Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 20 Tháng Sáu, 2024, 06:48:55 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Bạn chiến đấu - Tập 2  (Đọc 8001 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #60 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2023, 08:56:44 am »

Đi một vài cây số nữa là đã nom rõ hồ Bu-ia Nua, xung quanh có một vùng bưng xanh ngắt và những căn nhà dài và thấp của những «cơ sở đánh cá Mông-cổ» quét vôi trắng giống những chiếc lều tranh miền U-cơ-ren; hiện giờ bộ đội biên phòng Mông-cổ đóng ở đấy, từ xa qua lớp bụi mù bốc lên sau chiếc xe tăng, tất cả những cái đó nhòa lẫn trong một sắc giải màu ve nhạt, xanh xám và trắng.

Chiếc xe tăng hãm phanh lại đột ngột đến nỗi chiếc «Em-ka» đi sau suýt va phải; rồi nó quay vòng lại đến đỗ bên cạnh chiếc «Em-ka». Người Mông-cổ mở cửa sắt, đưa tay lên vành mũ cát két, đóng mạnh cửa lại và chiếc xe tăng đi trở về, tung bụi mù mịt. Chiếc «Em-ka» đi hai trăm thước nữa rồi ngừng lại.

Cách đấy một quãng có nhiều chiếc bàn dài, chân cột chôn xuống đất, chắc trước dùng để lựa cá; bên cạnh gian nhà xa nhất có một chiếc xà đơn trên đó một người đang biểu diễn động tác «gơ-răng xô-lây»; nhìn thấy xe hơi đến, anh ta nhảy xuống đất. Cách đấy không xa, trong bưng, mấy con ngựa đang gặm cỏ. Trên bờ hồ, người ta đốt một đống lửa trại và treo một chiếc nồi ở trên. Hai chiến sĩ đứng bên đống lửa: họ quay lại và đi về phía xe.

— À, ca-dan(1) đây rồi — Đa-ni-lốp ở trên xe nhảy xuống và tặc lưỡi thú vị, tỏ rõ là bản chất khắc khổ của anh cũng có những nhược điểm của nó.

— Chào đồng chí Đa-ni-lốp. Sung sướng được gặp lại đồng chí — một người Mông-cổ trẻ tuổi, đeo cấp hiệu đại úy trên áo, nói bằng tiếng Nga. Vóc người anh, như đẽo bằng rìu, thấp bé. vai không cân đối, rộng quá và chảy xuôi xuống, những bắp thịt thép hằn lên dưới chiếc áo bơ-lu-dông, và khuôn mặt rộng, xương xẩu với những nét không có gì đặc biệt, cũng thở ra sức mạnh.

— Sa-đa — anh ta vừa tự giới thiệu vừa đưa tay cho Ác-tê-mi-ép, sau khi đã bắt tay Đa-ni-lốp — Anh không biết tôi, nhưng có lẽ anh sẽ gặp một người quen ở đây.

Không hiểu Sa-đa định nói ai, Ác-tê-mi-ép băn khoăn, bắt tay người Mông-cổ thứ hai, chỉ huy đơn vị biên phòng. Và cùng lúc đó anh nhận ra người đánh «gơ-râng xô-lây» trên xà đơn và đang hối hả đi đến gần. Người đó là Xa-na-ép, anh đã để mọc một lớp râu ngắn, đen như bồ hóng.

— Mình nhìn đúng là Ác-tê-mi-ép đến thăm bọn mình — anh ta la lên từ xa. Anh lướt nhẹ trên cát chân hơi vòng kiềng, đi những chiếc bốt nhỏ và ngắn bằng da dê có đinh thúc ngựa — Mình cứ tự hỏi: có thể đúng hắn không... Hắn đã cưỡi ngựa...

Xa-na-ép không nói hết câu, kiễng chân lên ôm lấy Ác-tê-mi-ép và ngay sau đó, lùi cách một với tay, ngắm nghía Ác-tê-mi-ép từ đầu đến chân, bằng con mắt phê phán.

— Chào anh xồm — Ác-tê-mi-ép nói — Rất sung sướng được gặp cậu. Có phải cậu để râu cho nó oai phải không? anh nói vừa nhìn bộ râu của Xa-na-ép.

— Lúc đầu, cũng là do buồn đời — Xa-na-ép nói.

Anh quay lại, nhưng mấy chiến sĩ Mông-cổ và Đa-ni-lốp đã đi về phía đám lửa trại, để anh lại một mình với Ác-tê-mi-ép. Những tuần đầu ở với đơn vị Mông-cổ chán quá, thời giờ để kết bạn và để bắt đầu choảng nhau. Chẳng có gì đáng nói, nhưng tất cả sư đoàn chỉ có một người Nga, mà lại là người Ốt-xét — Xa-na-ép mỉm cười — Rồi cái buồn qua đi và cái râu ở lại. Cậu biết không ở phương Đông râu người ta xoàng lắm, nhưng của mình... Cậu hãy nhìn cái của hiếm này một chút.

Anh phá lên cười và đưa tay một vòng vuốt bộ râu rất đẹp và tỉa gọt cẩn thận của mình.

— Thật ra mình cũng biết là cậu ở đây— Ác-tê-mi-ép nói.

— Thế à, đồ chuột tham mưu — Xa-na-ép vừa nói vừa nhếch mép cười dữ tợn — Cậu biết mà cậu không đến thăm bạn bè? Chắc là còn lê đít ở trên Kha-mác-đáp phải không?

Họ ngồi bên nhau trên bệ xe, Ác-tê-mi-ép không giữ ý nữa — vả lại anh cũng chẳng muốn giữ ý một chút nào — anh vắn tắt kể lại cho Xa-na-ép nghe trận đánh đầu tiên, bệnh viện, cuộc chiến đấu ở Ba-in Xa-gan và công tác của anh dưới sự lãnh đạo khắt khe của Pốt-ni-cốp.


(1) Ca-dan: tiếng Mông-cổ là chảo nấu ăn. (N.D.)
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #61 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2023, 08:58:37 am »

— Mình suýt đến cậu trước khi nổ súng — anh nói để chấm dứt — nhưng con quái vật ấy không muốn thả mình đi.

— Ở chúng mình, với những cấp dưới trong đơn vị, ông ta có tiếng là một cán bộ chỉ huy kiên quyết — Xa-na-ép nói, anh vẫn im lặng và đăm chiêu từ lúc Ác-tê-mi-ép bắt đầu nói về vết thương của anh ta. Chỉ một lần khi bàn đến Ba-in Xa-gan, anh mới reo lên bực tức làm gián đoạn câu chuyện — Thế mà lúc ấy mình ở ngay gần đấy!

— Còn cậu thế nào? — Ác-tê-mi-ép hỏi sau khi đã kể xong câu chuyện về mình — Trước hết cho mình biết các đơn vị Mông-cổ chiến đấu thế nào? Theo những thông cáo của ta thì khá. Nhưng theo nhận xét của cậu thì sao?

— Nhận xét của mình cũng không khác gì các thông cáo. Đôi lúc hơi liều lĩnh một chút, đôi lúc hơi kém tự chủ một chút...

— Dân tộc tính chăng?.

— Không phái. Tuổi trẻ. Quân đội của họ còn trẻ.


— Có một bản báo cáo nói rằng ngày 22, các cậu có tổ chức một đại đội kỵ binh đi tiến công. Giấc mơ của cậu có thực hiện được không, cậu có tham gia vào đấy không? — Ác-tê- mi-ép hỏi.

— Có — Xa-na-ép nói, trán nhíu lại — Thoạt đầu chúng mình dùng kiếm phạt được một nửa đại đội Nhật đang hành quân nhưng rồi chỉ mỗi một — anh nhấn mạnh vào chữ đó bực tức vừa giơ những ngón tay lên — chỉ một một khẩu súng máy Nhật, kịp bố trí trong một hố nhỏ, đã thịt mất của bọn mình hai mươi kỵ binh — Xa-na-ép đập tay vào kiếm thở dài — cái này trở nên một thứ vũ khí cổ hủ rồi. Nhất là trên một mặt trận hẹp và đối phó với một bộ binh mạnh. Khi nào công tác xong ở đây mình sẽ xin chuyển sang những đơn vị cơ giới, sẽ bỏ ngựa theo chiến xa.

— Có thật không? — Ác-tê-mi-ép hỏi, anh biết Xa-na-ép là một tay kỵ binh lão luyện.

— Không gì thật hơn. Với quân Nhật mình còn chiến đấu bằng ngựa, nhưng với quân Đức, sẽ phải bằng xe tăng.

— Cái gì thế? Một lời tuyên bố phản đối hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau chăng?

— Đúng thế — Xa-na-ép nói — Nhưng mình đề nghị cậu phải chú ý đến việc mình ở đây vì nhu cầu công tác. Mình nói như một người suy nghĩ đơn độc, người ta chưa giải thích rõ cho nên mình có thể làm. Mình không tin vào bản hiệp ước này.

— Sao, như vậy cậu không tin à? Thật không?

— Tin một nửa. Ở đấy có hai chữ ký. Và mình chỉ tin vào có một chữ ký thôi, chữ ký của chúng ta. Thôi, người ta đang đợi chúng mình kia kìa — Xa-na-ép nói thêm và đang ngồi ở trên bậu xe, anh đứng dậy.

Hai người đến gần đống lửa trại. Người ta đã bắc chảo xuống và Sa-đa, đồng chí chỉ huy đội biên phòng, Đa-ni-lốp và hai chiến sĩ biên phòng nữa ngồi chung quanh trên cỏ.

— Anh ngồi xuống đây — Sa-đa nói vừa ngồi thu hẹp lại để lấy chỗ cho Ác-tê-mi-ép ngồi bên canh mình — chúng ta sắp ăn thịt cừu.

Ác-tê-mi-ép và Xa-na-ép ngồi xuống. Đội trưởng biên phòng bắt đầu cho một cái muôi vào trong nồi vớt những miếng thịt cừu lớn, đặt vào những chiếc cà-mèn bằng nhôm.

— Đổ cả nước dùng vào nữa — Sa-đa nói — nước dùng cừu này ngon đấy.

Đội trưởng thêm một nửa muôi nước dùng vào mỗi một cà-mèn.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #62 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2023, 08:59:51 am »

Trên cỏ, cạnh chảo thịt cừu có một chiếc cà-mèn muối to hạt một chiếc nữa đầy ớt khô, một chóe lớn nước lạnh để phơi nắng nên đang bốc hơi và những chiếc ca bằng sắt tây.

Ác-tê-mi-ép dùng một nửa cùi dìa ớt, xắt thịt, rắc một nhúm muối lên trên và với vẻ thèm thuồng của một người đói thực sự, anh nuốt chửng luôn miếng ra-gu cừu rắc quá nhiều ớt cay cháy họng.

— Nước hồ Bu-ia Nua tốt lắm — Sa-đa vừa nói vừa cầm lấy chóe nước — người ta có thể bảo là nước Nác-dăng. Ai muốn uống nào?

Tất cả đều chìa ca. Ác-tê-mi-ép uống, thấy nước hồ quả tốt thật và nhất là lại lạnh như có đá.

— Nước hồ lúc nào cũng lạnh như thế hay sao ? — anh hỏi.

— Phải — Sa-đa trả lời — Tôi sinh ra ở đây, trong bộ tộc này. Bao giờ nước hồ này cũng mát lạnh. Hồ lại đẹp, như một cốc rượu... Phải không?

Và anh vung rộng tay, dáng điệu chủ nhà.

— Quả thật hồ đẹp lắm. Đằng xa nước mất mầu xám chì mà hình như màu lam nhạt, còn những khóm liễu quanh bờ lại một màu xanh lục tươi rói như vừa tắm sương. Ngay gần một đàn vịt đung đưa một cách lười biếng.

— Đi săn ở đây chắc tốt? — Ác-tê-mi-ép hỏi.

— Như hầu khắp mọi nơi trên đất nước Mông-cổ — Sa-đa đáp — Xưa, người ta không được giết thú săn, các la-ma không cho phép.

— Anh gọi thế là săn bắn à? — Đa-ni-lốp khinh khỉnh — ở đây trong thảo nguyên, có thể lấy bánh xe kẹp chết được ngỗng. Thú săn thật thừa mức. À, anh đã cho kỵ binh của anh ăn chưa? — anh vừa hỏi vừa đứng dậy, và bắt đầu từ lúc đó bước vào nhiệm vụ đội trưởng của mình.

— Một lát nữa thì xong — Sa-đa trả lời.

— Thế thì chuẩn bị đi... Ngựa đâu?

— Ngay lập tức — Sa-đa giơ tay lên và bằng một giọng nhát gừng nói to một điều gì với hai kỵ binh từ sau những lùm cây đi ra — Ngựa, sẽ có ngay lập tức.

— Mình để ngựa lại gửi đồng chí phụ trách nó ở đằng kia chỗ có đền đổ ấy — Xa-na-ép nói với Ác-tê-mi-ép — cậu tiễn mình một quãng, mình cũng phải đi. Cậu còn có thời giờ, trong lúc chờ đợi người ta đem ngựa đến...

Xa-na-ép chào Đa-ni-lốp và Sa-đa, và đi, dáng thờ ơ của một kỵ binh, về phía những ngôi nhà trắng của «cơ sở đánh cá Mông-cổ». Ác-tê-mi-ép đi theo.

— Thế nào cậu đi câu quân Nhật đấy à? — Xa-na-ép hỏi, hơi chậm bước lại một chút.

— Phải, ai nói mà cậu biết?

— Sư đoàn trưởng nói điện thoại trước mặt mình vào gọi Sa-đa. Mình cũng chẳng ghen gì với cậu... Tìm một người trong những thảo nguyên này, cũng như tìm kim đáy biển. Chả, mới mênh mông làm sao... Chỉ nguyên biên giới cũng đã hơn nghìn cây số rồi.

Vừa nói chuyện, hai người đi đến chỗ chiếc xà đơn, Xa-na-ép nháy lên. Anh nhún hai chân qua không chạm xả, rồi nhẹ nhàng nhảy xuống đất.

— Thật là quái quỷ, chỉ rặt thảo nguyên là thảo nguyên. Một cột dây thép cũng hãy còn là một thứ tiêu khiển. Đây là chiếc xà đơn đầu tiên mình thấy từ ba tháng nay. Ngoài ngựa ra chẳng có gì để tựa lưng vào cả. Thật mình nhớ cây quá!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #63 vào lúc: 08 Tháng Giêng, 2023, 09:00:51 am »

— Cậu không nhớ gì khác nữa à? — Ác-tê-mi-ép hỏi.

— À, Pôn ơi, nếu cậu biết mình nhớ vợ ngần nào! — Nói đến đây. Xa-na-ép ngừng lại — Thú thật, chưa bao giờ mình lại nghĩ là có thể nhớ đến thế. Thà không lấy nhau còn hơn.

Và mặc dù anh nói điều đó với một sự sôi nổi thành thật khi nghĩ đến vợ, mắt anh lóe sáng lên niềm vui và nhiệt tình.

— Còn cậu, cậu có buồn không?

— Không, ở mình, chuyện đó lại không giống cậu. Người mà mình trước đây thường tương tư đến thì hiện nay đã có một người để mơ cô ta rồi. Mà làm chuyện ấy trùng với người khác, thì mình không quen — Ác-tê-mi-ép khôi hài. Nhớ đến Cô-xi-ri-ốp, anh bỗng thấy trong lòng rạo lên một niềm vui pha lẫn tức giận, vừa ganh ghét vừa thích thú nó làm chính anh cũng ngạc nhiên — Cho đến lượt hắn đau khổ vì được một hạnh phúc như thế ngẫu nhiên đến tay, cho hắn thử đoán một chút xem cô ta có yêu hắn không, cô ta có ôm hắn trong trái tim hay quẳng hắn ra ngoài đường, điều gớm nhất là người ta có thể chờ đợi ở cô ta cả hai thái độ trên và ngay cả chuyện khác nữa.

Họ đi vòng những «cơ sở đánh cá Mông-cổ» và đến gần chỗ mà Xa-na-ép gọi là chỗ đền đổ. Đó là một mảnh sân vuông rộng, có một bức tường thấp nhưng dày chung quanh. Ở phía cuối sân phủ cỏ, người ta nhìn thấy những mẩu còn sót lại của một hệ thống bậc đá, thoai thoải dốc. Hai bên có hai chiếc bệ bị thời gian mài mòn, trên có hai pho tượng đá nặng, gẫy vỡ ở ngang người. Những chỗ dập vỡ gió bào nhẵn đến độ người ta có cảm giác là những bức tượng này chưa bao giờ được tạc đủ hoàn toàn.

Hai con ngựa uể oải nhai cỏ gai bên hàng rào, và người dắt ngựa, tựa vào tường, thiu thiu ngủ. Xa-na-ép gọi:

— Na-kho.

Người dắt ngựa cử động mấy cái, nhảy lên ngựa và đến gần. Xa-na-ép nắm lấy dây cương ngựa của anh.

— Đây là một ngôi đền cổ — Xa-na-ép giải thích — có lẽ lừ đời Thành Cát Tư Hãn, nếu không phải trước đấy. Cậu hãy nhìn tường vây chung quanh xem. Cậu chỉ nhìn thấy phần trên thôi còn tất cả chìm sâu xuống đất.

Ác-tê-mi-ép nhìn về phần cửa, ở đó ai đã đào một chiếc hố và thấy là tường ngập sau xuống đất thật.

— Này Pôn — Xa-na-ép nói vừa uể oải cho chân vào bàn đạp — người ta đang đợi cậu đấy, từ biệt nhé.

Anh xiết chặt tay Ác-tê-mi-ép, nhảy lên ngựa và cho phi nước đại đi trước người Mông-cổ.

Ác-tê-mi-ép trở về chỗ Đa-ni-lốp và Sa-đa. Ngựa đã thắng yên. Những kỵ binh — ít hơn là Ác-tê-mi-ép nghĩ, chỉ vào khoảng mười lăm người — đứng dưới đất nắm lấy cương ngựa của mình cùng với dây cương mấy con ngựa để thay đổi.

— Anh chọn đi — Sa-đa nói vừa kéo hai con ngựa đến.

Con ngựa của Sa-đa, chẳng ai giữ, hình như mọc chân xuống đất.

Ác-tê-mi-ép đưa mắt nhìn hai con ngựa và sau khi nhận định con ngựa khoang ngực nở là con ngựa khỏe nhất, anh khẽ kéo nó về phía mình. Sa-đa bỏ cương ra, và Ác-tê-mi-ép một tay để lên vai ngựa, bốc cả thân hình nặng nề lên yên một cách nhẹ nhàng làm mọi người ngạc nhiên.

— Không chê vào đâu được, anh thích những «miếng bở», anh chọn ngựa sành lắm — Đa-ni-lốp vừa nói vừa chậm rãi nhảy lên con ngựa kia.

— Con của anh cũng không phải tồi — Sa-đa nhận xét và hạ lệnh cho tất cả lên ngựa bằng tiếng Mông-cổ.

Đi rồi ra theo chiều dài, toàn đội từ biệt khu làng nhỏ của những «cơ sở đánh cá Mông-cổ» và lên đường hướng Tây Nam về phía hồ Bu-ia Nua.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #64 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2023, 10:05:07 am »

CHƯƠNG XXV

Đã năm hôm nay, Đa-ni-lốp, Sa-đa, Ác-tê-mi-ép và đơn vị ít người của họ đi đi lại lại trong thảo nguyên dọc biên giới Mông-cổ. Người ta chờ đợi bắt gặp một nhóm biệt kích Nhật vượt biên giới, ở khu vực cách Khan-khin Gon khoảng một trăm cây số về phía Tây. Ở đấy không có gì cả, không có núi, không có sông có thể dùng làm mốc ranh giới rõ rệt. Theo sự hướng dẫn của bản đồ, người ta vẽ ra trong đầu một đường vô hình, dọc theo đó di chuyển một vài đội tuần tra biên phòng thưa thớt trong thảo nguyên mênh mông.

Đến trạm trú chân đầu tiên, Đa-ni-lốp trải tấm bản đồ tỷ lệ 5/100 trên đất. Cẩn thận đưa ngón tay lên trên, và không dám ẩn mạnh, để cho những ngọn cỏ khô, sắc như gốc rạ, khỏi chọc thủng bản đồ từ bên dưới, anh thảo luận với Ác-tê-mi-ép và Sa-đa về tất cả những chi tiết Sơ-mê-lép đã phổ biến cho anh.

Nhóm biệt kích Nhật đầu tiên, cách đây một tuần đã vượt biên giới về phía Nam, đối diện với hoành sơn Tam-xắc Bu-lắc, rõ ràng là định âm mưu; sau nhiều lần phá hoại trong cùng hướng đó, tiến gần biên giới phía Bắc, vùng hồ Xô-lông-sắc. Người ta lục trong một xác chết thấy một tấm bản đồ có ghi rõ hướng đi như trên. Ở chỗ hồ Xô-lông-sắc có một vòng tròn nhỏ với chữ tượng hình «Bou» vừa có nghĩa là «hầm trú ẩn» vừa có nghĩa là «căn cứ».

Những tài liệu khác về nhóm thứ nhất là do những bằng chứng cụ thể cung cấp: bốn xác chết, mấy khẩu súng trường và một hộp cấp cứu trong đó có hai ống thuốc tiêm đựng đầy vi trùng dịch tả, cả hai đều gói trong một cuộn bông.

Bộ phận tình báo của Khai-la cung cấp tài liệu về nhóm thứ hai. Nhóm này trong những ngày tới sẽ vượt biên giới phía Bắc hoành sơn và tự định hoạt động trong một thời gian nào đó.

Bên kia hồ Xô-lông-sắc bắt đầu những khu vực sân bay quân sự. Thời gian vừa qua người ta đã tập họp ở đó nhiều trung đoàn không quân. Sơ-mê-lép cho rằng chi tiết trên giải thích việc nhóm biệt kích xuất hiện trong khu vực hồ này. Vì phải di chuyển trong nhiều ngày, nên chắc chúng phải mang theo một nhân viên vô tuyến điện; điểm ghi trên bản đồ hẳn là điểm gặp nhau của hai nhóm.

Điểm này là một dải đất hẹp giữa hai hồ và đó cũng là chỗ Sa-đa dẫn đơn vị đến vào sớm tinh mơ ngày thứ hai. Như Đa-ni-lốp đoán trước, chẳng có một bóng người nào cả nhưng bản thân địa điểm, với những lùm đất nhỏ phủ kín bụi cây thấp và dày rất tiện cho việc dăm ba người cùng với ngựa ẩn nấp. Chỉ cần đào những chiếc hầm sâu độ bảy mươi nhăm phân. Và cả mùi nồng nặc của đầm lầy Xô-lông-sắc bốc lên suốt ngày đêm, cả mùi vị kinh khủng của nước, cả đám muỗi dầy đặc, tưởng như có thể bốc được — cũng không cản trở được quân Nhật, một khi chúng đã định núp ở đây.

Nhưng hoàn toàn tin vào một chỉ dẫn trên bản đồ và ngồi đợi quân Nhật ở đây thì thật là một việc dại dột. Sau khi hội ý với Sa-đa và Ác-tê-mi-ép, Đa-ni-lốp quyết định mở rộng phạm vi kiểm soát trong một khu vực rộng từ ba mươi đến bốn mươi cây số, và đón bắt quân Nhật ở cửa đường giữa biên giới và hồ Xô-lông-sắc.

Đã nhiều lần trong những ngày này, Ác-tê-mi-ép có cảm giác là họ đứng trước một nhiệm vụ không thể làm tròn được. Thảo nguyên trải ra vô tận và đều đều về ba phía Tây, Bắc, Nam. và đơn vị tí hon của họ chỉ như một hạt cát giữa mênh mông khiến hy vọng gặp gỡ giữa hạt cát này với hạt cát khác, nhóm biệt kích của quân Nhật, thật mỏng manh hết sức.

Mặc dù Đa-ni-lốp chịu đựng oi bức rất kém, chẳng bao giờ thấy anh than phiền. Người gầy rộc, mệt nhoài, như khô đét lại, mặt và tay sây sát, người chỉ huy thân hình bé nhỏ ấy không ngừng ruổi ngựa, tay xoắn chặt lấy dây cương, và người ta có thể nói rằng không một sức mạnh nào trên đời có thể gạt anh ngoài đường vòng, mà như một chiếc quả lắc đồng hồ, anh vạch ra hàng ngày giữa biên giới và miền Xô-lông-sắc.

Ban đêm, những chiếc phóng pháo chở nặng bay là là trên đầu họ về phía Khan-khin Gon. Thỉnh thoảng người ta có thể nhìn thấy trên khu vực hồ Xô-lông-sắc, cao tít tắp trời những chấm nhỏ xíu. Đấy là những phóng pháo ban ngày, cất cánh từ những sân bay gần tiền phương, bay ra mặt trận và từ đó trở về.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #65 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2023, 10:06:08 am »

— Bây giờ mà biết rõ được tình hình mặt trận thì thú vị biết mấy. Quân ta đã chiếm được đồi Rê-mi-dốp chưa? Anh nghĩ thế nào? — Ác-tê-mi-ép hỏi Đa-ni-lốp, nhưng anh ta chẳng trả lời, chỉ hừm hừm mấy tiếng không rõ, cặp môi khô đét vẫn mím chặt, còn Sa-đa, ngược lại, trong những trưởng hợp tương tự, bắt chuyện ngay và sẵn sàng đưa ra những giả thuyết.

Theo ý anh, quân Nhật sau khi mất hàng chục nghìn người, không thể nào lại chịu thôi. Anh nói đến việc này hy vọng hơn là lo ngại, vì rõ ràng là anh muốn những trận đánh tiếp tục: đối với anh, quân Nhật bị trừng phạt như thế vẫn còn là chưa đủ.

Một lần, một chiếc khu trục chắc là bị lạc, bay rất thấp trên thảo nguyên, theo hướng những sân bay. Nó bay thấp đến độ trong khoảnh khắc người ta có thể nhìn rõ đầu phi công, Ác-tê-mi-ép nhận thấy ở đuôi có con số 7, số máy bay của Pô-li-nin và anh la lên: «Đỗ lại!» Chỉ một giây sau, khi máy bay đã đi xa lắm và đang bay lượn như một chú sáo nhỏ trên thảo nguyên, Ác-tê-mi-ép mới rũ ra cười về cử chỉ vô lý của mình.

Ngày trôi qua giống nhau đến nơi người ta có cảm giác đây không phải đội tuần tra rong ruổi trên thảo nguyên, mà đang sống cuộc đời một đơn vị vĩnh viễn rút xa.

Không thay đổi, ngày nào cũng vậy. Cứ đêm xuống là trú quân; người ta ăn vội vàng, chỉ định người gác và ngủ cũng chẳng căng lều, dùng những lưới vải che muỗi. Người ta trở dậy lúc trời còn tối mò, một giờ trước bình minh, vì Đa-ni-lốp cho rằng lúc này là thời gian thuận lợi nhất cho việc quân Nhật vượt biên giới.

Ngay từ tảng sáng, người ta thắng yên ngựa chia ra làm hai nhóm và đi theo những hướng khác nhau.

Đến trưa mới nghỉ. Người ta đốt một đống lửa, những ngọn lửa hình như trong suốt dưới ánh mặt trời. Người ta đun sôi nước cho thịt khô vào ăn với tỏi rừng nhặt được trong thảo nguyên. Rồi người ta uống nước chè xanh, pha muối, theo lối Mông-cổ; uống thế rất đỡ khát, và người ta lại đi xa hơn.

Nhưng đến tối, tất cả lại gặp nhau ở giữa đường vòng cung vạch hồi ban ngày. Nếu buổi sớm khi chuẩn bị, Ác-tê-mi-ép đi cùng với Sa-đa, và Đa-ni-lốp đi một mình, thì buổi tối, người ta im lặng ngồi quanh lửa vì Ác-tê-mi-ép và Sa-đa đã có tất cả một ngày để nói chuyện với nhau — còn Đa-ni-lốp ngược lại, càng không nói anh càng cảm thấy thích thú trong sự im lặng. Nếu là Sa-đa và Đa-ni-lốp đi với nhau, thì buổi chiều chính anh chàng Mỏng-cổ, đã chán ngấy vì suốt một ngày câm lặng, bắt chuyện với Ác-tê-mi-ép; tuy mệt, nhưng cả hai còn ngồi nán lại rất lâu bên cạnh đốm lửa lụi dần.

Họ ngồi với nhau như vậy đêm nay là đêm thứ năm rồi. Đa-ni-lốp nằm nghỉ cách đấy hai bước chân, lấy một tấm bạt lều đắp kín người, thỉnh thoảng, những tiếng động khô khốc dưới mảnh vải bạt nhắc nhở mọi người là anh có mặt. Muỗi làm anh không ngủ được.
 
Thảo nguyên thẳm tối và im lặng. Chỉ có một vài đốm than đỏ hồng yếu ớt trong đống lửa lụi dần. Sa-đa lấy chân gạt vào, nói:

— Ta đi ngủ đi.

— Này! — Ác-tê-mi-ép nói.

Sa-đa lắng tai nghe, quay đầu lại và nói nhanh:

— Tôi không nghe thấy gì cả.

Trong tối, Ác-tê-mi-ép mỉm cười trước sự hiểu lầm của Sa-đa và nghĩ thầm: «Anh chàng này mặc dù trình độ tiếng Nga cũng khá nhưng đôi khi hiểu và dùng máy móc lẹ theo từng chữ quá».
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #66 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2023, 10:07:40 am »

— Khi anh sang thực tập bên Liên-xô chắc anh chưa biết tiếng Nga phải không?

— Lúc ấy tôi chỉ biết chút đỉnh thôi. Trước khi vào bộ đội tôi lái xe cho một cửa hàng may mặc ở U-lan Ba-to — Phụ trách cơ sở ô-tô và trưởng kíp thợ máy là người Nga. Nhưng dĩ nhiên thời kỳ đó tôi biết tiếng Nga rất tồi, và ngay cả bây giờ tôi biết cũng vẫn còn chưa đủ.

— Bây giờ thì anh thạo rồi — Ác-tê-mi-ép nói cũng không miễn cưỡng lắm.

— Có thể là không tồi lắm — Sa-đa trả lời cũng chờ đợi sẵn là Ác-tê-mi-ép sẽ nói như vậy — Nhưng tôi không được thực hành luôn, tôi ít nói chuyện với các đồng chí Nga, phần nhiều là đọc sách. Sư đoàn chúng tôi đóng ở miền này năm năm rồi. Và đã ba năm nay tôi không đi U-lan-Ba-to.

— Phải, miền này chưa được yên.

— Từ 31, khi quân Nhật bắt đầu đến Mãn-châu chúng đã vượt hay bay qua biên giới chúng tôi đến hai trăm mười ba lần rồi.

— Gần như là cứ mười lăm ngày lại một lần — Ác-tê-mi-ép làm con tính.

— Năm 1936 — Sa-đa nói liếp — chính ở vùng này cách đây không xa chúng đã cho cả một trung đoàn kỵ binh vượt biên giới, tàn sát tất cả những người dân A-rát chúng bắt gặp trong thảo nguyên và cướp hết gia súc của họ. Nhưng súc vật đi chậm nên chúng không thể hành quân nhanh, không quân chúng tôi tìm được và ném bom ngay, giữa thảo nguyên trên đường chúng rút về. Chúng không ngờ rằng chuyện đó lại có thể xảy ra vì người Mông-cổ theo chúng, làm gì có máy bay. Và chúng giết hai mươi sáu gia đình. Chính tôi cũng mất một vài người thân.

— Ai? — Ác-tê-mi-ép hỏi.

— Bố tôi mẹ tôi và chị tôi — Sa-đa trả lời, giọng rung lên một mối căm thù không gì dập tắt được — Tôi còn một món nợ cần phải thanh toán với người Nhật.

— Người Nhật, chắc chắn không phải là ai cũng giống ai... Ác-tê-mi-ép nói anh cảm thấy, mặc dù những lời đó rất đúng, nhưng thật khó nói sau những việc Sa-đa vừa kể.

— Lẽ dĩ nhiên — Sa-đa đáp lại lạnh lùng — nhưng tôi, tôi chỉ nhìn thấy những tên Nhật sang nước chúng tôi súng lăm lăm trong tay, và những tên Nhật đó tôi căm thù chúng, và chúng cũng căm thù chúng tôi.

Một lần nữa anh lại lấy mũi bốt gạt tàn trên đám than hồng.

— Chúng ghét tất cả những ai không muốn làm nô lệ cho chúng. Năm 1937, khi chúng vượt biên giới và vẽ bản đồ khu vực này, nghĩ rằng không ai nom thấy, tôi cùng với hai kỵ binh nữa được lệnh đuổi theo chúng sang tận Mãn-châu, chung tôi trá hình làm những người dân Bác-gút nghèo thuộc miền Khin-gan. Tôi sống một năm ở Mãn-châu quốc và tôi nhìn thấy quá nhiều nhà bị đốt và nhiều đầu bị chặt đến nỗi tôi khó mà tưởng tượng được lại có thể có những người Nhật tốt bụng. Dĩ nhiên là những người như thế cũng có. Tôi là đảng viên Đảng nhân dân cách mạng và tôi hiểu điều đó. Thôi ta đi ngủ chứ?

— Ừ, đi ngủ thôi — Ác-tê-mi-ép nói.

Anh đứng dậy và xéo lên những hòn than cuối cùng đương vạc. Anh tháo bốt cởi một khuy áo bơ-lu-dông, nới hai lỗ thắt lưng, và chui vào mảnh vải bạt, cạnh Đa-ni-lốp đang thiêm thiếp một giấc ngủ mệt lử, hơi thở dồn từng cơn một.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #67 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2023, 10:10:46 am »

*
*   *

Tinh mơ hôm sau, đội tuần tra vừa chia làm hai và vừa mới phân tán, Đa-ni-lốp đi phía trái, Ác-tê-mi-ép và Sa-đã rẽ phía phải, thì xảy ra cái việc mà từ bốn ngày bốn đêm nay đã bắt đầu có vẻ như một ảo tưởng.

Ác-tê-mi-ép đưa ống nhòm lên mắt, như anh đã làm hàng trăm lần trước đây, và nhìn rõ xa về phía biên giới. Dăm vết đen. rất xa, ngay trên đường biên giới hiện lên trên ống kính.

Bình minh mới bắt đầu; mặt trời vừa ló ra phía chân trời mờ mờ chưa hết tối. Ác-tê-mi-ép nhỏm lên trên bàn đạp và một lần nữa lại chăm chú nhìn những điểm đen phía chân trời, sợ mình trông nhầm. Nhưng những điểm đó không mất, hình như chúng còn tiến lên nữa.

— Na-kho Sa-đa — Ác-tê-mi-ép nói khẽ với Sa-đa như sợ có thể có ai nghe tiếng — Nhìn xem kìa!

Sa-đa đến bên anh, cũng đứng thẳng người trên bàn đạp và đưa ống nhòm lên mắt. Nét mặt anh căng thẳng, nom như anh đang nhắm và sắp bắn.

— Sáu người và một đàn mấy con ngựa.

— Anh nghĩ thế nào? — Ác-tê-mi-ép hỏi.

— Tôi cho rằng đó là quân Nhật — Sa-đa trả lời. — Bây giờ là năm giờ. Đây cách biên giới hai mươi cây số. Chúng vượt biên giới vào lúc trời tối nhất. Chúng đi theo hàng một. Một gia đình Mông-cổ không đi thế. Đàn ngựa ở giữa. Bắt chước không đúng. Phải báo trước Đa-ni-lốp để anh ta bổ vây chúng về phía bên trái.

Ác-tê-mi-ép gật đầu, không nói gì.

Sa-đa gọi một kỵ binh, nói mấy câu và anh này phi ngựa về hướng Đa-ni-lốp. Đây là lần đầu tiên Ác-tê-mi-ép thấy Sa-đa hồi hộp. Ngay khi nói, môi anh ta cũng giật giật,

— Làm gì bây giờ? — Ác-tê-mi-ép hỏi — Chắc bọn chúng cũng nhận được chúng ta.

— Không, mặt trời ở phía kia — Sa-đa nói vừa chỉ về phía chân trời — ở đó sáng, chúng ta nhìn thấy chúng; ở đây trời vẫn còn tối. Trong mười phút nữa, chúng còn chưa thể nhìn thấy ta.

Theo lệnh Sa-đa, các kỵ binh người nọ tiếp người kia đến gần anh và Ác-tê-mi-ép. Lúc này, một người đã đi tìm Đa-ni-lốp trong phân đội còn tám người kể cả Sa-đa và Ác-tê-mi-ép.

Ác-tê-mi-ép định đề nghị tất cả phóng qua thảo nguyên về phía bên phải những điểm vừa nhìn thấy ở chân trời, cắt đứt chúng với biên giới sau khi đã đi vòng một đường bán nguyệt, nhưng Sa-đa đã phát biểu trước anh.

— Đồng chí đại úy, tôi đem theo một kỵ binh cùng với tôi tiến thẳng đến trước mặt chúng để nói chuyện. Còn đồng chí với các anh em đi vòng về phía bên phải.

— Thế anh trực tiếp đến gặp bọn chúng à?

— Phải. Hai người, thì chỉ là một việc đi tuần bình thưởng. Tôi đến gần, hỏi chúng mấy câu, và tôi nghe chúng nói tiếng Mông-cổ. Chừng nào chúng còn chưa thấy các anh tập hậu. chúng chưa sợ. Khi các anh đến gần, tôi sẽ là người đầu tiên nổ súng bắn vào ngựa của chúng.

— Nếu anh đem thêm người đi cùng?

— Chúng sẽ sợ, quay trở lại. Nếu ngựa tốt, chúng thoát mất.

— Nếu thế anh phải cẩn thận.

— Được, không việc gì — Sa-đa nở nụ cười căng thẳng — Khi mình bắt đầu nổ súng, cậu phải đến tiếp viện nhanh nhanh lên mới được!
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #68 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2023, 10:12:20 am »

Mối xúc động làm Sa-đa mình, cậu với Ác-tê-mi-ép và thôi không nói tiếng Nga đúng các thứ mẹo luật như trong sách, nó là đặc tính lối nói của anh cho đến giờ. — Cậu đi nhanh lên! — Và quay ngựa, anh cùng với một kỵ binh nữa phóng về phía những bóng người nhô lên trong thảo nguyên.

Ác-tê-mi-ép hô số kỵ binh còn lại: «Đi theo tôi!» và giật ngựa phi nước đại lao trong thảo nguyên chệch hẳn về phía bên phải.

Mọi việc xảy ra nhanh chóng hơn là anh dự định. Anh vừa phi được ba cây số cùng với anh em kỵ binh và chưa có đủ thời giờ đến phía sau quân Nhật, ở phía Sa-đa đã nghe thấy một tiếng súng trường, rồi một tràng súng máy.

Ác-tê-mi-ép quay ngựa, và cố bình tĩnh, đưa ống nhòm lên nhìn. Tay anh run run. Con ngựa giậm vó xuống cát, sốt ruột. Trong sương mù chưa tan hẳn, người ta nhìn thấy một cái gì chuyển động không rõ rệt. Những phát súng trường lẻ loi xen lẫn với những tràng súng máy bắn từng loạt ngắn một.

Quyết định hết sức nhanh và cũng chẳng cần suy nghĩ, vì anh cảm thấy tình hình quá rõ rệt — sáu tên Nhật đối phó với Sa-đa và một chiến sĩ — Ác-tê-mi-ép ra hiệu cho các kỵ binh lúc đó chỉ còn chờ lệnh, và tất cả lao thẳng về phía tiếng súng nổ.

Đi đến hơn một cây số anh mới ngoảnh đầu lại: anh em kỵ binh, phân tán theo hình cánh quạt, đang phi nước đại sau anh qua thảo nguyên.

Giờ đây người ta có thể nhìn rõ những con ngựa đang lồng trên cát. Vẫn nghe thấy những tiếng súng trường và những tràng súng máy. Một cái gì đen thẫm, chắc là những con ngựa bị bắn ngã, lẫn vào địa hình mấp mô của thảo nguyên lổn nhổn những đống cát

Bỗng Ác-tê-mi-ép nhìn rõ thấy bốn kỵ mã tách khỏi đám hỗn độn đó và phi theo hướng đông bắc, về phía biên giới. Quân Nhật tách ra làm hai nhóm: một nhóm chống cự, nhóm kia bỏ chạy.

Ra hiệu cho ba kỵ binh bên trái anh cứ tiếp tục theo hướng cũ. Ác-tê-mi-ép với hai người khác phóng chéo về phía biên giới.

Khoảng cách giữa anh và quân Nhật mỗi lúc một rút ngắn lại rất nhanh, nhưng bọn chúng phóng về phía biên giới theo đường thẳng, trong lúc anh theo đường chéo. Anh không còn thời giờ để cắt đứt đường rút của chúng nữa rồi và mặc dù cách rất gần, anh vẫn ở phía sau chúng.

Sau mấy phút, bọn Nhật lại tách ra. Hai tên, chỉ hơi chậm ngựa lại tí chút, rồi lại tiếp tục phóng thẳng về phía trước; hai tên khác đột nhiên rẽ ngoặt về phía trái. Cho rằng đã có Đa-ni-lốp ở phía đó và thấy ngựa thở mỗi lúc một mệt hơn. Ác-tê-mi-ép tiếp tục phóng thẳng. Hai kỵ binh ngựa ít nhọc nhất, đuổi kịp anh.

Khoảng cách giữa họ và quân Nhật chỉ còn có ba trăm thước; Ác-tê-mi-ép đã nhìn rõ hai tên: một tên mặc một chiếc bơ-lu-dông đang phồng lên trong gió và đội một chiếc mũ lông vạt che rất to; một tên chắc là đã vắt áo đi cởi trần, khẩu các-bin nhảy nhảy trên lưng.

Ác-tê-mi-ép vừa kịp nghĩ sau này cần phải tìm chiếc áo đó, thì hai tên Nhật đã đồng thời quay lại, và biết chắc rằng Ác-tê-mi-ép và hai kỵ binh đuổi theo bọn chúng chứ không phải những tên rẽ sang trái, chúng thúc ngựa phóng nhanh hơn. Chúng lại vượt xa, và rồi chúng lại tách ra, phi mỗi đứa cách nhau một trăm thước, như muốn khuyến khích những người đuổi theo cũng tách ra. Hai kỵ binh của Ác-tê-mi-ép vượt anh, người anh quá nặng cho một cuộc phi ngựa xa như thế.

Trong lúc đó hai tên Nhật vẫn tiếp tục đi tách nhau ra.

Hai kỵ binh của Ác-tê-mi-ép cũng làm như thế. Một người đuổi tên đội mũ lông, một người đuổi tên mình trần, đeo các-bin.

Không hiểu lại sao, vì lúc đó anh không nghĩ đến chiếc áo bỏ lại có thể giấu một cái gì quan trọng — và như thế làm cho tên Nhật đã vứt áo đi trở nên đáng chú ý hơn — Ác-tê-mi-ép cưỡi con ngựa đang thở hổn hển phóng theo người kỵ binh đuổi tên mình trần.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
macbupda
Trung tá
*
Bài viết: 11970


Lính của PTL


« Trả lời #69 vào lúc: 09 Tháng Giêng, 2023, 10:14:36 am »

Cuộc chạy hình như kéo dài vô tận. Nhưng đột nhiên tên mình trần bỗng quay ngoắt ngựa lại, tháo súng ở vai ra, và gần như nằm trên lưng con vật đã ngừng lại, bắn luôn nhiều lần, từng phát một. Người kỵ kinh đang phóng ngựa, buông dây cương, giơ hai tay lên trời như định níu lấy một vật vô hình, và ngã sang một bên, trong lúc con ngựa lồng lộn rồi cũng đổ theo. Tên Nhật lại ngắm Ác-tê-mi-ép và bắn hai phát. Viên đạn thứ hai ríu ngay trên đầu Ác-tê-mi-ép. Thấy anh vẫn tiếp tục phóng tới, tên Nhật quay lại và lấy giầy thúc vào bụng ngựa bỏ chạy.

Không có hai phát súng cuối cùng, tên Nhật may ra cũng có cơ chạy thoát, nhưng Ác-tê-mi-ép, trong thời gian đó đã đến gần hắn và chỉ còn cách có hai trăm thước, anh xuống ngựa, quỳ một gối xuống đất và khoan thai, đúng cách thức hạ thấp nòng xuống, ngắm vào chiếc lưng trần đang nhay nhay theo nhịp phi của ngựa, và bóp cò.

Nhìn thấy tên Nhật ngã ngựa, và con ngựa tiếp tục đi chậm chậm, kéo theo xác tên Nhật một chân mắc vào bàn đạp. Ác-tê-mi-ép lo sợ anh vừa làm cái điều chính là không nên làm. Anh đã giết tên Nhật, trong khi lẽ ra phải bắn vào ngựa hắn mới đúng. Không những anh giết hắn, mà còn rõ ràng là anh định bắn chết hắn: trong lúc đó anh hoàn toàn quên mất lệnh của Sơ-mê-lép và sự cần thiết, hiển nhiên đối với anh, phải bắt sống tên biệt kích.

«Anh kỵ binh kia không quay trở lại lúc nghe thấy tiếng súng và tiếp tục đuổi theo tên mũ lông, thật đã hành động đúng» Ác-tê-mi-ép vừa nghĩ vừa dõi theo bóng hai người cưỡi ngựa đương phóng mãi ra xa. Anh giật cương con ngựa mỏi mệt và đi về chỗ xác người Mông-cổ đang nằm dài trên đám cỏ thấp.

Anh đã chết, và không gì có thể cứu được nữa, cả gói bông cá nhân mà Ác-tê-mi-ép dù sao cũng cứ rút trong xà-cột ra, cả nhà phẫu thuật khá nhất, ngay cả A-púc-tin, nếu anh ta có mặt ở đây. Viên đạn đã vào đầu, để lại một lỗ nhỏ trên một bên mắt. Con ngựa nằm sóng soài bên cạnh như một con chó trung thành nằm dưới chân người chủ đã chết.

«Sao hắn ta lại không bắn ta nhiều hơn nữa» anh tự hỏi vừa nhìn về phía con ngựa của tên Nhật mình trần đang tiếp tục chạy vòng tròn kéo theo xác chủ đằng sau; và đếm những phát đạn nổ, anh bỗng hiểu: trong lúc hăng máu, tên Nhật đã bắn hai phát cuối cùng của băng năm viên và không có thời giờ nạp lại đạn.

Đặt người Mông-cổ nằm ngửa trên đất, Ác-tê-mi-ép tháo đai ngựa, lấy chiếc chăn dưới yên phủ kín đầu người chết để ngăn không cho chim đến mổ khi xác anh ta còn nằm trên thảo nguyên, anh lấy trong túi người chết cuốn lý lịch quân nhân và thẻ liên đoàn thanh niên cách mạng; rồi anh nhặt khẩu súng văng ra cách đấy mười bước, lắp lưỡi lê vào và cắm xuống đất, để từ xa người ta cũng có thể nhận được.

Rồi anh đi đến phía con ngựa của tên Nhật, đang lúc thì ngừng lại đột nhiên như muốn gạt chiếc xác ra. lúc thì lại đi dăm ba bước về phía trước, kéo lê chiếc xác đằng sau,

Khi Ác-tê-mi-ép đến gần, có lẽ chỉ còn cách độ ba mươi bước chân, con ngựa vểnh tai lên, bộ như muốn lao đi, xác tên Nhặt vướng vào một bụi cây và con vật bắt đầu nhảy tại chỗ, và lại lồng lên một lần nữa, dây đai bật ra, chiếc yên rơi xuống đất, và con ngựa hoảng hốt, cảm thấy được tự do, rông thẳng trong thảo nguyên.

Tên Nhật nằm ngửa trên đất, một chân gập lại một cách kỳ quặc, không phải ở đầu gối mà thấp hơn, vì lúc ngã chân hắn bị gẫy; hắn mặc một chiếc quần đùi bẩn thỉu bằng phơ-la- nen, có một chiếc dây da mỏng màu đen cáu ghét buộc vào người, và đi gu-tun: loại bốt Mông-cổ rộng thùng thình mũi vểnh.

Mình nó cởi trần bị kéo lết trên đất, sây sát chảy máu. Ác-tê-mi-ép thấy một chiếc mùi-soa trong túi người chết, lấy lau mặt cho hắn; trên mũi tên này vẫn còn vết hằn nhẹ của cặp kính hắn phải bỏ ra lúc trá hình làm một người dân Mông-cổ để vượt biên giới. Trong túi hắn, ngoài chiếc mùi-soa ra còn có dăm sác-giơ các-bin và một hộp dẹt bằng sắt tây đựng những viên thuốc trừ muỗi xanh xanh bẻ vụn thành từng mảnh.

Nhưng dù sao Ác-tê-mi-ép cũng không định bỏ lại chiếc xác ở đây gần biên giới, còn cần phải khám xét kỹ, tháo để các gu-tun và tất cả các đường khâu trên quần áo. Và ngay cái xác chết cũng có thể dùng làm tang vật.
Logged

Tự hào thay, mác búp đa
Khởi đầu những bản hùng ca lẫy lừng.
Thô sơ, gian khổ đã từng
Chính quy, hiện đại, không ngừng tiến lên.
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM