâu, nhân dân hai bên biên giới đã coi nhau như anh em, cùng làm chung nương rẫy, uống chung dòng nước, đi chung con đường. Họ sống với nhau rất đoàn kết, thương yêu nhau, cùng chia ngọt, sẻ bùi, truyền cho nhau những kinh nghiệm trong lao động sản xuất, hỗ trợ nhau trong kháng chiến chống ngoại xâm. Nhân dân hai bên biên giới còn gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ thân tộc, dòng họ, thường xuyên qua lại thăm thân và giao lưu văn hóa với nhau.


Mối quan hệ văn hóa - tộc người trên, cùng với "số phận lịch sử" của hai dân tộc đã tạo lập nên truyền thống đoàn kết chiến đấu chong ngoại xâm của nhân dân hai nước Việt Nam - Lào. Trong suốt chiều dài lịch sử của mình, hai dân tộc Việt Nam và Lào phải tiến hành nhiều cuộc đấu tranh chống lại các thế lực ngoại bang, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Và trong cuộc trường chinh gian khổ đó, hai dân tộc đã giúp đỡ nhau, cùng chung chiến hào chiến đấu chống kẻ thù chung, hình thành nên truyền thống đoàn kết liên minh bên chặt, trở nên "đặc biệt" và là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng hai nước trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.


Với vai trò, vị trí là địa bàn chiến lược, là căn cứ hậu phương quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nghệ An còn là căn cứ địa của cách mạng Lào và luôn coi việc đoàn kết chiến đấu với quân, dân Lào là nhiệm vụ thiết thân của mình. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ và hàng trăm chuyên gia các ngành giáo dục, y tế, nông nghiệp, công nghiệp, văn hóa, lâm nghiệp có trình độ chuyên môn giỏi được giao nhiệm vụ đi giúp đỡ nhân dân các bộ tộc Lào tại Xiêng Khoảng. Tất cả đã liên tục bám trụ, sát cánh cùng lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân bạn chiến đấu, sản xuất, xây dựng cơ sở chính trị, xây dựng phong trào quần chúng từ khi cách mạng bạn gặp khó khăn, bị vây ép, phải phân tán đối phó với các hoạt động truy quét của địch, cũng như khi bạn hồi phục, phát triển, mở các cuộc tiến công, các chiến dịch lớn tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng cho đến khi cách mạng bạn toàn thắng (1975).


Đóng góp của quân và dân tỉnh Nghệ An với cách mạng Lào trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thể hiện ở nhiều sự kiện, trong đó có thể kể đến Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là kết quả đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sức mạnh đoàn kết liên minh chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam và Lào; trong đó có sự đỏng góp hết sức to lớn của quân và dân tỉnh Nghệ An.


Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của hai dân tộc Việt Nam - Lào, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là địa bàn có vị trí chiến lược không chỉ với cách mạng Lào mà còn đối với cả chiến trường chung ba nước Đông Dương. Nơi đây, Mỹ tập trung các hoạt động quân sự quan trọng và lớn nhất ở Lào, với mục tiêu là chiếm giữ địa bàn chiến lược chống lại cách mạng Lào, đánh phá vùng căn cứ địa của cách mạng Lào, ngăn chặn sự tiến công của lực lượng cách mạng từ phía Bắc xuống Viêng Chăn.


Phía Bắc Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là tỉnh Sầm Nưa (nay là Hủa Phăn) - căn cứ địa của Mặt trận Lào yêu nước; phía Đông giáp Nghệ An (Việt Nam); phía Tây là Quốc lộ 13 qua Sa La Phu Khun nối liền cố đô Luông Phabăng với Thủ đô Viêng Chăn. Khu vực Cánh Đồng Chum là một cao nguyên rộng lớn, có độ cao trung bỉnh trên 1.000m, có rừng rậm, núi cao hiểm trở và những lòng chảo rộng, bằng phẳng. Trong khu vực này có 8 sân bay, là những căn cứ không quân của địch. Máy bay địch có thể hoạt động cả khu vực rộng lớn đối với nước Lào và miền Bắc Việt Nam.


Đối với Đông Dương, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là một hướng chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, có quan hệ mật thiết với việc bảo vệ trị an vùng biên giới Việt Nam - Lào, đặc biệt liên quan chặt chẽ đến hành lang vận chuyển chiến lược từ miền Bắc Việt Nam cho các chiến trường ở Đông Dương. Khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là trung tâm chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt", "Chiến tranh đặc biệt tăng cường" của đế quốc Mỹ và tay sai ở Lào. Ta và bạn xác định cần tăng cường lực lượng, quyết tâm bảo vệ vững chắc khu vực này.


Trên chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, địch đã huy động lực lượng quân đội Vương quốc, lực lượng đặc biệt Vàng Pao, lực lượng đánh thuê Thái Lan cùng với các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ tiến công đánh chiếm khu vực cao nguyên Xiêng Khoảng để xây dựng thành cụm phòng ngự chiến lược kiên cố vững chắc của chúng nhằm đe dọa quét sạch lực lượng cách mạng và phá hủy căn cứ cách mạng ở Thượng Lào, ngăn chặn từng bước phong trào đấu tranh cách mạng của quân và dân Lào.


Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, Nghệ An xác định đóng vai trò là một căn cứ địa, đồng thời là hậu phương cung cấp nhân tài, vật lực cho cách mạng Lào. Sau phiên gặp gỡ và làm việc giữa lãnh đạo hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng về tăng cường hợp tác toàn diện, từ ngày 10 đến ngày 15 tháng 3 năm 1969, đoàn đại biểu tỉnh Xiêng Khoảng do đồng chí Xổm Váng - Tỉnh trưởng dẫn đầu đã sang thăm và hội đàm với đoàn đại biểu Nghệ An do đồng chí Chu Mạnh - Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh làm Trưởng đoàn. Cuộc hội đàm đã mở ra một bước ngoặt mới, trên tinh thần kết nghĩa anh em đã được xác lập, hai bên đã thống nhất kế hoạch hợp tác toàn diện tất cả các mặt kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Theo đó, về kinh tế - xã hội, Nghệ An sẽ giúp Xiêng Khoảng phát triển nông nghiệp, thủy lợi, giao thông, vận tải, lâm nghiệp, thương nghiệp, y tế, văn hóa, giáo dục. Về quốc phòng - an ninh, hai bên đã thống nhất phương án chiến đấu, xây dựng cơ sở, mở rộng vùng giải phóng, củng cố biên giới hữu nghị giữa hai tỉnh. Trong đó chủ yếu là lực lượng vũ trang Nghệ An sẽ phối hợp với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào nói chung và tỉnh Xiêng Khoảng nói riêng mở các đợt hoạt động, các chiến dịch giải phóng đất đai, xây dựng vùng giải phóng.


Trên cơ sở đó, để thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ Xiêng Khoảng về kinh tế - xã hội, Ban Công tác miền Tây Nghệ An được tăng cường thêm cán bộ, có nhiệm vụ giúp Ủy ban Hành chính tỉnh triển khai các nhiệm vụ. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nhân lực, nhưng hàng trăm cán bộ, kỹ sư, y bác sĩ, giáo viên có chuyên môn và kinh nghiệm được điều động sang giúp bạn. Cùng với đôi ngũ chuyên gia là các đoàn xe cơ giới, thô sơ, thuyền mảng gùi thồ chuyển sang Xiêng Khoảng các thiết bị, vật tư hàng hóa nhu yếu phẩm, lương thực, muối ăn, dầu thắp. Mặc dù còn phải khắc phục hậu quả của chiến tranh phá hoại, dốc sức chi viện chiến trường miền Nam nhưng nhân dân Nghệ An vẫn tăng cường nhân tài, vật lực cho cách mạng Lào. Đó là sự kế tục truyền thống quan hệ hữu nghị đặc biệt anh em.


Với phương châm "giúp bạn là mình tự giúp mình", dưới sự chỉ huy của Tỉnh đội, lực lượng vũ trang Nghệ An nhanh chóng triển khai thế trận, phối hợp với quân và dân Lào mở đợt hoạt động mùa khô năm 1968, tiến công đánh phá toàn bộ sào huyệt của địch, giải phóng Mường Ngàn. Chiến dịch Mường Ngàn bắt đầu ngày 2 tháng 2 năm 1968, ta lần lưọt giải phóng toàn bộ tuyến phòng thủ Mường Ngàn, đánh chiếm Tha Thơm, Phu Mừn, Mường Mày, Bôrikhan. Sau những tháng luồn rừng nắm địch, dũng cảm chiến đấu, đến tháng 5 năm 1969, chiến dịch kết thúc thắng lợi. Ta và bạn quét sạch quân phỉ trên khu vực áp sát biên giới Lào - Việt về phía sông Nậm Mộ tại Mưòng Mộc, giải phóng 500 dân khỏi ách kìm kẹp của chúng, làm chủ các vùng rừng núi sát biên giới như Tham Tạt, Mường Ngạt, Phùng Mái, mở ra vùng giải phóng mới, đẩy địch ra xa biên giới, nối thông hai tỉnh Xiêng Khoảng và Bô Ly Khăm Xay, nối Quốc lộ 7 với Quốc lộ 8. Vùng mới giải phóng ở cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng trở thành bàn đạp thuận lợi cho các hoạt động tiếp theo đánh sâu vào sào huyệt của địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1704



« Trả lời #89 vào lúc: 21 Tháng Tám, 2023, 08:29:08 am »

Tháng 7 năm 1969, địch tập trung lực lượng lớn tiến hành cuộc hành quân mang tên "Cù Kiệt" với mục tiêu đánh phá căn cứ địa Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng của cách mạng Lào. Trước tương quan lực lượng không cho phép đối diện trực tiếp với kẻ thù, Trung ương Đảng Nhân dân Lào đã chỉ thị cho lực lượng kháng chiến Lào cùng với nhân dân tỉnh Xiêng Khoảng lui quân về các huyện miền núi Nghệ An để bảo loàn lực lượng và chờ thời cơ phản công. Do đó, vấn đề đảm bảo địa bàn và cung cấp cho bạn, nhất là cho cơ quan kho tàng của bạn trở nên cấp bách. Ngày 20 tháng 9 năm 1969, Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An ra Chỉ thị số 105-CT/TU gửi 3 huyện Tương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn nêu rõ: "Coi đây là nhiệm vụ của tỉnh ta phải hết sức giúp đỡ bạn tạo điều kiện thuận lợi cho bạn tiếp tục đưa cách mạng tiến lên". Tinh ủy đã cử đồng chí Trần Văn Cung, Ủy viên Thường vụ Tinh ủy trực tiếp chỉ đạo việc tổ chức đón tiếp nhân dân Xiêng Khoảng. Được sự chỉ đạo sát sao của Tinh ủy, nhân dân các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông đã chuẩn bị chu đáo nơi ăn, chốn ở, trường học, bệnh xá, lương thực, thuốc men cho nhân dân Lào sang tạm trú và tổ chức đón tiếp, cưu mang, giúp đỡ hơn 1 vạn đồng bào Mường Kliun, Mường Pẹc, Mường Ngàn và gia đình quân nhân Xiêng Khoảng sang sơ tán chu đáo, an toàn. Trong suốt 3 năm (1969 - 1972), nhân dân hai tỉnh Nghệ An - Xiêng Khoảng sống chung như con em một nhà, cùng ăn, cùng ở, sản xuất và chiến đấu; tổ chức truy bắt biệt kích, bắt giặc lái máy bay Mỹ bị bắn rơi. Con em hai tỉnh đều đến trường học chung trong một mái trường - mái trường tình nghĩa do Bác Hồ tạo dựng. Các chiến sĩ Quân tình nguyện và chuyên gia Nghệ An đang chiến đấu, công tác ở Xiêng Khoảng đã coi những bản làng, dòng sông, đồng ruộng Lào như quê hương mình, yêu quý nhân dân bạn như đồng bào minh, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả.


Để đánh bại âm mưu của địch, hai Đẳng, hai quân đội thống nhất tăng cường lực lượng, phối hợp mở chiến dịch phản công Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (còn gọi là Chiến dịch 139 hay Chiến dịch Toàn thắng) đánh bại cuộc hành quân Cù Kiệt, khôi phục, mở rộng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, tạo thế và lực mới cho cách mạng Lào. Các đơn vị lực lượng vũ trang Nghệ An tham gia chiến dịch này gồm có: Tiểu đoàn 42, Đại đội Đặc công 18, Đại đội Trinh sát 19, Đại đội Cao xạ 52, Đại đội 212 huyện Kỳ Sơn và 1.800 dân công hỏa tuyến phục vụ chiến đấu. Trải qua 6 tháng chiến đấu (25.10.1969 - 25.4.1970), lực lượng vũ trang Nghệ An đã phối hợp với các lực lượng quân tình nguyện và lực lượng vũ trang cách mạng Lào đập tan cuộc hành quân Cù Kiệt, phá tan nhiều cụm phi, diệt 5 tiểu đoàn, đánh thiệt hại 10 tiểu đoàn, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 6.500 quân địch (chiếm 71% lực lượng địch tham gia cuộc hành quân Cù Kiệt), bắn rơi và phá hủy 117 máy bay, thu 597 súng các loại; giải phóng một vùng rộng lớn khoảng 6.000km2 với hơn 16.000 dân, nối liền vùng giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng - Mường Sủi - Sảm Thông - Nam Căng Xẻng - Sen Chồ với Sầm Nưa và 4 tỉnh Bắc Lào1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển I: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 201. Mục từ Chiến dịch Toàn Thắng (Chiến dịch 139; Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, 25.10.1969 - 25.4.1970)). Với thắng lợi của chiến dịch này, quân và dân Nghệ An đã góp phần quan trọng làm thất bại âm mưu của Mỹ là kéo dài và mở rộng chiến tranh ở Lào; từ đó tạo chuyển biến về so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng Lào, mở ra triển vọng cả về quân sự, chính trị và ngoại giao trong việc giải quyết vấn đề Lào. Trong chiến công này, lực lượng vũ trang Nghệ An đã tiêu diệt hơn 430 tên, làm bị thương 36 tên, bắt 9 tên, quy hàng 30 tên, thu hơn 100 súng các loại, hàng trăm tấn lương thực và phương tiện chiến tranh, giải phóng hơn 20.000km2, 3.000 dân. Chiến thắng đánh bại cuộc hành quân Cù Kiệt là biểu hiện sinh động mối quan hệ gắn bó của quân và dân hai nước Việt - Lào, trong đó có sự giúp đỡ của quân, dân Nghệ An đối với bạn.


Trước tình hình đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra khắp Đông Dương nhằm ngăn chặn thế và lực của cách mạng ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương (4.1970) đã họp và ra tuyên bố khẳng định lập trường đoàn kết, liên minh chiến đấu giữa quân và dân ba nước, quyết tâm chiến đấu đưa cuộc kháng chiến mau tới thắng lợi. Sức mạnh đoàn kết chiến đấu của liên quân Việt - Lào được phát huy cao độ trong Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào (1971) và Chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi (Chiến dịch Z) (18.12.1971 - 6.4.1972).


Trong năm 1972, quân và dân Nghệ An tiếp tục phối hợp tốt với quân và dân tỉnh Xiêng Khoảng tiến công tiêu diệt phỉ, mở rộng vùng giải phóng cho bạn, phối hợp với các chiến trường khác ở Lào và với toàn chiến trường Đông Dương. Theo kế hoạch chung của Chiến dịch 972, lực lượng vũ trang Nghệ An tác chiến trên Mặt trận 772. 1.000 dân công hỏa tuyến Nghệ An đã tích cực cùng lực lượng vũ trang tinh (gồm Tiểu đoàn 40, Tiểu đoàn 43 và một số đại đội binh chủng, Đại đội 221 của huyện Tương Dương) phối hợp với quân, dân huyện Mường Mộc vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở cho bạn. Chiến dịch 972 thắng lợi, toàn bộ hang ổ của BS2251 (BS là phiên hiệu lực lượng đặc biệt Vàng Pao) và Sở Chỉ huy GM 25 của lực lượng đặc biệt Vàng Pao ở đây bị phá tan, ta tiêu diệt 75 tên, trong đó có tên trung tá chỉ huy Binh đoàn.


Bị thất bại trên chiến trường miền Nam và thua đau trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, nhất là trong cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972, cũng như thất bại ở Lào, đế quốc Mỹ và tay sai buộc phải ký Hiệp định Pari (27.1.1973) lập lại hòa bình ở Việt Nam và Hiệp định Viêng Chăn (21.2.1973) lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào. Trước tình hình mới, Đảng Nhân dân cách mạng Lào coi trọng việc củng cố, tăng cường đoàn kết chiến đấu Lào - Việt Nam. Trong lúc phong trào đấu tranh cách mạng Lào có những chuyển biến mới, thắng lợi to lớn của quân dân Việt Nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cách mạng ở mỗi nước trên bán đảo Đông Dương. Nắm vững thời cơ chiến lược, Đảng Nhân dân cách mạng Lào phát động đấu tranh với ba đòn chiến lược (nổi dậy của quần chúng nhân dân; tiến công bằng quân sự gây áp lực; nổi dậy, ly khai của binh lính Viêng Chăn), kết hợp với mũi đấu tranh pháp lý giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, kết thúc cuộc kháng chiến cứu nước giải phóng dân tộc suốt 30 năm, đưa cách mạng Lào chuyển sang giai đoạn mới.


Từ khi hai nước ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác (18.7.1977) đến nay, sự hợp tác giữa Nghệ An và Xiêng Khoảng ngày càng được tăng cường củng cố. Hằng năm, lãnh đạo hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng và lãnh đạo giữa các huyện Kỳ Sơn với Noọng Hét, Mường Mộc, giữa các xã chung biên giới đã tổ chức những chuyến thăm chính thức, giao ban, giao lưu văn nghệ và thể thao; liên hoan hữu nghị nhân dân hai nước Việt Nam - Lào...; ký biên bản hữu nghị và hợp tác trên các mặt: Nông - lâm nghiệp, thúy lợi, giao thông vận tải, xây dựng, thương mại, du lịch, giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật và quốc phòng - an ninh... Hai tỉnh Nghệ An và Xiêng Khoảng đã vượt qua khó khăn, gian khổ, hợp tác và hỗ trợ nhau hoàn thành việc xây dựng đường biên giới Việt Nam - Lào hòa bình, hữu nghị và phát triển. Các chiến sĩ Bộ đội Biên phòng và Công an hai bên ngày đêm canh giữ bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia, vận động đồng bào bảo vệ cột mốc quốc giới, không di, dịch cư trái phép; không buôn bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hàng cấm, vũ khí, chất nổ, ma túy, không nghe theo luận điệu xấu của các thế lực thù địch, truyền đạo trái phép... Các hoạt động trên đã góp phần tăng cường mối quan hệ gắn bó lâu đài của nhân dân hai bên biên giới, góp phần giữ vững ổn định, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.


Một trong những điểm sáng trong hoạt động đối ngoại nhân dân giữa tỉnh Nghệ An và các tỉnh chung biên giới Xiêng Khoảng, Hủa Phăn và Bô Ly Khăm Xay là phong trào kết nghĩa 21 cặp bản; giao lưu văn hóa, thể thao Ngày đoàn kết toàn dân; phòng, chống dịch bệnh COVID-19, khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí, tặng quà cho nhân dân Lào; tổ chức các phiên chợ đoàn kết để bán hàng có chất lượng cho bà con hai bên biên giới với giá ưu đãi; hỗ trợ chuyển giao công nghệ; hướng dẫn kỹ thuật cho phía Lào trong lĩnh vực chăn nuôi, trông trọt để nâng cao năng suất, giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế bền vững khu vực biên giới...


Hiện nay, cách mạng hai nước đã chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ độc lập, phát triển đôi mới và hội nhập của mỗi quốc gia phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nghệ An - Xiêng Khoảng sẽ phát huy thuận lợi cơ hội mới, khắc phục khó khăn, thử thách, kề vai sát cánh, giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong thời kỳ đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, góp phần đưa quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới cả bề rộng lẫn chiều sâu; không ngừng bồi đắp tình hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM