Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Tư, 2024, 12:09:31 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 10107 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #250 vào lúc: 28 Tháng Chín, 2023, 08:41:43 am »

Một cuộc đọ mưu, đọ sức quyết liệt đã diễn ra với sự nỗ lực cao nhất của ta và của địch. Thế trận của ta lúc này phát triển rất thuận lợi. Ta có thế hiểm trên cơ sở thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc trên toàn chiến trường, nhờ đó mà thực hiện được mưu lừa địch và kế điều địch, căng địch ra mà đánh cả ở mặt trận chính diện và mặt trận sau lưng địch. Chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược là rất hiểm, rất bất ngờ đối với một kẻ địch vốn rất chủ quan, ỷ vào binh khí kỹ thuật, đánh giá thấp đối phương. Địch định dùng mưu lừa ta, ta lại dùng mưu của nó để lừa lại nó. Trong cuộc đọ sức ở Điện Biên Phủ, ta có nhiều khó khăn nhưng ta hoàn toàn cố thể khắc phục được những khó khăn đó bằng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, bằng nghệ thuật chỉ đạo chiến lược và tổ chức, chỉ huy chiến dịch tài giỏi. Bộ đội chủ lực của ta lại phát huy được sở trường và khả năng tác chiến trên địa bàn rừng núi. Trúng kế của ta, lực lượng cơ động chiến lược của địch bị căng ra khắp các chiến trường Đông Dương, bị trói chân trói tay và bị tiêu hao, tiêu diệt, không sao ứng cứu được cho nhau và cũng không có khả năng ứng cứu cho Điện Biên Phủ bị cô lập.


Như vậy, sự phát triển của thế trận chung trên toàn chiến trường đã tạo điều kiện và thời cơ thuận lợi cho ta tập trung một bộ phận lớn lực lượng chủ lực cơ động tiêu diệt tập đoàn chủ yếu của địch ở Điện Biên Phủ, giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Song để đạt được mục tiêu ấy, nghệ thuật quân sự còn phải giải quyết thành công nhiều vấn đề về tổ chức, chỉ huy chiến dịch.


Điện Biên Phủ là một tập đoàn cứ điểm mạnh chưa từng có ở Đông Dương với tổng số quân là 16.200 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, phần lớn là quân tinh nhuệ bậc nhất của địch, với trên 40 khẩu pháo, 10 xe tăng, được sự chỉ viện của 80 phần trăm lực lượng không quân của Pháp ở Đông Dương. Chúng bố trí trong 49 cứ điểm, tổ chức thành 8 cụm, mỗi cụm là một hệ thống hỏa lực nhiều tầng có thể yểm hộ đắc lực cho nhau.


Vì vậy, chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch tác chiến hợp đồng binh chủng có quy mô lớn nhất trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ta phải sử dụng phương pháp tác chiến trận địa tiến hành một loạt các trận đánh kế tiếp nhau để giải quyết những cứ điểm và cụm cứ điểm rắn chắc trong một hệ thống phòng ngự có chuẩn bị và tổ chức chặt chẽ. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là "đánh chắc thắng", phương châm tác chiến chiến dịch của ta đã được thay đổi rất kịp thời và chính xác từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc" dù phải khắc phục nhiều khó khăn. Bộ đội ta phải cố tinh thần quyết chiến quyết thắng rất cao, phải sử dụng sáng tạo cách đánh: kết hợp đột phá chính diện trên nhiều hướng với thọc sâu chia cắt, bao vây chặt, kiên quyết bóp nghẹt nguồn tiếp tế duy nhất của địch bằng đường không, giành thắng lợi từng bước, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, kiên quyết chọc thẳng vào trung tâm chỉ huy của địch, giành thắng lợi hoàn toàn.


Ngày 13 tháng 3 năm 1954, ta nổ súng tiến công mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong đợt đầu, chúng ta đã tập trung sức mạnh hợp đồng binh chủng đánh chiếm các cứ điếm Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo là những vị trí kiên cố vào bậc nhất của địch ở phía bắc và đông bắc. Mất ba trung tâm đề kháng quan trọng che chở cho tập đoàn cứ điểm, quân địch bị một đòn choáng váng, và nỗi kinh hoàng nhanh chóng lan từ Điện Biên Phủ đến các sở chỉ huy địch ở Hà Nội và Sài Gòn, báo hiệu sự thất bại của chúng là không thể tránh khỏi. Nhưng địch vẫn còn trên một vạn quân và hơn ba chục vị trí, phần lớn đều nằm tập trung giữa cánh đồng Mường Thanh. Trên địa hình bằng phăng, địch có thể phát huy ưu thế về pháo binh, xe tăng, máy bay.


Với quyết tâm cao và cách đánh mưu trí sáng tạo, quân ta tiếp tục mở đợt tiến công thứ hai, đột phá các cao điểm khống chế ở khu đông tập đoàn cứ điểm, đồng thời đưa lực lượng thọc sâu đánh chiếm sân bay, cắt đứt dạ dày của địch, chia cắt địch giữa phân khu nam và phân khu trung tâm, siết chặt quân địch trong vòng vây lửa của một hệ thống chiến hào ngang dọc dài hàng trăm ki-lô-mét. Phát huy hiệu quả của cách đánh gần, bắn ngắm trực tiếp, pháo binh ta với số lượng ít hơn đã hoàn toàn áp đảo pháo binh, xe tăng địch, điều mà kẻ địch hoàn toàn bị bất ngờ và không sao hiểu nổi. Sự xuất hiện và hiệu lực của pháo binh ta đã gây nên nỗi kinh hoàng cho giặc Pháp ở Điện Biên Phủ đến nỗi ngay trong đêm đầu tiên ta mở cuộc tiến công, viên trung tá chỉ huy pháo binh địch đã phải tự sát vì thấy mình bất lực. Còn bộ binh ta, với những cách đánh hết sức dũng cảm, sáng tạo như đánh lấn, bắn tỉa, vây hãm quân địch cả ở mặt đất và trên không, cài xen áp sát địch... đã làm cho địch càng thêm khốn quẫn, trận địa phòng ngự của chúng ngày càng thu hẹp, hỏa lực và khả năng tiếp tế, ứng cứu bằng không quân của địch trở thành vô hiệu.


Trước tình hình nguy ngập của Điện Biên Phú. hy vọng được đế quốc Mỹ cứu nguy bằng kế hoạch ném bom "Diều hâu" cũng đã tiêu tan, Na-va chỉ còn cách ra lệnh cho Đờ Ca-xtơ-ri mở một đường máu tháo chạy về phía tây. Nhưng đã muộn! Chiếc thòng lọng đã xiết chặt vào cổ chúng. Sau một thời gian ngắn chuẩn bị, ta đã mở đợt công kích cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phú. Ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngọn cờ "Quyết chiến quyết thắng'' của Chủ tịch Hồ Chí Minh tung bay trên nóc sở chỉ huy địch. Tướng Đờ Ca-xtơ-ri và toàn bộ bộ tham mưu địch bị bắt sống, gần một vạn quân địch còn sống sót đã đầu hàng. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đã toàn thắng hết sức vẻ vang.


Chiến thắng Đông Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh hùng hồn rằng Đảng ta không những có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn sáng tạo mà còn đạt tới trình độ rất cao trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự cách mạng, trong đó có nghệ thuật mưu kế và lập thế trận.


Điện Biên Phủ đã đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa ở thế kỷ XX. Từ sau Điện Biên Phủ, nhân dân ta lại viết tiếp những trang sử huy hoàng mới với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Với tinh thần quật cường bất khuất và tài thao lược được tôi luyện qua hàng ngàn năm lịch sử, ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta nhất định sẽ xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #251 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 08:24:57 am »

VII. BÀY MƯU LẬP THẾ CHO TRẬN ĐÁNH ĐẮC TÔ - TÂN CẢNH XUÂN - HÈ 1972
(Bài đăng trên Tạp chí Quân đội nhân dân, số thang 5 nôm 1983. Có sửa chữa, bổ sung)


Đánh giặc bằng mưu là một cách đánh hay. Trong lịch sử chiến tranh, đã có nhiều trận đánh, do biết dùng mưu hay kế giỏi mà bên ít quân đã đánh thắng bên đông quân hơn mình.

Phát huy truyền thống quý báu về tài thao lược của dân tộc, trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, lực lượng vũ trang nhân dân ta đã có nhiều trận đánh biết dùng mưu kế hay để thắng địch. Dưới đây là một trận trong hàng trăm trận như vậy trên khắp đất nước ta.


Năm 1972 là năm có những chuyển biến lớn về chiến lược có lợi cho nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Qua mấy năm bị thất bại nặng nề, chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Ních-Xơn đang đứng trước nguy cơ bị phả sản hoàn toàn. Quân ngụy đã mất khả năng tiến công, buộc phải đi vào thế phòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường.


Để thúc đẩy nhanh chóng sư suy sụp của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", tạo điều kiện và thời cơ đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, Bộ Chính trị Trung ương Đảng chủ trương mở một cuộc tiến công chiến lược quy mô lớn trên chiến trường miền Nam. Mục đích của cuộc tiến công chiến lược lần này là tiêu diệt một bộ phận lớn lực lượng của địch, giải phóng một số vùng đất đai quan trọng gồm một số thị trấn, thị xã, căn cứ quân sự, nhằm phá vỡ một mảng trong thế trận phòng ngự của địch, tạo ra sự chuyển biến về so sánh lực lượng và cục diện chiến tranh có lợi cho ta.


Trong chủ trương chiến lược nói trên, chiến trường Tây Nguyên là một hướng tiến công chiến lược được giao nhiệm vụ "tiêu diệt địch, giải phóng vùng Đắc Tô - Tân Cảnh, có điều kiện thì giải phóng thị xã Kon Tum. Hướng phát triển có thể là hướng Plây Cu..."1 (Trích: Điện số 236 của Bộ gửi mặt trận Tây Nguyên, ngày 10 tháng 9 năm 1971).


Thực hiện nhiệm vụ nói trên, chiến dịch tiến công địch ở bắc Tây Nguyên được chia thành hai đợt. Đợt một: tiêu diệt địch ở căn cứ Tân Cảnh, giải phóng thị trấn Tân Cảnh và quận lỵ Đắc Tô. Đợt hai: tiêu diệt địch ở thị xã Kon Tum và quân ứng cứu, tiếp viện từ Plây Cu lên, giải phóng thị xã Kon Tura và vùng phụ cận.


Phải có cách đánh như thế nào để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của chiến dịch? Đó là một vấn đề mà Bộ tư lệnh và cơ quan chỉ huy chiến dịch phải suy nghĩ nung nấu. Vì đây là lần thứ hai ở chiến trường Tây Nguyên, từ tết Mậu Thân năm 1968, quân ta đánh vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, vào thị trấn, thị xã, và là lần đầu tiên ta đánh vào thị trấn, thị xã bằng tác chiến hợp đồng binh chủng có sử dụng xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ. Đánh lớn, đánh vào chỗ địch mạnh, địch cứng, thì phải đánh thế nào cho tốt, giành được thắng lợi giòn giã?


Câu trả lời là: phải hạn chế được chỗ mạnh, chỗ cứng của địch, làm cho địch mạnh mà hóa yếu, cứng mà hóa mềm.

Về so sánh lực lượng, ta không có ưu thế hơn địch về số lượng nên càng phải coi trọng hướng suy nghĩ này. Cách đánh theo hướng này là đánh bằng mưu và bằng thế.

Ở Tây Nguyên, địch có 2 sư đoàn bộ binh (các sư đoàn 22, 23) và liên đoàn biệt động quân số 2. Về binh chủng kỹ thuật, địch có 10 tiểu đoàn pháo binh, 4 trung đoàn thiết giáp và 1 trung đoàn không quân. Ngoài ra, chúng còn có lực lượng bảo an, dân vệ và quân biệt động biên phòng. Địch coi Tây Nguyên là chiến trường chính của quân khu 2 nên chúng tập trung ở đây phần lớn lực lượng chủ lực và thành phần binh chủng kỹ thuật của quân khu 2. Toàn quân khu chỉ có 2 sư đoàn bộ binh chủ lực và 1 liên đoàn biệt động quân thì địch tập trung ở Tây Nguyên sư đoàn 23 nguyên vẹn, sư đoàn 22 thiếu và liên đoàn biệt động số 2 là lực lượng cơ động của quân khu. Về binh chủng kỹ thuật, chúng cũng tập trung phần lớn ở chiến trường Tây Nguyên.


Ngoài lực lượng của quân khu 2, bộ tổng tham mưu ngụy cũng thường sử dụng lực lượng tổng dự bị chiến lược vào chiến trường Tây Nguyên. Địch phán đoán đòn tiến công chiến lược chủ yếu của ta trong mùa xuân 1972 sẽ nhằm vào Tây Nguyên. Cuối tháng 2 năm 1972, sau khi thấy Sư đoàn bộ binh 320 của ta xuất hiện ở Tây Nguyên thì chúng càng tin chắc rằng phán đoán đó là đúng. Chúng vội điều lên Tây Nguyên sư đoàn dù thiếu gồm 2 lữ đoàn và liên đoàn biệt động quân số 6. Như vậy, ở chiến trường Tây Nguyên lúc này địch có 32 tiểu đoàn bộ binh chủ lực, 10 chi đoàn thiết giáp, 10 tiểu đoàn pháo binh, cùng mấy chục tiểu đoàn biệt động, biên phòng, bảo an... Lực lượng này lại tập trung chủ yếu vào khu vực từ thị xã Plây Cu đến Kon Tum và thị trấn Tân Cảnh.


Về phía ta, lực lượng chủ lực của ta có 1 sư đoàn bộ binh (Sư đoàn 320), 1 sư đoàn bộ binh thiếu (Sư đoàn 2), 4 trung đoàn bộ binh độc lập, 1 trung đoàn đặc công thiếu, 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn pháo cao xạ, 1 trung đoàn xe tăng thiếu, 2 trung đoàn công binh... Như thế, về quân chủ lực, ta có 29 tiểu đoàn, ít hơn địch một chút, về quân địa phương, địch đông hơn ta nhiều. Địch cũng có lực lượng: nhiều hơn ta về pháo binh, xe tăng và có ưu thế tuyệt đối về máy bay.


Thế bố trí của địch như sau:

Ở thị trấn Tân Cảnh, địch bố trí sư đoàn 22 (thiếu) gồm trung đoàn 42, trung đoàn 47, 1 tiểu đoàn của trung đoàn 41; ngoài ra, địch điều tới đây tiểu đoàn dù số 9 và có lực lượng tại chỗ gồm 2 tiểu đoàn bảo an. Về binh chủng kỹ thuật, có trung đoàn thiết giáp số 14 và 2 tiểu đoàn pháo binh.

Ở thị xã Kon Tum, địch bố trí sư đoàn dù (thiếu), liên đòàn biệt động quân số 2 và liên đoàn biệt động quân số 6 điều từ Sài Gòn tới, cùng với các trung đoàn, tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật.

Ở thị xã Plây Cu, địch bố trí sư đoàn 23 cùng các đơn vị binh chủng kỹ thuật và không quân.

Theo cách bố trí của địch, ta phán đoán hướng phòng ngự chủ yếu của địch là đoạn từ thị xã Kon Tum đến thị trấn Tân Cảnh. Địch cho rằng ta chưa có đủ điều kiện để đánh Plây Cu mà nhiều lắm cũng chỉ có khả năng đánh Kon Tum hoặc Tân Cảnh. Vì vậy chúng đã tập trung xây dựng hai khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh và thị xã Kon Tum thành những trung tâm phòng ngự mạnh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #252 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 08:25:38 am »

Trong tác chiến, đánh cứ điểm, đột phá trận địa phòng ngự của địch mới chỉ là hành động chiến đấu thứ nhất. Còn phải có hành động chiến đấu thứ hai là đánh quân địch đi phản kích, ứng cứu. Sau khi đột phá thành công trận địa của địch rồi, nếu không đánh bại được quân địch đi phản kích, ứng cứu thì trận đánh sẽ giằng co, nhập nhằng, không giữ vững được thắng lợi. Vì vậy trong điều kiện địch có số lượng quân đông và vũ khí nhiều hơn ta thì phải tìm cách phân tán, chia cắt địch hoặc tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận địch ở vòng ngoài, trên một hướng khác, trước khi ta đột phá trận địa phòng ngự của địch ở hướng tiến công chủ yếu. Có như vậy mới tước bỏ hoặc làm suy yếu khả năng phản kích, ứng cứu của chúng.


Theo phương hướng đó, cần bày ra mưu kế và xây dựng thế trận thích hợp để có thể thực hiện được nhiệm vụ chiến dịch với thắng lợi lớn nhất và tổn thất ít nhất.

Mưu kế của ta là: trước khi đánh trận then chốt ở Tân Cảnh thì phải đánh lạc hướng địch, làm cho chúng tưởng lầm rằng ta sẽ đánh Kon Tum, đồng thời phải tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận lực lượng dự bị của địch để hạn chế khả năng phản kích, ứng cứu của chúng khi ta đánh Tân Cảnh. Ta đã nắm vững quy luật hành động của địch là mỗi khi một tập đoàn, một trận địa nào của chúng bị tiến công thì lập tức chúng phái ngay lực lượng dự bị đến phản kích, ứng cứu, ngăn chặn. Quy luật này diễn ra khá phổ biến, vì địch còn có quân đông, có phương tiện cơ động nhiều và hiện đại, có mạng đường bộ tốt và có hệ thống vận chuyển đường không hoàn hảo, đặc biệt là có nhiều máy bay lên thẳng.


Theo mưu kế đó, kế hoạch của ta là: phân tán, chia cắt quân địch giữa Plây Cu với Kon Tum, kìm địch ở Plây Cu, hãm địch ở Kon Tum; nhử địch ra ngoài Kon Tum để tiêu hao, tiêu diệt, làm cho Tân Cảnh bị sơ hở, tạo ra yếu tố bất ngờ để đánh Tân Cảnh được thuận lợi. Cách đánh của ta là: chia địch ra mà đánh, trói địch lại mà diệt.


Để thực hiện mưu kế trên, ta bày thế trận như sau:

Sử dụng bộ đội địa phương và du kích tỉnh Gia Lai đánh giao thông trên đường số 19 từ thị trấn An Khê đến thị xã Plây Cu, phá đường tiếp tế hậu cần của địch từ hậu phương chiến lược của chúng ở đồng bằng lên Tây Nguyên. Đó là thê đánh vào tuyến vận tải chiến lược của địch.


Sử dụng bộ đội đặc công, tiểu đoàn mũi nhọn và tiểu đoàn pháo binh chuyên trách đánh sàn bay, kho tàng và các cơ sở quân sự của địch ở trong và ven thị xã Plây Cu. Đó là thế đánh vào cơ sở vật chất hạ tầng và cơ quan đầu não của địch ở đô thị.


Thế chia cắt quân địch giữa Plây Cu và Kon Tum và kìm chân sư đoàn 23 của địch ở Plây Cu được tạo ra bằng các hoạt động của trung đoàn 95, trung đoàn 24, cùng với bộ đội địa phương huyện và du kích trên đường số 14 ở khu vực đó.


Sư đoàn 320, trung đoàn pháo binh, tiểu đoàn pháo cao xạ và tiểu đoàn pháo binh chuyên trách cùng với đơn vị đặc công tỉnh Kon Tum chịu trách nhiệm tạo ra thế hãm địch ở thị xã Kon Tum và nhử địch ra ngoài ven thị xã để tiêu hao, tiêu diệt. Còn việc tạo thế chia cắt địch giữa Kon Tum với Tân Cảnh thì do trung đoàn 28 và bộ đội địa phương huyện cùng du kích trên đường số 14 ở khu vực đó đảm nhiệm.


Trên cơ sở các thế phân tán, chia cắt, kìm chân và tiêu hao tiêu diệt địch đã được tạo ra như trên, thế đánh Tân Cảnh, quận lỵ Đắc Tô sẽ do Sư đoàn 2 (thiếu), trung đoàn 66, trung đoàn đặc công (thiếu), các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện và du kích trong khu vực cùng với các đơn vị binh chủng pháo binh, pháo cao xạ, xe tăng... đảm nhiệm thực hiện.


Nhờ có thế trận chiến tranh nhân dân phát triển cao nên ta mái có thể bày được một thế trận sâu hiểm, xen kẽ cài chặt vào địch như vậy. Cũng chỉ với thế trận như vậy ta mới có thể thực hiện một cách thuận lợi việc bố trí các lực lượng như trên.


Để thực hiện quyết tâm chiến dịch theo mưu kế đã định, ta cho đánh địch trên đứờng giao thông trước. Đây là cách đánh mà ta dễ giành quyền chủ động và đạt hiệu suât chiến đấu cao. Vào khoảng giữa tháng 3 năm 1972, bộ đội địa phương và du kích tỉnh Gia Lai bắt đầu đánh địch trên đường số 19, tiêu diệt sinh lực và phá hủy phương tiện của địch, thu hút sự đối phó của chúng. Ngày 26 tháng 3, trung đoàn 95 đánh địch trên đường số 14 từ Plây Cu đi Kon Tum và cắt đường ở quãng giữa hai thị xã này, thu hút, kìm chân, tiêu hao và tiêu diệt một bộ phận sư đoàn 23 của địch ở khu vực đó. Ngày 30 tháng 3, Sư đoàn 320 đánh thiệt hại nặng tiểu đoàn dù số 2 và tiêu diệt tiểu đoàn dù số 11 ở các điểm cao 1049 và 1015 trên dãy núi phía tây sông Pô Cô, tây - bắc thị xã Kon Tum. Trung đoàn 28 đánh cắt đường giao thông số 14, chia cắt Kon Tum với Tân Cảnh ở đoạn Võ Định.


Tại sao ta lại nhử được quân dù của địch ra tây - bắc thị xã Kon Tum để đánh chúng? Đây là mưu hay nhất trong trận này.

Muốn tiêu hao, tiêu diệt quân dù - lực lượng cơ động "tinh nhuệ" của địch trên chiến trường này - làm cho nó sứt mẻ, mệt mỏi không còn đủ khả năng làm "đội cứu hỏa" của quản ngụy trên chiến trường thì ta phải nhử nó ra ngoài công sự, ra nơi địa hình hiểm trở để tiêu diệt nó một cách dễ dàng hơn. Khu vực địa hình mà ta đã lựa chọn là dãy núi ở phía tây sông Pô Cô. Ở đó do không có đường cơ giới nên quân dù chỉ có thể chiến đấu bằng bộ binh với sự chi viện của máy bay lên thẳng vũ trang, mà không có xe tăng đi cùng.


Để nhử quân dù ra đây một cách chắc chắn, ta phái dùng kế làm hai con đường vận chuyển cơ giới vượt qua dãy núi nói trên, chọc ra bờ sông Pô Cô rồi nối với đường số 14 ở phía bắc thị xã Kon Tum khoảng 20 - 25km. Hai con đường này rõ ràng là những cái gai đâm vào mắt kẻ địch mà chúng không thể bỏ qua được. Xe ô tô vận tải, xe kéo pháo và cả xe tăng của đối phương sẽ theo những con đường đó chạy vào phía bắc thị xã Kon Tum? Kẻ địch nào ngồi trong thị xã mà chẳng hoảng hồn! Con đường xe cơ giới xuất hiện ở nơi đó và vào thời điểm đó là một đòn lừa địch rất trúng. Chúng càng tin chắc mười mươi là đối phương sẽ đánh Kon Tum chứ không phải Tân Cảnh.


Đòn đánh lừa này đã đạt tới hai tác dụng: thứ nhất, buộc địch phải tập trung đối phó ở Kon Tum; thứ hai, điều lữ đoàn dù số 3 ra ngăn chặn phía tây - bắc thị xã Kon Tum để ta tiêu hao, tiêu diệt chúng.

Sở dĩ địch phải cho quân dù ra ngăn chặn ta ở khu vực này là do chúng phán đoán rằng hướng này giáp với vùng giải phóng của ta, ta có lực lượng lớn mạnh, nên phải dùng lực lượng mạnh như quân dù mới đối phó được; nếu sử dụng biệt động quân thì e không đủ sức. Hơn nữa ở thị xã Kon Tum lúc này lực lượng quân dù là đông nhất. Ngoài ra, địch buộc phải sử dụng quân dù cũng còn do với địa hình ở khu vực đó, chỉ có thể dùng máy bay lên thẳng để cơ động và chi viện hỏa lực trực tiếp. Quân dù thường được ưu tiên cơ động và chi viện bằng máy bay lên thẳng, chúng cũng có trình độ thành thạo hơn các đơn vị khác về tác chiến với máy bay lên thẳng và máy bay lên thẳng vũ trang.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #253 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 08:26:24 am »

Đó là những lý do khiến địch tung quân dù ra tuyến điểm cao 1049, 1015 để rồi phải chịu đòn. Mưu kế nhủ địch của ta đã thành công. Địch đã phạm sai lầm: tung con "chủ bài" ra quá sớm khi đối phương mối đi nước thứ nhất có tính chất thăm dò. Nhưng vì sao chúng vội vã phản ứng như vậy?


Một là, vì ta đánh vào chỗ địch tất phải cứu. Ở hướng khác ta cũng làm đường xe cơ giới, và làm để sử dụng thật, nhưng đó là các hướng không xung yếu nên địch không ra ngăn chặn hoặc có ra thì cũng không hành động quyết liệt.

Hai là, địch còn tương đối chủ quan. Trong phòng ngự với nguyên tắc chiến thuật "phản kích, ngăn chặn từ xa", địch luôn luôn tìm cách ngăn chặn quân ta tiến công ở ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng. Năm 1972, tuy còn được sự chi viện về không quân của Mỹ, kể cả máy bay B.52, nhưng quân ngụy không còn khả năng đánh sâu vào vùng giải phóng của ta, cũng không có khả năng ra ngăn chặn, phản kích ở cự ly quá xa ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng. Tuy nhiên nếu có sự uy hiếp ở gần tuyến phòng ngự thì chúng chắc chắn sẽ có phản ứng.


Người cầm quân cũng là một yếu tố cần tính đến. Tướng Ngô Du, tư lệnh quân khu 2 ngụy, như ta đã nắm được là một người cầm quân tương đối non tay và rụt rè. Trong các cuộc hành quân đánh sâu vào vùng giải phóng của ta những năm 1970-1971, khi một vài đại đội bị tiêu diệt là mấy tiểu đoàn đều dừng lại hoặc lùi về tuyến sau. Nếu một vài tiểu đoàn bị tiêu diệt thì cuộc hành quân có thể kết thúc trong that bại. Năm 1972, Ngô Du khó mà dám tung quân ra xa ngoài trận tuyến, dù có sự thúc ép của trưởng đoàn cố vấn Mỹ Giôn Pôn-van.


Do đó, bẫy nhử địch của ta không thể đạt ỏ quá xa, mà phải sát gần tuyến phòng ngự cơ bản của địch, ở nơi hiểm yếu nhất đối với địch.

Kế thứ nhất của ta đã thành công: đánh chiếm đường giao thông, chia cắt quân địch giữa Plây Cu với Kon Tum. Sư đoàn 23 và các trung đoàn thiết giáp của địch không thể giải tỏa được đường số 14 từ Plây Cu đi Kon Tum.


Kế thứ hai của ta là kế khó nhất cũng thành công: vây hãm thị xã Kon Tum, nhử quân dù - lực lượng cơ động chiến lược làm nhiệm vụ dự bị chiến dịch của địch - ra ngoài thị xã Kon Tum để tiêu hao, tiêu diệt và kìm chân chúng tại chỗ. Quân dù rơi đúng bẫy của ta, một tiểu đoàn bị tiêu diệt, hai tiểu đoàn bị thiệt hại nặng, phải rút chạy về phòng giữ thị xã Kon Tum. Sau khi tuyên ngăn chặn vòng ngoài của địch bị phá vỡ, Sư đoàn 320 cho một trung đoàn vượt sông Pô Cô tiến ra đường số 14, phối hợp với trung đoàn 28 cắt đường, cô lập hoàn toàn hai cụm quân địch ở thị xã Kon Tum và thị trấn Tân Cảnh.


Hai kế trên thành công đã tạo điều kiện thuận lợi cho ta thực hiện kế thứ ba: đánh Đắc Tô - Tân Cảnh. Trong khi thế trận nổi diễn ra sôi động ở các hướng đường số 19, thị xã Plây Cu, đường số 14, tây - bắc thị xã Kon Tum, thì thế trận chìm ở hướng chủ yếu Đắc Tô - Tân Cảnh được triển khai một cách thuận lợi. Một bộ phận nhỏ của Sư đoàn 2 hoạt động để yểm hộ cho chủ lực của sư đoàn và cho trung đoàn 66 tiến hành công tác chuẩn bị. Sư đoàn 2 và trung đoàn 66 "ngả cờ, im trống", lặng lẽ chuẩn bị cho trận tiến công tiêu diệt căn cứ 42 - mục tiêu chủ yếu trong cụm phòng ngự Đắc Tô - Tân Cảnh. Căn cứ này có trung đoàn 42 thuộc sư đoàn 22, sở chỉ huy tiền phương sư đoàn 22, trận địa pháo và có một trung đoàn thiết giáp bảo vệ ở vòng ngoài.


Mặc dù mắc phải mưu kế của ta nhưng địch cũng không hoàn toàn bị thu hút vào khu vực thị xã Kon Tum. Ngô Du và Giôn Pôn-van còn giữ được chút ít tỉnh táo, vẫn để mắt tới Đắc Tô - Tân Cảnh. Dưới sự thúc ép của Giôn Pôn-van, Ngô Du phải điều tiểu đoàn dù số 9 ở Kon Tum lên Tân Cảnh, đưa Lê Đức Đạt, đại tá sư đoàn trưởng sư đoàn 22, lên trực tiếp chỉ huy ở sở chỉ huy tiền phương và tăng cường thêm cả tên đại tá Tôn Thất Hùng làm phái viên đốc chiến. Như vậy địch cũng đã đánh hơi thấy có một cái gì đó ở khu vực Đắc Tô - Tân Cảnh. Nhưng chúng vẫn không xác định được rõ ràng ý định của đối phương và cũng không còn khả năng làm gì hơn ở khu vực này.


Sau khi phân tán, tiêu hao, kìm chân địch ở hướng Plây Cu và trên đường số 19, đường số 14, hãm địch ở Kon Tum, thời cơ đã mở ra cho ta bắt đầu cuộc tiến công đánh chiếm căn cứ Tân Cảnh và quận lỵ Đắc Tô. Ở đây ta cũng hết sức vận dụng yếu tố bất ngờ: đánh vào chỗ địch không đề phòng hoặc ít để phòng, nhưng lại là chỗ hiểm yếu của chúng mà nếu đánh vào đó thì thế trận của địch dễ tan vỡ nhanh chóng. Chỗ hiểm yếu đó là sở chỉ huy tiền phương của sư đoàn 22 và trận địa pháo ở trong căn cứ 42.


Nhưng muốn đánh được vào đó, ta phải tránh trận địa phòng ngự của địch ở phía tây đường số 14 và sông Pô Cô, và phải đặt trận địa xuất phát tiến công ở đông và đông - bắc đường số 14, tức là phía sau lưng tuyến phòng ngự của địch. Đưa một sư đoàn bộ binh sang phía đông và đông - bắc đường số 14 tuy có khó khăn nhưng không phải không khắc phục được, vì ta có lực lượng và cơ sở chính trị vững ở khu vực này. Điều khó nhất là làm sao đưa được xe tăng, pháo binh và pháo cao xạ tự hành đến trận địa xuất phát tiến công. Cách giải quyết duy nhất là phải làm một con đường cho xe tăng và cơ giới. Từ đó nảy ra cái khó thứ hai là làm sao giữ được bí mật về con đường cơ giới đó. Ta đã cố gắng hết sức ngụy trang và giữ bí mật hành động của bộ đội trên con đường này, nhưng giấu kín một con đường vận chuyển cơ giới là điều khó có thể làm được triệt để. Với phương tiện và khí tài trinh sát hiện đại của Mỹ, địch cũng phát hiện được con đường của ta khi ẩn khi hiện trên các sườn đồi và thung lũng ở phía tây - bắc Tân Cảnh. Lê Đức Đạt liền tung các tiểu đoàn của trung đoàn 47 và một số tiểu đoàn bảo an ra thăm dò. Tuy Lê Đức Đạt đặc biệt chú ý đến con đường đó vì nó uy hiếp trực tiếp cụm phòng ngự do y chỉ huy, nhưng Ngô Du thì chỉ liếc mắt qua vì thị xã Kon Turn đã hút hết tâm trí của hắn rồi. Do đó với nghệ thuật ngụy trang khéo léo, Sư đoàn 2, trung đoàn 66 và các đơn vị xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ, công binh, vặn tải... của ta đã bí mật an toàn tiến sang phía đông dưòng số 14, áp sát căn cứ Tân Cảnh ở phía đông và phía bắc.


Thế trận đánh vào cụm phòng ngự của địch ở bắc Kon Tum (Đắc Tô - Tân Cảnh) thế là đã bày xong. Thời cơ giành thắng lợi đã đến. Sáng sớm ngày 24 tháng 4 năm 1972, bộ binh và xe tăng của ta, dưới sự chi viện của hỏa lực pháo binh và sự yểm hộ của pháo cao xạ, dũng mãnh tiến công vào trận địa địch. Có sự hiệp đồng chặt chẽ giữa các thứ quân, các binh chủng, với tinh thần chiến đấu dũng cảm ngoan cường và kỹ năng chiến đấu tốt của cán bộ và chiến sĩ, chỉ sau hơn 10 tiếng đồng hồ quân ta đã chiếm lĩnh hoàn toàn căn cứ Tân Cảnh và sau đó vài giờ, bộ đội địa phương tỉnh Kon Tum cũng làm chủ quận lỵ Đắc Tô. Lê Đức Đạt, đại tá sư đoàn trưởng sư đoàn 22, cùng với tên đại tá cố vấn Mỹ bị bắn chết. Vi Văn Bình, đại tá sư đoàn phó cùng toàn bộ cơ quan tham mưu sư đoàn 22 và hàng trăm binh lính, sĩ quan địch bị bắt sống. Tôn Thất Hùng, đại tá phái viên "đốc chiến" của quân đoàn 2, vội bám theo máy bay lên thẳng của cố vấn Mỹ chuồn về Plây Cu. Số sĩ quan, binh lính còn lại định tháo chạy về Kon Tum thì phần lớn đều bị các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân của ta đón lõng và bắt sống.


Sau thất bại này, Ngô Du bị cách chức, Nguyễn Văn Toàn lên thay, cố vấn trưởng Giôn Pôn-van bị thiêu cháy trong chiếc máy bay lên thẳng bị quân ta bắn rơi.

Lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, quân ta tiến công vào một cụm phòng ngự cỡ sư đoàn nầm ngay trên tuyến phòng ngự cơ bản của địch, tiêu diệt một lực lượng địch tương đương với một sư đoàn tăng cường, giải phóng một địa bàn rộng lớn chiếm một nửa đất đai tỉnh Kon Tum.


Ta giành được thắng lợi nhanh, gọn trong trận Đắc Tô - Tân Cảnh là do đã đặt ra và thực hiện tốt các mưu kế nhằm chia cắt, phân tán, giam chân, tiêu diệt từng bộ phận địch trước khi đánh trận quyết định đột phá trận địa phòng ngự của địch trên hướng chủ yếu. Ta đã cắt đường số 14 từ thị xã Kon Tum lên thị trấn Tân Cảnh, khiến địch không thể tiếp viện, ứng cứu cho Tân Cảnh bằng đường bộ. Việc ứng cứu bằng máy bay lên thẳng cũng không thực hiện được vì quân ta đã xiết chặt vòng vây. Hơn nữa, Ngô Du không còn lực lượng dự bị, vì quân dù ngay từ đầu đã bị nhử ra ngoài và bị đánh cho tơi tả phải lùi về cùng quân biệt động giữ thị xã Kon Tum. Nguyễn Văn Thiệu cũng không còn lực lượng dự bị chiến lược. Hắn có 2 sư đoàn tổng dự bị thì sư đoàn dù đã bị nhừ đòn ở Tây Nguyên, còn sư đoàn lính thủy đánh bộ thì cũng đang lao đao ở Trị - Thiên - Huế. Do đó, Tân Cảnh ở trong tình thế hoàn toàn bị vây hãm, bị cô lập, bị trói lại đánh mà không có ai đến cứu, cuối cùng bị tiêu diêt hoàn toàn.


Mưu hay để đánh Tân Cảnh chính là ở chỗ đó.

Sau khi giải phóng Đắc Tô - Tân Cảnh, ta tập trung phần lớn lực lượng tiến xuống vây hãm và tiến công thị xã Kon Tum. Bộ đội ta đã chiếm được một số vị trí của địch trong thị xã. Nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan - trong đó nguyên nhân chủ quan của chỉ huy chiến dịch là chủ yếu - nên cuộc tiến công vào thị xã không thành công.


Đến lúc này, Mỹ - Thiệu mới thoát khỏi sự bất ngờ về chiến lược, mới phát hiện ra hướng tiến công chiến lược chủ yếu của ta là ở Quảng Trị và một hướng xung yếu khác ở Lộc Ninh - An Lộc, cửa ngõ của Sài Gòn. Ở Quảng Trị, địch bị đánh tan tác, tuyến phòng ngự mạnh nhất của chúng bị đập vỡ một mảng lớn. Còn ở Lộc Ninh - An Lộc, phòng tuyến của địch bị chọc thủng, chúng bị thất bại nặng nề. Trước tình hình nguy ngập ở hai hướng nóng bỏng trên, Thiệu phải điều sư đoàn dù thiếu ở Kon Tum về ứng cứu cho các hướng đó. Việc phòng giữ thị xã Kon Tum được giao cho sư đoàn 23 của quân khu 2 địch đảm nhiệm. Lực lượng địch ở thị xã Kon Tum lúc này không còn mạnh như trước. Chúng lại bị phân tán ra các chiến trường trọng yếu khác. Ta không đánh được thị xã Kon Tum là do trình độ tổ chức và nghệ thuật chỉ huy chiến dịch của người tư lệnh và cơ quan chỉ huy chiến dịch còn có mặt non kém. Về phía địch, chúng cũng còn một vài điểm mạnh mà ta chưa hạn chế được: đó là sự tăng viện và tiếp tế bằng đường không của máy bay lên thẳng; là trận địa phòng ngự dày đặc của địch trong thị xã mà ta chưa đột phá sâu và chia cắt được.


Ngày 5 tháng 6 năm 1972, chiến dịch xuân - hè 1972 ở mặt trận Kon Tum kết thúc. Tuy chiến dịch chưa giành được thắng lợi trọn vẹn nhưng từ thực tiễn chiến dịch, chúng ta cũng rút ra được nhiều bài học thành công cũng như chưa thành công, trong đó có bài học khá sâu sắc về bày mưu lập thế trong trận tiêu diệt cụm phòng ngự Đắc Tô - Tản Cảnh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #254 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 08:27:31 am »

VIII. MẤY BÀI HỌC CỦA CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN XUÂN 1975 ĐẠI THẮNG
(Bài viết nhân dịp kỳ niệm lần thứ nhất thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tháng 5 năm 1976)   


Mùa Xuân năm 1975, lịch sử dân tộc Việt Nam lại ghi thêm một chiến công vĩ đại. Chỉ trong thời gian chưa đầy hai tháng, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với quy mô chưa từng có, tiêu diệt hoàn toàn đội quân ngụy đông trên một triệu tên, được Mỹ trang bị, huấn luyện và chỉ huy, xóa bỏ toàn bộ chính quyền tay sai bán nước, quét sạch cơ đồ chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam nước ta, giải phóng miền Nam thân yêu, giành lại độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc.


Trong trận quyết chiến chiến lược thần tốc và thắng lợi vẻ vang ấy, quân và dân ta đã liên tiếp đánh ba trận tiêu diệt lớn ở Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn.

Chiến dịch Tây Nguyên là trận đánh lớn mở đầu đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng ngự chiến lược của địch, tạo điều kiện cho các trận tiếp sau đánh tiêu diệt lớn hơn. Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên có tầm quan trọng về chiến lược, mở ra cục diện chiến lược thuận lợi trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.


Qua chiến thắng Tây Nguyên, ta càng thấy rõ hơn sự suy yếu trầm trọng của địch về mọi mặt, thấy rõ sự sụp đổ của chúng trong một thời gian ngắn là không thể tránh khỏi.

Chiến thắng Tây Nguyên đã cổ vũ, động viên mạnh mẽ tinh thần và khí thế của quân và dân ta ở cả tiền tuyến lẫn hậu phương, nâng cao quyết tâm chiến đấu và lòng tin của toàn quân, toàn dân ta vào thắng lợi cuối cùng.


Chiến thắng Tây Nguyên cũng đem lại cho chúng ta nhiều kinh nghiệm quý về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật quân sự. Về nghệ thuật chiến dịch, bước đầu có thể nêu ra mấy bài học chính sau đây:

- Tạo lực mạnh, dùng lực đúng.

- Chọn cách đánh hay, bày mưu kế giỏi.

- Xây vững thế trận ta, phá tan thế trận địch.

- Tạo thời cơ tốt, chớp thời cơ nhanh.

Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở màn cho toàn bộ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Kết quả của chiến dịch, nhất là kết quả của trận mở màn chiến dịch và trận then chốt đập tan cuộc phản kích của địch ở phía đông Buôn Ma Thuột, có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và kết quả của toàn bộ cuộc tổng tiến công.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, Đảng ta đã phân tích tình hình, đánh giá so sánh lực lượng giữa địch và ta hết sức đúng đắn, đã chọn thời cơ và hạ quyết tâm rất chính xác, về chỉ đạo chiến lược, đã chọn đúng hướng tiến công đầu tiên là Tây Nguyên, đã tạo ra tình huống tốt và thời cơ rất thuận lợi cho quân và dân ta trên hướng Tâv Nguyên tiêu diệt gọn một bộ phận quan trọng quân chủ lực địch. Ta đã bố trí lực lượng, tổ chức thế trận chiến lược và thực hành tiến công chiến lược, phối hợp chiến trường rất đẹp trên toàn miền Nam để tạo tình huống thuận lợi cho hướng Tây Nguyên. Trong những điều kiện hết sức thuận lợi đó, bản thân chiến trường Tây Nguyên đã giải quyết thành công nhiều vấn đề trong phạm vi chiến dịch, như sử dụng lực lượng, chọn cách đánh chiến dịch, lập thế trận, tạo thời cơ, v.v...


1. Tạo lực mạnh, dùng lực đúng

Với tư tưởng chỉ đạo tác chiến đánh chắc thắng và đánh thắng trận đầu, ta đã nghiên cứu kỹ việc sử dụng lực lượng trong chiến dịch. Muốn chắc thắng và thắng nhanh, thắng gọn, phải có ưu thế về sức mạnh tổng hợp; trong sức mạnh tổng hợp thì lực lượng là cơ sở vật chất, là điều kiện cơ bản đầu tiên.


Trên chiến trường Tây Nguyên, quân địch có lực lượng tương đối mạnh, trước hết là quân chủ lực với các binh chủng kỹ thuật hiện đại của chúng. Ngoài ra địch còn có lực lượng quân địa phương khá đông. Lực lượng của địch tập trung phần lớn ở bắc Tây Nguyên, xung quanh thị xã Plây Cu và thị xã Kon Tum. Lực lượng địch ở nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột thì yếu hơn.


Tây Nguyên là một địa bàn rừng núi có nhiều đặc điểm về mặt địa hình mà ta có thể tận dụng để tạo thế lợi.

Căn cứ vào lực lượng địch ở Tây Nguyên (chủ yếu là lực lượng chủ lực) và hình thái bố trí của chúng, ta đã xác định việc sử dụng lực lượng một cách thích hợp để thực hiện quyết tâm chiến dịch trong quyết tâm chiến lược chung.


Trên cơ sở phân tích về địch, địa hình như trên, để giành thắng lợi cho chiến dịch ta cần có ưu thế nhất định về lực lượng so với địch trong phạm vi chiến dịch, nhưng chỉ cần hơn địch một ít về bộ binh (quân chủ lực) là ta đã có ưu thế lớn hơn địch. Vì ta còn có ưu thế về các mặt khác như tinh thần chiến đấu, nghệ thuật quân sự, khả năng lợi dụng địa hình, v.v...


Về sử dụng lực lượng, ta phải tính toán kỹ trên nhiều khía cạnh. Trong toàn chiến dịch, ta có ưu thế hơn địch một ít, nhưng ở hướng chủ yếu, ở khu vực tiến công chủ yếu là Buôn Ma Thuột, ta phải có ưu thế tuyệt đối so với địch1 (So sánh lực lượng giữa ta và địch ở khu vực chủ yếu của chiến dịch là: về bộ binh, ta 5,5 - địch 1; về xe tăng, thiết giáp, ta 1,2 - địch 1: về pháo lớn, ta 2,1 - địch 1). Tính toán về ưu thế, ta còn phải xem xét cả giai đoạn đầu và giai đoạn tiếp sau của chiến dịch. Trong trận mở màn chiến dịch, ta có ưu thế hơn địch, nhưng trong quá trình chiến dịch nếu địch cơ động lực lượng dự bị tới thì ta có còn giữ được ưu thế nữa không? Câu trả lời là: nếu trình độ chiến đấu của bộ đội ta cao, nghệ thuật chiến dịch của ta giỏi, thì ta vẫn có thể giữ vững được ưu thế. Vấn đề này cũng còn liên quan đến các hướng phối hợp, đến sự phối hợp chiến trường do sự chỉ đạo chiến lược. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, trên thực tế vấn đề này đã được giải quyết. Nhờ sự chỉ đạo chiến lược tài tình, sự phối hợp chiến trường nhịp nhàng, nên chiến trường Tây Nguyên đă giữ vững ưu thế từ đầu đến cuối chiến dịch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #255 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 08:28:14 am »

Sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuột, ngày 12 tháng 3 năm 1975, địch điều một liên đoàn biệt động quân - liên đoàn 7 ở Nam Bộ - tăng cường cho quân đoàn 2, đổ bộ xuống Plây Cu. Liên đoàn này "đi mây" nhưng lại "về đất" và cũng phải chịu chung số phận hẩm hiu với các đơn vị khác của quân đoàn 2 ngụy trong cuộc tháo chạy trên đường số 7. Sau khi ta tiêu diệt và đánh tan cuộc phản kích của sư đoàn 23 ngụy ờ vùng Phước An trên đường số 21, địch điều trung đoàn 40 (thiếu) và lữ đoàn dù 3 đến Khánh Dương chốt chặn ở đèo Phượng Hoàng, nhưng cũng không làm thay đổi được so sánh lực lượng có lợi cho chúng. Cuối cùng hai đơn vị này cũng bị tiêu diệt và đánh tan một cách nhanh chóng.


Tập trung lực lượng như thế nào cho đúng để tạo ưu thế cần thiết trên hướng chủ yếu là một vấn đề khó khăn, phúc tạp trong chỉ huy, đòi hỏi phải vừa có quyết tâm cao, vừa có nghệ thuật giỏi. Ta tập trung lực lượng vào Tây Nguyên như vậy là hoàn toàn chính xác. Với lực lượng đó, ta có khả năng chắc chắn để hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt địch trên chiến trường này, đồng thời vẫn không làm yếu sức tiến công ở các hướng quan trọng khác. Có hướng quan trọng sau này đã nhanh chóng trở thành hướng chủ yếu; sự chuyển hóa hướng tiến công được thực hiện mau lẹ và linh hoạt như vậy là do ta đã bố trí sẵn trên các hướng lực lượng đủ mạnh để tự mình có thể tạo ra thời cơ trực tiếp đánh đòn quyết định, giành lấy thắng lợi có ý nghĩa quan trọng về chiến dịch hoặc về chiến lược.


Trong việc sử dụng lực lượng, chúng ta tránh khuynh hướng máy móc, thiển cận, chỉ nhìn một hướng, tách rời hướng này với các hướng khác, trong điều kiện khả năng cơ động của ta có hạn; đồng thời cũng chống lối dàn đều, phân tán, không tạo thành quả đấm mạnh, mũi tiến công sắc nhọn để có đủ sức đánh tiêu diệt lớn quân địch, làm chuyển biến cục diện trên chiến trường.


Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, ta đã sử dụng lực lượng rất chính xác. Trên hướng Tây Nguyên, trong chiến dịch mở đầu, ta đã tập trung lực lượng đúng mức, hợp lý, bảo đảm được ưu thế nên đã giành được thắng lợi to lớn và nhanh chóng, ở các hướng quan trọng khác có khả năng sau đó trở thành hướng chủ yếu, lực lượng của ta cũng đủ mạnh để đón thời cơ chung và tạo ra thời cơ trực tiếp, đánh những đòn quyết định, giành thắng lợi to lớn và nhanh gọn.


Ta cùng một lúc đánh mạnh trên các hướng chiến lược khác, nên địch không tập trung đối phó ở Tây Nguyên được. Lực lượng tổng dự bị của chúng bị căng kéo, phân tán, bị tiêu hao, tiêu diệt khiến bọn đầu sỏ ngụy quyền, ngụy quân rất bối rối và do dự trong việc sử dụng lực lượng dự bị. Do đó quân ta ở hướng Tây Nguyên được rảnh tay, chỉ huy rất chủ động, có điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi rất nhanh.


Sử dụng lực lượng nhiều hay ít, không phải chỉ đơn thuần dựa vào sự so sánh về số quân giữa địch và ta. Trong chiến tranh có trường hợp bên đông quân hơn vẫn không giành được thắng lợi; trái lại bên ít quân hơn lại chiến thắng vẻ vang.


Sử dụng lực lượng trước hết phải căn cứ vào nhiệm vụ đã đề ra, vào đối tượng tác chiến cụ thể, đồng thời phải căn cứ vào số lượng, chất lượng bộ đội, cơ sở vật chất - kỹ thuật, vào trình độ chỉ huy, nghệ thuật quân sự của ta và vào địa hình. Trên chiến trường Tây Nguyên, ta có đủ điều kiện phát huy các yếu tố nói trên để tạo thành ưu thế sức mạnh tổng hợp.


Về số lượng bộ đội và trang bị, vũ khí, ta đã chuẩn bị tương đối đầy đủ để có thể hoàn thành được nhiệm vụ chiến dịch.

Về tinh thần, ý chí chiến đấu, ta có ưu thế tuyệt đối hơn địch. Điều này không những quân ngụy không dám xuyên tạc mà cả đế quốc Mỹ cũng phải thừa nhận. Với sức mạnh vô cùng to lớn đó, quân ta với lực lượng ít có thể đánh thắng quân địch có lực lượng nhiều hơn ta.


Về nghệ thuật quân sự, cán bộ và chiến sĩ ta đã được rèn luyện trong mấy chục năm đánh Pháp và đánh Mỹ, nên dày dạn kinh nghiệm, có trình độ ngày càng được nâng cao. Với nghệ thuật quân sự sắc sảo, ta có thể làm cho quân địch nhiều mà hóa ít, muốn tập trung mà phải phân tán, muốn đi mà phải đứng, muốn đánh mà phải chạy, muốn chạy mà không thoát.


Về địa hình, ta có thể lợi dụng thế hiểm của núi rừng để phục vụ tốt yêu cầu tác chiến của ta, hạn chế khả năng phát huy hỏa lực của địch. Một trung đoàn của ta đứng chặn trên đường thì hai, ba trung đoàn của địch cũng không thể mở thông được. Một sư đoàn của ta áp sát xung quanh thị xã Buôn Ma Thuột mà quân địch cũng không phát hiện được.


Do biết phát huy và vận dụng kết hợp các yếu tố nói trên nên với một lực lượng vừa phải, không nhiều hơn địch bao nhiêu về bộ binh, về quân chủ lực mà ta vẫn hình thành được ưu thế lớn về sức mạnh tổng hợp, bảo đảm giành thắng lợi to lớn. Điều đó rất có lợi cho việc phân phối, bố trí lực lượng ở các hướng khác trên toàn chiến trường. Cho nên tập trung lực lượng trên hướng chủ yếu một cách hợp lý, đúng mức là một yêu cầu rất cao trong nghệ thuật sử dụng lực lượng.


Về nghệ thuật tổ chức lực lượng trong chiến dịch Tây Nguyên, cần nói đến việc xây dựng và sử dụng đội dự bị, nhất là đội dự bị chiến dịch. Trong trận Buôn Ma Thuột, đội dự bị được tổ chức ở các cấp, các mũi, các hướng. Bộ chỉ huy chiến dịch có đội dự bị gần là lực lượng nhỏ sử dụng trực tiếp cHo trận Buôn Ma Thuột. Để sẵn sàng đối phó với các tình huống lớn và phức tạp có thể xảy ra trong trận đánh mở màn hay trong quá trình chiến dịch, Bộ chỉ huy chiến dịch còn tổ chức đội dự bị chiến dịch xa với lực lượng lớn hơn, hùng mạnh hơn. Đó là Sư đoàn 10, một binh đoàn thiện chiến, lúc đầu được sử dụng để đánh chiếm Đức Lập (ngày 9 tháng 3) sau đó lập tức cơ động về hướng Buôn Ma Thuật. Trưa ngày 11 tháng 3 năm 1975, ta giải phóng Buôn Ma Thuột và ngày 12 tháng 3, đội dự bị gần đã tiêu diệt và đánh tan liên đoàn 21 biệt động quân ỏ hậu cứ trung đoàn 45, nên Sư đoàn 10 không cần sử dụng vào Buôn Ma Thuột nữa. Ngày 13 tháng 3, sư đoàn này cùng với các đơn vị tác chiến ở Buôn Ma Thuột chiếm lĩnh trục đường số 21, chuẩn bị đánh địch phản kích. Nhờ cơ động rất kịp thời và sử dụng đúng lúc, nớ đã đánh ngay đợt đổ quân thứ nhất của sư đoàn 23 ngụy và liên tiếp đánh các đợt đổ quân tiếp sau ở Chư Cúc, Phước An, làm cho sư đoàn 23 ngụy chưa kịp triển khai chiến đấu thì đã bị tiêu diệt và đánh taọ.


Trong chiến dịch này, ta đã nghiên cứu kỹ và tìm nhiều biện pháp để tổ chức, xây dựng lực lượng dự bị mạnh. Để bảo đảm chắc thắng cho trận Buôn Ma Thuột, ngoài các đội dự bị đã được tổ chức như trên, Bộ chỉ huy chiến dịch còn dự kiến và có kế hoạch sử dụng một đơn vị của binh đoàn tác chiến ở khu vực Cẩm Ga, Thuần Mẫn để làm lực lượng dự bị tăng cường cho hướng Buôn Ma Thuột và hướng đường số 21 khi cần thiết.


Trong chiến dịch, đội dự bị có thể được tổ chức sẵn từ trước, cũng có thể xây dựng trong quá trình tác chiến bằng cách cơ động lực lượng ở hướng khác đến. Việc cơ động phải được thực hiện rất nhanh bằng những phương tiện cơ giới cần thiết. Tất nhiên, nếu tổ chức được đội dự bị sẵn từ trước thì bảo đảm tác chiến chủ động và thuận lợi hơn, nhưng cách tổ chức đội dự bị bằng cơ động lực lượng trong quá trình tác chiến cũng rất cần thiết và có ưu điểm lớn là tiết kiệm được binh lực.


Sử dụng đội dự bị đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời cơ là điều rất quan trọng. Không nên sử dụng vào tình huống chưa cán thiết, sử dụng phân tán, sử dụng quá sớm hoặc quá muộn.

Do biết phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, có nghệ thuật tổ chức và sừ dụng lực lượng tài giỏi nên lực lượng ta tuy có hạn nhưng vẫn đánh thắng rất lớn trên tất cả mọi chiến trường trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975. Đó là một kinh nghiệm quý, là nét độc đáo của nghệ thuật sử dụng lực lượng trong nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #256 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 08:29:05 am »

2. Chọn cách đánh hay, lập mưu kế giỏi

Cách đánh của ta thấm nhuần sâu sắc tinh thần cách mạng triệt để, tư tưởng chiến lược tiến công, tư tưởng đánh tiêu diệt. Dựa vào tinh thần và tư tưởng chỉ đạo đó cùng các điều kiện thực tế khác, cách đánh của ta về chiến lược, chiến dịch cũng như chiến đấu rất phong phú và linh hoạt.


Trong chiến dịch ta có nhiều cách đánh. Nhiệm vụ chiến dịch, đối tượng tác chiến của ta và so sánh lực lượng giữa dịch và ta trong các chiến dịch khác nhau nên cách đánh cũng không giống nhau. Trong chiến dịch tiến công, bộ đội chủ lực tác chiến hợp đồng binh chủng thường có những cách đánh cơ bản như: đột phá kết hợp với bao vây vu hồi; đột phá kết hợp với thọc sâu, lấy đột phá làm chính; thọc sâu kết hợp với đột phá, lấy thọc sâu làm chính; chia cắt, vây hãm kết hợp với đột phá; đột phá kết hợp với chia cắt, vây hãm, v.v... Việc vận dụng cách đánh phải căn cứ vào điều kiện khách quan và vào trình độ, khả năng chiến đấu của lực lượng tham gia chiến dịch, đặc biệt là phải căn cứ vào tình hình địch, tình hình ta, địa hình... với sự phân tích, đánh giá hết sức khoa học, đúng đắn.


Trên chiến trường Tây Nguyên mùa Xuân năm 1975, ta đã chọn cách đánh chiến dịch là chia cắt, vây hãm kết hợp với đột phá. Phương pháp này thường được vận dụng trong điều kiện hỏa lực ta không mạnh lắm, sức đột kích của ta không lớn lắm. Trong chiến dịch Tây Nguyên - chiến dịch mở đầu của cuộc Tổng tiến công - ta đã tập trung binh lực và hỏa lực đủ sức tiến công và cũng hình thành được sức đột kích tương đối mạnh. Với lực lượng đó, ta có đủ khả năng vận dụng cách đánh đột phá kết hợp với chia cắt, vây hãm nhưng ta đã chọn cách đánh chia cắt, vây hãm kết hợp với đột phá. Bài học thành công trong việc chọn cách đánh ở đây chính là ở chỗ không chỉ đơn thuần dựa vào so sánh lực lượng, mà còn biết cân nhắc nhiều yếu tố khác để chọn cách đánh hay nhất, nhằm phát huy được sở trường của ta, khoét sâu được những chỗ yếu của địch để đạt tới hiệu suất chiến đấu cao nhất với tổn thất của ta ít nhất. Thực tế thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã chứng minh cách đánh như đã lựa chọn là hoàn toàn chính xác.


Có cách đánh chiến dịch đúng là rất quan trọng, nhưng bản thân điều đó chưa tạo ra được thắng lợi mà còn phải thông qua sự chỉ đạo và điều hành kiên quyết, linh hoạt qua các tình huống chiến dịch. Trong chiến dịch Tây Nguyên, sự chỉ đạo đó tập trung vào khâu mấu chốt: kết hợp thật chặt chẽ chia cắt, vây hãm với đột phá. Chia cắt, vây hãm phải đạt được mấy yêu cầu chủ yếu: triệt tiếp tế của địch bằng đường bộ và cả bằng đường không; chia cắt, cô lập quân địch thành từng cụm và cụm nào cũng bị đánh hoặc bị uy hiêp; làm cho quân địch hoang mang, dao động đi đến suy sụp. Đạt được ba yêu cầu kể trên thì chia cắt, vây hãm sẽ tạo cho đột phá những điều kiện rất thuận lợi. Đột phá sẽ có cơ sở vững chắc và thực hiện rất chủ động, mặc dù lực lượng đột phá có khi không lớn lắm.


Mục đích của chia cắt, vây hãm là tạo điều kiện cho đột phá; đột phá mới là hành động cuối cùng có tính chất quyết định. Phải đột phá được trận địa của địch, tiêu diệt địch nhanh gọn thì trận đánh mới kết thúc thắng lợi hoàn toàn. Vì vậy phải có đòn đột phá thật mạnh, có lực lượng đột phá thật tinh nhuệ, thiện chiến, đủ sức đập vỡ từng mảng thế trận của địch. Kết quả đột phá sẽ tác động trở lại làm cho chia cắt, vây hãm tiếp tục phát triển, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho những đòn đột phá mới. Cũng có trường hợp, như đã diễn ra trong chiến dịch Tây Nguyên, do ta tiến hành chia cắt, vây hãm tốt, đột phá nhanh và mạnh nên chỉ cần một đòn đột phá đánh đúng chỗ, điểm đúng huyệt là toàn bộ thế trận của địch bị đổ vỡ tan tành. Sau khi cắt đứt các con đường huyết mạch số 19, số 21, số 14, khống chế các sân bay, hãm chặt các căn cứ Plây Cu, Kon Tum, ta đã giáng một đòn bất ngờ vào thị xã Buôn Ma Thuột. Kẽt quả là toàn bộ thế trận địch ở Tây Nguyên bị tan vỡ. Đó là sự lợi hại của thế chia cắt, vây hãm, là sức mạnh của đột phá; là thành công của sự chỉ đạo kết hợp giữa hai thành phần của cách đánh chiến dịch này.


Chọn được cách đánh hay rồi, nhưng làm thế nào để thực hiện cách đánh đó đạt kết quả cao nhất thì lại phải có mưu kế. Mưu kế giỏi là một điều kiện rất cần thiết để đánh thắng. Trong lịch sử chiến tranh, đánh bằng mưu đã được coi là một nghệ thuật cao. Có nhiều trận, bên ít quân thắng bên đông quân chủ yếu là bằng mưu kế. Lực càng mạnh mưu càng hay thì thắng lợi càng lớn, càng nhanh, càng triệt để.


Cách đánh chiến dịch có thể giống nhau, nhưng mưu kế để thực hiện cách đánh đó thì không nhất thiết giống nhau. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo sự đối phó của địch, nhất là tùy theo bản lĩnh của người chỉ huy mà có mưu kế khác nhau. Trong chiến dịch Tây Nguyên, việc bày mưu tính kế là căn cứ vào nhiệm vụ và ý định chiến lược chung và ý định chiến dịch. Trước hết phải tìm cách cô lập Tây Nguyên với đồng bằng; trong phạm vi chiến trường Tây Nguyên thì chia cắt bắc Tây Nguyên với nam Tây Nguyên, vây hãm và cô lập tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên với quân địch ở nam Tây Nguyên; nhanh chóng đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuột đang sơ hở, tạo thành một địa bàn lợi hại tiến lên giải phóng toàn bộ nam Tây Nguyên.


Theo những yêu cầu của chiến dịch, căn cứ vào sự phán đoán, dự kiến các tình huống, ta đã định ra nhiều mưu kế và đã thực hiện thành công, có cái thành công lớn. Mưu kế thứ nhất là nghi binh kéo địch về bắc Tây Nguyên và hãm địch ở đó. Để thực hiện được mưu kế này ta phải đấu tranh với địch gay gắt, hàng ngày, từ cuối tháng 2 cho đến ngày 10 tháng 3 năm 1975 là ngày mở đầu trận then chốt thứ nhất, đánh chiếm thị xã Buôn Ma Thuật.


Do các hoạt động nghi binh của ta, địch phán đoán ta sẽ đánh Kon Tum hoặc Plây Cu nên chú ý phòng thủ bắc Tây Nguyên nhiều hơn. Ở phía đông Plây Cu, ta tích cực tiến hành công tác chuẩn bị cho đơn vị đánh đường số 19, làm cho phán đoán của địch càng được củng cố. Quân địch dùng máy móc, dùng kỹ thuật điện tử để tìm hiểu, theo dõi ta; ta sẵn sàng để cho địch phát huy tác dụng của những máy móc đắt tiền đó của Mỹ để càng bị mắc lừa sâu hơn nữa.


Đến đầu tháng 3 năm 1975, ta mở một đợt đánh mạnh ở phía tây Plây Cu và liên tiếp giành được những thắng lợi lớn. Liên đoàn 25 biệt động quân của địch phòng ngự ở tuyến tây - nam Plây Cu bị thiệt hại nặng, không đủ sức đối phó, địch phải điều trung đoàn 45 đang hoạt động ở khu vực Cẩm Ga, Thuần Mẫn về tăng cường cho tuyến phòng ngự của liên đoàn 25. Khi trung đoàn 45 về đây, ta đánh mạnh vào trung đoàn này, làm cho nó bị tiêu hao nặng và bị giam chân ở đó.


Thế là từ đầu tháng 3 trở đi, thế trận địch ở hướng nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột bị sơ hở. Ta cố giữ tình trạng này cho đến ngày nổ súng đánh trận đầu ở Buôn Ma Thuột. Ngày 4 và 5 tháng 3, ta bắt đầu cắt đứt đường số 19 và đường số 21 để cô lập Tây Nguyên với đồng bằng và ngày 7 và 8 tháng 3 thì cắt đứt đường số 14, cô lập cụm Buôn Ma Thuột, chia cắt địch giữa nam Tây Nguyên và bắc Tây Nguyên.


Phán đoán lầm hướng tiến công chủ yếu của ta ở bắc Tây Nguyên, quân địch đã mắc mưu của ta. Rút trung đoàn 45 ở Cẩm Ga, Thuần Mẫn về Plây Cu, chúng lại mắc mưu của ta thêm một lần nữa. Mưu kế được thực hiện thành công đã giúp cho ta điều kiện thuận lợi để đánh chiếm Buôn Ma Thuột được nhanh, gọn.


Mưu kế căng kéo, phân tán địch, mưu kế vây hãm, chia cắt địch để bảo đảm cho việc đánh đòn then chốt giành thắng lợi tốt đẹp. Nhưng để giữ vững và phát triển thắng lợi đó, mưu kế đánh địch phản kích cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Thành công hay thất bại của việc đánh địch phản kích sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới các bước phát triển tièp sau của chiến dịch.


Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, ta dự kiến hai tình huống có thể xảy ra. Tình huống thứ nhất là trước khi ta đánh, địch điều động từ một đến hai trung đoàn về tăng cường cho Buôn Ma Thuột. Tình huống thứ hai là sau khi ta giải phóng Buôn Ma Thuật, địch tổ chức phản kích quyết liệt. Nếu địch dùng lực lượng của quân đoàn 2 ở Tây Nguyên để phản kích thì không đáng ngại lắm. Điều đáng quan tâm hơn là địch đưa lực lượng từ các chiến trường khác đến, nhất là lực lượng tổng dự bị chiến lược, để ứng cứu, phản kích, theo hai hướng: từ Plây Cu xuống và từ Nha Trang lên.


Ta đã đạt được mưu kế hay để đối phó với hai tình huống đó. Để loại trừ khả năng địch tăng cường lực lượng trước cho Buôn Ma Thuột, ta đã thực hiện nghi binh, căng kéo thu hút địch về phía Plây Cu, chia cắt địch giữa Tây Nguyên và đồng bằng ven biển miền Trung, giữa nam Tây Nguyên và bắc Tây Nguyên. Để đối phó với tình huống địch phản kích, ứng cứu cho Buôn Ma Thuột, ta đã cắt đứt các đường giao thông huyết mạch, loại trừ khả năng địch tăng viện, ứng cứu bằng đường bộ; đánh chiếm sân bay Hòa Bình, tước bỏ khả năng của địch đổ quân lớn bằng máy bay có cánh cố định; đồng thời chuẩn bị lực lượng dự bị mạnh để sẵn sàng cơ động đánh địch. Kết quả là tình huống địch phản kích ở Buôn Ma Thuột có diễn ra, nhưng lực lượng phản kích chỉ có thể đổ bộ bằng máy bay lên thẳng nên yếu ớt và đã bị ta đánh bại một cách nhanh chóng.


Thắng lợi của trận đánh địch phản kích đã củng cố và phát triển thắng lợi Buôn Ma Thuột, làm sụp đổ toàn bộ thế trận địch ở Tây Nguyên, buộc chúng phải rút khỏi chiến trường này, tạo ra thời cơ lớn cho các lực lượng của ta nhanh chóng phát triển tiến công xuống đồng bằng.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #257 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 08:29:42 am »

3. Xây vững thế trận ta, phá tan thế trận địch

Xây dựng thế trận là bố trí lực lượng, sắp xếp đội hình, thiết bị chiến trường theo ý đồ và kế hoạch chiến dịch. Để hoàn thành nhiệm vụ chiến dịch thì lực lượng là một yếu tố cơ bản, không có đủ lực lượng hoặc lực lượng yếu thì chiến dịch khó giành được thắng lợi. Nhưng có lực lượng mạnh chưa đủ, còn phải có nghệ thuật xây dựng thế trận để lực lượng đó có thế mạnh, thế lợi để đánh địch, ở thế có lợi thì sức một thành mười, sức mười thành trăm. Tạo ra thế lợi để đánh bại địch là yêu cầu chính của nghệ thuật xây dựng thế trận.


Xây dựng thế trận cũng là việc bố trí, sắp xếp lực lượng theo nhiệm vụ chiến đấu, chiến dịch trong các bước, các giai đoạn, trên các hướng để thực hiện ý định chung của chiến dịch từ đầu đến cuối. Thế trận không phải chỉ là đội hình ban đầu, càng không phải là một đội hình cứng nhắc, mà thế trận luôn luôn vận động, biến hóa theo sự phát triển của chiến dịch, do sự điều khiển của người chỉ huy chiến dịch.


Trên chiến trường Tây Nguyên, dựa vào thế lợi của chiến tranh nhân dân, tận dụng thời cơ chiến lược, phát huy những điều kiện thuận lợi, những chỗ mạnh của ta, khai thác những khó khăn, những chỗ yếu của địch, ta đã xây dựng được một thế trận chiến dịch hoàn chỉnh, vững chắc. Các yếu tố, thành phần trong thế trận chung có mối quan hệ rất chặt chẽ, hỗ trợ, tác động lẫn nhau, hợp thành một chỉnh thể của một thế trận tiến công vừa vững mạnh, vừa sắc nhọn. Việc cắt đứt các đường số 19, số 21 và số 14 thực hiện được tốt đã làm cho quân địch bị chia cắt, cô lập, bị suy yếu. Việc thu hút, kìm chân, vây hãm địch ở bắc Tây Nguyên đã làm cho địch bị trói chân trói tay, lực lượng còn đông mà không phát huy được hiệu lực, thấy đồng bọn bị nguy khốn mà không đi cứu được, chưa bị đánh đã tan. Đặc biệt, việc tiêu diệt địch được thực hiện tốt trong các trận then chốt như trận Buôn Ma Thuột, trận đánh địch phản kích và trận đuổi đánh quân địch rut lui, đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho việc tăng cường thế trận chung của ta trong chiến dịch.


Thế trận chung của ta được xây dựng tốt, vững là một yếu tố quan trọng góp phần nhanh chóng đánh vỡ toàn bộ thế trận của địch. Mặt khác, ta phá tan được thế trận địch còn là do ta phân tích, đánh giá đúng chỗ mạnh, chỗ yếu trong thế trận địch và đánh trúng vào những chỗ dễ tan vỡ nhát của chúng bằng cách đánh hay. Thực vậy, thế trận phòng ngự của địch do các tuyến và các điểm tạo thành. Tuyến phòng ngự chạy dọc theo các trục đường giao thông; các điểm trên tuyến là các thị trấn, thị xã, các căn cứ quân sự và đồn bốt lẻ, trong đó một số điểm là những cái "nút" trên tuyến, là tụ điểm của lực lượng phòng ngự. Nghiên cứu hình thái bố trí của địch, ta đã phát hiện được sự mỏng yếu của nó cả về khả năng của từng điểm cũng như sức chống đỡ của toàn tuyến, cả về chiều sâu của toàn tuyến và bề dày trong từng khu vực, cả về sức chiến đấu của lực lượng tại chỗ và khả năng của lực lượng cơ động ứng cứu. Sở dĩ thế trận của địch mỏng yếu là do tác động củạ thế trận chiến tranh nhân dân của ta. Ta đã đánh ép địch, cài thế xen kẽ với chúng, buộc thế trận của địch phải co hẹp lại, nằm trong thế trận bao vây của ta. Trên cơ sở phân tích như vậy, ta đã tìm ra cách hay để phá thế địch, vừa phát huy được chỗ mạnh của thế trận ta, vừa khoét sâu được nhược điểm của thế trận địch.


Hình thái địch, ta như vậy dẫn đến chỗ ta có thể đồng thời hoặc lần lượt đánh vào toàn bộ đội hình của địch trong một đợt tiến công, và có thể nhanh chóng đánh xiêu vẹo hoặc đánh vỡ toàn bộ đội hình của địch. Muốn nhanh chóng đánh vỡ toàn bộ đội hình của địch thì ta đánh đồng thời hoặc đánh kế tiếp vào cả hai thành phần cấu thành thế trận của địch là tuyến và điểm.


Trong chiến địch Tây Nguyên Xuân 1975, ta đánh vào tất cả các tuyến của hệ thống phòng ngự địch ở Tây Nguyên và đập vào một điểm quan trọng là Buôn Ma Thuột, nên toàn bộ mặt trận Tây Nguyên của địch đổ vỡ. Tất cả các tuyến ở Tây Nguyên đều bị đánh, bị vỡ, nên tất cả các điểm ở Tây Nguyên đều suy yếu. Buôn Ma Thuột là một điểm xung yếu có liên quan tới các tuyến và các điểm trong thế trận rộng lớn của quân khu 2 ngụy, nên khi điểm Buôn Ma Thuột bị vỡ thì toàn bộ quân khu 2 địch bị rung động. Thế trận địch ở Tây Nguyên sụp đổ nhanh chóng chỉ trong 20 ngày đã kéo theo sự đổ vỡ của chúng ở đồng bằng.


Nghệ thuật xây dựng thế trận ta, phá thế trận địch còn là nghệ thuật tổ chức và thiết bị chiến trường. Thế trận của ta đối chọi với thế trận địch. Thế trận thể hiện phương pháp tác chiến chiến dịch của ta là phương pháp tác chiến của chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại. Cách đánh của ta là vừa đánh ở đằng trước, vừa đánh ở bên sườn, phía sau quân địch, vừa đột phá vừa thọc sâu, bao vây, vu hồi, vừa có tác chiến của bộ đội chủ lực, vừa có tác chiến của bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trong đó đòn đánh lớn tập trung, hợp đồng binh chủng có ý nghĩa quyết định.


Đánh lớn đặt ra những yêu cầu rất cao về bảo đảm vật chất kỹ thuật. Ngoài lương thực ra, còn phải có khối lượng lớn vũ khí đạn dược, xăng dầu, xe cộ. Mật khác bảo đảm hậu cần phải rất nhanh chóng, kịp thời. Để đáp ứng những yêu cầu đó, việc vận chuyển vật tư, kỹ thuật cũng như việc cơ động bộ đội đều phải thực hiện bằng cơ giới. Do đó, trong phạm vi chiến dịch, việc tổ chức, thiêt bị chiến trường phải tập trung vào khâu then chốt là đường sá. Không có mạng đường giao thông cơ giới thì không thể nào triển khai được lực lượng lỏn, nâng cao được tốc độ tiến công và phát triển nhanh chóng thế tiến công vũ bão của ta vào sâu trong hệ thống phòng thủ của địch. Hệ thống thông tin liên lạc cũng là một khâu quan trọng. Các cơ sở hậu phương khác của chiến dịch cũng phải được xây dựng cho tốt.


Với tinh thần cách mạng của một quân đội dày dạn kinh nghiệm chiến đấu chống Pháp và chống Mỹ, chúng ta đã giải quyết thắng lợi vấn đề thiết bị chiến trường, tập trung sức vào việc giải quyết đường sá. Để đánh địch trên đường số 19, ta đã làm đường xe ô tô tới gần đèo Măng Giang, đường xe ô tô từ Võ Định chạy qua phía đông - bắc thị xã Kon Tum, Plây Cu, sát gần các vị trí quân sự lớn của địch, xuống tới phía bắc đường số 19 ở gần đèo Măng Giang. Đây là một cuộc chiến đấu quyết liệt và gian khổ chống lại mọi hành động ngăn chặn và đánh phá của địch. Việc tổ chức, thiết bị chiến trường trong phạm vi chiến dịch thống nhất được với kế hoạch tổ chức, thiết bị chiến trường trong phạm vi chiến lược. Ngược lại, việc tổ chức chiến trường trong phạm vi chiến lược lại chi viện đắc lực và tạo cho chiến dịch rất nhiều thuận lợi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #258 vào lúc: 09 Tháng Mười, 2023, 08:30:28 am »

4. Tạo thời cơ tốt, chớp thời cơ nhanh

Trong quá trình diễn biến của chiến dịch, do sự nỗ lực thực hiện ý định, kế hoạch chiến dịch của ta và do sự đối phó của địch, các tình huống khác nhau liên tiếp diễn ra. Giải quyết thắng lợi những tình huống đó sẽ làm nảy sinh thời cơ. Thời cơ là lúc tình huống phát triển thuận lợi nhất cho việc thực hiện nhiệm vụ chiến đấu, chiến dịch. Nắm đúng thời cơ để hành động thì sẽ làm nảy sinh tình huống mới, tạo ra thời cơ mới, và cứ như vậy tình huống và thời cơ kế tiếp nhau cho đến khi kết thúc thắng lợi chiến dịch hay toàn cuộc chiến tranh.


Trong những điều kiện khách quan nhất định, thời cơ là sản phẩm của sự nỗ lực chủ quan của hai bên đối chọi nhau trên chiến trường, trong đó nghệ thuật chỉ huy chiến đấu, chiến dịch và chỉ đạo chiến lược giữ vai trò quyết định. Cho nên giải quyết thắng lợi tình huống, tạo được thời cơ tốt, chớp thời cơ nhanh để liên tục phát huy quyền chủ động, giành thắng lợi trong từng trận chiến đấu, đi đến giành thắng lợi hoàn toàn, triệt để cho chiến dịch hay cho toàn cuộc chiến tranh là một nội dung quan trọng của nghệ thuật chỉ huy.


Trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975, được sự chỉ đạo đúng đắn, chặt chẽ của Bộ Tổng tư lệnh, trên cơ sở có lực mạnh, thế vững, ta đã chủ động tạo được nhiều thời cơ tốt. Trước hết là thời cơ đánh trận then chốt mở màn chiến dịch: trận Buôn Ma Thuột. Biện pháp chủ yếu của ta để giữ quyền chủ động, tạo thời cơ lúc đó là nghi binh, cắt đường và vây hãm, cô lập quân địch ở Buôn Ma Thuột. Sau khi trung đoàn 45 của địch bị kéo về Plây Cu và ta đánh cắt các đường số 19, số 21 và số 14 thì thời cơ thuận lợi để tiến công Buôn Ma Thuột đã xuất hiện.


Trong nghệ thuật tạo thời cơ, có lúc ta phải dàn dựng thêm một số tình huống phụ để bảo đảm cho thời cơ được chín muồi, vững chắc hơn. Để đánh thắng địch ở Buôn Ma Thuột được nhanh gọn, vấn đề đặt ra là phải trói chặt tập đoàn chủ yếu của địch ở bắc Tây Nguyên, không cho chúng tăng cường, ứng cứu Buôn Ma Thuột một cách dễ dàng; phải chặt tay địch xung quanh Buôn Ma Thuột, làm cho vị trí này càng thêm yếu, thêm cô lập, đồng thời mở rộng, tạo thêm chỗ đứng cho ta. Ta đánh Cẩm Ga, Thuần Mẫn trên đường số 14 giữa Buôn Ma Thuột và Plây Cu, tiến công Đức Lập ở tây - nam Buôn Ma Thuột là nhằm thực hiện ý định đó. Tuy nhiên, một vấn đề khác cũng được đặt ra là phải làm sao cho các tình huống phụ diễn ra đúng lúc, nhằm phục vụ tốt cho tình huống chính, thời cơ chính. Đánh Cẩm Ga, Thuần Mẫn, Đức Lập phải bảo đảm không làm lộ ý định chiến dịch của ta khiến kẻ địch chú ý để phòng, gây khó khăn cho việc tiến công Buôn Ma Thuột. Thực hiện yêu cầu đó, ta đã xử trí rất khéo léo: ngày 8 tháng 3 năm 1975 đánh Cẩm Ga, Thuần Mẫn, ngày 9 tháng 3 đánh Đức Lập và ngày 10 tháng 3 đánh Buôn Ma Thuột. Ta đã dẫn dắt các tình huống trên điễn ra dồn dập trong ba ngày liền làm cho bọn chỉ huy quân đoàn 2 địch ở Plây Cu không kịp trở tay, bọn chỉ huy tiền phương của sư đoàn 23 ở Buôn Ma Thuột cũng đành bó gối. Quân địch chưa kịp phán đoán, chưa kịp hành động thì số phận của Buôn Ma Thuột đã được định đoạt trưa ngày 11 tháng 3 năm 1975.


Nắm vững thời cơ đánh đòn thứ nhất giành thắng lợi tốt đẹp, ta lại tạo ra thời cơ mới, những thuận lợi mới, gây cho địch những khó khăn mới, buộc chúng phải phạm những sai lầm mới. Đồng thời tình huống phát triển cũng làm tăng thêm tính chất gay go phức tạp, khẩn trương của cuộc đối chọi giữa ta và địch. Điểm nổi bật của nghệ thuật chỉ huy chiến dịch, nghệ thuật tạo và chớp thời cơ lúc này là phán đoán, hạ quyết tâm, xử lý đúng đắn, kịp thời để khỏi bỏ lỡ thời cơ, củng cố và phát triển thắng lợi vừa giành được. Lúc này điểm mấu chốt của nghệ thuật chỉ huy không phải là tạo thời cơ như lúc đầu, vì thời cơ mới - thời cơ đánh quân địch phản kích - đã được tạo ra, mà là tận dụng thời cơ, biến khả năng thành kết quả thực hiện, tiêu diệt nhanh gọn quân địch, đập tan ý định của chúng phản kích đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột; tiếp tục tạo nên sự thay đổi so sánh lực lượng ngày càng có lợi cho ta. Trong chiến dịch Tây Nguyên, tình huống và thời cơ đánh địch phản kích đã được dự kiến trong kế hoạch chiến dịch, và nó đã xuất hiện đúng như ta dự kiến. Nhưng do tính chất phức tạp, khẩn trương của cuộc đối chọi giữa ta và địch, nên muốn biến thời cơ tốt thành kết quả thắng lợi còn đòi hỏi sự nỗ lực chủ quan rất cao của tất cả cán bộ và chiến sĩ tham gia chiến dịch, nhất là của người chỉ huy chiến dịch.


Nghệ thuật tạo và nắm thời cơ gắn liền với nghệ thuật xoay chuyển, chuyển hóa thế trận, điều động lực lượng, nghệ thuật tổ chức và thực hành chiến dịch. Đánh địch phản kích là một tình huống then chốt trong chiến dịch, có khi là một tình huống quyết định. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, ta đã kiên quyết tập trung lực lượng dự bị đủ mạnh và khẩn trương tổ chức thế trận, quyết tâm đánh bại phản kích của địch trên đường số 21 (đông Buôn Ma Thuật). Có lực lượng hùng hậu, có thế trận vững mạnh, lại có kinh nghiệm và khí thế sau chiến thắng Buôn Ma Thuột, nên ta có những điều kiện cơ bản để tận dụng thời cơ, giành thắng lợi. Thành công của ta ở đây là đã bảo đảm cho các yếu tố lực lượng, thế trận và thời cơ được vận dụng, kết hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Nhờ vậy, ta đã biên thời cơ tốt thành kết quả thắng lợi giòn giã, đánh bại hoàn toàn cuộc phản kích của quân địch, đập tan hy vọng của chúng giành lại Buôn Ma Thuật, đẩy địch đi vào những bước sai lầm nghiêm trọng hơn.


Trong chiến dịch, chiến đấu, thời cơ thường do ta tạo ra như hai thời cơ đầu trong chiến dịch Tây Nguyên Xuân 1975. Nhưng thời cơ cũng có khi do địch tạo ra cho ta, do sự phán đoán và chủ trương sai lầm của chúng. Đương nhiên những sai lầm ấy của địch cũng có tính tất yếu, do thế và lực của ta tác động vào địch buộc chúng phải phạm sai lầm. Đó là trường hợp địch rút bỏ Tây Nguyên, ở đây vấn đề đặt ra cho nghệ thuật chiến dịch là phải nhanh chóng chớp lấy thời cơ, giành thắng lợi lớn. Nó đòi hỏi tính năng động rất cao của tất cả các đơn vị tham gia chiến dịch, trước hết là của các cấp chỉ đạo và chỉ huy. Tất nhiên để tận dụng được thời cơ có lợi, phải có cơ sở lực và thế nhất định, nhưng rõ ràng ở đày tính năng động chủ quan của người chỉ đạo, chỉ huy cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Phải nắm được thời cơ, chớp đúng thời cơ, phán đoán chính xác, hạ quyết tâm đúng đắn, kịp thời, hành động kiên quyết, khẩn trương.


Ngày 15 tháng 3 năm 1975, địch bát đầu rút chạy khỏi Tây Nguyên: một tình huống mới, hết sức quan trọng đã xuất hiện. Lực lượng rút chạy là lực lượng lớn nhất, đông nhất còn lại của quân đoàn 2 ngụy, gồm phần lớn các đơn vị chủ lực bộ binh và các binh chủng. Hạ quyết tâm tiêu diệt lực lượng này không phải đơn giản, tổ chức thực hiện quyết tâm này gặp không ít khó khăn. Vấn đề mấu chốt là phải làm sao chặn được địch lại và cơ động được lực lượng lớn đến kịp thời để tiêu diệt chúng. Được sự chỉ đạo sáng suốt, sắc bén của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, trực tiếp là đại diện Bộ Tổng tư lệnh, Bộ chỉ huy chiến dịch đã kịp thời phát hiện ý định và hành động của địch, có quyết tâm và cách xử trí đúng đắn, kịp thời. Việc xoay chuyển thế trận, điều động lực lượng, việc tổ chức và tạo thế đánh tiêu diệt đã được thực hiện tốt nên ta đã chóp đúng thời cơ và giành thắng lợi rực rỡ. Ở đây còn thấy rõ việc chớp được thời cơ hay không, không phải chỉ do sự nỗ lực của một hướng, của một khu quyết chiến, mà phải có sự hỗ trợ của các hướng khác, của toàn chiến dịch hoặc toàn chiến trường, làm cho địch bị hãm vào thế bị động, bất lợi, lực lượng bị giam chân, bị phân tán, muốn cứu nhau không cứu được, muốn chạy cũng không thoát.


Qua chiến dịch Tây Nguyên, ta còn thấy được vai trò của những biện pháp tổ chức trong nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ. Qua các ví dụ nêu trên, rõ ràng là trong các thời cơ khác nhau, nổi lên những yêu cầu khác nhau về nghệ thuật tạo thời cơ và chớp thời cơ. Có lúc đó là việc bày mưu hay, định kế giỏi để tạo thời cơ; có khi là tính kiên quyết trong chủ trương, ý định để tận dụng thời cơ; cũng có lúc là sự nhạy bén trong việc phán đoán tình huống để chớp thời cơ. Nhưng trong bất cứ tình huống nào cũng có vấn đề biện pháp tổ chức, cũng phải luôn luôn có nhiều biện pháp tổ chức tốt. Đặc biệt, cũng có khi biện pháp tổ chức lại đóng vai trò then chốt, nổi bật trong nghệ thuật tạo và nắm thời cơ. Khi đã có thời cơ, tình huống đang phát triển thuận lợi thì chỉ cần có biện pháp tốt là thời cơ đó sẽ được tận dụng, những điều kiện thuận lợi sẽ được khai thác, phát huy cao độ. Ngược lại kết quả có thể rất hạn chế, không phải vì thiếu dự kiến, thiếu nhạy bén, thiếu quyết tâm mà chính là do thiếu những biện pháp tốt.


Sau khi lực lượng địch ở Tây Nguyên rút chạy và đã bị tiêu diệt, ta giải phóng toàn bộ Tây Nguyên thì quân địch bị đẩy vào thế suy sụp rất nghiêm trọng. Một thời cơ vô cùng thuận lợi để ta phát triển xuống đồng bằng đã mở ra. Vấn đề đặt ra cho nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh và nghệ thuật chiến dịch lúc này là phải có nhiều biện pháp tổ chức nhằm nâng cao tốc độ tiến công, nhanh chóng quét sạch lực lượng ngân chặn dọc đường, bảo đảm cơ động nhanh, chuẩn bị tiến công gấp, vừa đi vừa đánh, hoặc triển khai nhanh thế trận rồi đánh ngay, giải quyết nhanh và phát triển nhanh. Do biết đoán định thời cơ, chớp thời cơ, đặc biệt là do có những biện pháp tổ chức tốt nên các cánh quân của ta đã cùng với các lực lượng vũ trang địa phương và nhân dân nhanh chóng phá vỡ các khu vực phòng ngự của địch, đánh chiếm các thị xã và giải phóng một số tỉnh ở đồng bằng.


Thành công trong nghệ thuật tạo thời cơ và chốp thời cơ đã góp phần làm cho chiến dịch Tây Nguyên tiêu diệt quân đoàn 2 và đánh chiếm toàn bộ quân khụ 2 ngụy phát triển thuận lợi, nhanh chóng, giành thắng lợi rất to lớn, tạo nên một bước ngoặt đột biến có ý nghĩa chiến lược trong cục diện chiến tranh ở miền Nam nước ta vào mùa Xuân năm 1975.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #259 vào lúc: 17 Tháng Mười, 2023, 06:01:50 pm »

IX. XUÂN 1975 - ĐỈNH CAO MỚI CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM
(Bài viết nhân dịp kỷ niệm lẩn thứ 10 thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đăng trên tạp chí Cộng sản, sô tháng 4 năm 1985. Có sửa chữa, bổ sung)


Lịch sử cho thấy, sự phát triển của nghệ thuật quân sự trong các cuộc chiến tranh chính nghĩa giành được thắng lợi, thường vươn tới đỉnh cao vào giai đoạn cuối cùng của nó. Bởi vì đó là giai đoạn diễn ra trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, đỉnh cao của những cố gắng trong sự đâu lực, đấu trí giữa hai bên để giành thắng lợi về mình. Chiến cuộc Xuân 1975 với các chiến dịch tiến công kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là một ví dụ.


Nghệ thuật quân sự Việt Nam đạt đến những đỉnh cao mới vào mùa Xuân 1975 trong tình hình có những đặc điểm sau đây:

Một là, nhờ đường lối chiến tranh nhân dân đúng đắn, sự chỉ đạo chiến tranh sáng suốt của Đảng, sau chặng đường dài 30 năm đánh giặc, cả hai lực lượng chính trị và vũ trang, cả ba thứ quân của lực lượng vũ trang nhân dân ta đều lớn mạnh vượt bậc. Vào đầu năm 1975, trên tất cả các địa bàn rừng núi, đồng bằng và đô thị của miền Nam, lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị của ta đều phát triển sâu rộng, đứng chân vững chắc, tạo thành thế trận chiến tranh nhân dân sâu hiểm cài xen với thế trận địch trên toàn bộ miền Nam. Những cơn lốc tiến công và nổi dậy, nổi dậy và tiến công ngày càng dồn dập, tích tụ và lan rộng, sẵn sàng dâng thành bão táp tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt. Lực lượng tổng hợp của chiến tranh nhân dân mà Đảng ta tạo được vào lúc đó là lực lượng đông đảo, mạnh mẽ và có tổ chức cao chưa từng có ở nước ta.


Hai là, lần đầu tiên trong lịch sử quân sự nước ta, cấp quân đoàn chủ lực đã được thành lập vào thời điểm sát gần với cuộc tổng tiến công và để chuẩn bị trực tiếp cho tổng tiến công. Cùng với sự phát triển lớn mạnh của các quản chủng, binh chủng kỹ thuật, sự ra đời của cấp quân đoàn chủ lực đã nâng sức chiến đấu của quân đội ta lên một chất lượng mới. Với quy mô tổ chức như vậy, quân đội ta vừa có khả năng cơ động cao, sức đột phá mạnh, vừa có nâng lực tác chiến liên tục, đáp ứng được những diễn biến mau lẹ của tình huống và sẵn sàng đón thời cơ. Nó cho phép chúng ta tổ chức những tập đoàn chiến lược lớn để mở các chiến dịch lớn gối đầu và kế tiếp nhau, trong một thời gian ngắn có thể cơ động lực lượng đánh địch trên nhiều địa bàn chiến lược, đánh vào những cụm phòng thủ kiên cố, phá vỡ toàn bộ thế trận cố thủ cứa địch ở miền Nam. Đó là năng lực tác chiến chưa từng có của quân đội ta trước đó.


Ba là, sau gần 20 năm đánh Mỹ, ta đã tạo lập được mạng đường chiến lược và tuyến đường ống dẫn dầu vươn dài từ hậu phương lớn đến những địa bàn trọng yếu của tiền tuyến lớn. Nó cho ta khả năng cơ động dễ dàng những binh đoàn lớn, những khối lượng binh chủng, kỹ thuật lớn bằng cơ giới. Với mạng đường đó, chúng ta có thể phát huy đến mức cao nhất hiệu lực của sự chi viện về vật chất của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sự giúp đỡ của Liên Xô và các nước xã hộỉ chủ nghĩa anh em khác đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thực hiện tốt việc bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho tác chiến hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Đó là điều kiện mới ta đã tạo lập được cho mối quan hệ chiến lược giữa hậu phương lớn và tiền tuyến lớn trên quãng đường dài hơn một nghìn ki-lô-mét.


Bốn là, quyết tâm giải phóng miền Nam của Bộ Chính trị Trung ương Đảng đặt ra cho lực lượng vũ trang một nhiệm vụ lớn lao và triệt để: cùng với lực lượng chính trị của nhân dân đập tan toàn bộ bộ máy ngụy quyền, đập nát đội quân ngụy còn trên 1 triệu 35 vạn tên, được trang bị bằng vũ khí kỹ thuật hiện đại của Mỹ, phòng thủ trong một hộ thống khá chặt chẽ, với những căn cứ quân sự lớn, những trung tâm đề kháng rắn chắc và phức tạp liên kết với nhau trên suốt bề rộng và chiều sâu chiến trường như Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Plây Cu, Kon Tum, Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, v.v... Trong lịch sử chiến tranh, khi hai bên cân sức nhau thì hiếm có trường hợp một bên có thể triển khai thế trận chiến lược trải dài từ ngoài vào trong, từ tiền duyên phòng ngự đến chiều sâu nhất thế trận phòng thủ của đối phương, như thế trận chiến tranh nhân dân của ta từ Quảng Trị đến Sài Gòn vào mùa Xuân năm 1975. Do đó, khi cuộc tổng tiến công và nổi dậy được phát động thì các chiến trường, các hướng chiến lược đều phối hợp một cách nhịp nhàng, làm cho địch không có cách gì đối phó, không thể ứng cứu được cho nhau mà chỉ có thể bị động chống đỡ tại chỗ. Đó là một trong nhiều điều giải thích sự sụp đổ của địch chỉ trong 55 ngày đêm.


Trong những điều kiện thuận lợi cơ bản như vậy, nghệ thuật quân sự Việt Nam có thể phát huy cao độ sức sáng tạo của mình để phục vụ nhiệm vụ chính trị mà Đảng đã đề ra, từ việc dùng mưu kế, bày thế trận ta phá thế trận địch, tạo ưu thế trên chiến trường, sáng tạo và sử dụng thời cơ, đến việc đánh đòn mở đầu, thực hiện cơ động chiến lược và đánh đòn quyết chiến chiến lược, v.v... Trong 55 ngày đêm ấy, chúng ta đã vận dụng toàn bộ kinh nghiệm được tích lũy từ trong lịch sử để thực hiện những nội dung đó. Vì vậy nghệ thuật quân sự của ta vào mùa Xuân 1975 đã thể hiện tính cách mạng, tính nhân dân, tính sáng tạo và tính hiện đại cao.


Về nghệ thuật quân sự trong chiến cuộc Xuân 1975, có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu một cách sâu sắc. Ở đây chỉ bước đầu đề cập một số vấn đề được giới hạn trong phạm vi chiến lược và nghệ thuật chiến dịch.

Một là, nghệ thuật dùng mưu kế để giành thế chủ động đánh địch.

Nghệ thuật dùng mưu kế là nghệ thuật buộc địch phải bố trí, sử dụng và điều động lực lượng theo ý định của ta. Từ đó, bắt địch phải bộc lộ sơ hở trong thế trận của chúng; ta bí mật bất ngờ tập trung lực lượng đánh đòn đầu tiên vào nơi sơ hở nhưng hiểm yếu của địch. Cũng bằng mưu kế, ta trói chật lực lượng dự bị cơ động chiến lược của địch ở một địa bàn hiểm yếu khác, buộc chúng không thể tự do điều động để phản kích, ứng cứu, hàn vá chỗ bị phá vỡ, phải đi đến thay đổi hoặc cải tạo lại thế bố trí, do đó tiếp tục bộc lộ sơ hở mới để ta đánh các đòn tiếp theo, đập tan thế trận chiến lược cơ bản của địch, và cứ như thế dẫn địch đi từ thất bại này đến thất bại khác cho đến thất bại hoàn toàn.


Có mưu kế hay sẽ lập được thế trận tốt, bảo đảm nắm vững quyền chủ động chiến dịch. Thế trận vận động theo đúng mưu kế đã định, sẽ tạo ra tình huống thuận lợi, tình huống phát triển lại sinh ra thời cơ. Nắm bắt được thời cơ để đánh đòn quyết định sẽ thúc đẩy sự chuyển biến nhanh chóng về so sánh lực lượng, hình thành cục diện mới, tạo ra thời cơ mới. Mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố mưu kế, thế trận và thời cơ đã được nghệ thuật quân sự Việt Nam vặn dụng rất sắc sảo trong chiến cuộc Xuân 1975 là như vậy.


Sau Hiệp định Pa-ri về Việt Nam, quân Mỹ buộc phải rút khỏi Việt Nam; quân ngụy mất đi chỗ dựa chủ yếu trong tác chiến, Mỹ chỉ còn có thể viện trợ ở mức độ hạn chế. Vì vậy khả năng chiến đấu của quân ngụy giảm sút hẳn đi. Nực cười thay, Thiệu phải hô hào quân lính của hắn "đánh theo kiểu con nhà nghèo". Tuy đã hụt hơi, nhưng đến trước chiến cuộc Xuân 1975, địch còn đông và khá mạnh, chúng vẫn còn được tăng cường về mặt này hay mặt khác.


Bằng các đòn tác chiến liên tiếp và với thế bố trí lực lượng sâu hiểm của ta (hai quân đoàn chủ lực ở nam, bắc sông Bến Hải và một quân đoàn ở ngoại vi Sài Gòn), ta đã căng địch ra, buộc chúng tăng cường phòng thủ ở hai đầu (Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn). Bằng cách đó, ta làm cho địch mất quyền chủ động chiến trường và không còn khả năng nắm và sử dụng lực lượng dự bị mạnh. Khi đòn tổng tiến công của ta mới bắt đầu, có những lúc cả sư đoàn dù lẫn sư đoàn thủy quân lục chiến là lực lượng tổng dự bị ngụy đã phải làm nhiệm vụ của thê đội một tác chiến - một điều tối kỵ trong nguyên tắc sử dụng lực lượng dự bị chiến lược. Như vậy đây là điều chủ yếu, địch đã để hở quãng giữa miền Trung tại địa bàn chiến lược rất quan trọng: Tây Nguyên. Nhằm sơ hở ấy, ta bí mật tập trung một số sư đoàn ở Tây Nguyên, phá vỡ thế trận địch ở chỗ xung yếu, tạo ra một chuyển biến lớn về chiến lược. Địch bị bất ngờ, bị động đối phó và suy sụp nhanh chóng không sao gượng lại được.


Địch bị lừa, mắc phải mưu kế chiến lược của ta nên ta điều động được địch, điều khiển được địch theo ý định của mình. Như vậy là đã làm chủ được tình thế, giành được quyền chủ động. Chủ động là mạch sống của tác chiến. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "... Giữ được chủ động thì thế nào cũng thắng, không thắng to thì cũng thắng nhỏ"1 (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 3, Nxb Sự thật, H. 1983, tr, 169).
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM