Lịch sử Quân sự Việt Nam
Tin tức: Lịch sử quân sự Việt Nam
 
*
Chào Khách. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký. 04 Tháng Ba, 2024, 09:53:08 pm


Đăng nhập với Tên truy nhập, Mật khẩu và thời gian tự động thoát


Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Xuống
  In  
Tác giả Chủ đề: Thượng tướng GS Hoàng Minh Thảo - Tác phẩm giải thưởng Hồ Chí Minh  (Đọc 8554 lần)
0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #70 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2023, 09:35:48 am »

Quân địch từ tiến công phải chuyển sang phòng ngự. Không bỏ lỡ thời cơ, quân ta từ phản công liền nhanh chóng chuyển sang tiến công. Đòn đột kích của quân ta nhằm vào cứ điểm Ngọc Rinh Rua, một cái chốt quan trọng nằm trên tuyến tiền duyên án ngữ vòng ngoài, bảo vệ cho tuyến phòng ngự cơ bản Đắc Tô - Tân Cảnh. Cứ điểm Ngọc Rinh Rua là một căn cứ hỏa lực và cũng là một căn cứ trinh sát điện tử, do một tiểu đoàn quân địch đóng giữ. Quân giải phóng đã tiêu diệt toàn bộ quân địch ở cứ điểm này, tiêu diệt và đánh thiệt hại thêm một số tiểu đoàn thuộc sư đoàn 23 đến cứu viện. Thế là cuộc tiến công của quân đoàn 2 vào vùng ba biên giới để phối hợp với Đường 9 - Nam Lào của địch cũng bị thất bại thảm hại.


Ở miền Đông Nam Bộ và vùng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, trên các khu vực Tây Ninh - Kréc và Lộc Ninh - Xnun, quân địch không còn sức tiến công. Chúng hoàn toàn nằm ở thế phòng ngự. Nắm được chỗ yếu này của địch, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân giải phóng Cam-pu-chia liền mở cuộc tiến công để phối hợp cùng với hướng Đường 9 - Nam Lào.


Quân địch ở vùng biên giới này bị tiến công toàn diện trên tất cả các hướng từ Tây Ninh, Lộc Ninh đến đồn điền cao su Suông, Chúp, Kréc và Xnun. Đây là một tuyến vòng ngoài, mỏng yếu và dễ bị cô lập. Lực lượng dự bị tại chiến trường cũng yếu và không có lực lượng dự bị chiến lược. Do đó, sau một thời gian bị tiến công mạnh và liên tục chúng không có lực lượng ứng cứu nên bị thiệt hại nặng, phải rút khỏi Xnun và một số khu vực. Thế là quân ngụy Sài Gòn ở vùng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia này cũng bị một đòn đau, một thất bại nặng nề, gần giống như đòn thất bại thảm hại ở Đường 9 - Nam Lào. Ở đây chúng không còn đủ sức giữ được trận địa và phải co hẹp địa bàn của chúng lại. Điều đó chứng tỏ một sự thay đổi so sánh lực lượng, một sự chuyển biến về cục diện đã diễn ra ở khu vực này.


Để phối hợp với các đòn tác chiến tập trung của chủ lực Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Quân giải phóng nhân dân Lào và Quân giải phóng Cam-pu-chia, ở vùng đồng bằng miền Trung Trung Bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long, các đơn vị quân ta cũng mở các đợt tác chiến mạnh, diệt được nhiều địch, mở được nhiều mảng giải phóng, giam chân thu hút được một số lớn quân địch tại đó, khiến chúng không thể tập trung được lực lượng để cơ động đi ứng cứu cho Đường 9 - Nam Lào và Xnun, Lộc Ninh. Thất bại của quân ngụy Sài Gòn ở Đường 9 - Nam Lào và ở vùng biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia, Lộc Ninh - Xnun là rất nghiêm trọng. Nó chứng tở sự kém cỏi về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của quân địch.


Ở Đường 9 - Nam Lào, quân địch bị thất bại trong tiến công. Ở Lộc Ninh - Xnun, chúng bị thất bại trong phòng ngự. Thất bại của địch không phải xảy ra trong một cuộc tiến công nhỏ, tiến công thường mà là một cuộc phản công lớn có ý nghĩa chiến lược, với mục đích kiên quyết chiếm lĩnh lãnh thổ của đôĩ phương, phá hủy cơ sở vật chất, hậu cần của đối phương, cắt đứt đường vận chuyển chiến lược của đối phương làm cho đối phương bị kiệt quệ rồi chết dần chết mòn. Muc đích lớn và hiểm ác đó hoàn toàn bị thất bại.

Vậy nguyên nhân gì đã đưa quân địch đến sự thất bại?

Trước hết, về mặt chiến lược, quân địch chọn mục tiêu tiến công vào tuyến tiếp tế chiến lược của đối phương là một đòn đánh hiểm, nhưng tham vọng của chúng quá lớn. Quân địch chọn hướng phản công chiến lược vào một nơi mà đối phương rất mạnh. Đó là một sai lầm về chiến lược.


Về mặt chiến dịch, chúng đã thiếu phần thận trọng và phạm phải tính chủ quan. Ỷ vào số quân đông, vào hỏa lực mạnh, khả năng cơ động cao và sức đột kích của xe tăng, chúng đã tiến công một cách ào ạt, với tốc độ cao, chiều sâu lớn, chính diện rộng, trong một thời gian ngắn, vào một nơi địa hình hiểm trở. Hành động chiến dịch này làm cho đội hình chiến dịch của chúng bị rời rạc, lỏng lẻo, không dựa được vào nhau một cách chặt chẽ; các mũi, các cánh dễ bị cô lập. Khi bị đối phương quật lại mạnh mẽ thì đội hình chiến dịch của địch đâm ra rối loạn. Gặp địa hình hiểm trở, lại gặp một đối thủ mạnh nên chỗ mạnh của địch không phát huy được và tỏ ra kém hiệu lực. Các binh đoàn bọc thép của địch chỉ hành động được một cách khó khăn theo dọc đường và hai bên ven gần trên trục đường 9. Máy bay lên thẳng của địch được huy động tới mức rất cao, nhưng lại vấp phải một lưới lửa dày đặc và chính xác của hàng trăm khẩu súng cao xạ các loại của đối phương, pháo binh của địch tuy mạnh, nhưng lại không đối chọi được với pháo binh của đối phương. Tình hình trên đây đã chứng tở sự kém cỏi của địch về mặt chiến dịch.


Về mặt chiến thuật và chiến đấu thì quân địch lại càng kém cỏi hơn. Chiến đấu là cơ sở của chiến thuật, chiến dịch và chiến lược. Chiến lược và chiến dịch chỉ đạo chiến thuật và chiến đấu nhưng chiến thuật và chiến đấu lại thực hiện nhiệm vụ chiến dịch và chiến lược. Quân địch có nhiều vật chất, phương tiện và cũng có một ít kỹ năng nhưng tinh thần chiến đấu của chúng rất kém, do đó trình độ chiến đấu của chúng cũng kém. Chiến đấu kém tất phải dẫn đến chiến thuật kém, mà chiến thuật kém thì không thể hoàn thành được nhiệm vụ chiến dịch. Những chiến thuật cơ bản của địch đều đã không thành công. Chiến thuật đóng chốt trên điểm cao, cấp tiểu đoàn, với công sự dã chiến tương đối vững chắc, dưới sự yểm hộ của hỏa lực không quân và pháo binh bị thất bại. Chiến thuật đóng chốt trên điểm cao, cấp trung đoàn, cũng bị thất bại nốt. Đây là chiến thuật chủ yếu của địch. Chiến thuật chủ yếu bị thất bại sẽ kéo theo thất bại của tất cả các thứ chiến thuật khác, chứng tỏ thất bại của toàn bộ sự hợp thành chiến thuật của địch. Chiến thuật đột kích bằng vỏ thép cũng bị bẹp dúm trước bức tường đồng và trước những mũi dùi kim cương của đối phương. Chiến thuật hạ cánh đường không - một điều kiện quan trọng cho sự hình thành chiến thuật "nhảy cóc", đóng chốt sâu vào phía sau của đối phương, nhất là ở địa hình rừng núi, cũng bị thất bại. Chiến thuật căn cứ hỏa lực, một nhân tố không thể thiếu được của tác chiến hợp đồng binh chủng cũng bị thất bại nặng. Chiến thuật chi viện bằng không quân "quả chùy thép" cũng kém tác dụng, vì sự kém cỏi của các chiến thuật khác. Trong thất bại của sức mạnh chiến đấu, thì sức mạnh của hạ cánh đường không, của mũi dùi thép và của hỏa lực pháo binh là bị thất bại nặng nề nhất. Thất bại về từng thứ chiến thuật của địch đã phơi bày thất bại của toàn bộ chiến thuật hợp thành của chúng và thất bại về chiến thuật tất phải dẫn đến thất bại về chiến dịch. Đó là những nguyên nhân vì sao cuộc phản công chiến lược quy mô lớn của địch vào Đường 9 - Nam Lào đã bị thất bại.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #71 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2023, 09:37:33 am »

Còn thất bại của địch ở Xnun - Lộc Ninh thì có tính chất như thế nào?

Về quy mô, phạm vi và tầm chiến lược thì thất bại của địch ở Xnun - Lộc Ninh không lớn bằng thất bại ở Đường 9 - Nam Lào. Nhưng nói về tính chất của sự vận động của chiến tranh, về hình thái chiến tranh và thế trận chiến lược thì nó cũng có ý nghĩa lớn. Vì ở đây thế trận của địch đã bị phá vỡ và chúng đã phải co hẹp địa bàn lãnh thổ lại; ở đây lần đầu tiên một tuyến phòng ngự của địch đã bị phá vỡ và bị đánh chiếm, tuy nó là một tuyến tiền duyên. Điều này chứng tỏ quân địch không còn khả năng giữ được lãnh thổ của chúng ở vòng ngoài xa xôi và cũng không còn khả năng phản kích để chiếm lại, do đó phải nhường cho đối phương.


Tiến công không thắng lợi hoặc bị thất bại nặng phải co về phòng ngự thì hình thái cơ bản không có gì thay đổi lớn.

Song nếu như phòng ngự không giữ được trận địa, lãnh thổ bị mất, bị chiếm thì hình thái bắt đầu có sự thay đổi. Đây là đứng về mặt lý luận mà nói. Về thực tế thì còn phải nghiên cứu cụ thể hơn. Phải nghiên cứu một bước về mặt sinh lực xem lực lượng bị tiêu diệt nhiều hay ít, lực lượng đó quan trọng hay không quan trọng? Ở Đường 9 - Nam Lào, quân địch bị tiêu diệt một sinh lực địch rất quan trọng, có thể làm nghiêng cán cân về so sánh lực lượng. Sinh lực là một vấn đề cơ bản và chủ yếu của chiến tranh. Giá trị thắng lợi ở Đường 9 - Nam Lào là ở chỗ đó. Giá trị về tiêu diệt sinh lực ở Đường 9 - Nam Lào còn là tiêu diệt được những tập đoàn lớn của địch bao gồm những đơn vị cơ động chiến lược, những đơn vị tinh nhuệ nhất của địch. Nó chứng tỏ trình độ đánh tiêu diệt của các lực lượng vũ trang cách mạng đã có một chất lượng mới, một bước phát triển mới. Ở Xnun - Lộc Ninh, sinh lực của địch bị tiêu diệt không quan trọng bằng Đường 9 - Nam Lào. Vấn đề Xnun - Lộc Ninh là vấn đề trận địa, lãnh thổ, vấn đề một tuyến phòng ngự. Giá trị của nó lại ở một mặt khác. Dĩ nhiên, như trên đã nói, tuyến phòng ngự của địch ở đây không phải là một tuyến quan trọng, cơ bản, chủ yếu. Tuyến này bị phá vỡ, bị mất, bị chiếm lĩnh cũng chưa tác động nhiều và gây ra đảo lộn trong thế trận chung, hình thái chung của địch. Ở đây thế trận của địch mới bị phá vỡ một khâu nhỏ, vẫn còn giữ được tính vững chắc của thế trận chung, hình thái chung. Phía ta cũng chỉ mới phá vỡ được một thế trận nhỏ của địch, một tuyến phòng ngự tiền duyên xa ngoài cùng của địch. Do đó ý nghĩa thực tiễn về phá vỡ phòng ngự của địch cũng có hạn. Tuy nhiên thắng lợi đó cũng mở ra một vấn đề mới, gây được một mầm mống mới trong sự vận động và phát triển của chiến tranh, đưa cuộc chiến tranh phát triển lên một bước mới, bước phát triển theo đúng phương hướng của giai đoạn tiến công chiến lược, giai đoạn đánh vào tuyến phòng ngự của địch, phá vỡ phòng ngự của địch, giải phóng đất đai, một bước phát triển cao của chiến tranh.


Qua chiến cục năm 1971, quân địch đã bị suy yếu một bước nghiêm trọng. Các âm mưu, ý đồ chiến lược của địch đã bị thất bại hoàn toàn. Những thủ đoạn, phương pháp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật của địch cũng đã không đứng vững, không phát huy được hết tác dụng của nó và đã bị một bước thất bại. Đây là một điều rất quan trọng, rất cơ bản. Âm mưu, ý đồ chiến lược có thực hiện được hay không là do các thủ đoạn, phương pháp chiến lược, chiến dịch và chiến thuật có thành công hay không? Các thứ này không thành công thì âm mưu, ý đồ cùng không thực hiện được. Các thủ đoạn cơ bản về tiến công và phòng ngự đều thất bại sẽ đặt ra một tiền đề cho sự chuyển biến chiến tranh sau này.


Thất bại trong năm 1971 của địch đánh dấu thất bại nghiêm trọng của chiến lược "Việt Nam hoá chiến tranh" của Ních-xơn. Thắng lợi của quân dân ba nước Đông Dương trong năm 1971 đã tạo ra so sánh lực lượng mới có lợi cho phía cách mạng. Thắng lợi đó đã tạo ra một thời cơ chiến lược mới cho quân dân ba nước Đông Dương tiếp tục tiến lên đánh đòn chiến lược mới to lớn hơn, giành thắng lợi to lớn hơn, đưa cuộc chiến tranh cách mạng phát triển lên một bước mới có ý nghĩa chiến lược quyết định hơn.


Thất bại nặng nề của địch trong năm 1971 đã tạo ra một sự chuyển biến về chiến lược trong chiến tranh, nhưng cũng chưa phải là lớn lắm. Địch đã bị suy yếu về thế, song quân của chúng còn đông, lực của chúng còn tương đối mạnh. Nước Mỹ có bị suy yếu, nhưng tiềm lực chiến tranh của nó vẫn còn dồi dào.


Sau thất bại năm 1971, quân địch đã thực sự đi vào thế phòng ngự. Thất bại của địch trong năm 1971 có hai điều có ý nghĩa về mặt chiến lược.

Thứ nhất là quân địch đã bị tiêu diệt những đơn vị tương đối lớn cỡ trung đoàn, lữ đoàn. Những đơn vị trung đoàn, lữ đoàn đó lại thuộc các binh đoàn cơ động chiến lược tinh nhuệ nhất.

Ở chiến trường Việt Nam, trung đoàn, lữ đoàn thông thường là đơn vị chiến thuật cấp cao, là thành phần cơ bản của chiến dịch. Trung đoàn và lữ đoàn thường đảm nhiệm một cánh hoặc một mũi của chiến dịch. Một trung đoàn hoặc vài trung đoàn bị tiêu diệt thì chiến dịch có thể bị đánh bại. Các chiến dịch nhỏ và vừa thông thường do cấp sư đoàn hoặc sư đoàn tăng cường đảm nhiệm gồm hai hoặc ba trung đoàn, lữ đoàn; cũng có khi bốn hoặc năm trung đoàn, lữ đoàn. Trong trường hợp này, cấp trung đoàn, lữ đoàn là đơn vị chiến thuật cấp cao và là thành phần cơ bản để tổ chức chiến dịch. Trong một số trường hợp khác, các chiến dịch lớn hơn do cấp quân đoàn đảm nhiệm, gồm vài ba sư đoàn thì lúc này sư đoàn lại là đơn vị chiến thuật cấp cao và là thành phần cơ bản của chiến dịch. Năm 1971, các đơn vị cấp trung đoàn, lữ đoàn của địch bị tiêu diệt đã đánh dấu một bước chuyển biến mới về sự suy sụp trong khả năng tiến công của địch, đã đặt ra một tiền đề về xu hướng chuyển vào phòng ngự chiến lược trong chiến tranh.


Ý nghĩa thứ hai về thất bại của địch trong năm 1971 là sự báo hiệu về khả năng đổ vỡ trong phòng ngự. Tuyến phòng ngự vành ngoài xa của địch đã bị phá vỡ. Khả năng và thủ đoạn phòng ngự chung của địch đã bị lung lay. Quân địch tiến công xa không được và phòng ngự xa cũng không xong.


Đó là hai chuyển biến mới và lớn trong chiến tranh. Những chuyển biến này sẽ dẫn tới sự thay đổi quan trọng về thế và lực trong chiến tranh, sẽ có thể dẫn tới khả năng thay đổi một hình thái mới trong chiến tranh.


Thất bại trong năm 1971 của địch là một thất bại bước đầu của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và "học thuyết Ních-xơn" ờ Đông Dương. Thất bại đó đã đưa cuộc chiến tranh xâm lược đi vào đúng quy luật của nó.


Sau mùa xuân năm 1971, quân ngụy phải chuyển vào thế phòng ngự chiến lược trên toàn chiến trường. Còn Quân giải phóng thì lớn mạnh lên về mọi mặt. Trình độ tác chiến tập trung hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và trình độ đánh công sự vững chắc đã có tiến bộ. Thế chiến lược đã phát triển có lợi cho Quân giải phóng. Sự so sánh về thế và lực đã tạo ra thời cơ thuận lợi cho Quân giải phóng tiến lên đánh những đòn tiêu diệt lớn hơn, giành thắng lợi to lớn hơn.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #72 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2023, 09:45:48 am »

Sau thất bại mùa xuân năm 1971, quân địch phải dành cả thời gian năm 1971 để củng cố, hồi phục lại lực lượng. Sau thắng lợi mùa xuân năm 1971, Quân giải phóng tích cực tiến hành công tác chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn trong năm 1972.


Nắm được tình hình quân địch không còn khả năng tiến công và đã phải chuyển vào phòng ngự trên toàn chiến trường. Quân giải phóng chuyển sang mở một cuộc tiến công chiến lược lớn vào mùa xuân hè 1972. Cuộc tiến công này nhằm tiêu diệt một số đơn vị lớn của địch, phá vỡ một số tuyến phòng ngự cơ bản của chúng, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, giành lấy thế tiến công chiến lược về tay Quân giải phóng, đẩy quân địch lún sâu hơn nữa vào thế phòng ngự bị động.


Đạt được mục đích đó, ta sẽ đẩy quân địch đi xuống một bước thất bại nghiêm trọng hơn, làm cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" bị thất bại một bước nặng nề hơn, tạo ra một cục diện mới, một bước ngoặt trong chiến tranh, đưa cuộc cách mạng tiến lên những bước phát triển mới.


Năm 1972, quân ngụy Sài Gòn bị suy yếu một bước tương đối nặng nề. Cũng trong năm này, ở Mỹ có cuộc bầu cử tổng thống mới. Vấn đề giải quyết chiến tranh ở Việt Nam vẫn là nước cờ chính trong cuộc chạy đua vào Nhà trắng giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ. Tiếp tục rút quân Mỹ, giảm nhẹ gánh nặng chiến tranh của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam để lừa bịp dân Mỹ là một thế cờ mạnh của Ních-Xơn. Song, lục quân Mỹ tiếp tục rút khỏi Việt Nam và hạn chế tới mức tối thiểu trong việc dính líu trực tiếp vào cuộc chiến tranh tất làm cho quân ngụy đã yếu lại càng thêm yếu, tuy không quân và hải quân Mỹ còn tham gia ở mức độ quan trọng. Tình hình trên đây làm cho quân ngụy không những không còn khả năng tiến công, mà khả năng phòng ngự cũng khó có thể vững chắc. Đó là điều kiện thuận lợi, là thời cơ chiến lược cho quân và dân miền Nam trong năm 1972.


Đứng trước thời cơ chiến lược đó, cuộc tiến công chiến lược lớn của quân dân miền Nam được mở ra trên toàn chiến trường.

Trong thế phòng ngự trên toàn chiến trường, quân địch rất coi trọng hướng Trị - Thiên, nhưng chúng lại phán đoán đối phương có thể mở hướng tiến công chủ yếu ở chiến trường Tây Nguyên.

Ở Trị - Thiên, chúng sử dụng 2 sư đoàn bộ binh số 1, số 3 và sư đoàn lính thủy đánh bộ, 14 tiểu đoàn pháo binh và 3 trung đoàn thiết giáp để tiến hành phòng ngự. Ngoài ra, địch còn có trung đoàn bộ binh độc lập số 51 và 1 liên đoàn biệt động quân.


Ở Tây Nguyên, quân địch có sư đoàn 23 và sư đoàn 22 thiếu cùng 3 trung đoàn thiết giáp và liên đoàn biệt động quân số 2.

Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, quân địch có 3 sư đoàn bộ binh số 5, số 25, số 18 cùng 21 chi đoàn thiết giáp và 4 liên đoàn biệt động quân.

Ở các chiến trường khác, quân địch không có gì thay đổi quan trọng.

Vào khoảng tháng 1 và tháng 2 năm 1972, thấy Quân giải phóng tiến hành chuẩn bị chiến trường và cơ động lực lượng, quân địch càng tin rằng hướng tiến công chủ yếu của đối phương là ở Tây Nguyên. Để đối phó với tình huống đó, quân địch đã điều 1 lữ đoàn của sư đoàn dù lên Tây Nguyên để tăng cường cho quân đoàn 2. Đó là một xử trí tương đối hợp lý về mặt chiến lược.


Vì sao quân địch chỉ mới điều động có một lữ đoàn cơ động lên Tây Nguyên, mặc dầu chúng đã xác định bước đầu hướng phòng ngự chủ yếu và đã có quyết tâm đầu tiên về việc phải tăng cường tổ chức phòng ngự trên hướng phòng ngự ấy?


Vì đó mới chỉ là quyết tâm bước đầu. Chiến sự chưa thật sự xảy ra. Ý đồ của đối phương chưa được xác định một cách thật rõ ràng. Lực lượng dự bị chiến lược nắm trong tay bộ chỉ huy quân ngụy Sài Gòn chỉ có một sư đoàn và một lữ đoàn, nếu tung ra hết cả thì chúng chỉ còn tay không. Hơn nữa quân ngụy Sài Gòn lại có ưu thế về cơ động. Chúng có thể điều động lực lượng dự bị một cách nhanh chóng, dễ dàng.


Quân giải phóng và quân ngụy Sài Gòn đều ráo riết chuẩn bị để bước vào cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt. Quân địch ráo riết chuẩn bị phòng ngự. Quân giải phóng khẩn trương và tích cực chuẩn bị tiến công.


Để củng cố phòng ngự và để tăng cường tính vững chắc của phòng ngụ, quân địch đã sử dụng lực lượng dự bị chiến lược ra tuyến trước đảm nhiệm thê đội một phòng ngự. Lữ đoàn dù tăng cường cho chiến trường Tây Nguyên được đưa ra tổ chức một tuyến phòng ngự lâm thời, ngăn chặn từ xa, vượt qua tuyến phòng ngự của sư đoàn 23, tiến ra chiếm lĩnh dãy cao điểm ở phía tây sông Pô Cô từ phía nam điểm cao Ngọc Bơ Biêng đến điểm cao Chư Cô Tông và tổ chức tuyến phòng ngự ngăn chặn từ xa ở khu vực đó.


Ở chiến trường Trị - Thiên, lữ đoàn 147 lính thủy đánh bộ ngụy cũng đảm nhiệm phòng ngự trên tuyến tiền duyên, phía nam tuyến phòng ngự của trung đoàn 56.

Sử dụng lực lượng dự bị chiến lược làm thê đội một phòng ngự là một điều dở của quân địch. Điều này chứng tỏ bộ chỉ huy quân ngụy không tin ở sức chiến đấu của các sư đoàn chủ lực của các quân đoàn. Lực lượng dự bị chiến lược được đưa ra phía trước một khi đã bị tiêu diệt hoặc bị đánh tan thì trong tay bộ tư lệnh chiến dịch không còn một quả đấm mạnh để đối phó với các tình huống hiểm nghèo. Lực lượng dự bị ở tuyến trước bị tiêu diệt hoặc bị đánh tan thì các tuyến ở phía sau và toàn bộ đội hình, toàn bộ thế trận có thể bị sụp đổ. Đó vừa là cái dở của địch và cũng lại vừa là cái yếu của địch. Chúng tưởng rằng đưa lực lượng hùng hậu, tinh nhuệ ra phòng ngự ngăn chặn ở phía trước từ xa thì có thể bảo đảm được tính vững chắc của phòng ngự, bảo vệ được trận địa, bảo vệ được đất đai của chúng.


Còn Quân giải phóng thì lại cho rằng đó là một dịp tốt để ta có điều kiện tiêu diệt lực lượng mạnh nhất của địch một cách dễ dàng hơn, rồi nhanh chóng tiêu diệt các lực lượng khác của địch và nhanh chóng phá vỡ tuyến phòng ngự của địch.


Vào tháng 2 và tháng 3 năm 1972, hai bên đều ráo riết tiến hành các công tác chuẩn bị và cơ động lực lượng. Quân giải phóng chuẩn bị tiến công. Quân địch chuẩn bị phòng ngự.

Quân giải phóng tiến hành chuẩn bị cho cuộc tiến công lớn hiệp đồng binh chủng một cách rầm rộ, thế mà quân địch vẫn không dám tiến hành phản chuẩn bị, dù rằng các lực lượng dự bị chiến lược của chúng đã tiến ra phía trước. Rõ ràng quân địch đã ở vào tư thế phòng ngự. Do đó, Quân giải phóng đã tiến hành công tác chuẩn bị được thuận lợi, theo như kế hoạch.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #73 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2023, 09:50:47 am »

Ngày 30 tháng 3 năm 1972, cuộc tiến công chiến lược lớn của Quân giải phóng bắt đầu.

Những viên đạn đại bác các cỡ đã bay vút ra khỏi nòng pháo, trút vào đầu quân thù, mở đầu cho cuộc tiến công lớn này trên khắp mọi chiến trường.

Các hướng tiến công lớn cỏa Quân giải phóng diễn ra ở chiến trường Trị - Thiên, miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

Các chiến trường khác là hướng phối hợp, đều cùng tiến hành đồng loạt tiến công.

Ở chiến trường Trị - Thiên, cuộc tiến công của Quân giải phóng nổ ra mạnh mẽ nhất, ở đây, chỉ trong năm, sáu ngày (từ 30-3-1972 đến 3-4-1972), toàn bộ tuyến phòng ngự vòng ngoài của địch chạy dọc theo sườn bắc đường 9, ở phía bắc Đông Hà, đến phía tây Cam Lộ gồm 15 cứ điểm công sự vững chắc từ điểm cao 554 đến Gio Linh, Cam Lộ đã bị đập nát. Đây là tuyến phòng ngự vững chắc nhất của địch ở chiến trường Trị - Thiên và cũng là tuyến phòng ngự vững chắc nhất của toàn miền Nam. Nó là tuyến phòng ngự Mắc Na-ma-ra cũ của quân Mỹ. Trên tuyến phòng ngự này, trung đoàn số 56, 57, lữ đoàn số 147 và 2 trung đoàn thiết giáp về cơ bản đã bị tiêu diệt. Toàn bộ tuyến phòng ngự tiền duyên của địch bị phá vỡ, cánh cửa đi vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch ở Đông Hà, Quảng Trị đã mở toang trên các hướng. Hai khu trung tâm phòng ngự của địch ở Đông Hà và Quảng Trị bị uy hiếp nặng nề.


Không bỏ 15 thời cơ và không cho quân địch có thời gian củng cố phòng ngự, Quân giải phóng liền mở ngay cuộc tiến công tiếp sau vào tuyến phòng ngự cơ bản của chúng. Mục tiêu chủ yếu nhằm đánh vào hai cụm phòng ngự mạnh của địch ở Đông Hà và Quảng Trị trong tập đoàn phía bắc của địch ở chiến trường Trị - Thiên mà cơ quan chỉ huy của nó là sở chỉ huy sư đoàn 3 bộ binh quân ngụy ở Ái Tử.


Quân giải phóng chia làm 4 cánh tiến công đánh vào Đông Hà và Quảng Trị. Cánh thứ nhất đánh vào phía đông Đông Hà và Quảng Trị. Cánh thứ hai đánh vào phía bắc Đông Hà. Cánh thứ ba đánh vào phía tây Đông Hà và Quảng Trị. Cánh thứ tư đánh vào phía nam Quảng Trị. Trong bốn cánh này thì cánh đánh vào phía tây Đông Hà và Quảng Trị là cánh chủ yếu và mũi đánh vào sở chỉ huy sư đoàn 3 là mũi đột kích chủ yếu. Cánh đánh vào phía nam Quảng Trị là cánh bao vây, chia cắt tập đoàn Quảng Trị với hậu tuyến của địch ở Thừa Thiên. Cánh phía đông Đông Hà - Quảng Trị là cánh vu hồi chiến dịch.


Sau khi bị tiêu diệt và bị mất tuyến phòng ngự tiền duyên, tập đoàn Quảng Trị (tập đoàn bắc Trị - Thiên) của địch đã bị suy yếu nghiêm trọng. Chúng co đội hình lại và đưa lực lượng phía trong ra, tổ chức thành ba cụm phòng ngự Đông Hà, Ái Tử và La Vang, Quảng Trị. Các đơn vị còn lại của tập đoàn này gồm sư đoàn bộ binh số 3 thiếu, 3 liên đoàn biệt động quân lữ 147 lính thủy đánh bộ và các trung đoàn bọc thép số 20, 17, 11, 18 cùng 7 tiểu đoàn pháo binh. Để chi viện hỏa lực cho tập đoàn này chiến đấu, quân địch đã sử dụng sư đoàn không quân của quân đoàn 1 ngụy và các đơn vị thuộc tập đoàn không quân số 7 Mỹ, các đơn vị máy bay ném bom chiến lược B.52 cùng các pháo hạm của hạm đội 7 Mỹ.


Sau một thời gian chuẩn bị ngắn, Quân giải phóng đã nhanh chóng cơ động lực lượng hình thành thế trận bao vây tập đoàn Quảng Trị. Các binh đoàn binh chủng hợp thành của Quân giải phóng gồm các đơn vị bộ binh, xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ và tên lửa phòng không, mở những đòn đột kích mạnh mẽ tiến công vào các cụm Đông Hà và Ái Tử, đồng thời chia cắt quân địch giữa Quảng Trị và Thừa Thiên, ngăn chặn không cho thê đội hai chiến dịch và chiến lược của địch từ Thừa Thiên phản công ra Quảng Trị.


Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng ác liệt. Quân giải phóng đã phát triển vào chiều sâu chiến dịch để tiến hành một trận quyết chiến chiến dịch của chiến dịch đầu trong chiến cục tiến công Xuân Hè trên hướng chiến lược chủ yếu này.


Khi đã phát hiện ra hướng tiến công chủ yếu của Quân giải phóng, bộ chỉ huy quân viễn chinh Mỹ ở Đông Dương và bộ chỉ huy quân Mỹ ở Thái Bình Dương liên tập trung phần lớn không quân và hải quân Mỹ để chi viện hỏa lực cho quân ngụy. Với hỏa lực của không quân và hải quân, bộ chỉ huy quân Mỹ hy vọng sẽ chặn đứng được cuộc tiến công của Quân giải phóng, hòng cứu cho quân ngụy khỏi bị tiêu diệt và tan vỡ.


Với khí thế dời non lấp biển, với lòng dũng cảm vô song, với trí thông minh tuyệt vời và nghệ thuật tài giỏi, Quân giải phóng đã vượt qua những làn bom đạn dày đặc của máy bay B.52 và lưới lửa pháo binh dày đặc của các chiến hạm Mỹ, mạnh mẽ tiến tới trận địa của địch. Lưới lửa phòng không có hiệu lực của Quân giải phóng đã yểm hộ cho đội hình chiến đấu rất có hiệu quả. Hỏa lực pháo binh của Quân giải phóng đã chế áp được các trận địa pháo binh và xe tăng, phá hủy công sự, sát thương nặng nề sinh lực, làm rối loạn chỉ huy của địch và chi viện đắc lực cho các binh đoàn bộ binh và xe tăng của quân ta đột phá vào tuyến phòng ngự của địch. Bộ đội công binh và bộ đội vận tải đã mở đường và tiếp tế cho các binh đoàn binh chủng hợp thành của Quân giải phóng chiến đấu và phát triển tiến công được thuận lợi, kịp thời. Bộ đội địa phương và dân quân du kích, phối hợp với các binh đoàn chủ lực, đã tác chiến ở đằng sau lưng địch, tiêu diệt nhỏ và tiêu hao rộng rãi quân địch gây cho chúng một số khó khăn.


Với sức mạnh tổng hợp trên, ngày 27 tháng 4 năm 1972 và ngày 30 tháng 4 năm 1972, Quân giải phóng đã đột phá vào trận địa phòng ngự của địch, tiêu diệt và chiếm lĩnh được các cụm Đông Hà và Ái Tử. Một đội tiên phong nhỏ của Quân giải phóng đã dũng cảm, nhanh chóng tiến đánh cầu Quảng Trị. Tập đoàn bắc Trị - Thiên của địch đã cơ bản bị tiêu diệt. Thế trận bắc Trị - Thiên của địch cơ bản đã bị phá vỡ. Sức chống cự của địch cơ bản đã bị đập tan. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, quân địch ở Quảng Trị đã bỏ vị trí chiến đấu của mình, vội vã tháo chạy về phía nam theo hướng Mỹ Chánh thuộc tỉnh Thừa Thiên. Quân giải phóng liền nhanh chóng đánh chiếm thị xã Quảng Trị và truy kích quân địch.


Tỉnh Quảng Trị hoàn toàn được giải phóng. Quân giải phóng tiến tới giáp giới phía bắc tỉnh Thừa Thiên. Ngụy quân và ngụy quyền trong thành phố Huế sống trong những giờ phút hãi hùng và trở nên vô cùng hỗn loạn.


Trong chiến dịch này, Quân giải phóng đã tiêu diệt tập đoàn bắc Trị - Thiên của địch gồm sư đoàn 3 bộ binh cùng với 2 liên đoàn biệt động, 3 trung đoàn số 2, 56, 57, các trung đoàn thiết giáp số 20, 17, 11 và 5 chi đoàn khác, 14 tiểu đoàn pháo binh; đánh thiệt hại nặng lữ đoàn 147 và liên đoàn 1 biệt động; tiêu diệt và làm tan rã 5 liên đội, 56 đại đội và 162 trung đội bảo an, dân vệ.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #74 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2023, 09:51:42 am »

Tình thế thật nguy kịch. Bộ chỉ huy của tướng Mỹ A-bram phải vội vã điều các lữ đoàn của sư đoàn dù ngụy từ chiến trường Tây Nguyên và chiến trường miền Đông Nam Bộ về cứu nguy cho tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế.


Thế là chỉ trong một thời gian ngắn từ 30 tháng 3 năm 1972 đến 2 tháng 5 năm 1972, một tập đoàn binh lực lớn của địch chiếm giữ một phòng tuyến mạnh nhất Đông Dương đã bị tiêu diệt và đập tan.

Quân địch có số quân đông, có hỏa lực mạnh, sức cơ động cao và lại có công sự vững chắc. Nhưng tại sao chúng lại thua nhanh, thua nặng như thế. Nguyên nhân cũng dễ hiểu. Đó là vì tinh thần chiến đấu của chúng rất kém và chỉ huy của chúng tồi. Nhưng thế cũng chưa đủ. Ta phải tìm thêm nguyên nhân ở đối phương của địch.


Với nghệ thuật quân sự tài giỏi, bộ chỉ huy Quân giải phóng đã làm cho quân địch phải phân tán đối phó ở khắp các chiến trường miền Nam. Ở ngay chiến trường Trị - Thiên, quân địch cũng phải phân tán đối phó vì cuộc tiến công đồng loạt trên các hướng của đối phương. Sức cơ động cao của địch đã bị hạn chế vào lúc ban đầu trên toàn chiến trường cũng như ở ngay tại chiến trường này.


Địch có hỏa lực mạnh, nhưng hỏa lực của Quân giải phóng cũng không phải là kém. Quân giải phóng lại biết tập trung hỏa lực vào trọng điểm và vào các mục tiêu định tiến công để đánh tiêu diệt, đồng thời lại biết giành ưu thế về lực lượng, ưu thế về chủ động và ưu thế về bất ngờ lúc ban đầu để đánh đòn đột nhiên, mãnh liệt cả về binh lực và hỏa lực trên một chính diện rộng ở toàn tuyến phòng ngự của địch kết hợp với những mũi tiến công hiểm, thọc sâu đánh vào cạnh sườn và sau lưng trận địa phòng ngự địch, làm cho địch hoang mang rối loạn ngay từ đầu, không có cách gì xoay xở, đối phó được. Địch có công sự vững chắc, nhưng Quân giải phóng lại tiến công bằng bộ đội binh chủng hợp thành có sức đột kích tổng hợp mạnh của bộ binh, pháo binh và xe tăng.


Điều quan trọng hơn nữa là Quân giải phóng có tinh thần cao và có nghệ thuật chỉ huy giỏi. Quân giải phóng đã tập trung lực lượng đánh vào hai bên sườn của địch, đánh vào chỗ yếu của địch. Trên chỗ yếu đó lại tập trung lực lượng đánh thật mạnh, đánh đòn quyết định vào nơi hiểm. Các điểm phòng ngự hiểm yếu của địch ở hướng bên sườn bị đánh đòn khủng khiếp thì toàn bộ đội hình, thế trận phòng ngự của địch sẽ bị tan vỡ một cách nhanh chóng. Các mũi dao sắc chọc sườn vô cùng lợi hại.


Để phối hợp với chiến trường Trị - Thiên, ở các mặt trận khác Quân giải phóng cũng đồng loạt mở các đòn tiến công mạnh mẽ, nhịp nhàng.

Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, các binh đoàn chủ lực của Quân giải phóng mở một chính diện tiến công rộng lớn từ tỉnh Tây Ninh đến tỉnh Bình Long và Phước Long. Chiều sâu tiến công từ Lộc Ninh đến Chơn Thành, Lai Khê.


Quân địch phòng giữ trên địa bàn này gồm các sư đoàn số 5, 18, 25, các liên đoàn biệt động quân số 4, 5, 6, 333, các trung đoàn thiết giáp số 1, 10, 15, 18, 6 và 8 tiểu đoàn biên phòng, được tăng cường 2 lữ đoàn dù và 1 lữ đoàn lính thủy đánh bộ thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược.


Thế trận phòng ngự của chúng được tổ chức thành các tuyến ngang và các tuyến dọc như sau:

Tuyến tiền duyên chạy dọc theo biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia từ Xa Mát qua Cà Tum, Tống Lê Chân đến Bù Đốp.

Tuyến cơ bản chạy từ thị xã Tây Ninh qua thị xã An Lộc đến thị xã Sông Bé.

Giữa tuyến tiền duyên đến tuyến cơ bản có tuyến trung gian. Sau tuyến cơ bản là các tuyến hậu phương.

Trận địa phòng ngự của địch không hình thành trận tuyến kiểu phòng tuyến, kiểu chiến hào liên tục hoặc chiến hào đứt đoạn. Nó do các cứ điểm phòng ngự liên kết với nhau hình thành tuyến phòng ngự đứt đoạn.


Quân giải phóng miền Nam Việt Nam đã phân tích một cách khoa học và biện chứng thế trận của địch, tìm ra hệ thống tổ chức thế trận và thành phần cấu tạo thế trận của chúng, tìm ra chỗ mạnh, chỗ yếu của chúng và vận dụng cách đánh một cách rất lợi hại.


Thông thường thế trận phòng ngự là ở thế chiều ngang. Nhưng do thế trận phòng ngự của địch là tuyến đứt đoạn, nên nó cũng lại có thế chiều dọc. Và như thế là do cả hai chiều ngang và dọc hình thành. Ở đây thế chiều dọc lại là cốt cán của thế chiều ngang. Hai thế chiều dọc có tác dụng như hai đường gân chính của toàn bộ thế trận là tuyến phòng ngự chạy dọc theo đường số 13 từ Lộc Ninh qua An Lộc, Chơn Thành đến Lai Khê, và tuyến đường 22 chạy từ Thiện Ngôn qua Trại Bí đến thị xã Tây Ninh.


Phá vỡ được hai tuyến phòng ngự chính chạy dọc theo hai con đường này thì toàn bộ thế trận của địch ở trên địa bàn hai tỉnh Bình Long và Tây Ninh sẽ bị phá vỡ.

Phân tích được các đầu mối quan trọng của thế trận địch, Quân giải phóng đã tập trung lực lượng phá vỡ các đầu mối quan trọng đó.

Thế trận tiến công của Quân giải phóng là thế trận kết hợp đánh cả vào chiều ngang phòng ngự và chiều dọc phòng ngự của địch, nhưng tập trung lực lượng đánh vào một thế trận phòng ngự cốt cán là tuyến đường 11, từ Lộc Ninh đến Chơn Thành. Do có cách đánh độc đáo nên Quân giải phóng mới vượt qua tuyến phòng ngự chiều ngang để thọc vào chiều sâu phòng ngự và đánh vào chiều dọc tuyến phòng ngự cốt cán của địch. Đánh ngay được vào chiều sâu phòng ngự, đập nát và đập gãy được tuyến phòng ngự dọc cốt cán của thế trận phòng ngự của địch thì toàn bộ thế trận của địch sẽ bị tan vỡ. Điểm đúng cái huyệt chính thì toàn bộ quân địch sẽ bị tê liệt. Đó là một nghệ thuật chỉ huy.


Quân giải phóng đã thực hành đột phá trên một chính diện rộng từ Thiện Ngôn đến Bù Đốp, mở một số cửa chiến dịch mà cửa chính là Lộc Ninh để đưa đội hình tiến công vào chiều sâu phòng ngự của địch.


Ở hướng tiến công chính, Quân giải phóng vận dụng cách đánh kết hợp đột phá chính diện với bao vây chia cắt, cô lập, vây hãm thê đội một chiến dịch của địch từ Lộc Ninh đến An Lộc để tiêu diệt chúng. Quân giải phóng đã thực hành tác chiến theo đúng thế trận và cách đánh, đã đột phá thành công, mở được cửa chiến dịch ở Lộc Ninh, tiêu diệt nhanh chóng cụm quân địch phòng ngự ở đây và giải phóng thị trấn Lộc Ninh.


Ở hai bên sườn hướng Lộc Ninh, Quân giải phóng cũng tiến công vào tuyến phòng ngự tiền duyên của địch, tiêu diệt và chiếm lĩnh các cứ điểm Thiện Ngôn, Bù Đốp..., giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, bảo đảm vững chắc và yểm hộ cho hướng tiến công chủ yếu của ta ở Lộc Ninh phát triển tiến công đánh sâu vào trận địa của địch. Sau khi đã nhanh chóng tiêu diệt cụm phòng ngự tiền duyên mạnh của địch ở Lộc Ninh, Quân giải phóng liền phát triển tiến công vào An Lộc.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #75 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2023, 09:52:23 am »

Để hiệp đồng với mũi tiến công từ Lộc Ninh vào An Lộc, Quân giải phóng đã cài sẵn một thế trận chia cắt, bao vây An Lộc. Thế trận này được triển khai từ phía nam An Lộc đến Chơn Thành trên đường số 13. Quân giải phóng đã tiêu diệt quân địch cùng các cứ điểm phòng ngự của chúng trên dọc đường, chiếm lĩnh và hoàn toàn làm chủ đoạn đường đó, thực hiện vây hãm hoàn toàn thị xã An Lộc.


Để cứu nguy, giải tỏa cho An Lộc bấy giờ đã bị vây hãm, bộ chỉ huy quân đoàn 3 của địch tung thê đội hai ra phản kích rất quyết liệt. Nhưng chúng không đột phá được trận địa của đối phương, không mở thông được đường, không giải tỏa được cho An Lộc.


Vây hãm được quân địch ở An Lộc rồi, Quân giải phóng liền từ Lộc Ninh tiến đánh An Lộc. Quân địch ở đây đã bị tiêu diệt gần hết, số còn lại cố gắng giữ được khu cố thủ. Trước nguy cơ mất An Lộc, bộ tổng chỉ huy quân địch liền sử dụng một bộ phận quân dù, lực lượng dự bị chiến lược, đổ bộ hạ cánh xuống gần An Lộc để yểm hộ cho cuộc chiến đấu phòng ngự ở đó, đồng thời có một mũi tiến ra đường số 13 để yểm hộ cho cuộc phản kích giải tỏa ở đây. Dựa vào ưu thế không quân, vào máy bay lên thẳng, địch đã tăng được thêm quân, tăng được tiếp tế vật chất, nên chúng đã cứu nguy được cho An Lộc. Mặc dù thế, quân địch ở An Lộc vẫn bị vây hãm, vẫn bị tiêu hao và vẫn ở trong thế phòng ngự bị động chống đỡ. Cuộc phản kích với cố gắng rất lớn mở thông đường 13, giải tỏa cho An Lộc vẫn không thành công. Quân địch đã gặp khó khăn và tổn phí rất nhiều để duy trì cuộc sống cho cụm quân ở An Lộc bằng tiếp tế đường không.


Thế trận vây hãm, cắt đường của Quân giải phóng thật là kỳ diệu. Quân giải phóng đã dựng lên cả một bức tường thép bằng tinh thần, ý chí và tài nghệ chiến đấu trên đường số 13. Cho nên dù đã dùng cả một lực lượng hùng hậu gồm sư đoàn dù, sư đoàn 21, 25 cùng 2 trung đoàn thiết giáp, được sự chi viện của hàng trảm máy bay chiến đấu ném bom và máy bay B.52, trút xuống đoạn đường này hàng vạn tấn bom đạn, quân địch cũng đành phải chịu bó tay. Với một lực lượng lớn như thế, với một số bom đạn nhiều như thế, ròng rã trong 10 tháng trời chiến đấu, mọi cố gắng và mọi mưu kế của địch đều trở nên vô ích. Quân ta vẫn vây hãm An Lộc, cắt đường số 13 cho tới khi Hiệp định Pa-ri được ký kết.


Trên hướng này, Quân giải phóng đã tiêu diệt 76.570 tên địch, gồm 5 chiến đoàn, 16 tiểu đoàn cùng hàng chục đại đội bộ binh khác, 3 thiết đoàn, 15 pháo đội; đánh thiệt hại nặng 8 sở chỉ huy cấp sư đoàn, lữ đoàn, tiểu khu, 6 chiến đoàn, trung đoàn, lữ đoàn, 23 tiểu đoàn bộ binh, 4 chi đoàn thiết giáp, phá hủy hàng chục kho quân sự.


Trên cơ sở tiêu diệt một số lớn quân địch, tiêu diệt các đơn vị cốt cán của địch trong phòng ngự, Quân giải phóng đã giải phóng một vùng đất đai thuộc 3 tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long và một phần tỉnh Thủ Dầu Một, với chiều dài khoảng 260km từ Ô Răng đến Tà Pang Rơ Bon chiều sâu khoảng 100km từ Thiện Ngôn, Xa Mát, Lộc Ninh, Bù Đốp đến phía bắc Sài Gòn.


Ở chiến trường Tây Nguyên, cuộc tiến công của Quân giải phóng cũng diễn ra mạnh mẽ.

Như trên đã nói, địch cho rằng đòn tiến công chiến lược chủ yếu, hướng tiến công chủ yếu của Quân giải phóng đã diễn ra ở đây. Chúng vội vã điều một lữ đoàn dù, rồi đến hai lữ đoàn dù lên tăng cường cho quân đoàn 2 ở chiến trường Tầy Nguyên. Để kịp thời đối phó, hòng chặn đứng cuộc tiến công của Quân giải phóng, lữ đoàn dù đã cập rập tiến ra phía trước để tổ chức tuyến phòng ngự ngăn chặn từ xa.


Ở chiến trường Tây Nguyên, quân đoàn 2 có sư đoàn bộ binh số 23 và sư đoàn bộ binh số 22 thiếu, cùng liên đoàn 2 quân biệt động - lực lượng cơ động của quân đoàn. Ngoài ra chúng còn một chục tiểu đoàn biệt động biên phòng - lực lượng biệt kích "mũ nồi xanh" cũ của quân Mỹ, cùng một số lượng đại đội, tiểu đoàn, liên đội quân bảo an tương đối đông. Về binh chủng, chúng có hơn 3 trung đoàn bọc thép, 10 tiểu đoàn pháo binh và 1 trung đoàn không quân.


Binh lực của chúng được bố trí như sau: sư đoàn 23 và liên đoàn 2 quân biệt động phụ trách phòng ngự từ thị xã Plây Cu, đường số 19, đường số 14 cho đến thị xã Kon Tum. Sư đoàn 22 thiếu phụ trách phòng ngự ở khu vực thị trấn Tân Cảnh và sân bay Đắc Tô. Lữ đoàn dù số 2 phụ trách phòng ngự trên dãy điểm cao phía tây sông Pô Cô, từ điểm cao 1015 đến điểm cao 966, đoạn giữa điểm cao Ngọc Bơ Biêng và cứ điểm Kleng.


Quân địch cho rằng hướng tiến công chủ yếu của Quân giải phóng sẽ từ phía tây đánh vào Đắc Tô - Tân Cảnh, đường 14 và thị xã Kon Tum. Do đó địch đã tổ chức một tuyến phòng ngự vòng ngoài ở phía tây đường 14, tây Đắc Tô - Tân Cảnh, tây thị xã Kon Tum từ Plây Cần - Bến Hét đến điểm cao Ngọc Rinh Rua, Ngọc Bơ Biêng, điểm cao 1015, điểm cao 1049, 966 đến cứ điểm Kleng.


Quân địch triển khai thế trận phòng ngự về cơ bản đúng như phán đoán của Quân giải phóng. Nắm được thủ đoạn và quy luật tác chiến của địch, biết được tính nết của chúng là chủ quan, hám ăn, rất dễ bắt mồi và dễ bị sai khiến, nên Quân giải phóng đã nhử được chúng ra vòng ngoài tuyến phòng ngự cơ bản của chúng để tiêu diệt. Đồng thời ta còn tiến hành chia cắt, vây hãm các cụm phòng ngự trong tập đoàn phòng ngự của địch, rồi tiến công đột phá vào các cụm phòng ngự đó để tiêu diệt và phá vỡ thế trận phòng ngự của địch.


Từ thị xã Plây Cu qua thị xã Kon Tum đến thị trấn Tân Cảnh, thế trận của địch là một thế trận chiều dọc có một chiều sâu mỏng hoặc không có chiếu sâu. Ở từng khu vực trọng điểm như trung tâm phòng ngự Kon Tum, địch tổ chức một vài tuyến phòng ngự vòng ngoài, có chiều ngang và chiều sâu mỏng. Riêng ở thị trấn Tân Cảnh, một trung tâm phòng ngự mạnh thì tổ chức phòng ngự của địch có sâu, dày và vững chắc hơn. Từ phía nam thị xã Kon Tum đến phía bắc thị xã Plây Cu, tuyến phòng ngự cơ bản của địch không được che chở.


Quân địch chỉ tổ chức tuyến phòng ngự vòng ngoài ở phía tây đường 14 từ thị trấn Tân Cảnh đến thị xã Plây Cu, bảo đảm cho trận địa phòng ngự của địch có chiều sâu ở trên khu vực đó. Như thế là hợp với lô-gích quân sự tư sản. Cũng với quan điểm quân sự tư sản, chúng không thể phân tích được cách đánh cách mạng độc đáo của Quân giải phóng, do đó tuyến phòng ngự cơ bản của chúng bị bỏ hở, không được che chở ở phía đông.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #76 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2023, 09:56:59 am »

Trong khi nghiên cứu, phân tích thế trận và cách đánh của địch, Quân giải phóng đã phát hiện ra chỗ sơ hở, chỗ yếu nguy hiểm đó của địch, về hình thái thế trận của địch, ta đã đứng ở góc độ các chiều của thế trận mà nghiên cứu, phân tích tìm ra các đường tuyến cấu thành thế trận của địch và đường tuyến nào là đường tuyến cơ bản của thế trận. Ta đánh vào đường tuyến nào, đảo lộn dược góc cạnh nào, cắt được cái nút nào thì toàn bộ thế trận của địch sẽ bị xiêu vẹo, lung lay và đổ vỡ. Ta đã tìm ra chiều ngang và chiều dọc trong thế trận của địch và thấy rằng chiều dọc thế trận của địch là cái rường cột cho toàn bộ thế trận của địch. Đây là một nhược điểm lớn trong toàn bộ thế trận của địch, cũng là một sự bắt buộc đối với địch vì chúng phải chịu sự tác động của quy luật chiến tranh nhân dân của ta. Thế trận chiều dọc bị đánh nhão, bị đập nát thì toàn bộ thế trận của địch sẽ bị lung lay hoặc bị phá vỡ. Do nhận thức như vậy, Quân giải phóng đã đánh vào toàn bộ chiều dọc của tuyến đường 14, ở cả phía tây và phía đông con đường, từ thị trấn Tân Cảnh đến yếu khu Võ Định, chạy qua thị xã Kon Tum đến phía bắc thị xã Plây Cu, trừ một đoạn ngắn phía tây sông Pô Cô, ở tây - bắc thị xã Kon Tum, Quân giải phóng phải đột phá một tuyến phòng ngự chiều ngang rồi mới liên tục đột phá chiều sâu vào đường 14. Quân địch không ngờ được rằng đối phương lại có thể đưa hàng trung đoàn, sư đoàn, có cả xe tăng sang phía đông đường 14, đông Tân Cảnh và Võ Định.


Kế hoạch tiến công của Quân giải phóng đã sẵn sàng, Quân địch phải bị động rải sư đoàn 23 ra đối phó với Quân giải phóng trong giai đoạn đánh nhỏ, giai đoạn chuẩn bị cho chiến dịch ở trên đường 14 và đường 19. Chúng ném lữ đoàn dù 2 ra tổ chức tuyến phòng ngự ngăn chặn vòng ngoài ở dãy điểm cao từ 1015 đến 1049 và 966 vào đúng thế trận của Quân giải phóng. Thế là thời cơ tiêu diệt lữ đoàn này đã tới.


Tiếp đó, địch điều thêm lữ đoàn dù số 3 từ Sài Gòn ra Võ Định làm lực lượng dự bị, điều liên đoàn 6 quân biệt động từ Nam Bộ ra tăng cường phòng giữ thị xã Kon Tum.

Hai bên ta, địch đều đã triển khai lực lượng bố trí thế trận và sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu quyết liệt.

Cùng ngày giờ với cuộc tiến công đồng loạt trên toàn chiến trường, Quân giải phóng ở mặt trận Tây Nguyên cũng mở đầu cuộc tiến công đánh vào tiểu đoàn dù số 7 chiếm giữ điểm cao 1049. Tiểu đoàn này bị đánh thiệt hại nặng. Kế tiếp sau đó, mũi tiến công của Quân giải phóng chuyển sang đánh vào tiểu đoàn dù số 11 chiếm giữ điểm cao 1015. Tiểu đoàn này bị tiêu diệt gọn. Bộ chỉ huy quân địch liền tung lực lượng dự bị và lữ đoàn dù 3 ra phản kích. Một tiểu đoàn của lữ đoàn dù này bị đánh thiệt hại nặng và sở chỉ huy lữ đoàn ở Võ Định cũng bị đánh những đòn đau. Số tàn quân của hai lữ đoàn dù phải rút bỏ một số điểm cao còn lại, tháo chạy khỏi bờ phía tây sông Pô Cô, lui về giữ tuyến phòng ngự cơ bản trên đường số 14, từ Võ Định về đến thị xã Kon Tum.


Quân giải phóng Tây Nguyên đã hoàn thành trận then chốt thứ nhất của chiến dịch.

Tuyến phòng ngự ngăn chặn vòng ngoài ở phía tây bắc thị xã Kon Tum của địch đã bị phá vỡ. Cánh cửa chiến địch phía tây đường 14 đã được mở toang. Quân dù, lực lượng tinh nhuệ nhát, mạnh nhất của địch đã bị đánh sụn xương sông. Thế trận của địch đã bị lung lay mạnh và đã có phần bị rối loạn. Thời cơ tiến đánh vào tuyến phòng ngự cơ bản của địch, tiến công các khu trung tâm phòng ngự của địch, tiêu diệt các cụm phòng ngự trong tập đoàn phòng ngự của địch, thời cơ của những trận quyết chiến, chiến dịch đã đến.


Quân giải phóng nhằm vào cụm phía bắc của tập đoàn Kon Tum để mở đòn tiến công thứ nhất. Cụm này do sư đoàn 22 thiếu được tăng cường 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp và 3 tiểu đoàn pháo binh tổ chức thành, phòng ngự ở thị trấn Tân Cảnh và sân bay Đắc Tô 2. Đây là một cụm đột xuất, bị cô lập, dễ bị bao vây, chia cắt, dễ bị vây hãm.


Để vây hãm chặt sư đoàn 22 ở Đắc Tô - Tân Cảnh, bảo đảm cho quân ta tự do hành động, bảo đảm cho cuộc tiến công được thuận lợi, Quân giải phóng đã tiến hành hai tầng chia cắt. Tầng thứ nhất cắt đứt đường 14 từ Võ Định đến Tân Cảnh. Tầng thứ hai cắt đứt đường 14 từ bắc thị xã Plây Cu đến nam thị xã Kon Tum. Ngoài ra, bộ đội địa phương và dân quân du kích còn tổ chức một tuyến đánh ngăn chặn, tiêu hao trên đường số 19 từ phía tây thị xã Quy Nhơn đến phía đông thị xã Plây Cu.


Bộ chỉ huy quân địch đã mất sáng suốt. Chúng không phán đoán được mũi tiến công chủ yếu của đối phương sẽ nhằm vào mục tiêu nào? Thị trấn Tân Cảnh hay thị xã Kon Tum? Mà dù có biết thì đến giờ phút này chúng cũng chẳng nhúc nhích gì được nữa. Vì thế trận của Quân giải phóng đã mở ra và cài chặt vào thế trận của chúng rồi. Chúng đành phải ở đâu nằm đó, bị động chờ đợi các đòn tiến công của quân ta sẽ ập lên đầu chúng.


Trong nghệ thuật chỉ huy, lâm vào cảnh bị động và do dự không điều động, cơ động được lực lượng là một điều vô cùng thất sách. Tuy quân địch có máy bay lên thẳng, có thể cơ động bằng hạ cánh đường không, nhưng vì hai mục tiêu đều phải giữ, đều bị vây hãm, hơn nữa máy bay lên thẳng cũng không phải là vạn năng, chỉ một mình nó cũng không thể giải quyết được toàn bộ vấn đề về chiến dịch và chiến thuật.


Đã tạo ra được thế trận và thời cơ, Quân giải phóng liền tập trung lực lượng đột phá cụm Tân Cảnh và siết chặt vòng vây hãm cụm thị xã Kon Tum.

Quân giải phóng thực hành đột phá cụm Tân Cảnh từ phía đông và phía bắc, mũi đột kích chủ yếu là từ phía đông. Bộ đội xe tăng từ tuyến xuất phát ở phía tây Tân Cảnh đã cơ động theo đường quân sự làm gấp, vu hồi sang phía đông tham gia đột phá trong đội hình binh chủng hợp thành ở hướng đột kích chủ yếu. Một bộ phận nhỏ xe tăng cũng tham gia chiến đấu trong đội hình binh chủng hợp thành ở hướng bắc Tân Cảnh.


Hướng đột kích chủ yếu của Quân giải phóng ở hướng đông, cùng với hành động vu hồi của bộ đội xe tăng của Quân giải phóng sang phía đông là một sự bất ngờ hoàn toàn, làm đảo lộn hoàn toàn kế hoạch và thế trận phòng ngự của quân địch.


Hướng phòng ngự chủ yếu của địch là ở phía tây và tây - bắc Tân Cảnh. Các đơn vị xe tăng chủ yếu của chúng đều chiếm lĩnh trận địa chiến đấu ở phía tây căn cứ Tân Cảnh và hướng phản kích chủ yếu của cụm xe tăng này là hướng tây và tây - bắc căn cứ Tân Cảnh. Vì thế, khi bộ đội xe tăng của ta xuất hiện ở phía đông căn cứ Tân Cảnh thì cụm xe tăng này - lực lượng phản kích chủ yếu của địch - đã trở thành vô đụng. Cho nên, khi bộ binh của Quân giải phóng đã bao vây căn cứ Tân Cảnh và khi bộ đội xe tăng giải phớng đã tiến tới quận lỵ Đắc Tô thì tên sư trưởng sư đoàn 22 Lê Đức Đạt chỉ còn cách báo cáo lên tên tư lệnh quân đoàn 2 Ngô Du, xin rút chạy. Trước tình cảnh hiểm nghèo đó, Ngô Du cũng chẳng còn phép gì lạ để cứu cho sư đoàn 22, nên đã phải chấp nhận. Nhưng khốn thay, quyết định cuối cùng không phải là do các sĩ quan và tướng lĩnh ngụy Sài Gòn. Chúng do Mỹ nuôi và Mỹ dắt cho đi đứng, nên quyết định cuối cùng vẫn phải do người Mỹ. Giôn Pôn Van, cố vấn trưởng quân đoàn 2, đã bác bỏ quyết định của Ngô Du và Lê Đức Đạt. Vậy tên cố vấn Mỹ hợm hĩnh đó có phép mầu nhiệm gì để cứu sống sư đoàn 22? B.52 và F.4 đã chẳng bất lực đó rồi sao? B.52 và F.4 đã không thể nào ngăn được Quân giải phóng, nào bộ binh, nào pháo binh, nào xe tăng, từ phía tây cơ động sang phía đông và đã tiến sát tới hàng rào của căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh đó sao? Rốt cuộc, với những "bảo bối" quen thuộc đó, Giôn Pôn Van đã chẳng cứu nổi được sư đoàn 22 mà ngay chính bản thân hắn cũng toi mạng trong một chiếc máy bay lên thẳng bị Quân giải phóng bắn rơi.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #77 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2023, 09:57:54 am »

Trước cuộc đột kích hai ngày, pháo binh Quân giải phóng thực hành pháo kích vào căn cứ Đắc Tô - Tân Cảnh theo đúng kế hoạch. Căn cứ bị phá hủy từng phần, sinh lực địch bị tiêu hao một số, hệ thống chỉ huy của địch bị xộc xệch và tinh thần quân lính địch bị sa sút nghiêm trọng.


Dưới sự chi viện và yểm hộ đắc lực của pháo binh, sáng ngày 24 tháng 4 năm 1972, bộ binh và xe tăng Quân giải phóng nhanh chóng đột phá thắng lợi vào sở chỉ huy sư đoàn 22 ở căn cứ Tân Cảnh. Tiếp đó, một cánh mai phục của Quân giải phóng cũng đột phá thành công vào căn cứ trung đoàn 47 ở sân bay Đắc Tô 2. Một phân đội xe tăng Quân giải phóng từ căn cứ Tân Cảnh phát triển tiến công sang sân bay Đắc Tô 2, hiệp đồng chặt chẽ với cánh quân đang tiến công ở đó, cùng bộ binh đánh bại các đợt phản kích của xe tăng địch. Trung đoàn 47 địch đã bị cánh quân này tiêu diệt. Một chiếc xe tăng anh hùng của Quân giải phóng đã đánh gục bảy xe tăng của địch ngay trên đường băng sân bay.


Trải qua hơn mười tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt, Quân giải phóng đã hoàn toàn tiêu diệt sư đoàn 22 thiếu, gồm sở chỉ huy sư đoàn, trung đoàn 42, trung đoàn 47, 1 tiểu đoàn của trung đoàn 41, tiểu đoàn dù số 9 thuộc lữ đoàn dù số 3, 1 trung đoàn thiết giáp và hơn 2 tiểu đoàn pháo binh, cùng các đại đội bảo an và cơ quan hành chính quận Đắc Tô, quận Đắc Sút lưu vong. Quân giải phóng bắt sống hàng nghìn tên, trong đó có tên sư phó Vi Văn Bình cùng với cơ quan tham mưu của sư đoàn. Tên sư trưởng Lê Đức Đạt bị bắn chết.


Đắc Tô - Tân Cảnh là một cụm phòng ngự lớn của địch, có tính chất một tập đoàn phòng ngự trên tuyến phòng ngự cơ bản, do một sư đoàn chiếm giữ. Diệt được nó một cách nhanh chóng là do Quân giải phóng đã có thế trận hay, có cách đánh chiến dịch hiểm và có sự tiến bộ về trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng. Quân giải phóng đã làm cho địch bị động, kéo địch ra ngoài trận địa của chúng để tiêu diệt, khiến lực lượng của chúng bị tiêu hao một bước, lực lượng dự bị của chúng bị suy yếu. Trong khi đó, Quân giải phóng tiến hành bao vây chia cắt quân địch ra làm nhiều mảnh trên tuyến phòng ngự cơ bản của chúng và vây hãm, tiêu hao các cụm phòng ngự chủ yếu. Thừa lúc quân địch đã bị tiêu hao, mệt mỏi, rối loạn, mê muội và bị bất ngờ, Quân giải phóng liền tập trung lực lượng tiêu diệt, giải quyết từng cụm một. Thế trận ở đây là sự kết hợp giữa thế chính và thế kỳ, thế nổi và thế chìm cũng như giữa vây hãm và đột phá, giữa chính diện và vu hồi. Thế trận đó lại vận động uyển chuyển và biến hoá linh hoạt.


Sau khi tiêu diệt sư đoàn 22 và giải phóng vùng Đắc Tô - Tân Cảnh, Quân giải phóng liền tiến xuống phía Kon Tum, hiệp đồng với cánh quân đang bao vây địch ở đây, cùng tiến công vào thị xã Kon Tum, do sư đoàn quân ngụy số 23 phòng giữ. Ở đây, tuy đã bị vây hãm nhưng địch vẫn còn dự trữ về vật chất, hơn nữa chúng lại có ưu thế về máy bay lên thẳng, do đó sức chống cự của chúng còn mạnh.


Quân giải phóng tiến công tiêu diệt được một bộ phận địch ờ các tuyến phòng ngự vòng ngoài, sau đó đánh vào tiêu diệt một bộ phận quân địch và chiếm được một số khu vực trong thị xã.

Nhưng, sau một thời gian đánh kéo dài, do những điều kiện chủ quan và khách quan không thuận lợi, cuộc tiến công đã kết thúc vào ngày 5 tháng 6 năm 1972.

Tổng cộng, trong chiến dịch tiến công, Quân giải phóng Tây Nguyên đã tiêu diệt 17.820 tên, bắt sống hàng nghìn tên (trong đó có 114 sĩ quan, 1 đại tá sư đoàn phó, 3 trung tá). Số đơn vị địch bị tiêu diệt có sư đoàn 22 (thiếu) gồm các trung đoàn 42, 47, 1 tiểu đoàn của trung đoàn 41, 1 tiểu đoàn dù cùng bộ chỉ huy sư đoàn, 1 trung đoàn thiết giáp, 2 tiểu đoàn pháo và một số đại đội pháo lẻ, nhiều đại đội bảo an. Ta đã bắn rơi và phá hủy 49 máy bay, phá 39 khẩu pháo, 56 xe tăng và xe bọc thép, 140 ô tô và hàng nghìn tấn vũ khí, đạn dược, xăng dầu... trong các thị xã Plây Cu và Kon Tum. Quân giải phóng còn thu được hàng trăm xe cơ giới, hàng vạn viên đạn lớn, hàng ngàn khẩu súng các loại và hàng chục khẩu pháo lớn.


Trên các hướng phối hợp khác, ở chiến trường đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng miền Trung Trung Bộ, cũng như vùng sau lưng địch và vùng đô thị, bộ đội chủ lực cùng với bộ đội địa phương và dân quân du kích giải phóng đều đồng loạt mở cuộc tiến công phối hợp một cách mạnh mẽ.


Lực lượng vũ trang giải phóng đã kết hợp cùng với cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân quần chúng tiêu diệt và tiêu hao rộng rãi quân địch, phân tán quân địch, buộc chúng phải đối phó trên khắp chiến trường. Quân giải phóng đã tiêu diệt từng tiểu đoàn, trung đoàn địch, đánh chiếm các cứ điểm quân sự cấp tiểu đoàn, trung đoàn, các quận lỵ, thị trấn, giải phóng từng vùng đất đai, mở ra từng mảng dân trong phạm vi từng xã, từng huyện. Các đơn vị bộ đội đặc biệt đã dũng cảm mưu trí, luồn sâu vào các căn cứ quân sự lớn của địch, vào các vùng đô thị để đánh phá các kho tàng, tiêu hủy cơ sở vật chất cùng các thiết bị quân sự, phương tiện chiến tranh của chúng, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề.


Ở chiến trường miền Trung Trung Bộ, Quân giải phóng đã tiêu diệt các trung đoàn 40 và đánh thiệt hại nặng trung đoàn 41 thuộc sư đoàn 22 ở bắc Bình Định.

Quân giải phóng đã đánh chiếm và giải phóng hàng loạt quận lỵ, thị trấn, các căn cứ quân sự như Hoài An, Hiệp Đức, Quế Sơn, Ba Tơ... gồm hàng chục vạn dân, mở ra các vùng căn cứ rộng lớn. Quân giải phóng đã tiêu diệt trung đoàn 40 ở quận lỵ Hoài Ân. Một trung đoàn chủ lực bị tiêu diệt và một quận lỵ bị mất là một đòn choáng váng đối với toàn bộ quân địch ở vùng này. Trước tình hình khách quan thuận lợi đó, tuy điều kiện chủ quan còn có chỗ bị hạn chế, nhưng Bộ chỉ huy chiến trường có sự phối hợp của đòn tiến công chính trị đã táo bạo nắm thời cơ, mạnh dạn và nhanh chóng phát triển cuộc tiến công đánh xuống các quận lỵ Bồng Sơn, Tam Quan, đánh thiệt hại nặng trung đoàn 41 thuộc sư đoàn 22, và giải phóng các quận lỵ này. Cuộc tiến công mạnh mẽ và liên tục của Quân giải phóng tiêu diệt nhanh chóng hai trung đoàn chủ lực ngụy đã làm cho toàn bộ ngụy quân, ngụy quyền ở vùng này rung chuyển, rệu rã và hoang mang cao độ.


Đòn tiến công quân sự mạnh mẽ của các lực lượng vũ trang ở bắc Bình Định và Quảng Nam, Quảng Ngãi đã hỗ trợ đắc lực và tạo điều kiện, thời cơ vô cùng thuận lợi cho quần chúng nổi dậy. Nhân dân ở các vùng này (gồm cả một số gia đình binh sĩ ngụy) vốn có kinh nghiệm, có trình độ đấu tranh chính trị và quyết tâm cao, đã cùng với các lực lượng vũ trang cơ sở, tại chỗ, đồng loạt và rầm rộ nổi dậy. Nhân dân đã diệt, làm tan rã, bức hàng, bức rút các đơn vị bảo an dân vệ, các đồn bốt nhỏ, diệt và làm tan rã các cơ quan, hệ thống kìm kẹp thống trị của địch ở các xã, ấp. Nhân dân cũng đã thúc đẩy các cuộc binh biến, khởi nghĩa, phản chiến và phối hợp cùng với bộ đội truy lùng quân địch, thu dọn chiến trường.


Kết quả ở chiến trường đồng bằng miền Trung Trung Bộ, quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 11 vạn tên địch, tiêu diệt 2 trung đoàn, 26 tiểu đoàn và 198 đại đội bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, 1 tiểu đoàn pháo, đánh thiệt hại nặng 1 sư đoàn và 2 trung đoàn bộ binh.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #78 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2023, 02:59:09 pm »

Giai đoạn đầu của cuộc tiến công chiến lược của Quân giải phóng đã giành được thắng lợi to lớn trên toàn chiến trường miền Nam. Nhiều vùng đất đai rộng lớn, gồm cả một số quận lỵ, thị trấn, thị xã đã được giải phóng.


Sau khi bị những đòn tiến công bất ngờ, choáng váng và bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ liến vội vã tăng cường chi viện hỏa lực không quân và hải quân cho quân ngụy, và giao cho lục quân Mỹ nhiệm vụ phòng giữ các thành phố lớn, để quân ngụy tập trung vào chiến đấu ở vòng ngoài. Được quân Mỹ tăng cường chi viện hỏa lực và giữ cho đằng sau lưng, quân ngụy liền tập trung lực lượng tiến hành phản kích hòng chiếm lại các vùng đã mất. Với sự cố gắng lớn và đành chịu tiêu hao nặng nề về sinh lực, quân ngụy đã chiếm lại được thị xã Quảng Trị, quận lỵ Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Quan, Bồng Sơn. Ở các hướng khác, cuộc phản kích của địch đã bị đánh bại.


Ở chiến trường miền Đông Nam Bộ, thị xã An Lộc vẫn bị vây hãm, đường số 13 vẫn bị cắt đứt hoàn toàn.

Ở chiến trường Tây Nguyên, quân địch bị mất thêm một số vị trí và một số địa bàn. Chúng bị mất thêm một đoạn đường 19 kéo dài từ cứ điểm Đức Cơ đến làng Dịt, gần quận lỵ Thanh An.

Sau chiến cục xuân hè, cuộc chiến đấu giữa ta và địch vẫn diễn ra liên tục và quyết liệt, song đến cuối năm 1972, hình thái hai bên vẫn như cũ. Quân địch đành chịu mất một số vùng đất đai, do đó ta đã mở rộng được nhiều vùng căn cứ, vùng giải phóng. Nhiều vùng giải phóng đã được nối liền, hình thành những vùng căn cứ rộng lớn, vững chắc và liên hoàn.


Để cứu vãn tình hình nguy ngập của quân ngụy ở miền Nam, tháng 3 năm 1972, đế quốc Mỹ đã liều lĩnh mở lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân vào miền Bắc nước ta.

Khác với cuộc chiến tranh phá hoại thời Giôn-xơn, trong cuộc chiến tranh phá hoại lần này, Ních-Xơn đã tăng cường độ phá hoại lên một mức rất cao. Ngoài các loại máy bay được sử dụng trong lần trước đã được cải tiến, các loại bom đạn có sức công phá và độ chính xác cao hơn, đế quốc Mỹ còn dùng thêm một số loại máy bay mới như loại F.111 "cánh xòe, cánh cụp", đặc biệt dã man là đã dùng máy bay chiến lược B.52 để ném bom "rải thảm" xuống thủ đô Hà Nội và một số thành phố đông dân khác. Đi đôi với thủ đoạn dùng không quân ném bom ào ạt, liên tục, đế quốc Mỹ còn dùng hạm đội 7 thả mìn ở bờ biển và phong tỏa miền Bắc nước ta. Chúng đã không từ một hành động tàn ác dã man nào, miễn là đạt được mục đích phá hoại các cơ sở kinh tế trong nước cũng như cắt đứt mọi sự vận chuyển từ nước ngoài vào, khiến cho miền Bắc nước ta bị bóp nghẹt, không đủ sức và không đủ ý chí tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu ác liệt, cuối cùng buộc phải khuất phục trước sức mạnh cuồng bạo của chúng.


Rõ ràng, đây là một cuộc đọ sức, đọ hỏa lực, đặc biệt là đọ thần kinh và đọ tài trí quyết liệt nhất, điển hình nhất. Ai thắng ai sẽ được giải quyết ở cuộc đọ sức nảy lửa này. Một nước chưa có nền công nghiệp tiên tiến liệu có thể chịu đựng được một cuộc đọ sức về hỏa lực và kỹ thuật với một nước công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới, một "siêu cường quốc" không?


Thực tế đã trả lời: người thắng oanh liệt trong cuộc đọ sức lịch sử này là chúng ta chứ không phải là đế quốc Mỹ.

Với truyền thống anh hùng của Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung..., với khí thế ngút trời của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, với sức sống mãnh liệt của chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo sáng suốt của một đảng mác-xít - lê-nin-nít chân chính, với sự giúp đỡ và ủng hộ nhiệt tình của phe xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ thế giới, nhân dân Việt Nam đã đứng vững và đã thắng.


Trong 9 tháng, từ tháng 4 năm 1972 đến tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ đã dùng 2.575 lần chiếc máy bay gồm 2.100 lần chiếc máy bay chiến thuật, 31 lần chiếc F.111 và 444 lần chiếc B.52, để đánh phá miền Bắc nước ta. Thế nhưng, tổng cộng trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai này, chúng đã bị bắn rụng đến 753 chiếc, trong đó có 62 máy bay B.52, 10 máy bay F.111, số khác là các loại máy bay F.4, F.105, A.7, A.6, v.v...


Đặc biệt suốt trong 12 ngày đêm từ ngày 18 tháng 12 đến ngày 29 tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ đã dùng tới 444 lần chiếc máy bay B.52, 31 lần chiếc máy bay F.111 và 1.004 lần chiếc máy bay chiến đấu phản lực khác để đánh vào Hà Nội và một số thành phố khác. Có ngày chúng đã đùng 87 máy bay B.52, 17 máy bay F. 111 và 100 máy bay chiến đấu phản lực khác để đánh vào thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngoài những máy bay trực tiếp đánh mục tiêu, chúng còn đùng một số lượng máy bay tương đối lớn để bảo vệ, yểm hộ, trinh sát, gây nhiễu, tiếp dầu và đánh chặn máy bay ta. Để bảo đảm cho một số lượng lớn máy bay tham chiến, chúng đã phải sử dụng hàng chục căn cứ không quân trên các quốc gia khác nhau (Thái Lan, đảo Gu-am, Ô-ki-na-oa. Nam Việt Nam) và các tàu sân bay ở hạm đội 7.


Cuộc chiến đấu giữa máy bay Mỹ với quân dân ta ở thủ đô Hà Nội là một trận quyết chiến có ý nghía chiến lược về không đối đất và đất đối không. Trong trận quyết chiến này, đế quốc Mỹ đã dùng máy bay B.52 làm con chủ bài, làm lực lượng tác chiến chủ yếu, giữ vai trò quyết định, về phía quân dân Việt Nam, chúng ta cũng tập trung lực lượng, phương tiện để đánh quỵ con chủ bài đó của đế quốc Mỹ. Chúng ta đã thực hiện được đánh tiêu diệt chiến dịch về các mặt: lực lượng chủ yếu, thủ đoạn chủ yếu; do đó đã đánh bại được âm mưu, ý đồ cũng như toàn bộ chiến dịch tập kích đường không bằng không quân chiến lược của chúng.


Chỉ trong 12 ngày (từ 18-12 đến 29-12), quân dân thủ đô Hà Nội đã bắn rơi 81 máy bay gồm 34 B.52, 5 F.111, 21 F.4, 12 A.7, 4 A.6, 1 F.105, 2 R5C, 1 lên thẳng, 1 không người lái và bắt sống nhiều giặc lái.


Số máy bay B.52 bị bắn rơi nhanh và nhiều như thế đã làm cho một ký giả Mỹ phải thốt lên rằng: cứ tốc độ này thì chỉ trong vài ba tháng nữa, tức là đến tháng 2 hoặc tháng 3 năm 1973, thì lực lượng máy bay B.52 của Mỹ ở chiến trường Thái Bình Dương sẽ hết sạch. Và số đại tá, trung tá, thiếu tá... phi công Mỹ vào trại tù binh cứ mỗi ngày một tăng như thế thì ngay nước Mỹ cũng không thể chịu đựng nổi. Cuối cùng, đế quốc Mỹ không còn cách nào khác hơn là đành chịu thua trong "trận Điện Biên Phủ trên không" vĩ đại này.
Logged
vnmilitaryhistory
Moderator
*
Bài viết: 1830



« Trả lời #79 vào lúc: 17 Tháng Hai, 2023, 03:00:35 pm »

Cuộc chiến đấu ở trên cả hai miền Nam Bắc nước ta trong năm 1972 là một cuộc chiến đấu lớn nhất, quyết liệt nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Nó là sự kế tục và phát triển của các giai đoạn trước, của cuộc tổng tập kích chiến lược năm 1968, cuộc chiến đấu lớn trong năm 1971.


Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam phát triển theo đúng quy luật của chiến tranh cách mạng, chiến tranh chống xâm lược là phát triển từ đánh nhỏ đến đánh lớn, từ giải phóng vùng rừng núi, nông thôn trước, rồi đến giải phóng thị trấn, thị xã sau, từ kết hợp đánh du kích với đánh vận động, rồi tiến lên kết hợp đánh du kích, đánh vận động với đánh trận địa; có phản công, có phòng ngự và có tiến công.


Ngoài quy luật chung đó ra thì cũng còn có một số quy luật đặc thù.

Cuộc tiến công năm 1972 là giai đoạn phát triển cao của chiến tranh, giai đoạn đánh tiêu diệt lớn, giai đoạn giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, giải phóng thị trấn, thị xã. Muốn làm được nhiệm vụ đó thì phải tập trung lực lượng lớn, tác chiến hiệp đồng binh chủng với các binh khí kỹ thuật hiện đại và tác chiến có thành phần trận địa chiến. Bước đi cuối của chiến tranh là đánh tiêu diệt lớn, tiêu diệt về chiến dịch và chiến lược, tiêu diệt các tập đoàn lớn, các tập đoàn chủ yếu của địch ở ngay trên tuyến phòng ngự cơ bản của chúng, giải phóng đất đai, giải phóng nhân dân, giải phóng các thị trấn, thị xã. Có như thế mới giải quyết được chiến tranh.


Cuộc tiến công năm 1972 của Quân giải phóng đã đi vào giai đoạn này. Điều quan trọng là trình độ tác chiến của bộ đội đã được nâng cao. Quân giải phóng đã có trình độ tác chiến hiệp đồng binh chủng với quy mô lớn, tác chiến có thành phần chiến đấu trận địa, có thể tiêu diệt từng trung đoàn, sư đoàn địch trong công sự vững chắc, phá vỡ từng cụm phòng ngự, từng tập đoàn phòng ngự của địch. Một điều rất đáng nghiên cứu là Quân giải phóng đã tác chiến theo phương thức này trong điều kiện không có một chiếc máy bay, mà quân địch thì lại có một lực lượng máy bay rất lớn mạnh. Địch đã dùng đến cả không quân chiến lược B.52 - con chủ bài chúng chưa từng đem dùng ở một nơi nào khác. Thế nhưng rốt cuộc, con chủ bài đó của quân Mỹ cũng chỉ gây thêm cho ta một số khó khăn chứ không thể nào ngăn chận được những đòn tiến công mãnh liệt của quân ta.


Đánh lớn hiệp đồng binh chủng là một tất yếu khách quan của chiến tranh, là một quy luật vận động và phát triển của chiến tranh. Đánh lớn hiệp đồng binh chủng kết hợp giữa đánh vận động với đánh trận địa là phương thức tác chiến cao nhất, là giai đoạn phát triển cao nhất của chiến tranh. Muốn quy luật và phương thức đó phát huy được tác dụng thì phải có nghệ thuật. Đánh một quân địch có cơ sở vật chất, có binh khí kỹ thuật, có hỏa lực mạnh hơn mình gấp bội thì nghệ thuật lại càng phải cao. Quân giải phóng đã có nghệ thuật chiến tranh cao, giỏi hơn quân địch nên mới chiến thắng được quân địch. Nghệ thuật của ta là nghệ thuật của chiến tranh cách mạng, nghệ thuật của sự kết hợp giữa chiến tranh và khởi nghĩa, nghệ thuật của sự kết hợp giữa quân sự và chính trị, giữa ba thứ quân, giữa ba vùng chiến lược, giữa tác chiến du kích và tác chiến chính quy, giữa đánh lớn và đánh nhỏ, giữa đánh ở trước mặt và đánh ở sau lưng địch. Nghệ thuật chiến dịch của ta là nghệ thuật về cách đánh, về thế trận, nghệ thuật về đột phá và bao vây, vu hồi nghệ thuật về thời cơ; và nghệ thuật về các trận then chốt, tạo thành một nghệ thuật tổng hợp là nghệ thuật quyết chiến. Nghệ thuật chiến dịch của ta là sự tổng hợp trong vận động biện chứng của các thành phần cơ bản hình thành chiến dịch. Đó là sự tổng hợp và vận động của lực và hình, của pháp và kế, cũng như của thế và thời1 (Lực: lực lượng; hình: hình thế, địa hình; pháp: phương pháp; kế: mưu kế; thế: thế trận; thời: thời cơ. H.M).


Nghệ thuật chiến tranh của ta còn có điểm hay nữa là lấy ngay súng đạn, xe, pháo, máy vô tuyến điện... của địch để đánh lại địch. Trong năm 1972, Quân giải phóng đã lấy pháo 105, 155, 175, xe tăng M.41, xe bọc thép M.113 của Mỹ để diệt quân ngụy, lấy mìn chống tăng của Mỹ để diệt xe tăng M.41, M.48 của Mỹ trang bị cho quân ngụy, và sử dụng hàng trăm xe ô tô của Mỹ để vận chuyển tiếp tế. Các chiến sĩ du kích phụ nữ ở vùng đồng bằng và miền núi đã sử dụng những loại súng trường tối tân nhất thế giới. Họ đã được trang bị bằng loại súng AK. Họ cũng lại cướp được súng M.16 của Mỹ để bắn vào đầu Mỹ - ngụy. Có thể nói, quân Mỹ không những chỉ cung cấp vũ khí, khí tài, phương tiện cho quân ngụy, mà còn cung cấp cho cả Quân giải phóng, thông qua một đội "lính vận tải mẫn cán" là quân ngụy.


Năm 1972 là năm quân Mỹ bị thất bại nặng nhất, lớn nhất kể từ lúc chúng bắt đầu gây chiến cho đến bây giờ. Đây là lần đầu tiên, các tuyến phòng ngự cơ bản, các tập đoàn phòng ngự lớn của địch bị tiêu diệt và bị đánh chiếm.


Tổng cộng, trong năm 1972, trên toàn miền Nam quân dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 48 vạn tên, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 10 sư đoàn, 35 trung đoàn bộ binh và chiến đoàn, 17 trung đoàn thiết giáp, 14 tiểu đoàn pháo binh; bắn rơi và phá hủy 3.340 máy bay, 3.047 xe tăng và xe bọc thép, 11.652 xe ô tô, 1.822 khẩu pháo, 686 tàu chiến; phá hủy 354 cầu cống, 1.070 kho lớn nhỏ với 110 vạn tấn bom đạn, nhiên liệu, vật chất của địch. Ta đã tiêu diệt và bức rút 37 quận lỵ chi khu, 2.428 đồn bốt, 10 căn cứ cấp trung đoàn và sư đoàn địch, giải phóng 7.800 ấp trong số 15.000 "ấp chiến lược" khỏi ách kìm kẹp của địch.


Do bị tiến công trên khắp chiến trường nên lực lượng của địch bị phần tán, căng mỏng ra khắp nơi: lực lượng dự bị chiến lược bị điều động như đèn cù, chạy ngược chạy xuôi. Cũng bởi lẽ đó nên trên mọi mặt trận chúng đều bị thất bại nặng nề.


Tóm lại, thất bại của đế quốc Mỹ trên cả hai miền Nam Bắc năm 1972 là một thất bại chiến lược. Đối với đế quốc Mỹ, đó là dấu hiệu của thất vọng, là tiếng chuông báo hiệu sự cuốn gói của chúng.

Do thắng lợi của quân đân Việt Nam trên cà hai miền trong cuộc kháng chiến lâu dài, nhất là do thắng lợi to lớn trong năm 1972, mà Hiệp định Pa-ri đã được ký kết, chấm dứt sự dính líu trực tiếp của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới ở Việt Nam. Đội quân viễn chinh Mỹ đã phải rút ra khỏi đất nước ta.


Quân dân Việt Nam đã "đánh cho Mỹ cút" vào đầu năm 1973! Đó chính là bước thắng lợi thứ nhất, đồng thời cũng là điều kiện tất yếu để hai năm sau (mùa Xuân 1975), tiếp tục "đánh cho ngụy nhào", giành thắng lợi hoàn toàn cho dân tộc sau hơn 30 năm liên tục tiến hành cuộc chiến tranh chống xâm lược, vĩnh viễn xóa bỏ mọi thứ chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta.
Logged
Trang: « 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 »   Lên
  In  
 
Chuyển tới:  

Powered by MySQL Powered by PHP Powered by SMF 1.1.21 | SMF © 2006-2008, Simple Machines

Valid XHTML 1.0! Valid CSS! Dilber MC Theme by HarzeM