Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 28 Tháng Giêng, 2023, 03:46:32 am


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: 1 2 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Gia Đình, Bạn Bè Và Đất Nước - (Hồi ký - Nguyễn Thị Bình)  (Đọc 196 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 03:00:04 pm »



Gia Đình, Bạn Bè Và Đất Nước - Hồi Ký Nguyễn Thị Bình

Số trang: 413
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Công ty phát hành: Phương Nam
Nhà xuất bản: Nhà Xuất Bản Tri Thức, 2015

Nguồn PDF: Sưu tầm
Chuyển qua tetx: hoi_ls
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #1 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 03:17:12 pm »



LỜI GIỚI THIỆU

    Trên tay độc giả là Hồi ký của bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước, nữ Bộ trưởng Ngoại giao đẩu tiên của Việt Nam, Trưởng đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam tại hòa đàm Paris. Hẳn suy nghĩ đầu tiên của không ít người khi cầm cuốn sách này là tò mò chờ đợi những chuyện ly kỳ về cuộc hội đàm nổi tiếng gay go và dài nhất trong lịch sử ngoại giao thế giới, mà tác giả là người trong cuộc. Cần nói ngay: chờ đợi ấy sẽ không được thỏa mãn. Hiểu theo cách nào đó ở đây cũng có một sự “ly kỳ”, nhưng là kiểu khác, về một con người. Cuốn sách nhỏ này nói về con người đó, con đường của bà, cuộc đời bà, như bà đã chọn một đầu đề thật giản dị: Gia đình, bạn bè và đất nước, những nguồn gốc đã tạo nên sức mạnh đặc biệt trong bà.

    Những người ít nhiều biết bà Nguyễn Thị Bình thường ngạc nhiên về hai điều: sức hấp dẫn, tính thuyết phục lớn và sâu của bà, không chỉ ở trong nước mà cả đối với đông đảo những người ngoài nước, kể cả những nhân vật lớn và “khó” - chúng ta biết chẳng hạn sau năm 1979, khi ta buộc phải tiến hành cuộc chiến tranh biên giới Tây-Nam khó nhọc chống lại quân Pôn Pốt xâm lấn và cứu nhân dân Campuchia khỏi họa diệt chủng, rất nhiều bạn bè cũ đã không thể thấu hiểu và chúng ta đã lâm vào thế cô lập khá lâu, họ đã tìm đến bà Bình, và sau khi nghe bà ôn tổn giải thích, họ bảo: Đúng rồi, chúng tôi đã nghe nhiều người, nhưng đến Bình nói thì tôi tin! Suốt những năm tháng ác liệt, khó khăn nhất của chiến tranh chống ngoại xâm, ở bất cứ nơi nào bà đến trên hẩu khắp thế giới cũng vậy, người ta bảo: “Bình nói thì tôi tin”... Có thể nói mà không sợ quá rằng có lẽ bà là người Việt Nam có nhiều bạn bè nhất trên thế giới, từ những người dân thường cho đến các nguyên thủ quốc gia nổi tiếng và thuộc nhiều chế độ chính trị khác nhau. Những năm tháng ấy, bà có mặt ở hầu khắp hành tinh, và thật lạ, thật đẹp, hình ảnh của một Việt Nam đang chiến đấu khốc liệt lại được đại diện không phải bằng một chiến binh đằng đằng sát khí mà là một phụ nữ nhỏ nhắn, khiêm nhường mà uyên bác, gần gũi mà sang trọng, sự kiên định không gì lay chuyển nổi lại được thể hiện chính bằng một vẻ thong dong đầy tự tin... Bà gọi công việc đó là: ngoại giao nhân dân, nghĩa là con người đến với con người, trái tim đến với trái tim. Bà đem bạn bè về cho dân tộc. Và đấy là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định thắng lợi kỳ lạ của Việt Nam trong thế kỷ qua.

     Điều “lạ” thứ hai ở bà là sức trẻ của trí tuệ và tâm hồn, sức sống và sức làm việc đáng kinh ngạc, tầm nghĩ rộng, sâu và sắc, thậm chí càng phát triển cùng tuổi tác. Hầu như trên tất cả các mũi nhọn nhất và sâu nhất của đời sống xã hội và con người hiện tại đều có mặt bà, ở hàng đầu, miệt mài, không mệt mỏi...

     Là người có may mắn được gần gũi và cùng làm việc với bà trong một số năm qua, tôi xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả những trang viết này của bà, có thể gợi cho chúng ta thật nhiều suy nghĩ, không chỉ về một thời sôi nổi đã qua, mà cả về hôm nay và ngày mai của đất nước.

                                                 
Nguyên Ngọc
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #2 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 03:24:43 pm »

Quê hương


    Quê tôi ở Quảng Nam, trước vốn là một tỉnh, trong chiến tranh chống Mỹ do điều kiện đặc biệt đã tạm chia thành hai, phía bắc gọi là Quảng Đà, phía nam là Quảng Nam (chính quyền Sài Gòn thì gọi phía bắc là Quảng Nam, phía nam là Quảng Tín). Sau năm 1975, Quảng Nam lại thống nhất thành một tỉnh; năm 1997, Đà Nẵng được tách thành thành phố trực thuộc Trung ương, phần còn lại gọi là tỉnh Quảng Nam, tỉnh lỵ đóng ở thành phổ Tam Kỳ. Dù chia tách vể tổ chức hành chính, nhưng về lịch sử, truyền thống, văn hóa, Quảng Nam, gổm cả Đà Nẵng, luôn là một.

     Quê hương tôi không giàu nhưng thật phong phú: những đồng lúa xanh ngát, sông ngòi giăng khắp - sông Thu Bồn nổi tiếng, sông Hàn ngắn mà đầy và khỏe, sông Trường Giang rất đặc biệt không đổ từ trên núi xuống mà nối từ một cửa biển này sang cửa biển khác, sông Tam Kỳ bốn mùa xanh, sông Cổ Cò như một con kênh tự nhiên kết nối các dòng nước khắp tỉnh... Người ta bảo Quảng Nam là tỉnh độc đáo về đường nước, có thể theo các dòng sông lớn nhỏ trong nội địa mà lưu thông ngang dọc khắp tỉnh, không cẩn vòng ra biển. Quảng Nam có núi lại có biển và đảo. Nơi có những bãi từng được coi là đẹp nhất thế giới. Cù lao Chàm thì đã được xếp là khu bảo tổn sinh thái thế giới.

    Quảng Nam có Hội An. Từ thế kỷ XVI, XVII, Hội An đã là một thương cảng sầm uất, nơi đầu tiên ở nước ta tiếp xúc với phương Tây, giao lưu quốc tế nhộn nhịp, người Trung Quốc, người Nhật, người Bổ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan từng đến đây buôn bán rất sớm. Người dân sớm có kinh nghiệm giao lưu, hội nhập quốc tế, văn minh, bặt thiệp, năng động mà vẫn chất phác.

    Đà Nẵng cách Hội An không đầy 30 km, là cửa ngõ quốc tế lớn nhất của Quảng Nam và của cả miền Trung, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về nhiều mặt. Chính vì thế khi xâm lược nước ta hổi thế kỷ XIX thực dân Pháp đã đổ bộ trước tiên vào đây; hơn một thế kỷ sau, đây cũng là nơi đầu tiên các sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ chọn làm điểm đổ quân ổ ạt, mở đầu cuộc chiến tranh cục bộ của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Mỹ đã xây dựng Đà Nẵng thành căn cứ hải-lục-không quân lớn để chỉ huy chiến trường miền Trung và Tây Nguyên, ra đến vĩ tuyến 17, đây cũng là một trong những điểm xuất phát của không quân Mỹ đánh phá miền Bắc.

    Có thể nói trong thời kỳ cận đại và hiện đại, Quảng Nam-Đà Nẵng là nơi đứng mũi chịu sào trong mọi cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc, là một trong những chiến trường ác liệt nhất trên cả nước. Và nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng đã can trường gánh vác nhiệm vụ của mình bằng những hy sinh vô cùng to lớn. Trên 7.000 bà mẹ anh hùng, Quảng Nam-Đà Nẵng, chiếm hơn một phần tư số bà mẹ anh hùng trong cả nước được biểu dương, là một minh chứng hùng hổn. Quả thật nhân dân quê hương tôi xứng đáng với danh hiệu Trung dũng kiên cường  1.

    Năm 1975, khi miền Nam vừa được giải phóng, trở về thăm quê, tôi xót xa trước cảnh xóm làng bị tàn phá, ủi trắng, san bằng do chủ trương “tự do hủy diệt” của quân Mỹ và chính quyến miẽn Nam. Gò Nổi-Điện Bàn quê nội tôi vốn là vùng đất trù phú nhất của Quảng Nam, nổi tiếng với những cánh đổng phì nhiêu và những biền 2 dâu xanh ngát bên sông Thu Bồn, có nghề dệt lụa phát triển lâu đời từng có sản phẩm xuất khẩu sang tận châu Âu..., nay chỉ còn là bãi đất trơ trụi mênh mông toàn cỏ lác hoang vu. Không một bóng cây cao, không một bóng người...

    Quê ngoại tôi ở phía tây Tam Kỳ cũng là vùng rất ác liệt trong chiến tranh và bị tàn phá không kém.

    Hậu quả chiến tranh đối với Quảng Nam hết sức nặng nề, đặc biệt ảnh hưởng của chất độc da cam do Mỹ rải xuống trong hàng chục năm, còn di hại rất lâu dài.

    Hơn 30 năm qua, nhân dân Quảng Nam-Đà Nẵng đã vươn mình đứng dậy, thật sự là từ trong tro tàn, tạo cho quê hương một bộ mặt mới hoàn toàn khác, một cuộc sống mới tốt đẹp hơn và đầy triển vọng.

    Không chỉ kiên cường trong chiến tranh giải phóng, đất Quảng còn tự hào đã đóng góp đáng kể vào nền văn hóa dân tộc. Quảng Nam từ lâu đâ nổi tiếng là đất học, có truyền thống hiếu học và nhiều người học giỏi. Một thời cả nước từng biết danh Ngũ phụng tề phi 3, Tứ kiệt 4 của Quảng Nam. Quảng Nam cũng từng là một trong những nơi xuất phát của phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, và cuộc vận động Duy Tân từ những năm đầu thế kỷ XX cũng được khởi xướng từ đây.

    Đất Quảng có nhiều vùng đặc biệt nghèo, nhất là miền núi. Nhưng có lẽ tạo hóa dường như cũng có luật bù trừ. Tại vùng Tiên Phước, nơi “chó ăn đá gà ăn sỏi” của quê ngoại tôi đã sản sinh ra nhiều nhà yêu nước lớn, trong đó có ông ngoại tôi, Cụ Phan Châu Trinh, và Cụ Huỳnh Thúc Kháng (khi bác Hồ sang Pháp năm 1946, Cụ là quyền chủ tịch).

    Đối với ông ngoại tôi, còn có ý kiến đánh giá khác nhau về quan điểm chính trị của Cụ, nhưng mọi người đều nhất trí công nhận Cụ là người đầu tiên ở Việt Nam đề xướng tư tưởng dân chủ, dân quyền. Cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã đánh giá Phan Châu Trinh, người bạn đồng khoa với mình, là “Nam quốc dân quyền tiên tổ chức” (người tổ chức nền dân quyền đầu tiên ở nước Nam). Học giả Hoàng Xuân Hãn cho rằng trong hoàn cảnh trăn trở tìm đường cứu nước của các sĩ phu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Cụ Phan Châu Trinh là người đẩu tiên nhận ra nguyên nhân mất nước chính là ở trong sự lạc hậu tai hại vể văn hóa của nước ta thời bấy giờ, cho nên Cụ đã chủ trương con đường phát triển đất nước là phải “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Cụ đã nói dứt khoát: Chi bằng học! Có thể hiểu: nhân dân cần có sự hiểu biết, có tri thức, đồng thời được khơi dậy lòng tự tôn dân tộc thì mới mong làm nên đại sự, mưu cầu tự do, hạnh phúc. Tôi nghĩ đây là một tư tưởng lớn, còn có giá trị lâu dài, ngay cả đối với chúng ta ngày nay.

    Cụ Phan cũng thường được coi là con người tiêu biểu cho tính chất chung của người xứ Quảng: cương trực, khí phách, không dễ bị khuất phục. Tật “hay cãi” của người Quảng chắc cũng có trong Cụ. Người Quảng cũng thường “tham việc công”, nghĩa là có trách nhiệm với đất nước, cộng đồng, sẵn sàng gánh vác và dấn thân. Con người đó cũng lại là con người rất nghĩa tình, và cởi mở, nhạy cảm với cái mới, nên đã có câu ca:

    Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm,
    Rượu Hồng đào chưa nhắm đà say.


    Nhiều bạn bè cho rằng tôi đã thừa hưởng một số đặc tính ấy của người dân đất Quảng!




-----------------------------------------------------------------
1. Đại hội Anh hùng Chiến sĩ thi đua toàn miền Nam do Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy miền chủ trì (1968) có đại biểu các tỉnh, thành và Bộ Tư lệnh các quân khu 5, 6, 7,8,9 cùng đặc khu Sài Gòn-Gia Định về dự đã nhất trí tuyên dương 3 tinh Bến Tre, Long An, Quảng Nam-Đà Nẵng đạt những thành tích xuất sắc trong sự nghiệp chống Mỹ (giai đoạn 1954-1968). Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được nhận danh hiệu “Trung dũng kiên cường đi đầu diệt Mỹ”.

2. Biền: bãi lầy chạy dọc ven sông có thề dùng để cấy trồng hoa màu.

3. Ngũ phụng tê phi: Năm Nho sĩ Quảng Nam cùng đỗ cao nhất trong một kỳ thi ở triều đình: Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Ngô Chuân, Dương Hiển Tiến đỗ Đại khoa năm 1898.

4. Tứ kiệt: Các cụ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Nguyễn Đình Phiêu.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #3 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 03:29:19 pm »

Tuổi thơ


    Về bên ngoại, mẹ tôi là con gái thứ hai của Cụ Phan Châu Trinh, quê ở phía đông huyện Tiên Phước, nay thuộc huyện Phú Ninh phía tây Tam Kỳ. Ông nội tôi thì quê ở huyện Điện Bàn, là một nghĩa binh của phong trào Cần Vương.

    Ông cụ thân sinh ra tôi là con thứ mười trong gia đình, làm viên chức trong ngành trắc địa. Từ khi ra trường, Cụ đã làm việc ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, luôn lênh đênh trên một chiếc ghe bầu rất lớn. Tôi được sinh ra ở xã Tân Hiệp, tỉnh Sa Đéc, và được ba má đặt tên là Sa. Nghe má tôi nói, khi mới sáu tháng tuổi, tập bò, tôi bị rơi xuống sông Tiền, nhưng được vớt lên ngay.

    Tuổi thơ tôi được sống một thời gian ở nông thôn nên cũng hiểu việc đồng áng, câu cá, câu tôm. Tôi còn nhớ mãi mùa nước nổi ở đổng bằng miền Tây, ruộng vườn chìm trong nước mênh mông như biển. Những ngày tháng tuổi thơ ảnh hưởng lâu dài trong cả cuộc đời tôi, trong hoạt động xã hội lẫn đời sống riêng.

    Sau đó, ông cụ thân sinh tôi được điều sang Campuchia làm việc, mang cả gia đình đi theo và định cư tại Phnom Penh một thời gian dài. Mẹ tôi sinh bảy lần; một em bị bệnh mất nên còn sáu chị em: bốn nam, hai nữ. Tôi là con gái đầu lòng. Ngoài chị em chúng tôi, còn có vài ba anh em họ hàng ở quê vì kinh tế khó khăn phải đến nhờ ông cụ tôi giúp đỡ, tiếp tục đi học hoặc tìm việc làm. Nhà lúc nào cũng rất đông vui, ăn cơm phải chia hai lượt vì không đủ chỗ ngồi. Lương ông cụ tôi không cao nhưng cũng không thấp, lúc nào cũng sẵn sàng cưu mang con cháu.

    Cụ là người ham lao động, đặc biệt rất say mê kỹ thuật. Ở nhà dưới có một phòng đủ các dụng cụ vẽ cơ khí để Cụ sửa chữa, chế tạo. Ngoài giờ đi làm, muốn tìm Cụ thì phải vào cái kho đặc biệt đó. Cụ là người rất yêu lao động nên đánh giá con người cũng qua thái độ lao động của họ: người nào siêng làm là người tốt, người nào hơi lười Cụ không ưa. Đối với chúng tôi, Cụ cũng có yêu cầu như vậy bất kể là trai hay gái: biết đi xe đạp thì phải biết sửa xe, vá săm lốp. Ông cụ thích chúng tôi ham học, ham đọc sách, chơi thể thao, không thích chúng tôi dờn ca, giao du với bạn bè nhiều. Về sau trong suốt đời hoạt động và công tác, tôi luôn gắn bó và cũng dễ gần gũi với người dân lao động, thường nhìn con người qua thái độ lao động và cách họ quan hệ với người lao động, nghĩ lại tôi rất biết ơn ông cụ tôi về ảnh hưởng đó.

    Mẹ tôi có lẽ vì sinh đẻ nhiều, không được khỏe. Bà mất khi tôi mới 16 tuổi và em út tôi chưa đẩy năm. Tuy vậy, tôi đã có một thời thơ ấu đầm ấm, hạnh phúc giữa tình thương của cha mẹ và người thân. Đến khi mẹ mất, tôi mới cảm thấy lo lắng và thiếu thốn tình cảm. Nhìn đàn em còn nhỏ dại, tôi bắt đầu ý thức về trách nhiệm của mình: phải thay mẹ lo cho các em.

    Lúc còn sống, mẹ tôi thường kể chuyện về ông ngoại - Cụ Phan Châu Trinh. Cụ mất năm 1926 sau khi từ Pháp về được một năm, nên khi ra đời tôi không được biết mặt và càng không được trực tiếp nhận ảnh hưởng từ tư tưởng yêu nước thức thời của Cụ. Trong ký ức của tôi, từ lời kể của mẹ, ông ngoại tôi là người đã bôn ba khắp nước từ khi còn trẻ, rồi vì hoạt động chống Pháp mà bị bắt. Nếu không có những người Pháp tiến bộ trong Hội Liên minh Nhân quyền Pháp tích cực bênh vực có lẽ Cụ đã bị xử chém. Sau thời gian ở tù Côn Đảo, khi được trả tự do Cụ yêu cầu và được chính quyền thuộc địa cho sang Pháp, và đã ở đó 14 năm. Ý đồ của Cụ là tìm cách dựa vào các lực lượng tiến bộ ở Pháp để mưu cầu độc lập cho nước nhà.

    Trong những năm 40 của thế kỷ trước, gia đình tôi không sống ở trong nước, nhưng tin tức về các cuộc nổi dậy của cộng sản ở Mỹ Tho và một số tỉnh Nam Bộ cũng đã đến với chúng tôi. Hồi đó, tôi thấy mẹ tôi thường tỏ ra buồn bực, bà hay tâm sự với những người bạn thân: “Không biết bao giờ nhân dân ta mới đánh được Tây?”

    Ở Campuchia, gia đình chúng tôi sống trên đại lộ Miche (Boulevard Miche), thủ đô Phnom Penh. Nhà làm bằng gỗ, với một kiến trúc rất đặc biệt, do ba tôi thiết kế theo ý tưởng của Cụ: phải rộng rãi, thoáng mát, tiện lợi. Nhà ở sau một bãi cát rất rộng, mùa trăng rằm sáng trắng như tuyết. Những đêm trăng sáng chị em tôi rất thích đuổi nhau trên bãi cát trắng. Sau nhà là đồng ruộng, mùa nước lên, nước có thể đến chân cột nhà. Tôi giữ mãi hình ảnh về ngôi nhà thân thiết đã gắn với thời niên thiếu của mấy chị em chúng tôi những năm tháng chúng tôi còn đủ cha và mẹ.

    Tôi học trường Lycée Sisowath 1, trường trung học lớn nhất của Campuchia. Vì cha tôi làm công chức nên tôi “được” học ở hệ thống “chính quốc” Pháp, không theo hệ thống dành cho người bản xứ. Ở đây phần lớn học sinh là con cái công chức người Pháp hoặc có quốc tịch Pháp. Tinh thần dân tộc của tôi và các em tôi đã biểu hiện trong một số vụ va chạm với “bọn con Tây”. Tôi nhớ một lần ra chơi, mấy đứa bạn học người Pháp nói với nhau về những người giúp việc nhà họ: “Bọn anamites đều là những tên ăn cắp.” Tôi nghe thấy, không chịu nổi, đến hỏi chúng: “Chúng mày nói gì?” Mấy đứa còn đang ngơ ngác, tôi lấy ngay cặp sách nện vào chúng. Các em tôi đến đón tôi cũng nhảy vô tiếp sức chị. Một cuộc ẩu đả xảy ra, may không có ai bị thương đáng kể. Ngày hôm sau, tôi bị ông Hiệu trưởng gọi lên, tôi tưởng ông sẽ kỷ luật tôi, nhưng ông chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng.

    Mẹ ốm nặng, phải vể chữa bệnh ở Sài Gòn từ cuối năm trước, ở tại nhà thờ Cụ Phan bên Đa Kao. Thi “brevet” xong tôi về Sài Gòn thăm mẹ. Nhìn mẹ gầy ốm gần như da bọc xương, tôi thương quá, ân hận đã không được ở bên mẹ để chăm sóc. Tôi khóc sưng cả mắt. Mẹ nhìn tôi, chỉ lắc đầu lẩm bẩm: “Thương con tôi, nó còn nhỏ quá!” Đi đường gần một ngày từ Phnom Penh về Sài Gòn quá mệt, tôi nằm thiếp đi một lúc thì chị giúp việc gọi dậy báo mẹ đã mất rồi. Lúc đó ba tôi đi công tác xa chỉ kịp về đưa đám mẹ. Các em tôi cũng không được gặp mẹ giây phút cuối cùng. Chỉ có mình tôi, may còn được gặp mẹ trước khi bà ra đi mãi mãi. Mẹ tôi được chôn cất tại nghĩa địa Trung Kỳ Ái hữu, mãi đến năm 1976 mới được cải táng đưa tro về nhà thờ Cụ Phan hiện nay. Trước đây, tôi mong ước sau khi học xong tú tài sẽ xin học trường Y, trở thành bác sĩ để chữa bệnh cho mẹ và những người nghèo. Sở dĩ tôi có ý nghĩ và mong ước đó là vì tôi thấy bác sĩ đến chữa bệnh cho mẹ tôi tuy đã được trả tiền nhưng không sốt sắng và tận tâm, gia đình phải cầu cạnh họ. Có lẽ chúng tôi không gặp được những bác sĩ tốt chăng?

    Ở tuổi 16, tôi đã mất mẹ. Các em tôi lúc đó còn rất nhỏ, mới mười ba, chín, năm, ba tuổi và em út mới mấy tháng tuổi. Khi còn mẹ, tôi chỉ biết ăn học, vui chơi. Ba tôi đặt nhiều hy vọng vào tôi. Tôi học tương đối tốt, nhất là môn Toán, lúc nào cũng được điểm cao, nhờ đó mà sau này tôi đã làm gia sư và có lúc dạy Toán ở một vài trường. “Con cố gắng học tốt, sau này có nghề nghiệp, có gì còn lo cho các em”, ba tôi thường nhắc nhở tôi, dường như ông đã tiên lượng hoàn cảnh của chúng tôi.

    Những năm học cấp ba, tôi vẫn chăm chỉ học tập nhưng đã bắt đầu nghĩ về tương lai. Tôi thích đọc sách, thường thức khuya đọc tiểu thuyết. Tôi thích nghe nhạc trữ tình của Schubert, Schumann... và cả nhạc hùng tráng. Nghe bài hát kêu gọi thanh niên của Lưu Hữu Phước “Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi...”, tôi thấy bừng bừng trong tim. Ba mẹ tôi đôi khi cũng cho chúng tôi đi xem phim, coi cải lương. Tôi rất dễ xúc động. Nhớ một lẩn xem vở Đời cô Lựu, khá nổi tiếng những năm 1940, tôi khóc nức nở. Khán giả ngồi quanh không nhìn lên sân khấu nữa mà quay lại nhìn tôi. Tôi hết sức xấu hổ nhưng không cầm được nước mắt.

    Tôi cũng thích thể thao. Môn thích nhất là bóng rổ. Ngày Chủ nhật tôi thường cùng các bạn chơi cả buổi sáng. Khi về nhà, hai má đỏ lựng như cà chua chín. Đôi khi tôi cũng tham gia thi đấu bóng rổ với các trường khác, thi chạy việt dã... Tôi cũng chú ý đến việc may vá, nấu nướng, muốn được trở thành một người phụ nữ toàn diện “công, dung, ngôn, hạnh”. Như biết bao cô gái, tôi có nhiều ước mơ. Chính vào lúc đó, tôi đã gặp anh Khang, người bạn đời sau này của tôi.

    Từ năm 1944, tình hình nước ta có nhiều biến động. Trong không khí như âm ỉ những dự báo vừa mơ hồ vừa rõ rệt về những chuyển biến mới sẽ đến, mọi người hồi hộp lo, chờ. Quân Nhật đã đổ vào khắp nơi. Và tôi cũng bắt đầu hiểu ra nhiều điều.

    Tại Phnom Penh đã xuất hiện hoạt động của Hội Việt kiều yêu nước, sau đó lại có phong trào cứu tế nạn đói cho miền Bắc, thu hút sự tham gia của đông đảo người Việt ở Campuchia. Đương nhiên gia đình chúng tôi liền hăng hái có mặt, và dân dần chúng tôi hiểu về Việt Minh - tổ chức đã đứng ra vận động những phong trào này.

    Sau cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương ngày 9.3.1945, nhiều người Việt ở Campuchia thấy cần sớm về nước để được trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh lớn của dân tộc. Gia đình chúng tôi cũng quyết trở về. Việc chuẩn bị thi tú tài của tôi đành gác lại.




-----------------------------------------------------------------
1. Lycée Preah Sisowath: trường trung học Bảo hộ dạy bằng tiếng Pháp, được thành lập năm 1873 tại Phnom Penh, Vương quốc Campuchia.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #4 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 03:31:05 pm »

Tôi là người hạnh phúc


    Tôi phải kể qua việc riêng của mình, cuộc sống tình cảm thật sự là phần hết sức quý giá trong đời tôi.

    Năm tôi 16 tuổi, ba tôi làm việc tại Cơ quan Trắc địa ở Campuchia. Một số anh em tốt nghiệp trường Bách khoa, khoa Cầu cống, từ Hà Nội được cử sang Campuchia thực tập. Ba tôi là người lâu năm trong nghề nên được phân công hướng dẫn họ. Trong số những thực tập viên trẻ tuổi này có anh Đinh Khang là người làm việc nhiều nhất với ba tôi. Anh Khang lại là người yêu thể thao, bóng bàn giỏi, bóng chuyền, bóng rổ anh đều chơi hay. Chúng tôi thường gặp nhau trên sân bóng rổ.

    Tình cảm giữa chúng tôi nảy nở, ngày thêm mặn nồng. Nhưng ba tôi rất thận trọng vì chưa biết rõ gia đình anh Khang; mặt khác, ba cũng muốn tôi được học đến nơi đến chốn đã. Lúc đó tôi cũng có một số bạn trai, nhưng tình yêu của tôi chỉ dành cho anh Khang. Chúng tôi đã hứa hẹn với nhau...

     Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, tôi về Sài Gòn tìm anh Khang và các bạn của anh, họ cũng đã về Sài Gòn tham gia vào các tổ chức Việt Minh. Giữa năm 1946, chúng tôi gặp lại nhau tại đền thờ Cụ Phan. Anh Khang ở cùng với gia đình chúng tôi được mấy tháng, rồi ra Hà Nội. Trước khi đi, anh nói với tôi: “Anh phải ra Bắc tham gia vào quân đội Việt Minh, ở đó anh có nhiều bạn bè, tình hình ở trong Nam phức tạp khó biết làm gì.” Chúng tôi chia tay nhau, hẹn sẽ sớm gặp lại. Vậy mà phải chín năm sau, khi tôi tập kết ra Bắc năm 1954, mới có ngày sum họp. Suốt chín năm dài đó tôi chỉ nhận được của anh vỏn vẹn mấy chữ: “Chúc em và cả gia đình an toàn, khỏe mạnh.” Một dòng chữ viết trên một mảnh giấy nhỏ, nhàu nát, do một đoàn cán bộ từ Trung ương vào Nam chuyển cho, có thể xem là một bức thư? Dù sao tôi cũng rất vui vì biết anh còn sống, còn nghĩ đến tôi. Ba tôi phát hiện “con rể” ngoài Bắc cũng ở ngành công binh vì trong một tạp chí công binh từ Bắc gửi vào có bài viết của tác giả Đinh Khang.

     Tôi hoạt động ở nội thành, nhưng cũng có nhiều thời gian ra chiến khu làm việc, hội họp. Các đồng chí lãnh đạo quan tâm đến tôi, khuyên tôi nghĩ xem việc tôi và anh Khang cách bức thế, có nên chờ đợi nhau? Thật ra lúc đó cũng không biết chừng nào kháng chiến mới thắng lợi, mới gặp lại nhau. Song tôi tự nhủ nếu có ai mà tôi yêu hơn anh Khang thì tôi sẽ tính, còn quả thật tới lúc đó trong lòng tôi vẫn chỉ có anh là duy nhất. Cuối năm 1949, có một đoàn cán bộ từ Nam Bộ ra Trung ương, các chị rất thương tôi và biết chuyện riêng của tôi, hỏi tôi có muốn đi ra Bắc không? Tôi suy nghĩ rất nhiều, nhưng sau đó tôi vẫn không đi, vì anh Khang không có tôi chắc có thể tìm người khác, còn các em tôi, không có tôi, sợ chúng khó sống. Tôi sẽ không bao giờ hối tiếc về quyết định này. Có lẽ đáp lại tình thương của tôi, năm em đều lớn lên, trưởng thành. Sau này, chúng là chỗ dựa vể tình cảm và tinh thần của tôi.

    Hiệp định Genève được ký kết sau chín năm kháng chiến, ngày 23.11.1954, tôi ra tập kết, ba tôi lúc đó đã ở miền Bắc, tại Hà Nội, nên tôi đã gặp lại được anh Khang. Trước đó ba tôi đã báo cho tôi biết là anh Khang “chưa có vợ”, công tác ở ngành công binh. Tôi vô cùng xúc động khi nhận ra anh trong quân phục màu xanh lá cây, trẩm ngâm nhìn tôi. Anh khẽ hỏi “Em khỏe không?” Chắc anh thấy tôi gầy, vì tôi mới ra tù được vài tháng. Không bao giờ tôi có thể quên những giây phút đó.

    Chúng tôi vội làm đám cưới vì đã có dự tính là sau hai tháng tôi phải trở lại Sài Gòn hoạt động. Ngày 1.12.1954, một lễ cưới đạm bạc với vài đĩa bánh kẹo, thuốc lá và chén chè... được tổ chức tại số 2 Đinh Lễ, lúc đó là cơ quan Bộ Lao động. Bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo làm chủ hôn. Đặc biệt cảm động là ba tôi đã chuẩn bị một bài phát biểu công phu, đầy tình cảm. Ba tôi kể câu chuyện của chúng tôi, xa cách nhau mà vẫn chờ đợi thủy chung. Ba tôi chúc chúng tôi yêu nhau đến “đầu bạc răng long”. Làm cha, làm mẹ thì lúc nào cũng thương con: lúc nhỏ nuôi dạy, lớn lên lo nên người, lo cho chúng được hạnh phúc. Ba tôi là vậy. Chính sự chăm lo và tình thương của ông đã làm cho tôi luôn muốn làm tốt việc mình đang làm, muốn ba tôi được vui và tự hào về con. Rất tiếc là khi tôi được nhận những nhiệm vụ quan trọng, hoàn thành tốt trọng trách được giao, thì ba tôi không còn...

    Tôi là người hạnh phúc. Tôi đã lấy được người mình yêu, và đó cũng là mối tình đầu. Vì công tác, anh Khang và tôi thường xa nhau. Nhưng tình nghĩa giữa chúng tôi đã giúp tôi đứng vững và hoàn thành nhiệm vụ. Năm 1956, tôi sinh cháu Thắng, năm 1960, sinh cháu Mai.

    Chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt, tôi phải xa các con đi làm nhiệm vụ công tác đối ngoại ở xa. Có đồng chí hỏi tôi, để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề được Đảng, Nhà nước giao phó, tôi có khó khăn gì nhất? Khó khăn thì không ít, nhiệm vụ được giao luôn cao hơn sức mình. Có lẽ nhiều đồng chí cũng như tôi, trong lúc đất nước đang sôi sục chiến đấu với kẻ thù, không thể từ chối bất kỳ việc gì mà kháng chiến, đất nước đang cần. Nhưng có một khó khăn mà tôi không vượt qua được, mà đành phải hy sinh: đó là việc chăm sóc hai con. Từ hai tuổi chúng đã phải đi nhà trẻ, một tuần mới về nhà một lần, khi mẹ đi vắng có các cậu đưa đón, các cậu bận thì không được về. Khi các con tôi đã lớn hơn, tôi phải đi vắng hằng năm, phải gửi Thắng và Mai cho trường nội trú. Chiến tranh ác liệt, các cháu lại đi sơ tán với dì. Ba ở quân đội nên cũng không lo được cho các con. Đi công tác xa, nghe bom đạn rơi gần chỗ con ở, tôi lo lắng đến thắt lòng, thương các con vô cùng. Đất nước bị chia cắt trong hơn hai mươi năm, tôi cảm thông sâu sắc với các anh, các chị phải xa con đằng đẵng, khiến chúng thiếu tình thương và sự dạy dỗ cần thiết. Chiến tranh, biết bao nhiêu người phải hy sinh, còn có lựa chọn nào khác!

    Về gia đình, tôi phải nói trước hết về ba tôi. Mẹ tôi mất sớm khi ba tôi mới 42 tuổi. Thương con, lại trong cảnh kháng chiến, ba tôi không đi bước nữa. Bây giờ nghĩ lại, nếu sau ngày ra Bắc, ba tôi có người chăm sóc khi bệnh hoạn trong lúc tất cả chúng tôi đều ở xa, chắc ba tôi đỡ khổ hơn.

    Ba tôi là người cương trực. Nghe nói trong cải cách ruộng đất, ông dám đứng ra bảo vệ một số người bị quy chụp oan. Ông cũng là người khỏe mạnh, trước đây công tác ở ngành trắc địa, từng băng rừng lội suối như không, nhưng có lẽ do bị địch bắt và tra tấn nhiều lần, và sau này làm Trưởng ban Công binh Nam Bộ hoạt động trong rừng sâu, nước độc nên khi lớn tuổi thì đổ bệnh, ba tôi phải nằm bệnh viện hàng nửa năm... Năm 1969, ở Hội nghị Paris về nhận chỉ thị, tôi hết sức đau buồn khi biết tin ba đã nằm viện mấy tháng rổi, người gầy còm tiều tụy. Tôi ôm lấy ba, nước mắt giàn giụa: “Ba ốm sao không cho con hay?” Ba tôi xúc động trả lời: “Chuyện ba ốm là chuyện nhỏ, việc con làm hiện nay quan trọng hơn!” Thế đó, ba tôi rất thương các con, nhưng lúc nào cũng nghĩ đến việc chung. Ông tự hào là cả gia đình đều tham gia kháng chiến. Tôi nhớ trong những năm ác liệt, ba tôi luôn theo dõi sát tình hình chiến trường miền Nam. Nghe tin bà con bị thảm sát, ba tôi khóc; nghe tin quân ta thắng trận, ba tôi cũng chảy nước mắt. Lúc đó, bốn anh chị em chúng tôi ở miền Bắc, còn Hà, em trai kế tôi đang hoạt động ở miền Nam. Ba tôi cứ nhắc đến Hà luôn: không biết Hà nó sống thế nào? Năm 1968, nghe tin em tôi bị bắt, ông lại bị một cú sốc mạnh. Thật đau buồn là Hà không bao giờ được gặp lại ba vì ba tôi mất năm 1969 khi chiến tranh còn lâu mới kết thúc. Em tôi thì bị đày ra Côn Đảo, mải đến khi giải phóng miền Nam năm 1975 mới được trở về.

     Ngày 1.5, Côn Đảo được giải phóng, anh em tù được tàu trong đất liền ra đón. Chúng tôi gặp lại Hà sau 20 năm xa cách. Chúng tôi ôm nhau mừng khôn xiết, lại càng nhớ đến ba. Giá lúc này còn ba, chắc ông vui không sao kể được!

     Những năm chiến tranh, cũng như bao gia đình, chúng tôi mỗi người một nơi, chẳng mấy khi được gặp nhau. Em Hải, kế Hà, đi học ở Trung Quốc từ năm 1953, mãi đến 1958 mới về nước, rồi cùng Hổ đi học nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Loan, em gái tôi đi học ở Trung Quốc từ năm 1961 đến 1966. Chỉ có Hào, em út, đi bộ đội, gầy gò mà vào cả Trường Sơn, tại ngũ sáu, bảy năm mới về.

     Năm 1969, khi ba mất, tôi, Hải, Hổ đều không có mặt để đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng, chỉ anh Khang và hai con tôi có mặt. Tôi nghe kể lại cháu Thắng khóc thương ông nhiều nhất. Có lẽ nó được sống với ông nhiều và thấy được sự cực nhọc vất vả của ông - tuổi già ốm đau, phải chăm nom hai cháu...

     Đời tôi, do công tác nên thường xa gia đình, nhưng những người thân yêu của tôi như bao giờ cũng luôn ở cạnh, gắn bó và là động lực trong mọi công việc của tôi. Cũng có thể nói tôi có một cuộc đời rất lạ: không thể tách ảnh hưởng và tình thương của gia đình trên mỗi bước đường nhiều nỗi gian truân của mình. Đó là sức mạnh và cũng là hạnh phúc của đời tôi.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #5 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 03:40:44 pm »

Trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp


    Tháng 7.1945, cả gia đình tôi có mặt tại Sài Gòn. Những ai đã sống qua thời ấy đều biết, theo tiếng gọi của non sông, mọi người dân Việt Nam đều muốn có mặt.

    Ba tôi tham gia ngay Chi đội I miền Đông vì sẵn có bạn bè ở đó. Còn tôi, các chú gọi làm việc gì thì làm việc nấy. Một hôm có người nhắn tôi đến Nhà hát lớn Sài Gòn để gặp đồng chí Hà. Tôi tưởng sẽ gặp một nhà cách mạng đạo mạo, hóa ra là một người còn rất trẻ, nhiều lắm cũng chỉ khoảng 30 tuổi. Sau này được biết đồng chí là kỹ sư canh nông, tham gia phong trào Việt Minh từ sớm.

    Công việc đầu tiên đồng chí Hà giao cho tôi là tham gia đón tiếp đại diện của lực lượng đồng minh Anh-Ấn đến Sài Gòn để giải giáp quân Nhật, vì đồng chí nghe nói tôi biết tiếng Anh. Đại diện của lực lượng đồng minh tôi tiếp xúc chủ yếu là người Anh, còn quân Ấn và cả một số lính lê dương chỉ làm nhiệm vụ canh gác.

    Lần đầu tiên phải nói tiếng Anh với người Anh tôi hết sức lúng túng, nhưng ngại nhất là họ chỉ hỏi tôi về các nơi giải trí, nhảy đầm, những việc tôi hoàn toàn không biết, nên làm mấy ngày tôi xin thôi. Đồng chí Hà lại giao cho tôi một việc khác - sau này tôi hiểu đó là công tác tình báo - theo dõi một số nhân vật, xem họ làm gì, đi đâu. Đối với công việc này tôi cũng không quen nên chẳng theo dõi và điều tra được ai...

    Tháng 7, tháng 8.1945, Sài Gòn sống những ngày sôi nổi. Ngày đêm người xe đi lại rầm rập. Những toán thanh niên tiền phong tập đi một, hai, hát vang bài Lên đàng của Lưu Hữu Phước. Đúng là không khí của “tiền khởi nghĩa”. Tấp nập nhưng hết sức trật tự, mọi người dường như nghe, cảm được hơi thở nóng hổi của một sự kiện trọng đại sắp nổ ra.

    Sáng sớm ngày 2.9, hầu như tất cả nhân dân đều đổ ra đường. Tôi cùng hai em trai lớn cũng kéo về hướng quảng trường Nhà thờ Đức Bà, nơi chúng tôi được biết sẽ diễn ra sự kiện vô cùng quan trọng: đại diện của Chính quyền Cách mạng, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra mắt đồng bào.

    Nhưng, cuộc tập hợp vừa xong thì từ dãy nhà của cha cố người Pháp có tiếng súng bắn vào đám đông. Cuộc tập hợp quần chúng trong hòa bình biến thành một cuộc nổi dậy của quần chúng. Không khí căng thẳng tràn ngập thành phố. Rõ ràng thực dân Pháp không cam chịu rút lui, chúng đang dùng mọi cách, kể cả chiến tranh, để chiếm lại Việt Nam. Đúng là quân Anh-Ấn của đồng minh đã giúp quân Pháp trở lại. Các cửa ngõ vào thành phố do quân Anh-Ấn canh gác không phải để giải giáp quân Nhật mà để ngăn chặn cuộc chiến đấu của chúng ta. Lập tức các lực lượng Việt Minh bắt đầu triển khai phương án tác chiến.

    Tôi được giao nhiệm vụ chuyển mấy cây súng ngắn ở nội thành ra ngoại thành. Chúng tôi đều hăng hái thực hiện mọi nhiệm vụ, bất chấp hiểm nguy. Lúc này mọi người, đặc biệt là thanh niên, chỉ nghĩ đến hai từ Độc lập và Tự do của đất nước. Hai tiếng Độc lập và Tự do sao mà thiêng liêng!

    Ngày 23.9, quân Pháp công khai gây hấn với Việt Minh. Súng đã nổ khắp nơi trong thành phố.

    Ba tôi đi liên lạc với anh em ở Chi đội 1, chỉ còn tôi và mấy em nhỏ ở nhà thờ Cụ Phan bên Đa Kao. Nghe tiếng nổ xung quanh, tôi và hai em trai lớn bàn nhau lấy cây súng ngắn của ba tôi còn cất ở nhà, bảo nhau nếu quân địch xông vào nhà thờ thì chị em phải bắn, nhất định không để chúng bắt. May mà chúng chỉ đi qua, chúng tôi không phải dùng súng. Thật ra chị em chúng tôi cũng chưa bao giờ cầm cây súng, càng không biết bắn. Kể cả sau này đi kháng chiến, tôi cũng chưa học được cách bắn súng!

    Mấy ngày sau, nhân dân thành phố lần lượt tản cư ra ngoại thành, tỏa về các tỉnh. Chúng tôi cũng tản cư về Lái Thiêu, nơi ông anh họ tôi có trang trại. Các em nhỏ tôi phải ở lại đấy, còn ba và ba chị em lớn chúng tôi bắt đầu tham gia kháng chiến, mỗi người một việc. Em thứ tư của tôi, là con trai, còn nhỏ nhưng rất gan dạ, được ba cử sang Campuchia chuyển một số thuốc nổ về cho công binh xưởng vừa hình thành để làm lựu đạn và mìn. Còn tôi và cậu em kế về Hồng Ngự, tỉnh Đổng Tháp, chuyển thực phẩm cho lực lượng vũ trang của ta ở miền Đông chuẩn bị chiến đấu. Các anh em họ tôi ở Sài Gòn, anh Hồng, anh Cống, anh Nông... cũng đều tham gia các tổ chức kháng chiến.

    Ba tôi rất hiền nhưng đôi khi cũng nổi nóng, những lúc đó chúng tôi đều rất sợ. Sau khi mẹ tôi mất, ba tôi quan tâm nhiều hơn đến sinh hoạt của tôi, khuyến khích tôi học, chăm lo cho các em, chơi thể thao, nhưng không cho phép tôi đi hoạt động buổi tối. Vậy mà khi tổ chức cử tôi từ Sài Gòn đi về Hồng Ngự để làm công tác tiếp tế cho bộ đội (em thứ ba của tôi đã đi trước), ba tôi dẫn tôi đến bến cảng Sài Gòn. Ở đó, tàu, ca nô tấp nập, đầy ắp người. Ba tôi đi tìm hiểu tình hình một lúc rồi bàn với tôi phải đi từng chặng một, xuống Mỹ Tho rồi tìm ca nô về Hồng Ngự sau. Cho tôi đi một mình, cả hành trình như vậy, chắc ba tôi lo lắm, nhưng lúc này, việc nước là trên hết. Tôi cũng rất lo, từ trước đến giờ đã có khi nào phải xông pha thế này đâu! Nhưng thấy ba băn khoăn, tôi nói cho ông yên tâm: “Không sao đâu ba, con đi được mà!”

    Tôi xuống tàu, trong tàu đã có độ 30 người ngồi sẵn. Hình như họ là dân lục tỉnh lên Sài Gòn giờ trở về quê. Không một ai quen, tôi ngồi co ro một chỗ, suốt đêm không dám ngủ. Sáng hôm sau đến Mỹ Tho, mọi người lên bờ. Tôi chưa hề đến Mỹ Tho nên chưa biết sẽ hỏi ai tàu về Hồng Ngự. Tôi đi rảo rảo ở đường, hỏi thăm cơ quan Việt Minh đóng ở đâu? Rất may gặp lại đồng chí Hà, và sau đó gặp một người bạn cũ thời ở Campuchia. Thế là tiếp tục chuyến đi về Hồng Ngự. Đến nơi mới biết anh họ tôi về đó làm ăn một thời gian, đã được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến quận Hồng Ngự. Tôi rất mừng đã đi đến nơi đến chốn an toàn, nhưng khi bàn tới nhiệm vụ được giao là chở ruốc thịt bò về tiếp tế cho miền Đông thì lại rất gay: ngay sau khi tôi rời Mỹ Tho, Pháp đã chiếm thị xã này, rồi chiếm tiếp Sa Đéc, Châu Đốc. Đường về Sài Gòn đã bị nghẽn. Tôi phải ở lại Hồng Ngự một thời gian, làm thư ký cho Ủy ban Kháng chiến địa phương nhờ đó được tham dự cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập tại Hồng Ngự. Đúng ngày 6.1.1946, mọi việc chuẩn bị đã sẵn sàng, chu đáo, nhân dân nô nức kéo ra trụ sở ủy ban để bắt đầu sự kiện lớn, thì nghe có tiếng máy bay từ xa đến. Có người chạy ra nhìn, hô to: Máy bay ta! Máy bay ta! Nhưng liền đó một loạt bom rơi xuống. Hóa ra là máy bay Pháp đi phá bầu cử. Hơn mười người chết và bị thương. Nhưng buổi chiều cuộc Tổng tuyển cử vẫn được tiến hành.

    Tôi phải ở lại Hồng Ngự đến tháng 5.1946. Pháp đã chiếm hầu hết các thành phố và thị xã lớn. Lực lượng kháng chiến rút về nông thôn, ở lại thành phố chỉ còn những cơ sở tiếp tục hoạt động bí mật. Ba tôi nhờ người đi đón hai chị em tôi từ Hồng Ngự về lại Sài Gòn. Cả gia đình lại tụ họp đông đủ ở nhà thờ Cụ Phan, nhưng chúng tôi không còn công khai được nữa. Nhiều gia đình bạn bè của ba tôi từ Campuchia về cũng cùng hoàn cảnh. Nhiều người không có nhà ở Sài Gòn đã đến ở cùng chúng tôi.

    Lúc này chúng tôi rất khó khăn về tài chính. Dành dụm được ít tiền, ba tôi đã bỏ ra hết để xây nhà ở Phnom Penh, khi về nước đành giao lại cho mấy người bà con trông nom giùm. Để nuôi sống mấy chục con người ở Đa Kao, chúng tôi phải làm đủ nghề, kể cả nghề đi súc chai ở các xí nghiệp. Thấy bên cạnh nhà thờ Cụ Phan có mấy căn phố, tôi mở tiệm bán gạo, nước mắm và đủ thứ linh tinh như trứng vịt, cà chua, hành tỏi. Một số ông tham tán, kỹ sư sẵn sàng cùng ba tôi đi “thồ” gạo, trứng vịt từ chợ Cầu Ông Lãnh về cho tôi bán. Sài Gòn lúc này âm ỉ một không khí ngột ngạt và chờ đợi, người ta vừa lo cuộc sống qua ngày, vừa phập phồng chờ một điều gì đó sẽ đến, chưa rõ rệt, có thể hiểm nguy nhưng lại nóng lòng mong đợi. Không ai nói ra thật rõ ràng, nhưng đó là tâm trạng chung, ở người công nhân lao động cũng như người trí thức.

    Tới giờ, các em tôi vẫn còn thích nhắc lại chuyện “chị Hai đi buôn cà chua ở chợ Tân Định”. Để bán được hàng nhiều thì phải ra ngồi ở chợ Tân Định, cách nhà hơn một cây số. Tôi vốn không quen gánh gồng nên đi vài chục thước đã phải đổi vai, đến nơi mướt mồ hôi. Ở chợ thường có một anh lính Tây lai đi thu thuế, có cảnh sát Tây đi kèm, hay kiểm tra giá cả. Một hôm chị bạn bán trứng vịt ngồi cạnh tôi đã phải giằng co với một cô đầm lai đến mua hàng. Giá “nhà nước” một trứng là 16 xu, nhưng chúng tôi mua tại gốc đã hơn 20 xu, nên bán lại ít nhất phải 25 xu. Viên cảnh sát quản lý thị trường đến can thiệp buộc chị bạn tôi phải bán mấy chục trứng theo giá “nhà nước”. Chị òa lên khóc. Tôi không cam lòng nên đã giở tiếng Pháp ra đối đáp với viên cảnh sát. Mọi người ngơ ngác. Tay cảnh sát và cô đầm lai cũng bất ngờ. Hai người nhìn nhau rồi bỏ đi. Chị em ở chợ cảm ơn tôi rối rít. Nhưng sau vụ đó các anh chị trong tổ chức không cho tôi ra bán hàng ở chợ Tân Định nữa.

    Cuối năm 1946, nhiều gia đình quê miền Bắc tìm cách trở về Hà Nội lúc đó còn chưa bị Pháp chiếm đóng. Nhưng rồi chẳng bao lâu sau toàn quốc kháng chiến nổ ra. Lửa chiến tranh bùng cháy trên cả nước.

    Đầu năm 1947, để củng cố thế lực, quân Pháp ra sức khủng bố, đàn áp. Ở Sài Gòn, nhất là về đêm, luôn có những cuộc ruồng bố lùng bắt những người kháng chiến. Đền thờ Cụ Phan Châu Trinh ở số 13 Gallimard bị chúng lùng sục đến mười ba lần. Mấy lần ba tôi bị chúng bắt đi, tra tấn. Chị em chúng tôi ở nhà thương và lo cho ba, càng nung nấu căm thù địch. Cuối năm 1947, theo lệnh trên, ba tôi không còn ở thành phố được nữa, phải ra bưng biền 1. Tôi phải ở lại vừa đi làm gia sư kiếm tiền nuôi các em vừa hoạt động. Một thời gian sau, tổ chức thấy tôi ở mãi đền thờ Cụ Phan sẽ bị lộ, cần phải thoát ly đi nơi khác. Tôi đành bàn với ông anh họ là một doanh nhân yêu nước dọn đến đây ở để tôi gửi các em sống cùng. Thương các em quá, mà chẳng còn cách nào khác, chỉ có thể thỉnh thoảng ghé qua thăm. Có lần tôi về, thấy đứa em út sốt cao, nằm co ro dưới bàn thờ ông ngoại, thật hết sức đau lòng. Đã có lúc tôi nghĩ hay là mình đừng thoát ly nữa để các em có người chăm sóc, dạy dỗ, nhưng rổi lại phải cố nén tình cảm mà vượt qua để tiếp tục hoạt động.

     Tôi hoạt động bí mật ở Sài Gòn dưới cái vỏ ngoài là một cô giáo dạy tư. Tôi đã dạy Toán cho nhiều nhóm học sinh luyện thi, và có một thời gian dạy ở Trường Colette, là một trường Tây, dạy bằng tiếng Pháp. Hiệu trưởng là chị Nở, bạn tôi; học sinh phần lớn là con các quan chức của chính quyền Sài Gòn và con các gia đình khá giả.

     Cuối năm 1946, tôi được giao nhiệm vụ tổ chức Hội Phụ nữ Cứu quốc, bắt đầu là ở hộ 5, nơi gia đình tôi sống, rổi từng bước được cử lên Hội Phụ nữ Cứu quốc thành phố. Bạn cùng lớp hoạt động lúc bấy giờ có chị Nga, chị Hữu Bích, các chị Đạt, Hạnh, Tư Kiều, nhưng thân thiết nhất với tôi là Duy Liên 2. Duy Liên cùng tuổi với tôi, nhanh nhẹn, sắc sảo, đặc biệt có khuôn mặt rất trẻ. Khi hai chúng tôi bị bắt Liên khai sụt sáu tuổi, “là vị thành niên”, địch cũng tin. Hai chị lớn hơn là chị Bảy Huệ 3, sau này là vợ đồng chí Nguyễn Văn Linh 4, người thủ trưởng kháng chiến đầu tiên của tôi, và chị Chín Châu. Tôi rất quý chị Bảy Huệ, người chị rất hiền hậu, đã chăm nom, dặn dò, bày vẽ cho tôi nhiều điều trong quan hệ với quần chúng. Chị thường bảo các chị em khác: “Yến - bí danh các chị đặt cho tôi lúc đó - là học sinh mới rời nhà trường, chưa biết gì lắm, cần giúp đỡ nó.” Thực tế là tôi đã tham gia tổ chức với tất cả lòng hăng hái của tuổi trẻ, mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc đấu tranh chung, nhưng còn chưa hiểu biết gì về chính trị. Để tôi quen với công tác quần chúng, các chị điều tôi đến sống với một gia đình nông dân ở Tân Phú Đông, ngoại ô Sài Gòn. Ở đó hằng ngày tôi phải quét một vườn cây ăn quả rất rộng, nấu cơm nấu nước... Bà cụ chủ nhà chê tôi không biết nấu ăn, dọn dẹp chưa gọn gàng. Tôi nghĩ đi làm “cách mạng” chẳng dễ chút nào! Nhưng rồi mấy tháng sau, cả gia đình đều thương tôi và bà cụ không còn chê tôi nữa.




-----------------------------------------------------------------
1. Bưng biền: vùng căn cứ kháng chiến ở Nam Bộ thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ.

2. Đỗ Thị Duy Liên sinh năm 1927, hoạt động cách mạng từ thời kỳ chống Pháp, bà cũng tham gia vào đoàn ngoại giao của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trong Hội nghị Paris; nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.

3. Ngô Thị Huệ sinh năm 1918, hoạt động cách mạng từ trước 8.1945, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I.

3. Nguyễn Văn Linh (1915-1998): nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam (1986-1991).

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #6 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 03:50:01 pm »

Tôi được giới thiệu đến đồng chí Hoàng Quốc Tân 1 của chi bộ marxist Sài Gòn. Ở đấy, tôi thấy có vài người Pháp cộng sản thường lui tới. Tôi mượn sách về chủ nghĩa Marx-Lenin, đọc duy vật biện chứng, nhưng cũng chỉ hiểu lõm bõm. Nhờ các cuộc họp với các anh chị ở chiến khu về, hoặc lâu lâu ra bưng biền dự hội nghị, dân dần tôi thu lượm được một số kiến thức về cách mạng, và luôn có ý thức truyền lại cho anh chị em cùng đơn vị. Trong những cuộc nói chuyện với các học sinh do tôi phụ trách, tôi đem những điều mới mẻ đó giảng dạy lại, được mọi người rất hoan nghênh. Tôi cũng cố gắng vận động những người quen biết. Bấy giờ có chị Bùi Thị Cẩm 2, là luật sư, vợ một trí thức nổi tiếng, tôi gọi là chị nhưng chị lớn tuổi hơn tôi nhiều. Chị hỏi tôi nên làm gì cho kháng chiến. Tôi nói: “Anh chị xem điều gì có lợi cho kháng chiến thì nên làm, điều gì có hại thì không nên...” Chỉ đơn giản vậy mà chị cảm ơn tôi rối rít: “Em nói rất phải!” Mới hay lòng yêu nước tiềm ẩn trong mọi người và trong cuộc sống có những hoàn cảnh mà những điều giản dị như vậy lại có thể là những chân lý lớn lao, làm thay đổi cả cuộc đời con người. Về sau chị Cẩm đã tham gia và giữ địa vị quan trọng trong kháng chiến.

     Ngoài công việc tuyên truyền vận động quần chúng, tôi còn tham gia cùng các bạn rải truyền đơn, vận động bãi công, bãi thị chống các âm mưu, tội ác của địch.

     Năm 1948, đồng chí Hồ Bắc ở cấp ủy quận xuống gặp tôi, nói các đồng chí ở quận đánh giá tôi hoạt động rất tích cực, định kết nạp tôi vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí giảng giải cho tôi về Đảng, về Hồ Chí Minh là Chủ tịch Đảng. Tôi nghe thấy rất hay, nhưng xin để được suy nghĩ. Theo tôi, làm đảng viên là phải hết sức gương mẫu, sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng, cần lượng đúng sức mình. Một thời gian sau tôi đồng ý. Hai người giới thiệu tôi vào Đảng là đồng chí Hồ Bắc và đồng chí Hồ Thị Chí 3, vợ đồng chí Hà Huy Giáp 4.




------------------------------------------------------------------
1. Hoàng Quốc Tân (cháu nội Hoàng Cao Khải): luật sư, đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, hoạt động trong giới công nhân Pháp trong Chiến tranh Thế giới II; về nước theo tiếng gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh tháng 6.1946, ông là thành viên Xứ ủy Nam Kỳ phụ trách trí vận.

2. Bùi Thị Cẩm: người phụ nữ Việt Nam đầu tiên làm luật sư tại Pháp, vợ ông Phạm Ngọc Thuần, Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Nam Bộ.

3. Hồ Thị Chí, sinh năm 1925, nguyên Thứ trưởng Bộ Công nghiệp nhẹ, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VI.

4. Hà Huy Giáp (1908-1995), là nhà hoạt động cách mạng Việt Nam, nguyên Ủy viên Thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa II (dự khuyết), khóa III.

Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #7 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 03:59:03 pm »

    Năm 1946, Hội nghị Fontainbleau thất bại, sự cố gắng kiên trì của chúng ta để tránh chiến tranh đã không thành. Lời Bác Hổ nói với toàn dân trong thời điểm trọng đại ấy thể hiện sâu sắc nguyện vọng thống thiết và ý chí của toàn dân tộc: “Chúng ta đã nhân nhượng, nhưng ta càng nhân nhượng kẻ thù càng lấn tới. Nhân dân ta không còn cách nào khác là phải chiến đấu để giành độc lập cho dân tộc mình.” Cả nước lắng nghe Người, và đồng loạt đứng dậy vì cuộc chiến đấu mất còn. Ở Sài Gòn, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Thành ủy và Ủy ban Nhân dân ngày càng sôi động. Tôi không chỉ làm công tác phụ nữ mà còn được giao phụ trách bồi dưỡng chính trị cho một số học sinh nòng cốt. Trong số này có Bình Thanh, học sinh Trường Marie Curie, học giỏi và rất tích cực. Chị em chúng tôi gắn bó với nhau lầu dài; sau này Bình Thanh là thư ký của tôi lúc tôi làm công tác ngoại giao. Ngoài công tác trong giới tiểu thương, lao động, tôi và Duy Liên còn được giao vận động phụ nữ trí thức tư sản. Đối với tôi đây là việc khó, các chị vốn quen nếp sống tự do, thoải mái, không thể gò vào khuôn khổ hoạt động chặt chẽ. Nhiều bữa đang họp, nghe tiếng còi xe, các chị liền đứng lên xin phép ra về để đi ăn cơm với chồng ở Chợ Lớn... Tuy nhiên các chị đều giàu lòng yêu nước, chỉ sau một thời gian vận động các chị đều đồng ý tham gia tổ chức Phụ nữ Cấp tiến. Tôi nhớ mãi chị Hạnh - bác sĩ, và chị Quỳnh Hoa 1 về sau là Bộ trưởng Bộ Y tế trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam. Khi bỏ Sài Gòn ra chiến khu, chị Quỳnh Hoa đã bị chính quyền Sài Gòn kết án tử hình vắng mặt và tịch thu gia sản.   

    Năm 1949, tôi và Duy Liên được giới thiệu sinh hoạt cùng chi bộ với luật sư Nguyễn Hữu Thọ 2. Là những học sinh mới rời khỏi nhà trường, nay đến văn phòng của một luật sư danh tiếng, một trí thức lớn của Việt Nam thế kỷ XX, chúng tôi rất bỡ ngỡ, hồi hộp. Văn phòng rất sang trọng, còn luật sư là một người cao đẹp. Ông tươi cười đón tiếp chúng tôi. Và từ đó, số phận của tôi, cuộc đời tôi trong nhiều giai đoạn hoạt động gắn bó với người trí thức lớn, người đồng chí ưu tú này. Chi bộ chúng tôi còn có chị Tám Lựu là bí thư, từng trải, đã tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa năm 1941. Bí thư thành ủy lúc này là đồng chí Nguyễn Văn Linh.

     Cạnh luật sư Nguyễn Hữu Thọ, tôi không thể không nói đến bác sĩ Phạm Ngọc Thạch 3, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát 4 và nhiều trí thức miền Nam tôi từng được biết trong các thời kỳ công tác. Phần lớn họ là những người có địa vị cao, cuộc sống giàu sang, nhưng vì sự nghiệp lớn của dân tộc, vì cách mạng, họ đã gạt bỏ tất cả, dấn thân hết mình vào cuộc chiến đấu chung, đóng góp tinh hoa và trí tuệ cho đất nước. Theo tôi, đặc điểm lớn của trí thức Việt Nam bấy giờ là rất giàu lòng yêu nước. Họ là tinh hoa của dân tộc, tôi thật sự kính trọng và quý mến.



-------------------------------------------------------------------
1. Dương Quỳnh Hoa (1930-2006): nguyên là bác sĩ nhi khoa, được đào tạo và hành nghề Y tại Pháp; về Việt Nam năm 1954, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam tới năm 1975. Bà mất do ảnh hưởng của chất độc màu da cam.

2. Nguyễn Hữu Thọ (1910-1996): Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch nước Việt Nam thống nhất, nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam.

3. Phạm Ngọc Thạch (1909-1968): bác sĩ, nguyên Chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

4. Huỳnh Tấn Phát (1913-1989): kiến trúc sư, là Chủ tịch chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969-1976), nguyên Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đổng Nhà nước nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #8 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 04:02:31 pm »

    Để phong trào mở rộng và có tác dụng lớn, hoạt động bí mật không còn đủ nữa; cần phải đưa quần chúng ra đấu tranh công khai dưới nhiều hình thức hợp pháp và bất hợp pháp. Nhiều tổ chức ra đời: Hội Phụ nữ Cấp tiến, Hội Cứu trợ Nạn nhân Hỏa hoạn Tân Kiểng, các tổ chức công nhân, sinh viên, học sinh... Mỗi tầng lớp đều có tổ chức công khai, hợp pháp của mình. Đại diện chung cho các giới là Phái đoàn các giới do luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu.

    Cuối năm 1949, một số học sinh Trường Pétrus Ký 1 bị bắt. Một cuộc đấu tranh của học sinh trong trường bùng nổ, đòi phải thả những người đã bị bắt ra. Địch ngoan cố mở rộng bắt bớ khủng bố, càng thúc đẩy toàn thể học sinh thành phố đứng dậy đấu tranh. Ngày 9.1.1950, hàng ngàn học sinh kéo đến trước Dinh Thủ hiến Trần Văn Hữu 2 tại vườn hoa đường Lagrandière 3, giương cao các băng khẩu hiệu “Phải thả ngay các học sinh Pétrus Ký bị bắt!” Lực lượng kéo đến hỗ trợ ngày càng đông. Học sinh cử đoàn đại biểu đòi gặp Thủ hiến Trần Văn Hữu. Ông ta cho đóng chặt cổng, không tiếp. Đến trưa, địch đưa mấy chục xe và hàng trăm lính đến đàn áp. Học sinh chống cự nhưng không nổi. Anh Trần Văn Ơn  4, một học sinh lãnh đạo phong trào, đứng lại chặn đường cho các bạn chạy. Anh bị cảnh sát đánh matraque (dùi cui) liên tục, và khi anh leo qua rào thì trúng đạn của bọn chúng, ngã gục. Tin cuộc biểu tình và tin anh Trần Văn Ơn hy sinh nhanh chóng loan khắp thành phố như lửa cháy, gây phẫn nộ bừng bừng, là giọt nước tràn ly.

    Ngày 12.1, đám tang anh Trẩn Văn Ơn nhanh chóng biến thành cuộc biểu dương lực lượng lớn của các tầng lớp nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn, cả bà con từ Mỹ Tho, Bạc Liêu, Cần Thơ cũng kéo lên tham gia. Phái đoàn các giới do luật sư Nguyễn Hữu Thọ dẫn đầu gửi nhiều kiến nghị lên chính quyền Trần Văn Hữu đòi chấm dứt khủng bố, thả hết học sinh và những người liên quan bị bắt. Các đoàn thể công khai và bí mật liên tiếp họp bàn đối phó với địch.

    Đây cũng là lúc trên chiến trường cả nước đang có những chuyển biến quan trọng. Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 đã giải phóng ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn trên biên giới phía Bắc. Tình hình chung càng cổ vũ phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn. Chúng tôi được tin ngày 19.3.1950 hai chiếc tàu của Mỹ là soái hạm Stickvvell và khu trục hạm Anderson sẽ cập bến Sài Gòn. Đây là bằng chứng công khai về sự can thiệp của Mỹ, hỗ trợ cho thực dân Pháp đang gặp khó khăn về mọi mặt. Thành uỷ Sài Gòn thành lập ban chỉ đạo cuộc đấu tranh rộng lớn chống sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ, đổng thời chống đàn áp và khủng bố ngày càng tăng của địch ở các đô thị. Tôi được cử làm đại diện phụ nữ trong ban chỉ đạo chung. Chúng tôi vận động chuẩn bị cuộc bãi công bãi thị và biểu tình lớn sẽ được tổ chức đúng ngày 19.3.




------------------------------------------------------------------
1. Trường Pétrus Ký, lấy theo tên Pétrus Trương Vĩnh Ký (1857-1889), được thành lập năm 1928 tại Sài Gòn.

2. Trần Văn Hữu (1895-1985): Thủ tướng chính phủ Quốc gia Việt Nam từ tháng 5.1950 đến tháng 6.1952.

3. Dinh Thủ hiến nằm trên đường Lagrandière hay đường Gia Long nay là Bảo tàng Tp. Hồ Chí Minh, đường Lý Tự Trọng.

4. Trần Văn Ơn sinh năm 1931, là một học sinh Trường Pétrus Ký.
Logged
hoi_ls
Thượng tá
*
Bài viết: 4838



« Trả lời #9 vào lúc: 22 Tháng Mười Hai, 2022, 04:09:23 pm »

    8 giờ sáng hôm ấy nhân dân đã tập trung rất đông tại Trường Tôn Thọ Tường 1. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ cùng một số đồng chí trong phái đoàn các giới vừa đến thì từ tầng cao của trường, các bộ phận được phân công tung truyền đơn xuống như mưa, hoan nghênh phái đoàn và đòi địch chấm dứt khủng bố. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ chưa kịp phát biểu thì mấy xe cảnh sát ập tới. Mọi người vừa chống lại cảnh sát vừa kéo ra đường tuần hành, hướng về chợ Sài Gòn, đi đầu là luật sư Nguyễn Hữu Thọ và nhiều trí thức Sài Gòn nổi tiếng, có cả một người phụ nữ Pháp là vợ đồng chí Phạm Huy Thông 2. Các đồng chí lãnh đạo công đoàn giương cao những lá cờ đỏ đã chuẩn bị từ trước. Đi đến đâu nhân dân hai bên đường lại đổ ra nhập thêm, chẳng mấy chốc đã biến thành một đoàn biểu tình khổng lổ, giương cao những lá cờ đỏ sao vàng cuồn cuộn tràn tới như nước lũ. Lá cờ xuất hiện hiên ngang giữa Sài Gòn bị chiếm gây xúc động sâu sắc, nhiều người không cầm được nước mắt.

    Theo kế hoạch của ban chỉ đạo, nhiều cánh biểu tình từ nhiều phía dồn về Nhà hát lớn, rồi đổ ra bến cảng, nơi hai chiếc tàu Mỹ sẽ đến đậu. Thực tế là hai chiếc tàu này đã đến từ trước nhưng không dám vào sâu, chỉ đỗ xa bến cảng. Cánh biểu tình từ Trường Tôn Thọ Tường là cánh chính, và tôi đi cùng cánh này. Chúng tôi được chỉ thị những người trong ban chỉ đạo chỉ theo dõi, không được lộ diện chỉ huy. Nhưng hăng say giữa khí thế hừng hực của nhân dân, cả tôi và Năm Sứ, Duy Liên đều khó mà giữ nghiêm được kỷ luật. Lúc này, trước Nhà hát lớn, phía đường Lê Lợi, trên lầu hai của trụ sở phái đoàn Mỹ có treo một lá cờ Mỹ to tướng. Tôi vừa đến nơi thì thấy mấy anh thanh niên công kênh nhau lên để giật cờ Mỹ xuống. Nhìn quanh, biết có nhiều tay mật thám, tôi liền hô to: “Hãy bảo vệ anh em ta!” Lá cờ Mỹ vừa giật xuống đã bị xé tan tành. Anh thanh niên vừa nhảy xuống đất thì bị một tay mật thám chạy đến túm lấy. Không kịp suy nghĩ nhiều nhưng biết nếu chần chừ anh thanh niên sẽ bị chúng bắt. Tôi liền nhảy vào bấu xé giằng tay tên mật thám và đẩy anh thanh niên ra một bên. Bị bất ngờ, tên mật thám lỏng tay, anh thanh niên liền vùng chạy, len vào giữa đám quần chúng cũng cùng lúc xông tới. Còn tôi, nhìn lại thấy mình đang ở thế nguy hiểm giữa bầy lang sói, cũng vội lẫn vào đám đông chạy về phía tòa thị chính. Ở đây người biểu tình tập trung đông nhất, và đã xảy ra xung đột với cảnh sát. Tôi không nhớ tay chỉ huy người Pháp có bị thương không, nhưng chiếc xe của y đã bị quần chúng lật ngửa và đốt cháy, khói bốc lên đen kịt. Chúng tôi tiến ra bờ sông, vừa hô to: “Đả đảo thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ!”...

    Mục đích của cuộc biểu tình là thị uy và thể hiện tinh thần chống đế quốc Mỹ tiếp tay cho thực dân Pháp. Trước khí thế của quần chúng, hai chiếc tàu Mỹ phải vội nhổ neo dời ra xa. Có người ước lượng đã có đến nửa triệu người biểu tình trong khi dân số Sài Gòn lúc bấy giờ là khoảng một triệu. Tôi thì có cảm giác cả thành phố đã xuống đường. Bộ máy chính quyền của địch choáng váng, tê liệt trong nhiều giờ. Chúng tôi bảo nhau: “Giá chúng ta có vũ khí, có khi cướp được chính quyền cũng nên!”

    Còn bao nhiêu chuyện đáng kể về ngày 19.3 không thể quên ấy. Khi đoàn biểu tình từ Trường Tôn Thọ Tường kéo ra chợ Bến Thành thì gặp chuyến xe lửa Sài Gòn đi Mỹ Tho. Anh em công nhân đường sắt liền cho tàu dừng lại và nhảy xuống nhập vào cuộc tuần hành chung. Ở một cánh khác, bọn cảnh sát ném lựu đạn cay, nhiều người ngất xỉu, bà con hai bên đường mang nhiều xô nước, cả nước đá, xông ra cứu. Những người lãnh đạo biểu tình bị cảnh sát rượt bắt thì được quần chúng tìm cách bảo vệ, giải thoát...

    Sau khi hoàn hồn, địch bắt đẩu mở những cuộc truy quét. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ bị chúng “hỏi tội” trước tiên. Nhưng chúng không dễ gì uy hiếp được ông và phái đoàn các giới do ông lãnh đạo. Ông vạch trần tội ác của địch, nêu rõ sự phẫn nộ của nhân dân là chính đáng, chính sự đàn áp khủng bố của chúng đã buộc nhân dân phải nổi dậy chống lại. Mãi mấy tháng sau chúng mới quyết định đưa ông đi an trí tận Lai Châu, ngoài Bắc.

     Ở Sài Gòn vẫn liên tiếp nổ ra các cuộc biểu tình khác. Khoảng tháng 4.1950, địch âm mưu đốt xóm nhà lá ở Tân Kiểng, vùng Bàn Cờ, vốn là khu nhân dân lao động, căn cứ lõm của ta trong nội thành, để dồn dân đi nơi khác. Hàng trăm gia đình mất sạch nhà cửa, tài sản, lâm vào cảnh màn trời chiếu đất. Phái đoàn các giới cực lực lên án âm mưu địch, đòi chúng phải cứu trợ bà con. Các đoàn thể công khai hợp pháp tổ chức quyên góp giúp đỡ nạn nhân, và đây cũng là dịp tiếp tục phát động đưa quần chúng ra đấu tranh.

     Ngày 12.5.1950, chị Trần Bội Cơ 3, nữ sinh Hoa kiểu, bị địch bắt và sát hại. Tôi cùng với đồng chí Liên, phụ trách Hoa vận, được giao nhiệm vụ tổ chức mít tinh tại Chợ Lớn vạch tội ác địch và kêu gọi bà con Hoa kiều sát cánh cùng người Việt đấu tranh để bảo vệ con em mình. Lần này tôi lại phạm khuyết điểm không chấp hành nghiêm kỷ luật là không được lộ mặt và mất cảnh giác. Giữa một đường phố đông đúc của Chợ Lớn, anh em đã đặt sẵn một cái bàn. Đúng giờ đã định, một thanh niên người Hoa nhảy lên phát biểu ý kiến. Tôi quan sát thấy không có ai bảo vệ anh ấy cả, liền xông ra kéo một số người đứng bao quanh anh. Anh ấy diễn thuyết được khoảng năm phút thì cảnh sát ập đến. Một vài người bị bắt tại chỗ, nhưng chúng tôi cũng đã gây được tiếng vang cẩn thiết.

    Cuộc đấu tranh bên ngoài đã vang đến tận trong nhà tù của địch. Tháng 7.1950, anh em tù nhân Khám lớn Sài Gòn phát động tuyệt thực phản đối chế độ nhà tù hà khắc và ủng hộ các yêu sách của đồng bào bên ngoài. Tôi cũng được lệnh tổ chức một cuộc biểu tình của các gia đình có người ở tù trước Khám lớn Sài Gòn gồm chủ yếu là các chị em có chồng con bị tù.

    Năm 1950 là một năm đặc biệt sôi nổi của phong trào nội thành Sài Gòn-Chợ Lớn. Tôi không còn nhớ được hết các cuộc biểu tình chúng tôi đã tham gia tổ chức, nhưng do những hoạt động đó chúng tôi thường được anh em gọi là các “chuyên gia biểu tình”! Và cứ như thế, chúng tôi hăng hái lao vào cuộc đấu tranh.

    Lúc này, chúng tôi cũng đã được nghe nói đến cuộc chuẩn bị tổng phản công trên toàn quốc, thúc giục chúng tôi càng hoạt động hăng hái hơn. Tôi được bầu làm Chủ tịch Hội Phụ nữ thành phố và Bí thư Đảng đoàn Phụ nữ Cứu quốc, trách nhiệm càng nặng nề, trong lúc việc gia đình cũng phải lo toan nhiều hơn. Hai em tôi đã đi thoát ly, nhưng còn ba em nhỏ ở nhà cùng với gia đình anh chị họ. Tôi phải thường xuyên lui tới thăm nom các em.




-----------------------------------------------------------------
1. Trường Tôn Thọ Tường nay là Trường THPT Ernst Thalmann, nằm trên dường Trần Hưng Đạo, Tp. Hồ Chí Minh.

2. Phạm Huy Thông (1916-1988) là nhà thơ của phong trào Thơ mới, giáo sư của Hội đồng Giáo dục bậc cao Pháp, và nhà khoa học xã hội, nguyên Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Hà Nội.

3. Trần Bội Cơ sinh năm 1932, mất trong phong trào học sinh-sinh viên Sài Gòn do bị địch bắt và tra tấn dã man năm 1950 khi vừa tròn 18 tuổi.
Logged
Trang: 1 2 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM