Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 17 Tháng Tư, 2024, 12:14:05 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 10109 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #190 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 08:23:56 am »

B- ĐỊCH VẬN

Đi đôi với việc phát huy những chỗ mạnh của mình về mặt quân sự, tổ tiên ta đã biết phát huy cao độ yếu tố chính nghĩa của cuộc chiến tranh đang tiến hành, để đánh vào kẻ xâm lược phi nghĩa. Tiêu biểu nhất là cuộc chiến tranh đời Lê; Nguyễn Trãi đã đặt vấn đề địch vận lên một vị trí rất cao, tiến hành rất kiên nhẫn và có hệ thống chiến lược "đánh vào lòng người" như đã nêu lên trong "Bình Ngô sách" từ ngày đầu tham gia khởi nghĩa Lam Sơn.


Xuất phát từ tư tưởng "lấy đại nghĩa thắng hung tàn" và nhận rõ tác dụng quyết định của "lòng người" trong chiến tranh, các nhà quân sự thời Lê hiểu rằng, một mặt phải đánh thật mạnh, tiêu diệt nhiều sinh lực địch thì mới làm địch suy yếu và mau suy sụp về tinh thần; một mặt khác khoét sâu nhược điểm trí mạng về tinh thần của quân đội xâm lược chiến đấu xa nhà, xa nước, đứng trước cả một dân tộc đang chống lại. Phối hợp hai mặt tiến công đó, vừa đánh tiêu diệt lực lượng vật chất của địch vừa tiến công vào tinh thần chiến đấu của chúng, tổ tiên ta đã buộc hàng chục vạn tên địch phải hạ vũ khí xin hàng, làm tan rã về tổ chức và tinh thần cả một quân đội xâm lược lớn mạnh. Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi tổng kết:

"Bỉ chí cùng nhi lực tận, thúc thủ đãi vong.

Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, Sđd, tr. 70).

Nghĩa là: Địch đã chí cùng lực kiệt bó tay chờ chết, ta tìm cách đánh vào lòng người, không đánh trận mà giặc phải khuất phục, ở đây nổi bật lên cái ý, dùng chính nghĩa sáng tỏ để đánh địch.

Những văn kiện địch vận của Nguyễn Trãi có sức thuyết phục mạnh mẽ, nêu bật tính chất chính nghĩa của chiến tranh giải phóng của dân tộc ta và tính chất phi chính nghĩa trong chiến tranh xâm lược của nhà Minh, nêu rõ sức mạnh đoàn kết của quân và dân ta và mâu thuẫn xâu xé nội bộ địch, nhằm mục tiêu làm tan rã tinh thần chiến đấu của chúng, đưa chúng đến chỗ hàng phục ta, trong điều kiện bị hãm vào thế nguy khôn về quân sự. Đánh bằng quân sự càng mạnh, quy mô càng lớn, thì đánh bằng binh vận cũng càng ngày càng mạnh, với quy mô càng lớn.


Với lý lẽ sáng ngời trên cơ sở của sự thật, những văn kiện địch vận đó đã đi sát các đối tượng vận động (quân Minh và quân ngụy), đi sát tình huống chiến lược, chiến thuật của ta, vừa nêu lên tinh thần khó khăn, tuyệt vọng, thất bại của địch, vừa chỉ ra lối thoát cho chúng, vừa khẳng định ý chí kiên quyết tiêu diệt địch của quân và dân ta, lại vừa nói rõ chính sách khoan hồng của dân tộc ta đối với tù, hàng binh.


Trong thư gửi Phương Chính, một tướng nhà Minh, Nguyễn Trãi vạch ra như sau: "Nước người nhân dịp nhà Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội (ý nói nhà Minh mượn tiếng thương dân sống khổ mà đánh kẻ có tội để cứu dân - T.G.), kỳ thực là làm việc bạo tàn, lấn cướp nước ta, bóc lột dân ta, thuế nặng, hình nhiều, vơ vét của quý, dân mọn các làng không được yên sống. Nhân nghĩa lại làm thế ư? Nay ở nước người, dân oán, thần giận, kế tiếp có đại tang, thế mà đã không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ (ý nói dùng vũ lực, đánh nhau không thôi - T.G.), ham thích xâm lược nơi xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 22, 20). Rồi ông chỉ rõ cho tướng sĩ nhà Minh:

"Kế của ngài ngày nay không gì bằng cởi giáp nghĩ binh, ngồi nhàn mà nhận hàng, đó là thượng sách. Thế tuy là may cho bọn tôi cùng ngài, mà cũng là may lớn cho vạn dân thiên hạ vậy"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 22, 20).

Khi gần 10 vạn quân Minh bị vây khốn trong các thành, tổng binh Minh là Vương Thông chờ mong viện binh, hy vọng được giải vây rồi phản công đánh luôn nghĩa quân, Nguyễn Trãi đã phân tích như sau:

"Trước đây lòng mưu giả trá, mặt thác giảng hòa, rồi cứ đào hào đắp lũy, ngồi đợi viện... Hiện nay phương Bắc có kẻ địch Thiện Nguyên (một tướng thuộc dòng dõi nhà Nguyên, chiếm giữ miền Bắc Trung Quốc, vẫn đang chống lại nhà Minh - T.G.), trong nước có mối lo các xứ Tầm Châu (chỉ khởi nghĩa của nhân dân Trung Quốc ở Quảng Tây chống lại nhà Minh - T.G.), một khu Giang Tả (nay thuộc Giang Tô, Trung Quốc - T.G.) không tự giữ xong, huống còn mưu toan cướp nước khác ư? Các người không hiểu sự thế bị người đánh thua, lại còn chực dựa uy Trương Phụ (lúc đó Vương Thông thường phao tin Trương Phụ là tướng tài đã từng thắng nhà Hồ sẽ sang, định dựa vào oai phong của Trương Phụ để uy hiếp nghĩa quân ta - T.G.), thế là đại trượng phu chăng?... Sự thế ngày nay, dẫu cho thượng vị (chỉ vua Minh - T.G.) có đem quân đến nữa cũng chỉ chóng chết mà thôi, huống là Trương Phụ tự đến nạp xác thì sao đáng nói... Nay sức hết kế cùng, quân nhọc lính mệt, trong thiếu lương thực, ngoài không viện binh, bám hờ khu nhỏ mọn, nghỉ tạm thành chơ vơ, đó không phải là như thịt trên thớt, cá trong nồi ư?"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 48, 49).

Cuối cùng, ông khái quát như sau: "Nay tính hộ các ông, xét có sáu điều phải thua:

- Nước lụt chảy tràn, tường rào đổ lở, lương cỏ thiếu thốn, ngựa chết, quân ốm. Đó là điều phải thua thứ nhất.

- Xưa Đường Thái bắt Kiến Đức mà Thế Sung ra hàng. Nay những nơi quan ải hiểm yếu, đều có quân nhà vua đóng giữ, nếu viện binh đến, thì tất phải thua; viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt. Đó là điều phải thua thứ hai.

- Ở nước các ông, quân mạnh ngựa tốt, nay đóng cả ở miền Bắc để phòng bị quân Nguyên, không dõi nhìn đến miền Nam. Đó là điều phải thua thứ ba.

- Động dụng can qua, hàng năm đánh dẹp, dân sống không vui, nhao nhao thất vọng. Đó là điều phải thua thứ tư.

- Gian thần chuyên chính, chúa yếu giữ ngôi, xương thịt hại nhau, gia đình thêm biến. Đó là điều phải thua thứ năm.

- Nay ta dấy nghĩa binh, trên dưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc; quân sĩ trong thành thì đều mỏi mệt, kham khổ, tự chuốc lấy bại vong. Đó là điều phải thua thứ sáu.


Nay giữ cái thành cỏn con để chờ sáu điều thất bại, ta lấy làm tiếc cho các ông lắm. Cổ ngữ có câu: "Nước xa không thể cứu được lửa gần", giá viện binh có đến cùng có ích gì cho sự bại vong?"1 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 49, 50, 41, 42).


Đối với tướng sĩ ngụy, Nguyễn Trãi khêu gợi tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc: "Người xưa có câu nói: "Quạ đi lại về quê cũ, cáo chết quay đầu về núi", cầm thú còn thế, huống nữa là người? Các ngươi vốn đều là người dân Tây Việt, dòng dõi nhà quan. Trước nhân nhà Hồ thất đức, giặc Ngô lăng loàn, các người có người thân bị hãm ở tặc đình, có người thì danh bị buộc ở ngụy chức, đó là thế không đừng được, nào phải do ở bản tâm đâu... Bọn các ngươi nếu biết sửa lòng đổi dạ, bỏ nghịch theo thuận, hoặc ở làm nội ứng hoặc ra để cũng đầu hàng thì không những rửa mối hổ thẹn ngày trước mà cũng được phần soi xét về sau. Ta không nói lời lại ăn lời, nếu các ngươi lại còn tiếc tham ngụy chức, chống cự vương sư thi khi hãm thành tội các người tất nặng hơn giặc Ngô đấy"2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 49, 50, 41, 42).


Chính sách đối với quân giặc ra hàng cũng đã được quy định rõ:

"Tướng giặc đã hàng mảy may cũng không được xâm phạm. Bất cứ tội to tội nhỏ đều xóa cho hết"3 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).

"Quan quân đã hàng, vợ con quyến thuộc cùng là tài vật đều bảo toàn hết cả, không chút thiệt hại"1 (Nguyễn Trãi, Lam Sơn thực lục).


Đối với tướng sĩ ngụy đã ra hàng:

"Ra ngoài thành cùng ta hòa thân, thì ta sẽ coi các ngươi như tình anh em ruột thịt, chẳng những là bảo đảm tính mạng vợ con mà thôi..."2 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 43, 50).

Còn đối với tướng sĩ nhà Minh thì:

"Nếu muốn rút quân về nước ta sẽ sửa sang cầu cống, chuẩn bị thuyền bè, thủy lục hai đường, tùy theo ý muốn, bảo đảm đưa ra khỏi bờ cõi không phải lo gì"3 (Nguyễn Trãi, Quân trung từ mệnh tập, tr. 43, 50).


Việc kết hợp chặt chẽ tác chiến và địch vận đã làm cho tổ tiên ta phát huy được sức mạnh chính trị của mình, tiết kiệm được xương máu, giành được thắng lợi to lớn trong chiến tranh.

Kết quả là "thành giặc các nơi, mũi nhọn không dính máu mà tự mở. Hàng vạn quân ngụy ra hàng, rất nhiều người đã tham gia hàng ngũ nghĩa quân, giúp cho quân đội phát triển nhanh. Hàng vạn quân Minh đã mở của thành, dâng thành cho nghĩa quân, có những tướng lĩnh đã đứng hẳn về phía chính nghĩa giúp quân và dân ta trong công tác vận động thuyết phục các tướng lĩnh Minh khác cũng như giúp nghĩa quân tin tức quân sự và cách chế tạo chiến cụ để đánh bại quân Minh.


Ở những thời khác, tuy công tác địch vận chưa được tiến hành một cách đầy đủ như thời Lê, nhưng ít nhiều cũng đã có những tác dụng nhất định trong việc làm tan rã tinh thần chiến đấu của quân xâm lược (thời Lý, Trần và Nguyễn Huệ, v.v...).


Trước Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo cũng đă có chủ trương đánh bằng địch vận - nhưng chưa coi trọng như Nguyễn Trãi, chưa thành một vấn đề chiến lược như trong thời Nguyễn Trãi. Trần Hưng Đạo cũng đã biết lợi dụng mâu thuẫn giữa người Hán với người Mông Cổ trong quân Nguyên mà lôi kéo những tướng sĩ người dân tộc Hán trong quân đội nhà Nguyên.


Một vụ điển hinh là vụ Triệu Trung, một tướng người Hán trong quân Nguyên đã ra hàng quân ta và tham gia đạo quân Trần Nhật Duật, đã góp phần đánh tan đoàn quân tiên phong của đạo quân Toa Đô tại trận Hàm Tử năm 1285.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #191 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 08:36:56 am »

C- ĐẤU TRANH VŨ TRANG VÀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO

Để dựng nước và giữ nước, để giành và giữ nền độc lập dân tộc, nhìn chung cả quá trình mấy nghìn năm lịch sử, nhân dân ta trước kẻ thù hung bạo, dùng vũ lực đặt ách thống trị, đã không đi trệch con đường đúng đắn duy nhất đã chọn: con đường cầm vũ khí đấu tranh quyết liệt một mất một còn với địch. Chưa đạt tới mục đích độc lập dân tộc, chưa thực hiện quyền làm chủ hoàn toàn đất nước mình thì tổ tiên ta quyết nắm chắc vũ khí trong tay, quyết đánh quyết thắng. Chính đi theo con đường đó, mà tổ tiên ta đã sáng tạo một nghệ thuật chỉ đạo đúng đắn, một nghệ thuật biết khởi sự và giỏi tiến hành chiến tranh đồng thời biết kết thúc chiến tranh và giữ vững thắng lợi của chiến tranh đó một cách có lợi nhất cho đất nước, dân tộc, một khi mà các mục tiêu cơ bản của chiến tranh đã đạt được. Đó là nghệ thuật giành, giữ vững, củng cố quyền làm chủ đất nước của một dân tộc kiên cường bất khuất, người không đông, quân đội không nhiều, đất nước không rộng, mà phải chiến thắng những quân đội xâm lược của một nước phong kiến lớn mạnh.


1. Trong các cuộc chiến tranh, dân tộc ta đã kiên quyết đánh những đòn rất mạnh, tiêu diệt những lực lượng rất quan trọng của địch, thậm chí nhiều khi tiêu diệt toàn bộ đoàn quân xâm lược trên đất nước ta, đánh bại ý chí xâm lược của chúng, do đó mà quét sạch quân địch khỏi bờ cõi, giành lấy độc lập dân tộc.

Thường xuyên đương đầu với một nước phong kiến lớn mạnh xâm lược, tổ tiên ta đã chiến đấu rất quyết liệt, đánh bại ý chí xâm lược của chúng bằng cách liên tục và triệt để tiêu diệt địch trên đất nước ta, khiến cho kẻ địch lớn mạnh phải chịu khuất phục, tuy còn khả năng nhưng ý chí xâm lược đã tan rã khiến không những bọn quan quân, tướng sĩ đã từng tiến vào nước ta khiếp vía, run sợ, mà ngay cả bọn cầm đầu triều đình ở chính quốc cũng phải chịu thua.


Hai lần quân Tống xâm lược là hai lần quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt đánh cho chúng không còn chỗ đứng chân trên đất nước ta; chỉ đến mức đó thì nhà Tống mới chịu thua hẳn. Ba lần quân và dân ta thời Trần đã tiêu diệt trên dưới chín mươi vạn quân Nguyên thì đế quốc Đại Nguyên mới chịu "bãi binh". Phải sau 10 năm đọ sức quyết liệt với nhà Minh tiêu diệt và làm tan rã trên nửa triệu quân Minh, vua Minh mới buộc phải ra lệnh "rút quân về nước". Nguyễn Huệ chỉ có tiêu diệt trong một trận thần tốc hai mươi vạn quân Thanh, mới khiến cho triều đình Thanh vứt bỏ mộng tưởng thống trị nước ta.


Để đạt tới mục tiêu quét sạch địch ra khỏi nước ta, đập tan ý chí xâm lược của chúng, tổ tiên ta tùy hoàn cảnh cụ thể đã dùng hai cách: hoặc là tiêu diệt toàn bộ quân địch, thu hồi toàn bộ đất đai của ta (thời Trần, thời Nguyễn Huệ); hoặc là trong những điều kiện nhất định, tiêu diệt đại bộ phận, đặc biệt là tiêu diệt những đạo quân chủ lực tinh nhuệ nhất, xương sống của đoàn quân xâm lược, đặt bộ phận còn lại vào nguy cơ bị tiêu diệt, rồi hạ tối hậu thư cho chúng phải nhanh chóng lui quân (thời Lý, thời Lê); địch rút đến đâu ta tiến đến đó (thời Lý, thời Lê); đối với bọn ngoan cố chống cự lại thì quyết tiêu diệt cho đến khi thu hồi toàn bộ đất đai (thời Lý).

   "Chúng đã sợ chết xin hòa, thực thà cầu sống;
   Ta muốn toàn quân làm cốt, ngơi nghỉ cùng dân".

Điều đáng chú ý là, khi cho phép một bộ phận địch còn lại rút khỏi nước ta, tổ tiên ta không những nhằm mục tiêu trước mắt của cuộc chiến tranh đang tiến hành, mà còn nhằm vào lợi ích lâu dài của dân tộc, như Nguyễn Trãi đã viết:

"Thần vũ không giết, đức lớn hiếu sinh. Nghĩ đến kế lâu dài của nước nhà, tha ngay 10 vạn hàng binh".


2. Tổ tiên ta đã biết khéo léo kết hợp đấu tranh vũ trang rất kiên quyết với đấu tranh ngoại giao rất mềm dẻo, sau khi đã giành được thắng lợi to lớn quyết định trên chiến trường, sau khi quân địch bị thất bại nặng nề mà thực chịu thua, nhằm củng cố và mở rộng thành quả đấu tranh.

Trong những cuộc chiến tranh thắng lợi, vấn đề "đánh" và "đàm" đã được tổ tiên ta nhận thức một cách đúng đắn và giải quyết một cách đúng đắn và sáng tạo. Luôn luôn sẵn sàng đánh, đánh đến thắng lợi hoàn toàn, đánh hết trận này, đánh xong với kẻ thù này lại chuẩn bị đánh trận khác, đánh kẻ thù khác nêu chúng dám xâm lược. Đó là quan điểm chiến lược nhất quán của dân tộc ta. Mặt khác, tổ tiên ta cũng tỏ ra mình hiểu người, biết dùng biện pháp đàm phán kết hợp được tính cứng rắn về nguyên tắc và tính mềm dẻo về sách lược, để củng cố và mở rộng thành quả của đấu tranh vũ trang.


Có đánh có đàm, trên cơ sở đánh thắng oanh liệt mà chủ động đẩy mạnh hoạt động ngoại giao khôn khéo, điều đó đã được thể hiện trong những cuộc chiến đấu nói trên. Kinh nghiệm lịch sử của tổ tiên chúng tỏ phải có những chiến thắng oanh liệt, những trận đánh tiêu diệt lớn thật vang dội, cổ vũ đến cao độ nhiệt tình yêu nước của nhân dân ta, khiến toàn quân toàn dân dốc sức đánh bại hoàn toàn quân địch, mà địch thì suy sụp tinh thần chiến đấu, không thể không chịu thua trước thảm họa quân sự của chúng, đó là thời cơ có lợi để tổ tiên ta tiến hành ngoại giao với địch. Tùy theo so sánh lực lượng giữa ta và địch trong từng triều đại, tổ tiên ta đã biết áp dụng hai cách vừa đánh vừa đàm và đánh thắng rồi đàm.


Sau chiến thắng của trận phản công trên sông Cầu tiêu diệt phần lớn chủ lực tinh nhuệ của quân Tống, tuy quân địch còn trên đất nước ta, Lý Thường Kiệt đã chủ động phái người sang gặp tướng chỉ huy quân xâm lược để đặt điều kiện lập lại hòa bình giữa hai nước: Quân Tống rút lui toàn bộ khởi đất nước ta. Quách Quỳ - tướng chỉ huy quân Tống - lúc đó chỉ có thể chọn một trong hai con đường: hoặc tiếp tục đánh thì nhất định bị tiêu diệt hoàn toàn, hoặc nhận điều kiện rút quân thì bảo tồn được bộ phận sinh lực còn lại, giữ được tính mạng của bản thân. Trong điều kiện nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn là rõ ràng, khẩn cấp, Quách Quỳ đã chọn con đường thứ hai, lập tức rút quân, ngay trước khi triều đình Tống ra lệnh bãi binh. Thời Lê, trong mười năm chiến tranh giải phóng, đã có nhiều lần vừa đánh vừa đàm như vậy. Như sau lần đánh bại cuộc tiến công càn quét của 10 vạn quân Minh ở vùng huyện Khôi nhằm tranh thủ thời gian để củng cố lực lượng chuẩn bị tiếp tục đánh, hai bên đã đàm phán đi tới tạm hòa hoãn trong hai năm. Sau chiến thắng vang dội Chi Lăng - Xương Giang, đập tan cố gắng cao nhất cuối cùng của nhà Minh, Lê Lợi - Nguyễn Trãi lại tiếp tục đàm phán với Vương Thông, buộc 10 vạn quân địch còn lại phải đầu hàng và được phép rút quân về nước, trước khi vua Minh có lệnh bãi binh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #192 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 08:43:47 am »

Còn thời Trần, thời Nguyễn Huệ, chỉ sau khi đã giành thắng lợi hoàn toàn bằng những chiến công hiển hách, tiêu diệt gần hoàn toàn quân xâm lược, nhà Trần và Nguyễn Huệ mới chủ động tiến hành hoạt động ngoại giao với các triều đình Nguyên và Thanh.


Như trên đã nêu, dù vừa đánh vừa đàm, hay là đánh rồi đàm, tổ tiên ta tỏ ra nắm vững quan hệ giữa giành thắng lợi quyết định trên chiến trường nước ta và củng cố, mở rộng thắng lợi đó bằng hoạt động ngoại giao. Đó là biểu hiện của sự kết hợp đúng đắn giữa ý chí kiên cường bất khuất và nhãn quan trông xa thấy rộng, có lòng căm thù sâu sắc quân địch, lại biết đánh giá đúng sức mình, sức người. Nhà sử học Phan Huy Chú đã bình luận như sau về mối quan hệ giữa chiến thắng quyết định và hoạt động ngoại giao thời Lý:

   "Việc biên giới ở đời Lý được trả lại đất rất nhiều.

Bởi vì, trước thì có oai thắng trận, người trung châu (ý chỉ đoàn quân Tống xâm lược nước ta - T.G.) hoảng sợ, đủ làm cho nhà Tống phải phục, sau thì sứ thần bàn bạc, lời lẽ thung dung càng thêm khéo léo. Cho nên cần gì được nấy, làm cho lời tranh biện của người phương Bắc phải khuất, mà thế lực của Nam Giao được mạnh. Xem đó cũng có thể biết qua thế cường thịnh của thời bấy giờ"1 (Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Bang giao chí, tập IV, bản dịch, tr. 196) (chúng tôi nhấn mạnh * T.G).


Cho nên biện pháp ngoại giao không phải được thực hiện với tinh thần sợ hãi quân địch lớn mạnh hơn mình, mà với thế của kẻ chiến thắng, của một nước đã đánh bại quân thù xâm lược.

Tinh thần trên thể hiện rõ trong lời của Nguyễn Trãi nói với Lê Lợi và các tướng lĩnh của nghĩa quân sau khi tiêu diệt viện binh địch tại Chi Lăng - Xương Giang: "Tình hình quân giặc trong lúc này, mình phá vào sào huyệt ăn gan uống máu để rửa mối thù sâu không phải là một sự khó khăn. Nhưng thần trộm e, như vậy sẽ kết mối thù với triều Minh quá sâu. Vì sự trả thù, vì sự vớt lấy thể diện của một nước lớn, Minh chúa tất lại phái binh sang, như thế cái vạ binh đao biết đến bao giờ cho dứt được. Chi bằng ta nên thừa lúc này, kẻ thù lâm vào thế cùng mà cùng họ hòa hiếu để tạo phúc cho cả sinh linh hai nước"2 (Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn trích dẫn trong Khởi nghĩa Lam Sơn và phong trào giải phóng đất nước vào đầu thế kỳ XV, Nxb Khoa học, H. 1969, tr. 240).


Với nội dung bảo đảm giành độc lập hoàn toàn của dân tộc, hoạt động ngoại giao đó đã được tiến hành dưới nhiều hình thức nhằm buộc địch chịu thua mà không "mất mặt", như: tạo điều kiện cho quân bại trận rút về, chịu phong vương, nhận triều công, nhận trao trả tù binh, v.v... để đặt lại quan hệ bình thường giữa hai nước.


Trên cơ sở của cái "oai thắng trận", cuộc đấu tranh về mặt ngoại giao giữa ta và địch vẫn không kém phần gay go quyết liệt, có lúc rất căng thẳng. Như nhà Trần đã kiên quyết bác bỏ toàn bộ 6 điều của nhà Nguyên, tuy rằng trong cuộc đấu tranh ngoại giao đó, phía bên Nguyên đã rút lui từng bước, rút bỏ một số điều kiện, cho đến lúc cuối cùng phải bỏ hẳn các điều kiện xâm phạm chủ quyền nước ta.


Trong nhiều trường hợp (thời Lý, thời Tây Sơn), cuộc đấu tranh ngoại giao mang tính chất một cuộc tiến công tích cực để khuếch trương chiến quả của đấu tranh vũ trang, tiêu biểu là cuộc đấu tranh thời Lý buộc Tống phải thừa nhận Đại Việt là một nước riêng biệt, chứ không phải làm một quận, cũng không phải là một chư hầu của Tông; thừa nhận vua nước Đại Việt là quốc vương chứ không phải là "Giao Chỉ quận vương".


Điêu đáng chú ý là tổ tiên ta không hề có ảo tưởng đối với "thiện chí" của quân xâm lược, chưa triệt để đánh bại chúng thì chưa có thể có độc lập dân tộc. Sau năm năm chiến tranh, Lê Lợi tạm hòa hoãn với quân Minh chỉ là để chuẩn bị tiếp tục chiến đấu quyết liệt hơn. Đến năm thứ mười của cuộc chiến tranh, khi 8 vạn quân của Thôi Tụ, Hoàng Phúc bị quân ta vây hãm ở Xương Giang có ý trá hàng, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã không chấp nhận mà kiên quyết tiêu diệt chúng toàn bộ. Có như vậy mới có điều kiện buộc quân Vương Thông ở Đông Quan phải thực sự đầu hàng. Các triều đại chỉ đặt quan hệ bình thường với quân địch sau khi đã hoàn toàn đánh bại các cuộc xâm lược của chúng.


Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh xuất sắc của dân tộc ta với nội dung hết sức phong phú và sáng tạo đã góp phần rất to lớn để đưa những cuộc chiến tranh tự vệ và giải phóng của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #193 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 09:06:52 am »

IV. TRUYỀN THỐNG VẺ VANG, DI SẢN QUÝ BÁU

A- Trải qua hàng ngàn năm đấu tranh liên tục để giành tự do và độc lập, dân tộc ta đã xây dựng và hun đúc cho mình một truyến thống vô cùng vẻ vang và oanh liệt.

Đó là lòng yêu nước và yêu tự do, dân tộc ta đã xây dựng được cho mình một tinh thần, ý chí đấu tranh bền bỉ, kiên cường, bất khuất và tin tưởng vào thắng lợi.

Muốn đấu tranh thắng lợi, cần phải có sự đoàn kết của toàn dân. Trước nạn nước, thù nhà, nhân dân ta, tất cả cùng một chí hướng, nguyện vọng, đều nhất tề đứng dậy, tạo nên một sức mạnh phi thường đủ sức đánh bại tất cả những kẻ thù xâm lược hung bạo nhất trong lịch sử.


Từ đời này qua đời khác, từ cuộc đấu tranh này qua cuộc đấu tranh khác, truyền thống đó luôn luôn được phát huy, được hun đúc tinh xảo hơn, lại càng thêm rực rỡ.

Ở thời đại ngày nay, trong ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học, Hồ Chủ tịch là người kế thừa và phát huy truyền thống, phát huy tinh hoa của dân tộc một cách nhuần nhuyễn, tốt đẹp và chân chính nhất.


B- Truyền thống của dân tộc ta là truyền thống đấu tranh giành thắng lợi.

Vì thế mà nó có rất nhiều điều quý, có nhiều cái cao đẹp.

Đấu tranh xã hội, đấu tranh giai cấp là một loại đấu tranh rất quyết liệt.

Đấu tranh vũ trang là một cuộc đấu tranh quyết liệt nhất trong đấu tranh giai cấp.

Dân tộc ta, từ đời này sang đời khác luôn luôn trường kỳ, liên tục, tiến hành đấu tranh vũ trang chống những kẻ thù xâm lược thường lớn mạnh hơn mình; và phần lớn các cuộc đấu tranh vũ trang đó đều giành được thắng lợi vẻ vang.


Dân tộc ta phải rất kiên cường và tài giỏi lắm mới làm như thế được.

Trong những chiến thắng oanh liệt đó, có biết bao nhiêu cái tài, cái giỏi, cái hay, cái đẹp.

Chúng ta phải khám phá ra, kế thừa và phát huy lên cao hơn nữa. Dân tộc ta phải phát triển toàn diện, giỏi toàn diện thì mới đạt tới những đỉnh cao của tất cả những thắng lợi đó; tức là phải giỏi cả về chính trị, kinh tế, quân sự, văn học, triết học, v.v...


Về quân sự, từ đời này sang đời khác, từ cuộc đấu tranh này sang cuộc đấu tranh khác, tổ tiên ta đã từng bước hoàn chỉnh dần và nâng cao dần nghệ thuật quân sự; đến thời đại Quang Trung thì nền nghệ thuật quân sự thời cổ Việt Nam đã được hoàn chỉnh và có trình độ tương đối cao.


Bắt đầu từ Hai Bà Trưng, ta có khởi nghĩa vũ trang giành thắng lợi bằng một cuộc tổng khởi nghĩa, đồng thời trong cả nước, từ địa phương đến trung ương, nhanh chóng tiêu diệt quân thù, đập tan bộ máy thống trị của địch, lập nên chính quyền của ta.


Đến Triệu Quang Phục, ta đã đánh du kích, rồi tiến lên đánh tập trung và cuối cùng giành được thắng lợi. Đến các đời sau này, từ đời Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, đến Trần Hưng Đạo, Lê Lợi - Nguyễn Trãi lại phát triển lên đánh tập trung, đánh vận động với thế trận chiến dịch, chiến lược rất tài giỏi và khi cần thiết cũng có đánh công thành, đánh trận địa.


Đến Quang Trung thì nghệ thuật quân sự Việt Nam lại được nâng cao lên một bước mới và hoàn chỉnh nghệ thuật quân sự Việt Nam thời cổ.

Đó là nghệ thuật đánh công thành, đánh trận địa.

Về chiến dịch và chiến thuật thì đánh công thành, đánh trận địa là chủ yếu nhưng về chiến lược thì Quang Trung đã vận dụng một chiến lược cơ động rất cao.

Sức đột phá trong tiến công rất mạnh kết hợp với nghệ thuật bao vây vu hồi chiến dịch và chiến lược rất tài tình.

Đặc điểm của mỗi cuộc chiến tranh của từng thời đại như sau:

1. Nét đặc sắc của cuộc nổi dậy thời Hai Bà Trưng là sức mạnh lớn lao của cuộc tổng nổi dậy vũ trang đồng thời của toàn dân ở khắp miền đất nước, quật ngã quân thù cùng một lúc ở khắp cả mọi nơi, đập tan ngay chính quyền thống trị trung ương, làm quân địch trở tay không kịp. Đòn quyết định do Hai Bà lãnh đạo, chỉ huy là diệt ngay cái đầu "rắn", diệt ngay sào huyệt lớn nhất của quân thù, vì thế mà đã giành được thắng lợi hoàn toàn và nhanh chóng.

2. Nét đặc sắc của Lý Thường Kiệt là tư tưởng tiến công rất cao. Ông luôn luôn chủ động, tích cực, liên tục tiến công kẻ thù; đánh phủ đầu quân xâm lược khi chúng chưa kịp hành động và dù trong thế bị kẻ thù tiến công, ông cũng quyết liệt phản công lại kẻ thù một cách nhanh chóng.

3. Nét đặc sắc của Trần Hưng Đạo là biết phân tán, làm mệt mỏi quân thù lớn mạnh, đưa chúng vào thế khốn quẫn, rồi thực hành phản công.

Trần Hưng Đạo biết rõ sức mạnh của toàn dân và phát động được nhân dân đứng lên chiến đấu. Ông giỏi chỉ huy các binh đoàn lớn đánh vận động.

Trong tác chiến vận động, Trần Hưng Đạo đã tổ chức được những chiến dịch phục kích quy mô và liên hoàn, diệt đạo quân lớn của quân xâm lược và giành được thắng lợi quyết định.

Ông có sở trường về sử dụng thê đội hai chiến lược. Sau khi thê đội một chiến lược đã tiêu diệt được một bộ phận sinh lực quan trọng của quân địch, ông liền tung thê đội hai chiến lược ra đánh đòn quyết định, dứt điểm về chiến lược, thực hiện được tiêu diệt chiến lược và giành được thắng lợi chiến tranh. Trận Chương Dương và trận Bạch Đằng là những trận chiến nổi tiếng trong lịch sử.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #194 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 09:07:56 am »

4. Nét đặc sắc của Lê Lợi - Nguyễn Trãi là biết rõ sức mạnh của nhân dân, và có lòng tin vào sức mạnh đó. Cho nên Lê Lợi - Nguyễn Trãi biết phát động nhân dân đứng lên khởi nghĩa. Hai ông giỏi về đánh du kích, rồi từ du kích tiến lên đánh tập trung.

Tác chiến tập trung là đánh vận động.

Đặc điểm của đánh vận động thời Hậu Lê này là có nhiều mưu trí, biết chọn mục tiêu, đối tượng tiến công thích hợp để giành thắng lợi.

Trong cuộc chiến tranh có nhiều trận hay.

Thế trận chiến lược hay nhất, tài giỏi nhất là thế trận chiến lược của đòn quyết chiến cuối cùng tiêu diệt đạo quân chủ lực của quân địch do Liễu Thăng chỉ huy ở Chi Lăng.

Thời kỳ này, bộ tham mưu của Lê Lợi đã tổ chức được các tập đoàn chiến lược khác nhau để bao vây chia cắt chiến lược thế trận của quân thù, đã phân tích chính xác các đối tượng tiến công và biết thực hành các cách đánh khác nhau đối với từng đối tượng và biết tập trung tập đoàn chiến lược mạnh nhất và tập trung mọi sự nỗ lực vào tiêu diệt tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân thù, được sự hiệp đồng toàn diện của cả chiến trường để tiêu diệt gọn tập đoàn chiến lược chủ yếu đó giành thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến lâu dài vĩ đại. Thế trận chiến lược của cuộc quyết chiến cuối này là một thế trận chiến lược có danh tiếng trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta và cũng là một thế trận chiến lược hay trong lịch sử chiến tranh thế giới.


Thế trận chiến lược này tuy quy mô có khác nhưng có thể so sánh được với thế trận chiến lược của mũi vu hồi chiến lược của Hàn Tín, bắt đầu bằng trận chiến lừng danh "Bối Thủy trận" ở trên bờ sông Miên Man, đánh bại đại tướng Trần Dư, bắt sống quân sư Lý Tà Xa và toàn bộ vua quan nhà Triệu, giành đòn thắng lợi đầu tiên và rất quyết định tạo ra điều kiện và thời cơ thuận lợi cho việc phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng mũi vu hồi chiến lược ở mặt chính của Lưu Bang.


Còn so với chiến dịch Can của Ha-ni-ban thì quy mô chiến cục mùa đông 1427 của Lê Lợi - Nguyễn Trãi to rộng hơn và có phần phức tạp hơn.

Đối với việc nghiên cứu lịch sử, chúng ta hiểu biết rằng mỗi sự kiện lịch sử phát sinh và phát triển đều có những điều kiện khác nhau, cho nên mỗi sự kiện lịch sử chiến tranh đều có những đặc điểm, những cái hay và những cái độc đáo riêng của nó.

Cuộc chiến tranh do Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo là một cuộc chiến tranh có nhiều tính chất nhân dân.


5. Đặc tài của Quang Trung là có tư tưởng tiến công cao, tiến công rất kiên quyết và có tư tưởng tiêu diệt chiến cao.

Quang Trung giỏi về đánh công thành, đánh mạnh, đánh chớp nhoáng, giỏi cơ động các binh đoàn lớn một cách thần tốc.

Quang Trung có tài về đột phá, đồng thời cũng giỏi về nghệ thuật bao vây vu hồi. Sức đột phá trong tiến công rất mạnh, đồng thời kết hợp được với bao vây vu hồi rộng rãi, nhiều tầng và chặt chẽ. Quang Trung thường tổ chức các chiến dịch đánh công thành lớn. Các chiến dịch đó là những đòn tiến công chiến lược chủ yếu của Quang Trung và đều thành công, giành được thắng lợi quyết định.


Do trình độ đánh công thành khá, tinh thần tiến công kiên quyết, có sức đột phá mạnh, nên Quang Trung thường chỉ dùng một thê đội chiến lược để thực hành tiến công chiến lược, quyết chiến chiến lược và đi đến tiêu diệt chiến lược quyết định, giành thắng lợi cho chiến tranh. Trong lịch sử chiến tranh, Quang Trung thường chỉ thực hành một trận quyết chiến chiến lược là giải quyết được chiến tranh, giành được thắng lợi hoàn toàn.


Trận phản công đánh vào Thăng Long là một trận có danh tiếng trong lịch sử.

Sở dĩ Quang Trung chỉ thực hành một trận quyết chiến chiến lược cũng giành được thắng lợi chiến tranh là do ông đã đánh thắng được ngay vào sào huyệt trung ương, sào huyệt cuối cùng của kẻ thù, diệt được ngay bộ tổng chỉ huy của quân địch, cùng với tập đoàn chiến lược chủ yếu của nó.


Qua tất cả quá trình của các cuộc chiến tranh chống xâm lược và chiến tranh giải phóng trong lịch sử đấu tranh vũ trang lâu dài của dân tộc ta, nghệ thuật quân sự Việt Nam thời cổ đã hình thành từng bước, đã dần dần hoàn chỉnh và đã phát triển tới một trình độ khá cao, và đã có thể gọi là hoàn chỉnh.


Quá trình hình thành, phát triển và hoàn chỉnh của nghệ thuật quân sự đó như sau:

Khởi nghĩa vũ trang bằng tổng khởi nghĩa vũ trang, bằng đồng khởi trong cả nước từ địa phương đến trung ương.

Đánh du kích đến đánh tập trung. Đánh vận động là chủ yếu kết hợp với đánh công thành, đánh trận địa. Đánh thành là chủ yếu kết hợp với đánh vận động.

Tổng hợp tất cả các cuộc chiến tranh trên đây, chúng ta thấy rằng tất cả các phương thức chiến tranh, tất cả các hình thức tác chiến đều đã diễn ra trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta và có thứ đã phát triển tới trình độ cao.


Những điều này chứng tỏ nghệ thuật quân sự của dân tộc ta đã được hoàn chỉnh và phát triển tới trình độ cao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #195 vào lúc: 14 Tháng Tám, 2023, 09:10:52 am »

C- Có đường lối chính trị, đường lối cứu nước đúng đắn, có nghệ thuật quân sự tài giỏi, lãnh đạo chiến tranh thắng lợi. Nước Việt Nam ta không những đã có nhân dân anh hùng mà còn có những nhà lãnh đạo tài giỏi, có nhiều nhân tài, hào kiệt, có những người rất xuất sắc, có cả nam và nữ, v.v...

Chiến tranh là một cuộc đấu tranh tổng hợp của cả một xã hội, một quốc gia về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn học, v.v...

Nhân tố giành thắng lợi trong chiến tranh cũng là những nhân tố tổng hợp, mà đấu tranh vũ trang - quân sự chỉ là một biểu hiện cụ thể, tập trung nhất. Những lãnh tụ quân sự cũng thường là những lãnh tụ chính trị và những lãnh tụ chính trị cũng thường là những người chỉ huy, chỉ đạo cả quân sự:


Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung cũng đều là nhu thế cả.

Đường lối chính trị, quân sự đúng đắn là do có lập trường, ý chí vững vàng, kiên định. Ngoài ra lại có nhận thức đúng đối với chiến tranh, biết phân tích chiến tranh một cách khoa học.

Trong sự thành công và thắng lợi của chiến tranh đều có chứa đựng những nhân tố như trên, nhất là trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, một nước nhỏ đánh thắng một nước lớn thì những nhân tố đó lại càng phong phú. Những người chỉ huy quân sự và những nhà lãnh đạo chiến tranh tài giỏi đều là những người có chuẩn bị được cho mình những nhân tố trên, biết nắm vững những nhân tố trên.


Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi là những người biết nắm vững những nhân tố đó một cách xuất sắc, mà Nguyễn Trãi là người xuất sắc nhất.

Nguyễn Trãi là một người lãnh đạo chiến tranh một cách rất tự giác, vì Nguyễn Trãi đã nắm vững được quy luật của chiến tranh.

Nguyễn Trãi không những có lập trường và ý chí vững vàng, kiên định, có quyết tâm cao mà còn phân tích chiến tranh một cách khoa học; do đó mà chỉ đạo chiến tranh một cách đúng đắn và đi đến thắng lợi.


Trong vườn hoa nhân tài của dân tộc ta, không những chúng ta có rất nhiều nhà chính trị, quân sự, văn học lỗi lạc, thiên tài, mà chúng ta còn có những nhà tư tưởng vĩ đại. Trong các nhà tư tưởng vĩ đại đó ở các thời kỳ lịch sử trung cổ đại của dân tộc ta thì Nguyễn Trãi là một nhà tư tưởng vĩ đại nhất, tiến bộ nhất.


Nguyễn Trãi đã có tư tưởng biện chứng trong việc nhận thức, phân tích chiến tranh và chỉ đạo chiến tranh.

Cái cốt tủy tinh túy trong tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi là nhìn nhận hai mặt tư tưởng của sự vật và nhìn nhận sự biến hóa của sự vật trải qua một quá trình đấu tranh. Cao hơn một bước, ông còn cho rằng ý chí của con người là nhân tố quan trọng trong việc làm thay đổi sự vật.


Tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi không phải chỉ có phát triển đến đó mà ông còn nhận thấy điều kiện cụ thể của sự vật.

Do đó mà sự chỉ đạo chiến tranh của Nguyễn Trãi không những chỉ có chính xác mà còn rất linh hoạt.

Trong đấu tranh giai cấp, cũng như đấu tranh sản xuất, từ ngàn xưa, trải qua đời này đến đời khác, mặc dù thô sơ và tự phát, tổ tiên ta ít nhiều đã có quan điểm duy vật và tư tưởng biện chứng.

Nguyễn Trãi chính cũng là tiếp thu kinh nghiệm và tinh hoa đó và phát triển lên thêm trong đấu tranh thực tế của xã hội và bản thân mình. Nguyễn Trãi đã có trình độ tổng hợp và khái quát cao hơn các nhà tư tưởng trước kia.


Do đó mà quan điểm duy vật và tư tưởng biện chứng của ông đã có một trình độ cao hơn và xuyên suốt được vào trong mọi hành động của ông.

Tìm thấy tư tưởng biện chứng thô sơ của Nguyễn Trãi là một phát hiện có giá trị về cả mặt lịch sử và triết học.

Trong tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi phân tích được điều kiện tồn tại và vận động của sự vật là đi sâu thêm vào một khía cạnh trong việc phân tích triết học biện chứng.

Dân tộc ta không những chỉ có những nhà chính trị, quân sự, văn học lỗi lạc thiên tài, mà còn có những nhà tư tưởng vĩ đại, nhà triết học biện chứng.

Qua lịch sử trên, chúng ta thấy rất tự hào về tổ tiên ta, dân tộc ta, một dân tộc anh hùng, tài giỏi, đã phát triển cao về nhiều mặt.

Đó là những di sản rất quý giá. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, phát hiện để làm giàu thêm cho kho tàng lịch sử, kho tàng nghệ thuật quân sự của nước ta, để học tập, vận dụng và phát huy cao hơn, giành lấy thắng lợi to lớn vĩ đại hơn và vẻ vang hơn.


Có thể tóm tắt về những bài học lịch sử như sau:

Tinh thần yêu nước, yêu tự do, độc lập.

Ý chí kiên cường, bất khuất.

Tinh thần đoàn kết và đấu tranh.

Tinh thần đấu tranh bền bỉ, không quản hy sinh, gian khổ. Chí khí anh hùng, dũng cảm và truyền thống anh hùng.

Truyền thống đấu tranh vũ trang chống xâm lược.

Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh tài giỏi, sáng tạo.

Nghệ thuật quân sự cao và hoàn chỉnh.

Đời nào cũng có anh hùng và nhân tài lỗi lạc về các mặt. Sức sống của dân tộc rất mãnh liệt, một dân tộc luôn luôn phát triển và phát triển cao.

Ngày nay, trong ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, và dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc ta sẽ phát triển mạnh mẽ và nhất định sẽ mãi mãi là một dân tộc anh hùng, độc lập, tự do, thống nhất trong chế độ xã hội mới hùng mạnh và tiền tiến.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #196 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2023, 09:59:16 am »

V. MẤY BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ NGHỆ THUẬT CHỈ ĐẠO CHIẾN TRANH

Trong chiến tranh, đường lối chính trị và quân sự là rất cơ bản; nó quyết định việc chỉ đạo chiến tranh và giành thắng lợi trong chiến tranh.

Để thực hiện đường lối, chủ trương chiến tranh, cần có sự chỉ đạo cụ thể về phương pháp và các cách thức để tiến hành chiến tranh. Đó là sự chỉ đạo về nguyên tắc thực hành chiến lược.

Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, sự chỉ đạo về nguyên tắc chiến lược - những vấn đề cụ thể về chiến lược - có rất nhiều cái hay và rất phong phú. Đi sâu tìm tòi, nghiên cứu để tổng hợp, phân tích các loại kinh nghiệm vô cùng phong phú, quý báu của lịch sỏ chiến tranh là một điều cần thiết.


Qua những kinh nghiệm muôn màu muôn vẻ, có thể tìm hiểu quy luật của chiến tranh và giúp cho việc tham khảo để chỉ đạo vào thực tiễn chiến tranh hiện nay. Vấn đề thì rất nhiều, dưới đây chỉ đề xuất một vài vấn đề nhỏ.


1. Vấn đề tiến công và phản công

Tiến công và phản công là vấn đề chủ chốt trong chiến tranh. Vì chỉ có tiến công và phản công mới giành được thắng lợi trong chiến tranh. Nhưng tiến công chiến lược và phản công chiến lược như thế nào? Yêu cầu phải đạt được những gì? Lúc nào, thời cơ nào thì thực hành tiến công và phản công chiến lược? Tiến công và phản công chiến lược lần lượt trên từng hướng chiến lược hay đồng thời trên toàn tuyến? Đó là một nghệ thuật trong chỉ đạo chiến tranh.


Nghiên cứu vấn đề này, cần nắm vững một điểm cơ bản có tính chất bản chất là sự so sánh lực lượng và so sánh về thế và lực của hai bên. Trên cơ sở đó mà nghiên cứu các điều kiện cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh mà vận dụng cho thích hợp.


Bộ chỉ huy chiến tranh phải căn cứ vào tình hình so sánh lực lượng, vào thế và lực giữa hai bên địch, ta trên chiến trường và của cả hai quốc gia mà quyết định một cách linh hoạt và sáng tạo.

Lý Thường Kiệt có thể phản công ngay lập tức ở trên hướng tiến công chủ yếu của địch, đánh ngay vào đạo quân chủ yếu của địch đang thực hành tiến công, là do tình hình so sánh lực lượng giữa hai bên, là do thế và lực giữa hai bên không chênh lệch nhau. Ngoài vấn đề thế và lực ra thì trình độ tác chiến của quân đội và nghệ thuật chỉ đạo của bộ chỉ huy cũng rất quan trọng. Đó là tính năng động chủ quan trong lãnh đạo, chỉ huy và hành động của cán bộ chỉ huy và của chiến sĩ. Quân đội nhà Lý là một quân đội thiện chiến, đã được rèn luyện trong chiến tranh nhiều năm và thường đánh thắng trận. Lý Thường Kiệt lại là một nhà chỉ huy thao lược, có ý chí, có quyết tâm và có tài.


Về nhân dân và tình hình xã hội thì được phát triển và vững mạnh trong một nước độc lập; nhân dân hăng hái, đoàn kết, quyết tâm đánh giặc, giữ nước.

Trong khi đó, bên nhà Tống thì đang có nguy cơ bị xâm lược ở phía bắc. Trước và sau khi quân Tống đánh nước ta thì các nước Liêu, Hạ, Kim đều đánh Tống (1004 Liêu đánh Tống, 1038 Tây Hạ đánh Tống, 1125 Kim đánh Tống). Về nội bộ thì triều đình nhà Tống có nhiều mâu thuẫn, chém giết lẫn nhau giữa phái Vương An Thạch và Lã Huệ Khanh; nền chính trị hủ bại suy đồi, nhân dân có nhiều oán ghét.


Trần Hưng Đạo khi phân tích tình hình thời đại đó cũng đã nói là lúc này nhà Lý có thế lực mạnh (Trần Quốc Tuấn trả lời nhà vua khi bị ốm).

Do sự so sánh lực lượng cụ thể giữa hai bên ở trên chiến trường và tình hình chính trị, kinh tế, quân sự của hai quốc gia cộng với trình độ tác chiến của hai quân đội, sự chỉ huy của hai bộ chỉ huy mà xem xét điều kiện và thời cơ phản công.


Lý Thường Kiệt thực hành phản công sớm và thành công, nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh trong vài ba tháng là do đã có những điều kiện cụ thể, những nhân tố thắng lợi nhanh của cuộc chiến tranh đó.


Đến thời đại Trần Hưng Đạo, việc thực hành phản công chiến lược có khác với Lý Thường Kiệt. Đó là do điều kiện của cuộc chiến tranh của thời nhà Trần có khác với thời nhà Lý.

Một điều kiện giống nhau là nhà Lý và nhà Trần đều đã là một nhà nước độc lập, có nhân dân đoàn kết quyết tâm đánh giặc, giữ nước. Nền kinh tế đã được tổ chức và phát triển. Nền chính trị cũng được tương đối ổn định. Quân đội đã được tổ chức, được huấn luyện tinh nhuệ, đã thành một quân đội chính quy của một nhà nước. Điều kiện khác nhau là đối tượng chiến tranh không giống nhau. Quân nhà Nguyên mạnh hơn quân nhà Tống.


Trước một quân địch mạnh như thế, Trần Hưng Đạo đã không thể phản công nhanh và sớm như Lý Thường Kiệt được. Ông phải rút lui từng bước, xoay chuyển thế trận, nhử địch vào sâu, phân tán quân địch, làm cho địch bị tiêu hao, mệt mỏi, tạo điều kiện để tiêu diệt từng bộ phận quân địch, dần dần thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra thế lợi, thế mạnh cho ta, đưa địch vào thế bất lợi, thế yếu, rồi mới thực hành phản công, tiến hành tiêu diệt chiến lược và quyết chiến chiến lược đi đến giành thắng lợi quyết định và thắng lợi hoàn toàn. Trần Hưng Đạo đã đề ra phương châm lấy "ngắn trị dài", "lấy nhàn trị nhọc".


Trần Hưng Đạo phản công chậm hơn Lý Thường Kiệt mấy tháng, nhìn chung thì cũng là nhanh. Lý Thường Kiệt phản công và giành thắng lợi trong vài tháng. Trần Hưng Đạo phản công và giành thắng lợi trong sáu, bảy tháng.


Đến Quang Trung thì cuộc phản công lại sớm hơn và giành thắng lợi nhanh hơn. Khoảng hai tháng, Quang Trung đã giành được thắng lợi hoàn toàn và triệt để. Cuộc phản công chính vào Thăng Long giành thắng lợi quyết định thì chỉ khoảng một tuần lễ.


So sánh tình hình và lực lượng hai bên thì quân của Quang Trung là một đội quân mạnh, rất tinh nhuệ, đã đánh trăm trận trăm thắng, trình độ đánh công thành giỏi, nghệ thuật đột phá chiến dịch và bao vây vu hồi chiến dịch cao. Nhân dân đoàn kết, quyết tâm, được rèn luyện và có kinh nghiệm, truyền thống đấu tranh vũ trang.


Về quân nhà Thanh là một đội quân xâm lược, tinh thần kém và các mặt đều kém hơn đạo quân chủ lực của Quang Trung, về triều đình nhà Thanh thì ngày càng suy yếu. Đối ngoại thì có nhiều cuộc xung đột, chiến tranh với các nước láng giềng. Trong nước thì nhân dân có nhiều bất mãn. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổi lên. Từ đời Càn Long thứ 35 đến đời Quang Tự thứ 14 (1721-1888) có tới hàng vài chục cuộc khởi nghĩa.


Trong điều kiện nhà nước và quân đội của hai bên như thế nên Quang Trung đã thực hành phản công sớm và giành thắng lợi nhanh chóng.

Trong lịch sử chiến tranh nước ta thì đây là một cuộc phản công mạnh nhất, nhanh nhất, giành thắng lợi nhanh nhất và rất oanh liệt.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #197 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2023, 10:00:24 am »

Bên cạnh những cuộc phản công sớm và giành thắng lợi nhanh thì trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có những cuộc phản công chậm, kéo dài. Đó cũng là do so sánh lực lượng, so sánh thế và lực.

Năm 544, Lý Bôn khởi nghĩa vũ trang thành công, năm 545, nhà Lương lại phái Dương Phiên đem quân sang xâm lược. Lý Bôn và Triệu Quang Phục rút lên núi và về vùng nông thôn đồng bằng để đánh du kích tiếp tục duy trì cuộc kháng chiến. Triệu Quang Phục tiến hành đánh du kích trong vài năm, rồi dần dần phát triển lên đánh tập trung và tới năm 548 (trong 3 năm: 545 đến 548) mới thực hành phản công chiếm lại Long Biên, giải phóng được đất nước.


Cuộc chiến tranh du kích lâu dài của Lê Lợi phải mấy năm sau mới tiến hành phản công cục bộ và cho tới năm 1426, tức là 8 năm sau, mới thực hành phản công chiến lược quyết định và một năm sau, tức 1427, thì giành được thắng lợi hoàn toàn. Trong phản công và tiến công, Lê Lợi không những chỉ phản công và tiến công bằng quân sự, bằng quân chủ lực và quân du kích, mà Lê Lợi còn phản công và tiến công bằng binh vận địch vận.


Trong thời kỳ thực hành phản công chiến lược cục bộ từ Nghệ An, hai đòn phản công quân sự và địch vận đã hỗ trợ nhau và đã thu được thắng lợi. Tướng giặc ở Trà Long (Nghệ An) đã hàng nghĩa quân Lam Sơn.

Đến thời kỳ tổng phản công, đại quân của Lê Lợi đánh ra ngoài Bắc - đánh vào trận địa chủ yếu, trận địa cuối cùng của địch ở vùng xung quanh Đông Đô - thì đòn tiến công địch vận vẫn đi sát đòn tiến công quân sự - hai đòn hỗ trợ nhau và phát huy thắng lợi tốt.


Tổng tư lệnh quân địch là Vương Thông cùng 5 vạn quân đã hàng ở Đông Đô (Hà Nội) và các thành lũy khác cùng đầu hàng hàng loạt.

Trên đây là những cuộc phản công và tiến công có nhiều vẻ khác nhau và đều thành công. Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có cuộc chiến tranh vì phản công quá sớm, đánh tập trung quyết chiến quá sớm nên không thành công.


Sau khi Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang thành công chưa được bao lâu thì lại phải chống lại một cuộc chiến tranh xâm lược mới của nhà Hán do Mã Viện chỉ huy.

Nước ta mới được độc lập, quân đội chưa được tổ chức huấn luyện thành một quân đội mạnh, tinh nhuệ. Trong tình hình đó, đánh tập trung, phân công, quyết chiến ngay là chưa phù hợp. Đó là nguyên nhân làm cho cuộc kháng chiến không thành công.


Trước sự so sánh lực lượng như thế, dân tộc ta đã có cách đánh thích hợp và giành được thắng lợi. Lý Bôn, Triệu Quang Phục đã biết đánh du kích, phân tán địch, tiêu hao, tiêu diệt nhỏ quân địch, giữ gìn, bồi dưỡng, phát triển lực lượng của ta từng bước, dần dần làm thay đổi so sánh lực lượng có lợi cho ta, tạo ra thế mạnh, tạo ra thời cơ, điều kiện để tiến lên đánh tập trung rồi thực hành phản công, đạt được tiêu diệt chiến lược, giành thắng lợi quyết định về chiến lược và tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chủ tịch, cũng đã thực hành đánh du kích rồi tiến lên đánh tập trung, rồi thực hành phản công cục bộ, từng bước, từ Biên Giới đến Điện Biên Phủ và cuối cùng giành được thắng lợi, giải phóng một nửa đất nước. Những cuộc phản công này nằm trong tình hình của một cuộc chiến tranh nhân dân phát triển trong cả nước. Nó được sự hỗ trợ đắc lực của các hướng tiến công và phản công khác trong cà nước của một cuộc chiến tranh nhân dân. Vì thế mà sức mạnh của các cuộc phản công đã được tăng lên gấp bội. Quân địch bị cuộc chiến tranh nhân dân bao vây chia cắt trong cả nước, nên bị suy yếu và căng mỏng. Do đó mà không tập trung được sức mạnh để đối phó có hiệu quả.


Cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước hiện nay của nhân dân ta là một cuộc chiến tranh vĩ đại nhất, phát triển cao nhất và phong phú nhất. Trong một xã hội hiện đại, phát triển cao như ngày nay thì cuộc chiến tranh có rất nhiều yếu tố phức tạp và rất phong phú. Sự vận động của chiến tranh không đơn giản như trước kia. Sự so sánh lực lượng, so sánh thế và lực giữa hai bên cũng có nhiều cái phức tạp; phải tính đến rất nhiều yếu tố. Do đó mà nghệ thuật phản công và tiến công của lực lượng vũ trang nhân dân ta có rất nhiều cái mới, rất phong phú và sáng tạo trong một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển rất cao. Ta tiến hành đồng thời đánh du kích và đánh tập trung, đánh địch cả ở các vùng và các tuyến, tiến hành phản công và tiến công liên tục, ở các quy mô nhỏ, vừa và lớn, trên nhiều hướng khác nhau và đồng loạt, đều khắp trên toàn tuyến cả quân sự và chính trị; kết hợp giữa phản công, tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng; kết hợp giữa phản công, tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng ở chiến trường với sự phản công, tiến công chính trị của nhân dân thế giới và nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược, chống lại bọn cầm quyền hiếu chiến.


Trên đây là sự vận động và phát triển của nghệ thuật phản công và tiến công trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta.

Dân tộc ta đã có một nghệ thuật phản công và tiến công phát triển muôn màu muôn vẻ, tài giỏi và thắng lợi. Sự muôn màu muôn vẻ đó chứng tỏ tổ tiên ta đã biết căn cứ vào điều kiện cụ thể của mỗi cuộc chiến tranh mà vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo. Điều này cũng chứng minh một khía cạnh trong tư tưởng biện chứng của Nguyễn Trãi là "điều kiện tồn tại và vận động của sự vật". Sự vật không ra đời một cách ngẫu nhiên mà phải có điều kiện cụ thể mới xuất hiện được. Cũng cùng một sự vật, ở nơi này, thời gian này nó xuất hiện một cách khác; ở một nơi khác, thời gian khác nó xuất hiện một cách khác. Cho nên việc chỉ đạo chiến tranh phải rất linh hoạt và sáng tạo; không thể rập khuôn máy móc.


Mục đích của phản công và tiến công chiến lược là đánh những đòn tiêu diệt lớn, tiêu diệt chiến dịch và chiến lược, có ý nghĩa về chiến dịch và chiến lược, làm thay đổi sự so sánh lực lượng, thay đổi thế và lực trên chiến trường, làm thay đổi tình thế, tạo ra sự chuyển biến cục diện, tạo ra bước phát triển mới trong chiến tranh, tạo ra những bước ngoặt trong chiến tranh, tạo ra bước ngoặt quyết định, bước phát triển nhảy vọt, giành thắng lợi quyết định và thắng lợi hoàn toàn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #198 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2023, 10:04:35 am »

Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Nguyên lần thứ hai năm 1285, đòn phản công thứ nhất của Trần Hưng Đạo tiêu diệt và đánh tan đạo quân của Toa Đô, phá vỡ một thế trận, một cánh ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ của quân xâm lược nhà Nguyên, làm cho Thoát Hoan bị cô lập ở Thăng Long, lực lượng quân xâm lược bị suy yếu, thế trận không dựa được vào nhau, tinh thần và ý chí bị lung lay. Cuộc phản công đó thắng lợi đã phát triển thế chủ động của quân ta, động viên tinh thần, ý chí của quân dân ta, mở rộng địa bàn chiến lược của quân ta, tạo ra thế đứng có lợi để bao vây Thăng Long. Cuộc phản công đó đã tạo ra sự chuyển biến cục diện, tạo ra điều kiện thuận lợi để thực hành cuộc phản công thứ hai.


Cuộc phản công thứ hai tức cũng là một đòn tiến công chiến lược tiêu diệt đạo quân Thoát Hoan, tập đoàn chiến lược chủ yếu của địch ở giữa Thăng Long và Chương Dương, là một đòn tiêu diệt chiến lược quyết định, giành thắng lợi quyết định rồi tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.


Về hướng tiến hành phản công và đối tượng, mục tiêu tác chiến, Trần Hưng Đạo đã chọn hướng địch sơ hở, chọn đạo quân yếu ở ngoài thành quách mà đánh trước. Những yếu tố trên có thể bảo đảm cho việc chắc thắng. Đạt được thắng lợi bước đầu, tạo được thế lợi rồi thì có thể tiếp tục tiến đánh các đạo quân mạnh hơn, lớn hơn ở những địa bàn chiến lược quan trọng hơn.


Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Minh, Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã thực hành tiến công và phản công từ nhỏ đến lớn, từ tiêu diệt chiến thuật, chiến dịch đến tiêu diệt chiến lược, rồi đến tiêu diệt chiến lược quyết định. Đó cũng là quy luật chung của một cuộc chiến tranh du kích, phát triển từ nhỏ đến lớn, từ đánh du kích tiến lên đánh tập trung. Thời kỳ phản công có ý nghĩa là sau khi đã di chuyển đội quân chủ yếu vào Nghệ An (1424), lập căn cứ địa mới ở đó, nghĩa quân Lam Sơn đã chọn chỗ địch yếu, sơ hở, cô lập; về phía ta thì có nhân dân vững mạnh làm chỗ dựa vững chắc để thực hành những trận phản công có ý nghĩa chiến lược để giành thắng lợi bước đầu làm cơ sở tốt cho các bước phát triển sau.


Phân tích đúng tình hình địch, ta trong so sánh lực lượng, so sánh thời và thế nên sau khoảng một năm mở những cuộc phản công và tiến công liên tiếp, nghĩa quân Lam Sơn đã giành được thắng lợi lớn, toàn diện, giải phóng được Tân Binh (Quảng Bình), Thuận Hóa và đẩy quân địch ở khu vực Nghệ An chuyển hoàn toàn vào thế phòng ngự, co hẹp địa bàn chiếm đóng của địch vào một vùng đồng bằng nhỏ bé. Vùng căn cứ của ta được mở rộng từ Thuận Hóa ra tới Thanh Hóa, lực lượng vũ trang được phát triển nhanh chóng. Đó là những thắng lợi chiến lược rất quan trọng, làm chuyển biến cục diện chiến tranh, tạo ra điều kiện thuận lợi cho nghĩa quân tiến ra Bắc.


Sau khi tiến ra Bắc, đòn phản công đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng về chiến lược là trận tiêu diệt chiến lược trong chiến dịch Chúc Động - Tốt Động, 1426. Trận này nghĩa quân đã tiêu diệt 5 vạn quân trong đạo quân 10 vạn của Vương Thông chiếm đóng khu vực Đông Đô (Hà Nội) và lân cận, đánh quỵ tập đoàn chiến lược chủ yếu của quân xâm lược, buộc địch chuyển sang phòng ngự hoàn toàn về chiến lược trong cả nước, tạo điều kiện cho nghĩa quân tiến lên đánh một đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng, giải phóng đất nước.


Sau thắng lợi chiến dịch Chúc Động - Tốt Động, bộ chỉ huy nghĩa quân thấy rằng thế và lực giữa ta và địch đã có sự chuyển biến về căn bản, quân địch đã suy yếu hẳn. Chủ lực của địch không thể chọi được với chủ lực của ta ở cả ngay hướng chúng còn tương đối mạnh. Còn về quân ta thì đã trưởng thành nhanh chóng, đã lớn mạnh về các mặt, đã là một đội quân thiện chiến. Căn cứ vào tình hình trên, bộ chỉ huy nghĩa quân thấy đã có thời cơ và điều kiện để đánh những đòn quyết chiến chiến lược quyết định.


Thời kỳ giành thắng lợi cuối cùng đã mở ra: Quân ta có thể giao chiến được với đội quân chủ lực của địch và có thể tiêu diệt được đội quân đó. Những nhận định và chủ trương này dẫn tới cuộc quyết chiến chiến lược, tiêu diệt đạo quân cứu viện chủ yếu của quân xâm lược nhà Minh do Liễu Thăng chỉ huy ở Chi Lăng và Xương Giang (Bắc Giang), giành được thắng lợi hoàn toàn cho cuộc chiến tranh giải phóng.


Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Tống và nhà Thanh, Lý Thường Kiệt và Quang Trung lại thực hành phản công vào hướng tiến công chủ yếu của địch, đánh vào ngay đạo quân mạnh nhất của địch, tiêu diệt được đạo quân đó và giành được thắng lợi chiến lược quyết định một cách nhanh chóng. Đó cũng là do sự so sánh lực lượng, sự so sánh về thế và lực giữa hai bên, so sánh về trình độ tác chiến của quân đội và tài chỉ huy của hai bên.


Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh, dựa theo quy luật chung của một cuộc chiến tranh giải phóng phát triển từ đánh du kích tiến lên đánh tập trung, quân đội ta cũng thực hành phản công cục bộ, bắt đầu ở những hướng quân địch yếu, cô lập trước, sau mới đến chỗ quân địch tương đối mạnh và mạnh.


Cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Mỹ ngày nay có nhiều điểm khác với tất cả các cuộc chiến tranh chống xâm lược trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta trước đây. Những điểm khác đó là những điều kiện về nhân dân, về quân đội, về nhà nước, về xã hội, về Đảng lãnh đạo, về tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, về tình hình trong nước ta, trên thế giới và trong nước Mỹ, điều kiện về thời đại, v.v...


Trên cơ sở của những yếu tố đó, mà nghệ thuật tiến công và phản công của lực lượng vũ trang nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược phát triển rất phong phú, sáng tạo, muôn màu muôn vẻ trong một cuộc chiến tranh nhân dân cách mạng phát triển cao, độc đáo của Việt Nam, có nhiều cái mới trong thời đại ngày nay. Ta có thể phản công và tiến công ở các hướng khác nhau, đánh với tất cả mọi đối tượng, mục tiêu, cả quân Mỹ và quân ngụy, cả với những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân Mỹ; đánh ở cả nông thôn và thành thị, đánh ở các hướng khác nhau và có thể đồng loạt trên nhiều hướng, có thể phản công và tiến công ngay từ đầu cuộc chiến tranh và ngày càng phát triển mạnh trong các giai đoạn sau; phản công và tiến công bằng cả quân sự, chính trị, binh vận, địch vận, ngoại giao và hoạt động quốc tế.


Qua những thực tế chiến tranh trên đây, vấn đề chọn hướng, mục tiêu, đối tượng phản công và tiến công cũng có rất nhiều hình vẻ, rất phong phú, linh hoạt.

Đây lại là vấn đề "điều kiện tồn tại và vận động của sự vật".

Tuy một sự vật có nhiều hình vẻ, có chỗ giống nhau và khác nhau. Nhưng sự vật vận động là có quy luật. Quy luật đó là sự vận động của bản chất của sự vật, là điều kiện cụ thể tạo thành sự vật đó. Bản chất của sự vật thế nào, các điều kiện, nhân tố hình thành sự vật như thế nào thì nó sẽ biểu hiện ra đúng như bản chất và điều kiện tồn tại của nó.


Muốn thực hành phản công và tiến công thì phải tổ chức các chiến dịch phản công và tiến công để tiêu diệt quân địch, tiêu diệt các tập đoàn chiến dịch, chiến lược của địch; vừa tiêu diệt lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của địch, vừa phá vỡ thế trận của địch, giành dân, giải phóng đất đai. Nội dung và yêu cầu của phản công và tiến công là phải tiêu diệt được lực lượng lớn của địch, tiêu diệt được tập đoàn chủ yếu của địch và cơ quan chỉ huy cao cấp của địch, chiếm lĩnh được trận địa của địch, giành được dân về ta, giải phóng được đất đai. Có thế phản công và tiến công mới giành được thắng lợi to lớn, thắng lợi quyết định.


Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta, phản công và tiến công có muôn màu, muôn vẻ, rất phong phú, linh hoạt, sáng tạo và đã phát triển tới một trình độ, một nghệ thuật cao.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #199 vào lúc: 24 Tháng Tám, 2023, 10:05:24 am »

2. Vấn đề rút lui và phòng ngự

Trong chiến tranh, có phản công, tiến công và cũng có rút lui và phòng ngự.

Đối với quan điểm cách mạng, quan điểm đấu tranh triệt để thì rút lui và phòng ngự chỉ là tạm thời, là sách lược, là chuẩn bị điều kiện cho phản công và tiến công. Vì phòng ngự là không có thể tiêu diệt được quân địch. Lý Bôn, Triệu Quang Phục rút lui để bảo toàn lực lượng, rồi chuyển sang phản công và tiến công. Trần Hưng Đạo rút lui để nhử địch vào sâu, phân tán quân địch, làm cho địch mệt mỏi, sa vào thế bị bao vây khốn quẫn, rồi chuyển sang phản công và tiến công. Lê Lợi nổi dậy tiến công địch, rồi có lúc phải tạm rút lui sâu vào vùng núi ở phía bác Thanh Hóa, sau lại chuyển sang tiến công. Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm rút lui về núi Tam Điệp, chuẩn bị cho Quang Trung ra phản công chiếm lại Thảng Long.


Trong cuộc chiến tranh chống quân xâm lược Pháp lần thứ hai (1945-1954), quân ta cũng từ các thành thị rút về nông thôn, đồng bằng và rừng núi, rồi chuyển sang phản công và tiến công.

Đó là những cuộc rút lui cần thiết, trước một quân địch còn tạm thời mạnh hơn, mà chưa đủ sức tiêu diệt chúng, ngăn chặn hẳn chúng lại, hoặc đánh bật chúng ra khỏi đất nước. Đứng về mặt hành động chiến lược thì là rút lui. Nhưng về mặt chiến đấu và chiến dịch thì vẫn có tiến công và phản công. Quá trình rút lui vẫn là quá trình chiến đấu tiêu hao và tiêu diệt nhỏ quân địch. Điểm này thể hiện rõ nét nhất là ở cuộc chiến tranh thời nhà Trần và trong cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp lần thứ hai.


Rút lui trong các cuộc chiến tranh này là rút lui tích cực, chứ không phải là rút lui đơn thuần, rút lui một cách tiêu cực. Rút lui là một hình thức khác của việc xoay chuyển thế trận: tìm một thế trận khác có lợi hơn; nhường địch một bước làm giảm sức mạnh của chúng, đưa chúng vào một thế bất lợi hơn để ta chuẩn bị điều kiện tốt hơn rồi mới quyết chiến với địch mà tiêu diệt chúng.


Về phòng ngự thì có phòng ngự trong cuộc chiến tranh thời Lý và thời Trần.

Lý Thường Kiệt đã tổ chức phòng ngự ở sông Như Nguyệt (sông Cầu) và Trần Quang Khải đã tổ chức phòng ngự ở vùng Nghệ An. Hai trận phòng ngự này là phòng ngự tích cực chứ không phải là phòng ngự đơn thuần, phòng ngự tiêu cực, mà Lý Thường Kiệt và Trần Quang Khải đã hoàn thành được nhiệm vụ của phòng ngự là ngăn chặn được quân địch, tiêu hao được quân địch, rồi chuyên sang phản công tiêu diệt quân địch.


Trong lịch sử chiến tranh của dân tộc ta cũng có trận chiến phòng ngự đơn thuần tiêu cực và đi đến thất bại. Đó là trận chiến phòng ngự trận địa tiêu cực của Hồ Quý Ly, dựa vào thành Đa Bang trên bờ phía nam sông Hồng. Kết quả là không thể tiêu diệt được quân địch và cũng không thể chống đối nổi với quân xâm lược nhà Minh và bị thất bại, bị mất nước.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM