Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 13 Tháng Sáu, 2024, 01:46:20 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia Đình, Bạn Bè Và Đất Nước - (Hồi ký - Nguyễn Thị Bình)  (Đọc 3118 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #30 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2023, 02:01:35 pm »

Thống nhất đất nước


      Ngày 30.4.1975 sẽ mãi là một ngày lịch sử trọng đại của dân tộc. Nguyện vọng thiết tha vể thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả hai miền đã được thực hiện trọn vẹn. Sau 20 năm đất nước bị chia cắt, 20 năm gia đình ly tán, 20 năm những người vợ phải chờ chồng, có những đứa con 20 tuổi mới biết mặt cha... Bên cạnh niềm vui sum họp không thể tả, nhiều người bạn của tôi hết sức đau buồn vì không tìm lại được cha mẹ, vợ hay chồng con đã bị bom đạn chôn vùi sau những trận ném bom hay các cuộc càn quét...

     Trước ngày 13.5.1975, cùng một số đồng chí lãnh đạo, tôi đã từ Hà Nội vào Sài Gòn. Từng sống và hoạt động ở thành phố này, nhưng có nơi tôi không còn nhận ra được nữa. Thành phố được giải phóng sau chiến dịch tổng công kích, tổng khởi nghĩa của quân dân ta nhưng hầu như vẫn nguyên vẹn, thật là kỳ diệu!

     Trước đây tôi cùng gia đình ở tại đền thờ Cụ Phan Châu Trinh, ông ngoại tôi, gần chợ Đa Kao, thuộc hộ 5, quận 3. Trở về tôi còn nhận ra được đền thờ, chợ, các con đường quanh khu vực chúng tôi từng đi dán truyền đơn, biểu tình mấy mươi năm trước..., nhưng mọi thứ bây giờ trông đều lộn xộn, chen chúc, ô hợp hơn. Có lẽ đây là hậu quả của chiến tranh, bao nhiêu người đã bị xô đẩy bỏ xứ ra thành thị để tránh bom đạn và kiếm miếng ăn. Nhiều đường sá rộng, nhà cửa đồ sộ hơn, nhiều vila sang trọng, một số building lớn, hàng hóa nước ngoài dồi dào... Quân Mỹ đã ngự trị nơi này trong 20 năm, và đã đổ vào đây hàng tỉ đô la. Dấu vết chế độ Sài Gòn để lại có lẽ tiêu biểu nhất là Dinh Độc lập, và được đổi tên thành Dinh Thống nhất.

     Tuy Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã bỏ chạy khỏi thành phố này một cách hỗn loạn, nhưng dưới chính quyền mới của ta mọi việc đều diễn ra rất trật tự và yên bình. Nhân dân rất phấn khởi. Chắc một số người liên quan đến chế độ cũ đã không khỏi lo lắng, nhưng khi thấy Quân giải phóng không “dữ dằn” như họ nghĩ, họ cũng tạm yên lòng.

     Buổi mít tinh lớn ngày 13.5 ấy trước Dinh Thống nhất thật long trọng và hoành tráng. Trên lễ đài rộng lớn có các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Chính phủ Cách mạng Lâm thời: Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trần Nam Trung..., cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam: Bác Tôn Đức Thắng, đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng... Lần đầu tiên nhân dân Sài Gòn được thấy mặt các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước mà mấy chục năm qua họ chỉ được biết đến qua báo chí và đài phát thanh.

     Sau bài phát biểu của Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, tuyên dương quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, giành thắng lợi vĩ đại, đem lại độc lập, tự do, thống nhất cho đất nước, vinh quang cho Tổ quốc..., là một cuộc diễu binh đầy ấn tượng của bộ đội với vũ khí, quân trang của Quân giải phóng. Cả Sài Gòn nô nức giữa những ngày tháng 5 của năm 1975 lịch sử. Mọi người hiểu rằng giờ đây đã thực sự được sống trong hòa bình, miền Nam Việt Nam đã thực sự được giải phóng, Tổ quốc đã thực sự thống nhất từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mau. Cũng như hàng triệu người đã đeo đuổi hai cuộc kháng chiến trường kỳ, giờ này lòng tôi lâng lâng khó tả, có lúc tưởng như đang ở trong giấc mơ. Hết sức xúc động là được gặp lại những người bạn chiến đấu sau nhiều chục năm xa cách, nhất là những anh chị em đã từng ở tù chung khám Chí Hoà. Tất cả chúng tôi đều đã già yếu đi nhiều; nhiều đồng chí đã mãi mãi không trở về. Chúng tôi có biết bao nhiêu chuyện để kể cho nhau, từ những hoạt động kháng chiến trên những mặt trận khác nhau, đến chuyện gia đình.

     Riêng tôi còn có một việc đặc biệt bức xúc và thống thiết là đi tìm người em trai bị đày ra Côn Đảo từ năm 1968, tức là khi tôi bắt đẩu tham gia cuộc đàm phán ở Paris. Khi đó em tôi đang hoạt động ở Sài Gòn thì bị bắt. Bọn chỉ điểm biết là em trai của Nguyễn Thị Bình, nên em tôi đã phải chịu tất cả mọi nhục hình ngay trước khi bị đày ra Côn Đảo, và bị nhốt hơn bảy năm liền trong “chuồng cọp”, một kiểu giam cầm còn tàn ác hơn cả ở thời Trung cổ.

     Có lẽ cái đau khổ của em tôi, không chỉ là bị tra tấn tù đày, mà nỗi đau khổ khác, sầu hơn, đau hơn. Vợ của Hà (Tư Sương) cũng bị bắt vì là vợ của Hà và Hà là em của bà Bình, cháu của cụ Phan Châu Trinh. Vợ của Hà vừa sinh, con chưa đầy hai tháng đã cùng với mẹ bị đưa vào khám. Tư Sương cũng phải ở tù sáu năm trong đó hai năm bị đày ra Côn Đảo.

     Đó cũng là tình cảnh của bao nhiêu gia đình trong thời kỳ kháng chiến. Cha mẹ đều đi tù, con phải gửi cho bà con lúc nơi này lúc nơi khác.

     Biết tin anh chị em tù Côn Đảo đã được Chính quyền Cách mạng đưa tàu ra đón về đất liền vào ngày 1.5.1975, một ngày sau giải phóng Sài Gòn, tôi và Hải, cậu em thứ tư của tôi, đi liền mấy cơ sở đón tiếp tù nhân để sục tìm. Chúng tôi đã chứng kiến bao nhiêu cảnh những người thân gặp lại nhau, vô cùng xúc động, cười cười, khóc khóc. Cuối cùng chúng tôi đến trạm Hùng Vương và tìm được em trai tôi là Nguyễn Đông Hà, xa cách đã đúng 21 năm. Em tôi không gầy lắm nhưng người xanh xao, già đi nhiều, đôi mắt sáng, có vẻ mệt mỏi, song nụ cười hiền lành vẫn còn trên môi. Khi Ba tôi còn sống, mỗi lần nhắc đến em tôi đang ở tù, Cụ lại giàn giụa nước mắt.

     Chúng tôi ôm nhau không muốn dứt. Vợ Hà và các con cũng đã đến. Chúng tôi về nhà Tư Sương, vợ của Hà, cán bộ của quận 1, được thành phố bố trí một căn hộ ở phố Phạm Ngũ Lão. Lâu lắm rồi chị em chúng tôi mới được sum vầy, mà cũng chưa thật đông đủ, ba em tôi còn ở Hà Nội. Mấy tháng sau chúng tôi mới có cuộc họp mặt trọn vẹn của sáu chị em tại đền thờ Cụ Phan.

    Lúc này các em kế Hà đã lập gia đình: Hải gần 40 tuổi mới lấy vợ nên có con muộn. Loan có chồng, hai người đều tốt nghiệp Đại học Thanh Hoa (Trung Quốc), đã có một con trai, sau này có thêm một cô con gái. Hồ cũng đã có vợ, đường tình duyên có trắc trở nhưng rồi cuối cùng gia đình cũng êm ấm. Riêng Hào đi bộ đội bảy năm, vào cả Trường Sơn, chưa lập gia đình. Tôi nghĩ dù rất khó khăn tói đã cố gắng thay mẹ mất sớm lo cho các em nên người. Chỉ còn đứa em út mà tôi rất thương, có thể nói nó chịu nhiều thiệt thòi nhất trong gia đình. Tôi chưa lo tròn hạnh phúc cho em...

    Bận rộn với gia đình, nhưng rồi tôi phải nhanh chóng trở lại với nhiệm vụ của mình. Với tư cách là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam, tôi đã cùng anh em tiếp quản cơ quan ngoại giao của chính quyền Sài Gòn, dời trụ sở Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời từ Cam Lộ, Quảng Trị về đây. Tôi cử đồng chí Hoàng Bích Sơn, Thứ trưởng, cùng với một số cán bộ khác thường trực tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi và đại bộ phận ngoại giao miền Nam vẫn ở Hà Nội cho đến ngày thống nhất hoàn toàn.

     Vấn đề chính trị nổi lên lúc này là nên thống nhất về mặt hành chính Nhà nước vào thời gian nào? Có ý kiến cho rằng việc thống nhất hoàn toàn đất nước là không có gì phải bàn cãi vì là nguyện vọng sâu xa của toàn dân trên cả hai miền. Độc lập và thống nhất là mục tiêu cơ bản của cuộc đấu tranh trong mấy chục năm liền của dân tộc. Nhưng có nên duy trì trong một thời gian hai chính quyền với những chế độ chính trị khác nhau, miền Bắc là xã hội chủ nghĩa, còn miền Nam là chế độ dân tộc, độc lập, trung lập theo Cương lĩnh của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam? Như vậy là để miền Nam có thể tranh thủ sự viện trợ và hợp tác rộng rãi không những của các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc mà cả các nước và tổ chức tư bản, v.v...?

     Sau cùng, ý kiến nhất trí cho rằng nên thực hiện thống nhất đất nước hoàn toàn về các mặt càng sớm càng tốt. Tôi đã giơ tay tán thành.

     Sau bao nhiêu năm nhìn lại, tôi cho rằng chủ trương như vậy là hoàn toàn chính xác. Kéo dài sự khác biệt, chia cắt, có thể những thế lực thù địch sẽ tìm cách xen vào và tình hình sẽ phức tạp khó lường. Tình hình ở một số quốc gia bị chia cắt đất nước trên thế giới hiện nay càng cho chúng ta thấy quyết định đó là đúng. Tất nhiên có những việc cụ thể bây giờ xem lại có thể nghĩ nên thế này hay nên thế khác để cho linh hoạt hơn, nhưng về cơ bản như vậy là đúng đắn, sáng suốt.

     Ngày 17.6.1975, tại Dinh Thống nhất diễn ra cuộc họp hiệp thương lịch sử giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (miền Bắc) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (miền Nam). Các vị lãnh đạo của hai Mặt trận đến dự đông đủ. Tôi cũng có mặt. Cuộc thảo luận sôi nổi nhưng chân tình và đầy trách nhiệm. Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, sau khi trình bày những cống hiến của Mặt trận trong 15 năm chống Mỹ cứu nước, tuyên bố đến đây Mặt trận đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử, đề nghị thành lập Mặt trận thống nhất cho cả nước, và sớm tiến hành thống nhất đất nước về tất cả các phương diện... Từ quyết nghị của Hội nghị Hiệp thương này, Mặt trận cho cả nước là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ra đời; cuộc bầu cử Quốc hội của cả nước sẽ được tiến hành trong năm 1976 để hoàn tất các nhiệm vụ do Mặt trận Tổ quốc đề xuất.

     Tháng 4.1976, các ứng cử viên của Quốc hội khóa VI (kể từ cuộc bầu cử đầu tiên năm 1946) đi các địa phương để vận động bầu cử. Tôi được giới thiệu làm ứng cử viên ở các quận 4, 7, 8 và đảo Côn Đảo (lúc đó về mặt hành chính thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Đồng chí Phạm Hùng, Trần Văn Trà, Nguyễn Hữu Thọ... cùng danh sách ứng cử với tôi.

     Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, tôi ra mắt bà con Sài Gòn. Cử tri đến rất đông trong các cuộc tiếp xúc của chúng tôi; một số đến để xem mặt các vị trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam mà họ đã nghe tên từ lâu. Tôi và anh Trà ra Côn Đảo. Dân ở đây còn rất thưa thớt. Chúng tôi đi thăm những nơi đã giam cầm các chiến sĩ cách mạng, từ “nhà bò” thời thực dân Pháp đến “chuồng cọp” thời kỳ đế quốc Mỹ. Mặc dù đã được dọn dẹp nhưng những cảnh đày đoạ tàn nhẫn anh chị em tù chính trị vẫn hiện ra mồn một trước mắt chúng tôi. Tôi càng thấm thía rằng mình đang được hưởng kết quả từ bao nhiêu hy sinh xương máu của các đồng chí đi trước.

     Kết quả cuộc bầu cử công bố vào tháng 6.1976, tôi là một trong những ứng cử viên được nhiều phiếu bầu nhất. Tôi tham gia hoạt động Quốc hội từ khóa VI (1976), liên tục đến khóa X (2002).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #31 vào lúc: 06 Tháng Hai, 2023, 02:04:45 pm »

*
*      *


    Tháng 8.1976, tôi ra Hà Nội. Đồng chí Lê Văn Lương, lúc đó là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đến gặp tôi, đề nghị tôi nhận nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong Chính phủ mới. Đồng chí nói rằng trong giai đoạn xây dựng đất nước, nhiệm vụ này rất quan trọng và các đồng chí thấy trong lý lịch tôi đã từng đi dạy học.

    Tôi thật bất ngờ. Hơn 14 năm hoạt động đối ngoại tôi đã có một số kinh nghiệm, tiếp tục ở ngành này chắc sẽ phát huy được năng lực tốt hơn. Nhưng trước sự thuyết phục của đồng chí Lê Văn Lương, tôi không có cách nào khác là chấp hành sự phân công của Đảng.

    Trong những năm 1977-1978, sau khi đã thực hiện thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, có một việc khiến tôi áy náy mãi. Lúc đó có chủ trương cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản công thương ở miền Nam, ký hiệu là X2. Tôi có một cô em bên chồng cùng gia đình mở một cửa hàng bán thuốc tây ở một căn phố tại Chợ Lớn. Họ bị liệt vào danh sách phải cải tạo, tất cả hàng hóa thuốc men bị kê biên, cửa hàng bị niêm phong. Tôi đến thăm, hai vợ chồng cô em rất lo sợ, phân trần. Tôi cố giải thích, nhưng trong thâm tâm rất thắc mắc, không hiểu ta làm thế này thì có lợi gì? Từ đó gia đình cô em tôi tất nhiên không còn tiếp tục mở cửa hàng thuốc, và từ đó họ cũng không gặp lại tôi nữa. Về sau tôi biết chủ trương này đã được xem xét lại, nhưng liệu đã rút kinh nghiệm sâu sắc chưa? Và hậu quả đúng là rất xấu...

    Từ 1975 đến tháng 9.1976, trước khi về Bộ Giáo dục, tôi còn tiếp tục một số hoạt động ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

    Tháng 7.1975, Hội nghị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao các nước Không Liên kết họp tại Lima (Peru). Đây là nước Mỹ Latin tôi đến thăm sau Cuba. Tổng thống Peru tiếp đón tôi và đoàn chính phủ Cách mạng Lâm thời rất nồng nhiệt, chúc mừng thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam và tặng tôi một món quà quý, hình như là một dây đeo tay mạ vàng. Nhưng giữa chừng hội nghị, ở Peru nổ ra một cuộc đảo chính “hòa bình” và một tổng thống mới lên thay, chúng tôi đang băn khoăn, lo lắng về thái độ của Chính quyền mới thì Bộ Ngoại giao Peru đã chuyển lời của Tổng thống mới đến chúng tôi: “Các bạn yên tâm, tuy có sự thay đổi trong nội bộ Peru nhưng chúng tôi đều ủng hộ và quý mến nhân dân Việt Nam.”

    Một trong những nhiệm vụ chính của cuộc họp Bộ trưởng Không Liên kết lần này là bàn việc kết nạp các thành viên mới. Ứng cử viên có Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cùng một số nước khác gồm Bắc Triều Tiên, Nam Triều Tiên, Philippines. Lúc này Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa tham gia Phong trào Không Liên kết trong khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam đã là thành viên chính thức của phong trào. Đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Nguyễn Cơ Thạch 1 dẫn đầu. Tất nhiên chúng tôi, cả miền Bắc, miền Nam, đều vận động các nước nên việc gia nhập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào Phong trào Không Liên kết không gặp khó khăn gì.

    Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam vừa giành chiến thắng nên uy tín rất cao. Có vấn đề gì gay cấn, các nước đều đến tranh thủ ý kiến của chúng tôi. Trường hợp thảo luận gay go nhất ở hội nghị là vấn để gia nhập phong trào của Nam Triều Tiên (nay là Hàn Quốc). Đương nhiên chúng ta ủng hộ Bắc Triều Tiên tham gia Phong trào Không Liên kết và không tán thành Nam Triều Tiên vì Nam Triều Tiên đã theo đuôi Mỹ, đưa quân vào tham chiến ở Việt Nam, gây ra nhiều tội ác đối với nhân dân ta. Họ không thể là nước “không liên kết” được. Việc gia nhập của Philippines được một số người ủng hộ, nhưng khi đoàn chúng ta cho mọi người biết là máy bay Mỹ đã xuất phát từ các căn cứ ở Philippines đi đánh Việt Nam thì đa số các đoàn không tán thành kết nạp Philippines. Có đồng chí trong đoàn miền Bắc đặt vấn đề ta có nên chống họ không, phải nhìn về tương lai... Nhưng quả thật làm sao chúng tôi có thể quên ngay được cái quá khứ còn mới đây, nước mắt của các bà mẹ còn chưa ráo?

     Mấy tháng sau đó, tôi cùng anh Nguyễn Cơ Thạch và một số đồng chí đi thăm Mexico, Venezuela... để nghiên cứu khả năng khai thác dầu. Sau ngày giải phóng, mối lo thứ nhất là làm sao đủ gạo cho dân, mối lo thứ hai là dầu. Hợp tác giữa Việt Nam với Liên Xô về dầu bắt đầu từ đây. Nhưng trước mắt phải vay dầu để phục vụ cho hoạt động kinh tế, quân sự, và đời sống của nhân dân.

     Tháng 10.1975, tôi lại đi thăm một số nước Ả Rập với nhiệm vụ “vay dầu”. Đoàn chỉ có ba người, tôi, đồng chí Trúc ở Văn phòng Chính phủ và đồng chí phiên dịch. Chúng tôi đi Algérie, Libi, Iraq. Kết quả là vay được một số dầu để sử dụng trước mắt với lãi suất ưu đãi. Tuy các bạn đều rất nhiệt tình với Việt Nam, nhưng đi vào kinh tế thì chuyện không phải dễ.

     Chuyến đi Iraq để lại cho tôi một kỷ niệm sâu sắc. Lúc đó, ông Saddam Hussein 2 mới là Phó Tổng thống, nhưng được dư luận coi là “người hùng” ở Iraq. Khi nghe chúng tôi trình bày yêu cầu bức xúc của Việt Nam, ông trả lời ngay: “Chúng tôi đã quyết định tặng Việt Nam 400 ngàn tấn dầu và cho vay 1,5 triệu tấn với lãi suất ưu đãi.” Tôi nghe mà không tin ở tai mình, hỏi lại đồng chí phiên dịch mới chắc đó là sự thật. Chúng tôi rất xúc động trước tấm lòng của các bạn Iraq. Sau này khi Iraq bị cấm vận, phải đổi dầu để lấy lương thực, các bạn vẫn dành cho Việt Nam những hợp đồng trao đổi thương mại rất thuận lợi trong lúc chúng ta còn nhiều khó khăn về kinh tế.

    Năm 2002, tôi đến Iraq lần cuối để giải quyết món nợ kéo dài hơn 20 năm ta còn chưa trả xong. Theo ý kiến của các đồng chí ở Chính phủ, chúng ta đề nghị chuyển số tiền nợ thành số vốn đầu tư vào một dự án kinh tế ở Việt Nam. Khi tôi gặp ông Saddam Hussein trình bày ý kiến này thì ông cười, nói ngay: “Các bạn Việt Nam không nên bận tâm. Tôi biết các bạn còn khó khăn, ta xem như số nợ này đã trả.” Thật xúc động khi biết rằng trong thời điểm đó Iraq bị Mỹ cấm vận, khó khăn chồng chất về các mặt.

    Tình hình Iraq đến nay diễn biến ra sao, chúng ta đều biết. Tổng thống Hoa Kỳ G. Bush phát động chiến tranh đánh Iraq với lý do Saddam Hussein có quan hệ với lực lượng khủng bố Al-Queda và tàng trữ vũ khí hủy diệt. Thực tế đã chứng minh đó là những lời nói dối xấu xa, những cái cớ giả mạo Hoa Kỳ đã dựng lên để thực hiện mưu đồ ích kỷ của họ. Saddam Hussein có sai lầm gì trong đối nội, đối ngoại, có tội lỗi gì với nhân dân của ông, lịch sử của Iraq sẽ phán xét. Nhưng đối với Việt Nam, tôi nghĩ chúng ta biết ơn sự giúp đỡ quý báu của ông trong những năm Việt Nam vừa ra khỏi chiến tranh.

    Trong thời gian chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam, tôi đã nhiều lần đến nhiều nước Trung Đông. Đây là vùng giàu có vì có nhiều dầu mỏ, dưới lớp cát khô cằn là những vỉa dầu rộng lớn. Nhưng có lẽ cũng chính vì những vỉa “vàng đen” này mà nhân dân các nước ở đây đã không được yên ổn. Tôi rất thương cảm cho số phận của nhân dân Palestin. Cuộc đấu tranh của họ cho một Nhà nước Palestin độc lập không biết đến bao giờ mới giành được thắng lợi? Đến nay người Palestin vẫn phải sống như những người “lánh nạn” ngay trên quê hương của mình! Tôi nhớ trong một chuyến thăm Iraq, bà phiên dịch của tôi là người Iraq, chồng bà là người Palestin đã hy sinh. Bà có một người con gái trên 20 tuổi, khỏe mạnh, đẹp. Cháu đã học xong đại học ở Beirut (Liban). Cháu nói với tôi: cháu không biết tương lai của mình sẽ như thế nào. Nhưng như bao người bạn của cháu, cháu sẵn sàng theo lời kêu gọi của lãnh tụ Arafat! Cháu nói nhẹ nhàng, bình thản khiến tôi hết sức xúc động. Bao nhiêu thanh niên Palestin đã ngã xuống, sẽ ngã xuống trong cuộc chiến đấu không ngang sức vì những nguyện vọng thiêng liêng của mình, để được có một đất nước, một Tổ quốc!

    Rời môi trường ngoại giao mà tôi đã hoạt động nhiều năm, trong thời kỳ sống động nhất của đất nước, bước sang lĩnh vực mới, là một bước ngoặt lớn trong đời tôi. Song, nhìn kỹ lại, tôi thấy sự trưởng thành của mình là liên tục, không có trở ngại nào đáng kể, những tích luỹ ở bước trước tạo kinh nghiệm cho bước sau.




------------------------------------------------------------------
1. Nguyễn Cơ Thạch (1921-1998): nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) Việt Nam.

2. Saddam Hussein (1937-2006): Tổng thống Iraq từ 1979-2003.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #32 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2023, 11:01:28 am »

Mặt trận đoàn kết chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn


      Sau 30.4.1975, được gặp lại những bạn bè thân thiết sau hơn 20 năm xa cách, đối với tôi là một niềm vui lớn. Tôi cũng đã được gặp lại nhiều người từng quen biết trong những hoàn cảnh và điều kiện khác nhau, nay mọi người đều đã già yếu, và mỗi người mỗi cảnh. Cùng nhau ôn lại những kỷ niệm xưa đã gắn bó chúng tôi theo nhiều cách và trong những ngày khó khăn, cực nhọc dưới chế độ thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ, và chúng tôi hỏi thăm nhau về đời sống, tâm tư, nguyện vọng của mỗi người. Tôi đã nghe những lời bộc bạch chân thành, những tâm sự lắm khi nhiều uẩn khúc, những nỗi băn khoăn thắc mắc. Trong nhiều lẩn về thành phố công tác, đặc biệt vào những dịp kỳ niệm 30.4 giải phóng miền Nam, tôi lại có thời gian trò chuyện với nhiều anh chị em, cũng có người trước đây chỉ nghe tên mà chưa biết mặt.

    Luật sư Trần Ngọc Liễng 1 - tôi biết ông thời kỳ hoạt động với luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Bây giờ ông sống ở chùa, theo ông, cho “thanh thản”. Một số người khác như giáo sư Lý Chánh Trung 2, các linh mục Huỳnh Công Minh 3, Phan Khắc Từ 4 đã là Đại biểu Quốc hội mấy năm trước. Các nhà báo Lý Quí Chung 5, Hồ Ngọc Nhuận 6, Ngô Công Đức 7  nguyên là cựu dân biểu đối lập trong Hạ nghị viện Sài Gòn...

    Trong những phát biểu chính thức tại ngày lễ lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo thành phố nhắc lại thắng lợi vĩ đại của nhân dân ta, giành lại độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, biểu dương các lực lượng quân sự, chính trị đã đóng góp quan trọng cho công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, giải phóng Sài Gòn. Có lần tôi đề nghị khi nói về lực lượng chính trị ở miền Nam nên nói đến lực lượng thứ ba, nói về hòa giải, hòa hợp dân tộc, nhưng hình như các đồng chí hơi ngần ngại đề cập đến vấn đề này. Tôi nghĩ như thế là chưa thỏa đáng, và là một người từng “ở trong cuộc”, có điều kiện biết và hiểu được một số sự thật, nay có thể bị lãng quên, tôi thấy có trách nhiệm nói ra một cách trung thực.

     Trong điều kiện hết sức phức tạp của cuộc chiến đấu lâu dài của nhân dân ta vừa qua, nhiều hoạt động phải tiến hành bí mật ở nhiều nơi, nhiều lúc, có thể là đơn tuyến, nên vể sau khi cuộc chiến đã đi qua, khó mà biết rõ được một cách đầy đủ, cũng dễ hiểu. Nhưng những người có trách nhiệm trong các ngành, các địa phương còn sống phải cố gắng làm rõ sự thật, nhất thiết không được để ai bị lãng quên! Đấy là suy nghĩ đinh ninh của tôi, bởi tôi nghĩ mỗi người chỉ có một cuộc đời, không nên để cho bất cứ cuộc đời của bất cứ ai không được hiểu đúng.




------------------------------------------------------------------
1. Luật sư Trần Ngọc Liễng là người thành lập và đứng đầu các tổ chức: Lực lượng quốc gia tiến bộ (6.1969, cùng nhà tư sản dân tộc Phan Vãn Mỹ), Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris (2.1974).

2. Giáo sư Lý Chánh Trung sinh năm 1923, được đào tạo tại Đại học Louvain, Bỉ, về Tâm lý học và Chính trị học, từng giữ chức Giám đốc Nha Trung học Công lập của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, nguyên Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

3. Linh mục Huỳnh Công Minh: Tổng đại diện giáo phận Tp. Hồ Chí Minh, Chánh xứ Nhà thờ Chánh Tòa.

4. Linh mục Phan Khắc Từ, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam.

5. Nhà báo Lý Quí Chung (1940-2005), bút danh Chánh Trinh, nguyên chủ bút tờ Điện tín, dân biểu đối lập trong Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa.

6. Nhà báo Hồ Ngọc Nhuận, nguyên chủ bút tờ Tin sáng, dân biểu đối lập trong Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa; Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

7. Nhà báo Ngô Công Đức (1936-2007), doanh nhân, từng là dân biểu đối lập tại Hạ nghị viện Việt Nam Cộng hòa từ 1967 đến 1971.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #33 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2023, 02:40:08 pm »

     Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam khi ra đời năm 1960, đã nêu cao ngọn cờ đoàn kết, tập hợp tất cả những ai có thể tập hợp được để chấm dứt chiến tranh xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

     Sau Tết Mậu Thân, Liên minh các Lực lượng dân tộc, dân chủ, và hòa bình được thành lập. Nếu xem Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam là lực lượng thứ nhất, Liên minh là lực lượng thứ hai. Tiếp theo đó, tại Sài Gòn đã hình thành một số tổ chức chính trị, xã hội như phong trào phụ nữ đòi quyền sống, phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc v.v... Giới Phật giáo, Công giáo cũng có những hoạt động đòi hòa bình, hòa giải dân tộc. Đây là lực lượng thứ ba.

     Trước khi Hiệp định Paris được ký kết, trong thư gửi Trung ương Cục miền Nam tháng 8.1972, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã viết: “Phải kịp thời tập hợp các phe nhóm tán thành hòa bình, độc lập, Dân chủ, hòa hợp dân tộc, hình thành lực lượng thứ ba để phân hóa hơn nữa các thế lực phản động, cô lập và chĩa mũi nhọn vào Thiệu cùng các phần tử thân Mỹ hiếu chiến nhất... Cần nghiên cứu mở rộng Mặt trận dân tộc Giải phóng và Liên minh các Lực lượng Dân chủ và hòa bình cho phù hợp với tình hình mới, đồng thời cần tổ chức tốt việc liên hiệp hành động với mặt trận thứ ba để đấu tranh chống Mỹ-Thiệu.”

     Như chúng ta đều biết khi tương quan lực lượng giữa ta và địch cho phép, đến năm 1972, sau gần bốn năm đàm phán để Mỹ chấm dứt chiến tranh ở miền Nam, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh bằng không quân ở miền Bắc, trong thương lượng, ta đã nới lỏng vấn đề chính quyền ở miền Nam, tức là không đòi xóa chính quyền Sài Gòn, không đòi Thiệu từ chức mà chỉ cần thành lập một hội đồng quốc gia hòa giải, hòa hợp dân tộc gồm ba thành phần để đôn đốc việc thi hành các điều khoản của Hiệp định Paris, tiến tới tổ chức tổng tuyển cử.

     Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, chính quyền Sài Gòn chẳng những không chịu thi hành mà còn xua quân lấn chiếm vùng giải phóng của ta, đóng băng Hội nghị Hiệp thương, hò hét đánh đến viên đạn và hạt gạo cuối cùng.

     Nhiều tổ chức chính trị đã được thành lập để đòi Tổng thống Thiệu phải thi hành Hiệp định Paris, đòi thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, đòi Thiệu phải từ chức.

     Bà luật sư Ngô Bá Thành 1, một nữ trí thức nổi tiếng về tinh thần đấu tranh kiên cường, là một trong những người lãnh đạo của Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống, đã chính thức nhận mình là lực lượng thứ ba. Ngày 8.10.1973 sau khi bị chính quyền Thiệu bắt rồi phải trả tự do, trước nhiều nhân sĩ, trí thức, đại biểu Sài Gòn và phóng viên báo chí nước ngoài, bà tuyên bố: “Chúng tôi là thực thể chính trị thứ ba.”

     Luật sư Trần Ngọc Liễng (tôi được biết ông có liên hệ chặt chẽ với tổ chức của Mặt trận) là người trước đây đã đứng liên danh với tướng Dương Văn Minh trong tranh cử Tổng thống, tham gia nhóm Dương Văn Minh. Khi Dương Văn Minh từ Thái Lan về Sài Gòn sau Hội nghị Paris về Việt Nam, ông Trần Ngọc Liễng đã thành lập Tổ chức Nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris, cũng đã tuyên bố “Chúng tôi là thành phẩn thứ ba”.

     Ngay nhóm Dương Văn Minh thì bộ tham mưu gồm những trí thức trẻ như giáo sư Lý Chánh Trung, linh mục Nguyễn Ngọc Lan 2, các dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Ngô Công Đức, Lý Quí chung... đều là những người đã trực tiếp hay gián tiếp quan hệ với Mặt trận tại Sài Gòn hoặc Paris. Họ có một quan niệm “đứng giữa” rất rõ ràng, tức là phải trở thành lực lượng đứng ra hòa giải giữa hai thành phần một và hai, họ là những người yêu nước nhưng không cộng sản.

     Trong mấy năm tại cuộc đàm phán ở Paris, chúng tôi - trực tiếp nhất là chị Nguyễn Thị Chơn, anh Phan Nhẫn - không chỉ có nhiệm vụ tuyên truyền vận động nhân dân các nước ủng hộ lập trường chính nghĩa của nhân dân ta, mà còn vận động bà con Việt kiều ở các nước và những người từ miền Nam sang. Để tạo thêm cơ sở cho hoạt động trong nước, chúng tôi đã vận động được một số anh chị trí thức về nước, trong đó có cô Tôn Nữ Thị Ninh 3, vợ chồng anh Trần Hà Anh, Thái Thị Ngọc Dư 4, Bùi Trân Phượng 5 ... Số anh chị em này về nước đã hoạt động rất tích cực trong lực lượng thứ ba và sau này đều là những cán bộ nòng cốt trong công cuộc xây dựng sau ngày đất nước thống nhất.




------------------------------------------------------------------
1. Bà Ngô Bá Thành, tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (1931-2004): hoạt động tích cực trong phong trào công khai chống Mỹ-Diệm, vợ luật sư Ngô Bá Thành; nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội Việt Nam các khóa 6, 7, 8,10; nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam.

2. Linh mục Nguyễn Ngọc Lan (1930-2007): nguyên Giáo sư Đại học Văn Khoa, Viện Đại học Huế, nguyên Giáo sư Học viện Dòng Chúa Cứu thế, nguyên chủ bút tạp chí Đổi diện, Đứng dậy, Đồng dao.

3. Tôn Nữ Thị Ninh sinh năm 1947, được đào tạo tại các trưởng Đại học Paris (Pháp), Đại học Cambridge (Anh), trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao, nguyên Phó Chù nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Việt Nam.

4. Thái Thị Ngọc Dư được đào tạo về Địa lý tại Pháp, hiện công tác tại Đại học Hoa Sen.

5. Bùi Trân Phượng sinh năm 1950, được đào tạo về Sử học tại Pháp, hiện là Hiệu trưởng Đại học Hoa Sen.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #34 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2023, 02:46:03 pm »

       Sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, ông Nguyễn Hữu Châu, nguyên Tổng trưởng Nội vụ chính quyền Ngô Đình Diệm, ông Âu Trường Thanh, nguyên Tổng trưởng Kinh tế chính quyền Thiệu-Kỳ-Khiêm đã họp báo, nhân danh là lực lượng thứ ba ở hải ngoại yêu cầu hai bên miền Nam Việt Nam phải nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Paris, nhanh chóng thành lập Hội đồng Quốc gia hòa giải, hòa hợp ba thành phần.

    Ngày 16.1.1975, lực lượng thứ ba ở Paris đã tổ chức “Ngày hướng về miền Nam” đòi Mỹ phải từ bỏ Thiệu.

    Đến ngày 26.4.1975, khi các cánh quân của chúng ta đã áp sát Sài Gòn, tại Paris, đồng chí Đinh Bá Thi, Phó Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời tại Hội nghị Hiệp thương giữa hai bên miền Nam Việt Nam đã công bố tuyên bố hai điểm của Chính phủ Cách mạng Lâm thời:

    Một là, Mỹ phải thi hành nghiêm chỉnh các Điều 1,4, 9 của Hiệp định Paris.

    Hai là, phải xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, công cụ của chủ nghĩa thực dân kiểu mới, xóa bỏ bộ máy chiến tranh và bộ máy kìm kẹp nhân dân miền Nam Việt Nam.

    Dư luận Pháp và thế giới lúc đó đều coi đây là lời kêu gọi đầu hàng đối với chính quyền Sài Gòn.

    Chúng ta đã mời ông Ngô Công Đức, linh mục Nguyễn Đình Thi 1 vào trụ sở để thông báo tuyên bố này và ngày 27.4.1975, ông Đức đã bay về Thái Lan (vì phi trường Tân Sơn Nhất đã đóng cửa) để báo lại cho ông Dương Văn Minh.

     Tôi muốn làm rõ thêm vai trò của ông Dương Văn Minh và nhóm của ông, trong việc thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc.

     Tại sao ông Dương Văn Minh và nhóm của ông, thay vì đứng trên lập trường lực lượng thứ ba lại đứng ra thay thế chính quyền Thiệu, thành lập nội các Dương Văn Minh ngay ngày quân ta triển khai chiến dịch Hồ Chí Minh?

     Nhớ lại ngày 8.10.1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã ra tuyên bố về tình hình miền Nam Việt Nam “đòi Mỹ chấm dứt dính líu về quân sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, đòi lật đổ Nguyễn Văn Thiệu, lập ra ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc, thi hành Hiệp định Paris”. Theo nhiều tài liệu mà chúng tôi có được, sự việc đã diễn ra như sau:

     Đứng trước sự suy yếu về mọi mặt và khả năng sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, sự bế tắc trong việc thực thi Hiệp định Paris, nhóm tham mưu của Dương Văn Minh đề xuất phải đứng ra lật đổ Thiệu, thành lập nội các hòa bình, thương lượng với Chính phủ Cách mạng Lâm thời để chấm dứt chiến tranh. Lập luận của họ là cho dù với những ai khác lên thay Thiệu để thành lập nội các hòa bình, ta còn chấp nhận thương lượng, huống hồ họ là những người đã trực tiếp hoặc đã gián tiếp liên hệ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời, đã từng tham gia đấu tranh chống Mỹ-Thiệu trong các phong trào đô thị thì chẳng có lý do gì mà Chính phủ Cách mạng Lâm thời khước từ việc thương lượng.

    Quá trình vận động để thực hiện chủ trương này cũng có những ý kiến khác biệt giữa những người trong nhóm, mãi cho đến đầu tháng 4.1975, họ mới công khai công bố quyết định ra thay Thiệu cho dù phải “cầm cờ trắng” đầu hàng để chấm dứt chiến tranh.

    Về vai trò của ông Dương Văn Minh, một văn bản của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã đánh giá: “Mặc dù ông Dương Văn Minh chưa đáp ứng được yêu cầu của ta, nhưng tuyên bố của ông và nhật lệnh của ông Nguyễn Hữu Hạnh 2 cũng đã có tác dụng nhất định, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào giờ chót của chiến tranh, tạo điều kiện cho quân ta tiến nhanh giải phóng Sài Gòn...”

    Tôi nghĩ rằng đánh giá như thế là thỏa đáng, nhưng nếu nghiên cứu thêm lý lịch của ông Dương Văn Minh và nghe thêm một số câu chuyện về ông qua lời kể của những người tiến bộ xung quanh ông thì hành động của ông Dương Văn Minh là thức thời và thể hiện ông là người có lòng yêu nước.

    Sáng 30.4.1975

    Tướng Pháp Vanuxem xin gặp Tổng thống Dương Văn Minh 3. Vanuxem cố thuyết phục: “Tình hình không hết hy vọng đâu. Tôi đã thu xếp xong ở Paris. Ông nên lên tiếng kêu gọi sự can thiệp của một cường quốc, cường quốc này sẽ can thiệp ngay! Tôi có thể thu xếp liên lạc. Và liên lạc tại đây.”

    Dương Văn Minh nói: “Tôi không có thời giờ nữa. Một ngày tôi cũng không có.”

    Sau khi Vanuxem đi rồi, những người cùng dự với Dương Văn Minh vẫn ngồi lại. Ông Minh thốt lên: “Chúng ta đã bán nước cho Pháp, cho Mỹ rồi. Bây giờ họ lại bắt ta bán nước cho một nước thứ ba...”

    Ông Vũ Văn Mẫu, người đã cạo trọc đầu để phản đối chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo khi ông làm Ngoại trưởng năm 1963, người đã trực tiếp gặp anh Phạm Văn Ba 4 tại Paris, là đương kim Chủ tịch Phong trào Hòa giải Hòa hợp của Phật giáo Ấn Quang đã được ông Minh cử làm Thủ tướng.

    Ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên Chuẩn tướng quân đội Việt Nam Cộng hòa, một cơ sở nòng cốt đắc lực của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam, được ông Minh phong quyền Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Sài Gòn. Khi cuộc tổng tấn công vào Sài Gòn của quân ta đang thần tốc triển khai, luật sư Triệu Quốc Mạnh, một đảng viên Cộng sản nằm vùng được ông Minh giao chức Tổng Chỉ huy Cảnh sát đô thành có nhiệm vụ phải nhanh chóng thả tù chính trị và làm tan rã lực lượng cảnh sát của chính quyền cũ v.v...

    Theo lời kể của Huỳnh Tấn Mẫn, nguyên Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn, ông từng được Dương Văn Minh giúp đỡ, cho ở trong nhà một thời gian để tránh việc lùng đuổi của bọn mật thám. Trước đó từ năm 1972, tướng Dương Văn Minh đã tỏ ra ủng hộ Phong trào Thanh niên - Sinh viên đấu tranh chống chính quyền Thiệu. Có lần ông nói với anh em: “Qua” biết các em hoạt động theo đường hướng nào. “Qua” rất ủng hộ các em. Thật sự thì “Qua” rất ủng hộ việc thành lập lực lượng thứ ba nhưng “Qua” muốn đứng ngoài, muốn thay thế chính quyền hiện hữu để nói chuyện hòa giải hòa hợp dân tộc với phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng.

    Thực tế xảy ra ở Sài Gòn vào cuối tháng 4.1975 chứng tỏ ông Dương Văn Minh đã làm đúng như dự định.




-----------------------------------------------------------------
1. Linh mục Nguyễn Đình Thi (1934-2010): nhà thần học, triết học, hoạt động chủ yếu ở Paris, người thành lập Phong trào Công giáo và Dân tộc để kêu gọi người Việt Nam Công giáo cùng với Dân tộc Việt Nam tham gia vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình, thống nhất đất nước đầu những năm 1970.

2. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh sinh năm 1923, là quyền Tổng Tham mưu trưởng cuối cùng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông là người đã kêu gọi quân lực này buông vũ khí trước sức tấn công của Quân giải phóng miền Nam vả Quân đội Nhân dân Việt Nam vào Sài Gòn tháng 4.1975 để hạn chế thương vong cho dân thường và hạn chế thiệt hại.

3. Cùng tiếp Vanuxem, ông Dương Văn Minh có mời ông Nguyễn Văn Huyên, Phó Tông thống, ông Vũ Văn Mẫu, Thù tướng và ông Nguyễn Văn Diệp, Bộ trưởng Kinh tế.

Ông Diệp tường thuật nội dung Tổng thống Dương Văn Minh nói với Vanuxem và sau đó tâm sự với ba ông có mặt trong cuộc gặp Vanuxem. Ông Diệp có bài “Ngày cuối cùng cuộc chiến tranh của Sài Gòn” (Võ Trần Nhã ghi). Tạp chí Doanh nhân số 86 ngày 13-19.4.2005 (trang 16-17).

4. Phạm Văn Ba: Giám đốc Phòng Thông tin cùa phái đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Paris.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #35 vào lúc: 11 Tháng Hai, 2023, 02:50:27 pm »

*
*      *


     Một vấn đề mà tôi và các anh em đã từng hoạt động trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam hết sức quan tâm theo dõi là chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc.

    Khi đi xâm lược các nước, đế quốc và thực dân đều thi hành chính sách “chia để trị”.

    Ở Việt Nam, chính quyền Mỹ âm mưu chia cắt vĩnh viễn Việt Nam, tạo ra tình hình “miền Nam quốc gia” chống lại “miền Bắc Cộng sản” thực hiện chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” vô cùng thâm độc, nhằm dùng người Việt giết người Việt, gây chia rẽ, hận thù giữa người Việt Nam với nhau...

    Nhân dân ta không thể quên điều đó.

    Trong cuộc đấu tranh vừa qua, Đảng ta đã vận dụng chính sách phân hóa kẻ thù, tranh thủ tất cả các lực lượng và cá nhân yêu nước, tiến bộ, và bất cứ ai có thể tranh thủ được để tập hợp thành một mặt trận nhân dân đấu tranh rộng rãi. Bài học này vẫn còn giá trị cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta để “bảo vệ” và phát triển đất nước hiện nay. Chính sách hòa giải và hòa hợp dân tộc là chính sách lớn, có tính chiến lược của Đảng; chính sách Đại đoàn kết dân tộc.

    Năm 1976, khi Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam và các tổ chức liên quan với cuộc chiến đấu ở miền Nam hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, một số cán bộ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tham gia các cơ quan của Nhà nước. Một thời gian sau, một số người của các lực lượng chính trị trước đây ở miền Nam cũng được mời tham gia Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, Mặt trận Tổ quốc Trung ương như ông Nguyễn Văn Huyền (ông đã từ chối vì lý do sức khỏe), Nguyễn Hữu Có - nguyên Tổng trưởng Quốc phòng chính quyền Sài Gòn v.v...

    Mấy năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách... Nhưng chắc còn phải làm nhiều hơn nữa để hàn gắn vết thương trên đất nước và trong lòng người.

    Chúng ta phải thực hiện tốt chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc, không những vì chúng ta cùng một cội nguồn, một quê hương, mà còn vì một ý nghĩa to lớn hơn - chúng ta chung một vận mệnh, một tương lai. Mọi người Việt Nam đều mong muốn có một đất nước Việt Nam phát triển, vững mạnh, không thua kém ai - một Việt Nam xứng đáng với truyền thống oai hùng của mấy nghìn năm lịch sử. Để thực hiện khát vọng lớn lao đó, tất cả người Việt Nam ở bất cứ đâu đều phải được huy động.

    Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có bài hát “Gia tài của mẹ”, mỗi lần nghe tôi đều thấy xót xa trong lòng. “1000 năm đô hộ giặc Tàu, 100 năm đô hộ giặc Tây, 20 năm nội chiến từng ngày...” Nhân dân ta đã chịu quá nhiều đau thương để có hòa bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ như ngày hôm nay. Không bao giờ để quá khứ đau buồn lặp lại đối với chúng ta.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #36 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2023, 03:01:29 pm »

Vào ngành Giáo dục


    Tháng 9.1976, tôi được bầu vào Quốc hội, và được cử làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Một ngày mùa thu, tôi đến ra mắt các đồng chí Thứ trưởng và Vụ trưởng Bộ Giáo dục. Lúc đó Văn phòng Bộ Giáo dục đóng tại 19 Lê Thánh Tông, trong một toà nhà lớn, kiến trúc kiểu Pháp, trước đây là Hiệu bộ của Đại học Y-Dược Hà Nội.

    Tìm hiểu về các đồng chí lãnh đạo Bộ trước đây, tôi được biết: Bác Nguyễn Văn Huyên, một trí thức lớn của Việt Nam, đã làm Bộ trưởng trong nhiều năm. Bác mất đã hơn một năm nên ở Bộ Giáo dục chỉ có ba đồng chí Thứ trưởng: Võ Thuần Nho, Hồ Trúc, Nguyễn Cảnh Toàn. Đồng chí Nho và đồng chí Trúc đã ở Bộ lâu năm; đồng chí Toàn vừa được đề bạt. Sau tôi một năm, hai đồng chí Thứ trưởng nữa được bổ nhiệm là đồng chí Bùi Thanh Khiết từ cơ quan quân quản Thành phố Hồ Chí Minh, một cán bộ chính trị cao cấp của Quản giải phóng miền Nam, và đồng chí Y Ngông Niêk Đam, Hiệu trưởng trường Đại học Tây Nguyên về. Nhiều anh em quen biết nói đùa với tôi “Chị vào một ổ kiến đó, các đồng chí Thứ trưởng ở đây đều sừng sỏ cả.” Có lẽ do những dư luận như vậy nên khi đến trụ sở Bộ Giáo dục, tôi đã có cảm giác ngại ngùng, như chiến sĩ một mình một ngựa đến một chiến trường lạ. Nhưng tôi tự xác định sẽ hết sức cố gắng, rồi tình hình thế nào sẽ hay.

    Hôm đó, trong phòng lớn của Bộ ở gác hai, gần hai mươi đồng chí lãnh đạo Bộ và đại diện các Vụ đón tiếp tôi. Lời đầu tiên tôi bộc bạch với mọi người và cũng là những suy nghĩ chân thành của tôi: “Tôi về đây là theo sự phần công của Đảng, nhiều việc tôi không thể thạo bằng các đồng chí... Tôi sẽ hết sức coi trọng ý kiến đóng góp của anh em. Nhưng cuối cùng tôi sẽ phải quyết định và chịu trách nhiệm. Hy vọng tất cả các đồng chí ủng hộ.” Tôi nghĩ là thái độ đúng mực, khiêm tốn của tôi đã gây được cảm tình ở mọi người.

    Thực tế đã không như dư luận xầm xì. Các đồng chí ở đây đều có thái độ tốt đối với tôi, đặc biệt đồng chí Hồ Trúc, làm Bí thư Đảng-Đoàn Bộ nhiều năm, đồng chí Lê Huyến, Vụ trưởng Vụ Tổ chức, đồng chí Nguyễn Minh Quang, Chánh Văn phòng Bộ... đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong những ngày đầu. Các đồng chí trong lãnh đạo Bộ, mỗi người một cá tính, có chỗ mạnh, chỗ yếu nhưng đều đoàn kết với nhau. Vì vậy, tuy ngành giáo dục đứng trước nhiệm vụ nặng nề, tôi cùng các cộng sự của mình đã phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Thời kỳ làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, nói chung tôi không gặp phải một sự đối đầu hay mâu thuẫn nội bộ nào đáng kể. Khó khăn là ở chỗ khối lượng công việc quá lớn, và mọi thứ với tôi đều mới mẻ. Tôi đã hết sức cố gắng, đó cũng là đức tính tôi được rèn từ nhỏ, đã nhận làm việc gì, quyết làm cho bằng được.

    Sau ngày giải phóng miền Nam, cũng như các ngành khác, ngành giáo dục phải sớm thực hiện việc quản lý ngành trong cả nước. Giáo dục là một ngành lớn, trong 20 năm hệ thống giáo dục ở hai miền lại không giống nhau. Ở miền Bắc, giáo dục phổ thông là 10 năm, miền Nam, 12 năm. Nội dung chương trình và sách giáo khoa cũng khác. Đặc biệt sự phát triển giáo dục ở hai miền chênh lệch nhau nhiều. Ở các tỉnh miền Bắc, dù chiến tranh ác liệt, giáo dục vẫn phát triển mạnh. Mọi người lúc đó thường nói đến hai bông hoa đẹp trong vườn hoa xã hội chủ nghĩa, là giáo dục và y tế. Bạn bè các nước đều khâm phục thành tích xóa mù chữ và phát triển giáo dục của Việt Nam. Cũng nhờ nâng cao trình độ dân trí, nên công nhân có trình độ nghề nghiệp tốt, bộ đội được mệnh danh là “bộ đội tú tài” (lúc đó thanh niên đi bộ đội phải có trình độ từ lớp 7 trở lên). Ở miền Nam, trường học chỉ phát triển ở đô thị và rải rác trên các đường quốc lộ.

     Vì vậy, nhiệm vụ trước tiên của chúng tôi là vừa phải thống nhất quản lý ngành, vừa phải đẩy mạnh phát triển giáo dục các tỉnh phía Nam, đặc biệt chú ý các vùng sâu, vùng xa, nơi có thể coi là vùng “trắng” về giáo dục. Tôi nhớ lại cuộc vận động lớn để đưa giáo viên miền Bắc vào chi viện cho các tỉnh phía Nam. Có thể ví như một cuộc hành quân “Nam tiến” năm xưa. Trong những năm 1977, 1978, hàng ngàn giáo viên các tỉnh miền Bắc, theo lời kêu gọi của Bộ Giáo dục, đã xung phong đi phục vụ sự nghiệp giáo dục ở các tỉnh phía Nam. Nghệ Tĩnh là tỉnh có số giáo viên vào Nam đông nhất.

     Cuối tháng 7.1977, tôi đi kiểm tra giáo dục các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, vào giữa Đồng Tháp Mười, xuống Kiên Giang, Cà Mau... đã thấy sự có mặt của nhiều anh chị em giáo viên chi viện. Các đồng chí cấp uỷ và chính quyền địa phương rất phấn khởi, nhưng cũng có người thật thà nói với tôi: “Các cô giáo, thầy giáo rất tận tụy nhưng có người nói giọng Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... các cháu học sinh lúc đầu nghe không hiểu.” Khi gặp các cô giáo, thầy giáo, tôi phải dặn là hãy nói chậm rãi và sửa giọng một chút. Không chỉ giáo viên mà cán bộ quản lý cũng được điều về Nam. May mắn là trong số học sinh miền Nam được đưa ra miền Bắc đào tạo trong thời kỳ chiến tranh, nhiều người đã trưởng thành trong những năm công tác ở các tỉnh phía Bắc, nên việc lắp khung quản lý giáo dục cho các tỉnh phía Nam không khó khăn lắm. Sau hai năm, chúng tôi đã hình thành xong bộ máy quản lý trong cả nước. Khoảng năm năm sau thì ngành giáo dục đã có mạng lưới trường phổ thông ở hẩu khắp các tỉnh, huyện, xã của miền Nam. Một nhiệm vụ cấp bách khác là phải mau chóng xóa mù chữ cho nhân dân lao động, và bổ túc văn hóa cho cán bộ và thanh niên. Với sự nỗ lực của toàn ngành, nhất là sự chỉ đạo của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền và sự tham gia của nhân dân, chiến dịch Ánh sáng văn hóa ở toàn miền Nam đến 28.2.1978 đã hoàn thành về cơ bản, đạt 94,15% số người trong diện phải thanh toán mù chữ. Công tác bổ túc văn hóa cho cán bộ cũng được tiến hành đồng thời.

    Đối với ngành học mẫu giáo, để củng cố tổ chức và nâng cao chất lượng, chuẩn bị cho các cháu vào học theo chương trình giáo dục phổ thông, trong suốt một thời gian dài, chúng tôi kiên trì để xuất biện pháp xây dựng trường ở các vùng, kể cả vùng sâu, miền núi, cải tiến chương trình, phương pháp và giải quyết chế độ chính sách cho giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường...

    Đặc biệt chúng tôi quan tâm đến việc xây dựng hệ thống trường sư phạm, đào tạo giáo viên tại chỗ để đáp ứng yêu cẩu phát triển giáo dục trong những năm tiếp theo. Để làm việc này, lại phải điều cán bộ, giáo viên từ các trường sư phạm phía Bắc. Bắt đầu là xây dựng trường trung học sư phạm đào tạo giáo viên cấp 1; sau đó một thời gian lần lượt xây dựng các trường cao đẳng sư phạm để đào tạo giáo viên cấp 2. Tìm cán bộ quản lý và giáo viên cho các trường sư phạm đã khó, nhưng tìm người để đào tạo thành giáo viên phổ thông cũng không dễ; mà yêu cầu phát triển cấp 1, cấp 2 hết sức bức xúc. Vì vậy mới có tình trạng ở một số vùng phải lấy cả học sinh lớp 7, thậm chí cả lớp 5, đào tạo trong vòng một, hai năm để dạy hai cấp này, tình hình mà trong ngành gọi là “cơm chấm cơm” là như vậy. Sau này, số giáo viên được đào tạo cấp bách này được đi học để hoàn chỉnh trình độ, nhưng cũng có một số đã không theo kịp. Đây cũng là một nguyên nhân làm ảnh hưởng đến chất lượng giảng dạy phổ thông ở nhiều nơi sau này.

    Trường cao đẳng sư phạm đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long được thành lập tại Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, trong nhiều năm được xem là trường kiểu mẫu ở đồng bằng sông Cửu Long và đã cho ra trường nhiều lớp giáo viên cấp 2 không chỉ phục vụ cho giáo dục tỉnh Đồng Tháp mà cả các tỉnh lân cận.

    Khi về công tác ở ngành giáo dục, tôi đã sớm nhận thức được phải coi trọng ngành sư phạm; nó là “máy cái” của ngành. Số lượng và chất lượng giáo dục nằm ở đây. Năm 1946, đất nước còn bộn bề khó khăn, Bác Hồ cũng đã rất sớm có sắc lệnh thành lập ngành sư phạm. Khi đất nước đi vào kháng chiến chống thực dân Pháp rồi chống đế quốc Mỹ, ở miền Bắc ngành sư phạm, với một hệ thống trường từ Trung ương xuống các khu, các tỉnh không ngừng được mở rộng. Tại Trung ương có Trường Đại học Sư phạm, là trường đại học được xây dựng sớm nhất, đã đào tạo không chỉ cán bộ giảng dạy trình độ cao cho ngành giáo dục mà còn cung cấp nhiều cán bộ khoa học cho các viện nghiên cứu và các cơ quan Đảng, Nhà nước, v.v... Nhưng ngân sách Nhà nước bấy giờ còn eo hẹp mà yêu cầu phát triển lại lớn nên trong những năm đó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng như các trường đại học sư phạm khác ở Vinh, Thái Nguyên... rất thiếu thốn về điều kiện học tập và sinh hoạt. Còn nhớ hồi ấy có câu “ăn sư, ở phạm” và sinh viên nói chung không thích vào sư phạm “chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm”! Đến thăm nhà ăn của Đại học Sư phạm Hà Nội tôi rất áy náy. Quả là sinh viên ăn ở rất khổ. Các em ăn đứng, không ghế ngồi, mỗi bàn một xoong cơm ở giữa, một đĩa thức ăn mặn và bát canh “không người lái”, mỗi em một cái bát và một cái thìa, cứ thế là ăn!

    Sau ngày miền Nam giải phóng, trước khi có đường lối đổi mới (1986), trong nhiều năm đất nước ta gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế. Đó là thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng. Chính phủ thường xuyên phải chạy lo lương thực cho dân.

    Tình hình trong nước đang khó khăn như vậy lại xảy ra việc bọn diệt chủng Pôn Pốt ở Campuchia tấn công ta ở phía Tây Nam. Quân tình nguyện Việt Nam lại lên đường theo lời kêu gọi của Mặt trận Giải phóng Campuchia. Rồi tháng 2.1979, ở biên giới phía Bắc, Trung Quốc tấn công để “dạy cho Việt Nam một bài học”, chúng ta đã phạm phải lỗi lầm gì? Tôi đã đi thăm một số tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Liên Sơn... chứng kiến những cảnh đổ nát của các thành phố, những thiệt hại về người và của của nhân dân. Trường cấp III Lạng Sơn bị phá huỷ hoàn toàn. Những ngày ấy thật vô cùng xúc động, thanh niên ta hăm hở lên đường bảo vệ biên cương của Tổ quốc, và cũng như lớp cha anh, họ đã chiến đấu rất kiên cường. Quả lúc bấy giờ chúng ta, và có lẽ cả thế giới, đều kinh ngạc: “Vì sao một nước xã hội chủ nghĩa lại đi đánh một nước xã hội chủ nghĩa khác?” Vậy mà đó là sự thật đáng buồn! Và tôi hiểu ra rằng lợi ích quốc gia đối với mỗi nước, dù là xã hội chủ nghĩa, là trên hết. Tôi bỗng nhớ lại một câu chuyện cách đó tám năm (khoảng 1971) trong một cuộc mít tinh ở Kiruna, miền Bắc Thụy Điển. Giữa đêm khuya, tuyết rơi dày đặc. Dân ở đây rất thưa thớt, nhưng hôm đó họ đến rất đông, có cả nhiều người già. Sau khi tôi trình bày về tình hình chiến tranh ở Việt Nam, một cụ bà đứng dậy hỏi: “Các bạn Việt Nam có nghĩ sau khi các bạn đánh đuổi Mỹ đi rồi, Trung Quốc đến, các bạn sẽ làm thế nào?” Chúng tôi trong đoàn nhìn nhau: sao có thể có một câu hỏi lạ như vậy? Và tất nhiên tôi đã cố giải thích, tôi đã nói về tình đồng chí anh em không gì lay chuyển được giữa các nước xã hội chủ nghĩa... Bây giờ khi nghe tin Trung Quốc đánh Việt Nam, không biết bà cụ sẽ nghĩ gì? Hóa ra bà cụ đã thật thâm thúy và có tầm nhìn xa của người từng trải; còn chúng ta quả đã từng có lúc mang những niềm tin ngây thơ!

    Cuộc chiến tranh biên giới hết sức ác liệt với hơn 60 vạn quân Trung Quốc ồ ạt tấn công các tỉnh phía Bắc Việt Nam gây cho chúng ta nhiều thiệt hại về người và của. Hàng vạn con em chúng ta một lần nữa phải đổ máu để bảo vệ đất nước. Bao nhiêu năm chúng ta không muốn nhắc lại câu chuyện đáng buồn đó trong quan hệ Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng tiếc rằng đến nay trong dư luận Trung Quốc vẫn có những ý kiến xuyên tạc đầy ác ý, cho rằng sự kiện 17.2.1979 là do Việt Nam khiêu khích Trung Quốc, rằng Việt Nam vô ơn bạc nghĩa... Làm sao Việt Nam vừa ra khỏi 30 năm chiến tranh ác liệt, đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, đứng trước vô vàn khó khăn, lại đi khiêu khích một nước lớn, xã hội chủ nghĩa đã từng ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam giải phóng và thống nhất đất nước? Chẳng lẽ đấu tranh để bảo vệ mình và cứu nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng là một tội?

    Tình hình sau này càng làm chúng ta hiểu rõ thực tế của cuộc sống.

    Ngày 14.3.1988, Trung Quốc đã đưa lực lượng hải quân xâm chiếm đảo Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. 64 chiến sĩ Việt Nam đã hi sinh.

    Năm 2009, Trung Quốc tuyên bố “Đường lưỡi bò” 9 đoạn hòng độc chiếm cả biển Đông bất chấp mọi luật pháp quốc tế. Và với cơ sở phi lý đó, Trung Quốc liên tiếp có những hành động xâm phạm chủ quyển của các nước khác, đặc biệt là của Việt Nam, đe dọa nghiêm trọng hòa bình và an ninh trong khu vực. Trung Quốc đã thực sự để lộ ý đồ bành trướng.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #37 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2023, 03:06:01 pm »

    Năm 1979 và đầu 1980, đời sống đặc biệt khó khăn. Nói chung, các cán bộ Đảng, Nhà nước, ngoài việc làm nhiệm vụ chuyên môn của mình còn phải làm một nghề phụ, nuôi gà, nuôi lợn... hoặc bất cứ một nghề thủ công nào để kiếm ít tiền thêm thắt vào đồng lương ít ỏi của mình. Lúc đó có người nói: dạy học là “nghề phụ” của giáo viên... Hàng vạn giáo viên xin nghỉ việc. Nhà nước cũng phải đưa ra chủ trương giảm biên chế. Ngành giáo dục mất đi không ít những giáo viên giỏi của mình.

    Tháng 4.1980, tôi bàn với các đồng chí bên Công đoàn Giáo dục Việt Nam triệu tập Hội nghị Toàn quốc tại Yên Dũng (Hà Bắc) để bàn việc chăm lo đời sống giáo viên. Huyện Yên Dũng có một số kinh nghiệm tốt về mặt này nên chúng tôi muốn từ đây phát động phong trào “học tập và làm theo Yên Dũng”. Một trong những thành tích của Yên Dũng là tranh thủ được chính quyền địa phương cho đất để phát triển trồng vải Hải Dương. Với 10 cây vải ở một cơ sở giáo dục, có thể cải thiện được một phần đời sống cho anh chị em giáo viên. Cũng chính nhờ phong trào này mà cây vải Hải Dương đã lan ra nhiều tỉnh phía Bắc. Và sau hai năm, trong cả nước, nhiều huyện, xã đã có những điển hình phong phú, đa dạng về chăm lo đời sống giáo viên. Trong ngành, nhiều nơi có quỹ tương trợ, tình nghĩa, nhà giáo viên...

    Những năm công tác ở ngành giáo dục, đối với tôi ấn tượng sâu sắc về sự hy sinh, tận tụy của nghề giáo chính là hình ảnh của các cô giáo, thầy giáo từ thành phố, miền đổng bằng lên công tác ở các tỉnh miền núi như Cao Bằng, Lai Châu, Lạng Sơn... Điều kiện làm việc của anh chị em rất khó khăn vì dân ở đây sống xa đường sá, rải rác khắp nơi, thầy giáo phải đi vận động từng gia đình mới có người đi học. Mỗi lớp chỉ vài em, đủ các trình độ. Đời sống của giáo viên miền núi hết sức thiếu thốn, dường như họ sống biệt lập với tình hình chung trong nước; và điều khổ nhất là nhiều người phải công tác hàng chục năm ở miền núi, chưa có điểu kiện để luân chuyển về đổng bằng. Có nữ giáo viên tâm sự với tôi: “Chắc là em không thể có chồng được nữa.” Tôi nghĩ là chúng ta còn chưa biết được hết những hy sinh âm thầm của các anh chị em đó.

     Tôi và các đồng chí lãnh đạo Bộ hiểu rõ vai trò quan trọng của nhà giáo. Nếu trong chiến tranh người chiến sĩ ở chiến trường có vai trò quyết định thì trong hòa bình, xây dựng đất nước, để có lớp người có trình độ, có bản lĩnh, người giáo viên chính là người chiến sĩ trên mặt trận mới. Xét thấy chế độ, chính sách đối với giáo viên, cán bộ quản lý ngành giáo dục chưa thỏa đáng và thấp kém hơn các ngành khác, chúng tôi đã tổ chức điều tra, nghiên cứu về tính chất lao động của nghề giáo, giá trị của lao động đặc thù này để đề xuất chính sách lương bổng, phụ cấp... Đấu tranh để thuyết phục Chính phủ, các Bộ, các ngành không đơn giản, vì một lẽ: ngành giáo dục quá đông! Sau quân đội, biên chế lớn nhất là ngành giáo dục (đến nay tình hình thực tế đã khác). Cuối cùng đến năm 1983, Nhà nước đã đi đến quyết định điều chỉnh thang lương của ngành giáo dục và giải quyết một số chế độ chính sách, trong đó có ý nghĩa nhất đối với đội ngũ giáo viên là chế độ thâm niên. Đến nay, nhiều anh chị em trong ngành giáo dục còn nhắc đến sự kiện này, xem như là một “bước ngoặt” trong việc thực hiện các chế độ và chính sách đối với giáo viên.

     Để tôn vinh người thầy và động viên về mặt tinh thần, Bộ Giáo dục cùng với Công đoàn Giáo dục Việt Nam đề nghị Hội đồng Bộ trưởng cho phép lấy ngày 20.11 hằng năm làm Ngày Nhà giáo Việt Nam; đồng thời đề nghị Nhà nước ban hành danh hiệu “Nhà giáo nhân dân”, “Nhà giáo ưu tú” cho những giáo viên làm công tác giáo dục lâu năm và có những thành tích đóng góp cho ngành.

     Khi tôi mới về Bộ Giáo dục, Bộ Chính trị, trực tiếp là Thủ tướng Phạm Văn Đồng 1, một đồng chí lãnh đạo am hiểu về giáo dục và rất tâm huyết với giáo dục, và đồng chí Tố Hữu 2, đang hoàn chỉnh Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục. Nghị quyết được ban hành ngày 11.1.1979. Tôi đã để nhiều thì giờ cùng với các đồng chí lãnh đạo Bộ nghiên cứu Nghị quyết 14, trong đó những quan điểm cơ bản về một nền giáo dục tiến bộ, xã hội chủ nghĩa được đề cập một cách có hệ thống. Đến nay, theo tôi những quan điểm lớn được nêu ra trong nghị quyết ấy vẫn còn nguyên giá trị. Vấn đề là khi cụ thể hóa thì phải xem xét điều kiện thực tế để đề ra mục tiêu, nội dung, phương pháp thích hợp. Chính điều này chúng tôi chưa làm được tốt, có phần còn nặng “giáo điều”, “duy ý chí”. Khoa học giáo dục là một khoa học khó và phức tạp; vì nó liên quan đến sự phát triển của con người, từ tuổi thơ ấu đến trưởng thành. Do vậy, để có những chủ trương đúng đắn về phát triển giáo dục, nhất là có chương trình, phương pháp dạy và học tốt, chúng tôi rất chú trọng đến công tác của Viện Khoa học Giáo dục, và bố trí nhiều nhà khoa học có trình độ đến làm việc ở đó. Đồng chí Võ Thuần Nho phụ trách Viện, cùng các tiến sĩ tâm lý học Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong, tiến sĩ Hà Thế Ngữ, Phạm Văn Hoàn... Sau này có đồng chí phê phán cuộc cải cách giáo dục năm 1985, cho là cuộc cải cách đó thất bại. Tôi nghĩ cách đánh giá đó là thiếu khách quan. Nếu so sánh chương trình và bộ sách giáo khoa viết trước đó với chương trình và những sách cải cách thì không thể phủ nhận mặt tích cực và tiến bộ của cải cách. Nhưng điều quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết 14 là quán triệt và thực hiện nguyên lý giáo dục: học đi đôi với hành; giáo dục toàn diện vế trí, đức, thể, mỹ, coi trọng giáo dục lao động, hướng nghiệp - những điều đúng của nghị quyết này chưa được thực hiện tốt.

     Năm 1981, tôi được giới thiệu và bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đó là ghi nhận sự đóng góp của tôi vào công việc chung của đất nước, đồng thời là thêm trách nhiệm đối với tôi.

     Năm 1982, Thứ trưởng Bùi Thanh Khiết mất; đồng chí Y Ngông Niêk Đam về làm Chủ tịch tỉnh Đắc Lắc. Bộ được bổ sung hai Thứ trưởng trẻ: đồng chí Lương Ngọc Toản và đồng chí Trần Xuân Nhĩ.

     Mùa hè năm 1983, tại cuộc họp toàn ngành ở Sầm Sơn, chúng tôi thống nhất thông qua “Tuyên bố Sẩm Sơn”, nêu quyết tâm đưa các quan điểm của cải cách giáo dục vào hoạt động thực tế của nhà trường, đặc biệt về giáo dục lao động và hướng nghiệp. Sau hội nghị này, đã dấy lên một không khí sôi nổi trong ngành. Khắp nơi thi đua xây dựng các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, xây xưởng trường, vườn cây thuốc nam, ruộng thực nghiệm... Thầy và trò ở các trường phổ thông hăng hái vừa học vừa tham gia lao động.

     Để đóng góp vào một nhiệm vụ lớn của nhà nước là trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc, năm 1984, Bộ Giáo dục đã phối hợp với Bộ Lâm nghiệp phát động trồng 14 triệu cây xanh (mỗi học sinh một cây) và chúng tôi đả thực hiện thắng lợi kế hoạch đó trước một năm. Đi kiểm tra ở một số trường, như ở Quảng Trị, nơi bị chiến tranh tàn phá nặng nề, tôi rất vui thấy quanh trường Cồn Tiên, Tân Lâm những rừng cây xanh um do thầy trò trồng.

     Đi đôi với phong trào đưa sản xuất vào nhà trường, chúng tôi còn gây phong trào tiết kiệm “góp giấy vụn”, “chai lọ bỏ không”, “thu gom lông vịt”... Lúc đó tình hình kinh tế của đất nước hết sức khó khăn, cho nên các chương trình này không những có ý nghĩa giáo dục tinh thần cộng đồng mà còn góp phần tạo thêm điều kiện cho hoạt động của nhà trường, chính quyền và phụ huynh học sinh ủng hộ rất tích cực. Phong trào quá rộng, làm sao không có thiếu sót này nọ. Thay vì nhìn thấy ý nghĩa lớn của phong trào, một số người lại chỉ nhắm vào một số hành động bồng bột của các em học sinh bé bỏng mà phủ nhận nó.

    Đến năm 1985, việc chuẩn bị triển khai cải cách giáo dục cơ bản đã xong. Còn một số việc phải tiếp tục hoàn chỉnh, đặc biệt là cải cách sư phạm. Đúng ra đây là khâu phải tiến hành sớm, nhưng thấy tình hình không thể kéo dài hơn, nên chúng tôi quyết định cứ bắt đầu thay sách cấp 1 và đầu cấp 2, làm theo lối cuốn chiếu. Và song song từng bước cải cách chương trình đào tạo sư phạm.

    Việc thực hiện cải cách giáo dục bắt đầu từ năm 1985, đến 1991 xem như xong một vòng. Kế hoạch là ở vòng thứ hai sẽ tiến hành hoàn chỉnh, củng cố. Nhưng tình hình từ năm 1986 đã có nhiều thay đổi với đường lối đổi mới, rồi đường lối kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Giáo dục lại đứng trước những thử thách mới, đòi hỏi một cuộc cải cách mới.

    Mười năm làm công tác giáo dục, tôi luôn quan tâm đến giáo dục ở các khu công nghiệp, với nhận thức là phải đào tạo con em công nhân để giai cấp công nhân được vững mạnh. Tôi đã nhiều lần đến khu mỏ Hòn Gai, Cẩm Phả, khu gang thép Thái Nguyên... để chỉ đạo và đôn đốc việc triển khai các chủ trương giáo dục của Bộ. Tôi cũng quan tâm đến vùng dân tộc thiểu số. Thời kỳ tôi làm Bộ trưởng, Bộ Giáo dục đã chủ trương xây dựng hệ thống trường dân tộc nội trú ở tỉnh, huyện, cụm xã..., nhờ đó tránh được cảnh con em người dân tộc hằng ngày phải đi hàng chục cây số để đến lớp học.

    Tôi đặc biệt quan tâm đến vai trò phụ nữ trong đội ngũ quản lý ngành. Trên 80% giáo viên phổ thông là nữ, không lý gì lại không có nhiều cán bộ quản lý là nữ? Từ đó, Bộ Giáo dục đưa ra chủ trương ở tất cả các cấp quản lý cũng như trường học từ phổ thông đến đại học nhất thiết trong lãnh đạo phải có thành phần nữ. Qua đó mà một lớp cán bộ quản lý nữ đã được đề bạt và phát huy vai trò của mình...

    Phải nói phong trào thi đua trong ngành giáo dục là một trong những phong trào thi đua yêu nước rộng lớn và bền bỉ nhất. Từ năm 1964, Hổ Chủ tịch đã nêu khẩu hiệu thi đua “Dạy tốt, học tốt”, và sau đó trong bức thư cuối cùng gửi cho ngành giáo dục Người dặn dò: “Dù khó khăn đến mấy cũng phải dạy tốt, học tốt.” Hiểu sâu sắc vai trò của giáo dục nên Người luôn nhắc nhở lời người xưa: “Vì lợi ích 10 năm phải trồng cây, vì lợi ích 100 năm phải trồng người.”

    Tôi đã nhiều lần đến thăm trường Bắc Lý, một trong những lá cờ đầu của phong trào thi đua trong cả nước. Trường Bắc Lý lúc đó có hai cấp, tiểu học và phổ thông cơ sở. Giữa một vùng chiêm trũng rất nghèo, cơ sở trường thật đơn sơ, thầy và trò gầy gò... nhưng tôi rất xúc động trước sự nghiêm túc của các hoạt động giáo dục và sự ngoan ngoãn, chăm chỉ của các em. Từ mái trường này, nhiều thầy được chọn lựa đưa đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ, trở thành những cốt cán của Bộ Giáo dục, Viện Khoa học Giáo dục. Rất nhiều học sinh của trường đã trở thành cán bộ, người lao động tốt phục vụ cho quê hương.




-------------------------------------------------------------------
1. Phạm Văn Đồng (1906-2000): nguyên Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1955-1976); Thủ tướng Việt Nam thống nhất (1976-1987).

2. Tố Hữu (1920-2002): nhà thơ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam (1981-1986).
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #38 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2023, 03:07:20 pm »

    Tôi đặc biệt có quan hệ tốt với bà Margot Honecker, Bộ trưởng Giáo dục của Cộng hòa Dân chủ Đức. Bà thực sự là một nhà giáo dục tâm huyết và có tài. Chúng tôi học kinh nghiệm về giáo dục hướng nghiệp, giáo dục lao động cho học sinh phổ thông chính từ kinh nghiệm của Đức.

    Về xây dựng chương trình, sách giáo khoa, chúng ta chủ yếu tham khảo kinh nghiệm của Liên Xô và một phần nào đó là của Pháp. Cuba là một nước xã hội chủ nghĩa non trẻ nhưng các bạn có những quan điểm rất tiến bộ về giáo dục, xác định nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước trước hết là xây dựng con người. Khách đến Cuba đều được mời ra thăm đảo Thanh niên, ở đấy có các trường vừa học vừa làm, ở đó hàng vạn thanh thiếu niên Cuba vừa được học văn hóa, vừa tham gia trồng cây ăn quả để xuất khẩu. Thật ấn tượng. Học sinh được chăm sóc chu đáo, học tập toàn diện trong môi trường lành mạnh. Điều vui là các bạn Cuba cho biết mô hình giáo dục “vừa học vừa làm” bạn đã học tập từ chính Việt Nam, đã đem về áp dụng một cách rộng rãi và hiệu quả. Đúng là chúng ta đã xây dựng loại hình trường này từ những năm 1974, 1975, khi yêu cầu về học tập của thanh niên ở vùng nông thôn, miền núi rất lớn, nhưng các em ở xa, lớn tuổi, khó đến trường trong tỉnh, trong huyện để tiếp tục học lên. Trường Lao động Xã hội chủ nghĩa Hoà Bình (cấp III) được xây dựng tại tỉnh Hoà Bình, trên quan điểm học sinh vừa học vừa tạo cho mình điều kiện để học tập. Hơn nữa, việc học tập lao động có kỹ thuật giúp các em rất thiết thực trong cuộc sống sau này. Trường này chủ yếu sản xuất nông nghiệp, trồng sắn, vì đất ở đây không tốt, chỉ thích hợp với loại cây này. Các em đều ở nội trú, chỉ về nhà vào dịp hè... Khi về ngành giáo dục, tôi cũng rất thú vị về ý nghĩa của loại trường này. Nhiều lần đến thăm, tôi ở lại đây để xem không khí học tập và sinh hoạt của nhà trường. Một số địa phương đã áp dụng mô hình này như trường Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên; trường Tân Lâm, trường Cồn Tiên, tỉnh Quảng Trị. Các học sinh từ các nhà trường này ra đều trở thành những người lao động tốt. Xây dựng và quản lý loại trường vừa học vừa làm đòi hỏi sự quan tâm lớn của chính quyền và cấp quản lý giáo dục của tỉnh. Rất tiếc là chúng ta không kiên định trong phương hướng giáo dục rất hay này.

     Năm 1984, khi chúng tôi chuẩn bị một loạt công việc để triển khai cải cách giáo dục, thì ngân sách của Bộ Giáo dục không có khoản nào dành cho cải cách cả. Tôi báo cáo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đồng chí lắc đầu, thông cảm, nhưng trả lời: “Không có tiền mà làm được mới giỏi.”(?)

     Cùng lúc đó ở cơ quan Bộ, đời sống cán bộ cũng không dễ dàng. Ngoài công việc ở cơ quan, nhiều anh chị em phải tìm việc làm thêm. Thấy để anh chị em tự xoay xở như vậy sẽ không tập trung vào công tác đang đòi hỏi nhiều công sức của mọi người, đồng chí Trần Xuân Nhĩ cùng một số anh chị em bàn với tôi thành lập Công ty Dịch vụ Giáo dục của Bộ để làm đầu mối cho hoạt động sản xuất của các trường theo chủ trương “đưa lao động sản xuất vào nhà trường”. Đồng thời sẽ gom tiền của cán bộ ở cơ quan làm phần vốn ban đầu cho công ty. Đồng chí Trần Xuân Nhĩ đã xây dựng một chương trình mười điểm, nêu ra các hình thức hoạt động sản xuất mà các trường tùy theo điều kiện và khả năng có thể làm, với sự hướng dẫn giúp đỡ của Bộ, thông qua Công ty Dịch vụ Giáo dục của Bộ. Công ty Dịch vụ Giáo dục còn xây dựng cho mình một lò sản xuất đồ gốm... Một số việc làm lúc đầu có kết quả, được nhiều đồng chí trong ngành, cả các ngành khác, khen ngợi: như sản xuất đồ gốm, làm đồ dùng dạy học, đồ chơi cho mẫu giáo, thu gom được nhiều giấy vụn, chai lọ... Không khí ở nhiều nhà trường sôi động hẳn lên. Bây giờ đọc những dòng này có người sẽ nói “sao mà tủn mủn quá?”. Nhưng nếu họ biết bối cảnh lúc bấy giờ, chính sách về kinh tế rất gò bó, ngặt nghèo; những ai có hoạt động tạo ra lợi nhuận, dù nhỏ, dù là cho tập thể, cũng bị dòm ngó, quy kết... Các ngành muốn làm gì cũng gặp khó khăn, cản trở. Thấy Bộ Giáo dục năng động, làm hết việc này đến việc khác, một số cơ quan công an kinh tế bắt đầu “hỏi thăm sức khỏe”. Và như thế là tôi và một số anh em trong Công ty Dịch vụ Giáo dục phải mất nhiều thời giờ để “tiếp khách”, giải trình. Với tư duy cũ kỹ, khi đi kiểm tra, các cơ quan này thấy người ta làm ăn có lời thì im lặng, nhưng khi nghe nói thua lỗ thì soi mói tìm cho ra “hành vi tiêu cực”. Ai cũng biết, làm kinh tế mà lúc nào cũng muốn có lãi, có lãi ngay, là rất thiếu thực tế... Bên công an yêu cầu tôi phải thải hồi người này, người kia để họ “xử lý”. Tôi không đồng ý vì thấy anh em không có tội gì, họ chỉ làm theo sự chỉ đạo của Bộ nên Bộ có trách nhiệm bảo vệ anh em. Thái độ cương trực này của tôi đã gây cho tôi bao nhiêu là phiền phức. Đến bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn thấy thái độ của mình là đúng. Nếu còn có điều ân hận, thì đó là tôi đã không hoàn toàn bảo vệ được những người cộng sự của mình như tôi mong muốn. Tôi cảm ơn các đồng chí Trần Xuân Nhĩ, Đoàn Văn Di và một số anh em khác đã chia sẻ với tôi bao nhiêu phiền phức, rắc rối. Đáng tiếc nhất là phong trào đưa lao động, hướng nghiệp vào nhà trường vừa dấy lên đã bị một gáo nước lạnh. Hậu quả của nó đến ngày nay còn thấy rõ.

    Nhiều đồng chí bảo: “Có lẽ chị đi quá sớm, như bác Kim Ngọc trong khoán nông nghiệp trước đây, đã phải khổ sở vì nhìn vấn đề sớm hơn mọi người, nhưng nay thì ai cũng công nhận cách nghĩ, cách làm của bác là đúng.” Rõ ràng cái mới ra đời thường bị cái cũ tìm cách cản trở, thậm chí vùi dập. Nhưng hẳn thời nào cũng vậy, cũng phải có những người dám đi tiên phong thì mới có cái đổi mới, phát triển và đi lên, đó cũng là quy luật của cuộc sống và phát triển.

    Tôi kết thúc hai nhiệm kỳ Bộ trưởng Bộ Giáo dục với nhiều hiểu biết về tình hình xã hội ở nước ta hơn, thêm kinh nghiệm về công tác quản lý nhà nước, nói chung thêm một bước trưởng thành trong bản lĩnh lãnh đạo. Cán bộ, giáo viên trong ngành đã để lại cho tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc. Tôi tự hào vì đã nỗ lực hết mình để làm tròn nhiệm vụ được giao. Tôi cũng biết nhiều vấn đề trong ngành giáo dục còn dở dang, chưa có phương hướng giải quyết một cách cơ bản, trong lúc yêu cầu phát triển của đất nước đòi hỏi ngành giáo dục rất nhiều, rất cao. Điểu thu hoạch lớn nhất của tôi qua giai đoạn này là hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn ý nghĩa vô cùng quan trọng của giáo dục đối với đất nước và đối với cuộc đời của từng con người. Quyền bình đẳng quan trọng đối với mỗi người dân trước hết phải là quyền được học hành, để mỗi người đều có cơ hội phát triển, xây dựng tương lai của mình. Cũng từ đó tôi càng hiểu ý nghĩa sâu xa của điều có thể gọi là một chủ thuyết của Cụ Phan Châu Trinh: “Khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sinh.” Chủ thuyết đó ngày nay còn nguyên giá trị, nếu không nói là càng sáng rõ và cấp thiết hơn: nếu không có dân trí được khai hóa mạnh mẽ, không có trí thức đi kịp với thời đại thì không thể phát triển đất nước, dân tộc không thể tiến lên sánh vai được cùng thiên hạ năm châu.

    Năm 1984, anh Khang, chồng tôi bắt đầu nghỉ hưu. Anh bị huyết áp cao, không còn được khỏe như trước. Nhưng vốn là cán bộ quân đội, ham hoạt động, khi về nghỉ anh tham gia công tác ở khu phố rất tích cực, là một Bí thư Chi bộ kiểu mẫu, được các đồng chí trong khu phố quý mến. Mỗi lần họp Chi bộ, ngay tại nhà chúng tôi, anh Khang chuẩn bị rất kỹ. Tôi nói đùa: “Anh chuẩn bị cho cuộc họp Chi bộ còn kỹ hơn em đi họp Trung ương.” Anh cười bảo: “Mình sống, làm gì có ích mới vui.” Anh đảm đương cả công việc gia đình, trừ việc nấu ăn, để giúp tôi yên tâm công tác. Tôi thực sự hạnh phúc vì có được người bạn đời luôn thông cảm và yêu thương.

    Cuối năm 1984, chúng tôi có niềm vui đặc biệt: cháu Mai, con gái chúng tôi lấy chồng, và không đầy một tháng sau, cháu Thắng con trai chúng tôi lấy vợ, cả hai gia đình thông gia đều là gia đình trí thức ở Hà Nội.

    Năm 1986 ghi một dấu mốc quan trọng trong đời sống của đất nước sau chiến tranh.

    Những năm sau chiến tranh, kinh tế xã hội của ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Tư duy giáo điều cứng nhắc, chế độ bao cấp kéo dài, gây ra vô vàn khó khăn. Đời sống của nhân dân rất căng thẳng. Lương thực và các nhu cầu thiết yếu hết sức thiếu thốn. Chủ trương ngăn sông cấm chợ gắt gao, được coi là để ngăn chặn đầu cơ, đảm bảo sự quản lý và phân phối công bằng của Nhà nước, nhưng thực tế đã ngăn trở lưu thông, gây tác hại đến sản xuất... Càng ngăn sông cấm chợ thì cuộc sống càng khó khăn và căng thẳng. Có người về quê, được họ hàng cho ít gạo, hoặc cán bộ đi công tác mua được cân chè... cũng bị xét hỏi, tịch thu. Bản thân tôi và các cán bộ trung-cao cấp đều phải ăn gạo mốc, cơm độn, bo bo, mỗi tháng cả nhà được một cân vừa thịt vừa mỡ...

     Trong tình hình bế tắc đó, chính nhân dân đã chủ động tìm đường ra. Ở nông thôn, nhiều hợp tác xã thực hiện “khoán chui” để tự cứu mình. Lãnh đạo nhiều địa phương cũng không chịu khoanh tay. Ở Long An đã thực hiện “đưa giá vào lương”, thực tế là phá vỡ kiểu phân phối bao cấp lạc hậu và vô lý... Những tiếng nói và hành động đó của quần chúng từ thực tiễn sinh động của đời sống ngày càng không thể che lấp, và trong thực tế đã có tác động tích cực đến công việc chuẩn bị Đại hội VI của Đảng. Nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng đã chia nhau đi về các địa phương. Tổng Bí thư Trường Chinh vào Thành phố Hồ Chí Minh tìm hiểu thực tế ở một số xí nghiệp và đi Long An, những nơi đã mạnh dạn bung ra và phát triển... Đảng đã nghe được tiếng nói của dân, cũng tức là tiếng nói đẩy sinh lực của đời sống.

     Dự thảo báo cáo đầu tiên của Đại hội Đảng đưa xuống được các cấp thảo luận sôi nổi, để đi đến bản cuối cùng trình Đại hội, thật sự là một báo cáo “nhìn thẳng vào sự thật”, và trên cơ sở đó đã đưa ra đường lối Đổi mới 1986, đánh dấu một bước ngoặt, một đột phá quan trọng, đưa đất nước thoát ra khỏi trì trệ bế tắc kéo dài, tạo đà phát triển mạnh mẽ.

     Đây là công lao của toàn dân, toàn Đảng; cũng là bài học sâu sắc phải biết lắng nghe tiếng nói của quần chúng, khi giáo điều xa rời quần chúng thì sẽ lâm vào khó khăn, khi gắn được với quần chúng thì sẽ có sức mạnh.

     Đồng chí Nguyễn Văn Linh, người được coi là nhà lãnh đạo quyết tâm đổi mới được bầu làm Tổng Bí thư Đảng. Vì sao đồng chí Nguyễn Văn Linh có thể sớm nhìn ra vấn đề? Theo tôi, ngoài bản lĩnh chính trị được trui rèn qua nhiều năm đấu tranh cách mạng, hẳn một phần quan trọng nhờ hoạt động nhiều năm ở Sài Gòn-Chợ Lớn, một thành phố hết sức năng động, lại đã ít nhiều từng trải trong kinh tế thị trường, trực tiếp với nhiều tầng lớp nhân dân, đồng chí đã hiểu được tâm tư nguyện vọng cũng như thực lực của họ. Tôi nghĩ bài học của Đại hội VI còn luôn mang tính thời sự.

     Đường lối Đổi mới của Đảng đã có tiếng vang xa trong dư luận quốc tế, nhiều bạn bè các nước đã đưa danh từ “Đổi mới” vào ngôn từ thế giới; cũng như trước đây, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, trên thế giới đã từng có danh từ “dienbien-fouet” 1, có nghĩa là “đánh một trận nhừ tử”.

     Đến giữa năm 1987, tôi chuyển sang công tác ở Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, một lần nữa trở lại với ngành ngoại giao nhân dân.




----------------------------------------------------------------
1. Trong tiếng Pháp “fouet” có nghĩa là “cái roi”, “fouetter” là “đánh roi”.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 5098



« Trả lời #39 vào lúc: 10 Tháng Ba, 2023, 03:15:30 pm »

Trở lại ngoại giao nhân dân


    Tôi trở lại với sở trường 20 năm trước của mình.

     Hồi bắt đầu hoạt động đối ngoại, tôi làm công tác đối ngoại nhân dân, đã từng đại diện cho Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Ủy ban Đoàn kết Á-Phi... vận động các tầng lớp nhân dân các nước ủng hộ sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của ta. Tám năm sau, tôi được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam, tức là chuyển sang ngoại giao Nhà nước. Và bây giờ 1 lại trở về làm Phó ban Đối ngoại của Đảng, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị. Về mặt Nhà nước, tôi được cử làm Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội.

    Qua kinh nghiệm bản thân, tôi cho rằng ai đã từng hoạt động đối ngoại nhân dân, chuyển sang hoạt động ngoại giao Nhà nước thì không có gì trở ngại, ngược lại còn có nhiều thuận lợi, linh hoạt, chủ động hơn trong tiếp xúc. Theo tôi, ở nước ta, nhân dân và chính quyền có cùng một mục tiêu, trước đây là chống đế quốc, giành độc lập, thống nhất, nay là bảo vệ và xây dựng đất nước. Chỉ khác nhau là ở đối tượng vận động, một bên là vận động nhân dân, một bên là quan hệ giữa Nhà nước với Nhà nước. Hai mặt hoạt động hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Đó là đặc điểm của nền ngoại giao Việt Nam thời hiện đại.

    Xu hướng và nguyện vọng chung của nhân dân các nước là yêu chuộng hòa bình, tự do, đứng về phía lẽ phải, công lý; còn chính quyền của các nước tư bản, đế quốc, vì lợi ích giai cấp hay vì quyển lợi của các tập đoàn mà họ là đại diện, họ có đường lối, chủ trương thường khác hay ngược với ý nguyện của nhân dân. Vì vậy, việc tranh thủ nhân dân là rất quan trọng, bởi nhân dân không ủng hộ chính quyền có thể tác động buộc chính quyền phải thay đổi chính sách, chúng ta từng biết phong trào nhân dân Pháp rồi nhân dân Mỹ chống chiến tranh ở Việt Nam đã có tác động không nhỏ đến chính quyền Pháp, Mỹ, góp phần chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của họ ở Việt Nam.

    Tôi không học trường quan hệ quốc tế, mà xuất thân từ một cán bộ hoạt động chính trị, vận động quần chúng nên hoạt động ngoại giao nhân dân rất phù hợp với tôi. Đây cũng là vận động quần chúng thế giới. Nó đòi hỏi phải có lý lẽ, có tình cảm để đấu tranh thuyết phục, lại cũng phải kiên trì. Và trước hết là sự chân thật đối với bạn bè. Tôi không bao giờ chỉ nói cái hay, những thành tích của nhân dân mình mà thừa nhận cả những kém khuyết nữa, những kém khuyết mà ai cũng có thể thấy, chính vì vậy khi có việc gì chưa rõ là các bạn nước ngoài đi tìm tôi để hỏi, họ nói “Tôi tin ở bà Bình, phải hỏi bà ấy”.

    Phụ nữ là đối tượng dễ xúc động trước những đau thương, bất công của người khác. Nhưng thanh niên, công nhân, trí thức, nghệ sĩ... mỗi người cũng có hoàn cảnh xã hội riêng của họ, nên nếu ta biết tác động thì họ cũng dễ đồng cảm với cuộc đấu tranh vì quyền tự do, độc lập, vì quyền sống của nhân dân Việt Nam.

    Phong trào đoàn kết của nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam, đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh xâm lược của Mỹ được đánh giá là một phong trào quốc tế rộng lớn chưa từng thấy, có tác động mạnh vào chính sách của chính quyền Mỹ. Trong kết quả đó có công lao đóng góp của đội quân “đối ngoại nhân dân” của chúng tôi trong hàng chục năm liền. Có thể nói trong hàng chục năm qua bước chân của các chiến sĩ trên mặt trận này đã in dấu ở khắp nơi, từ những vùng rét mướt Bắc Cực đến các đảo bé nhỏ giữa Thái Bình Dương, nơi nào có người mời hay có điều kiện là chúng tôi đều có mặt. Được vậy phải nhắc đến sự giúp đỡ to lớn của các tổ chức dân chủ quốc tế, các tổ chức đoàn kết Á-Phi và các nước bạn bè, chẳng những ủng hộ chúng ta về tinh thần mà còn tạo điều kiện về tài chính cho các đoàn Việt Nam đi hoạt động. Chủ trương của nhiều tổ chức quốc tế lúc đó thật hay: hễ ai đang trực tiếp chiến đấu thì được ưu tiên giúp đỡ, nên các đoàn miền Nam và cả miền Bắc trong túi không có lấy một đổng xu đã đi hoạt động được ở khắp nơi trên thế giới.

     Bây giờ trở lại một môi trường quen thuộc, tôi không hề bỡ ngỡ. Tuy nhiên, tình hình đất nước đã khác trước. Tôi và các đồng chí trong Liên hiệp Hữu nghị rất quan tâm mở rộng các Hội Hữu nghị hai chiểu. Đất nước ta đã giành được độc lập, thống nhất, đã có chính quyền nhưng chúng ta không thể chỉ chú ý đến ngoại giao Nhà nước mà quên đi bạn bè từng ủng hộ chúng ta. Chúng tôi cố gắng tổ chức những đoàn đi thăm các nước, đón tiếp các tổ chức đoàn kết với Việt Nam, tham gia những hội nghị ủng hộ các nước còn tiếp tục đấu tranh. Tôi được bầu làm Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Á-Phi từ năm 1982 đến nay. Với cương vị này, hai, ba năm một lần tôi đi dự hội nghị để ủng hộ cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, ủng hộ Palestin, chống âm mưu xâm lược Cuba... Tiếng nói của Việt Nam tại các diễn đàn này được bạn bè rất tôn trọng. Việt Nam là một biểu tượng, một tấm gương cho nhân dân các nước noi theo. Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tích cực ủng hộ các hoạt động của các tổ chức dân chủ quốc tế về chính trị và cả về tài chính. Đến khi các nước này tan rã thì điểu kiện hoạt động của một số tổ chức dân chủ quốc tế, kể cả đoàn kết Á-Phi, gặp nhiều khó khăn.

    Trong những năm 1970-1980, hoạt động đối ngoại nhân dân của Liên Xô và các nước Đông Âu rất sôi nổi. Nó là chỗ dựa cho phong trào đoàn kết quốc tế các nước. Hình ảnh xã hội với nhiều nét tốt đẹp của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác là sự cổ vũ cho phong trào cách mạng nói chung, trong đó có phong trào đoàn kết của nhân dân các nước chống đế quốc, tư bản, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa.

    Bây giờ nhìn lại thời kỳ đó, tôi nghĩ có thể các nước xã hội chủ nghĩa còn có những kém khuyết, thậm chí sai lầm nghiêm trọng... dẫn đến sự tan rã của hệ thống, nhưng không thể phủ nhận những thành tựu đã đạt được của các xã hội này. Ở đây, trẻ em và người già được chăm sóc tốt. Giữa công nhân lao động và cán bộ, trí thức... không có khoảng cách quá xa. Năm 1985, bắt đầu có chủ trương Perestroika, tức là “Cải tổ” ở Liên Xô, nhiều đảng viên các nước rất vui mừng, mong Liên Xô chấn chỉnh được những khiếm khuyết có thể có nguồn gốc lâu dài, thay đổi mạnh mẽ và ổn định để đi lên vững vàng hơn. Trong lúc đó, năm 1986, ở Việt Nam, nhận thức được những trở ngại to lớn trên con đường đang đi, chúng ta đã mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật, kiên quyết phá bỏ những trì trệ, bảo thủ trước đó và quyết tâm đổi mới.

    “Đổi mới” của ta và “Cải tổ” ở Liên Xô diễn ra trong một thời điểm gần nhau, nhưng tình hình hai nước khác nhau, nguyên nhân của khủng hoảng có khác nhau, cách xử trí khác nhau, và hậu quả cũng khác nhau. Tôi không muốn đi sâu vào nội tình của nước bạn, những người lãnh đạo mỗi nước có trách nhiệm trả lời trước nhân dân mình. Chỉ mong rằng Liên Xô trước đây và các nước xã hội chủ nghĩa cũ, là những người bạn thân thiết mà chúng ta từng tin cậy và yêu mến sẽ phát triển tốt đẹp vì lợi ích của nhân dân mình, và xứng đáng với truyền thống oai hùng của dân tộc mình.

    Phần chúng ta, chúng ta phấn khởi và tự hào về những thành tựu của 20 năm đổi mới, nhưng chúng ta cũng chỉ vừa ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, trước mắt còn bao nhiêu thử thách để giữ vững độc lập, tự chủ và đi theo con đường đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Trên con đường đó chúng ta còn cần sự ủng hộ của bạn bè, chúng ta vẫn cẩn tinh thần đoàn kết quốc tế.

    Trong thời gian làm Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, tôi cùng một số đồng chí trong ủy ban đi dự Hội nghị các Liên minh Nghị sĩ Quốc tế (IPU). Lúc đó, vấn để “nóng” đối với Việt Nam là vấn để Campuchia và việc cải tạo giam giữ một số sĩ quan chính quyền Sài Gòn trước đầy. Nhiều người có thiện chí với Việt Nam ở các nước hiểu rằng việc Việt Nam đã tận tình giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của bọn Pôn Pốt là thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao quý, đồng thời cũng là để bảo vệ chủ quyển độc lập của đất nước ta vừa giành được qua nhiều năm chiến đấu đầy hy sinh gian khổ. Trong khi nhân dân Campuchia đứng trước họa diệt chủng có thể nói chưa từng có trong lịch sử loài người, thì chính Việt Nam là nước duy nhất đã hy sinh để cứu bạn, nào còn có ai khác thực sự ra tay. Ta tận tình cứu giúp bạn và cũng là kiên quyết đánh trả đích đáng âm mưu hiểm độc mới, bảo vệ đất nước vừa giành lại được trọn vẹn. Nhưng cũng có người hiểu sai nghĩa cử của chúng ta, ý nghĩa cuộc chiến đấu hy sinh này của chúng ta. Mỹ cũng lấy cớ đó để tiếp tục cấm vận Việt Nam. Phải ra sức giải thích cho bạn bè hiểu lập trường đúng đắn của ta. Sau này có người ngay cả trong chính phủ các nước phương Tây đã thừa nhận: “Chúng tôi đã không hiểu đúng Việt Nam. Nếu các bạn không ngăn chặn nạn diệt chủng ở Campuchia, không biết chuyện gì sẽ xảy ra đối với nhân dân Campuchia.” Trong một số năm đó quả thật có lúc chúng ta đã phải cắn răng trả giá đắt cho việc giúp bạn. Tôi nhớ có một cuộc họp ở Hội nghị ECOSOC 2 tại Bangkok, một số đại biểu của Singapore, Thái Lan... còn lên án Việt Nam là đế quốc, thực dân, xâm lược. Tất nhiên tôi đã bác bỏ những lời vu cáo của họ, nhắc lại cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam trong 30 năm qua, vì lý tưởng độc lập, tự do và quyền tự quyết dân tộc, giải thích lý do phải giúp nhân dân Campuchia. Ngay tại hội nghị cũng có người hiểu ra và nói: “Đế quốc, thực dân như Việt Nam thì quá tốt!”

    Đối với việc cải tạo, giam giữ một số sĩ quan chính quyền Sài Gòn, những người có đầu óc thực tế đều có thể hiểu rằng năm 1975, quân đội Sài Gòn không bị tiêu diệt mà chỉ tan rã, rất có thể được khôi phục nếu các sĩ quan tạo nên các bộ khung không bị giam giữ, sẽ rất nguy hiểm cho bất cứ chính quyền mới nào, sau đó họ đã dần dần được thả; song cũng có trường hợp bị giam giữ kéo dài không cần thiết, và một số trường hợp đối xử không phải chăng, gây ảnh hưởng không tốt. Lúc đầu một số đoàn ở Liên minh Nghị sĩ Quốc tế đã lên án Việt Nam, mặc dù họ thừa nhận là không hể “có biển máu” hay sự “trả thù” của Chính quyền mới đối với những người bại trận ở Việt Nam. Nhưng sau vài phiên họp, trước những chứng minh của ta, vấn để đó cũng không còn được nhắc lại.

    Lúc đó, câu chuyện mà chúng tôi và nhiều người tiến bộ lấy làm bất bình là có một số đại biểu của một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ lên tiếng kết án không tiếc lời “chế độ xã hội chủ nghĩa” trước đây. Những người này, bác sĩ có, luật sư có, chính họ được các chế độ xã hội chủ nghĩa mà họ lên án nuôi dưỡng và đào tạo. Tôi nhớ trong một cuộc họp IPU (tôi không nhớ có phải ở Bulgary hay không), tôi rất xúc động trước phát biểu của một phụ nữ Nhật. Người chị nhỏ bé, lúc lên diễn đàn chị xưng tên mình và nói mình là cộng sản, sau đó chị nói về tình hình của đất nước Nhật. Chị nói một cách bình tĩnh về những sai lầm từng xảy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, những nguyên nhân lịch sử xả hội của các hiện tượng đó cần được phân tích, đánh giá đúng đắn với hiểu biết và công bằng. Thái độ của chị thật đàng hoàng, tự tin sau những phát biểu hung hăng, đầy hận thù của một số người kia, làm cho không khí hội nghị lấy lại được sự cân bằng.

    Bấy giờ một nhiệm vụ quan trọng của Ủy ban Đối ngoại Quốc hội là vận động các nước và cả các tổ chức Mỹ có cảm tình với Việt Nam đòi chính phủ Mỹ phải bỏ cấm vận. Nhiều đoàn của Quốc hội và các tổ chức nhân dân dưới nhiều danh nghĩa đã đi vận động ngay tại Mỹ.

   Ở đây tôi không thể không nhắc đến một số người Mỹ đã tích cực vận động cho cuộc bình thường hóa quan hệ Mỹ - Việt, như anh Mac Auliff - Chủ tịch chương trình hòa giải Đông Dương và Viện As Pen.

   Trong thời gian này, hoạt động của Liên hiệp các tổ chức đoàn kết hữu nghị là chuyển hoạt động đoàn kết về chính trị sang nội dung vừa chính trị vừa hợp tác kinh tế, văn hóa, phù hợp với tình hình đất nước trong giai đoạn mới. Chúng tôi cùng anh em ở Liên hiệp đề xuất với Chính phủ thành lập Tổ chức Viện trợ nhân dân, gọi tắt là PACCOM, tiếp tục tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức từ thiện xã hội phi chính phủ (NGO). Đơn vị này được xây dựng từ đó, và theo tôi được biết không chỉ trong thời gian ta còn bị cấm vận, mà cả về sau hình thức hoạt động này cũng có tác dụng không nhỏ trong việc giúp đỡ các địa phương còn nghèo có thêm điều kiện vật chất để phát triển sản xuất, cải thiện cuộc sống.

     Như đã nói, những năm sau khi hòa bình được lập lại, trong tình hình đất nước bị kiệt quệ vì chiến tranh, chúng ta lại lâm vào khủng hoảng xã hội kinh tế nặng nề, trong lúc các nước xã hội chủ nghĩa tan rã. Nhiều bạn bè quốc tế từng thân thiết, rất lo lắng, không hiểu Việt Nam sẽ phát triển như thế nào. Tôi có hai người bạn thân là vợ chồng Gabriel và Joyce Kolko, anh là giáo sư kinh tế, chị là giáo sư sử học, là những người Mỹ cánh tả. Anh chị đã xuất bản một cuốn sách nổi tiếng Giải phẫu một cuộc chiến tranh 3, nhiều anh em đọc đã nói với nhau: “Cách đánh giá tình hình, phân tích lập trường của Mỹ và Việt Nam thật không khác gì ta.” Khoảng năm 1982, anh chị trở lại thăm Việt Nam, nhưng rồi sau đó nhiều lần chúng tôi mời hai người đều lấy lý do bận, không tới nữa. Trong một số thư gửi cho một vài bạn ở Việt Nam, anh chị bày tỏ lo lắng Việt Nam không còn tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa, sẽ như Liên Xô, Trung Quốc đi chệch hướng, để giai cấp tư bản mới phát triển, đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Cảm tình của anh chị cũng như của một số bạn bè khác là rất tốt đẹp, nhưng quả thật trong tình hình mới rất phức tạp chắc các bạn cũng khó hiểu được hết thực tế của đất nước ta. Ngược lại, một số người khác từng ủng hộ tích cực chúng ta trong chiến tranh, sau này lại tỏ ra thất vọng vì thấy Việt Nam tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa chứ không phải là con  đường độc lập dân tộc như nhiều nước trong khu vực. Sau chiến tranh có thể nói có sự phân hóa trong bạn bè quốc tế, người muốn ta rẽ trái, người muốn ta rẽ phải. Điều đó cũng là dễ hiểu. Song cũng không ít người đã giữ được sự bình tĩnh, khách quan, họ nghĩ Việt Nam chọn con đường nào là do nhân dân Việt Nam quyết định, họ chỉ mong chúng ta có cuộc sống tốt hơn, hạnh phúc hơn, xứng đáng với những hy sinh gian khổ to lớn đã chịu đựng trong mấy chục năm chiến tranh.

    Tôi về Liên hiệp Hữu nghị được hai năm, đến 1989 thì có tang lớn: anh Khang, chồng tôi bị bệnh qua đời. Lúc đó cháu Thắng, con trai lớn của tôi đang tu nghiệp ở Tiệp Khắc. Việc xảy ra quá đột ngột. Ngày 24.12, một ngày Chủ nhật, chúng tôi còn nói chuyện với nhau về hai cháu nội ngoại của mình... Tối hôm đó, anh Khang phải đi cấp cứu ở Bệnh viện 108, nơi anh vẫn khám chữa bệnh trước đây. Tôi định ở lại bệnh viện để trông nom anh nhưng anh nhất định bắt tôi về nghỉ. Tính anh là vậy, không bao giờ muốn phiền ai, ngay cả đối với vợ con. Sáng hôm sau tôi đến thăm anh thật sớm trước khi đi họp Quốc hội, không ngờ anh đã rất yếu, chỉ có thể nói “Anh mệt lắm!”. Bác sĩ đến tiêm cho anh một mũi thuốc vào tim và rồi anh ngừng thở! Vậy là kế hoạch của chúng tôi, nguyện vọng đơn giản mà tha thiết của hai vợ chồng là sau khi tôi nghỉ chúng tôi có thể chăm sóc cho nhau tốt hơn, cùng nhau đi du lịch một số nơi... đã tan biến! Bạn bè anh em đồng chí bên tôi còn rất nhiều và hết sức chia sẻ nhưng tôi vẫn cảm thấy thật cô đơn, lẻ loi. Nỗi đau này đối với tôi là vô tận. Từ nay, tôi không còn có người để có thể thổ lộ mọi suy nghĩ, tâm tư, thắc mắc, để nhận được những lời khuyên, những lời an ủi mà tôi cần. Cuộc đời là vậy, biết làm sao!



-----------------------------------------------------------------
1. Năm 1987.

2. ECOSOC: The Economic and Social Council - Hột đồng Kinh tế và Xã hội Liên hiệp quốc.

3. Gabriel Kolko, Anatomy of a War: Vietnam, the United States, and the Modertì Historical Experience, The New Press, 1985, tb 1994.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM