Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 10:43:55 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: 50 năm chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng  (Đọc 3565 lần)
0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #70 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2023, 04:54:39 pm »

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Đại tá, TS LÊ HỒNG ĐIỆP
Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 7


Trên cơ sở nhận định, đánh giá tình hình cách mạng miền Nam và thế chiến lược của cách mạng ba nước Đông Dương tháng 2 năm 1972, Hội nghị Quân ủy Trung ương xác định, phải nắm lấy thời cơ thuận lợi, tập trung lực lượng đánh địch bằng ba đòn chiến lược: Đòn tiến công của bộ đội chủ lực trên những hướng chiến lược có lợi cho ta, nhằm tiêu diệt lớn và đánh quỵ chủ lực ngụy đòn tiến công và nổi dậy ở nông thôn đồng bằng quan trọng, đẩy mạnh chiến tranh du kích và phong trào nhân dân nổi dậy giải phóng thôn, xã; đòn đấu tranh của nhân dân trong các đô thị, kết hợp đấu tranh cách mạng của quần chúng, làm rối loạn hậu phương địch, khoét sâu mâu thuẫn nội bộ ngụy Sài Gòn, mâu thuẫn giữa Mỹ với tay sai "giành thắng lợi to lớn, tạo nên so sánh lực lượng và cục diện mới có lợi cho ta, buộc địch phải chấm dứt chiến tranh năm 1972 theo điều kiện của ta, đồng thời, có sự chuẩn bị mọi mặt để tiếp tục đánh mạnh hơn nữa vào mùa khô 1972 - 1973 nếu địch còn ngoan cố kéo dài chiến tranh"1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Hà Nội, 1987, tr. 21).


Nằm trong thế trận liên hoàn của ba nước Đông Dương, Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là địa bàn chiến lược quan trọng. Đối với cách mạng Việt Nam, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng là khu vực tác chiến trọng yếu bảo vệ tuyến vận tải chiến lược từ miền Bắc Việt Nam vào chiến trường ba nước Đông Dương. Đây là khu vực ta và địch giành giật quyết liệt; ta chưa đủ sức giữ, còn địch thì quyết chiếm lại. Từ thực tiễn chiến trường và thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Bộ Chính trị Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Lào; Quân ủy Trung ương Đảng hai nước quyết định mở Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng nhằm đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan trong mùa mưa năm 1972, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào và thu hút địch, chia lửa cho chiến trường khác trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, với 244 trận đánh. Liên quân Việt - Lào đã loại khỏi vòng chiến đấu gần 6.000 tên địch, đánh thiệt bại nặng 3 binh đoàn cơ động (GM 21, GM 23, GM 26) của quân đội phái hữu Lào, 3 tiểu đoàn quân Thái Lan, đánh thiệt hại 5 binh đoàn cơ động khác (GM 15, GM 22, GM 24, GM 30, GM 32)1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Sđd, tr. 62-63). Địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum được giữ vững, thế trận liên hoàn giữa các vùng căn cứ địa của cách mạng Lào được bảo đảm, sườn phải của hướng tiến công chiến lược Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên của Quân giải phóng miền Nam được bảo vệ.


Phối hợp với Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, trên chiến trường miền Đông Nam Bộ, lực lượng vũ trang và nhân dân bước vào giai đoạn 2 của cuộc tiến công chiến lược 1972. Thực hiện chủ trương của Trung ương Cục miền Nam, lực lượng chủ lực Miền, chủ yếu là Sư đoàn 7 chuyển sang nhiệm vụ chốt chặn nhằm thu hút và tiêu diệt địch, giải tỏa An Lộc và Đường số 13, phát triển tiến công về hướng trung tuyến. Trung đoàn 209 (Sư đoàn 7) chốt chặn Đường số 13 từ Tàu Ô (Nam thi xã An Lộc) đến Cây Cầy (cách Chơn Thành 4km về phía Bắc) cắt đứt mọi tiếp tế của địch cho An Lộc bằng đường bộ. Để giải tỏa An Lộc và Đường số 13, địch liên tục đánh phá khu vực chốt chặn, đồng thời dùng lực lượng nhỏ liên tục thăm dò, chỉ điểm cho pháo binh và không quân đánh phá. Các đơn vị Trung đoàn 209 (Đoàn Bắc Thái) ngoan cường chiến đấu giữ vững từng thước đất, tiêu diệt từng phân đội, đại đội đến tiểu đoàn địch. Hỏa lực của Trung đoàn chi viện đắc lực cho bộ binh, kiềm chế các trận địa pháo của địch từ Ngã ba Xóm Ruộng đến Trại Cưa. Cuối tháng 7 năm 1972, Sư đoàn 7 tăng cường một bộ phận binh chủng cho Trung đoàn 209 tiểp tục chốt chặn, trong khi lực lượng còn lại của Sư đoàn tiến công tuyến phòng ngự vòng trong của địch, hỗ trợ lực lượng địa phương chống địch bình định vùng trung tuyến. Tháng 8 năm 1972, một bộ phận đặc công, kết hợp với súng cối và hỏa tiễn, bất ngờ tập kích căn cứ Lai Khê, diệt 1 tiểu đoàn biệt động quân, bắn cháy 19 xe quân sự của địch. Địch điều Chiến đoàn 49 đến ứng cứu, ta tổ chức phản kích và truy kích, đánh thiệt hại nặng Chiến đoàn 49 Sư đoàn 25 tại khu vực Bắc Bàu Bàng loại khỏi vòng chiến đấu 600 tên, bắt 84 tên, thu 170 súng1 (Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 - 1975), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 774). Địch buộc phải rút chạy khỏi khu vực Tàu Ô, bỏ luôn kế hoạch giải tỏa Đường số 13 đoạn Chơn Thành - Hớn Quản. Một bộ phận Sư đoàn 9 (chủ lực Miền) tham gia chiến đấu trong đội hình Sư đoàn 7, trong đó Đại đội 5 đã đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 9 Xe tăng và Chi đoàn 33 Cơ giới của Sư đoàn 5 ngụy. Qua 5 tháng phản công trên Đường số 13, Quân giải phóng Miền diệt và đánh thiệt hại nặng 2 chiến đoàn và 5 tiểu đoàn, 3 chi đoàn thiết giáp, diệt 5 pháo đội, diệt và bắt 8.100 tên (bắt 211 tên) phá hủy 202 xe (có 128 xe tăng), 102 khẩu pháo 105 và 155mm1 (Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 -1975), Sđd, tr. 775). Từ đầu tháng 10 năm 1972, phần lớn lực lượng Sư đoàn 7 và Sư đoàn 9 Quân giải phóng Miền phát triển xuống Phú Hòa Đông, vây ép Minh Hòa, Rạch Bắp, Dầu Tiếng. Đến ngày 10 tháng 10 năm 1972, ta đã mở được các khu vực Thái Hòa (Đường số 13), Chánh Lưu (Đường số 14) An Lợi, Hòa Lợi, Phú Chánh (Đường số 15). Từ ngày 23 tháng 10 năm 1972, các đơn vị đánh địch phản kích ở Đường số 14, Đường số 13, đến đầu và giữa tháng 11 năm 1972 ta phát triển xuống Bắc Phú Lợi, Bắc Đường số 5, tạo thế uy hiếp địch ở vùng Bắc Sài Gòn.


Cùng với hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực Miền, tại các tỉnh trên địa bàn miền Đông Nam Bộ, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực liên tục tổ chức lực lượng đánh tiêu diệt, tiêu hao địch.


Tại Bà Rịa - Long Khánh, tháng 5 năm 1972, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp với các đơn vị chủ lực Miền tổ chức nhiều trận, tiêu biểu: Từ ngày 17 tháng 5 đến ngày 5 tháng 6 năm 1972, Tiểu đoàn 445 đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn bảo an đóng ở chân núi Da Quy, cách thị trấn Đất Đỏ 2km. Tiếp đó, Tiểu đoàn 445 tiến công chi khu Đất Đỏ, phục kích đánh thiệt hại nặng lực lượng ứng cứu (Tiểu đoàn 302 Bảo an, Chiến đoàn 43, Liên đoàn 5 Biệt động quân). Sau hơn 17 ngày trụ lại Đất Đỏ đánh diệt viện, Tiểu đoàn 445 rút về phối hợp cùng một đơn vị của Trung đoàn 4 (chủ lực Miền) chặn đánh Liên đoàn 5 Biệt động quân, rồi chuyển về cống Bà Lá (Đường số 23), chặn địch tiếp viện cho Xuyên Mộc; đêm 24 rạng sáng ngày 25 tháng 10 năm 1972, một phân đội của Đại đội 25 phối hợp với du kích xã Long Điền và du kích xã An Ngãi bám ấp Long Sơn làm bàn đạp tiến công vào chi khu Long Điền. Địch điều 1 tiểu đoàn của Sư đoàn 18 ngụy, 1 đại đội biệt kích (PRU) từ Long Hải lên phản kích. Lực lượng ta bám trụ chống trả đánh lui nhiều đợt, diệt và làm bị thương hàng trăm tên, kết hợp chặt chẽ với mũi chính trị và binh vận mở rộng vùng giải phóng, nâng cao thế làm chủ tại xã, ấp, tạo thêm bàn đạp, củng cố thế cài răng lược trên chiến trường... góp phần quan trọng vào thắng lợi của đợt "mở mảng, mở vùng" của quân và dân trong tỉnh.


Tại Thủ Dầu Một1 (Nay là tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước) các lực lượng vũ trang địa phương đã khắc phục khó khăn, tự lực, tự cường, liên tục bám trụ chiến đấu đưa phong trào du kích chiến tranh phát triển đều, rộng, nhất là huyện Châu Thành, Nam Bến Cát; kết hợp ba mũi đánh phá bình định, đưa phong trào đấu tranh chính trị, binh vận của quần chúng có bước phát triển. Ở khu vực trọng điểm, lực lượng vũ trang địa phương phối hợp lực lượng chủ lực tổ chức nhiều trận, tiến công tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch, tiêu biểu như: Ngày 8 tháng 6 năm 1972, Đội 7 Biệt động thị xã Thủ Dầu Một, tập kích địch đóng bốt Chánh Lộc (Hiệp Thành), đánh sập 4 lô cốt, 8 nhà hầm, phá hủy 3 súng đại liên, 3 máy vô tuyến điện PRC25; thu 3 súng AR15, diệt 64 tên2 (Đảng ủy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Dương, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bình Dương (1945 - 2005), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2010, tr. 381). Ngày 7 tháng 7 năm 1972, Huyện đội phó Châu Thành - Nguyễn Công Giàu chỉ huy 9 chiến sĩ đặc công, đột kích bốt Bưng Cầu, xã Định Hòa, đánh thiệt hại nặng trung đội dân vệ. Đêm 11 rạng ngày 12 tháng 8 năm 1972, Đội chốt Lai Khê phối hợp với lực lượng đặc công Đoàn 429 của Miền, tập kích vào căn cứ Lai Khê, đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 250 Pháo binh, Tiểu đoàn Công binh, kho dự trữ thiết bị máy móc... loại khỏi vòng chiến đấu hơn 400 tên, phá hòng 7 khẩu pháo 105mm và 155mm, đánh sập 124 căn nhà bạt lính1 (Đảng ủy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Bình Dương, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Bình Dương (1945 - 2005), Sđd, tr. 384)... Sau hơn 5 tháng tiến công và nổi dậy, quân và dân Thủ Dầu Một đã giải phóng một số vùng từ Bưng Còng đến ấp chiến lược Suối Dứa và 6 xã vùng Bắc Bến Cát, mở rộng bàn đạp Tân Uyên, Châu Thành, Bắc Lái Thiêu, nối liền phía trước với vùng giải phóng phía sau.


Tại Biên Hòa (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), lực lượng vũ trang tỉnh được sự hỗ trợ của chủ lực Miền đồng loạt chiếm lĩnh giành dân. Tháng 8 năm 1972, các chiến sĩ đặc công U1 (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) đột kích kho Long Bình phá hỏng 127 căn nhà2 (Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ khang chiến (1945 - 1975), Sđd, tr. 775). Trưa ngày 9 tháng 9 năm 1972, lực lượng đặc công thuộc Trung đoàn Đặc công N3 do Trần Công An chỉ huy tiến đánh sân bay Biên Hòa, tiêu diệt nhiều địch, phá hủy và phá hỏng 175 máy bay các loại3 (Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ khang chiến (1945 - 1975), Sđd, tr. 775). Từ ngày 24 tháng 10 đến ngày 5 tháng 11, các lực lượng vũ trang địa phương diệt 2 đồn bốt, 8 lô cốt dọc các đường số 17, số 19 (Nhơn Trạch), Đường số 15 (Long Thành), Đường số 24 (Vĩnh Cửu), Đường số 1 (Trảng Bom); làm chủ 29 ấp từ 4 đến 8 ngày, cắt đứt các đường số 1, số 15, số 17, số 194 (Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai, Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Đồng Nai, Tập II (1954 - 1975), Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2000, tr. 118-119)...


Tại Kiến Tường (nay thuộc tỉnh Long An), tháng 6 năm 1972, Sư đoàn 5 tiến công chốt biên giới Long Khốt. Nắm thời cơ, bộ đội địa phương phối hợp với bộ đội chủ lực giải phóng xã Trí Bình Trung và kết hợp với các trung đoàn 1 và 3 của Quân khu 8 tham gia chiến dịch tiến công tổng hợp tiêu diệt 1 căn cứ, 15 đồn tua, bắn rơi 18 máy bay, bắn cháy 22 xe bọc thép, loại khỏi vòng chiến đấu 22.000 tên địch, giải phóng 14 xã. Ta giải phóng cơ bản vùng 4, phần lớn vùng 8 và vùng 6, đưa gần 8.000 dân trở về vùng 41 (Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ khủng chiến (1945 - 1975), Sđd, tr. 776).


Tại Long An, các lực lượng vũ trang luồn sâu vào vùng yếu xây dựng được nhiều lõm chính trị, tạo thế đứng chân lâu dài. Hoạt động tác chiến phát triển mạnh ở Đức Hòa, tháng 8 năm 1972, du kích Hòa Khánh tổ chức phục kích đánh đoàn xe địch từ Hiệp Hòa về Bàu Trai với 1 trái mìn và 10 tay súng ta đã đánh cháy 1 xe GMC diệt 40 tên địch, thu 31 súng, trong đó có 1 súng cối 60mm, 1 súng đại liên, 2 súng M79. Tháng 9 năm 1972, du kích Hòa Khánh lại phối hợp với bộ đội huyện chặn đánh Tiểu đoàn 320 Bảo an tại ấp Thố Mố, diệt 30 tên địch. Cùng thời gian, ở An Ninh, du kích phối hợp với bộ đội bức rút các đồn An Thạnh, An Hòa, An Thuận. Tại xã Mỹ Hạnh, mũi binh vận xây dựng cơ sở phối hợp hạ đồn Giồng Lớn. Trong năm, lực lượng vũ trang tỉnh tổ chức đánh địch 680 trận, trong đó diệt và làm bị thương 5.723 tên địch, trong đó có 1 trung tá tỉnh phó tỉnh Hậu Nghĩa và 1 đại úy tiểu đoàn trưởng bảo an, 17 tề xã, 21 tề ấp, bắt 68 tên địch, bắn rơi 15 máy bay, bắn chìm 41 tàu xuồng, phá hủy 39 xe quân sự, thu 618 súng các loại và nhiều trang bị2 (Đảng ủy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Long An, Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Long An (1945 - 2005), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2010, tr. 347-348).
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #71 vào lúc: 30 Tháng Sáu, 2023, 04:55:31 pm »

Tại Tây Ninh, trong năm 1972, lực lượng vũ trang Tây Ninh phối hợp chặt chẽ với quân chủ lực Miền tiến công địch trên 462 trận lớn nhỏ, loại khỏi vòng chiến đấu 6.072 tên địch, bắt 299 tên, làm rã ngũ 3.211 tên; diệt gọn 1 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội bảo an; đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn chủ lực, 2 liên đội bảo an. Ta diệt trên 30 cụm chốt, đồn, bốt, tua, giải phóng toàn bộ vùng phía Bắc Tây Ninh, giải tán 23 đội phòng vệ dân sự, bắn cháy 50 xe quân sự các loại, 2 máy bay lên thẳng, 17 tàu; phá hủy 8 khẩu pháo, 13 văn phòng tề xã, ấp, 7 cầu, 7 cống, thu 813 súng các loại. Ta vận động được 200 thanh niên bổ sung cho lực lượng vũ trang tĩnh và huyện, phát triển được 300 cơ sở nòng cốt, du kích mật trong các "ấp chiến lược"1 (Đảng ủy, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Tây Ninh, Lịch sử lực lượng vũ trang tỉnh Tây Ninh (1945 - 2010), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr. 264).


Tại Sài Gòn - Gia Định, quán triệt chỉ thị của Quân khu, ba thứ quân của thành phố đã tác chiến đạt hiệu quả trên cả ba mặt quân sự, chính trị, binh vận. Một số trận đánh đã tác động mạnh tới tinh thần quân địch. Tiểu đoàn Quyết Thắng đánh sập nhà làng Thái Mỹ, tập kích tại Gò Nổi, diệt 57 tên thuộc Sư đoàn 21 ngụy (đêm 8.7.1972). Đoàn 89 pháo kích vào các căn cứ Trung Hòa, Rạch Bắp, Lai Khê, Bến Cát và Sở Chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy ở Đồng Dù, diệt gần 50 tên. Tiểu đoàn Đặc công 4 tiêu diệt bốt Trung Hưng, tiêu diệt và bị thương 39 tên, bắt 7 tên (10.8.1972). Du kích mật đánh chất nổ vào quán ăn Trảng Bàng, diệt 33 tên (8.8.1972)... Đặc biệt vào những tháng cuối năm 1972, thời kỳ chuẩn bị ký Hiệp định Pari, địch nỗ lực giành dân lấn chiếm, tung ra những cuộc càn lớn đốt phá nhà cửa đồng bào, hòng gom dân trở lại các ấp chiến lược. Các đơn vị tập trung và du kích Bắc Chi đã liên tục đánh trúng đối tượng bảo an nống ra từ Trung Hòa, Suối Cụt, chốt chặn cắt đứt Đường số 1 nhiều ngày; đồng thời, thọc sâu xuống Nam Chi, đánh địch từ trong các ấp chiến lược. Nổi bật nhất là trận phòng ngự chống càn tại ấp chiến lược Tân Thạnh Đông của Tiểu đoàn Quyết Thắng ngày 27 tháng 12 năm 1972, đánh thiệt hại nặng 1 tiểu đoàn ngụy tăng cường, diệt 250 tên, thu nhiều vũ khí2 (Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, Lịch sử lực lượng võ trang Thành phố Hồ Chí Minh (1945 - 2015), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 465). Cùng với sự vươn lên của lực lượng tập trung cơ động, trong năm 1972, phong trào du kích chiến tranh nhân dân phát triển mạnh. Các đơn vị cơ quan và dân quân du kích đã sưu tầm được 14.822 quả bom, pháo lép, 2.782kg thuốc nổ, 50.000 viên đạn các loại, tự chế tạo được 3,5 tấn vũ khí, 3.867 đầu nổ, trái gài, làm 870 hầm chông, 5.000 cạm bẫy... góp phần tiêu hao nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Tính chung trong năm 1972, lực lượng vũ trang thành phố đã đánh 995 trận, loại khôi vòng chiến đấu 8.300 tên, phá hủy và đánh hỏng 201 xe quân sự (phần lớn là xe tăng và thiết eiáp), bắn rơi 36 máy bay, bắn chìm và cháy 82 tàu, xuồng chiến đấu, diệt và bức rút 54 đồn bốt, thu 556 súng các loại và 5 tấn chiến lợi phẩm... Vũ trang tuyên truyền phát động 243.000 lượt quần chúng, tổ chức 857 cuộc đấu tranh chính trị trực diện với địch, gồm 92.500 lượt người tham gia, vận động làm rã ngũ 2.000 phòng vệ dân sự, 568 lính bảo an, hàng nghìn gia đình trở về vùng giải phóng1 (Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, Lịch sử lực lượng võ trang Thành phố Hồ Chí Minh (1945 - 2015), Sđd, tr. 466). Qua đó, góp phần đánh bại chương trình bình định của Mỹ - ngụy. Vùng ven đã giành lại thế chủ động chiến trường, thay đổi tương quan lực lượng so sánh tại chỗ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động tiếp theo, giành ưu thế khi có giải pháp chính trị.


Nhìn chung, cuộc tiến công chiến lược 1972 trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đã đạt được mục tiêu và các yêu cầu chủ yếu. Quân và dân miền Đông Nam Bộ đã loại khỏi vòng chiến đấu 76.000 tên địch (riêng chủ lực 67.000 tên), diệt 5 chiến đoàn (thiếu), 16 tiểu đoàn bộ binh, 3 trung đoàn thiết giáp, đánh quỵ Sư đoàn 5 ngụy, đánh thiệt hại 8 sở chỉ huy cấp sư đoàn, lữ đoàn, chiến đoàn, 6 tiểu đoàn, lữ đoàn và trung đoàn, 23 tiểu đoàn bộ binh, bắn rơi và phá hủy 897 máy bay, phá hủy, phá hỏng 1.081 xe quân sự (có 407 xe tăng và thiết giáp), 7.000 súng các loại, 433 máy thông tin, trên 13.000 đạn pháo, trên 40.000 viên đạn cối, trên 10.000 đạn rốc két...2 (Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử miền Đông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 -1975), Sđd, tr. 780). Thắng lợi của quân và dân miền Đông Nam Bộ trong cuộc tiến công chiến lược 1972 đã tạo điều kiện cho các địa phương của Nam Bộ tiếp tục tiến công chống địch bình định; mở rộng vùng giải phóng, hoàn thiện căn cứ Bộ Chỉ huy Miền tại Tà Thiết; làm thay đổi một bước quan trọng về so sánh lực lượng giữa ta và địch, giành lại thế chủ động về chiến lược; tạo ra thế và lực mới có lợi cho ta trên toàn chiến trường Nam Bộ.


Cùng với thắng lợi ờ Trị - Thiên, Tây Nguyên và Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, thắng lợi của quân và dân miền Đông Nam Bộ đã góp phần giữ vững thế liên trận hoàn trên chiến trường ba nước Đông Dương; đồng thời, có tác động to lớn buộc Mỹ - ngụy phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972) là chiến dịch phòng ngự hoàn chỉnh đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào, với cách đánh sáng tạo, hiệu quả đã giành được thắng lợi to lớn. Từ thực tiễn tác chiến Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và hoạt động tác chiến trên chiến trường miền Đông Nam Bộ đã để lại những bài học quý về chuẩn bị lực lượng, xây dựng thế trận và khu vực phòng thủ chiến tranh nhân dân, về nghệ thuật tác chiến và liên minh chiến đấu với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân ba nước Đông Dương.


Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tồ quốc của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta diễn ra trong bối cảnh tình hình an ninh, chính trị thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp. Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biên giới, biển, đảo diễn ra căng thẳng, phức tạp, quyết liệt. Các nước trong khu vực tiếp tục gia tăng các hoạt động, yêu sách chủ quyền, nhất là ở những vùng biển giáp ranh, nhạy cảm, chưa phân định. Trong bối cảnh đó, những bài học trên được lực lượng vũ trang Quân khu 7 vận dụng vào quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng, xây dựng tuyến phòng thủ biên giới trên địa bàn Quân khu 7, đặc biệt trong xây dựng lực lượng vũ trang, huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, xây dựng khu vực phòng thủ và thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập và phát triển.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #72 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 07:56:43 am »

QUÂN VÀ DÂN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG PHỐI HỢP VỚI CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Đại tá NGUYỄN VĂN LỢI
Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 9


Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước gian khổ của dân tộc ta, năm 1972 có vị trí đặc biệt quan trọng, tạo ra bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến với những thắng lợi có tính chất quyết định trên cả hai miền Nam - Bắc, cả trong đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao. Trên chiến trường Đông Dương, đế quốc Mỹ đẩy mạnh "Việt Nam hóa", "Lào hóa", "Khơme hóa" chiến tranh, rút dần quân chiến đấu Mỹ và quân đồng minh của Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh.


Đầu tháng 3 năm 1972, Thường vụ Quân ủy Trung ương căn cứ vào chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị và thực tế chiến trường đã quyết định điều chỉnh phương án tiến hành cuộc tiến công chiến lược trong năm 1972 trên toàn miền Nam. Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, cuối tháng 3 và đầu tháng 4 năm 1972, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của Quân giải phóng miền Nam bắt đầu bằng các chiến dịch tiến công ở Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, kết hợp với các chiến dịch tiến công tổng hợp ở Đồng bằng sông Cửu Long và Khu 5, giáng đòn sấm sét vào quân đội và chính quyền ngụy Sài Gòn. Khi quân và dân ta trên chiến trường miền Nam mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972, thì đồng thời, trên chiến trường Lào và Campuchia, Quân tình nguyện Việt Nam đã cùng với quân và dân Lào, Campuchia đẩy mạnh các hoạt động tiến công mở rộng vùng giải phóng.


Trước và trong khi Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào tiến hành Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, trong thế phối hợp chiến trường chung toàn Đông Dương, chiến trường Đồng bằng sông Cửu Long cũng tiến hành nhiều hoạt động tác chiến phối hợp. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Miền, Quân khu 9 tích cực chuẩn bị lực lượng mở đợt tiến công tổng hợp gồm nhiều cao điểm liên tục dài ngày lấy tên "Chiến dịch Nguyễn Huệ II" để phối hợp với chiến trường chung. Quân khu chọn địa bàn U Minh, Chương Thiện làm trọng điểm 1. Trọng điểm của tỉnh có liên quan đến trọng điểm của Khu gồm: Huyện Long Mỹ (Cần Thơ), huyện Giồng Riềng (Rạch Giá), huyện Mỹ Xuyên (Sóc Trăng). Yêu cầu của chiến dịch là giải phóng cơ bản vùng U Minh, Cà Mau, chọc thủng được một số mảng trọng điểm của Chương Thiện ở Giồng Riềng và Nam - Bắc Long Mỹ, lấy đó làm bàn đạp tiến công mở mảng, vùng ở Bạc Liêu, Cần Thơ, tạo cơ sở vững chắc để từng bước giải phóng miền Tây. Trọng điểm 2 của Quân khu là Vĩnh - Trà (Vĩnh Long và Trà Vinh ngày nay).


Với ý định tác chiến đó, tại khu vực trọng điểm 1, Quân khu bố trí các trung đoàn 1 và 2 cùng lực lượng pháo binh và đặc công Quân khu ở Chương Thiện, Trung đoàn 10 ở Cà Mau, Trung đoàn 20 ở An Biên, lực lượng các cơ quan Quân khu đảm nhiệm khu vực các tuyến sông Trẹm, Xẻo Rô, Cái Tàu, Tiểu đoàn Tây Đô ở Bắc Long Mỹ, Tiểu đoàn Phú Lợi ở Mỹ Xuyên, Tiểu đoàn 207 ở Rạch Giá; tại trọng điểm 2, Trung đoàn 3 (2 tiểu đoàn) và bộ đội Vĩnh Long tác chiến ở Tam Bình, Vĩnh Long.


Thực hiện lời kêu gọi của Trung ương Cục "phải tiến công như Tết Mậu Thân, tiến quân như Nguyễn Huệ, diệt to như Điện Biên Phủ", đêm mùng 6, rạng ngày 7 tháng 4, ta đồng loạt nổ súng tiến công mở đầu cao điểm 1 chiến dịch tiến công nổi dậy đánh phá bình định ở Khu 9 năm 1972. Tại trọng điểm 1, Trung đoàn 2 (thiểu) tiến công tiêu diệt cơ bản chi khu, quận lỵ Ngang Dừa, đánh thiệt hại nặng cuộc hành quân giải tỏa của một bộ phận Trung đoàn 21 và 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 16 thuộc Sư đoàn 9 quân đội Sài Gòn. Tiếp đó, lực lượng chủ yếu của Trung đoàn 16 phân tán xuống các địa phương kết hợp với du kích và nhân dân tiến công nổi dậy diệt đồn, phá ấp chiến lược và khu tập trung, giành quyền làm chủ. Cùng thời gian này, sau khi tiến công diệt cứ điểm Thanh Long (xã Vĩnh Viễn), tập kích tiêu hao Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 15 của địch ở khu vực đồn Út Lờ, Trung đoàn 1 phân tán lực lượng xuống kết hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương phá 9 đồn, giải phóng hoàn toàn xã Vĩnh Viễn, Long Mỹ, Cần Thơ (nay thuộc tỉnh Hậu Giang). Phối hợp tác chiến với chủ lực Quân khu, bộ đội huyện Long Mỹ tập kích diệt đồn Hội Đồng Sửu, xã Thuận Hưng, hỗ trợ quần chúng nổi dậy bức hàng đồn Ba Phát. Ở Bắc Long Mỹ, Tiểu đoàn Tây Đô (Cần Thơ) sau khi diệt gọn căn cứ Quang Phong đã phối hợp với du kích và nhân dân các xã Phước Bình, Hòa An, Long Bình, Long Trị, tiến công và nổi dậy diệt ác, phá kìm giành quyền làm chủ. Tại Giồng Riềng, Tiểu đoàn Đặc công 2012 tập kích diệt yếu khu Thát Lát xã Vĩnh Hòa Hưng, bộ đội Sóc Trăng diệt yếu khu Rạch Gò, đánh thiệt hại nặng phân khu Chợ Kinh, bức hàng, bức rút 6 đồn bảo an thuộc huyện Mỹ Xuyên.


Trên địa bàn U Minh, đêm mùng 6 tháng 4, Trung đoàn 10 đánh chiếm căn cứ Bà Thày và Nổng Cạn thuộc xã Khánh Lâm; sử dụng hỏa lực tập kích gây thiệt hại nặng căn cứ cầu Chữ Y, xã Khánh Bình Tây; sử dụng phân đội trinh sát đột nhập thị xã Cà Mau, đánh vào cơ quan tham mưu Sư đoàn 21 của địch. Cùng lúc đó Trung đoàn 20 tiến công các căn cứ Sư đoàn 9 của địch dọc tuyến An Biên, diệt căn cứ Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 16 của địch đóng tại Xẻo Bần. Hầu hết các cơ quan Quân khu bộ cũng khẩn trương vào cuộc. Cán bộ, chiến sĩ Phòng Chính trị vây bức các đồn Đồng Chà, Rọ Ghe; Phòng Tham mưu đánh các đồn Cán Gáo, Kênh 13, Kênh 20, Kênh 24 thuộc địa phận sông Trẹm; Phòng Hậu cần tiến công đồn Bỏ Mũ, Nhị Biện trên tuyến sông Cái Tàu. Ở trọng điểm 2, theo kế hoạch đã định, đêm mùng 6 tháng 4 Trung đoàn 3 tiến công diệt gọn yếu khu Thầy Phó, xã Hựu Thành (Trà Ôn, Vĩnh Long), sau đó trụ lại đánh lực lượng phản kích giải tỏa của 4 tiểu đoàn bảo an và 1 tiểu đoàn chủ lực địch. Ngày 7 tháng 4, Tiểu đoàn bộ đội địa phương tinh Vĩnh Long diệt chi khu Bình Minh; Tiểu đoàn 501 Trà Vinh sau khi diệt yếu khu Tập Ngãi (Tiểu Cần) đã phân tán xuống địa phương hỗ trợ du kích và nhân dân nổi dậy mở mảng, giải phóng địa bàn Te Te - Hùng Hòa - Tập Ngãi và xây dựng nơi đây thành căn cứ của tỉnh.


Với những thắng lợi giành được trong tháng 4, Quân khu 9 đã góp phần rất quan trọng vào thắng lợi chung của toàn miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, góp phần căng kéo, buộc địch phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện cho các lực lượng ta trên các chiến trưừng ở miền Nam, tại Lào, trong đó có chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, đẩy mạnh tác chiến, tiêu diệt địch, giành thắng lợi.


Tiếp đó, để tạo bước ngoặt làm thay đổi cục diện chiến trường Tây Nam Bộ, Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo Quân khu đẩy mạnh hơn nữa nhịp độ và hiệu quả tiến công tổng hợp đánh phá bình định của địch. Yêu cầu đặt ra đối với quân và dân Khu 9 lúc này là phải tiến công nổi dậy, mở mảng lớn, tiêu diệt hàng loạt đồn bốt, chi khu của địch.


Trên địa bàn Quân khu 8, thực hiện quyết tâm và kế hoạch chiến lược của Bộ Chính trị, Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết định mở chiến dịch tiến công tổng hợp ở khu vực Nam Bắc Đường số 4. Địa bàn mở chiến dịch bao gồm một vùng rộng lớn thuộc các tình: Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong, Gò Công và Bến Tre; trải dài trên khắp 31 huyện, 5 thị xã 144 xã, 1.939 xóm ấp với diện tích trên 1 vạn kilômet vuông, dân số hơn 2 triệu người. Đây là địa bàn có chiến lược trọng yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long, địa bàn có hệ thống giao thông đường thủy ngang dọc thuận lợi như các sông Tiền, Cổ Chiên, Cửu Long, các kênh Dương Văn Dương, Nguyễn Văn Tiếp, Chợ Gạo... cùng với mạng lưới đường bộ dọc ngang nối với Đường số 4 tạo nên sự gắn kết giữa Sài Gòn với các tinh miền Tậy Nam Bộ. Qua 2 tháng tiến công và nổi dậy, Quân khu 8 và các địa phương đã giành được thắng lợi lớn, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch: Loại khỏi vòng chiến đấu 23.800 tên (diệt 10.930, làm tan rã 12.000 tên, bắt 700 tù binh), tiêu diệt 4 tiểu đoàn, 1 liên đội, 4 đại đội; đánh thiệt hại 16 tiểu đoàn, 10 liên đội; diệt, bức hàng, bức rút 194 đồn (diệt 67, bức rút 122), giải phóng Vùng 4 Kiến Tường, phá lỏng, phá rã hầu hét lực lượng kìm kẹp của địch trên các khu vực Nam, Bắc Đường số 4 (Mỹ Tho), nhiều vùng ở Bến Tre và một số vùng ờ Kiến Tường. Vùng 4 Kiến Tường được giải phóng tuy ít dân nhưng là địa bàn then chốt, trọng yếu của bướng sông Tiền, đảm bảo địa bàn đứng chân cho bộ đội chủ lực và cơ quan chỉ đạo, chỉ huy các cấp, mở được hành lang, tạo điều kiện thuận lợi để tiến hành chiến dịch tiến công tổng hợp với quy mô lớn trong Hè - Thu năm 1972.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #73 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 07:57:30 am »

Trên chiến trường Lào, từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, trải qua 4 đợt chiến dịch liên tục, dài ngày, liên quân Việt Nam - Lào tiến hành thắng lợi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiên cường đánh bại các cuộc tiến công quy mô lớn của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan, giữ vững địa bàn chiến lược quan trọng Cánh Đồng Chum, giữ được thế liên hoàn vững chắc giữa 3 vùng căn cứ địa cách mạng của Lào và kịp thời phối hợp với các hoạt động khác trên chiến trường ba nước Đông Dương.


Trong khi đó, trên chiến trường Quân khu 9, để phối hợp với các chiến dịch khác trong kế hoạch chung của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và với Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Quân khu đã mở 6 cao điểm tiến công tổng hợp từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1972 và giành được thắng lợi lớn: Tiêu diệt, tiêu hao, làm tan rã gần 1 vạn quân địch; tiêu diệt 6 tiểu đoàn, 1 liên đội, 1 chi đoàn, 97 đại đội, 329 trung đội, giải tán và làm tan rã 20.000 phòng vệ dân sự làm cho quân địch bị sa sút nặng nề về chất lượng. Mặc dù địch còn khống chế nhiều vùng đông dân và tiến hành bắt lính trắng trợn, tàn bạo nhưng vẫn không bù đắp được quân số tổn thất. Đến lúc này, tại chiến trường Quân khu 9, quân số địch giảm 12.000 tên so với năm 1971. Về phương tiện, quân và dân Quân khu 9 đánh chìm, cháy 213 tàu, phá hủy 234 xe quân sự, 192 khẩu pháo, bắn rơi 151 máy bay, phá hủy 51 kho, phá sập 51 cầu, thu 8.896 súng các loại và 474 máy vô tuyến điện; tiêu diệt 4 chi khu, 2 yếu khu, 6 căn cứ trung đoàn, tiểu đoàn; bức hàng, bức rút, khởi nghĩa chiếm 916 đồn, bốt (trong đó du kích và lực lượng chính trị, binh vận của xã, ấp gỡ 600 đồn). Qua các cao điểm, ta giải phóng 400 ấp, giải phóng 800.000 dân (so với cuối năm 1971, chì có 200.000 dân được giải phóng). Lực lượng vũ trang ta phát triển lớn mạnh, du kích tăng 50%, bộ đội địa phương tình, huyện tăng từ 20 - 50% quân số.


Trên địa bàn Quân khu 8, cuối tháng 5 năm 1972, Bộ Chính trị chỉ thị cho Trung ương Cục và Quân ủy Miền điều chủ lực xuống Đồng bằng sông Cửu Long mở chiến dịch tiến công tổng hợp ở Quân khu 8. Theo đó, Thường vụ Trung ương Cục và Quân ủy Miền quyết tâm sử dụng một bộ phận chủ lực Miền bất ngờ thọc sâu, chọc thủng tuyến ngăn chặn biên giới và phá vỡ tuyến ngăn chặn trung tâm Đồng Tháp Mười, bảo đảm hành lang vận chuyển; nhanh chóng thọc sâu xuống Đường số 4, dứt điểm quận lỵ, chi khu trọng yếu, làm đòn bẩy phát động quần chúng nổi dậy giải phóng phần lớn các tỉnh Mỹ Tho, Kiến Tường và một phần tỉnh Kiến Phong, sau đó phát triển mở vùng ở Gò Công và Bến Tre. Địa bàn tác chiến gồm 5 tỉnh: Mỹ Tho, Kiến Tường, Kiến Phong, Gò Công và Bến Tre, với 31 huyện, 5 thị xã, 114 xã, 139 ấp với diện tích 10.000km2, dân số hơn 2 triệu người. Kế hoạch chiến dịch kéo dài trong 3 tháng, được chia làm 3 đợt:


Đợt 1 (10 - 30.6.1972), ta loại khỏi vòng chiến đấu 5.000 tên địch, diệt gọn 1 tiểu đoàn, đánh thiệt hại nặng 8 tiểu đoàn và liên đội, tiêu diệt, bức hàng, bức rút 50 đồn bốt, giải phóng 2 xã, 30 ấp, giành lại hơn 30.000 dân, mở thêm nhiều lõm mới, bảo đảm được hành lang vận chuyển đạn dược và 2 trung đoàn chủ lực Miền xuống vùng Đồng Tháp Mười, tạo thế mới cho chiến dịch. Một số nơi, lực lượng vũ trang tại chỗ phát triển mạnh như Mỹ An, Hồng Ngự, Bến Tre, Mỹ Tho.


Đợt 2 (3 - 31.7.1972), nhằm mục tiêu nhanh chóng phát triển chủ lực Miền xuống chiến trường cùng địa phương tiến công tổng hợp mở mảng, mở vùng Nam, Bắc Đường số 4, tạo thế đứng chân vững chắc để phát triển thế tiến công. Qua gần 1 tháng đợt 2, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, đánh quỵ Liên đoàn 41 Biệt động quân (lần 2) và Chiến đoàn A Bảo an Bến Tre, tiêu diệt 7 tiểu đoàn, 15 đại đội bảo an và chủ lực, đánh thiệt hại nặng 13 tiểu đoàn và liên đội khác, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Tiểu đoàn Pháo binh 309F Quân khu bắn pháo vào khu Bình Đức, phá hủy 12 vạn tấn đạn dược của địch. Với chiến thắng của đợt 2, ta đã hình thành thế chiến dịch trên 2 khu vực: Biên giới và Nam, Bắc Đường số 4; đưa trọng điểm chiến dịch xuống Nam, Bắc Đường số 4, tạo thế căng kềm, tiêu diệt địch trên nhiều hướng, làm cho địch bất ngờ, bị động đối phó, tiếp tục bị đánh đau và suy yếu thêm. Ta có điều kiện mới để kết hợp ba thứ quân, ba mũi phát triển thế chiến dịch tổng hợp, mở mảng, mở vùng.


Đợt 3 (8.8 - 10.9.1972), phát hiện ta điều động lực lượng và hướng tiến công chủ yếu của ta, địch tập trung ngăn chặn (mở cuộc hành quân cấp quân đoàn, tăng cường máy bay B-52 đánh phá, hành quân cảnh sát...), gây cho ta nhiều khó khăn, riêng B-52 đã ném bom gây thiệt hại nặng cho 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 24. Dù vậy, cùng với các hoạt động mạnh mẽ trên khấp các địa phương, trong đợt 3 của chiến dịch, ta tiến hành các hoạt động đánh phá giao thông, tập kích vào căn cứ, kho tàng dự trữ vật chất chiến tranh của địch và thu được những kết quả quan trọng. Trong tháng 8 và tháng 9, Tiểu đoàn Công binh 27 của Miền, các đội công binh Quân khu liên tiếp đánh địch trên Đường số 4, cắt giao thông các đoạn Bưng Môn - Cai Lậy, Cai Lậy - An Hữu trong nhiều giờ. Lực lượng đặc công nước và công binh phá hủy, phá hòng nhiều tàu, thuyền quân sự của địch cơ động trên các sông Tiền, Hàm Luông, Chợ Gạo. Hai tiểu đoàn đặc công và 3 tiểu đoàn pháo binh Quân khu tổ chức nhiều đợt tập kích, bắn vào căn cứ Đồng Tâm, các chi khu Cai Lậy, Long Định, các trung tâm huấn luyện Hùng Vương, Trần Quốc Toản. Tiểu đoàn Đặc công 318 tập kích tổng kho chiến lược Bình Đức, phá hủy 2 vạn tấn hàng hóa của địch1 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), Tập VII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2013, tr. 249). Kết quả của các hoạt động này góp phần quan trọng vào thắng lợi của đợt 3 chiến dịch đánh phá bình định, mở đất, giành dân, mở thế mới và lực mới ở Khu 8. So với đợt 1 và đợt 2, trong đợt 3 chiến dịch tổng hợp đánh phá bình định ở Khu 8, ta phải đối mặt với những khó khăn lớn: Nhiều đơn vị phải chuyển địa bàn; một số đơn vị không xuống được địa bàn như ý định; hầu hết lực lượng đều tham gia chiến đấu liên tục, dài ngày, quân số, vũ khí chua kịp bổ sung, cơ quan chỉ đạo, chỉ huy; liên tục bị đối phương đánh phá... Dù vậy, nhờ nỗ lực, quyết tâm cao, bộ đội chủ lực và địa phương cùng nhân dân Khu 8 đã giành được những thắng lợi rất quan trọng.


Trải qua 93 ngày đêm hoạt động với 3 đạt tiến công và nổi dậy đánh phá bình định, quân và dân Khu 8 đã loại khỏi vòng chiến đấu 34.636 tên, tiêu diệt 16 tiểu đoàn và liên đội, 22 trung đội; đánh quỵ Trung đoàn 15 (Sư đoàn 9), Liên đoàn 41 Biệt động quân biên phòng, Chiến đoàn A Bảo an Bến Tre; bắn rơi 60 máy bay, phá hủy 126 xe M-113, 179 xe quân sự, 13 tàu, 37 khẩu pháo, 21 kho; thu 3.222 súng các loại, 261 máy thông tin... Đồng thời, ta tiêu diệt, bức hàng, bức rút 356 đồn bốt, đánh thiệt hại nặng các chi khu Long Khốt, Vĩnh Kim và yếu khu Ba Dừa, giải phóng 27 xã, 240 ấp với 240.000 dân... Cùng với quá trình tiến công và nổi dậy tổng hợp đánh phá bình định, lực lượng vũ trang Khu 8 đã có bước phát triển mạnh mẽ. Những thắng lợi này đã làm thay đổi cục diện chiến trường, góp phần quan trọng vào việc tạo thế, tạo lực cho toàn miền Nam, trước hết là trực tiếp đảm bảo vững chắc cho lực lượng vũ trang và nhân dân Khu 8 tiến lên giành thắng lợi lớn hơn trong những giai đoạn tiếp theo.


Như vậy, trong kế hoạch phối hợp chung với các chiến trường khác ở miền Nam và chiến trường chung ba nước Đông Dương, trong đó có Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng ở Lào, quân và dân Đồng bằng sông Cửu Long (Quân khu 8 và Quân khu 9 cũ) đã mở các đợt tiến công tổng hợp với nhiều cao điểm, trọng điểm, chiến đấu liên tục, dài ngày, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề, buộc chúng phải liên tục bị động điều lực lượng đi đối phó. Các hoạt động của quân và dân Đồng bằng sông Cửu Long trong năm 1972 đã kéo giãn lực lượng địch trên các chiến trường, góp phần "chia lửa" cho các lực lượng của ta và bạn Lào chiến đấu tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng trong mùa mưa năm 1972. Thắng lợi của chiến dịch phòng ngự tại Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng và những thắng lợi của quân và dân ta trên toàn Miền trong năm 1972 đã để lại những bài học kinh nghiệm sâu sắc cần được vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện tại cũng như trong tương lai.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #74 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 07:59:02 am »

MẶT TRÂN TÂY NGUYÊN PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG NĂM 1972


Thiếu tướng, TS NGUYỄN ANH TUẤN
Tư lệnh Quân đoàn 3


Chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972 là chiến dịch phòng ngự đầu tiên của liên quân Việt Nam - Lào nhằm đánh bại kế hoạch lấn chiếm mùa mưa của quân phái hữu Lào và quân đội Thái Lan, bảo vệ vùng mới giải phóng Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, giữ vững thế chiến lược của ta ở Bắc Lào; đồng thời phối hợp, bảo vệ sườn phải cho cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở chiến trường Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên. Lực lượng của ta tham gia chiến dịch này gồm 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 tiểu đoàn công binh của Quân tình nguyện Việt Nam. Lực lượng của bạn Lào có: 7 tiểu đoàn chủ lực, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội bộ đội địa phương. Lực lượng địch thuộc Quân khu 2, gồm 76 tiểu đoàn bộ binh (Thái Lan có 18 tiểu đoàn), 3 tiểu đoàn pháo binh; bố trí theo 4 khu vực quanh Cánh Đồng Chum, được không quân Mỹ chi viện1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Phiên bản điện tử, Mục từ Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5- 15.11.1972)).


Phối hợp với chiến trường Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng cùng lúc liên quân Việt Nam - Lào tiến hành công tác chuẩn bị lực lưựng và thế trận phòng ngự, các đơn vị chủ lực Mặt trận Tây Nguyên đang chuẩn bị tác chiến khu vực Bắc Tây Nguyên. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, Mặt trận Tây Nguyên mở Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên, với quyết tâm "Tích cực tạo mọi điều kiện tập trung bộ đội chủ lực và binh khí kỹ thuật mở chiến dịch tiến công; đồng thời sẵn sàng phản công đánh bại quân địch, sau đó chuyển sang tiến công và mở chiến dịch tổng hợp, phá ấp giành dân ở các tỉnh nhằm tiêu diệt một số chiến đoàn, trung đoàn, đánh quỵ sư đoàn thuộc Quân đoàn 2 và tổng dự bị ngụy, giải phóng một vài thị xã và phần lớn nông thôn, mở Tây Nguyên thành căn cứ địa rừng núi nối liền với Trị - Thiên và vùng Hạ Lào, Đông Bắc Campuchia thành căn cứ vững mạnh, rộng lớn của cách mạng ba nước Đông Dương"1 (Trích "Nghị quyết của Đảng ủy B3 về chủ trương quyết tâm chiến dịch Xuân - Hè năm 1972 ", hồ sơ số 31/NQĐU, tư liệu lưu tại Phòng Khoa học quân sự Quân đoàn 3, tr. 123).


Trước khi chiến dịch nổ ra, ở Bắc Tây Nguyên, địch hình thành 3 cụm phòng ngự: Đắk Tô - Tân Cảnh, thị xã Kon Tum và Pleiku với 27.000 quân chủ lực và hàng chục nghìn quân địa phương. Trong đó, riêng lực lượng ờ cụm Đắk Tô - Tân Cảnh, địch bố trí Sở Chỉ huy (nhẹ) Sư đoàn 22, các trung đoàn 42, 47 bộ binh, Trung đoàn 14 Thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo binh và 2 tiểu đoàn bảo an. Đây là cụm phòng ngự nòng cốt, mạnh nhất của địch ở khu vục này.


Mở màn chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên, Trung đoàn 52 được tăng cường một tiểu đoàn của Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320A tiến công vào tuyến phòng thủ Tây sông Pô Kô, vây ép đánh thiệt hại nặng Tiểu đoàn 2 Dù ở Điểm cao 1049 (Delta) và các chốt phụ cận, một vị trí có giá trị chiến thuật mở đầu chiến dịch. Địch buộc phải đưa tiếp Lữ đoàn 3 Dù ra tuyến phòng thủ bờ Tây sông Pô Kô. Để nhanh chóng đập vỡ tuyến phòng thủ ngăn chặn của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao cho Trung đoàn 64 Sư đoàn 320 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 11 Dù ở Tây Nam Điểm cao 1015 (Charlie). Từ ngày 12 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1972, quân ta tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 11 Dù, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 350 tên địch; phá hủy và thu hàng trăm khẩu súng, bắn rơi 2 máy bay. Chiến thắng Tây Nam Điểm cao 1015 của ta đã chọc thủng tuyến phòng thủ Tây sông Pô Kô, buộc sư đoàn dù địch phải co về giữ tuyến phòng ngự cơ bản Võ Định - thị xã Kon Tum, góp phần tạo thế phát triển cho toàn chiến dịch. Trung đoàn 28 tiêu diệt Tiểu đoàn 23 Biệt động quân, đánh cắt giao thông trên Đường số 14 đoạn Kon Tum - Diên Bình. Trung đoàn 95 và 1 tiểu đoàn của (Trung đoàn 24) đánh cắt giao thông Đường số 14, diệt một số đoàn xe địch gần 100 chiếc và nhiều sinh lực, buộc chúng phải huy động 2 trung đoàn (53,45) và 2 chi đoàn thiết giáp có máy bay, pháo binh chi viện giải tỏa nhưng vẫn không mở thông được đoạn đường huyết mạch này.


Sau khi chọc thủng tuyến phòng thủ ở Tây sông Pô Kô, các lực lượng vũ trang Tây Nguyên đã áp sát cụm phòng ngự Đắk Tô - Tân Cảnh của địch. Cụm căn cứ Đắk Tô - Tân Cảnh nằm ở phía Bắc thị xã Kon Tum 60km không chỉ là trung tâm chỉ huy tập đoàn phòng ngự của Mỹ - ngụy, mà còn là nơi xuất phát các cuộc hành quân đánh phá cơ sở kháng chiến và tuyến vận tải chiến lược của ta ở vùng ngã ba biên giới. Đây là cụm cứ điểm phòng ngự then chốt của địch bảo vệ hướng Bắc Kon Tum, gồm hệ thống các cứ điểm phòng ngự ở thị trấn Tân Cảnh (căn cứ 42 - Tân Cảnh), quận lỵ Đắk Tô (Đắk Tô 1) và căn cứ Phượng Hoàng (Đắk Tô 2), trong đó căn cứ 42 - Tân Cảnh là cứ điểm phòng ngự kiên cố và quan trọng nhất, do Trung đoàn 42 Bộ binh và Sở Chỉ huy tiền phương Sư đoàn 22 đóng giữ. Tại thị trấn Tân Cảnh có đến 5.000 dân, nằm giữa Đường số 14 và Đường số 18, do 2 đại đội cảnh sát và bảo an chiếm giữ. Căn cứ có chiều dài 600m, rộng 400m, bố trí hình 6 cạnh. Bên trong căn cứ địch bố trí nhiều hàng rào dây thép gai từ 11 đến 14 lớp, rộng từ 120 đến 150m, xen kẽ nhiều mìn chống tăng và bộ binh. Toàn bộ lực lượng địch ở Đắk Tô - Tân Cảnh tương đương 1 sư đoàn (thiếu), gồm 13 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp và 3 tiểu đoàn pháo binh; ngoài ra, còn có 2 trận địa pháo binh bố trí ở các điểm cao 1338, 1001 chi viện trực tiếp và được sự yểm trợ tối đa của lực lượng không quân Mỹ và quân đội Sài Gòn đóng ở Pleiku.


Chiều ngày 21 tháng 4 năm 1972, trên hướng Bắc, Sư đoàn Bộ binh 2 được tăng cường Trung đoàn 66, Tiểu đoàn Đặc công 37 cùng 1 đại đội xe tăng và một số đơn vị bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum khẩn trương triển khai thực hiện nhiệm vụ tiến công cụm cứ điểm Đắk Tô - Tân Cảnh1 (Bộ Quốc phòng - Cục Khoa học quân sự, Bách khoa loàn thư quân sự Việl Nam, Quyển 1; Lịch sử quân sự, mục từ Chiến dịch Bắc Tây Nguyên (30.3 - 5.6.1972), va mục từ Trận Đắk Tô - Tân Cảnh (24.4.1972)). Bộ binh ta nổ súng tiến công một số cứ điểm chốt giữ căn cứ, đồng thời pháo binh ta bắn phá vào trung tâm căn cứ địch. Đại đội 29 (tên lửa chống tăng B-72) lần đầu xuất trận đã bắn cháy những chiếc xe tăng địch nống ra phản kích, phá hủy 2 khẩu ĐKZ và cối 106,7mm đặt trên tháp nước trong căn cứ khiến quân địch hoảng sợ. Sau 2 ngày pháo binh các loại của ta bắn phá, hầu hết các mục tiêu lộ của địch từ lô cốt, boong ke, nhà nổi ở vòng ngoài cụm căn cứ trên hướng của mở phía Đông, Đông Nam đã bị phá hủy.


Đêm 23 rạng ngày 24 tháng 4 năm 1972, Sư đoàn 2 (thiếu) được tăng cường Trung đoàn 66, Tiểu đoàn Đặc công 37, Đại đội Xe tăng T-54, Trung đội Xe tăng PT-76, Trung đội Cao xạ 57mm, dưới sự chi viện đắc lực của pháo binh, tên lửa (B-72), tiến công căn cứ Đăk Tô - Tân Cảnh. Đến 11 giờ ngày 24 tháng 4, ta hoàn toàn làm chủ căn cứ, tiêu diệt và bắt 429 tên (trong đó có tên Đại tá Vi Văn Bình - Sư đoàn phó Sư đoàn 22). Cũng trong ngày 24 tháng 4, Tiểu đoàn Đặc công 10 và Tiểu đoàn 60 thuộc Trung đoàn Ba Gia tiến công sân bay Đắk Tô 2. Thừa thắng, ta phát triển tiến công giải phóng Diên Bình, quận lỵ Đắk Tô và Kông Hrinh.


Phối hợp với trận then chốt tiến công Đắk Tô - Tân Cảnh, từ ngày 2 tháng 4, Trung đoàn 28 cắt Đường số 14 ở Bắc Võ Định, diệt 1 chiến đoàn thiết giáp, 1 đại đội bảo an đi giải tỏa, bắt nhiều quân địch từ hướng Tân Cảnh chạy qua, pháo binh ta phá hủy 5 trực thăng khi chúng ờ Sở Chỉ huy Lữ đoàn 3 Dù tháo chạy. Ở khu vực Chư Pao - Chư Thoi, từ ngày 21 tháng 4, Trung đoàn 95 và Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 24 đưa chốt ra sát Đường số 14 chặn địch.


Sau khi Đắk Tô - Tân Cảnh bị tiêu diệt, địch ở thị xã Kon Tum hỗn loạn. Ngày 14 tháng 5 và đêm 24 rạng ngày 25 tháng 5 năm 1972, ta tiến hành 2 đợt tiến công đột phá thị xã và chiếm được Sở Chỉ huy Trung đoàn 53, khu kho 40 - 41, Biệt khu 24 và sân bay của địch. Kết quả, ta loại khỏi vòng chiến đấu 7.404 tên địch, bắn rơi 207 máy bay các loại; phá hủy, phá hỏng 849 xe quân sự (trong đó có 188 xe tăng và xe thiết giáp), thu 4.434 súng các loại 71 xe quân sự và 1 trực thăng. Những thắng lợi của Mặt trận Tây Nguyên trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên Xuân - Hè 1972, nhất là thắng lợi tại Đắk Tô - Tân Cảnh, đã đáp ứng được yêu cầu chiến lược đặt ra, phối hợp chặt chẽ với các chiến dịch trên chiến trường miền Nam, chiến trường Thượng Lào (Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng); đồng thời xây dựng hậu phương trực tiếp thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng miền Nam và Đông Dương.


Trong lúc lực lượng vũ trang Mặt trận Tây Nguyên tiến công thị xã Kon Tum thì ngày 21 tháng 5 năm 1972, địch huy động 40 tiểu đoàn ngụy Lào và quân Thái Lan được không quân Mỹ yểm trợ mở cuộc hành quân lấn chiếm Cánh Đồng Chum. Dựa trên thế trận đã chuẩn bị sẵn, bộ đội Việt Nam sát cánh cùng Quân giải phóng nhân dân Lào triển khai chiến dịch phòng ngự, đánh bại nhiều cuộc tiến công của địch, giữ vững trận địa. Trong các lực lượng tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng có Trung đoàn 866 là một trong 2 trung đoàn (cùng với Trung đoàn 148) làm nhiệm vụ phòng ngự khu vực. Biên chế của Trang đoàn gồm 3 tiểu đoàn (5, 7, 924), và được tăng cường 1 đại đội xe tăng (3 xe tăng T-54, 3 xe K-63), 1 đại đội pháo binh (2 khẩu pháo 122mm, 2 khẩu pháo 85mm) đảm nhiệm phòng ngự khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum và khu vực Noọng Pẹt. Đến ngày 15 tháng 11 năm 1972, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng kết thúc thắng lợi. Sau 179 ngày đêm chiến đấu anh dũng, ta và bạn đã loại khỏi vòng chiến đấu 5.607 tên địch, đánh thiệt hại nặng 3 GM, đánh thiệt hại 5 GM khác, thu và phá 859 súng các loại, bắn rơi 38 máy bay, giữ vững địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum. Góp phần xứng đáng vào thắng lợi to lớn của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng. Trung đoàn 866 đã tiến hành 77 trận đánh với nhiều hình thức, quy mô khác nhau; loại khỏi vòng chiến đấu 851 tên địch (bắt 64 tên, có 1 tên chỉ huy phó binh đoàn cơ động và 3 tên tiểu đoàn trưởng); thu 100 súng các loại (có 12 khẩu súng cối, 11 khẩu súng ĐKZ, 2 khẩu đại liên, 4 khẩu M79), nhiều máy thông tin; phá hủy 4 khẩu súng cối, 2 khẩu ĐKZ 57mm, 3 khẩu đại liên và nhiều đạn dược, quân dụng.


Trung đoàn 866 quân tình nguyện tham gia Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng từ đó về sau thuộc đội hình Sư đoàn 31 đã chung sức, góp phần lập nên những chiến công vang dội của Binh đoàn Tây Nguyên trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.


Tự hào với truyền thống của bộ đội chủ lực Mặt trận Tây Nguyên anh hùng, tự hào với tên gọi Binh đoàn Tây Nguyên - Quân đoàn chủ lực cơ động của Bộ, đứng chân làm nhiệm vụ trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 3 càng thấy rõ vinh dự và trách nhiệm lớn lao trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cành tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định; chủ nghĩa cường quyền, tranh chấp chủ quyền, xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo, hoạt động can thiệp lật đổ, chiến tranh cục bộ và những vấn đề an ninh phi truyền thống gia tăng, diễn ra gay gắt. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, bên cạnh những thuận lợi còn gặp không ít khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá bằng chiến lược "diễn biến hòa bình" với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, trong đó Tây Nguyên là một trọng điểm. Trước tình hình đó, để tiếp nối truyền thống, hoàn thành trọng trách vẻ vang của mình, Quân đoàn tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, "mẫu mực tiêu biểu"; đảm bảo luôn sẵn sàng chiến đấu cao, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân củng cố vững chắc "thế trận lòng dân" trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên, tạo sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #75 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 08:00:21 am »

SƯ ĐOÀN 316 TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Thượng tá CHU VĂN THÀNH
Sư đoàn trưởng Sư đoàn 316 Quân khu 2


Sư đoàn 316 được thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1951 tại làng Cốc Lùng, xã Bình Trung, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Là một trong những sư đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Sư đoàn đã tham gia chiến đấu trên khắp mọi miền đất nước và các tỉnh Bắc Lào, lập nhiều chiến công, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả. Trong những trang vàng truyền thống chói lọi đó không thể không kể đến những đóng góp của Sư đoàn 316 trong Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972).


Với tinh thần "giúp bạn là mình tự giúp mình", Sư đoàn 316 đã lên đường chiến đấu trên chiến trường Bắc Lào. Sư đoàn 316 là đơn vị thực hiện nhiệm vụ quốc tế sớm nhất, dài nhất, hơn 13 năm (1959 - 1973) liên tục chiến đấu trên chiến trường các tỉnh Bắc Lào, lập nhiều chiến công, góp phần vào thắng lợi của cách mạng Lào, một trong những chiến công đó là Sư đoàn đã chiến đấu góp phần vào thắng lợi Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng.


Trước mùa mưa 1972, sau khi ta và bạn tiến hành chiến dịch tiến công giải phóng Cánh Đồng Chum - Mường Sủi, địch gấp rút điều động 76 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh với tổng so hơn 18.000 quân mở đợt tiến công hòng chiếm lại khu vực chiến lược này. Để thống nhất các lực lượng tiến hành chiến dịch phòng ngự bảo vệ địa bàn Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch được thành lập, do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh, đồng chí Lê Linh làm Chính ủy. Phía bạn Lào có đồng chí Xiphon Phalikhăn - Tư lệnh Quân khu Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng làm Phó Tư lệnh về quân sự.


Địa bàn chiến dịch được chia làm 5 khu vực phòng ngự gồm: Khu trung tâm Cánh Đồng Chum, khu trung gian, khu Noọng Pẹt khu Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng. Lực lượng tham gia chiến dịch được chia thành 2 thành phần. Một là, lực lượng phòng ngự trận địa, gồm Trung đoàn 174 và Trung đoàn 866. Hai là, lực lượng cơ động chiến dịch, gồm Trung đoàn 148 và Trung đoàn 335. Ngoài ra, các đơn vị binh chủng sẵn sàng hỗ trợ, hiệp đồng chi viện bộ binh bảo vệ địa bàn. Theo đó, cơ quan Bộ Tư lệnh Sư đoàn Bộ Tư lệnh Chiến dịch; trực tiếp chỉ huy Trung đoàn 174 và Trung đoàn 148.


Ngày 21 tháng 5 năm 1972, địch mở cuộc tiến công lần thứ nhất vào khu trung gian. Tại đây, các chiến sĩ Trung đoàn 174 đã bám chắc từng công sự chiến hào, dùng tiểu liên, lựu đạn, thủ pháo liên tiếp đánh lui nhiều đợt tiến công của địch. Địch đã chiếm được một số điểm cao khu vực Hin Đăm, Thẩm Lửng và bám được vào chốt Phu Pha Xay. Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định đưa Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 vào phối hợp Trung đoàn 174 tổ chức phản kích đẩy địch ra. Ngày 6 tháng 6 năm 1972 ta đánh tan 2 tiểu đoàn, diệt 200 tên, đẩy lui toàn bộ quân địch ở hướng Đông Nam.


Tối mùng 6 tháng 6, Tiểu đoàn 6 nổ súng và đẩy lui 2 lần xung phong của bộ binh địch. Thấy trận đánh gặp khó khăn, Trung đoàn 174 điện cho đơn vị rút ra. Đồng chí Đào Trọng Lịch (Tiểu đoàn trưởng) cùng với Ban Chỉ huy Tiểu đoàn 6 đưa ra phương án tạm thời cho bộ đội bí mật rút ra, tiếp lục bám địch; điều hỏa lực lên vị trí có tầm bắn hiệu quả nhất, chờ trời sáng mở cuộc tiến công mới. Trời vừa hửng sáng, các loại hỏa lực của ta đồng loạt khai hỏa, các mũi xung kích tràn lên đánh chiếm mục tiêu. Sau 30 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 6 phối hợp với Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 đánh tan 16 điểm đóng quân của 2 tiểu đoàn quân Thái Lan và 4 tiểu đoàn ngụy Lào.


Qua 82 ngày chiến đấu, Trung đoàn 174 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 đã đánh 140 trận, diệt 332 tên, thu và phá hủy 131 súng các loại, bắn rơi 5 máy bay, bắt 1 giặc lái, cơ bản bẻ gãy cuộc tiến công mở đầu của địch vào khu trung gian1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Sư đoàn 316, Tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1986, tr. 218). Thắng lợi này đã tạo điều kiện thuận lợi để ta tổ chức hoàn chỉnh phòng thủ Cánh Đồng Chum và sẵn sàng đánh địch lấn chiếm vùng giải phóng.


Trước khi tiến công lần thứ hai, địch dùng không quân có cả máy bay B-52 đánh phá ác liệt vào khu vực Bản Tôn, Lạt Huồng, Khang Khay, sau đó đổ quân xuống Bản Pha. Một mũi khác tiến công vào Phu Xa Coi và Phu Hủa Sang, nhưng bị Trung đoàn 148 chặn đánh quyết liệt, chúng phải rút về Khang Kho. Sau đó, địch tập trung đánh mạnh trên hướng Tây Bắc với ý đồ thọc sâu đánh mạnh vào trung tâm Cánh Đồng Chum, cánh quân này của địch bị Trung đoàn 335 và bộ đội địa phương bạn đánh thiệt hại nặng.


Bước vào đợt tiến công lần thứ hai, quân địch tiến công từ 5 hướng: Hướng Tây, đánh từ Phu Thông vào Phu Keng, Phu Seo, đồi Năm Mỏm là hướng chủ yếu. Trung đoàn 148 được giao nhiệm vụ cùng với Trung đoàn 866 đánh địch ở hướng chủ yếu. Ngày 17 tháng 9 năm 1972, Tiểu đoàn 4 Trung đoàn 148 đánh chiếm một số vị trí điểm cao. Địch dùng không quân chi viện đánh trả, giành lại được Điểm cao 1224. Trung đoàn 148 lui ra để củng cố rút kinh nghiệm, đồng thời điều Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 335 và 3 xe tăng đến tăng cường cho trận đánh mới.


Ngày 26 tháng 9, trận đánh bắt đầu. Trung đoàn 148 từ hướng Nam đánh lên, phát triển về Bản Khổng. Trung đoàn 335 đánh Phu Thông. Trung đoàn 866 đánh Bản Thang. Trên các hướng khác, địch đều bị ta chặn lại phản kích, buộc phải co cụm lại hoặc tháo chạy. Cuộc tiến công lần thứ hai của địch vào Cánh Đồng Chum đã bị các đơn vị thuộc Sư đoàn 316 cùng các đơn vị bạn đập tan.


Cay cú vì bị thua đau, địch tập trung mọi cố gắng để mở đợt tiến công cuối cùng bằng việc huy động tới 60 tiểu đoàn. Ngày 5 tháng 10 năm 1972, cuộc tiến công của địch bắt đầu nhằm đánh chiếm các mục tiêu: Phu Huột, Phu Seo, Phu Hủa Sang, Nậm Cọ, Phu Vai, Khang Kho.


Trung đoàn 148 và Trung đoàn 335 được chia thành hai bộ phận, một bộ phận phòng giữ tại chỗ; một bộ phận nhanh chóng tập kết ở hai phía Đông và Tây cánh đồng Căng Xẻng để mở trận phản đột kích.


Ngày 12 tháng 10 năm 1972, trận đánh bắt đầu. Trung đoàn 148 tiến đánh Bản Xưa. Tiểu đoàn 6 cùng với lực lượng của Trung đoàn 335 đánh địch ờ Nậm Cọ, Khang Kho, Keo Khoang. Trung đoàn 148 hiệp đồng với Trung đoàn 335 đánh trận quyết định bẻ gãy cuộc tiến công của địch. Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 được giao đánh trận then chốt ở Điểm cao 1236; ngày 25 tháng 10 năm 1972, Tiểu đoàn hành quân vào vị trí chiến đấu. Chưa kịp đào công sự, các chiến sĩ ta bước vào chiến đấu ngay. Được pháo binh chiến dịch chi viện, địch chưa kịp ngóc đầu dậy, các chiến sĩ ta đã tràn lên chiến đấu vô cùng dũng cảm. Tiêu biểu là các đồng chí Lò Văn Sinh, Lê Biên, Nguyễn Văn Chiến. Lê Biên là Trung đội phó Đại đội 9 dẫn một bộ phận đánh thẳng vào mỏm 1, sau 15 phút làm chủ vị trí, diệt 5 tên địch. Lò Văn Sinh, dân tộc Thái, tham gia đánh trận lần đầu, diệt 5 tên, bắt 1 tên. Nguyễn Văn Chiến mới ra viện cũng lập công xuất sắc, diệt 7 tên1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Sư đoàn 316, Tập II, Sđd, tr. 228). Chỉ sau 10 phút chiến đấu, ta đã làm chủ trận địa, đơn vị bước vào truy kích địch. Địch chạy vào vị trí đón lõng của ta, cả toán 35 tên bị diệt gọn. Lực lượng phòng không cũng có mặt chiến đấu, đơn vị súng máy phòng không 12,7mm của ta chốt Điểm cao 1236 đã diệt 1 chiếc T-28 của địch bay từ Loong Chẹng tới cứu nguy cho quân địch đang tháo chạy.


Địch dùng máy bay đánh bom ngăn chặn ta và yểm trợ cho đồng bọn tháo chạy. Bất chấp bom đạn, ta vẫn bám sát địch tiêu biểu là Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 đánh địch ở Na Van, Na Hung.


Kết quả, trong trận chiến đấu này, Trung đoàn 148 tiêu diệt hơn 300 tên, bắn rơi 2 máy bay, góp phần cùng với các đơn vị bạn loại khỏi vòng chiến đấu 1.240 tên, thu 1.500 súng các loại đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công lấn chiếm Cánh Đồng Chum của địch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #76 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 08:01:01 am »

Phát huy thắng lợi và quyết tâm tiêu diệt địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định sử dụng thêm Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148 phối hợp với một số đơn vị của Trung đoàn 355 và Trung đoàn 88 tiếp tục đánh địch.


3 giờ sáng ngày 3 tháng 11 năm 1972, Tiểu đoàn 5 tiến đánh Điểm cao 1513, sau đó phát triển về Nam Nậm Cọ. Nhận tin địch có khả năng sẽ dùng máy bay đánh vào Sở Chỉ huy Tiểu đoàn 5 để tránh tổn thất, Bộ Tư lệnh Chiến dịch gợi ý Tiểu đoàn 5 có thể di chuyển Sở Chỉ huy. Đồng chí Đào Trọng Lịch (Phó Tham mưu trưởng Trung đoàn 148), người trực tiếp chỉ huy trận đánh sau khi hội ý với chỉ huy Tiểu đoàn 5 đã quyết định báo cáo lên trên xin được giữ nguyên vị trí để tiếp tục trận đánh. Đề nghị đó được phê duyệt. Sau 1 giờ chiến đấu, ta đã chiếm được Điểm cao 1513 và diệt Sở Chỉ huy tiểu đoàn quân Thái Lan (BC612). Sau đó, Tiểu đoàn 5 tiên về bao vây đón lõng ở Khang Kho. Tại đây, diễn ra trận đánh giáp lá cà, ta diệt 126 tên, bắt 25 tên. Đến ngày 5 tháng 11, trận đánh ở hướng Đông Nam Cánh Đồng Chum kết thúc, ta khôi phục lại toàn bộ khu vực này.


Ở hướng Trung đoàn 174, ta uy hiếp quân địch ở Sảm Thông, Loong Chẹng, buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện để ta đánh trên hướng chủ yếu. Giữ vững thế chủ động, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 nhận lệnh đánh Hin Đăm. Sau đòn phủ đầu của hỏa lực, các chiến sĩ ta xung phong vượt qua cửa mở để đánh địch; 1 mũi đánh chiếm mỏm Đồi Tròn, nhanh chóng phát triển sang các mỏm 2, 3. Tại dãy đồi "Quan Sát", trận đánh diễn ra quyết liệt hơn, ta liên tiếp đánh chiếm các mỏm 4, 5, 6, 7. Sở chỉ huy của tiểu đoàn quân Thái Lan (BC609) bị xóa sổ. Phát triển chiến đấu, ta đánh vào Phu Lũng Mạt và truy kích quân địch rút chạy. Cùng đêm hôm ấy, Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 tiêu diệt vị trí Thẩm Lửng. Đến ngày 8 tháng 12, trận đánh kết thúc, ta tiêu diệt 378 tên, chiếm lại một số vị trí và một phần của dãy Điểm cao 1800, cải thiện thế phòng ngự của khu vực này.


Qua 179 ngày đêm chiến đấu, vượt qua nhiều hy sinh, gian khổ, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 đã cùng với các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và Quân giải phóng nhân dân Lào loại khỏi vòng chiến đấu 5.759 tên địch1 (Bộ Quốc phòng, Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam, Quyển 1: Lịch sử quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 250. Theo sách: Lịch sử Sư đoàn 316 (1951 - 2011) Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2011, tr. 222, là: 6.137 tên địch), đánh thiệt hại nặng nhiều binh đoàn cơ động, 3 tiểu đoàn quân Thái Lan, góp phần đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch, bảo vệ thắng lợi địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng Lào và có tác dụng tích cực với cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam Việt Nam cũng như chiến trường Campuchia, đánh bại thêm một bước "Học thuyết Níchxơn" ở Lào, làm cho lực lượng đặc biệt Vàng Pao bị tổn thất nặng nề, cho thấy quân đánh thuê Thái Lan không còn làm nổi chức năng là chỗ dựa chủ yếu của quân ngụy Lào như địch mong muốn.


Để phối hợp và hỗ trợ cho cuộc đấu tranh ngoại giao trên bàn Hội nghị Pari, lực lượng vũ trang yêu nước Lào và Quân tình nguyện Việt Nam đã tích cực đây mạnh hoạt động trên khắp các chiến trường. Tháng 12 năm 1972, ta và bạn tổ chức tiến công Buôm Loọng, một vị trí ở phía Bắc Cánh Đồng Chum. Tại đây, địch bố trí 5 tiểu đoàn nằm sâu trong vùng giải phóng, là nơi xuất phát của các cuộc hành quân phối hợp với các cánh quân khác hòng lấn chiếm Cánh Đồng Chum. Tham gia cuộc tiến công này có Tiểu đoàn 4 và Tiểu đoàn 5 Trung đoàn 148 cùng các lực lượng khác của Trung đoàn 335, Trung đoàn 88 và của mặt trận. Lực lượng còn lại của Trung đoàn 148 và Trung đoàn 174 vẫn hoạt động ở khu vực trung gian đánh địch bảo vệ địa bàn.


Tự hào với truyền thống "Trung đoàn Sơn La anh dũng", cán bộ, chiến sĩ ta đã ngày đêm vượt qua phi pháo ác liệt của địch, tích cực triển khai công sự bao vây đánh lấn Điểm cao 1622 và một số vị trí bên trong. Âm mưu của địch lúc này là huy động tập trung lực lượng lấn chiếm Cánh Đồng Chum. Để bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định để lại một lực lượng bao vây giam chân địch ở Buôm Loọng, còn đại bộ phận rút ra nhanh chóng cơ động đánh địch không cho chúng lấn chiếm, đồng thời mở rộng thêm vùng giải phóng, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch.


Chấp hành mệnh lệnh của trên, giữa tháng 1 năm 1973, Trung đoàn 148 hành quân gấp rút ra, vượt qua Cánh Đồng Chum về Phu Keng, sau đó vượt sông Nậm Ngừm tiến vào Mường Sủi. Đến vị trí tập kết, Trung đoàn đã nhanh chóng cùng bạn xây dựng kế hoạch tác chiến và bước vào chiến đấu. Ở khu vực trung gian, Trung đoàn 174 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 đã bẻ gãy tất cả các cuộc tiến công của địch, giữ vững địa bàn. Như vậy, toàn bộ khu vục Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, Mường Sủi, một địa bàn chiến lược quan trọng đã được bảo vệ vững chắc.


Thất bại trên chiến trường, ngày 21 tháng 2 năm 1973, Hiệp định lập lại hòa bình thực hiện hòa hợp dân tộc ở Lào được ký kết. Địch phải thừa nhận những quyền cơ bản của nhân dân Lào: Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của nhân dân Lào, chấm dứt mọi hành động quân sự và xâm lược của Mỹ và tay sai Thái Lan ở Lào, rút hết quân đội Mỹ và Thái Lan ra khỏi Lào.

Đây là thắng lợi to lớn của nhân dân Lào, là kết quả của tình đoàn kết liên minh chiến đấu đặc biệt giữa hai dân tộc, hai quân đội Việt Nam - Lào, trong đó có sự đóng góp, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 luôn kề vai sát cánh, vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh, cùng quân và dân bạn chiến đấu và chiến thắng.


Phát huy thắng lợi của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 316 quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong tình hình mới; luôn quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; không ngừng xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; mài sắc ý chí sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng, đoàn kết, thống nhất, năng động, đổi mới và sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn thử thách; hăng hái phấn đấu vươn lên giành nhiều chiến công và thành tích mới trong xây dựng, huấn luyện, học tập và công tác. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh, Sư đoàn vững mạnh toàn diện, "mẫu mực tiêu biểu", thực sự là một trong những sư đoàn chủ lực mạnh của Quân đội ta, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #77 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 08:02:10 am »

TRUNG ĐOÀN 174 SƯ ĐOÀN 316 TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG

Trung tá NGUYỄN ĐĂNG TUYỂN
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 174 Sư đoàn 316 Quân khu 2


Trước những chuyển biến mới trên các chiến trường, tháng 2 năm 1972, Quân ủy Trung ương họp ra nghị quyết về nhiệm vụ quân sự năm 1972. Đối với cách mạng Lào và Campuchia, trên tinh thần đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân ba nước Đông Dương, Quân ủy Trung ương xác định cần phải giúp đỡ và phối hợp với bạn thật tốt trong nhiệm vụ tác chiến và xây dựng lực lượng, củng cố vùng giải phóng. Từ đó, Quân ủy Trung ương hai nước Việt Nam - Lào quyết định tổ chức Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng với nhiệm vụ: Hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng vũ trang cách mạng Lào, khẩn trương triển khai kế hoạch phòng thủ khu vực Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng, kiên quyết đánh bại cuộc tiến công lấn chiếm quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc vùng giải phóng, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, làm thay đổi tương quan lực lượng có lợi cho cách mạng bạn, thu hút lực lượng và không quân Mỹ, tạo điều kiện cho các chiến trường khác hoạt động thuận lợi. Trên cơ sở đó, ta và bạn xây dựng địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum thành căn cứ địa cách mạng vững chắc.


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng diễn ra từ ngày 21 tháng 5 đến ngày 15 tháng 11 năm 1972. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm: 5 trung đoàn bộ binh (174, 148, 866, 335 và 88), 2 tiểu đoàn đặc công, 1 tiểu đoàn pháo binh, 4 tiểu đoàn pháo và súng máy phòng không, 1 tiểu đoàn xe tăng và 2 liều đoàn công binh quân tình nguyện Việt Nam. Lực lượng vũ trang của bạn có: 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội xe tăng, 2 đại đội pháo binh, 2 đại đội súng máy phòng không, 1 đại đội công binh và 4 đại đội bộ đội địa phương. Để thống nhất các lực lượng, Bộ Tư lệnh Chiến dịch được thành lập, do đồng chí Vũ Lập làm Tư lệnh; đồng chí Lê Linh làm Chính ủy. Căn cứ vào nhiệm vụ trên giao, trên cơ sở đánh giá âm mưu, hành động của địch, địa hình, thời tiết, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định lấy địa bàn phòng ngự là khu tứ giác: Mường Sủi - Noọng Pẹt - thị xã Xiêng Khoảng - Thẩm Lửng với chiều rộng 50km, chiều đài 60km; chia thành 5 khu: Khu vực trung tâm (Cánh Đồng Chum), khu vực trung gian (Hin Tặng), khu vực thứ yếu (Noọng Pẹt) và 2 khu tác chiến phối hợp (Mường Sủi và thị xã Xiêng Khoảng); mỗi khu vực tổ chức một số cụm chốt.


Sau khi xác định các khu vực phòng ngự, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương sử dụng một lực lượng thích hợp để phòng ngự, ngăn chặn, tiêu hao, tiêu diệt quân địch, dưới sự chi viện của hệ thống hỏa lực, kết hợp với lực lượng cơ động, mở các trận phản đột kích bằng hiệp đồng binh chủng, đánh bại các cuộc tiến công của chúng. Thực hiện chủ trương trên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch tổ chức lực lượng thành hai thành phần chủ yếu: Lực lượng phòng ngự trận địa và lực lượng cơ động chiến dịch.


Lực lượng phòng ngự trận địa gồm 2 trung đoàn: Trung đoàn 174 và Trung đoàn 866, được tăng cường 1/3 số xe tăng, xe thiết giáp và 1/4 số pháo của chiến dịch, có nhiệm vụ giữ các cụm chốt, kìm chân địch tại chỗ, tạo điều kiện cho các lực lượng cơ động chiến dịch, tiến hành phản đột kích, đánh các trận then chốt tiêu diệt địch. Trong thành phần phòng ngự trận địa, Trung đoàn 866 đảm nhiệm phòng ngự khu vực trung tâm Cánh Đồng Chum và khu vực Noọng Pẹt. Trung đoàn 174 được tăng cường 2 khẩu pháo 85mm, 1 khẩu pháo 130mm, 1 khẩu pháo ĐKB 1 tiểu đoàn pháo cao xạ 12,7mm đảm nhiệm phòng ngự khu trung gian1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Sư đoàn 316, Lịch sử Trung đoàn 174 Cao - Bắc - Lạng (1949 - 2019), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2019, tr. 238). Tại khu vực này, Trung đoàn sử dụng Tiểu đoàn 1 chốt giữ cụm Phu Phaxay và Điểm cao 2063; Tiểu đoàn 2 chốt giữ các điểm cao 1800, 1978, 1561. Từng cụm chốt đều có đại đội cơ động đánh địch từ xa để bảo vệ chốt; Tiểu đoàn 3 làm lực lượng cơ động chung đồng thời tách ra 1 đại đội chốt giữ Điểm cao 1900B. Đại đội pháo binh tăng cường cho Trung đoàn được bố trí ở Đông Hin Tặng. Ngoài ra, Trung đoàn còn tổ chức thêm 1 đại đội cối 120mm và trên các điểm chốt đều được tăng cường hỏa khí.


Lực lượng cơ động chiến dịch gồm các trung đoàn: 148, 335, 88 (Trung đoàn 88 Sư đoàn 308C được tăng cường cho chiến dịch từ tháng 10 năm 1972). Nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị là tập trung tác chiến hiệp đồng binh chủng, tổ chức các trận then chốt của chiến dịch nhằm tiêu diệt và bẻ gãy các mũi, các cánh tiến công của địch. Thế trận phòng ngự trên toàn địa bàn được hình thành và dần dần hoàn thiện trên cơ sở kết hợp chặt chẽ giữa hệ thống hỏa lực, công sự, vật chướng ngại với lực lượng chốt giữ và lực lượng cơ động.


Việc tiến hành xây dựng các công trình phòng ngự được triển khai gấp rút, các cụm then chốt được xây dựng công sự vững chắc. Riêng trận địa phòng ngự của Trung đoàn 174 ở khu trung gian, do địch tiến công sớm nên công sự lúc đầu mang tính chất dã chiến, về sau đơn vị vừa đánh địch vừa củng cố nâng dần lên tương đổi vững chắc. Ngay từ cuối tháng 2 năm 1972, Trung đoàn 174 được cấp trên giao nhiệm vụ tổ chức phòng ngự ở khu vực mới được khôi phục lại trên Cánh Đồng Chum và triển khai lực lượng làm công sự đường hầm ở Phu Tâng, Phu Keng, Phu Học. Với tinh thần làm việc miệt mài ngày đêm, cán bộ, chiến sĩ đơn vị đã khoét sâu vào lòng núi hàng vạn mét khối đất đá, cùng với các đơn vị bạn xây dựng được 658m đường hầm kiên cố ở 3 địa điểm trên. Mỗi đường hầm đều có nơi ăn, ở, sinh hoạt, dự trữ lương thực, đạn dược, nước uống... bảo đảm cho bộ đội chiến đấu phòng ngự bảo vệ vững chắc địa bàn được giao trong suốt mùa mưa năm 1972.


Lúc này, cơ quan lãnh đạo và chỉ huy Trung đoàn 174 được kiện toàn, gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Tường là Trung đoàn trưởng, Lại Thế Cường là Trung đoàn phó, Nguyễn Lược là Chính ủy, Đinh Thuận là Phó Chính ủy; các đồng chí Nguyễn Xuân Khoát, Lò Văn Nhài, Trần Năng chủ trì ba cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Sư đoàn 316, Lịch sử Trung đoàn 174 Cao - Bắc - Lạng (1949 -2019), Sdd,tr. 240).


Trong lúc ta đang điều chình, tổ chức lực lượng theo phương hướng mới thì địch mở đợt tiến công nhằm lấn chiếm các địa bàn đã mất. Từ ngày 29 tháng 4 đến ngày 20 tháng 5 năm 1972, địch lần lượt đánh chiếm lại Phu Mộc, Sảm Thông, các điểm cao 1900B, 1800, 1863, 1804, Sa La Phu Khun, Phu Viêng... Ý đồ của địch là lợi dụng lúc ta chuyển hướng hoạt động, tranh thủ nống lấn để giải tỏa sự uy hiếp của ta vào Loong Chẹng, đẩy lực lượng ta ra xa, thăm dò, tiến tới tiến công khu trung gian, làm bàn đạp cho cuộc tiến công lớn vào Cánh Đồng Chum.


Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương phải ngăn chặn quân địch, giữ bằng được khu trung gian, mặt khác chỉ đạo các đơn vị khẩn trương đẩy nhanh tốc độ xây dựng hệ thống trận địa phòng ngự hoàn chỉnh và vững chắc, đồng thời điều Trung đoàn 174 đang phòng thủ ở trung tâm Cánh Đồng Chum chuyển vào làm nhiệm vụ phòng ngự ở khu trung gian thay cho Trung đoàn 335; Trung đoàn 148 sẵn sàng tăng cường 1 tiểu đoàn khi cần thiết cho Trung đoàn 174.


Ngày 21 tháng 5 năm 1972, địch dùng không quân đánh phá dữ dội các điểm trọng yếu ở khu trung gian và trên các trục đường vào Cánh Đồng Chum, sau đó chúng chính thức mở cuộc tiến công vào khu trung gian theo 2 cánh quân. Cánh thứ nhất, trên hướng Tây Nam, gồm 5 tiểu đoàn lính đánh thuê, 1 tiểu đoàn phái hữu Lào, sau đó tăng thêm binh đoàn cơ động GM 31, hình thành mũi tiến công các điểm cao 1800, 1978; đồng thời, 1 mũi luồn đánh vào Hin Đăm - Thẩm Lửng. Trên hướng Đông Nam, cánh quân thứ 2 của địch dựa vào căn cứ Tôm Tiêng và bàn đạp tại Điểm cao 1863 gồm GM 10B, GM 30, 4 tiểu đoàn phái hữu Lào, 1 tiểu đoàn Thái Lan, cũng hình thành 2 mũi đánh vào sườn phía Nam Phu Phaxay và Điểm cao 2063, bám vào các chốt của ta...
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #78 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 08:02:58 am »

Thực hiện mệnh lệnh chuyển nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Trung đoàn 174 hành quân vào khu trung gian thay thế cho Trung đoàn 335. Từ ngày 20 tháng 5, Trung đoàn cơ bản đã chiếm lĩnh thay phiên xong. Ngay ngày hôm sau, địch tổ chức tiến công, các chiến sĩ Trung đoàn 174 đã kịp thời bám chắc từng công sự, chiến hào, dùng tiểu liên, lựu đạn, thủ pháo đánh bật hết đợt tiến công này đến đợt tiến công khác của chúng, đồng thời kết hợp với phản kích bộ phận tiêu diệt nhiều tên. Sau hơn một tuần tiến công, mặc dù bị tổn thất nặng nề, địch tiếp tục tăng cường hỏa lực không quân đánh chiếm được một số điểm cao trong khu vực Hin Đăm, Thẩm Lửng và bám được vào điểm chốt Phu Phaxay.


Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Chiến dịch quyết định điều Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 148) vào phối hợp với Trung đoàn 174 tổ chức phản kích địch, ngày 6 tháng 6 năm 1972, Trung đoàn cùng Tiểu đoàn 6 tiến hành một số trận phản kích, tiêu diệt một bộ phận của GM 30, đánh tan 2 tiểu đoàn diệt trên 200 tên địch, đẩy lùi toàn bộ cánh quân ở hướng Đông Nam1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Sư đoàn 316, Lịch sử Trung đoàn 174 Cao - Bắc - Lạng (1949 - 2019), Sđd, tr. 242).


Từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1972, Tiểu đoàn 6 phối hợp với Tiểu đoàn 3 của Trung đoàn tiếp tục phản kích địch ở hướng Tây Nam, đánh tan 16 điểm đóng quân của 6 tiểu đoàn địch, sau đó ta khôi phục lại Hin Đăm, Thẩm Lửng và tiếp tục tiến công địch ở các mỏm phía Tây dãy Điểm cao 1800, đẩy địch khỏi mỏm 2, cải thiện thế phòng ngự của ta ở khu vực này.


Sau 82 ngày chiến đấu gian khổ, quyết liệt, Trung đoàn 174 và Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 đã đánh 140 trận, tiêu diệt 332 tên địch, thu và phá 131 súng các loại, bắn rơi 5 máy bay, cơ bản bẻ gãy cuộc tiến công mở đầu của địch vào khu trung gian, từng bước khôi phục lại các điểm trọng yếu bị địch chiếm, giữ vững khu trung gian. Thắng lợi này có ý nghĩa rất quan trọng, đánh bại âm mưu của địch tiến công lấn chiếm bàn đạp để chuẩn bị tiến công lớn, tạo điều kiện thuận lợi để ta tổ chức hoàn chỉnh phòng thủ Cánh Đồng Chum và sẵn sàng đánh địch tiến công, lấn chiếm vùng giải phóng...


Trải qua gần ba tháng tiến công lớn vào Cánh Đồng Chum trên ba hướng, địch mới sử dụng 4 trung đoàn, còn 3 trang đoàn chưa xuất hiện. Thực chất là chúng nghi binh để phân tán lực lượng ta, sau đó tung lực lượng dự bị hình thành hướng chủ yếu bất ngờ đánh chiếm Cánh Đồng Chum. Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch chỉ đạo Trung đoàn 174 tổ chức tác chiến phòng ngự theo phương án một cách linh hoạt, bảo vệ bằng được khu trung gian để phối hợp với các hướng khác... Các đơn vị khác đã chiến đấu dũng cảm chặn đứng các mũi tiến công của địch. Đợt tiến công thứ nhất của địch vào Cánh Đồng Chum bị đẩy lùi.


Đợt tiến công thứ 2 của địch vào Cánh Đồng Chum cũng bị đẩy lùi. Trung đoàn 174 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ giữ khu trung gian, phối hợp nhịp nhàng với các đơn vị bạn, góp phần giữ vững trận địa, địa bàn phòng ngự.


Trong đợt tiến công thứ 3 của địch, khi các đơn vị bạn tập trung đánh quân địch lấn chiếm Cánh Đồng Chum thì Trung đoàn 174 khắc phục mọi khó khăn, kiên trì bám trụ, tổ chức hàng trăm trận đánh địch bảo vệ khu trung gian, loại khỏi vòng chiến đấu gần 600 tên địch, bắn rơi 11 máy bay, thu và phá hủy nhiều vũ khí, giữ vững địa bàn, uy hiếp Sảm Thông, Loong Chẹng, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, tạo điều kiện cho bộ đội ta đánh thắng địch trên hướng chủ yếu. Tuy nhiên, trong suốt thời gian tranh chấp, địch đã cố gắng lấn chiếm được Hin Đăm, Thẩm Lửng, Phu Lũng Mạt.


Phát huy thắng lợi vừa giành được, cải thiện thế phòng ngự của ta ở khu trung gian, chấp hành mệnh lệnh của cấp trên, Tiểu đoàn 6 (Trung đoàn 148) và Tiểu đoàn 3 (Trung đoàn 174) được lệnh tiến công Hin Đăm, Thẩm Lửng. Hai tiểu đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ, tiêu diệt 378 tên, chiếm lại 3 vị trí và một phần của dãy Điểm cao 1800, cải thiện thổ phòng ngự ở khu vực này...1 (Bộ Tư lệnh Quân khu 2, Sư đoàn 316, Lịch sử Trung đoàn 174 Cao - Bắc - Lạng (1949 - 2019), Sđd, tr. 243).


Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa năm 1972 kết thúc thắng lợi. Trải qua gần hơn 170 ngày đèm chiến đấu gian khổ, Trung đoàn 174 cùng các đơn vị đã loại khỏi vòng chiến đấu hàng nghìn tên địch, đánh thiệt hại nặng 3 GM (21, 23, 26), 3 tiểu đoàn lính đánh thuê, đánh thiệt hại 5 GM khác (15, 22, 24, 30, 32)...2 (Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng mùa mưa 1972, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nọi, 1987, tr. 62-63), góp phần đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum, làm thay đổi cục diện chiến trường có lợi cho cách mạng Lào và có tác dụng phối hợp tích cực với cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường miền Nam nước ta cũng như trên chiến trường Campuchia. Thắng lợi của chiến dịch này cũng đã góp phần đánh bại thêm một bước học thuyết Níchxơn ở Lào, làm cho lực lượng đặc biệt Vàng Pao và quân phái hữu Lào bị tổn thất nặng.


Trung đoàn 174 đã có đóng góp quan trọng trực tiếp cùng các lực lượng tham gia làm nên thắng lợi to lớn của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng; ta giữ được thế liên hoàn vững chắc giữa 3 vùng căn cứ địa cách mạng Lào và kịp thời phối hợp với các hoạt động khác trên chiến trường ba nước Đông Dương. Thắng lợi của chiến dịch đã để lại nhiều kinh nghiệm, bổ sung và góp phần làm phong phú thêm lý luận về nghệ thuật chiến dịch, đặc biệt là loại hình chiến dịch phòng ngự. Trong quá trình tham gia chiến dịch, Trung đoàn 174 đã quán triệt sâu sắc nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Chiến dịch giao phó, nhanh chóng chấp hành mệnh lệnh, chuyển vào phòng ngự, chủ động xây dựng phương án tác chiến, tiến công địch; làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho bộ đội nhận thức rõ những điểm mạnh tạm thời và những điểm yếu không thể khắc phục của địch, khắc phục được những biểu hiện chủ quan, thỏa mãn, đánh giá thấp về địch (cho rằng chúng vừa bị thua đau, không còn khả năng tiến công lớn); vận dụng linh hoạt, sáng tạo cách đánh, khéo léo kết hợp giữa phòng ngự khu vực (trong đó trọng điểm là việc xây dựng các điểm tựa, cụm điểm tựa làm nòng cốt) với phản kích liên tục (vừa đánh nhỏ, vừa tập trung lực lượng đánh lớn, đánh hiệp đồng binh chủng) nhằm tiêu diệt, tiêu hao từ nhỏ đến lớn lực lượng, phương tiện chiến đấu của địch; tích cực, chủ động xây dựng hệ thống công sự, trận địa liên hoàn, vững chắc ở các khu vực phòng ngự; vừa tác chiến, vừa củng cố, bổ sung lực lượng bảo đảm chiến đấu liên tục, dài ngày, chủ động tích trữ vật chất hậu cần, kỹ thuật và khai thác triệt để nguồn lực bảo đảm tại chỗ (lương thực, thực phẩm, nguồn nước, cứu chữa thương bệnh binh...).


50 năm đã trôi qua, những bài học kinh nghiệm của Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng vẫn còn nguyên giá trị để cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 174 hôm nay tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong quá trình huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu", bồi đắp thêm truyền thống "Đoàn kết, mưu trí, sáng tạo, dũng cảm, kiên cường, quyết chiến, quyết thắng", thiết thực góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1839



« Trả lời #79 vào lúc: 17 Tháng Bảy, 2023, 08:04:49 am »

TRUNG ĐOÀN 148 SƯ ĐOÀN 316 TRONG CHIẾN DỊCH PHÒNG NGỰ CÁNH ĐỒNG CHUM - XIÊNG KHOẢNG


Thượng tá NGUYỄN TRUNG KIÊN
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 Quân khu 2


Trung đoàn 148 Sư đoàn 316 được thành lập ngày 22 tháng 12 năm 1945, tại xã Hát Lót, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La, là một trong những trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội ta. Trải qua quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Trung đoàn đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, tham gia vào hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, đồng thời hoàn thành nhiệm vụ quốc tế, góp phần cùng quân và dân cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; có nhiều đóng góp trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Thời gian chiến đấu trên đất bạn Lào, Trung đoàn đã tham gia nhiều chiến dịch lớn, trong đó có Chiến dịch phòng ngự Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (21.5 - 15.11.1972). Trong chiến dịch này, cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn đã chiến đấu kiên cường, đũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc, cùng các lực lượng trên mặt trận đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch, bảo vệ vững chắc địa bàn chiến lược Cánh Đồng Chum, tạo thế liên hoàn giữa các vùng căn cứ địa của Lào, góp phần phối hợp hiệu quả với các chiến trường Trị - Thiên và Bắc Tây Nguyên trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972 ở miền Nam Việt Nam.


Sau khi chiến dịch mùa khô 1971 - 1972 kết thúc, địch ra sức nông lấn, giải tỏa để cải thiện hình thái bị uy hiếp ở Loong Chẹng đẩy lực lượng ta ra xa. Âm mưu của địch là tập trung lực lượng đánh chiếm Cánh Đồng Chum trong mùa mưa năm 1972 để tạo ra thế mạnh trên bàn đàm phán. Trước tình hình trên, Quân ủy Trung ương ta và bạn quyết tâm tổ chức chiến dịch phòng ngự mùa mưa năm 1972 ở Cánh Đồng Chum. Trung đoàn 148 được phân công là lực lượng cơ động của chiến dịch.


Sau những trận đánh cuối cùng trong chiến dịch mùa khô Trung đoàn 148 được lệnh rút từ Phu Mộc về Cánh Đồng Chum. Tiểu đoàn 4 rút ra trước để tổ chức phòng ngự tại Phu Hua Sang. Lực lượng còn lại của Trung đoàn tới ngày 12 tháng 5 mới hành quân về tập kết ở Bản Bua, Noọng Tớ, tổ chức chốt giữ Phu Keng Luông. Trong lúc Trung đoàn cùng các lực lượng thuộc Sư đoàn 316 tích cực củng cố công sự, trận địa, điều chỉnh tổ chức lực lượng theo quyết định của Bộ Tư lệnh Mặt trận 31 và làm mọi công tác chuẩn bị để bước vào giai đoạn chiến đấu mới thì địch mở cuộc tiến công nhằm chiếm lại các địa bàn đã mất. Ý đồ của địch là tranh thủ nống lấn, giải tỏa sự uy hiếp của ta vào Loong Chẹng, đồng thời thăm dò tiến tới tiến công ra khu vực trung gian, làm bàn đạp chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn vào Cánh Đồng Chum.


Trước diễn biến nhanh chóng của tình hình trên chiến trường Bộ Tư lệnh Chiến dịch chủ trương kiên quyết ngăn chặn quân địch, giữ bằng được khu vực trung gian. Theo đó, Trung đoàn 148 được lệnh tập trung củng cố, huấn luyện làm lực lượng cơ động của chiến dịch.


Ngày 21 tháng 5 năm 1972, địch dùng không quân đánh phá dữ dội vào các điểm trọng yếu ở khu trung gian và trên các trục đường đi vào Cánh Đồng Chum. Kết thúc giai đoạn hỏa lực chuẩn bị, địch tổ chức hai cánh quân chính thức mở cuộc tiến công vào khu trung gian. Cánh thứ nhất, đánh vào các điểm cao 1800, 1978 cùng các cử điểm Hin Đăm, Thẩm Lửng; cánh quân thứ hai, tiến công vào Tôm Tiêng, tạo bàn đạp đánh vào Điểm cao 1863. Ngoài ra. địch còn sử đụng một tiểu đoàn quân Thái Lan hình thành 2 mũi đánh vào sườn phía Nam Phu Phaxay và Điểm cao 2063.


Để đối phó với cuộc tiến công quy mô lớn của địch, theo quyết định của Bộ Tư lệnh Chiến dịch, Tiểu đoàn 6 Trung đoàn 148 được tăng cường cho Trung đoàn 174 tổ chức phản kích. Chấp hành mệnh lệnh của trên, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 6 khẩn trương hoàn thành công tác chuẩn bị, nhanh chóng cơ động vào khu trung gian. Ngày 28 tháng 5 năm 1972, Tiểu đoàn vào vị trí chiến đấu và liên tiếp đánh một số trận nhỏ ở khu vực Phu Phaxay để tạo thế. Đến ngày 6 tháng 6, Tiểu đoàn cùng Trung đoàn 174 tiến hành một số trận phản kích đánh vào đội hình tiến công của địch, ngăn chặn và tiêu diệt một bộ phận GM 30, đánh tan hai tiểu đoàn địch, loại khỏi vòng chiến đấu 200 tên, đẩy lùi toàn bộ quân địch trên hướng Đông Nam1 (Quân khu 2, Lịch sử Trung đoàn 148 (1945 - 2015), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015, tr. 132).


Theo kế hoạch, ngày 26 tháng 6, Tiểu đoàn 6 chuyển sang hướng Tây Nam cùng Tiểu đoàn 3 Trung đoàn 174 tiếp tục tổ chức phản kích. Sau 7 ngày làm công tác chuẩn bị, hai đơn vị đã nổ súng tiến công địch ờ Hin Đăm, Thẩm Lửng. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt. Do điều kiện trời tối và mây mù dày đặc nên hiệu quả sử dụng hỏa lực của ta bị hạn chế. Bộ đội tổ chức xung phong hai lần nhưng địch dựa vào vách đá, công sự đã đẩy lùi lực lượng tiến công của ta. Bởi vậy, chỉ huy Trung đoàn 174 lệnh Tiểu đoàn 6 cho bộ đội lùi ra củng cố, tổ chức phản kích vào thời điểm khác. Tuy nhiên, với ý chí quyết tâm và tinh thần trách nhiệm cao, phát huy truyền thống đơn vị, chỉ huy Tiểu đoàn 6 đề nghị được tiếp tục chiến đấu và hứa quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ. Sau khi được chấp thuận, Tiểu đoàn trưởng Đào Trọng Lịch tranh thủ hội ý chỉ huy và hình thành một phương án chiến đấu mới: Tạm thời cho bộ đội bí mật rút ra một cự ly nhất định, tiếp tục bám địch; điều hỏa lực lên vị trí có tầm bắn hiệu quả nhất, chờ trời sáng mở đợt tiến công tiếp theo.


Thực hiện phương án tác chiến đó, địch bị bất ngờ, do lầm tưởng cuộc tiến công của ta đã chấm dứt, lực lượng của ta đã rút khỏi vị trí tiến công. Lúc này, tại các vị trí bám địch, các chiến sĩ xung kích đang tích cực làm công tác chuẩn bị, tổ chức lại lực lượng, bí mật vận chuyển vũ khí lên trận địa mới. Để động viên tinh thần chiến đấu cho đơn vị, Chính trị viên Trịnh Ngọc Nhu và Chính trị viên phó Phạm Ngọc Phán cũng tích cực bám sát các hướng mũi, nắm bắt tình hình tư tưởng kịp thời động viên bộ đội khắc phục khó khăn, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ được giao.


Bằng tinh thần kiên quyết và quả cảm, sau hơn một giờ chuẩn bị, Tiểu đoàn trưởng hạ lệnh nổ súng đánh địch. Tiếng nổ của các loại hỏa lực tại các vị trí bất ngờ vang lên làm rung chuyển trận địa. Tiêp theo, các hướng mũi đồng loạt xung phong diệt địch. Sau hơn 30 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 6 đã hoàn toàn làm chủ khu vực theo nhiệm vụ được giao, tiêu diệt được 10 vị trí chốt giữ của địch. Ngày hôm sau, ta khôi phục lại Hin Đăm, Thẩm Lửng và tiếp tục tiến công địch ở mỏm Tây Nam, Điểm cao 1800, đẩy địch lùi khỏi mỏm 2, cải thiện thế phòng ngự của ta ở khu vực này.


Kết quả, sau 82 ngày đêm chiến đấu quyết liệt, gian khổ, Tiểu đoàn 6 đã cùng Trung đoàn 174 đánh 140 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 332 tên địch, thu và phá hủy 131 súng các loại, bắn rơi 5 máy bay, cơ bản bẻ gãy cuộc tiến công của địch vào khu trung gian, từng bước khôi phục lại những điểm trọng yếu bị địch chiếm, giữ vững khu trung gian1 (Quân khu 2, Lịch sử Trung đoàn 148 (1945 - 2015), Sđd, tr. 134).


Sau khi đánh bại cuộc tiến công của địch, các đơn vị tổ chức bổ sung quân số, tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu. Trung đoàn 148 tiến hành đợt huấn luyện bổ sung và diễn tập thực binh theo phương án tác chiến phòng ngự, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng đối phó với cuộc tiến công mới của địch.


Về phía địch, sau hơn hai tháng tiến công vào khu trung gian không mang lại kết quả, chúng cay cú tập trung lực lượng mạnh với 40 tiểu đoàn, tổ chức cuộc tiến công lớn vào Cánh Đồng Chum. Địch tổ chức tiến công trên 3 hướng, lấy hướng Tây làm hướng chủ yếu, hướng Nam và hướng Bắc là hướng phối hợp. Dự kiến được cuộc hành quân lần này của địch, Bộ Tư lệnh Chiến dịch sử dung Trung đoàn 148 (thiếu Tiểu đoàn 5), 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 866, 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 335 cùng xe tăng kiên quyết bẻ gãy cánh quân trên hướng chủ yếu của địch. Sau 2 đợt phản kích ta đã loại khỏi vòng chiến đấu trên 400 tên địch, bắn rơi 3 máy bay, đẩy lùi cánh quân của địch trên hướng chủ yếu. Ở các hướng khác, lực lượng ta và bạn tích cực ngăn chặn, phản kích, buộc địch phải co cụm, cuối cùng tháo chạy.


Thất bại sau 2 cuộc tiến công lớn, hy vọng đánh chiếm Cánh Đồng Chum của địch đã bị lung lay, nhưng trước sự thúc ép về tình hình chính trị, đế quốc Mỹ và tay sai tập trung mọi cố gắng, dốc toàn lực mở cuộc tiến công cuối cùng với mục tiêu hạn chế: Đánh chiếm một phần phía Nam Cánh Đồng Chum. Lực lượng sử dụng lên đến 60 tiểu đoàn quân ngụy Lào và lính đánh thuê Thái Lan, ở hướng chủ yếu phía Nam có trên 20 tiểu đoàn.


Dựa vào bàn đạp chiếm được trong đợt tiến công trước, ngày 5 tháng 10, địch bắt đầu mở cuộc tiến công mới. Đã có dự báo, ta quyết định sử dụng một lực lượng thích hợp tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, ngăn chặn, tạo điều kiện mở trận phản đột kích đánh bại hoàn toàn cuộc tiến công của địch.


Thực hiện ý định chiến đấu của trên, Trung đoàn 148 điều Tiểu đoàn 5 phối hợp với các đơn vị bạn làm nhiệm vụ đánh lẻ, ngăn chặn địch và tạo thế, còn toàn bộ Trung đoàn cùng với Trung đoàn 335 nhanh chóng tập kết ở hai cánh Đông và Tây thuộc khu vực cánh đồng Căng Xẻng, chuẩn bị mở trận phản đột kích.


Ngày 12 tháng 10 năm 1972, trận đánh bắt đầu. Trung đoàn 148 được lệnh xuất kích đánh địch ở Bản Bua, các điểm cao 1236, 1172 và tiến công tiêu diệt Sở Chỉ huy GM 23 ở Phu Huột, sau đó một bộ phận thọc xuống Bản Phồn, chặn địch co cụm ở Nậm Cọ, Khang Kho, Keo Khoang, Điểm cao 1243. Ngày 13 tháng 10, các lực lượng của ta tổ chức tiến công. Song, do phối hợp, hiệp đồng chiến đấu không tốt, quân ta bị thương vong. Địch tăng cường không quân mở một đợt tiến công mới. Từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 10, chúng lại từng bước lấn chiếm các điểm cao 1172, 1236, 1239, 1228, 1214, Xiêng Nưa, Bản Xưa và dự định chiếm Phu Seo, Phu Tâng...


Trước tình hình trên, Bộ Tư lệnh Chiến dịch hạ quyết tâm khẩn trương tập trung, triển khai đánh trận then chốt quyết định vào cụm quân địch từ Nam Bản Quay đến Bắc Khang Kho. Trung đoàn 148 được giao nhiệm vụ tiến công trên hướng chủ yếu, đánh một trận quyết định, bẻ gãy cuộc tiến công mới của địch.


Trong đợt tiến công này, Tiểu đoàn 6 được giao nhiệm vụ đánh trận then chốt vào Điểm cao 1236, sau đó cùng các đơn vị trong Trung đoàn 148 phát triển đánh địch ở Điểm cao 1172, Bản Xưa, Na Van, cắt đường chạy của địch về Phu Huột. Một khó khăn lớn đối với Tiểu đoàn 6 lúc này là đơn vị làm nhiệm vụ phân tán, địch vừa ra, ta chưa được chuẩn bị. Để bảo đảm kịp thời gian nổ súng, cán bộ chỉ huy Trung đoàn đã huy động lực lượng toàn cơ quan làm công tác vận chuyển đạn, gạo cho trận đánh.


Tiểu đoàn 6 nhanh chóng tập trung về khu vực Phu Seo, tổ chức cho đơn vị luồn lách, bỏ qua các vị trí phía ngoài của địch, tiến vào tiếp cận Điểm cao 1236. Đồng chí Trương Danh Diệu (Trung đoàn phó) được cử đi cùng trực tiếp chỉ đạo trận đánh. Sau một đêm hành quân căng thẳng, Tiểu đoàn 6 vào tới vị trí chiến đấu lúc 3 giờ 40 phút ngày 26 tháng 10, đúng lúc Bộ Tư lệnh Chiến dịch ra lệnh nổ súng. Không kịp đào công sự, các chiến sĩ cối, ĐKZ, 12,7mm giá súng trên mặt đất bắn dồn dập vào Điểm cao 1236. Các cụm pháo binh chiến dịch bố trí trên các hướng kịp thời nã đạn vào các mục tiêu để chi viện cho bộ binh chiến đấu.


Lợi dụng lúc pháo bắn, các chiến sĩ lao lên áp sát mục tiêu. Khi pháo ngừng bắn, bộ đội ta nhanh chóng xung phong vào chiến hào, dũng cảm diệt địch. Trung đội phó Lê Văn Biên thuộc Đại đội 9 dẫn một bộ phận đánh thẳng vào mỏm 1. Sau 5 phút ta làm chủ vị trí, diệt 5 tên địch. Chiến sĩ Lò Văn Sinh, dân tộc Thái, mới lần đầu ra trận cũng xông xáo, diệt 5 tên, bắt giữ 1 tên. Chiến sĩ Nguyễn Văn Chiến mặc dù sức khôe chưa được tốt do mới ra viện cũng lập công xuất sắc, diệt 7 tên địch. Chỉ sau 10 phút chiến đấu, ta đã hoàn toàn làm chủ trận địa, toàn đơn vị triển khai truy kích địch rút chạy. Đội hình địch rút chạy lọt vào vị trí đón lõng của Đại đội 10, Đại đội 11, liên tiếp bị tiêu diệt, cả toán 35 tên bị diệt gọn. Tiểu đội trưởng Quang thuộc Đại đội 11 dẫn Tiểu đội xuất kích, khi súng hết đạn, Quang dùng ngay súng vừa thu được của địch, diệt 7 tên. Tất cả các bộ phận thông tin, trinh sát, quân y, anh nuôi đều tham gia đánh địch1 (Quân khu 2, Lịch sử Trung đoàn 148 (1945 - 2015), Sđd, tr. 137-138).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM